1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội

208 650 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làm rõ thực trạng về biểu hiện và mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội, mức độ tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan tới kĩ năng giao tiếp v

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ THANH HƯƠNG

KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT

CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI-2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ THANH HƯƠNG

KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT

CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI

Ngành: Tâm lý học

Mã số: 9.31.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS PHẠM TẤT DONG

HÀ NỘI-2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng các số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực và đều được trích dẫn, tham chiếu đầy đủ

Tác giả luận án

Phan Thị Thanh Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:

GS.TS Phạm Tất Dong, Thầy rất tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, động viên tôi hoàn thành luận án

Ban Giám đốc, Ban Chủ nhiệm, Quý Thầy, Cô Khoa Tâm lý – Giáo dục, Phòng Quản lý Đào tạo của Học viện Khoa học xã hội đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận án

Ban Lãnh đạo và Nhân viên công tác xã hội tại các trung tâm Bảo trợ xã hội Thị Nghè, Quận 12, 11, Thủ Đức, Hooc Môn, trung tâm dạy trẻ khuyết tật Niềm Tin…Trung tâm dạy nghề và tạo việc làm Thành phố Hồ Chí Minh; Trung tâm dạy nghề Thành Phố Hiệu trưởng, Phòng Giáo dục thường xuyên, Quý Thầy Cô giảng dạy tại khoa Công tác xã hội; Nhân viên công tác xã hội đang theo học tại các lớp vừa làm vừa học của Đại học Lao Động - Xã hội Cơ sở II - Thành phố Hồ Chí Minh, đã tham gia, tạo điều kiện và nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài

Thành Ủy, Ủy Ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Ban Lãnh đạo, Quý Thầy Cô, Anh, Chị em đồng nghiệp Trường Đại học Sài Gòn đã động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận án

Gia đình, người thân, bạn bè luôn bên cạnh, động viên, khích lệ, ủng hộ, chia sẻ những khó khăn, giúp tôi hoàn thành luận án

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG

GIAO TIẾP VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC

1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 8 1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 16

Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI TRẺ

KHUYẾT TẬT CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 22

2.3 Nhân viên công tác xã hội 39 2.4 Kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội 43 2.5 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật

của nhân viên công tác xã hội 61

Chương 3 TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 70 3.1 Tổ chức thực hiện nghiên cứu 70 3.2 Phương pháp nghiên cứu 76 3.3 Tiêu chí đánh giá và thang đánh giá 85

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI

TRẺ KHUYẾT TẬT CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 90 4.1 Thực trạng chung kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên

Trang 7

4.2 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật (n=353) 130 4.3 Thực nghiệm tác động nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật vận động 136

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Mức độ biểu hiện kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân

Bảng 3.1 Đặc điểm khách thể khảo sát thử nhân viên công tác xã hội 72 Bảng 3.2 Độ tin cậy của thang đo kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác

xã hội với trẻ khuyết tật 73 Bảng 3.4 Đặc điểm khách thể nghiên cứu nhân viên công tác xã hội 75 Bảng 3.4: Mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công

Bảng 4.1 Thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã

Bảng 4.2 Thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật theo biến số 93 Bảng 4.3 Thực trạng mức độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội ở 3 tiêu chí tính đúng đắn, thuần thục, linh

Bảng 4.4 Thực trạng mức độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội ở các biến quan sát 100 Bảng 4.5 Thực trạng mức độ kỹ năng tạo cảm xúc tích cực với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội ở 3 tiêu chí 102 Bảng 4.6 Thực trạng mức độ kỹ năng tạo cảm xúc tích cực cho trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội ở 3 tiêu chí tính đúng đắn, thuần thục, linh

Bảng 4.7 Thực trạng mức độ kỹ năng tạo cảm xúc tích cực với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội ở các biến số quan sát 107 Bảng 4.8 Thực trạng mức độ thực hiện đặc điểm kỹ năng ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội 109

Trang 9

Bảng 4.9 Thực trạng mức độ kỹ năng ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội ở 3 tiêu chí tính đúng đắn, thuần

Bảng 4.10 Thực trạng mức độ kỹ năng ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội ở các biến quan sát 114 Bảng 4.11 Thực trạng mức độ thực hiện đặc điểm kỹ năng xây dựng niềm tin giữa nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật 116 Bảng 4.12 Thực trạng mức độ kỹ năng xây dựng niềm tin giữa nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở 3 tiêu chí tính đúng đắn, thuần thục, linh

Bảng 4.13 Thực trạng mức độ kỹ năng xây dụng niềm tin của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở các biến quan sát 121 Bảng 4.14 Thực trạng mức độ kỹ năng tư vấn thuyết phục của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở tính đúng đắn, thuần thục và linh hoạt 124 Bảng 4.15 Thực trạng mức độ kỹ năng tư vấn thuyết phục của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật 125 Bảng 4.16 Thực trạng mức độ kỹ năng tư vấn thuyết phục của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở các biến quan sát 129 Bảng 4.17 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội 131 Bảng 4.18 Dự báo sự mối quan hệ giữa kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với các yếu tố chủ quan và khách quan 136 Bảng 4.19 Thực trạng thay đổi mức độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu; kỹ năng ứng xử linh hoạt mềm dẻo và kỹ năng xây dựng niềm tin giữa nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật trước và sau thực nghiệm tác động 138

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố điểm số về biểu hiện kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật 88 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ xác xuất chuẩn về biểu hiện kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật 88 Biểu đồ 4.1 Thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội 91 Biểu đồ 4.2 Thực trạng mức độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội 93 Biểu đồ 4.3.Thực trạng mức độ kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội ở 3 tiêu chí tính đúng đắn, thuần thục, linh

Biểu đồ 4.4 Thực trạng mức độ kỹ năng tạo cảm xúc tích cực với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội 101 Biểu đồ 4.5 Thực trạng mức độ kỹ năng ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với trẻ

khuyết tật của nhân viên công tác xã hội 109 Biểu đồ 4.6 Thực trạng mức độ kỹ năng xây dựng niềm tin giữa nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật 115 Biểu đồ 4.7 Thực trạng mức độ kỹ năng tư vấn thuyết phục của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật 123

Sơ đồ 4.1 Tương quan của các yếu tố chủ quan với kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật 133

Sơ đồ 4.2 Tương quan của các yếu tố khách quan với kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật 134 Biểu đồ 4.8 Thực trạng kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật trước và sau thực nghiệm tác động 137

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Kỹ năng giao tiếp giúp cá nhân có khả năng thích ứng với những ảnh hưởng xấu của các khủng hoảng trong cuộc sống, còn những cá nhân hạn chế về kỹ năng giao tiếp phải trải qua tình trạng tồi tệ, căng thẳng khi gặp khủng hoảng (Segrin, 2000) [62, tr.2] do đó kỹ năng giao tiếp là nền tảng xây dựng và phát triển các mối quan hệ cá nhân, là điều kiện tồn tại và phát triển của một tổ chức, một xã hội Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp cụ thể ở một nghề, một lĩnh vực góp phần hình thành, phát triển giá trị nghề và kỹ năng giao tiếp đặc thù với đối tượng của nghề

Nghề công tác xã hội (CTXH) hiện đã được phát triển ở 84 nước trên toàn thế giới, được coi là một nghề có ý nghĩa quan trọng, mang tính nhân văn cao cả, luôn hướng tới mục tiêu phục vụ con người Đặc biệt, nghề CTXH góp phần giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của từng cá nhân, từng nhóm nhỏ và cộng đồng những người yếu thế Một trong những đối tượng yếu thế được xã hội

quan tâm hiện nay là Trẻ khuyết tật (TKT) Người khuyết tật là người bi khiếm

khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn Điều 2, Bộ luật Người khuyết tật Có nhiều dạng khuyết tật khác nhau, mỗi dạng khuyết tật có hoạt động và giao tiếp khác nhau, việc thực hiện quan hệ xã hội cũng mang đặc điểm riêng, bản thân trẻ và các đối tượng giao tiếp với trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp làm cho quá trình tiếp nhận các biểu tượng từ hiện thực khách quan không đầy đủ, ảnh hưởng đến nhận thức, cảm xúc của trẻ khuyết tật

Vai trò của nhân viên CTXH có ý nghĩa rất lớn đối với trẻ khuyết tật nhân viên CTXH làm cầu nối cho TKT tiếp cận với các nguồn lực xã hội, tư vấn cho họ phát huy khả năng, trình độ để TKT trở nên hữu dụng, tự tin, sống độc lập, hòa nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội Mặt khác, nhân viên CTXH cũng sẽ tham vấn cho TKT về điều kiện tiếp cận nguồn lực để họ được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, kiếm việc làm, trợ giúp pháp lý, giúp họ hiểu và nắm bắt được các quyền của họ theo quy định của

Trang 12

pháp luật Nhân viên CTXH cũng có nhiệm vụ tư vấn chính sách, pháp luật và xây dựng cộng đồng thân thiện để TKT dễ dàng hòa nhập xã hội Nhân viên CTXH còn

là người tư vấn, giới thiệu những chính sách an sinh xã hội mà TKT được hưởng như miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho xã hội, tiếp cận dễ dàng hơn với các công trình văn hóa, phương tiện giao thông công cộng, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và tham gia đào tạo kỹ năng sống Nhà nước ta và dân ta quan niệm các em khuyết tật không phải là gánh nặng của xã hội, mà là một nguồn lực lao động của đất nước Để huy động được năng lực hoạt động của người khuyết tật không phải chỉ có đội ngũ cán bộ quản lý tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội mà quan trọng hơn cả là đội ngũ nhân viên công tác xã hội phải có chuyên môn nghiệp vụ, có

hệ thống kỹ năng nghề nghiệp trong đó đặc biệt là các kỹ năng giao tiếp căn bản để tương tác, giáo dục, can thiệp hỗ trợ, thúc đẩy tiến trình thay đổi cuộc sống của trẻ khuyết tật

Tuy nhiên môi trường giáo dục tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội hiện nay còn nhiều bất cập, hoạt động trong công tác hỗ trợ, can thiệp dành cho trẻ khuyết tật thiếu hiệu quả, một số nơi thiếu tôn trọng trẻ, cơ sở vật chất cứng nhắc, thụ động, không phù hợp với trẻ khuyết tật dẫn đến không khơi dậy tiềm năng của trẻ Nguyên nhân của những bất cập trên một phần do đội ngũ nhân viên CTXH không được đào tạo bài bản (theo đề án 32 của Chính phủ có tới 81,5% nhân viên CTXH chưa được đào tạo), còn nhiều bất cập về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, những bất cập này trước hết được bộc lộ rõ trong giao tiếp của nhân viên CTXH với trẻ khuyết tật, điều này ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và thúc đẩy tiến trình thay đổi ở TKT Sự hoàn thiện kỹ năng giao tiếp của nhân viên CTXH là một quá trình phức tạp, lâu dài đòi hỏi nhân viên CTXH phải có sự say mê, hứng thú với công việc; có nền tảng kiến thức chuyên môn; có kinh nghiệm thực tiễn; có ý thức

tự rèn luyện bản thân; có tâm, có tình cảm, có sự thông cảm, sự tinh tế, tôn trọng và thực lòng với trẻ khuyết tật

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật và những yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội,

Trang 13

nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu Vì vậy “Kỹ năng giao tiếp với

trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội” đã được tác giả chọn làm đề tài luận án

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng kĩ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này Đề xuất biện pháp tâm lý – sư phạm và tổ chức thực nghiệm nhằm nâng cao kĩ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

2.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật trong và ngoài nước để xác định cơ sở lý luận của luận án

2.2.2 Xác định cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật, xác định những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội

2.2.3 Làm rõ thực trạng về biểu hiện và mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội, mức độ tác động của các yếu tố chủ quan

và khách quan tới kĩ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội

2.2.4 Đề xuất biện pháp tâm lý - sư phạm và tổ chức thực nghiệm nâng cao một số kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện và mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Khách thể nghiên cứu

- 353 nhân viên công tác xã hội đang làm việc trực tiếp với trẻ khuyết tật ở các Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở dạy nghề và tạo việc làm cho trẻ khuyết tật tại

Trang 14

Thành phố Hồ Chí Minh và An Giang (Trong đó có một số học viên đang học lớp vừa làm vừa học của Đại học Lao Động – Xã hội chi nhánh TP Hồ Chí Minh)

- 53 cán bộ quản lý các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở dạy nghề và tạo việc làm cho trẻ khuyết tật tại Thành phố Hồ Chí Minh và An Giang

- 5 trẻ khuyết tật vận động tại trung tâm dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật của TPHCM Luận án tập trung nghiên cứu kĩ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật vận động nhiều hơn so với các dạng khác, vì trẻ khuyết tật vận động đa số các em vẫn nói, nghe, hiểu khi nhân viên công tác xã hội giao tiếp với các em

3.2.2 Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu biểu hiện và mức độ kỹ

năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật gồm các kỹ năng:

kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu ở trẻ khuyết tật về nhân viên công tác xã hội; kỹ năng tạo cảm xúc tích cực với trẻ khuyết tật; kỹ năng ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với trẻ khuyết tật; kỹ năng xây dựng niềm tin của trẻ khuyết tật với nhân viên công tác xã hội; kỹ năng tư vấn thuyết phục trẻ khuyết tật và các yếu tố chủ quan, khách quan

tác động đến kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật

3.2.3 Về địa bàn: Thành phố Hồ Chí Minh và Tỉnh An Giang

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

4.1.1 Phương pháp tiếp cận liên văn hóa: Phương pháp tiếp cận liên văn

hóa cho chúng tôi biết, người có năng lực giao tiếp tốt, có khả năng thích ứng nhanh chóng với nhiều người khác nhau ở nhiều môi trường văn hóa khác nhau Sitaram,

& Lawrence (1979) thấy rằng các nền văn hóa khác nhau tạo ra các hệ thống giá trị khác biệt về nhận thức và ý nghĩa, cách giao tiếp của con người bị ảnh hưởng bởi các giá trị được phản ánh trong môi trường văn hóa họ giao tiếp Chính vì vậy, khi nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của nhân viên CTXH với trẻ khuyết tật thì phải tìm hiểu những giá trị văn hóa trong chính môi trường mà nhân viên CTXH giao tiếp với trẻ khuyết tật, từ đó nhân viên CTXH cần nhận thấy sự khác nhau khi giao tiếp với trẻ khuyết tật, khi giao tiếp với các dạng trẻ khuyết tật cũng như khi giao tiếp

Trang 15

với người bình thường

4.1.2 Phương pháp tiếp cận hoạt động: Hoạt động – giao tiếp có vai trò

quyết định trực tiếp đến sự hình thành nhân cách Động cơ, mục đích của hoạt động giao tiếp đều gắn với thang giá trị, định hướng giá trị của xã hội, cộng đồng, gia đình, của từng cá nhân như vậy nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội cần thông qua những hoạt động để thấy được hành động giao tiếp và phương thức giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật

4.1.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống: Kỹ năng giao tiếp của nhân viên

công tác xã hội với trẻ khuyết tật được xem xét như là kết quả của sự tác động từ nhiều yếu tố khác nhau: yếu tố chủ quan và khách quan Do vậy cần nghiên cứu Kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật trong mối quan hệ tương hỗ của các yếu tố

4.1.4 Phương pháp tiếp cận quyền con người: Quyền con người là quyền

được học hành, lao động, sinh sống, trẻ khuyết tật có quyền được sống bình đẳng trong xã hội, được phát triển bình thường, được bảo vệ và có quyền được tham gia bày tỏ quan điểm Nghiên cứu kĩ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật nhằm thực hiện nhiệm vụ thúc đẩy tiến trình thay đổi ở trẻ khuyết tật, giúp trẻ thực hiện quyền con người

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Trang 16

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật

5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận án làm rõ thực trạng mức độ của các biểu hiện trong từng kỹ năng, từng tiêu chí đánh giá kỹ năng nhìn chung mức độ kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội hiện nay đang ở mức độ trung bình Luận án làm rõ thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội, trong đó yếu tố ảnh hưởng yếu nhất là áp lực công việc

Luận án đưa ra được các biện pháp tâm lý sư phạm nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và làm phong phú lý thuyết về kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên CTXH trong lĩnh vực

Tâm lý học và Công tác xã hội

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ thực trạng mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến KNGT của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật

Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án trước hết là làm tài liệu tham khảo

để giảng dạy và học tập chuyên đề kỹ năng công tác xã hội dành sinh viên ngành tâm

lý học của Khoa Giáo dục, trường Đại học Sài Gòn và làm tài liệu tham khảo cho nhân viên công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật

Trang 17

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị; danh mục các công trình đã công

bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận

Chương 3 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết

tật của nhân viên công tác xã hội

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI

TRẺ KHUYẾT TẬT CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI

1.3 Nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp đã và đang được rất nhiều nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm, vì thế, có nhiều hướng nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp, trong luận án chỉ tập trung nghiên cứu một số hướng liên quan

1.1.1.1 Những nghiên cứu chung về tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp

Geogre Herbert Mead (1934), nhà TLH hành vi xã hội người Mỹ là một trong những người sáng lập ra thuyết “tương tác biểu trưng” Ông đã xây dựng và phát triển khái niệm “Cái tôi”, “Nhân cách”, “Tương tác”, “Biểu tượng” để nghiên cứu đặc điểm và tính chất đặc thù của mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội dẫn theo

77, tr.223-226 Theo hướng nghiên cứu này G.Mead đã phát hiện ra vai trò của sự thấu hiểu hành vi của người khác và thông qua sự thấu hiểu đó, cá nhân thay đổi nhận thức, hành vi ứng xử cho phù hợp, từ đó hình thành và phát triển ý thức bản ngã (cái tôi) thông qua sự tương tác xã hội với người khác

Kadushin và Kadushin (1997), cho rằng tầm quan trọng của thông tin liên lạc là sự chia sẻ những suy nghĩ, cảm xúc, thái độ và ý tưởng thông qua việc trao đổi các biểu tượng bằng lời và không lời [64] Tác giả chỉ ra sự chia sẻ chính là chia

sẻ suy nghĩ riêng tư và cảm xúc với những người khác thông qua giao tiếp

Tác giả Robert N.Lusier (2008), đã nhấn mạnh các kỹ năng giao tiếp cá nhân đặc biệt quan trọng trong các mối quan hệ của tổ chức Mỗi tổ chức không chỉ được tạo ra bởi mục tiêu công việc mà trước hết được tạo ra bởi chính mối quan hệ giữa con người với con người trong tổ chức ấy Nghiên cứu đã chỉ ra kỹ năng giao tiếp gồm: KN giải quyết xung đột, KN lắng nghe, KN quản lý cảm xúc bản thân,

KN suy nghĩ tích cực, KN tạo ấn tượng ban đầu ( là cơ sở để thích nghi với tổ chức) [84] Giao tiếp giúp cho mỗi tổ chức có được sự gắn kết, mặt khác mọi hoạt động của nhà quản lý đều được thực hiện thông qua quá trình giao tiếp

Trang 19

Tóm lại các tác giả nhấn mạnh KNGT rất quan trọng trong quá trình tương tác, tạo ấn tượng ban đầu và xây dựng mối quan hệ mang lại hiệu quả công việc

1.1.1.2 Những nghiên cứu tập trung làm rõ về kỹ năng thành phần của kỹ năng giao tiếp

VP.Zakharov cho rằng để có năng lực GT cần có các kĩ năng sau: kỹ năng thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp; kỹ năng biết cân bằng nhu cầu của chủ thể

và đối tượng giao tiếp; kĩ năng nghe và biết lắng nghe; kỹ năng tự chủ cảm xúc hành vi; kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng GT; kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, ngắn gọn, mạch lạc; kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong GT; kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp; kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp [dẫn theo 30, tr83] Theo tác giả muốn có KNGT phải thực hiện đầy đủ các kỹ năng này, mỗi kỹ năng tác giả đưa

ra 3 biểu hiện thành phần và có xây dựng thang đo trắc nghiệm cho từng kỹ năng Nghiên cứu của V.P.Zakharov là một cơ sở xây dựng thang đo cho luận án

Nghiên cứu của McCarthy (1978), đã chỉ ra truyền thông là để người nói và người nghe hiểu nhau, để truyền đạt mệnh lệnh đúng tiêu chuẩn, để chia sẻ kiến thức; để người nghe chấp nhận và thống nhất về văn bản được tiếp nhận, phải nói trung thực, chân thành, để người nghe có thể tin tưởng, (McCarthy (1978), tr.272-357) tác giả nhấn mạnh các yêu cầu về tính dễ hiểu, sự thật, sự đúng đắn, chân thành phải được nghiên cứu [Dẫn theo 81, tr.36]

Jack N Wismer (1998), truyền thông hiệu quả có 3 thành phần:(1) Cảm xúc bản thân, (2) Truyền cảm xúc, (3) Thể hiện hành vi [85, Tr 30-36] nghiên cứu của tác giả chỉ ra rằng truyền thông hiệu quả phụ thuộc vào cảm xúc của người sở hữu thông tin, họ có trách nhiệm truyền thông tin đến người nhận một cách trung thực, cởi mở tập trung vào vấn đề cần giải quyết không tập trung vào thể hiện hành vi của người gửi vì người gửi thường bắt đầu bằng chữ “tôi” có thể người gửi đã đặt một phần cảm xúc chủ quan của mình vào thông điệp

Teri K.Gamble và M Gamble (2002), đã đề ra kĩ năng giao tiếp cơ bản để thiết lập mối quan hệ liên nhân cách, bao gồm các KN lắng nghe; KN phản hồi; KN

sử dụng các phương tiện giao tiếp; KN làm chủ cảm xúc; KN trình bày [58] Tác giả

Trang 20

cho rằng hai kĩ năng lắng nghe và kĩ năng làm chủ cảm xúc bản thân là rất cần thiết

vì nó giúp cho cá nhân hiểu, chia sẻ cảm thông và đưa ra những quyết định đúng đắn Tuy nhiên để chủ thể đưa ra quyết định đúng đắn thì còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như kinh nghiệm, hoàn cảnh…

A.A.Leontiev (1987), chia KNGT thành 8 kĩ năng bộ phận, đó là: kĩ năng điều khiển hành vi bản thân (phẩm chất ý chí); kĩ năng quan sát (phẩm chất chú ý linh hoạt); kĩ năng nhạy cảm xã hội (biết đoán nét mặt người khác); kĩ năng đọc, hiểu, mô hình hóa nhân cách đối tượng GT; kĩ năng làm gương; KNGT ngôn ngữ (biết nói một cách tối ưu); kĩ năng kiến tạo sự tiếp xúc (ngôn ngữ & phi ngôn ngữ);

kĩ năng nhận thức (thu thập, hệ thống hóa & truyền đạt thông tin) [27] Tác giả nhấn mạnh thêm những thành tố giúp nhận ra biểu hiện của từng kĩ năng bộ phận

A.T Kyrbanova và Ph.M.Rakhmamlina, cũng chia quá trình giao tiếp thành

3 nhóm lớn: nhóm các kĩ năng định hướng trước khi giao tiếp; nhóm các kĩ năng tiếp xúc xảy ra trong quá trình giao tiếp & nhóm các kĩ năng độc đáo trong giao tiếp theo các định hướng giá trị khác nhau [Trích dẫn theo 30,tr.83] Theo hai tác giả này thì các kĩ năng trong các thành phần trên bao gồm: kĩ năng nhìn thấy, nghe thấy, tiếp xúc, hiểu biết lẫn nhau, kĩ năng tổ chức, điều khiển quá trình giao tiếp

Waldek et al (2012), đã xác định từ 347 công trình nghiên cứu của 10 tạp chí chuyên ngành trong giai đoạn từ 1/2005 đến tháng 6/2010 tổng hợp có 6 năng lực GT gồm: KNGT giữa các cá nhân; KNGT qua trung gian (văn bản, đa phương tiện…); KNGT nhóm; có khả năng GT nhiệt tình, sáng tạo; KNGT phi ngôn ngữ; KNGT ngôn ngữ nói và kỹ năng lắng nghe [Dẫn theo, 75] Tuy nhiên để có năng lực GT hiệu quả thì phải do khả năng kết nối của chủ thể vào từng tình huống GT

Tóm lại các tác giả nghiên cứu đã chỉ ra sự đa dạng về kỹ năng thành phần của KNGT, tuy nhiên tùy từng môi trường GT mà các tác giả xây dựng các KNGT cho phù hợp

1.1.1.3 Những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trong lĩnh vực nghề nghiệp

Lull Funk và Piersol (1955), hiệu quả làm việc của quản lí phụ thuộc và khả năng giao tiếp bằng miệng, không chỉ là cách triển khai chính sách của công ty mà

Trang 21

còn cả cách định hướng cho nhân viên làm việc, cách chia sẻ, động viên, cách trách mắng và áp dụng kỷ luật [75,tr 17-20] Như vậy đòi hỏi nhà quản lý phải có nhiều

kỹ năng, làm tốt cả những công việc họ được phân công và cả những công việc mà nhân viên họ quản lý được phân công Họ nhạy cảm, trách nhiệm với công việc, là người lắng nghe thấu cảm, chia sẻ chính xác, đầy đủ thông tin đến nhân viên [103] Nghiên cứu dẫn đến kết luận rằng có mối tương quan giữa truyền thông hiệu quả và các yếu tố sau: năng suất lao động, sự hài lòng cá nhân, các mối quan hệ bổ ích, cách giải quyết vấn đề

Kitty O Locker (1997), nghiên cứu GT trong lĩnh vực hành chính và kinh doanh diễn ra dưới nhiều hình thức như GT trực tiếp mặt đối mặt, điện thoại, email, [66] tác giả cho rằng, hiệu quả GT phụ thuộc rất nhiều vào mô hình, mạng lưới

GT của mỗi tổ chức vì từ mạng lưới đó sẽ quyết định tính chất của kênh truyền tải thông tin Tác giả nhấn mạnh đến các KNGT là KN lắng nghe, KN viết, KN trình bày có liên quan chặt chẽ đến kết quả hoạt động của lĩnh vực này Tác giả cũng chỉ

ra có 9 yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ trong tổ chức như: luôn mỉm cười, thái

độ tích cực, lạc quan, biết quan tâm đến người khác, gọi người đang giao tiếp bằng tên riêng, luôn sẵn lòng giúp đỡ, suy nghĩ trước khi hành động, biết lắng nghe

Trong lĩnh vực kinh doanh thì Jay (2005) đã viết rằng “Giao tiếp hiệu quả nhất chính là biết khi nào phải ngừng nói chuyện và bắt đầu nghe, đặc biệt quan trọng hơn khi những cảm xúc trong đội thống nhất và khi nhân viên đang chia sẻ những ý tưởng” [63,tr 87–90] Shulman (2005) viết: “Kỹ năng sử dụng từ và trình bày văn bản là những công cụ mạnh mẽ có thể tác động đến chiến lược về kinh doanh”[102]

Smith (2005), cho rằng sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán cần thiết phải có

kỹ năng lắng nghe, phi ngôn ngữ Grey (2010), tuyên bố rằng 91% chuyên gia kế toán xác định giao tiếp bằng ngôn ngữ nói là cần thiết trong lĩnh vực của họ Rossetto và Murphy (2010), cần phát triển kỹ năng nghe và kỹ năng đối thoại trực tiếp [Dẫn theo 102] Các tác giả chỉ ra rằng đối với sinh viên ngành kế toán thì tập trung học 2 kỹ năng chính là lắng nghe và kỹ năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ

Trang 22

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật

1.1.2.1 Những nghiên cứu chung về tầm quan trọng kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật

Nghiên cứu của Allen và Wood (1978), cũng chỉ ra rằng chức năng của thông tin liên lạc bao gồm điều khiển, chia sẻ cảm xúc, chia sẻ thông tin, chia sẻ lễ nghĩa và hình tượng…Để hoàn thành những chức năng của thông tin một người có khả năng giao tiếp phải biết hành động như thế nào cho phù hợp, điều này cho rằng phù hợp là tiêu chí để mở rộng ý nghĩa cho năng lực giao tiếp [46, 286 – 292]

Dựa trên lý thuyết của Carl Rogers, Carkhuff và các nhà lý luận tư vấn khác, thì Toseland và Spielberg (1982) [90, tr.66-73] cho rằng, muốn hỗ trợ tiến trình thay đổi của đối tượng trợ giúp thì nhân viên CTXH cần phải có kỹ năng giao tiếp với đối tượng và để tự họ khám phá ra: sự đồng cảm; sự chân thật; sự tôn trọng;

sự cụ thể; tự tiết lộ; nhận ra tiềm năng bản thân và tự thực hiện Tuy nhiên, sự thay đổi như thế nào thì phụ thuộc vào khả năng của cá nhân

Di Blasi et al (2001), đã nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của KNGT trong mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân tại các bệnh viện ở Châu Âu, Mỹ và Canada

đã kết luận rằng, các chuyên gia giỏi về KNGT tạo ra sự khác biệt tích cực đáng kể đối với sức khỏe của bệnh nhân [54] Tác giả khẳng định “Các Bác sỹ có KNGT giỏi cố gắng tạo ra sự ấm áp, mối quan hệ thân thiện với bệnh nhân và trấn an họ rằng, bệnh của họ sẽ tiến triển theo chiều hướng tốt hơn, đã đem lại hiệu quả chữa bệnh cao hơn”

Pamela Trevithick et al (2004), trình bày trong nghiên cứu quan điểm của 2

tác giả (Pierson và Thomas) về tầm quan trọng của truyền thông trong công tác xã hội với cộng đồng người yếu thế Nhằm đạt chất lượng cao thì nhân viên CTXH cần

hỗ trợ họ nhận thức được ngôn ngữ cơ thể, có kỹ năng lắng nghe hiệu quả [99]

Kevin Barnes-Ceeney and Amanda Naylor (2005), KNGT là nền tảng cho tất cả các chuyên gia làm việc với khách hàng, sử dụng KNGT một cách hiệu quả, tạo điều kiện cho một mối quan hệ giúp đỡ được phát triển Nhân viên xã hội

Trang 23

thường phải giao tiếp trong những tình huống mà các điều kiện có thể gây ra nhiều rào cản đối với truyền thông Họ cũng có thể làm việc với những cá nhân không muốn truyền thông và đề kháng với sự thay đổi [67] Tác giả chỉ ra, để GT hiệu quả thì nhân viên CTXH phải là chuyên gia sử dụng thuần thục các KN sau: (1) Lắng nghe; (2) Kích thích cá nhân có cái nhìn sâu sắc về bản thân; (3) Hỗ trợ và tư vấn cho những người bị căng thẳng; (4) Giải quyết xung đột với các khách hàng tức giận hoặc hung dữ; (5) Thay đổi thái độ hoặc thói quen không tích cực của khách hàng; (6) Phát triển các phương pháp truyền thông khác nhau cho những người không sử dụng GT bằng ngôn ngữ nói Tác giả chỉ ra rằng nhân viên CTXH sử dụng KNGT thúc đẩy khách hàng giải quyết vấn đề theo cách của họ để vượt qua giai đoạn khó khăn

Trong nghiên cứu của Donald Forrester et al (2007), đã trình bày "Giao tiếp tốt là trọng tâm của việc thực hành tốt nhất trong CTXH” (Social Care Institute for

Excellence (SCIE) 2004a, tr.1) [55, tr 41-51], trong công trình các tác giả cũng chỉ

ra một số KNGT được xác định trong CTXH gồm: KN thấu cảm; KN sử dụng câu hỏi đóng, mở (Trevithick, 2000, tr87), cho thấy rằng "các câu hỏi mở tạo nên thành phần chính của cuộc gặp gỡ ban đầu"; KN phản xạ giúp thăm dò sâu hơn về tình cảm về bản chất của đối trượng trợ giúp; KN nhận thức, các tác giả nhấn mạnh nhân viên CTXH thiếu KN phản xạ có ảnh hưởng đến quá trình GT với đối tượng Các tác giả lựa chọn 2 tiêu chí nhạy cảm và linh hoạt để đánh giá KN phản xạ

Limor Rosenberg et al (2017), nghiên cứu đánh giá sự đóng góp của khả năng vận động ảnh hưởng đến KNGT xã hội của trẻ rối loạn hành vi GT xã hội, các tác giả chỉ ra các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào hành vi thích nghi hơn

là tham gia (Kanne et al, 2011; Pugliese et al, 2016) [70], còn nghiên cứu này các tác giả đã nghiên cứu 2 lần: lần một, để đánh giá mối tương quan giữa vận động, KNGT xã hội vào các hoạt động hàng ngày của trẻ rối loạn hành vi GT xã hội; lần

2, để đánh giá vận động trực tiếp hay gián tiếp góp phần về sự tham gia của trẻ vào các hoạt động sinh hoạt thường ngày Nghiên cứu làm nổi bật tác động gián tiếp của

Trang 24

khả năng vận động đến KNGT của trẻ và KNGT của trẻ đóng góp đáng kể vào vận động của trẻ

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, KNGT là kỹ năng rất quan trọng đối với nhân viên CTXH, nếu nhân viên CTXH giao tiếp không hiệu quả với đối tượng trợ giúp thì sẽ ảnh hưởng đến tiến trình thúc đẩy sự thay đổi của đối tượng trợ giúp mà đây lại là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong vai trò là nhân viên CTXH

1.1.2.2 Những nghiên cứu tập trung làm rõ về kỹ năng thành phần của kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật của nhân viên công tác xã hội

Nerdrum và Lundquist (1995), nghiên cứu về đào tạo KNGT cho nhân viên CTXH tác giả nhấn mạnh đào tạo các KN: điều chỉnh bản thân; khả năng tập trung; lắng nghe tích cực; đồng cảm; sự hiểu biết khách hàng [88,tr139-57], trong đó chú ý đào tạo kỹ năng đồng cảm

Robert L Gibson và Marianne H Mitchell (1995) [72], hai tác giả cho rằng người trợ giúp (bao gồm cả nhân viên CTXH) cần thiết phải hội tụ các kĩ năng như:

KN giao tiếp, KN chẩn đoán, đánh giá, KN thuyết phục và KN quản lí Trong đó đặc biệt đi sâu vào các KNGT bao gồm: KNGT không lời được thể hiện qua việc sử dụng thời gian, sử dụng những cử động cơ thể (ánh mắt, nụ cười, tay, đầu ), sử dụng giọng nói (tốc độ, nhịp độ, thời lượng, cách diễn đạt), sử dụng môi trường giao tiếp (khoảng cách, trang trí, trang phục, vị trí) và KNGT bằng lời như: lắng nghe, phản hồi, đặt câu hỏi Đây là các kĩ năng rất cơ bản để người trợ giúp có thể thiết lập sự tin tưởng đối với thân chủ, thu thập thông tin và trợ giúp hiệu quả

Hepworth, Rooney và Larsen (1997, tr180 – 181; 183 -190) chỉ rõ, nhân viên CTXH phải biết quan sát, biết tự đánh giá các vấn đề về các mô hình hành vi giao tiếp Họ nhấn mạnh đến các giá trị tham dự, những tương tác bằng mắt, về vị trí cơ thể, nhận thức về những khác biệt văn hóa và các mô hình giao tiếp không lời

Họ cũng nhấn mạnh đến những rào cản giao tiếp bằng lời như chuẩn mực đạo đức, những lời khuyên, hay những giải pháp mang tính thuyết giảng [21]

Dalzell R and Chamberlain C (2006), đã chỉ ra những kỹ năng mà nhân viên CTXH sử dụng để giao tiếp hiệu quả với trẻ em gồm: KN tự tin; KN lắng nghe

Trang 25

tích cực; KN đồng cảm với quan điểm của trẻ; KN xây dựng mối quan hệ tin tưởng;

KN giao tiếp phi ngôn ngữ; KN giải thích, tóm tắt, cung cấp thông tin rõ ràng [52], các tác giả nhấn mạnh nhân viên CTXH cần điểu chỉnh phong cách làm việc tùy theo tốc độ thay đổi của trẻ, đòi hỏi nhân viên CTXH cần kiên nhẫn, cần có thời gian và được hỗ trợ về tài nguyên khi giao tiếp với trẻ

Winter (2011), đưa ra các rào cản ảnh hưởng đến việc phát triển các mối quan hệ có ý nghĩa gồm nhiệm vụ, niềm tin, lý thuyết, đào tạo, công cụ, thời gian…

và thông qua phân tích các ví dụ thực tế để đưa ra cơ sở lý luận về KNGT với trẻ

em, được phân tích qua 3 giai đoạn của quá trình truyền thông: giai đoạn mở đầu sử dụng KN thiết lập mối quan hệ, giai đoạn giữa gồm các KN quản lý cảm xúc (Trẻ

và bản thân nhân viên CTXH), công nhận và tôn trọng vốn xã hội của trẻ, các KN nghe, KN đặt câu hỏi; giai đoạn kết thúc phải được lên kế hoạch tránh cho trẻ cảm giác bị bỏ rơi [65] tác giả nhấn mạnh nhân viên CTXH phải có kiến thức và áp dụng đúng đắn kiến thức nhằm thực hiện linh hoạt KNGT với trẻ em

Trong nghiên cứu tái bản lần 3 của Trevithick.P (2012), đã đưa ra 80 kỹ năng dành cho CTXH và can thiệp dựa trên sự phân tích, tổng hợp giữa lý thuyết và thực hành bao gồm những kỹ năng như: KN tạo mối quan hệ; KN giao tiếp (nhấn mạnh đến sự nhận thức về hình dáng của chủ thể); KN chào đón/giới thiệu; KNGT ngôn ngữ; KNGT phi ngôn ngữ; KN quan sát, KN lắng nghe tích cực; kỹ năng ghi nhớ; KN gắn kết với người khác; kỹ năng hòa hợp cảm xúc; kỹ năng hỗ trợ tinh thần, kỹ năng tư vấn; kỹ năng thúc đẩy; kỹ năng truyền cảm giác tự tin… [99]

Lefevre M (2013), dựa trên vai trò, nhiệm vụ của nhân viên CTXH và quyền trẻ em để chỉ ra một số KN cốt lõi làm tăng cường khả năng GT của nhân viên CTXH với trẻ em: (1) về KN đi theo khả năng của trẻ, lấy trẻ làm trung tâm gồm: sử dụng các công cụ hỗ trợ, kỹ thuật phỏng vấn, lắng nghe, sáng tạo, tư vấn thuyết phục; (2) về phẩm chất cá nhân: xây dựng mối quan hệ vui vẻ, tin tưởng, an toàn, quan tâm chăm sóc, trung thực, chân thành và ấm áp; (3) về đạo đức: tôn trọng, bảo mật quan điểm của trẻ, không phán xét, cung cấp thông tin liên tục và đáng tin cậy; (4) về kiến thức: có kiến thức và sự hiểu biết về vai trò của nhân viên

Trang 26

CTXH, thông qua KNGT tác động đến khả năng GT và kinh nghiệm của trẻ [81], Lefevre cũng nhấn mạnh đến công tác đào tạo KNGT của nhân viên CTXH phải được học lý thuyết, được thực hành và thực hành trực tiếp với trẻ

Tóm lại, trên đây là một số hướng nghiên cứu về KNGT nói chung và KNGT của nhân viên CTXH với trẻ em, trong đó có trẻ khuyết tật Thực trạng nghiên cứu của các tác giả phần lớn đi sâu vào nghiên cứu KNGT bằng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng tạo lập mối quan hệ, … gần đây các tác giả có đề cấp đến để GT hiệu quả thì cần thêm các kỹ năng như: KN đồng cảm, kỹ năng xây dựng mối quan hệ tin tưởng, kỹ năng tư vấn, giải thích…nhìn tổng thể nghiên cứu của các tác giả đều có ý nghĩa trong từng lĩnh vực cụ thể KNGT của nhân viên CTXH với TKT được các tác giả nhấn mạnh đến như KN xây dựng mối quan hệ tin tưởng, KN tư vấn, giải thích, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ… tuy nhiên để thúc đẩy tiến trình thay đổi ở TKT thì cần thêm các kỹ năng khác

1.4 Nghiên cứu ở Việt Nam

1.2.1 Những nghiên cứu tập trung chia kỹ năng giao tiếp thành các nhóm kỹ năng giao tiếp

Hoàng Anh, Nguyễn Thanh Bình, Vũ Kim Thanh (2004), trong “Giáo trình Tâm lý học giao tiếp” cho rằng: “KNGT thực chất là sự phối hợp phức tạp giữa những chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ mặt, ánh mắt,

nụ cười, tư thế, đầu, cổ, vai, tay, chân đồng thời với ngôn ngữ nói, viết của giáo viên, của người quản lý” [3, tr54] Các tác giả cũng thống nhất đưa ra ba nhóm KNGT: kĩ năng định hướng, kĩ năng định vị, kĩ năng điều khiển quá trình giao tiếp

Trần Thị Thanh Hà (2005), “Một số KNGT trong vận động quần chúng của chủ tịch hội phụ nữ cấp cơ sở”: Luận án tiến sĩ Tâm lý học, cho rằng KNGT là sự kết hợp hài hòa của kĩ năng định hướng, kĩ năng định vị, kĩ năng điều khiển quá trình giao tiếp, trong đó kĩ năng định hướng là kĩ năng quan trọng nhất [19]

Nhữ Văn Thao (2012), KNGT của chính trị viên trong Quân đội Nhân dân Việt Nam: Luận án tiến sĩ Tâm lý học, cho rằng KNGT của chính trị viên với cán

Trang 27

bộ dưới quyền gồm 3 nhóm: (1) Nhóm KN thiết lập quan hệ (KN tạo ấn tượng ban đầu; KN tạo bầu không khí tâm lý tích cực; KN thấu hiểu đối tượng; KN tạo tình cảm và sự tin cậy); (2) Nhóm KN truyền đạt thông tin (KN truyền đạt thông tin trực tiếp và gián tiếp); (3) Nhóm KN thu thập và xử lí thông tin phản hồi (kĩ năng lắng nghe; kỹ năng thu thập thông tin bằng cách hỏi đối tượng; KN phân tích tài liệu, sàn lọc, kiểm chứng thông tin; [41] Tác giả khẳng định đây là 3 nhóm kĩ năng cần thiết cho Chính trị viên khi GT với cán bộ và chiến sĩ dưới quyền, cả ba nhóm đều quan trọng, thiếu nhóm KN này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của nhóm KN kia cũng như ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình GT của chính trị viên trong hoạt đông công việc

Nguyễn Văn Đồng (2012), trong tài liệu “Tâm lý học giao tiếp tập 1,2” chia KNGT thành 3 nhóm: (1) KNGT ngôn ngữ (kĩ năng tiếp nhận thông tin; kĩ năng tổ chức thông tin; kĩ năng diễn đạt; …); (2) KNGT phi ngôn ngữ (kĩ năng kiểm soát và nhận biết tín hiệu phi ngôn ngữ; kiểm soát và nhận biết biểu cảm của khuôn mặt, kiểm soát và nhận biết tín hiệu phi ngôn ngữ thể hiện qua phong cách ăn mặc); (3) KNGT liên nhân cách (kĩ năng phân tích tình huống; điểu chỉnh sự phù hợp và cân bằng trong giao tiếp; tự kiểm soát bản thân; tạo vai trò chủ động, tích cực trong giao tiếp; dàn dựng khung cảnh giao tiếp [16], tác giả nhấn mạnh các kĩ năng gắn kết chặt chẽ với nhau, việc rèn luyện và nâng cao KNGT phải thực hiện theo vòng xoáy trôn ốc, sau khi đã nâng cao tất cả các KN thì bạn lại tiếp tục rèn luyện chúng trên cơ sở mới để nâng cao và mở rộng chúng hơn nữa

1.2.2 Những nghiên cứu tập trung về các kỹ năng thành phần của kỹ năng giao tiếp trong hoạt động cụ thể

Mai Hữu Khuê khi phân tích KNGT trong hành chính đã đặc biệt nhấn mạnh đến các KN nghe; kỹ năng đọc; kỹ năng viết; kỹ năng nói và kỹ năng phản hồi [Dẫn theo, 4] Đây là những KN cần có đối với nhân viên hành chính công vụ - đối tượng phải thường xuyên dành 60% đến 90% thời gian làm việc qua giao tiếp

Khi nghiên cứu về "Nghệ thuật giao tiếp và thương lượng trong kinh doanh", Thái Trí Dũng (2003), đã trình bày một số KNGT cơ bản như: kỹ năng lắng nghe; kỹ năng đặt câu hỏi; kỹ năng diễn thuyết và báo cáo miệng; kỹ năng giao dịch

Trang 28

bằng điện tín; kỹ năng xã giao thông thường [14] tuy nhiên những kỹ năng mà tác giả đưa ra vẫn chỉ dừng lại ở mức độ liệt kê chưa phản ánh được đầy đủ tính nghệ thuật giao tiếp

Đối với hoạt động quản lý, Vũ Dũng (2003) trong cuốn “Tâm lí học giao tiếp” đã đưa ra một số kỹ năng giao tiếp quan trọng là kỹ năng tạo lập mối quan hệ,

kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản hồi [13] Theo tác giả, đây là những KN giao tiếp quan trọng có ảnh hưởng đến kết quả giao tiếp

Đề cập đến những kỹ năng giao tiếp mà một người nhân viên du lịch cần phải có, tác giả Đinh Văn Đáng (2004), đưa ra một số kỹ năng giao tiếp tiêu biểu như sau: kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu; kỹ năng sử dụng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; kỹ năng sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc [15] Tác giả nhấn mạnh các kỹ năng này đều quan trọng đối với người làm du lịch

Tóm lược, nghiên cứu kỹ năng giao tiếp ở Việt Nam cũng được các tác giả

ở nhiều lĩnh vực quan tâm, cho thấy sự đa dạng về cấu trúc thành phần của kỹ năng giao tiếp, tùy đối tượng tiếp cận, tùy mục đích giao tiếp mà sử dụng các kỹ năng khác nhau nhằm đạt được hiệu quả giao tiếp

1.2.3 Những nghiên cứu kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật

Các tác giả trong cuốn tài liệu tập huấn Công tác xã hội (1997), đưa ra một

số kỹ năng giao tiếp cơ bản trong giải quyết vấn đề của nhân viên CTXH như: kĩ năng thu thập và phân tích thông tin, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tư vấn, kĩ năng

“nới lỏng” mối quan hệ xã hội, kĩ năng khuyến khích, động viên [38]

UNICEF Việt Nam, Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em Việt Nam (2005), dưới sự hỗ trợ chuyên môn của các chuyên gia tham vấn tâm lí nước ngoài đã biên

soạn và xuất bản cuốn Tài liệu tập huấn Kĩ năng cơ bản trong tham vấn, dùng trong

các khóa đào tạo giảng viên nguồn về tham vấn tâm lí cho cả nước [45] Cuốn tài liệu xác định các KN tư vấn cơ bản chính là các KNGT không lời và bằng lời như:

kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản ánh cảm xúc, kỹ năng diễn đạt lại và khuyến khích, kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng tóm tắt… đây là những kĩ năng

Trang 29

giúp nhà tư vấn khai thác thông tin, tương tác tích cực với thân chủ, giúp thân chủ nhận thức được tiềm năng của mình để tự giải quyết khó khăn, vướng mắc tâm lí

Nguyễn Ngọc Lâm (2011), trong giáo trình “Kỹ năng giao tiếp” dùng cho học viên trung cấp chuyên ngành Giáo dục – Chăm sóc người khuyết tật, tác giả chỉ

ra để có thể thiết lập mối quan hệ giao tiếp tốt, bạn cần nhận thức về một số kỹ năng trong truyền thông có lời và không lời, nhận biết con người của mình, mình đang ở nấc thang của nhu cầu nào trong cuộc sống hiện tại, do đâu chúng ta có hành vi trong mối quan hệ với người khác…[28, tr 9] tác giả phân KNGT thành 3 nhóm: (1)

kĩ năng định hướng là kỹ năng tri giác ban đầu về các biểu hiện bên ngoài (hình thức, động tác, cử chỉ, ngôn ngữ…) trong thời gian và không gian giao tiếp để xác định được động cơ, tâm trạng, nhu cầu, mục đích, sở thích của đối tượng giao tiếp Người có tri giác tốt có thể dễ dàng nhận ra sự không ăn khớp giữa lời nói và ngôn ngữ cơ thể (2) KN định vị là khả năng xác định vị trí giao tiếp, hiểu rõ tầm quan trọng về tình cảm của bản thân, tôn trọng tình cảm người khác, hiểu được điều họ cảm nhận và nguyên nhân của cảm nhận đó (3) KN điều khiển là khả năng lôi cuốn, thu hút đối tượng GT, biết duy trì sự hứng thú, sự tập trung chú ý của đối tượng, khả năng tự kiềm chế cảm xúc, làm chủ các phương tiện GT [28, tr 51-52]

Nguyễn Thị Kim Hoa và cộng sự (2014), trong cuốn “Công tác xã hội với người khuyết tật” đã chỉ ra mỗi dạng khuyết tật có các KNGT khác nhau nhưng chủ yếu tập trung vào các kỹ năng như: KN sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ, KN đọc bằng môi; kĩ năng sử dụng ngôn ngữ kí hiệu; kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói, kĩ năng lắng nghe… [21] các tác giả nhấn mạnh nhân viên CTXH phải nhận biết những biểu hiện thiếu kiên nhẫn, thất vọng ở trẻ trong khi giao tiếp…đặc biệt khi ngôn ngữ kí hiệu của họ hơn hẳn nhân viên CTXH hay nhân viên CTXH không thể hiểu được TKT nói gì

Như vậy, có thể nói rằng các nghiên cứu trong nước tập trung vào vai trò, tầm quan trọng của KNGT với nhân viên CTXH và chỉ ra cấu trúc KNGT của nhân viên CTXH theo từng đối tượng, hoàn cảnh giao tiếp Các nghiên cứu chưa phản ánh thực trạng của từng kỹ năng, chưa đưa ra kết luận cụ thể kỹ năng nào trong các

Trang 30

kỹ năng tác giả nghiên cứu, nhân viên CTXH thực hiện tốt, kỹ năng nào nhân viên CTXH còn hạn chế, đặc biệt với đối tượng là trẻ khuyết tật, nên việc nghiên cứu KNGT của nhân viên CTXH với TKT sẽ góp phần làm sáng tỏ về lý luận, thực trạng của KNGT với TKT của nhân viên CTXH

Khái quát các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về kỹ năng giao tiếp và kỹ năng giao tiếp của nhân viên công tác xã hội, rút ra kết luận như sau:

- Kỹ năng giao tiếp chuyên nghiệp trên thế giới có chiều dài lịch sử nghiên cứu, được ứng dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực Ban đầu các nhà nghiên cứu quan tâm đến KNGT là sự tương tác, trao đổi thông tin Sau này các công trình nghiên cứu KNGT nhận thấy tầm quan trọng của KNGT với quá trình hình thành các biểu tượng, ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân, là điều kiện tồn tại và phát triển của xã hội nên đã nghiên cứu KNGT theo quan điểm hệ thống, xây dựng các thang đo trắc nghiệm, biểu hiện của kỹ năng giao tiếp gồm có những kỹ năng thành phần Một số công trình nghiên cứu quan tâm đến tiêu chí đánh giá kỹ năng như tính chính xác, phù hợp, thuần thục, hiệu quả, tuy nhiên những nghiên cứu kỹ năng giao tiếp ban đầu này được ứng dụng chung chưa mang tính cụ thể

- Một số nhà khoa học đã nhận thấy cá nhân có năng lực giao tiếp cần phải được thể hiện trong từng tình huống gắn với môi trường hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của cá nhân, nên đã tập trung nghiên cứu KNGT trong từng lĩnh vực nghề nghiệp như quản lý, kế toán, quản trị kinh doanh, hành chính…và nghiên cứu KNGT của nhân viên CTXH là một nghiên cứu trong lĩnh vực nghề nghiệp Trevithick.P (2012), Lefevre.M (2013) Nghiên cứu về KNGT của nhân viên CTXH dựa trên vai trò, nhiệm vụ, bản chất của công tác xã hội Juliet.K (2008), Karen Winter (2011) để hình thành biểu hiện KNGT chung hoặc dành cho trẻ em thì có nhiều, còn nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của nhân viên CTXH với trẻ khuyết tật dựa trên vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu giao tiếp với trẻ khuyết tật của các nhà Tâm lý học thì chưa có nhiều

Trang 31

- Tại Việt Nam, nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của nhân viên CTXH chủ yếu tập trung nghiên cứu về tầm quan trọng, chỉ ra cấu trúc của các nhóm kỹ năng, chỉ ra các kỹ năng thành phần của kỹ năng giao tiếp với các đối tượng, với người khuyết tật nhưng cụ thể với trẻ khuyết tật thì chưa nghiên cứu

Tiểu kết chương 1

Khái quát các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có thể rút ra kết luận: kỹ năng giao tiếp của nhân viên CTXH với TKT được nghiên cứu với nhiều quan điểm khác nhau cụ thể có hai hướng chính, một hướng nghiên cứu về vai trò, tầm quan trọng KNGT và hướng thứ hai nghiên cứu làm rõ các kỹ năng thành phần của KNGT trong từng lĩnh vực, nghề nghiệp cụ thể, trong đó có nhân viên CTXH Tuy kĩ năng giao tiếp là vấn đề khá rộng và phức tạp mang tính chất ứng dụng, mỗi lĩnh vực hoạt động, nghề nghiệp nó có cấu trúc, biểu hiện cụ thể đặc thù riêng, gồm nhiều yếu tố riêng lẻ nhưng có mối quan hệ thống nhất với nhau Nếu chúng ta biết vận dụng tri thức, kinh nghiệm nắm được cách thức và thủ thuật vận hành thì giao tiếp của chúng ta sẽ đạt hiệu quả cao hơn

Trên thế giới, ngành công tác xã hội đã có bề dày lịch sử, họ được chú trọng trang bị về nhiều kỹ năng, trong đó có kỹ năng giao tiếp nhằm đảm bảo cho họ thực hiện công việc một cách hiệu quả nhất Ở Việt Nam, tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu về KNGT khá nhiều nhưng nghiên cứu về KNGT của nhân viên CTXH với TKT với tư cách là một kỹ năng nghề nghiệp thì chúng tôi chưa tìm thấy, vì vậy đây là một hướng nghiên cứu mà tác giả chọn làm đề tài luận án

Trang 32

Chương 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT CỦA

NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 2.1 Kỹ năng giao tiếp với trẻ khuyết tật

2.1.1 Kỹ năng

2.1.1.1 Khái niệm kỹ năng

Tổng hợp các công trình nghiên cứu về kỹ năng, đa số các tác giả khái quát thuật ngữ kỹ năng dùng để chỉ cá nhân thực hiện có kết quả một hành động trong một hoạt động cụ thể nào đó Tùy vào lĩnh vực nghiên cứu để các tác giả đưa ra quan niệm kỹ năng

Quan niệm xem như là mặt kĩ thuật của thao tác, hành động hay hoạt động

Theo V.A Crucheski (1981), “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật những phương thức đúng đắn” [8, tr.68-69], những kĩ năng được hình thành trong quá trình luyện tập, nhưng không phải sự luyện tập đều dẫn đến sự hình thành kỹ năng nếu như không biết một cách chính xác cần phải làm cái gì, phải đạt được kết quả gì và phải có khả năng so sánh theo từng thời kỳ với mẫu, ý thức được những sai sót và cố gắng sửa chữa V.A Crucheski cho rằng kĩ năng có những mức độ khác nhau, để đánh giá

các mức độ của kĩ năng thì phải dựa vào nhiệm vụ và tùy vào lứa tuổi

A.G Covaliov (1976), trong cuốn Tâm lý học cá nhân: Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động [7], A.G Covaliov nhấn mạnh rằng, kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động là đem lại kết quả tương ứng

X.I.Kixegof (1996)[26], Trần Hữu Luyến (2008)[31], quan niệm kỹ năng là

kỹ thuật của hành động, tức là kỹ thuật của thao tác, là sự kết hợp nhiều thao tác theo một trật tự phù hợp với mục đích và điều kiện của hoạt động

Quan niệm của các tác giả cho phép kỹ năng bộc lộ một cách có hệ thống, linh hoạt và phù hợp đặc biệt khi xây dựng kỹ năng hoạt động nghề nghiệp

Trang 33

Quan niệm kĩ năng như biểu hiện của năng lực cá nhân

K.K.Platonov (1967) cho rằng người có kỹ năng không chỉ hành động có

kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những điều kiện khác nhau Do vậy, theo ông kĩ năng là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kì nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm – những cái đã được lĩnh hội từ trước [2.tr 97], hay nói cách khác, kĩ năng được hình thành trên cơ sở của các tri thức và các kĩ xảo

Các tác giả: Hoàng Anh, Nguyễn Thạc[40], Vũ Dũng [12], Trần Quốc

Thành [42],Phạm Tất Dong, Nguyễn Hải Khoát, Nguyễn Quang Uẩn (1995)[11],

Nguyễn Hữu Hùng (2016) [24]… các tác giả đều cho rằng KN là năng lực vận dụng tri thức về hành động hay các thao tác của hành động theo đúng qui trình để có kết quả mong muốn [40; 42], quan điểm của các tác giả là muốn có KN thì phải có tri thức về hành động, có kinh nghiệm thực hiện thao tác theo đúng qui trình, trong quá trình thực hiện phải chú ý các điều kiện cho phép để hành động đạt kết quả

Quan niệm kỹ năng xem như hành vi ứng xử, xem xét đến thái độ, động cơ của cá nhân:[82], [91] tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2007), trong luận án tiến sĩ tâm lý

học; Tác giả Nguyễn Phương Huyền (2012), KNGT của cán bộ công chức, tác giả Nguyễn Hiệp Thương (2016) Kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân

viên CTXH, cũng cho rằng kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm,

thái độ của cá nhân một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động đó có kết quả [25] Quan

niệm này ghi nhận hành vi có KN là năng lực lựa chọn những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ thuật thích hợp và sử dụng chúng trong những tình huống cụ thể

Tóm lại, cho dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng trên thực tế, con người muốn có kỹ năng về một hành động nào đó thì cần phải hiểu sâu sắc và vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào thực hiện hành động một cách nhuần nhuyễn và thành thạo nhằm mang lại kết quả nhất định trong những điều kiện khác nhau Khi thực hiện mục tiêu của hành động cần phải có tri thức, kinh nghiệm, biện pháp, cách

Trang 34

thức và thể lực để thực hiện hành động Ngoài ra để thực hiện hành động có hiệu quả phải tính đến các điều kiện của hành động

Khái quát quan điểm về kỹ năng kỹ năng có những đặc trưng sau:

- Nền tảng của kĩ năng trước hết là sự hiểu biết, kinh nghiệm về mục tiêu cụ thể, yêu cầu kỹ thuật được cá nhân lựa chọn và vận dụng vào hành động để thực hiện hoạt động có hiệu quả

- Kĩ năng được thể hiện qua việc vận dụng sự hiểu biết, kinh nghiệm vào hành động cụ thể, chịu ảnh hưởng của cách nghĩ, thái độ

- Sự hình thành và phát triển của kỹ năng phải từ thấp đến cao thông qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện của cá nhân

Trên cơ sở phân tích những quan điểm về kỹ năng của các tác giả, có thể

xác định khái niệm kỹ năng như sau: Kĩ năng là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm

của cá nhân trong những hoàn cảnh cụ thể để thực hiện hoạt động có hiệu quả Đây

là khái niệm công cụ để tác giả xác định khái niệm kỹ năng giao tiếp của nhân viên CTXH với trẻ khuyết tật

2.1.1.2 Đặc điểm của kỹ năng [32], [24]

Trong các khái niệm của các tác giả được phân tích ở trên thì hành động luôn có mục đích và thao tác thực hiện, việc hình thành kỹ năng hành động là cá nhân phải nắm được mục đích, cơ chế của hành động, điều kiện để hành động và biết triển khai thao tác đúng, phù hợp trong mọi hoàn cảnh khác nhau Từ yêu cầu triển khai thao tác để hình thành kỹ năng hành động có thể khái quát một vài đặc điểm của kỹ năng:

- Tính đầy đủ của kỹ năng: chủ thể phải có được đầy đủ các tri thức, có hiểu biết về công việc, có đầy đủ các thao tác, đầy đủ các quy trình của kỹ năng

- Tính khái quát của kỹ năng: người có kỹ năng hành động hiệu quả thì bất

kể trong trường hợp nào tương tự, cũng thực hiện hành động đó có hiệu quả

- Tính đúng đắn của kỹ năng: trong những giai đoạn đầu, chủ thể thực hiện hành động vẫn còn những sai phạm nhất định trong nhận thức, trong hành vi, và trong thao tác Những giai đoạn sau, thì sự sai phạm của kỹ năng được loại bỏ dần

Trang 35

- Tính thuần thục của kỹ năng: trong quá trình thực hiện hành động, chủ thể thực hiện các thao tác, hành vi một cách thành thạo, thuần thục, không còn những thao tác thừa, gặp vướng mắc, lúng túng khi triển khai hành động

- Tính linh hoạt của kỹ năng: trong những trường hợp cố hữu hay trong những trường hợp tương tự hoặc trong những hoàn cảnh khác nhau chủ thể vẫn biết

sử dụng các tri thức, kinh nghiệm đã có vào thao tác phù hợp loại bỏ những thao tác không phù hợp để thực hiện có hiệu quả hoạt động

- Tính hiệu quả của kỹ năng: Tính hiệu quả của kỹ năng là sự biểu hiện tổng thể giá trị cuối cùng của hành động có kỹ năng của chủ thể, đạt được hiệu quả của hành động Vì vậy, có thể nói, tính hiệu quả của hoạt động là biểu hiện cao nhất và cuối cùng của kỹ năng hành động

Những đặc điểm trên có mối quan hệ với nhau, trong đó tính đúng đắn có vai trò quan trọng như là điều kiện tiên quyết để có kỹ năng vì dù thực hiện nhanh, không cứng nhắc, dập khuôn nhưng không đúng thì không có giá trị và coi như là chưa có kỹ năng Ngoài những đặc điểm trên, kỹ năng có thể có nhiều đặc điểm khác Tuy nhiên, trong phạm vi của luận án chúng tôi chọn tính đúng đắn, tình thuần thục, tính linh hoạt, dựa vào các đặc điểm này để xây dựng các tiêu chí đánh giá khi phân tích kỹ năng giao tiếp của nhân viên CTXH với trẻ khuyết tật

2.1.1.3 Quá trình hình thành của kỹ năng

Tác giả Robert J.Srernberg cho rằng: “Thực chất của sự hình thành kỹ năng

là tạo điều kiện để chủ thể nắm vững một hệ thống phức tạp các bước, các thao tác

và làm sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong các tình huống, các nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể” [Dẫn theo, 94, tr.561-563]

K.K.Platonov , G.G.Golubev (1967), năm mức độ hình thành kỹ năng:

Mức độ 1: Có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm

Mức độ 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ

Mức độ 3: Có những KN chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ Mức độ 4: Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động

Trang 36

Mức độ 5: Vận dụng sáng tạo những kỹ năng trong các tình huống khác nhau [2, tr 115 -116]

Tác giả Nguyễn Phương Huyền (2012), Kỹ năng giao tiếp của cán bộ công chức chia quá trình hình thành kỹ năng thành các giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Nhận biết sơ bộ về hành vi kỹ năng

Giai đoạn 2: Phân tích để hiểu được yêu cầu thao tác, kỹ thuật hành động, phương thức hành động, mục đích thực hiện kỹ năng Tổng hợp các yếu tố nói trên

để hiểu được yêu cầu thực hiện KN

Giai đoạn 3: Vận dụng tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết để có thể tiến hành thao tác trong những tình huống cụ thể

Giai đoạn 4: Luyện tập để tiến hành thuần thục các thao tác, thực hiện thành thạo kỹ năng [25]

Trên quan điểm của các tác giả, chúng tôi đồng ý các tác giả là dù thực hiện bất kỳ kỹ năng nào cũng cần phải có kiến thức đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, môi trường văn hóa của cá nhân Trong phạm vi của luận án tôi xin

đề xuất qui trình hình thành kĩ năng giao tiếp cho nhân viên công tác xã hội với trẻ khuyết tật gồm 3 giai đoạn

Giai đoạn 1: Hiểu được mục đích thực hiện kĩ năng qua phân tích yêu cầu

thao tác, kỹ thuật hành động để thực hiện đúng mục đích đề ra; Giai đoạn 2: Vận

dụng tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết để luyện tập các hành động một cách thành

thạo; Giai đoạn 3: Thực hiện hiệu quả các thao tác của kỹ năng, vận dụng linh hoạt

và loại bỏ những thao tác thừa trong các tình huống giao tiếp cụ thể

2.1.2 Giao tiếp

2.1.2.1 Khái niệm giao tiếp

Quan điểm coi giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin:

Erving Goffman (1969) đã phân tích sự tương tác qua lập luận tất cả chúng

ta đều đang săn tìm thông tin của nhau; những thông tin ấy không bộc lộ sẵn, cho nên phải suy luận hàng loạt các dấu hiệu, như điệu bộ, cử chỉ trong giao tiếp [39] tác giả nhấn mạnh rằng, các chủ thể muốn có được thông tin mình cần thì phải

Trang 37

thông qua quá trình GT trực tiếp, đặc biệt thông tin bí mật không chỉ bộc lộ qua lời nói mà phải đoán biết qua khả năng nhận biết tinh tế từ giao tiếp phi ngôn ngữ

Tác giả J.Lishman (1998) cho rằng, GT là một thành tố rất cơ bản của hành

vi xã hội, là quá trình truyền tải thông tin hay những thông điệp giữa người gửi và người nhận sử dụng bất cứ giác quan nào trong 5 giác quan, trong đó ngôn ngữ là dạng truyền thông đặc biệt của con người [71] Quan điểm này nhấn mạnh sự khác biệt lớn nhất của con người là dùng ngôn ngữ làm phương tiện để mã hóa thông tin

Nguyễn Văn Hậu, Nguyễn Thị Thu Vân cũng khẳng định: Giao tiếp là một quá trình dựa trên sự trao đổi giữa hai hay nhiều người, sử dụng cử chỉ, từ ngữ…để

có thể hiểu được thông tin được chuyển từ người phát đến người nhận tin Qua đó các chủ thể tham gia giao tiếp hướng tới sự đồng thuận mà mình mong muốn [20]

Quan điểm coi giao tiếp là thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách:

V.P Dakharov đưa ra quan điểm: để có năng lực giao tiếp cá nhân trước hết cần phải có kỹ năng thiết lập mối quan hệ, trong GT muốn bắt đầu và phát triển mối

quan hệ cá nhân cần phải biết tạo ấn tượng tốt với người cùng giao tiếp [2]

A.A.Leonchiev (1971), cho rằng “giao tiếp là hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ” [2, tr168], như vậy giao tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động hoặc có thể là điều kiện, phương thức của hoạt động bao gồm đầy đủ các thành phần trong

sơ đồ cấu trúc của hoạt động chủ thể - hoạt động đối tượng

B.F.Lomov (2000), lại cho rằng “Hoạt động và giao tiếp đó là hai mặt của

sự tồn tại xã hội, của con người, của lối sống Hai mặt này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong một lối sống thống nhất Hơn nữa, giữa chúng luôn có sự chuyển hóa từ mặt này sang mặt kia” [29, tr382-383], theo B.F.Lomov giao tiếp không phải là một dạng của hoạt động mà là một phạm trù tương đối độc lập trong tâm lý học Phạm trù hoạt động phản ánh mối quan hệ chủ thể và khách thể, phạm trù giao tiếp thì biểu hiện sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể Giữa

Trang 38

chúng có sự chuyển biến cái này sang cái kia, có trường hợp giao tiếp là điều kiện của hoạt động, có trường hợp hoạt động là điều kiện của giao tiếp

Vũ Dũng (2003) cho rằng, “giao tiếp là sự tiếp xúc, quan hệ tương tác giữa người và người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm bằng các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ” [13, tr5] Tác giả khẳng định trong giao tiếp có sự trao đổi thông tin, tác động qua lại Tác giả cũng chỉ rõ công cụ để con người chia sẻ thông tin là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành cho rằng, “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau Nói cách khác GT xác lập và vận hành quan hệ người – người hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”[43, tr49] Các tác giả khẳng định GT là sự tiếp xúc tâm lý chỉ có ở con người GT là nhu cầu không thể thiếu của con người, ở đó họ cùng trao đổi thông tin, xúc cảm, tình cảm với nhau và có sự tác động, chi phối ảnh hưởng lẫn nhau GT là một dạng hoạt động có đối tượng

Tóm lại, nghiên cứu GT ở nhiều phương diện khác nhau mỗi quan điểm có những lập luận riêng cho từng đối tượng, hoàn cảnh riêng, việc phân chia các hướng nghiên cứu chỉ mang tính chất tương đối bởi xét bản chất thì không khác biệt mà nó thống nhất với nhau, là cơ sở để nghiên cứu giao tiếp ở nhiều lĩnh vực chuyên sâu

Từ các khái niệm của các tác giả cho thấy giao tiếp có một số đặc trưng sau:

 Giao tiếp là một hoạt động có mục đích của con người

 Giao tiếp nhằm trao đổi thông tin làm giàu về kiến thức, kinh nghiệm

và tình cảm cho các bên giao tiếp

 GT nhằm tạo ấn tượng, ảnh hưởng tác động qua lại giữa các chủ thể, giúp cho các chủ thể cùng thống nhất, cùng nhận thức về tình huống, hoàn cảnh GT

 GT nhằm tri giác lẫn nhau, tạo cảm xúc tích cực, nhận thức, hình thành mối quan hệ tin tưởng

Trang 39

Qua khái quát, chúng tôi đề xuất khái niệm giao tiếp như sau: Giao tiếp là

hoạt động có mục đích của con người, thông qua đó con người tạo ấn tượng với nhau, trao đổi thông tin, tác động qua lại với nhau về cảm xúc, hình thành mối quan hệ tin tưởng

2.1.2.2 Các thành tố của giao tiếp

- Người giao tiếp/ nguồn và thông điệp được gửi đi;

- Kênh giao tiếp: ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, viết, âm thanh, hình ảnh ;

- Người giao tiếp/nơi nhận và thông điệp tiếp nhận việc mã hóa thông điệp tùy thuộc vào cảm nhận, trình độ, nhân cách của người tiếp nhận;

- Phản hồi giúp quá trình tiếp xúc tâm lí giữa các chủ thể

- Nhiễu do tiếng ồn, do ngữ nghĩa, do sức khỏe ;

- Môi trường giao tiếp chính là bối cảnh, tình huống giao tiếp cần phù hợp với đối tượng giao tiếp

2.1.3 Trẻ khuyết tật

2.1.3.1 Khái niệm trẻ khuyết tật

Trong hệ thống phân loại Quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe (International Classification of Functioning – ICF) của WHO (2001) đã định nghĩa khuyết tật như sau: “Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa

cá nhân (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác” [106, tr 213]

Ở Việt Nam, theo Luật người khuyết tật (2010), “Người khuyết tật là người

bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [33]

2.1.3.2 Đặc điểm trẻ khuyết tật [92]

- Trẻ khuyết tật từ khi sinh (hoặc có một tật nào đó trong những năm đầu đời) đã học cách nhìn nhận cuộc sống từ quan điểm khuyết tật, điều đó giúp trẻ nhận thức về sự khác biệt của mình và chấp nhận sự khuyết tật dễ dàng hơn

Trang 40

- Trẻ dễ bị ảnh hưởng của môi trường (Gallagher, Beckman, Cross, 1983; Valentin, 1993) Ngay từ đầu, một vài phụ huynh đã chủ động che chở, bảo bọc, khiến đứa trẻ đánh mất cơ hội thực hiện các công việc, làm mất có hội phát triển thể chất và nhận thức trong độ tuổi của mình, các em không được học về những thất bại hay thành công trong việc kiểm soát môi trường của mình

- Trẻ khuyết tật có nguy cơ cao khi phải trải nghiệm môi trường của chúng theo một cách không được dễ chịu do các biện pháp can thiệp, hỗ trợ, bị tách khỏi

bố mẹ trong quá trình điều trị sẽ làm cho trẻ sợ hãi, hoảng loạn

- TKT nhạy cảm hơn nhiều so với những đứa trẻ không có khuyết tật nếu bị đối xử tệ và bị hành hạ (Garbarino, Brookhouser và Authier, 1987)

- Sự phát triển ngôn ngữ của TKT có sự khác biệt, nhưng nếu có sự trợ giúp, trẻ có thể đạt được những kỹ năng sử dụng ngôn ngữ để trẻ tự điều chỉnh, kiểm soát cuộc sống cho phù hợp

- Trẻ khuyết tật cũng có sự biến đổi về thể chất, cảm xúc và xã hội khi bước vào tuổi dậy thì, (Brooks – Gunn và Reiter, 1990; Tanner, 1978/1990)

- Khi tương tác buộc trẻ phải học cách đương đầu với việc “Mình khác biệt”, tự hình thành quan điểm riêng về cái đẹp thể chất, hình ảnh cơ thể, các em so sánh mình với các bạn khác và với trẻ không khuyết tật ví dụ như trẻ dùng xe lăn thường mường tượng bản thân chúng là những người chạy tuyệt vời,

2.1.3.3 Phân loại trẻ khuyết tật

Việc phân loại khuyết tật ở Việt Nam đã được cụ thể hóa trong luật người khuyết tật năm 2010 [33]

(1) Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động

đầu, cổ, chân, tay, mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển

(2) Khuyết tật nghe, nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói

hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói

(3) Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận

ánh sáng, màu sắc, hình ảnh trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường

Ngày đăng: 06/04/2018, 11:57

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w