Thành phần loài và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn tại huyện Yên Dũng.... Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại các địa điểm qua mổ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn được thực hiện theo đề tài luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Hương Giang là trung thực và chưa hề công bố dưới bất kỳ hình thức nào Mọi thông tin, trong tài liệu trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ khoa Nông nghiệp của mình
Em xin trân trọng cảm ơn:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa chăn nuôi Thú ý - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Chi cục Thú y tỉnh Bắc Giang, Khoa chăn nuôi thú y – Trường Đại Học Nông Lâm Bắc Giang đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Với lòng kính trọng và biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã chỉ bảo tôi hết sức tận tình, trách nhiệm và hết lòng vì khoa học trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn giảng viên Trần Đức Hoàn, Nguyễn Thị Hương Giang - Khoa chăn nuôi thú y – Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang đã giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ trạm Khuyến nông huyện Yên Dũng; cảm ơn các đồng nghiệp cán bộ Khuyến nông, Thú y cơ sở, các trang trại và
hộ chăn nuôi thuộc 5 xã, thị trấn: Nội Hoàng, Yên Lư, Tiến Dũng, Xuân Phú và thị trấn Tân Dân đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt biết ơn gia
đình đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thắng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Đặc điểm sinh học của một số loài giun tròn đường tiêu hóa của lợn 4 1.1.2 Vòng đời của một số loài giun tròn kỷ sinh ở đường tiêu hoá lợn 10
1.1.3 Sức đề kháng của giun tròn 13
1.1.4 Những hiểu biết về bệnh giun lươn 15
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 20
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.2 Vật liệu nghiên cứu 24
Trang 62.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Yên Dũng 25
2.3.2 Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn gây nhiễm 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang 26
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn 29
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Yên Dũng 35
3.1.1 Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán cho lợn tại Yên Dũng 35 3.1.2 Thành phần loài và tình hình nhiễm các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn 37
3.2 Tình hình nhiễm giun lươn Strongyloides ransomi ở lợn 46
3.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn 46
3.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo giống lợn 50
3.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo phương thức chăn nuôi lợn 53
3.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo mùa trong năm 55
3.2.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tình trạng vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn 58
3.2.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn phân bình thường và tiêu chảy 62
3.3 Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh giun lươn trên lợn gây nhiễm 64 3.3.1 Kết quả gây nhiễm giun lươn cho lợn 64
3.3.2 Nghiên cứu diễn biến lâm sàng của lợn gây nhiễm giun lươn thực nghiệm 65
3.3.3 Bệnh tích do giun lươn gây ra trên lợn gây nhiễm 69
Trang 73.3.4 Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của lợn mắc bệnh giun lươn do
gây nhiễm 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76
1 Kết luận 76
2 Đề nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán cho lợn 35
Bảng 3.2 Thành phần loài và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn tại huyện Yên Dũng 38
Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại các địa điểm qua mổ khám 39
Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn ở một số xã, thị trấn thuộc huyện Yên Dũng 42
Bảng 3.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm các loài giun tròn đường tiêu hóa ở lợn 44
Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn 46
Bảng 3.7 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo giống lợn 50
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn theo phương thức chăn nuôi 53
Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn theo mùa trong năm 56
Bảng 3.10 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tình trạng vệ sinh thú y 59
Bảng 3.11 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn phân bình thường và tiêu chảy 62
Bảng 3.12 Kết quả gây nhiễm giun lươn cho lợn 65
Bảng 3.13 Diễn biến lâm sàng của lợn sau gây nhiễm giun lươn 66
Bảng 3.14 Bệnh tích của lợn mắc bệnh giun lươn do gây nhiễm 69
Bảng 3.15 Sự thay đổi một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của lợn nhiễm giun lươn 72
Bảng 3.16 Sự thay đổi số lượng và công thức bạch cầu của lợn nhiễm giun lươn gây nhiễm 73
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Giun đũa ký sinh ở lợn 7
Hình 1.2 Giun lươn Strongyloides ransomi ký sinh ở lợn 8
Hình 1.3 Sơ đồ vòng đời giun lươn ở lợn 11
Hình 3.1 Biểu đồ thực trạng phòng chống bệnh giun, sán cho lợn tại Yên Dũng 35
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa qua mổ khám 40
Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại các xã, thị trấn của huyện Yên Dũng 42
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm các loài giun tròn qua xét nghiệm phân 45
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn theo lứa tuổi ở lợn 47
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn theo giống lợn 51
Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn theo phương thức chăn nuôi 55
Hình 3.8 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn theo mùa trong năm 56
Hình 3.9 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 62
Hình 3.10 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn bình thường và lợn tiêu chảy 63
Hình 3.11 Biểu đồ cường độ nhiễm giun lươn ở lợn bình thường và lợn tiêu chảy 63
Hình 3.12 Biểu đồ Khối lượng của lợn trước và sau 30 ngày thí nghiệm 67
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi lợn nói riêng tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã có những bước phát triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng, đã trở thành một trong những huyện có số lượng đầu lợn đứng đầu cả tỉnh
Theo thống kê tháng 4/2017 của Chi cục Thống kê huyện Yên Dũng, số lượng đầu lợn hàng năm tăng lên rõ rệt: năm 2011 toàn huyện có 69.422 con, năm 2013 là 72.713 con, đến 2014 số lượng đầu lợn là 73.643 con, năm 2015
là 77.158 con, đến cuối năm 2016 tổng đàn lợn toàn huyện lên đến 82.313 con Cùng với việc tăng nhanh số đầu lợn, người chăn nuôi lợn đã từng bước ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất chăn nuôi từ đó góp phần nâng cao năng suất cũng như hiệu quả kinh tế rõ rệt
Bên cạnh, những thành tựu đã đạt được, tình hình phát triển chăn nuôi lợn tại huyện cũng gặp không ít khó khăn, trong đó dịch bệnh vẫn là yếu tố gây tổn thất rất lớn Ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp ở lợn như: bệnh dịch tả, bệnh tụ huyết trùng, bệnh phó thương hàn còn phải kể đến các bệnh do các loài ký sinh trùng gây ra như các loài giun tròn đường tiêu hóa, trong đó đặc biệt là bệnh giun lươn
Bệnh do ký sinh trùng là một loại bệnh phổ biến và gây nhiều thiệt hại cho ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng Nước ta là nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, có khu hệ ký sinh trùng động vật phong phú và đa dạng, là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại bệnh ký sinh trùng phát triển, gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi, đặc biệt là trong chăn nuôi lợn Ngoài ra, một số bệnh ký sinh trùng ở lợn còn lây sang người, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và làm ô nhiễm môi trường sinh thái
Trang 12Ở nước ta, trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn và tác hại do chúng gây ra Trong các bệnh ký sinh trùng ở lợn, các loài giun tròn đường tiêu
hóa, đặc biệt là giun lươn (Strongyloides ransomi) gây tác hại đáng kể cho
chăn nuôi lợn, bệnh có thể làm chết tới 75% số lợn ốm (Phạm Sỹ Lăng và cs,
2006 [15], bệnh giun lươn chủ yếu xảy ra ở lợn con từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi với tỷ lệ nhiễm khá cao Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Kim (2001) [8], tỷ lệ nhiễm giun lươn ở lợn con theo mẹ khoảng 48,57%) Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12], lợn con sau đẻ 3 - 4 tuần nhiễm rất nặng, chết tới 50% trong số con nhiễm Lợn bệnh thường gầy còm có nhiều mụn trên da, ỉa chảy, phân lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng viêm phổi
La Văn Công (2014) [2] đã xác định được lợn nuôi tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên nhiễm 5 loài giun tròn đường tiêu hóa, trong đó có giun lươn
Các công trình của các tác giả trên đã tập trung nghiên cứu về tác hại do các loài giun gây ra trên lợn, đặc biệt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh lý tiêu hóa hấp thu dinh dưỡng bình thường ở lợn Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại vẫn chưa
có công trình nào nghiên cứu sâu và đầy đủ về bệnh giun tròn đường tiêu hóa, đặc biệt là bệnh giun lươn trên địa bàn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nên công tác phòng và điều trị bệnh chưa đạt hiệu quả cao
Từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe
vật nuôi, ổn định năng suất chăn nuôi lợn, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa, đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun lươn ở lợn tại huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang"
2 Mục tiêu của đề tài
Xác định được tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn nói chung và nhiễm giun lươn nói riêng tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Trang 13Xác định được những đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun lươn
Strongyloides ransomi gây ra ở lợn
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn, những đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và lâm sàng bệnh do giun lươn gây ra tại huyện Yên Dũng Là cơ sở khoa học cho việc xây dựng
quy trình phòng trị bệnh giun lươn cho lợn đạt hiệu quả cao
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi lợn áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh giun tròn nói chung và đặc biệt là bệnh giun lươn nói riêng, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn, hạn chế thiệt hại do giun lươn gây ra, góp phần đảm bảo năng suất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Đặc điểm sinh học của một số loài giun tròn đường tiêu hóa của lợn
1.1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn trong hệ thống phân loại động vật
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [14] cho biết: Ở lợn, cho đến nay đã phát hiện được 52 loài ký sinh trùng gồm giun tròn, sán dây, sán lá, đơn bào, côn trùng ký sinh Trong đó, có một số loài ký sinh trùng phổ biến mà lợn nhiễm
với tỷ lệ và cường độ cao như bệnh giun đũa lợn do Ascaris suum, bệnh sán lá ruột lợn do Fasciolopsis buski, Những bệnh này đã gây ra các tổn thương và
viêm nhiễm kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn, đặc biệt là tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợn không bị bệnh
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] cho biết: Lớp giun tròn thuộc ngành
giun tròn Nemathelminthes bao gồm rất nhiều loài sống ở các điều kiện sinh
thái khác nhau và phân bố rộng trên toàn cầu Phần lớn giun tròn sống tự do, chỉ một số ít sống ký sinh ở động vật và thực vật Trong khu hệ giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam đã thống kê được 90 loài giun tròn
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10] cho biết: cho đến thời điểm
hiện tại đã biết hơn 5.000 loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có
hơn 1.000 loài giun sống tự do, hơn 3.000 loài giun sống ký sinh Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều tới thú y gồm 8 bộ phụ:
+ Bộ phụ giun đũa (Ascaridata)
+ Bộ phụ giun kim (Oxyurata)
+ Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata)
+ Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata)
+ Bộ phụ giun xoắn (Stronggylata)
+ Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata)
+ Bộ phụ giun chỉ (Filariata)
+ Bộ phụ Dioctophymata
Trang 15Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], hệ thống phân loại của một số loài giun tròn ở đường tiêu hoá lợn được sắp xếp theo vị trí như sau:
Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi,
1808
Phân lớp Enoplia Chit wood, 1993
Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skjabin et Schulz, 1928
Họ Trichocephalidea Bard, 1953
Phân họ Trichocepphalus Ransomi, 1911 Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocepphalus suis Schrank, 1788
Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925
Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum dentatum, (Rudolphi, 1803) Loài Oesophagostomum brevicaudatum
Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosch, 1934 Giống Strongyloides Grassi, 1879
Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856) Loài Strongyloides ransomi (Schwartz et Alicata, 1930)
Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ Ascaris Linacus, 1758 Giống Ascaris Linnaeus, 1758 Loài Acaris suum Goeze, 1782
Trang 16Chu Thị Thơm và cs (2006) [27], Phan Lục và cs (2006) [19] cho biết:
giun tròn thuộc lớp Nematoda có hơn 3.000 loài sống ký sinh, giun tròn ký
sinh ở súc vật nuôi thuộc các bộ phụ sau:
1.1.1.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn
Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15] cho biết, thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn gồm:
3 Gnathostoma dororesi Tubangui,1925
Gnathostoma hispidum Fedtschenko, 1872 Dạ dày
5 Strongyloides ransomi Schwartz et Alicata, 1930 Ruột non
6 Pseudocruzia orientalis, Maplestoue, 1930 Ruột già, manh tràng
7 Globocephalus longgemucronatus Molin, 1861 Ruột non
8 Raillietostrongylus samoensis Lane, 1922 Ruột non
9 Oesophagostomum dentatum (Rudolphi, 1803)
Oesophagostomum brevicaudatum (Shwarts et Alicata, 1930)
Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925)
Ruột già
10 Baurgelatia diducta Railliet, Henry et Bauche, 1919 Ruột
Trang 171.1.1.3 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của một số giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn
Giun tròn đường tiêu hóa của lợn đều mang những đặc điểm chung của
lớp giun tròn Nematoda, ngành Nemathelminthes Song, mỗi loài giun tròn
đều có những đặc điểm đặc trưng riêng cho từng loài Căn cứ vào những đặc điểm đó khi mổ khám ta có thể phân biệt sơ bộ các loài với nhau
* Giun đũa lợn (Ascaris suum)
Trịnh Văn Thịnh (1977) [27], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15]: Giun
đũa lợn thuộc họ Ascaridae, loài Ascaris suum ký sinh ở ruột non lợn: Giun
màu trắng sữa Hình ống, hai đầu hơi nhọn Đầu có 3 môi bao quanh miệng
Trên rìa môi có 1 hàng răng cưa rất rõ Giun đực dài 12 - 22 cm, đường kính
2,7 - 3 mm Giun cái dài 29 - 35 cm, đường kính 4 - 5 mm Giun đực đuôi cong về phía bụng, giun cái đuôi thẳng Giun đực có hai gai giao hợp dài bằng nhau (1,2-2 mm), không có túi đuôi
Trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước từ 0,056 - 0,087 mm
x 0,046 - 0,067 mm, vỏ dày gồm 4 lớp vỏ, lớp ngoài cùng là protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng Vỏ trứng giun có tác dụng phòng vệ cao trong vòng đời phát triển của giun
1 Môi giun đũa lợn 2 Đuôi giun đũa lợn 3 Trứng Ascaris suum
Hình 1.1 Giun đũa ký sinh ở lợn
Trang 18Nghiên cứu về cấu tạo kích thước của loài giun này, Trương Quốc Dũng (2011) [3] cho biết: Con đực: dài 100 - 220 mm, rộng 2,7 - 3,0 mm Đuôi thường cong về phía bụng Hai gai sinh dục dài bằng nhau Con cái: dài
290 - 300 mm, rộng 4 - 5 mm Có 2 buồng trứng, 2 ống dẫn trứng mảnh, tử cung là một ống hẹp Âm đạo ngắn, mở ra ở lỗ sinh dục cái nằm ở mặt bụng
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12]: Trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước từ 0,056 - 0,087 mm x 0,046 - 0,067 mm, vỏ dày gồm 4
lớp vỏ, lớp ngoài cùng là protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng
* Giun lươn (Strongyloides ransomi)
1 2
a b
Hình 1.2 Giun lươn Strongyloides ransomi ký sinh ở lợn
(Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs 1996, Nguyễn Thị Lê và cs 1996)
a 1: Giun cái sống ký sinh; 2: Giun đực; 3: ấu trùng gây nhiễm
b 1: Phần đầu cơ thể; 2: Đuôi cá thể đực
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [14] cho biết: tác nhân gây bệnh giun
lươn ở Việt Nam là hai loài giun lươn Strongyloides ransomi, Strongyloides
papillosus thuộc giống Strongyloides ký sinh ở ruột non của lợn
Trang 19Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] mô tả loài Strongyloides ransomi như sau:
Loài Strongyloides ransomi (Schwartf et Alicata, 1930): Ký sinh ở ruột non
lợn Giun đực có hình sợi, dài 0,087 - 0,90 mm, lỗ huyệt cách nút đuôi 0,070 mm
Con cái: Cơ thể dài 2,1 - 4,2 mm, rộng nhất 0,04 - 0,08 mm Lỗ miệng
có 4 môi với các núm cutin Thực quản dài 0,58 - 0,94 mm Lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể; có 2 buồng trứng Đuôi ngắn, thẳng, hình nón Trứng hình ô van, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm, trong trứng có ấu trùng
Con đực: Cơ thể hình sợi dài 0,87 - 0,9 mm lỗ huyệt cách mút đuôi
0,07 mm Đuôi nhọn, cách mút đuôi 0,037 mm có 3 cặp núm
Loài Strongyloides papillosus:
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011)
[15] loài Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau:
- Con đực chưa được mô tả
- Con cái: Cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng nhất 0,042 - 0,078 mm Lỗ miệng có 4 môi Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm Lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3mm Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau
Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 -
0,036 mm, trong trứng có ấu trùng
* Giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum)
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [14] cho biết: Các loài thuộc giống
Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là: túi miệng hình ống rất
nhỏ, quanh miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn
Trang 20Trương Quốc Dũng (2011) [3] cho biết: loài Oesophagostomum
dentatum là loài giun tròn nhỏ, nang miệng hình trụ, dài 0,017 - 0,023 mm,
rộng 0,024 - 0,037 mm Vành tia ngoài có 10 tia, vành tia trong kém phát triển Thực quản không có phần mở rộng phía trước Hai núm bên phân bố đối xứng nhau
Con đực: cơ thể dài 6,2 - 6,8 mm, rộng 0,31 - 0,049 mm
Con cái: cơ thể dài 7,4 - 11,5 mm, rộng nhất 0,31 - 0,45 mm Trứng kích thước 0,05 - 0,08 x 0,03 - 0,04 mm
* Giun tóc (Trichocephalus suis)
Đối với đặc điểm hình thái của giun tóc Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12] cho biết: giun có màu trắng đục, giống một sợi tóc, cơ thể chia làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, thực quản có các tế bào xếp thành chuỗi hạt, có chiều dài bằng 2/3 cơ thể, phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm, rộng 0,634 - 0,713 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại Chỉ có gai giao hợp dài 5 - 7
mm, lỗ huyệt thông ra ngoài ở phần cuối của giun Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, hậu môn ở vào phần cuối của thân
Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, có 2 núm ở 2 đầu, có kích thước 0,052 - 0,061 mm x 0,027 - 0,03 mm
1.1.2 Vòng đời của một số loài giun tròn kỷ sinh ở đường tiêu hoá lợn
Trong đường tiêu hóa của lợn có nhiều loài giun tròn ký sinh Mỗi loài khác nhau có cách hoàn thành vòng đời khác nhau, song đa số là những giun thuộc nhóm phát triển không cần ký chủ trung gian tham gia, chỉ có một số ít giun tròn thuộc nhóm phát triển cần ký chủ trung gian
* Vòng đời phát triển của giun đũa lợn
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12] cho biết: vòng đời của giun đũa lợn thuộc kiểu vòng đời không cần ký chủ trung gian Giun cái đẻ mỗi ngày khoảng 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng
Trang 21Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 24°C và
độ ẩm thích hợp, sau 2 tuần trong trứng hình thành ấu trùng, sau 1 tuần nữa thì ấu trùng lột xác Lúc đó trứng đã trở thành trứng có sức gây bệnh Thời gian hoàn thành vòng đời cần 54 - 62 ngày
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15] giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân Tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 - 10 tháng Nhưng nếu điều kiện sống bất lợi như ký chủ bị sốt cao thì tuổi thọ giun ngắn hơn
Ngoài ra, Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2003) [19] cho biết: giun đất
và nhặng xanh là ký chủ dự trữ của ấu trùng kỳ III Khi lợn ăn phải những động vật này ấu trùng giai đoạn 3 xâm nhập vào lợn và phát triển thành giun trưởng thành
* Vòng đời phát triển của giun lươn
Hình 1.3 Sơ đồ vòng đời giun lươn ở lợn
Trứng
Giun lươn
ký sinh ♀
Ấu trùng giun lươn
Ấu trùng (giai đoạn 1)
♀ x ♂
Ấu trùng gây nhiễm (giai đoạn 3)
Ấu trùng (Giai đoạn 1)
Trứng
Trứng
Trang 22Cũng như giun đũa, giun lươn hoàn thành vòng đời không cần ký chủ
trung gian Theo Souby E.J.L (1982) [46]: trứng Strongyloides ransomi được
bài xuất ra bên ngoài cùng phân của lợn nhiễm bệnh, ở nhiệt độ 20 - 30oC sau
5 - 6 giờ trứng nở ra ấu trùng Sau 2 - 3 ngày, ở nhiệt độ 25 - 30oC ấu trùng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12] cho biết: Giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong Trứng ra ngoài
sẽ phát triển theo hai hướng: trực tiếp và hướng gián tiếp Ấu trùng có sức gây bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn bằng 2 con đường:
+ Qua da: Ấu trùng chui qua da vào tổ chức liên kết, tới cơ, theo máu
và dịch lâm ba về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày phát triển thành giun lươn trưởng thành ký sinh
+ Qua đường tiêu hóa: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường tiêu hóa thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, rồi về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non
Mặt khác, Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15] cho biết: chu trình phát triển của giun lươn rất đặc biệt, ngoài phát triển trực tiếp và gián tiếp chúng còn tự nhiễm, nhiễm qua sữa mẹ hoặc qua nhau thai
Lora R Ballweber (2015) [40] cũng cho rằng: ngoài đường tiêu hóa và
da, ấu trùng giun lươn còn lây nhiễm qua bào thai, qua sữa đầu, do đó lây nhiễm cho lợn con trong vòng 24 giờ sau khi sinh
* Vòng đời phát triển của giun kết hạt
Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12] cho biết: Vòng đời phát triển của giun kết hạt thuộc kiểu vòng đời không cần ký chủ trung gian Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp 25 - 27°C, sau 1 0 - 1 7 giờ nở thành ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 - 8 ngày phát
Trang 23triển thành ấu trùng gây nhiễm Ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới ruột, ấu trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén Trong u kén, ấu trùng lột xác lần thứ 3, tới ngày thứ 6 - 8 thì thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa thành giun trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời tùy từng loài giun
* Vòng đời phát triển của giun tóc
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [10] cho biết, vòng đời phát triển của giun tóc diễn ra như sau:
Giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá của ký chủ,
ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành
Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tuỳ loài giun tóc nhưng đối
với Trichocephalus suis cần 30 ngày
Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15] cho biết, điều kiện nhiệt độ 18 - 300C,
ẩm độ 80 - 85% là môi trường thuận lợi cho trứng giun phát triển thành trứng
có sức gây bệnh sau 15 - 28 ngày Tác giả này còn cho biết, con đường lây nhiễm chủ yếu qua đường tiêu hóa
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12] thời gian hoàn thành vòng đời
trong cơ thể tuỳ loài giun tóc, đối với Trichocephalus suis cần 30 ngày
Đào Trọng Đạt và cs (1995) [5], Ames (2005) [35], Taylor M A và cs
(2013) [47] cho biết: tuổi thọ của giun Trichocephalus suis ở lợn là 4 - 5 tháng 1.1.3 Sức đề kháng của giun tròn
- Đối với sức đề kháng của trứng giun đũa: Phạm Văn Khuê và cs
(1996) [6], Nguyễn Phước Tương (1994) [29] cho biết: Ở vùng khô lạnh trứng giun đũa có thể sống trên 6 năm
Trang 24Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12] cho biết: trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1 - 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hoá học
- Sức đề kháng của giun lươn:
Theo Johanes Kaufmann (1996) [38], dưới tác động của ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, ấu trùng giun lươn bị diệt sau 8 - 9 giờ Ở trong nước hoặc trong môi trường có độ ẩm cao, ấu trùng có thể sống trên 3 tháng Trong điều kiện ẩm độ thấp, khô ráo thì sau 6 - 7 giờ ấu trùng bị chết
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] cho biết: trứng giun lươn bị diệt nhanh trong hố ủ phân nhiệt sinh học
Nguyễn Trọng Kim (2001) [8] cho rằng: trứng giun lươn có thể sống ở nơi đất ẩm 2 tháng
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [14] cho biết: trứng giun lươn có khả năng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ 20 - 30oC Nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển Ở trên 50oC và - 9oC trứng bị chết Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi
ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn
Nghiên cứu về khả năng tồn tại của trứng giun tóc ngoài môi trường chăn nuôi, Sengupta M E và cs (2011) [47], Liu G H và cs (2012) [41] cho
biết: trứng Trichocephalus suis vẫn có thể phát triển trong nước thải chăn
nuôi chưa được xử lý tốt trong nhiều năm Nếu nước thải này được sử dụng
tưới cho cây trồng sẽ là điều kiện tốt để trứng giun Trichocephalus suis phát
tán ra ngoại cảnh, nguy cơ lây nhiễm cho lợn và con người là rất cao
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15], ấu trùng Oesophagostomum
dentatum có sức đề kháng tốt với nhiệt độ, ở 19oC - 29oC qua 10 ngày vẫn sống, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm Ấu trùng rất nhạy cảm với điều kiện khô ráo Ở nhiệt độ 35oC trứng bị chết
Trang 251.1.4 Những hiểu biết về bệnh giun lươn
1.1.4.1 Những thiệt hại do bệnh giun lươn gây ra
Bệnh giun lươn là một bệnh ký sinh trùng phổ biến ở lợn, bệnh xảy ra ở khắp nơi trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh đã được phát hiện ở các tỉnh phía Bắc, các tỉnh miền Trung và miền Nam (Bùi Lập, 1966 [17]; Nguyễn Hữu Bình, 1996 [1]; Phan Thế Việt 1977 [30])
Đã có rất nhiều tài liệu công bố về tác hại do giun lươn gây ra ở lợn Dwight và Bowman D (1995) [37] cho biết: bệnh giun lươn ở lợn là bệnh gây viêm đường ruột với các triệu chứng là ỉa chảy ra máu, làm cơ thể gầy yếu, kém ăn, thiếu máu, còi cọc, chậm lớn, có thể dẫn đến chết Đứng trên quan điểm về kinh tế thì điều này có thể làm kinh tế giảm sút và làm chậm sự phát triển của những con còn sống sót
Chu Thị Thơm và cs (2006) [27] cho rằng: khi bị nhiễm giun S
ransomi tốc độ sinh trưởng của lợn con có thể giảm tới 30 - 35%
Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15] cho biết: lợn con nhiễm giun lươn thường giảm tăng trọng, còi cọc, lợn thường chết Tỷ lệ chết của lợn bệnh rất cao, có thể tới 75% số lợn ốm
1.1.4.2 Dịch tễ học bệnh giun lươn
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh giun lươn là nghiên cứu những yếu tố liên quan đến sự phát triển của bệnh Đặc điểm dịch tễ rất quan trọng, bởi đây chính là cơ sở khoa học cho việc chẩn đoán, phòng bệnh đạt hiệu quả cao
- Loài mắc bệnh: Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18] cho biết, tất cả các giống lợn nhà và lợn rừng đều có có thể bị mắc bệnh
Tuổi mắc bệnh: đã có rất nhiều tài liệu đề cập đến sự biến động về tỷ lệ
nhiễm bệnh theo lứa tuổi của lợn
Theo Drozdz (1971) [32], những lợn con được bú sữa đầu của lợn nái
đến ngày thứ tư sau khi đẻ đã thấy trong phân có trứng Strongyloides
Trang 26ransomi, khi mổ khám thấy có những giun trưởng thành, trong khi phân của
lợn nái không có trứng hoặc ấu trùng
Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [15] cho biết: Bệnh giun lươn do
Strongyloides ransomi chỉ thấy ở lợn con dưới 01 tháng tuổi Lợn con có thể
nhiễm ấu trùng giun ngay từ 4 ngày tuổi qua sữa đầu
Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12], bệnh giun lươn thấy nhiều ở súc vật non, súc vật lớn có nhiễm ấu trùng gây nhiễm nhưng khó phát triển thành giun trưởng thành Gia súc già yếu cũng có thể mắc bệnh
Lora R Ballweber (2015) [40] cho biết: bệnh giun lươn là một bệnh ký sinh trùng khá phổ biến của lợn, đặc biệt là lợn con theo mẹ Đồng thời tác giả cũng cho biết lợn ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới mắc bệnh nhiều
1.1.4.3 Cơ chế sinh bệnh
Lợn mắc bệnh, sau một thời gian thì bài xuất trứng (trong trứng đã có
ấu trùng) qua phân ra ngoài ngoại cảnh Chính vì vậy trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo thành các ấu trùng có sức gây bệnh
Đường xâm nhập vào cơ thể:
Ấu trùng giun lươn xâm nhập vào cơ thể ký chủ chủ yếu bằng 2 con đường: qua da và qua con đường tiêu hóa, Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12]
Lora R Ballweber (2015) [40] cho biết: ấu trùng giun lươn có thể lây nhiễm qua bào thai, hoặc qua bú sữa đầu
Vị trí gây bệnh: Đa số tác giả đều cho rằng: giun lươn ký sinh và gây
bệnh ở ruột non ký chủ
Tuy nhiên, Lora R Ballweber (2015) [40] cho biết: giun trưởng thành chui sâu vào trong niêm mạc ruột non để ký sinh, tìm thấy giun lươn ở các khe giữa các nhung mao của tế bào biểu mô ruột non
Về tác động của giun lươn đối với cơ thể ký chủ: cũng giống như các
ký sinh trùng khác, giun lươn gây bệnh cho cơ thể ký chủ theo các cơ chế sau:
Trang 27- Tác hại cơ giới: ấu trùng chui qua da, qua mạch máu phổi, các phế nang, làm tổn thương tổ chức các cơ quan, gây viêm phổi Giun trưởng thành sống trong niêm mạc ruột non gây viêm ruột, rối loạn tiêu hoá
- Tác hại mang trùng: ấu trùng có thể mang vi khuẩn Salmonella và E
coli từ bên ngoài, qua da ký chủ vào cơ thể ký chủ, gây bệnh ghép với bệnh
1.1.4.4 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun lươn
* Triệu chứng:
Johanes Kaufmaun (1996) [38] cho biết: Những lợn nhiễm nhẹ thì không có triệu chứng lâm sàng, những con bị nhiễm nặng có triệu chứng ỉa ra máu, thiếu máu, gầy yếu và đặc biệt là lợn con có thể chết đột ngột Trong thời gian ấu trùng di hành con vật có triệu chứng ho, khó thở ảnh hưởng đến
cơ làm cho con vật mệt mỏi, vận động khó khăn, nặng có thể bị viêm cơ, cơ bị đau nhức, bụng đau và có hiện tượng nôn mửa
* Bệnh tích:
Theo Đỗ Dương Thái và cs (1978) [24], khi mổ khám những con vật gây bệnh nhân tạo, thấy những điểm tụ huyết ở tổ chức dưới da, ở cơ, ở phổi cũng có nhiều điểm hoặc từng đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày ruột, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6] cho rằng: khi lợn bị nhiễm giun lươn với cường độ rất nặng có những bệnh tích như viêm cấp tính niêm mạc ruột, trên đó
có những tổn thương nghiêm trọng, có nhiều điểm trắng, có những chỗ chảy máu, hạch lâm ba sưng
Trang 28Khi mổ khám lợn bị bệnh, Johanes Kaufmann (1996) [38] cho biết: ngoài các bệnh tích ở đường ruột, còn thấy bao tim và xoang ngực tích nước màu vàng, gan màu vàng nhạt, có nhiều điểm trắng trên bề mặt gan
1.1.4.5 Chẩn đoán bệnh giun lươn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [12] có thể dùng các phương pháp sau để chẩn đoán bệnh giun lươn
Huỳnh Hồng Quang (2015) [21] cho biết: có thể dùng các phương pháp mới trong chẩn đoán bệnh giun lươn như: kỹ thuật Bearmann cải tiến (modified Baermann's technique), cấy phân trên đĩa thạch máu, chẩn đoán miễn dịch hấp phụ men (enzyme - linked immunosorbent assay - ELISA), test phát hiện kháng thể huỳnh quang gián tiếp trên huyết thanh (serum indirect fluorescent antibody test - IFAT), chẩn đoán sinh học phân tử như phản ứng chuỗi trùng hợp (polymerase chain reaction - PCR)
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Khí hậu miền Bắc Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều Đây là điều kiện rất tốt để ký sinh trùng nói chung, giun sán nói riêng phát triển và gây bệnh cho vật nuôi Vì vậy, đã có rất nhiều tác giả trong nước nghiên cứu về tình hình nhiễm giun tròn ở lợn và tác hại do chúng gây ra
Trang 29Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1981) [7] khi nghiên cứu giun, sán trên
854 lợn nuôi ở các tỉnh Nam Bộ cho biết: lợn nuôi ở các tỉnh phía Nam nước
ta bị nhiễm 16 loài giun, sán Những giun tròn thường ký sinh ở đường tiêu
hoá của lợn là: O dentatum, O bervicaudatum, T suis, Ascarops
sprongylina, Physocephalus sexlatus, G hispidum
Phạm Sỹ Lăng và cs (2004) [13] khi điều tra trên lợn ở các tỉnh Trung
bộ cho biết: tỷ lệ nhiễm giun kết hạt là 32%; giun lươn là 49,8%; giun tóc nhiễm ở lợn < 3 tháng tuổi là 15%, tăng cao ở lợn từ 3 - 4 tháng tuổi (67,1%) sau đó giảm dần theo tuổi
Nghiên cứu biến động tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn theo lứa tuổi của lợn, Nguyễn Thu Trang (2010) [28] cho biết: lợn dưới 2 tháng tuổi nhiễm giun lươn cao nhất (39,45%), lợn trên 2 đến 4 tháng tuổi nhiễm giun đũa và giun tóc cao hơn các loài giun khác với tỷ lệ nhiễm tương ứng là 31,24% và 15,24%, riêng giun kết hạt lợn nhiễm cao nhất ở lứa tuổi trên 6 tháng tuổi (37,58%)
La Văn Công và cs (2014) [2] đã nghiên cứu biến động nhiễm giun tròn theo lứa tuổi của lợn và cho biết: Lợn dưới hai tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm giun lươn cao nhất (58,00%), thấp nhất ở lợn trên 6 tháng tuổi (33,75%)
Điều kiện vệ sinh thú y không những liên quan mật thiết đến sự tồn lưu của mầm bệnh ngoài môi trường chăn nuôi mà còn quyết định tỷ lệ lợn mắc bệnh
Theo Nguyễn Trọng Kim và cs (2001) [8], những cơ sở chăn nuôi có điều kiện chăm sóc tốt, vệ sinh chuồng trại nghiêm ngặt thì tỷ lệ nhiễm giun lươn thấp Ngược lại, ở những cơ sở chăn nuôi không đảm bảo thì tỷ lệ nhiễm giun lươn là khá cao (30 - 65%)
Đoàn Thị Phương (2010) [20] khi nghiên cứu triệu chứng bệnh giun lươn trên lợn gây bệnh thực nghiệm đã cho biết: 83,33% số lợn gây nhiễm đều có triệu chứng lâm sàng Các triệu chứng lâm sàng chủ yếu như: kém ăn,
Trang 30vận động yếu, thể trạng gầy rõ rệt, phân sệt hoặc nát, niêm mạc nhợt nhạt Có 60% số lợn gây nhiễm có triệu chứng lâm sàng trên Các triệu chứng khác như: ho, tiêu chảy nhiều ngày, có nhiều mụn trên da chiếm tỷ lệ 40% Lora R Ballweber (2015) [40] cũng có kết luận tương tự
Đoàn Thị Phương (2010) [20] còn cho biết về tỷ lệ nhiễm giun lươn theo tình trạng vệ sinh thú y: lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh kém có tỷ lệ nhiễm là cao nhất (65,74%), lợn nuôi trong điều kiện vệ sinh tốt có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (32,95%)
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa lợn cũng được rất nhiều tác giả nước ngoài tập trung nghiên cứu
Theo Sersov A A (1970) [48], Souby L J E (1976) [46], Abuladze (1990) [34], Johannes Kaufmann (1996) [38]: lợn bị nhiễm nhiều loài giun tròn Những giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá của lợn phổ biến trên thế giới là: Ascaris suum, Oesophagostomum dentatum, Oesophagostomum bervicaudatatum, Trichocephalus suis, Bourgelatia diducta, Ascarops Stronglina, Physocephalus sexalatus, Gnathostoma hisidum, Strongyloides ransomi,
Roesel và cs (2016) [45] nghiên cứu nhiễm giun tròn trên đường tiêu hóa của lợn tại 3 huyện của Uganda, tác giả cho biết: lợn nhiễm các loài
giun tròn, Strongyles 57,1%, Metastrongylus spp 7,6%, Ascaris suum 5,9%,
Strongyloides ransomi 4,2%, và Trichuris suis 3,4%
Theo Urquahart G.M và cs (1996) [48] thời gian nở của trứng giun lươn có liên quan tới nhiệt độ:
+ Ở nhiệt độ 20 - 30oC, mất 5 - 6 giờ trứng nở thành ấu trùng
+ Ở nhiệt độ 10 - 12oC, mất 15 giờ trứng nở thành ấu trùng, nhiệt độ thấp làm cho trứng ngừng phát triển
+ Ở nhiệt độ - 9oC và trên 50oC trứng giun lươn bị chết
Trang 31+ Điều kiện nhiệt độ 40oC không tốt cho sự phát triển của ấu trùng Nhiệt độ tốt nhất, thuận lợi nhất cho sự phát triển của ấu trùng là khoảng 20 - 25oC
Pittman J S và cs (2010) [44] cho biết: trứng Trichocephalus suis có
sức gây bệnh đến ruột non của lợn, ấu trùng bên trong trứng thoát ra, chui sâu vào niêm mạc ruột già lấy chất dinh dưỡng phát triển thành giun trưởng thành,
ấu trùng không có sự di hành trong cơ thể ký chủ
Roesel và cs (2016) [45] cho biết: tại các trang trại chăn nuôi lợn thường xuyên thu gom phân và rác thải xử lý, đồng thời sử dụng các chất sát trùng tiêu độc chuồng trại lợn thì tỷ lệ nhiễm giun lươn thấp
Theo Alynne S Barbosa và cs (2015) [35]: lợn nuôi trong các trang
trại gia đình nhiễm Strongyloides ransomi cao hơn các trang trại chăn
nuôi công nghiệp
Theo Stewart T.B và cs (1976) [49], ấu trùng cảm nhiễm
Strongyloides ransomi chui qua da cũng như đi qua miệng đều nhất thiết phải
di chuyển qua máu lợn con, cuối cùng đến ruột non phát triển thành giun lươn trưởng thành
Triantaphyllou A.C (1977) [51] cho biết: ở những lợn con bú sữa đầu của lợn nái mang giun lươn, đến ngày thứ 4 sau khi đẻ trong phân đã có trứng giun lươn, mổ khám đã thấy trong ruột non có giun trưởng thành Cho nên, phương pháp phòng bệnh phải được áp dụng cho lợn nái trước khi đẻ
Moncol D.J và cs (1978) [42] cho rằng: Trong vòng một năm tuổi, lợn mắc bệnh giun lươn khá cao Lợn tuổi cao hơn vẫn nhiễm nhưng thường nhiễm ở thể mãn tính Lợn mắc bệnh mệt mỏi, ỉa chảy và kiệt sức
Lợn con bị bệnh Strongyloides rất chậm lớn so với lợn khoẻ Đôi khi còn
thấy chúng thở khó, ho và chết ở lứa tuổi từ bốn đến sáu tuần tuổi
Theo Sousby E.J.L (1982) [46]: Trứng Strongyloides ransomi được bài xuất ra bên ngoài cùng phân của lợn nhiễm bệnh, ở nhiệt độ 20-300C sau 5-6
Trang 32giờ trứng nở ra ấu trùng Sau 2-3 ngày, ở nhiệt độ 25-300C ấu trùng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm dạng sợi chỉ (ấu trùng có thực quản dài, thẳng, có chỗ phình to, có thể chui qua da hoặc vào đường tiêu hóa vào cơ thể ký chủ
Theo Hale O.M và cs (1984) [43], bệnh giun lươn phổ biến ở lợn từ 1
-3 tháng tuổi (sau cai sữa), gây nhiều thiệt hại cho ngành chăn nuôi Tác giả cho biết, khi lợn bị nhiễm giun lươn lợn thường thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, còi cọc chậm lớn, sụt cân, chậm phát triển, mức độ tăng trọng giảm 30 - 40%
* Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giun tròn nói chung, giun lươn ký sinh ở lợn nói riêng và bệnh do chúng gây ra Tuy nhiên, chưa
có công trình nào nghiên cứu trên lợn nuôi ở tỉnh Bắc Giang và huyện Yên Dũng, đặc biệt là nghiên cứu về bệnh giun lươn, vì vậy chưa có quy trình phòng chống bệnh giun lươn hiệu quả
Từ những luận giải trên cho thấy: nghiên cứu về tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn nuôi tại huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang, đặc điểm của bệnh do giun lươn gây ra trên lợn để có biện pháp phòng chống hiệu quả là vấn đề cần thiết
Trang 33Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lợn nuôi tại các xã của huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn
- Bệnh giun lươn ở lợn do giun tròn thuộc giống Strongyloides gây ra
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.2.1 Địa phương triển khai đề tài
- Đề tài được thực hiện ở các xã, thị trấn thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Một số đặc điềm của địa phương triển khai đề tài:
* Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Yên Dũng
Yên Dũng là một huyện nằm ở tiểu vùng miền núi và trung du của tỉnh Bắc Giang, được bao bọc bởi 3 con sông là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Huyện có diện tích tự nhiên là 19.042 km2 bao gồm 19 xã và 2 thị trấn Phía Bắc giáp thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang; phía Đông giáp huyện Lục Nam; phía Nam giáp với huyện Quế Võ ( Bắc Ninh), huyện Chí Linh ( Hải Dương); phía Tây giáp với huyện Việt Yên Dân số của huyện tính đến tháng 9 năm 2012 là 136.337 người Mật độ dân số là 713 người/km2 Trung tâm huyện là thị trấn Neo
Đặc điểm địa hình:
Đất đai của huyện tương đối đa dạng, phong phú, với tổng diện tích tự nhiên trên 19.000 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp trên 12.200 ha (bao gồm đất đồi núi với phần lớn diện tích thuộc dãy núi Nham Biền, đất ruộng bằng phẳng và đất thấp trũng), diện tích đất phi nông nghiệp trên 6.800 ha; dân số trên 136.000 người
Trang 34Vùng đồi núi thấp có thể trồng được nhiều cây ăn quả, cây công nghiệp
và khá thuận tiện để chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, thuỷ sản
Đặc điểm chủ yếu của địa hình miền trung du là đất gò, đồi xen lẫn đồng bằng tùy theo từng khu vực Vùng trung du có khả năng trồng nhiều loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp và chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm, cá và nhiều loại thuỷ sản khác
Hệ thống giao thông gồm các tuyến Quốc lộ 1, Quốc lộ 17 và 4 tuyến đường tỉnh (398, 299, 299B, 293) chạy qua địa bàn huyện, ngoài ra còn có hệ thống giao thông đường thuỷ trên sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam,
là điều kiện thuận lợi trong việc liên kết vùng, giao thương và tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật
* Phương thức chăn nuôi lợn của huyện Yên Dũng
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn của huyện Yên Dũng đã phát triển khá mạnh, số lượng lợn tăng qua các năm, vấn đề đầu tư cho chăn nuôi đã được cải thiện Tuy nhiên, chăn nuôi lợn theo phương thức nông hộ nhỏ lẻ vẫn là chủ yếu, rất ít các trang trại chăn nuôi lợn công nghiệp trên địa bàn huyện Yên Dũng Từ thực tế chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện, chúng tôi đã lựa chọn để tiến hành triển khai đề tài ở 5 xã, thị trấn thuộc huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, gồm: xã Nội Hoàng, xã Yên Lư,
xã Tiến Dũng, xã Xuân Phú và Thị trấn Tân Dân
2.1.2.2 Địa điểm xét nghiệm mẫu
- Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang
- Khoa xét nghiệm Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bắc Giang
- Thời gian nghiên cứu: 01/8/2016 đến ngày 01/8/2017
2.2 Vật liệu nghiên cứu
* Động vật thí nghiệm:
- Lợn các lứa tuổi trên thực địa (để thu thập mẫu và xét nghiệm phân,
mổ khám để xác định thực trạng nhiễm giun tròn đường tiêu hóa nói chung và giun lươn nói riêng)
Trang 35- Lợn khoẻ 1 tháng tuổi: 6 con bố trí thí nghiệm gây nhiễm giun lươn
để theo dõi đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun lươn (3 con gây nhiễm qua đường tiêu hoá, 3 con đối chứng)
* Các loại mẫu:
- Mẫu phân mới thải của lợn các lứa tuổi nuôi tại 5 xã, thị trấn nơi triển khai thực hiện đề tài
- Mẫu giun tròn thu nhận được từ lợn mổ khám
- Mẫu máu lợn mắc bệnh giun lươn sau gây nhiễm và lợn đối chứng
* Bệnh phẩm:
- Các phần ruột và các phủ tạng khác của lợn mắc bệnh giun lươn
* Dụng cụ, thiết bị và hóa chất
- Kính hiển vi quang học, kính lúp, buồng đếm Mc Master
- Bộ dụng cụ xét nghiệm phân gồm: lưới lọc, đũa và cốc thủy tinh, lọ thủy tinh nhỏ, lam kính, lamen, bộ dụng cụ phân ly ấu trùng
- Dung dịch muối NaCl bão hòa, dung dịch Barbagallo (gồm: formol 38%: 30 ml, NaCl tinh khiết: 7,5 gam; nước cất vừa đủ: 1000 ml)
- Bộ dụng cụ và thiết bị gồm: tủ ấm, cối, chày sứ
- Các hóa chất và dụng cụ thí nghiệm khác
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Yên Dũng
- Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun tròn đường tiêu hóa cho lợn tại huyện Yên Dũng
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn qua xét nghiệm phân
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn của lợn qua mổ khám
Trang 36- Thành phần và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn tại huyện Yên Dũng
2.3.2 Nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn gây nhiễm
2.3.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn qua xét nghiệm phân
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở các địa phương
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi lợn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo giống lợn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tình trạng vệ sinh thú y
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn bình thường và tiêu chảy
2.3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh giun lươn ở lợn gây nhiễm thực nghiệm
- Triệu chứng lâm sàng, tổn thương đại thể do giun lươn gây ra trên lợn
- Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của lợn gây nhiễm giun lươn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
2.4.1.1 Điều tra thực trạng công tác phòng chống bệnh giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Nội dung này được thực hiện bằng phương pháp trực tiếp quan sát, phỏng vấn và phát phiếu điều tra các hộ chăn nuôi lợn
2.4.1.2 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn
Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn theo phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả và dịch tễ học phân tích (Nguyễn Như Thanh và cs, 2011) [22]
* Dung lượng mẫu:
- Mỗi lợn lấy 1 mẫu phân
- Cỡ mẫu: số lượng mẫu phân lấy để quan sát xét nghiệm theo công thức dịch tễ học (Nguyễn Như Thanh và cs, 2011)[22]
Trang 37Tuy nhiên, trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi đã thu thập 150
mẫu/xã, tổng số mẫu thu thập ở 5 xã là 750 mẫu
- Số lợn mổ khám: mổ khám 30 lợn/xã, tổng số lợn mổ khám ở 5 xã, thị trấn là 150 con
* Phương pháp thu thập mẫu phân, xét nghiệm và đánh giá tỷ lệ nhiễm
giun tròn
- Thu thập mẫu: Mẫu được thu thập ngẫu nhiên ở các hộ nuôi lợn theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc (Nguyễn Như Thanh và cs, 2011) [22] Trong quá trình lấy mẫu đã loại trừ những lợn mắc bệnh truyền nhiễm và các bệnh khác Tại mỗi xã lấy mẫu phân lợn ở 5 thôn, tổ dân phố tại mỗi địa điểm lấy khoảng 30 mẫu Mẫu phân thu thập được lấy ngẫu nhiên tại các hộ chăn nuôi lợn trong thôn, tổ dân phố
Mẫu phân lợn mới thải ra được thu thập vào lọ nhựa có nắp hoặc túi nilon,
có ghi ký hiệu mẫu, giống lợn, tuổi, tính biệt, trạng thái phân, tình trạng vệ sinh thú y, phương thức chăn nuôi và các biểu hiện lâm sàng của lợn (nếu có), thời gian và địa điểm lấy mẫu, bảo quản mẫu ở 4 – 8oC, các mẫu phân được xét nghiệm ngay trong ngày
Trang 38- Phương pháp xét nghiệm phân:
Xét nghiệm phân tìm trứng của các loại giun tròn theo phương pháp phù nổi: tất cả các mẫu phân được xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn với dung dịch NaCl bão hoà; tìm trứng các loài giun tròn dưới kính hiển vi, độ phóng đại 10 x 10 Những mẫu có trứng giun tròn thì đánh giá là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm
* Phương pháp xác định nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn qua mổ khám
Để tìm giun tròn ký sinh ở hệ tiêu hoá, tiến hành mổ khám lợn theo phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hoá của Skrjabin K.I (1928), thu thập mẫu giun tròn ký sinh ở ruột của lợn (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Lan 2012) [13]
Mỗi loại giun tròn ở mỗi phần của cơ quan tiêu hoá được để riêng, sau
đó tiến hành đếm số lượng từng loại Ghi vào bảng biểu mổ khám: số thứ tự lợn
mổ khám, nơi giun ký sinh, số lượng giun, số lượng lợn mổ khám, địa điểm và thời gian mổ khám
Cách mổ khám và thu thập giun tròn: Dùng kéo nhọn, sắc cắt dọc theo chiều dài của đường tiêu hóa: kiểm tra tất cả các phần: thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, gan và tụy Thu lượm giun tròn trong chất chứa ở mỗi phần (sau khi làm lắng chất chứa theo phương pháp của Benedek, 1943) và những giun tròn còn bám trên niêm mạc
Giun tròn ở mỗi phần của cơ quan tiêu hóa của mỗi lợn đều được để riêng Trước hết giun được làm chết tự nhiên trong nước lã, sau đó bảo quản trong lọ thủy tinh đựng dung dịch Barbagallo Mỗi lọ đều có nhãn ghi rõ: số thứ tự lợn, tuổi, số lượng giun, nơi ký sinh, lớp, địa điểm và thời gian mổ khám Những nội dung ghi trên nhãn cũng được ghi đầy đủ vào sổ mổ khám
Phân loại sơ bộ các loài giun tròn đã thu thập được dưới kính lúp và kính hiển vi, căn cứ vào hình thái, cấu tạo của giun tròn trưởng thành theo khoá định loại của Skrjabin K I và Petrov A M (1963) [33], Phan Thế Việt
và cs (1977) [30]
Trang 39* Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun tròn
- Cường độ nhiễm giun tròn qua xét nghiệm phân được xác định bằng cách đếm số trứng trong 1 gam phân bằng buồng đếm Mc Master (theo tài liệu của Jogen Hansen và cs (1994) [39])
Quy định 4 mức cường độ nhiễm như sau:
≤ 500 trứng/ gam phân: nhiễm nhẹ (+)
>500 - 1000 trứng/ gam phân: nhiễm trung bình (++)
>1000 - 1500 trứng/ gam phân: nhiễm nặng (+++)
>1500 trứng / gram phân: nhiễm rất nặng (++++)
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu bệnh giun lươn ở lợn
* Phương pháp bố trí xác định các yếu tố liên quan đến tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn
Nghiên cứu tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở lợn tại 5 xã, thị trấn: Mỗi xã thu thập 150 mẫu phân của 150 con lợn
Tổng số mẫu thu thập ở 5 xã, thị trấn là 750 mẫu
+ Theo tuổi lợn: nghiên cứu ở 4 lứa tuổi
Lợn ≤ 2 tháng tuổi lấy: 190 con
* Phương thức chăn nuôi: nghiên cứu ở 3 phương thức chăn nuôi
- Chăn nuôi truyền thống: 258 con
Trang 40Tiêu chí đánh giá: mỗi nông hộ chăn nuôi một vài con lợn, thức ăn chủ yếu là tận dụng nguồn thức ăn sẵn có và phế phụ phẩm của ngành trồng trọt, chuồng trại đơn sơ, vẫn có tình trạng lợn thả rông
- Chăn nuôi bán công nghiệp: 254 con
Tiêu chí đánh giá: mỗi nông hộ chăn nuôi từ 10 - 50 con; tận dụng thức
ăn sẵn có, phế phụ phẩm của ngành trồng trọt kết hợp với thức ăn công nghiệp, chuồng trại xây tương đối cao ráo sạch sẽ, chuồng nuôi có rãnh thoát nước
- Chăn nuôi công nghiệp: 238 con
Tiêu chí đánh giá: mỗi nông hộ chăn nuôi trên 50 con trở lên, thức ăn hoàn toàn là thức ăn công nghiệp, chuồng trại xây dựng đảm bảo tiêu chuẩn
vệ sinh thú y, có máng ăn, máng uống tự động; một số nông hộ xây dựng chuồng nuôi hiện đại và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi
+ Theo mùa: nghiên cứu 4 mùa (mùa Hè, Thu năm: 2016, mùa Đông,
Xuân: năm 2017)
Mùa Hè từ tháng 5 đến tháng 7: 192 con
Mùa Thu từ tháng 8 đến tháng 10: 190 con
Mùa Đông từ tháng 11 đến tháng 2: 188 con
Mùa Xuân từ tháng 3 đến tháng 4: 180 con
+ Theo tình trạng vệ sinh thú y: nghiên cứu ở 3 mức:
Tình trạng vệ sinh thú y kém: 259 con
Tiêu chí đánh giá: nền chuồng láng xi măng hoặc nền đất, không cọ rửa
và dọn phân, có hiện tượng tồn động phân trong chuồng một vài tuần, không
có rãnh thoát nước xung quanh chuồng Máng ăn, máng uống không cọ rửa, rau xanh không rửa trước khi cho ăn
Tình trạng vệ sinh thú y trung bình: 251 con
Tiêu chí đánh giá: nền chuồng láng xi măng, không thường xuyên cọ rửa chuồng và dọn phân, có hiện tượng tồn đọng phân quá 2 ngày trong