1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân giai đoạn 20112015 tại thành phố cao bằng

88 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước ta đang trong quá trình hội nhập, có quan hệ thương mại với hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của tổ chức ASEAN, khu Mậu dịch Tự do AFTA, Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Nhuận

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Nông Thúy An

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng

và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Đức Nhuận đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Phòng đào tạo, Khoa Quản lý tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức của UBND thành phố Cao Bằng, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố đã giúp đỡ

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Nông Thúy An

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4

1.2 Đất đô thị và quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa 7

1.2.1 Quan điểm về đất đai đô thị 7

1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa 11

1.1.1 Cơ sở pháp lý 12

1.3 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước trên Thế giới và một số tỉnh, thành phố trong nước 13

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước trên thế giới 13

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số thành phố trong quá trình đô thị hóa 16

1.4 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam 18

1.4.1 Tình hình đô thị hóa trên Thế giới 18

1.4.2 Đô thị hóa ở một số nước trên thế giới 20

1.4.3 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam 23

1.4.4 Những nghiên cứu về đô thị hóa trên Thế giới và Việt Nam 25

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

Trang 6

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 27

2.4 Phương pháp nghiên cứu 28

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp 28

2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp 28

2.4.3 Phương pháp chuyên gia 28

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 30

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 35

3.1.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển và đô thị hóa của thành phố Cao Bằng 39

3.2 Thực trạng của quá trình đô thị hóa tại thành phố Cao Bằng 41

3.2.1 Sư tập trung dân số tại các khu vực 41

3.2.2 Sư phát triển kinh tế xã hội 42

3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất tại thành phố Cao Bằng 44

3.3 Tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cao Bằng 46

3.3.1 Sự biến động đất nông nghiệp 46

3.3.2 Tình hình giao đất 48

3.3.3 Tình hình thu hồi đất 49

3.4 Ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế hộ nông dân tại thành phố Cao Bằng 50

3.4.1 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 50

3.4.2 Ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống hộ nông dân 55

Trang 7

3.4.3 Đánh giá sự ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế – xã hội của các hộ

thông qua các câu hỏi định tính 62

3.5 Đánh giá chung tác động của đô thị hóa tới sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân trên địa bàn Thành phố Cao Bằng 64

3.5.2 Tác động tiêu cực 65

3.5.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống kinh tế hộ, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại thành phố Cao Bằng 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

2 Đề nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình biến động dân số của thành phố Cao Bằng giai đoạn 2011 - 2015 41

Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Thành phố Cao Bằng 42

Bảng 3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011 – 2015 Thành phố Cao Bằng 43

Bảng 3.4 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng năm 2015 44

Bảng 3.5 Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2015 47

Bảng 3.6 Kết quả giao đất ở thành phố Cao Bằng giai đoạn 2011 - 2015 48

Bảng 3.7 Kết quả thu hồi đất tại Thành phố Cao Bằng giai đoạn 2011 - 2015 49

Bảng 3.8 Một số thông tin cơ bản về các chủ hộ 51

Bảng 3.9 Tình hình biến động đất đai của hộ trước và sau khi thu hồi 52

Bảng 3.10 Tình hình nghề nghiệp của hộ trong quá trình đô thị hóa 52

Bảng 3.11 Hình thức hỗ trợ cho người dân khi bị thu hồi đất 54

Bảng 3.12 Hình thức sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra tại địa bàn điều tra 54

Bảng 3.13 Tình trạng nhà, cơ sở vật chất phục vụ đời sống người dân 55

Bảng 3.14 Thay đổi thu nhập của hộ qua quá trình đô thị hóa 56

Bảng 3.15 Thu nhập của người dân trước và sau khi bị thu hồi đất 57

Bảng 3.16 Tình hình lao động và việc làm trên địa bàn nghiên cứu trước và sau khi thu hồi đất 58

Bảng 3.17 Chất lượng y tế tại thành phố Cao bằng năm 2015 so với thời điểm năm 2011 59

Bảng 3.18 Trình độ chuyên môn, văn hoá của người dân trước và sau khi thu hồi đất 60

Bảng 3.19 Ý kiến đánh giá của các hộ gia đình về tình hình ô nhiễm môi trường trước và sau khi thu hồi đất 61

Bảng 3.20 Ý kiến của các hộ điều tra về mức độ tác động của đô thị hóa 63

Bảng 3.21 Ý kiến của các hộ điều tra về kế hoạch trong thời gian tới 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đô thị hóa là quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế - xã hội, là xu thế tích cực tạo nên động lực mới cho nền kinh tế của mỗi quốc gia Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh

Đối với thế giới cũng như đối với Việt Nam, vấn đề đô thị hoá ngày càng có tầm quan trọng đặc biệt Người ta thường cho rằng: sự thịnh vượng hay suy thoái của một quốc gia thường phản ánh qua hình ảnh của các đô thị; nhất là các thành phố lớn

Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta có những bước tiến đáng kể, chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, tổng sản phẩm trong nước GDP bình quân hàng năm đạt trên 7% Nước ta đang trong quá trình hội nhập,

có quan hệ thương mại với hơn 140 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của tổ chức ASEAN, khu Mậu dịch Tự do AFTA, Tổ chức Thương mại Thế giới WTO,… Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế là sự bùng nổ dân số và tốc độ đô thị hóa ngày càng gia tăng hình thành các khu đô thị dẫn đến nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, lĩnh vực ngày một lớn làm biến động hiện trạng sử dụng đất ở các địa phương [8]

Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là

tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được đối với các ngành sản xuất nông lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nền tảng cho sự sống của con người và nhiều sinh vật khác

Hiện nay, cùng với xu hướng phát triển của thế giới thì quá trình đô thị hoá đã

và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới vấn đề sử dụng đất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Đô thị hoá là một quá trình tất yếu đối với mỗi quốc gia, đặc biệt đối với Việt Nam là nước đang trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Một trong những chủ trương quan trọng trong phát triển công nghiệp của Đảng ta

là đẩy nhanh phát triển đô thị cùng với công nghiệp hóa nông nghiệp và kinh tế nông

Trang 11

thôn; quan tâm đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng, giải quyết việc làm, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để các đô thị làm hạt nhân thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong vùng và trên cả nước

Sự phát triển đô thị hóa tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua có nhiều chuyển biến số lượng Đến năm 2015 có 772 đô thị, theo quy hoạch phát triển đến năm

2010, tỷ lệ dân số đô thị là 56 - 60 % và năm 2020 là 80 % [12]

Có thể nói, đô thị hóa chính là con đường dẫn tới các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống người dân Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực,

đô thị hóa cũng phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết như vấn đề sử dụng đất, lao động và việc làm của người dân Điều gì sẽ xảy ra khi diện tích đất đai có hạn mà dân số vẫn không ngừng tăng lên cũng như quỹ đất phục vụ cho quá trình đô thị hóa ngày một cao? Vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai nhằm hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội nhưng phải

đi đôi với phát triển bền vững của nước ta trong đó có thành phố Cao Bằng là vấn

đề mang tính cấp thiết hiện nay Dựa trên những cơ sở lý luận và nhu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban giám hiệu, khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người dân giai đoạn 2011-

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Thực trạng của quá trình đô thị hóa tại thành phố Cao Bằng giai đoạn 2011-2015

- Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của người nông dân

Trang 12

- Đề xuất các giải pháp nâng cao đời sống kinh tế hộ nông dân, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại thành phố Cao Bằng

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Thực hiện tốt Luật Đất đai và công tác quản lý Nhà nước về đất đai, đặc biệt

là việc thực hiện đô thị hóa theo đúng các qui định của pháp luật Đất đai, khắc phục trình trạng tuỳ tiện trong việc thực hiện đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp; phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh

tế - xã hội của thành phố Cao Bằng

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1.2.1 Khái niệm đô thị

Ở Việt Nam, theo nghị định 72/2001/NĐ/CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của chính phủ, quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu chuẩn sau: Thứ nhất: là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định

Thứ hai: đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu từ 4000 người trở lên

Thứ ba: tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, của nội thành, nội thị từ 65% trở lên trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất và dịch

vụ thương mại phát triển

Thứ tư: có cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị

Thứ năm: có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/Km2 trở lên

1.1.2.2 Đô thị hóa :

Quá trình đô thị hóa có lịch sử cùng với sự hình thành của đô thị, từ khoảng

6000 năm trước Công nguyên Mỗi một giai đoạn phát triển của nền văn minh, đô thị hóa lại có những đặc điểm mới, vừa mang tính quy luật chung vừa mang đặc thù riêng của mỗi nước

Khái niệm đô thị hóa :

+ Theo nghĩa rộng: Đô thị hóa được hiểu như một quá trình phát triển toàn diện kinh tế xã hội, liên hệ mất thiết với sự phát triển của lực lượng sản xuất, các hệ thống xã hội và tổ chức môi trường sống của cộng đồng

+ Theo nghĩa hẹp: Đô thị hóa là quá trình chuyển cư từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp với tất cả các hệ quả của nó như sự tăng

Trang 14

trưởng dân số đô thị, sự nâng cao mức độ trang bị kỹ thuật của thành phố, sự xuất hiện của các thành phố mới…

+ Quá trình đô thị hóa mang tính phức tạp, địa phương, địa điểm, bối cảnh,… + Đô thị hóa và phát triển có mối liên hệ biện chứng rõ rệt Đô thị hóa mang tính quy luật tất yếu, là động lực của phát triển, tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng lao động và phát triển kinh tế Ngược lại, đô thị hóa cũng chính là hệ quả của sự phát triển, bản thân lại tạo ra sức ép cho phát triển trên mọi mặt kinh tế, xã hội và môi trường [6]

Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật

1.1.2.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa :

Đô thị hóa có những tác động hai mặt đến sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, cụ thể:

Trang 15

- Đô thị hóa góp phần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai Nguồn đất đai là hữu hạn trong khi việc gia tăng dân cư tập trung tại trung tâm các nội thành hay các vùng ven đã làm cho hệ số sử dụng đất cao nhất, tiết kiệm nhất Giá đất ở vùng ven

đô khi chưa đô thị hóa thấp, nhưng sau khi đô thị hóa lại tăng vọt lên

- Đô thị hóa tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nó kích thích cầu và mở đường cho cung ứng

- Đô thị hóa tạo điều kiện giao lưu và giữ gìn văn hóa các vùng miền, làm phong phú hơn văn hóa dân tộc, tiếp thu văn hóa hiện đại thông qua việc di dân đến các thành phố mang văn hóa riêng vốn có của các vùng quê

- Đô thị hóa tạo điều kiện cải biến con người thuần nông sang người thành thị,

có tính công nghiệp cao hơn từ những người nông dân với nền sản xuất lúa nước, phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên trở thành người dân thành phố với tính công nghiệp, chuyên nghiệp cao

- Số lượng lao động nông nghiệp giảm đi rõ rệt và có xu hướng chuyển sang các ngành nghề khác Đối với số lao động nông nghiệp đang duy trì sản xuất nông nghiệp ở gần các khu đô thị hầu hết ít trồng lúa mà chuyển sang trồng các loại cây

có giá trị kinh tế cao hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao ở thị như cây cảnh, hoa, rau,…

b Tác động tiêu cực:

- Đô thị hóa tác động đến vấn đề lao động, việc làm Người lao động nhập cư chủ yếu chưa qua đào tạo, lao động vẫn là cơ bắp, giản đơn Họ đi về thành phố trong hoàn cảnh hụt hẫng không còn ruộng đất, thất nghiệp, lo lắng về tương lai Lao động trong các doanh nghiệp, tập thể nằm trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường luôn bị đe dọa, cuộc cạnh tranh này ngày càng gay gắt , khi nền kinh tế nước ta tiến sâu vào kinh tế khu vực và thế giới Vốn trong các doanh nghiệp Việt Nam nói chung là nhỏ, công nghệ lạc hậu và trình độ nhân lực chưa đáp ứng được thực tế và trình độ quản lý còn nhiều hạn chế Do đó việc các doanh nghiệp bị thua lỗ, phá sản là rất có khả năng xảy ra, khi đó người lao động rất dễ mất việc, trở thành thất nghiệp

Trong những năm qua, số lượng người di cư từ nông thôn chuyển tới các thành thị ngày một tăng, đặc biệt là các thành phố lớn Dẫn tới dân số nông thôn có

Trang 16

xu hướng giảm Trung bình mỗi ngày có hàng nghìn người từ các địa phương về Hà Nội để tìm kiếm việc làm, sinh sống và thụ hưởng các dịch vụ đô thị Quy mô dân

số mở rộng đã làm cho mật độ dân số tăng nhanh và mất cân đối

Sự gia tăng dân số nhập cư ngày càng cao, nhưng 80% trong số đó chỉ có trình

độ phổ thông Ngoài ra, nền giáo dục còn nhiều hạn chế của nước ta đào tạo ra đội nhân lực vẫn chưa thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng của nền kinh tế hội nhập

- Kết cấu hạ tầng giao thông và môi trường sông luôn bị phá vỡ, không theo kịp yêu cầu thực tiễn Sự tăng lên đột biến của dân số trong quá trình đô thị hóa đã làm cho kết cấu hạ tầng đã có bị lạc hậu nhanh chóng trong khi kết cấu hạ tầng mới chưa kịp xây dựng hoặc xây dựng dở dang

- Quá trình đô thị hóa đã góp phần quan trọng làm ô nhiễm môi trường hiện nay Không khí ô nhiễm đã trở thành “kẻ giết người thầm lặng” Nồng độ một số chất ô nhiễm đã vượt tiêu chuẩn cho phép đối với chất lượng không khí xung quanh, cả khu dân cư và ven đường [14]

1.2 Đất đô thị và quản lý nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa

1.2.1 Quan điểm về đất đai đô thị

1.2.1.1 Khái niệm và phân loại đất đô thị

Theo Luật đất đai năm 1993 và Điều I Nghị định số 88/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của chính phủ quản lý đất đai đô thị “Đất đô thị là đất nội thành, nội Thành phố thị trấn được xây dựng nhà ở, trụ sở cơ quan, tổ chức, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cơ sở hạ tầng phục vụ công cộng, an ninh quốc phòng và các mục đích khác Đất ngoại thành ngoại Thành phố đã được quy hoạch do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để phát triển đô thị cũng là đất đô thị và được sử dụng như đất đô thị”

Khi xác định đất đai theo ranh giới hành chính thì đất đô thị bao gồm nội thành, nội thị một cách hữu cơ về chức năng cơ sở hạ tầng và cơ cấu không gian quy hoạch đô thị, các vùng đất sẽ được đô thị hóa nằm trong phạm vi ranh giới quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Trang 17

Đất đô thị theo nghĩa hẹp là sự biến sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp thành đất sử dụng công nghiệp, thương nghiệp, giao thông, văn hoá…Theo hình thức phát triển đất của khu vực mới ngoài ra còn cải tạo khu vực đất cũ Đất cuả khu vực mối mở rộng diện tích sử dụng đất đô thị là để gia tăng cung cấp kinh tế của đất đô thị đô thị Nội dung của nó gồm hai mặt: Một là tiến hành trưng dụng đất, chuyển phương hướng sử dụng đất từ đất nông lâm nghiệp thành đất chuyên dùng để phát triển đô thị Hai là, tiến hành đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kĩ thuật

để chuyển đất nông lâm trở thành đất đô thị

Phát triển đất của khu vực cũ là một con đường chủ yếu khác để tăng cung cấp kinh tế của đất đô thị Nội dung cơ bản của nó là thông qua các hoạt động phá bỏ, di chuyển và cải tạo, nâng cấp để cải biến kết cấu sử dụng đất các khu vực cũ nhằm nâng cao trình độ tập trung, tiết kiệm trong việc sử dụng đất đô thị Cơ sở đầu tiên của dự án phát triển đô thị là qui hoạch chi tiết sử dụng mặt bằng đất đai nhất định

để phát triển đô thị Trong đó, xác dịnh địa giới và mục đích sử dụng của mặt bằng đất đai vạch mạng lưới đường xá, phân chia mặt bằng đất đai thành những lô đất đề

ra yêu cầu về qui hoạch và kiến trúc đối với các công trình xây dựng trên đó [4] Đất đô thị được phân loại như sau:

- Phân loại theo mục đích sử dụng:

+ Đất dành cho các công trình công cộng như đường giao thông, các công trình giao thông tĩnh, các nhà ga, bến bãi, các công trình cấp thoát nước, các đường dây tải điện, thông tin liên lạc

+ Đất dùng vào các mục đích an ninh quốc phòng, các cơ quan ngoại giao và các khu vực hành chính đặc biệt

+ Đất ở dân cư: bao gồm cả diện tích đất dùng để xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ sinh hoạt và không gian theo quy định về xây dựng và thiết kế nhà ở + Đất chuyên dùng: xây dựng trường học, bệnh viện, các công trình văn hóa, vui chơi, giải trí, các công sở và khu vực hành chính, các trung tâm thương mại, buôn bán, các cơ sở sản xuất kinh doanh

+ Đất nông, lâm, ngư nghiệp đô thị: gồm diện tích các hồ nuôi trồng thủy sản, các khu vực trồng cây xanh, trồng hoa, cây cảnh, các phố vườn,…

Trang 18

- Phân loại theo quy hoạch xây dựng đô thị, đất đô thị:

+ Đất dân dụng: là đất ở, đất phục vụ công cộng, đất cây xanh, đất giao thông

và đất các công trình hạ tầng kỹ thuật

+ Đất ngoài khu dân dụng: đất nông nghiệp, đất kho bãi, đất các trung tâm chuyên ngành, đất cơ quan ngoài đô thị, đất quốc phòng an ninh, đất chuyên dùng khác, đất chưa sử dụng

- Phân loại theo nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, tùy theo mục đích

sử dụng đất:

+ Đất cho thuê, chủ yếu để xây dựng các công trình sản xuất kinh doanh và giao đất sử dụng có thời hạn

+ Giao đất có thu tiền sử dụng đất

+ Giao đất không thu tiền sử dụng đất

Xét về góc độ kinh tế chính trị, đất đô thị là loại đất chủ yếu được dùng để xây dựng và phát trỉên các công trình đô thị, đó là loại đất đã chứa những khoản đầu tư lớn trong quá trình khai thác đất đai thành thị, vì vậy có sức sản xuất cao, có giá trị

sử dụng rất lớn Xu hướng phát triển và quy mô của đất đô thị liên quan chặt chẽ đến mối quan hệ giữa QHSX và LLSX, mà cốt lõi là chế độ sở hữu nói chung, trong

đó có sở hữu đất đai được, quy định bởi chế độ kinh tế chính trị xã hội Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đất đô thị là loại đất mang lại địa tô chênh lệch cao cho chủ sở hữu đất, trong khi phát triển đô thị là nhu cầu tất yếu của quá trình CNH - HĐH đất nước Khi nói về đất đô thị, C.Mác viết: “Thật ra người ta có thể tập trung một nền sản xuất lớn trên một khoảng không gian nhỏ so với sự phân tán của thủ công nghiệp, và chính đại công nghiệp đã làm như vậy” và khi nền sản xuất đại công nghiệp đã đạt đến giới hạn của việc sử dụng chiều cao không gian thì “việc

mở rộng sản xuất cũng đòi hỏi mở rộng diện tích đất đai” Trong các khu vực đô thị

cũ, quá trình Đô thị hóa (sắp xếp và cải tạo đô thị) nhằm hiện đại hoá đô thị, trên cơ

sở cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật (HTKT) đô thị kết hợp với phân bố lại quỹ đất

và bố trí hợp lý các công trình đô thị Đồng thời với việc nâng cấp, HĐH các khu đô thị cũ là quá trình xây dựng các khu đô thị mới, quá trình này đòi hỏi chuyển một diện tích đất từ các loại đất khác thành đất đô thị để phát triển đô thị, đáp ứng yêu

Trang 19

cầu CNH-HĐH Tuy nhiên quá trình Đô thị hóa không phải là quá trình chuyển mục đích SDĐ của toàn bộ diện tích đất khác thành đất phi nông nghiệp, một phần diện tích đất nông nghiệp vẫn được giữ lại nhằm đảm bảo môi trường sinh thái cho đô thị

và tạo ra không gian thẩm mỹ cho đô thị Như vậy QLNN đối với đất đai trong quá trình Đô thị hóa , không chỉ đơn thuần là quản lý đất đô thị, mà còn bao gồm diện tích đất quy hoạch phát triển đô thị và diện tích đất nông nghiệp trong đô thị Tuy vậy đến thời điểm hiện nay, chưa có văn bản quy định nào đưa ra tiêu chuẩn về cơ

cấu giữa đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp trong đô thị [15]

1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của đất đô thị:

Đặc điểm của đất đai là tính cố hữu, tư liệu sản xuất gắn với hoạt động của con người nhưng đất đô thị có những đặc trưng chủ yếu để phân biệt với các loại đất khác:

- Có nguồn gốc từ đất tự nhiên hoặc đất nông nghiệp được trang bị cơ sở hạ tầng công cộng khi chuyển mục đích sử dụng

-Việc sử dụng đất đô thị phải căn cứ vào qui hoạch và dự án đầu tư được phê duyệt

- Khi người sử dụng đất có yêu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đang sử dụng thì phải được UBND tỉnh thành phố cho phép

- Từng lô đất trong đô thị có vị trí cố định, mỗi vị trí có đặc thù riêng không giống với bất kì vị trí nào

- Ngoài ra đất đô thị cũng là tài sản đặc biệt có giá trị cao hơn so với các loại đất khác bởi vị trí và cơ sở hạ tầng trên đất

- Có sự mất cân đối giữa cung và cầu, do quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng trong những năm gần đây làm cho dân số đô thị tăng nhanh (về cơ học) cầu tăng nhanh nhưng cung bị hạn chế mất cân đối

Nó là công cụ cho việc thực hiện và quản lý sử dụng đất một cách khoa học của nhà nước, bởi vì khi thực hiện qui hoạch sử dụng đất đai nhằm phục vụ cho nhu cầu sử dụng đất đai và quyền lợi của toàn xã hội góp phần giải quyết tốt các mối quan hệ trong quản lý và sử dụng đất để sử dụng một cách có hiệu quả bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả

Trang 20

1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với đất đai trong quá trình đô thị hóa

Quản lý Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa không chỉ nhằm mục tiêu phát triển đô thị mà còn phải đảm bảo đáp ứng nhu cầu đời sống của dân cư đô thị Mặc khác, trong quá trình đô thị hóa , quan hệ đất đai có nhiều biến động mạnh

về cả quyền chi phối, quyền quản lý và quyền sử dụng, do chức năng đặc biệt quan trọng của đô thị là chức năng về kinh tế tác động Vì vậy, trong quá trình đô thị hóa vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước về đất đai là xuất phát từ nhân tố khách quan do thực tiễn của đất nước đặt ra

Dân số đô thị tăng lên cùng với quá trình công nghiệp hóa, làn sóng người nhập cư ồ ạt đã khiến các thành phố trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường sống

và làm cho việc xây dựng trong các đô thị trở nên lộn xộn, vô tổ chức, gây ra những khó khăn bức xúc trong công tác quản lý của Nhà nước đối với đô thị

Dân số đô thị là động lực chính thúc đấy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đô thị Quy mô của đô thị được đánh giá qua số lượng dân số đô thị chứ không phải qua diện tích đất đai đô thị Dân số đô thị là cơ sở để xác định số lượng diện tích nhà ở cần xây dựng, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho đô thị cũng như việc hoạch định các chính sách phát triển và kế hoạch đầu tư cho đô thị Ở các nước phát triển, tốc độ tăng trưởng dân số đô thị do nhập cư từ nông thôn vào là không lớn, còn ở các nước đang phát triển thì tỉ lệ này lại là chủ yếu, mà lý do chính là sức hấp dẫn từ sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn

Ở nước ta, tăng trưởng không gian đô thị cũng đạt mức cao, diện tích đất đô thị chiếm gần 1% diện tích đất tự nhiên vào năm 2005 và đang có chiều hướng gia tăng để đáp ứng nhu cầu gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế

Để tránh tình trạng đất đai bị chuyển mục đích trái phép, sử dụng không đúng quy hoạch, kế hoạch, nguồn tài nguyên đất đô thị bị lãng phí, cùng với nó là tình trạng đô thị được xây dựng lộn xộn và tình trạng đói nghèo ở đô thị…đòi hỏi tăng cường vai trò của Nhà nước trong hoạt động quản lý đối với đất đai trong quá trình

đô thị hóa

Trang 21

1.2.3 Cơ sở pháp lý

1.2.3.1 Các văn bản của Trung ương

- Luật Đất đai năm 2003

- Luật Đất đai năm 2013

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ

về bồi thường thiệt hại, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ

tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích

sử dụng đất, thu hồi đất

1.2.3.2 Các văn bản của tỉnh Cao Bằng

- Quyết định số 891/2011/QĐ-UBND ngày 20 tháng 05 năm 2011 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành bảng giá bồi thường cây cối, hoa màu và thủy sản trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

Trang 22

- Quyết định số 3336/2009/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2009 của UBND tỉnh Cao Bằng quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh cao Bằng

- Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2014 của UBND tỉnh Cao Bằng quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Quyết định số 2472/2010/QĐ-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2010 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành bảng giá các loại đất năm 2011 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng;

- Quyết định số 2768/2011/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2011 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành bảng giá các loại đất năm 2012 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng;

- Quyết định số 2088/2012/QĐ-UBND ngày 21 tháng 12 năm 2012 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành bảng giá các loại đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2013 của UBND tỉnh Cao Bằng về Ban hành bảng giá các loại đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Quyết định số 40/2014/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2014 của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành bảng giá các loại đất năm 2015 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng

- Công văn số 1148/UBND-NĐ ngày 15 tháng 5 năm 2013 của UBND tỉnh Cao Bằng v/v giải quyết vướng mắc trong công tác GPMB trên địa bàn thành phố

- Quyết định số 41/2014/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2014 của UBND tỉnh Cao Bằng ban hành quy định về trình tự thủ tục thu hồi đất, trưng dụng đất, giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất

1.3 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước trên Thế giới và một số tỉnh, thành phố trong nước

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Mỹ

Nước Mỹ có diện tích tự nhiên khoảng 9,4 triệu km2, dân số hơn 300 triệu, đất

đô thị chuyên dùng chiếm 11,9% diện tích tự nhiên Là một quốc gia phát triển, Mỹ

Trang 23

có hệ thống pháp luật về đất đai rất phát triển có khả năng điều chỉnh được các quan

hệ xã hội đa dạng và phức tạp nhất

Luật đất đai của Mỹ quy định công nhận và khuyến khích quyền sở hữu tư nhân về đất đai; các quyền này được pháp luật bảo hộ rất chặt chẽ như là một quyền

cơ bản của công dân Cho đến nay có thể thấy, các quy định này đang phát huy rất

có hiệu quả trong việc phát triển kinh tế đất nước, vì nó phát huy được hiệu quả đầu

tư để nâng cao giá trị của đất đai và làm tăng đáng kể hiệu quả sử dụng đất trong phạm vi toàn xã hội

Mặc dù công nhận quyền sở hữu tư nhân, nhưng luật đất đai của Mỹ vẫn khẳng định vai trò ngày càng lớn và có vị trí quyết định của Nhà nước trong quản lý đất đai Các quyền định đoạt của Nhà nước bao gồm: Quyền quyết định về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyền quy định về quy hoạch kiến trúc đô thị và công trình xây dựng; quyền quy định về mục đích sử dụng đất; quyền xử lý các tranh chấp về quyền sử dụng đất và quyền ban hành các quy định về tài chính đất; quyền thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân để phục vụ các lợi ích công cộng trên cơ sở đền bù công bằng cho người bị thu hồi Về bản chất quyền sở hữu tư nhân về đất đai ở Mỹ cũng chỉ tương đương quyền sử dụng đất ở Việt Nam [13]

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Theo Trung Quốc, quốc gia này đang xây dựng mô hình phát triển theo hình thái xã hội XHCN mang đặc sắc Trung Quốc Với dân số đông nhất thế giới (1,3 tỷ người năm 2005), trong đó dân số nông nghiệp chiếm gần 80% Tổng diện tích đất đai toàn quốc là 9.682.796 km2, trong đó diện tích đất canh tác là trên 100 triệu ha, chiếm 7% diện tích đất canh tác toàn thế giới Trung Quốc bắt đầu công cuộc công nghiệp hóa từ năm 1978, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và cách mạng công nghiệp, tốc độ đô thị hóa ở Trung Quốc cũng diễn ra rất mạnh mẽ Vì vậy, việc giải quyết quan hệ xã hội về đất đai ở Trung Quốc là rất đáng quan tâm Quản lý đất đai

ở Trung Quốc có một số đặc điểm nổi bật:

Một là, về quan hệ sở hữu đất đai, đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong đó toàn bộ đất đai thành thị

Trang 24

thuộc về sở hữu nhà nước Đất nông thôn và ngoại ô thành phố, ngoài đất do pháp luật quy định thuộc về sở hữu nhà nước, còn lại là sở hữu tập thể

Hai là, về quy hoạch sử dụng đất Luật pháp Trung Quốc quy định, Nhà nước

có quyền và có trách nhiệm xây dựng quy hoạch sử dụng đất trong phạm vi cả nước

và trong từng cấp chính quyền theo đơn vị hành chính lãnh thổ Đối với đất đai thành thị, Nhà nước tiến hành quản lý bằng quy hoạch Quy hoạch tổng thể thành phố là kế hoạch có tính tổng thể, lâu dài, chiến lược và chỉ đạo về phát triển kinh tế

và xã hội với các công trình xây dựng của thành phố

Ba là, về công tác thông kê, phân loại đất đai Luật quản lý đất đai của Trung Quốc quy định, đất đai được chia thành các loại chính sau: Đất dùng cho nông nghiệp, đất xây dựng, đất chưa sử dụng

Bốn là, về tài chính đất Ở Trung Quốc không có hình thức giao đất ổn định lâu dài không thời hạn, do đó, Luật quy định Nhà nước thu tiền khi giao đất, người

sử dụng đất phải nộp đủ tiền sử dụng đất cho Nhà nước mới được thực hiện các quyền; Nhà nước coi việc giao đất thu tiền là biện pháp quan trọng để tạo ra nguồn thu ngân sách đáp ứng nhu cầu về vốn để phát triển [13]

1.3.1.3 Kinh nghiệm của Pháp

Pháp là quốc gia phát triển, tuy thể chế chính trị khác nhau, nhưng ảnh hưởng của phương pháp tổ chức quản lý trong lĩnh vực đất đai của Pháp còn khá rõ đối với nước ta Vấn đề này có thể lý giải vì Nhà nước Việt Nam hiện đang khai thác khá hiệu quả những tài liệu quản lý đất đai do chế độ thực dân để lại, đồng thời ảnh hưởng của hệ thống quản lý đất đai thực dân còn khá rõ nét trong ý thức của một bộ phận công dân Việt Nam hiện nay Quản lý đất đai của Pháp có một số đặc trưng là:

Về chế độ sở hữu trong quan hệ đất đai, Luật pháp quy định quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Ở Pháp hiện còn tồn tại song hành hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu tư nhân về đất đai và sở hữu nhà nước đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng Tài sản công cộng bao gồm cả đất đai công cộng có đặc điểm là không được mua và bán Trong trường hợp cần sử dụng đất cho các mục

Trang 25

đích công cộng, Nhà nước có quyền yêu cầu chủ sở hữu đất đai tư nhân nhường quyền sở hữu thông qua chính sách bồi thường thiệt hại một cách công bằng

Về công tác quy hoạch đô thị, do đa số đất đai thuộc sở hữu tư nhân, vì vậy để phát triển đô thị, ở Pháp công tác quy hoạch đô thị được quan tâm chú ý từ rất sớm

và được thực hiện rất nghiêm ngặt Ngay từ năm 1919, Pháp đã ban hành Đạo luật

về kế hoạch đô thị hóa cho các thành phố có từ 10.000 dân trở lên Năm 1973 và năm 1977, Nhà nước Pháp đã ban hành các Nghị định quy định các quy tắc về phát triển đô thị, là cơ sở để ra đời Bộ Luật về chính sách đô thị Đặc biệt, vào năm

1992, ở Pháp đã có Luật về phân cấp quản lý, trong đó có sự xuất hiện của một tác nhân mới rất quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước về quy hoạch đó là cấp xã Cho đến nay, Luật Đô thị ở Pháp vẫn không ngừng phát triển, nó liên quan đến cả quyền sở hữu tư nhân và sự can thiệp ngày càng sâu sắc hơn của Nhà nước, cũng như của các cộng đồng địa phương vào công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch đô thị Nó mang ý nghĩa kinh tế rất lớn thông qua việc điều chỉnh mối quan

hệ giữa các ngành khác nhau như bất động sản, xây dựng và quy hoạch lãnh thổ…

Về công tác quản lý nhà nuộc đối với đất đai, mặc dù là quốc gia duy trì chế

độ sở hữu tư nhân về đất đai, nhưng công tác quản lý về đất đai của Pháp được thực hiện rất chặt chẽ Điều đó được thể hiện qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính Hệ thống hồ sơ địa chính rất phát triển, quy củ và khoa học, mang tính thời

sự để quản lý tài nguyên đất đai và thông tin lãnh thổ, trong đó thông tin về từng thửa đất được mô tả đầy đủ về kích thước, vị trí địa lý, thông tin về tài nguyên và lợi ích liên quan đến thửa đất, thực trạng pháp lý của thửa đất Hệ thống này cung cấp đẩy đủ thông tin về hiện trạng sử dụng đất, phục vụ nhiệm vụ quy hoạch, quản

lý và sử dụng đất có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, đảm bảo cung cấp thông tin cho hoạt động của ngân hàng và tạo cơ sở xây dựng hệ thống thuế đất và bất động sản công bằng [13]

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số thành phố trong quá trình đô thị hóa

1.3.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Là đô thị đặc biệt, vì vậy công tác QLNN về đất đai của Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình Đô thị hóa có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế

của Thành phố

Trang 26

Hệ thống hồ sơ địa chính của Thành phố cơ bản được xây dựng khá bài bản, toàn Thành phố đã được đo đạc và thành lập bản đồ địa chính chính quy và không chính quy ở các tỷ lệ 1/500 và 1/1000 Thành phố cũng đã xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các giai đoạn và đã được Chính phủ phê duyệt Vào năm 2005, Thành phố đã công bố cơ bản hoàn thành công tác triển khai cấp GCNQSDĐ và quyền sở hữu nhà ở tại đô thị Nhìn chung các văn bản của Thành ủy và UBND Thành phố đã góp phần ổn định công tác quản

lý đất đai ở địa phương uy nhiên, cũng như tình hình chung của các tỉnh, thành phố trong

cả nước, công tác Quản lý Nhà nước về đất đai, đô thị ở Thành phố cũng có rất nhiều bức xúc, phức tạp Thị trường bất động sản trong khu vực Thành phố có chiều hướng “trầm lắng” do nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là do yếu tố đầu cơ của một số tổ chức và cá nhân, đồng thời do hệ thống văn bản Pháp luật hiện hành chưa đồng bộ và chưa có khả năng đáp ứng được yếu cầu của tình hình thực tế xã hội hiện nay [5]

1.3.2.2 Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng

Là Thành phố cảng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, thành phố Hải Phòng trong nhiều năm qua, QLNN về đất đai có nhiều vấn đề phức tạp Hải Phòng là nơi

có nhiều điểm nóng về khiếu kiện tranh chấp đất đai rất gay gắt Nguyên nhân cơ bản là do trong quá trình Đô thị hóa , giá đất bị đẩy lên rất cao, trong khi Thành phố chưa có biện pháp kiên quyết để ngăn chặn kịp thời tình trạng vi phạm Pháp luật Đặc biệt tình trạng tự

ý chuyển mục đích sử dụng đất khác thành đất ở, mua bán đất đai trái quy định của Pháp luật diễn ra khá phổ biến Hệ thống hồ sơ địa chính không được lưu trữ đầy đủ và cập nhật thường xuyên Vì vậy, công tác QLNN về đất đai gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là thiếu thông tin pháp lý về nguồn gốc sử dụng đất làm cơ sở để thực hiện giao đất, đền bù thiệt hại về đất và xử lý các vi phạm Pháp luật trong quản lý sử dụng đất Từ năm 1993 đến

2002, Thành phố đã ban hành 12 văn bản thể chế hóa các quy định của Luật và Nghị định của Chính phủ để triển khai công tác QLNN về đất đai trên địa bàn

Công tác lập quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển đô thị được triển khai chậm do Thành phố chưa có sự đầu tư thỏa đáng Đến năm 2001, HĐND Thành phố đã ban hành Nghị quyết số 20/NQ-HĐND ngày 05 tháng 07 năm 2001 “Thông qua quy hoạch sử dụng đất thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000 – 2010” Theo quy hoạch này đến năm 2010, diện tích đất chuyên dùng của Thành phố sẽ tăng 2.062 ha, chủ yếu lấy từ các

Trang 27

loại đất nông nghiệp: 1.176 ha, đất lâm nghiệp: 528 ha… Cũng như một số tỉnh, thành phố phía Bắc, công tác QLNN về đất đai của Thành phố sau khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực

cơ bản dần ổn định Tuy nhiên việc khai thác, sử dụng đất còn kém hiệu quả và việc triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất còn chậm, do công tác bồi thường GPMB còn nhiều vướng mắc, thị trường bất động sản khá trầm lắng Từ năm 2003 đến nay, công tác triển khai cấp GCNQSDĐ còn chậm, cả về cấp GCNQSDĐ ở và cấp GCNQSDĐ cho các đơn

vị sử dụng đất, đây là một nược điểm lớn của QLNN về đất đai ở thành phố Hải Phòng [9]

1.4 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Tình hình đô thị hóa trên Thế giới

Quá trình đô thị hóa diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế xã hội Ở đó trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội

Quá trình đô thị hóa là một quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội, văn hóa không gian kiến trúc, nó gắn liền với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển của ngành nghề mới

Quá trình đô thị hóa được chia thành 3 thời kỳ:

1.4.1.1 Thời kỳ tiền công nghiệp (trước thế kỷ XVIII)

Đô thị hóa phát triển mang đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp, các đô thị phân tán, quy mô nhỏ lẻ, phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu đơn giản Tính chất chủ yếu là hành chính, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

1.4.1.2 Thời kỳ công nghiệp (từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX)

Lúc này các đô thị phát triển mạnh, song song với quá trình công nghiệp hóa Cách mạng công nghiệp đã làm cho nền văn minh đô thị phát triển nhanh chóng, sự tập trung sản xuất và dân cư đã tạo ra những đô thị cực lớn, tập trung nhiều dân cư

1.4.1.3 Thời kỳ hậu công nghiệp

Sự phát triển của công nghệ đã làm thay đổi cơ cấu, trình độ sản xuất và phương thức sinh hoạt trong các đô thị Lúc này không gian đô thị có cơ cấu phức tạp, quy mô lớn, hệ thống tổ chức dân cư đô thị phát triển theo cụm, chuỗi,…

Nhìn chung sự vận động của quá trình đô thị hóa là rất phức tạp, đa dạng và khác biệt Tuy có những quy luật chung về biểu hiện theo các lý thuyết đã tổng kết

Trang 28

như sự chuyển đổi nghề nghiệp, tăng dân cư, phát triển kinh tế, mở rộng đô thị…nhưng những sự khác biệt theo bối cảnh ở từng khu vực kinh tế, văn hóa, địa

lý là rất rõ nét

Trong khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỷ lệ dân số đô thị toàn thế giới từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17,8% lên đến 40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% đến 76,1%

Qua các giai đoạn đô thị hóa , vai trò của lý luận đối với thực tiễn có khác nhau Trong thời kỳ văn minh công nghiệp nhiều thành phố lớn châu Âu đã phải trả giá về các vấn đề xã hội, môi trường do chưa thấy rõ những biến đổi có tính quy luật của đô thị hóa

Các nước đang phát triển tại châu Mỹ La Tinh, châu Á gặp rất nhiều khó khăn

do chưa kiểm soát được quá trình đô thị hóa Quy luật của sự tập trung dân cư vào

đô thị lớn, tốc độ đô thị hóa quá nhanh trong khi khả năng xây dựng hạ tầng có hạn tạo nên nhiều hậu quả xấu phải khắc phục rất lâu dài Các vấn đề về xã hội nảy sinh trong quá trình đô thị hóa cũng chưa được dự báo trước và có các chính sách phù hợp Giai đoạn 1945-1980 là điển hình của quá trình đô thị hóa có nhiều mâu thuẫn Gần đây với sự nỗ lực của các chính sách đô thị, quá trình đô thị hóa ở nhiều nước đã có xu hướng phát triển bền vững Nhiều dự báo tiêu cực về các đô thị khổng lồ ở châu Á, Mỹ La Tinh đã không thành hiện thực (thành phố Mexico) Với tốc độ phát triển kinh tế tốt, hạ tầng kỹ thuật cải thiện, khả năng kiểm soát phát triển

đô thị của các quốc gia ngày càng tốt hơn

Những lý luận về các dòng đô thị hóa mới như “hiện tượng đảo cực”, “phi đô thị hóa ”, “đô thị hóa khác biệt” đến nay ở một số nước phát triển đã sớm được đúc kết từ những phát hiện trong thực tiễn đóng góp cho công tác quy hoạch và phát triển đô thị

Gần đây cho thấy quá trình đô thị hóa của các thủ đô hiện nay chịu tác động mạnh của 3 yếu tố mới đó là: Toàn cầu hóa - Công nghệ cao - Văn hóa Hình thành thành phố thế giới, thành phố công nghệ cao, chú trọng khía cạnh sinh thái là những

xu thế phát triển của các đô thị lớn

Hiện tại tỷ lệ Đô thị hóa ở châu Á là 35%, châu Âu 75%, châu Phi 45%, Bắc

Mỹ 90% và 80% ở Mỹ La Tinh Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong 1/4 thế kỷ

Trang 29

tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phần lớn thuộc các nước kém phát triển Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống ở các đô thị (Trịnh Duy Luân, 1996)

Tuy nhiên mỗi quốc gia cũng đang có những nhận thức khác nhau ở từng góc

độ Hệ thống lý luận còn chưa được cụ thể hóa nên mỗi quốc gia cần phải nắm bắt được quy luật để xây dựng các chiến lược phù hợp tạo nên sự phát triển mang tính bền vững cao

Theo “dân số và tiến trình đô thị hoá động thái phát triển và triển vọng” của phó tiến sĩ Trần Cao Sơn, số lượng các tụ điểm được coi là lớn nhất các thành phố có số dân

10 triệu trở lên cũng tăng lên nhanh chóng Năm 1950 chỉ có New York (Mỹ) đạt mức

độ này nhưng 20 năm sau (1970) có thêm Tokyo (Nhật Bản) và Thượng Hải (Trung Quốc), con số này còn tăng lên 13 thành phố vào năm 1990 [11]

Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH-HĐH Song

sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng… Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:

- Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra thành thị trong đó yêu cầu nhất thiết phải nâng cao mức sống nông thôn

- Khi tập trung quá tải cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hoà dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng CSHT, có cơ sở xã hội

Trang 30

nước Chỉ trong vòng 15 năm (1975-1990), các thành phố vệ tinh của Xơ-un đã tăng

từ 4 (Kung-nam, Ư-giông-bu, An-yang, Bu-chon) với số dân là 7.514 người lên 11 thành phố (thêm các thành phố Koan-mi-ung, Koa-che-on, Ku-ri, Si-hung, Kun-po, I-oan, Ha-nam) với dân số là 13.431 người Đây là một kỳ tích mà chưa quốc gia châu Á nào đạt được Các thành phố vệ tinh của Xơ-un nằm cách trung tâm 40km, được nối bằng hệ thống tàu điện ngầm và đường cao tốc Cho đến năm 1990, 45% dân số của Hàn Quốc tập trung sống ở vùng đô thị Xơ-un Những khu định cư mới dành cho tầng lớp trung lưu được hình thành xung quanh Xơ-un từ sau năm 1980 như vùng Bun-dang, I-li-xan, Py-ung-chon, hình thành nên một khuynh hướng mới trong việc sử dụng các chung cư cao tầng

Kinh tế đô thị phát triển đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế nông nghiệp và nông thôn ven đô của các đô thị lớn Cơ cấu kinh tế nông thôn được chuyển dịch theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp Điều này góp phần điều chỉnh cơ cấu các ngành kinh tế của các đô thị lớn theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ trong giá trị tổng sản phẩm quốc nội Các đô thị là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, thúc đẩy tỷ trọng GDP ngày càng tăng Chỉ tính riêng một số vùng đô thị lớn như Xơ-un, Pu-san và Kung-nam đã cung cấp 66% vào GDP chung của cả nước

Sau hơn 35 năm đô thị hóa (1970 - 2007), Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kể: xây dựng và phát triển những khu đô thị lớn, trung tâm công nghiệp khổng lồ với hơn 88% dân số sống ở đô thị

Đi cùng với tốc độ đô thị hóa ở Hàn Quốc là sự gia tăng dân số tại các thành phố lớn như Xơ-un (năm 1960 tăng 2.445 người, đến năm 1990 tăng 10.613 người), Pu-san (những con sô tương ứng là 1.163 người, và 3.798 người), Ti-gu (là 676 người, và 2.229 người); các thành phố còn lại có tốc độ tăng dân số đô thị từ 3 đến 5 lần kể từ năm 1970

Đô thị hóa bền vững góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, gia tăng xã hội hóa giáo dục, dịch vụ y tế và văn hoá xã hội, mở rộng quy mô và chất lượng của

hệ thống cơ sở hạ tầng ở nông thôn Hàn Quốc đạt được những thành công nhất

Trang 31

định như vậy, trước hết phải kể đến vai trò chỉ đạo của chính phủ trong việc tập hợp mọi nguồn lực trong nước cho công cuộc đô thị hóa đất nước Thứ hai là những chiến lược phát triển cụ thể được vạch định phù hợp với khả năng của từng địa phương, tận dụng mọi cơ hội để tăng trưởng kinh tế, lấy mục tiêu tăng trưởng và xuất khẩu làm nhiệm vụ trọng tâm của mọi kế hoạch kinh tế Thứ ba là vai trò quan trọng của văn hóa truyền thống đã tạo nên một đội ngũ lao động giỏi, tính kỷ luật cao, một nền công nghiệp đồ sộ có cơ cấu quản lý chuyên biệt [10]

1.4.2.2 Singapore

Nền kinh tế đảo Sigapore phụ thuộc chủ yếu vào xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ để hỗ trợ sự phát triển của nó Singapore đang dẫn đầu sự phát triển về nâng cấp nhà ở, quản lý môi trường và giao thông Sơ lược dưới đây là 3 trường hợp tốt

về giải pháp phát triển đô thị bền vững:

Từ nhà ổ chuột đến cuộc sống có chất lượng Cung cấp khả thi nhà ở cho lượng dân cư đô thị tăng trưởng luôn luôn là thử thách cho rất nhiều đô thị Đến năm 2005, gần như toàn bộ nhà tạm ở Singapore đã được giải toả, 3,2 triệu dân (84%) được cung cấp chỗ ở đảm bảo, kể cả 92% sở hữu nhà ở do nhà nước cung cấp Hơn 850.000 đơn vị nhà ở công cộng trong 23 đô thị mới được xây dựng và tình trạng thiếu nhà ở đã không tồn tại Đầu tiên, chính phủ tham gia và đóng vai trò chính để tổ chức các điều kiện cho phát triển và sử dụng nhà ở công cộng Tổ chức nhà ở quốc gia, Ban nhà ở và phát triển được thành lập với năng lực về pháp lý, đất đai và tài chính để triển khai chương trình nhà ở công cộng Thông qua chương trình này, nhà ở kém chất lượng, chật chội và nhà ở dân sự xây tạm thời trong các khu ổ chuột dần dần bị xoá bỏ và thay thế bằng chung cư cao tầng với hệ thống dịch

vụ công cộng đầy đủ

Phát triển tốc độ cao Từ những năm 1960, Singapore đã chuyển đổi từ chỗ không

có hoặc rất ít quan tâm đến quy hoạch giao thông, đến quy hoạch giao thông với xu hướng giải quyết tình thế và quy hoạch giao thông theo tầm nhìn Từ những năm 1990, Singapore đã trở thành một đô thị nhiệt đới lý tưởng tầm cỡ quốc tế về hạ tầng và tiện nghi xã hội Thành phố đã thực hiện những giải pháp đa dạng, bao gồm:

Trang 32

- Việc phối hợp giữa quy hoạch sử dụng đất và giao thông, phát triển các khu

đa chức năng nhằm giảm thiểu nhu cầu đi lại;

- Mở rộng mạng lưới đường và tối đa hoá công suất đường phố thông qua hệ thống giao thông thông minh;

- Quản lý nhu cầu sử dụng đường phố thông qua việc kiềm chế sở hữu và sử dụng phương tiện tư nhân;

- Cung cấp việc lựa chọn giao thông công cộng chất lượng cao, kể cả xe chạy nhanh, đường sắt đô thị và hỗn hợp nhằm hạn chế sử dụng xe cá nhân

Đưa thiên nhiên vào với đô thị Singapore có chủ trương giảm bớt áp lực của

đô thị hoá và công nghiệp hoá vào môi trường và xây dựng nhanh chóng đô thị thành những địa điểm tốt hơn cho cuộc sống Là một mục tiêu của Chính phủ, việc phát triển thành phố vườn của Singapore được kiên trì theo đuổi như một dự án của nhà nước với sự hỗ trợ của thể chế, tài chính và luật lệ Chính sách quốc gia là giữ gìn Singapore: "sạch và xanh”, mọi hoạt động đều kết hợp sự tham gia của cộng đồng vào làm đẹp thành phố Ba chiến lược chính được đề xuất để tăng cường độ

“xanh” trong môi trường đô thị là:

- Có nhiều hơn công viên và vườn hoa;

- Chăm sóc cẩn thận thực vật tự nhiên;

- Đưa môi trường tự nhiên vào gần hơn các khu vực đô thị Các giải pháp có thể kể đến là “mảng xanh liên tục” nối liền các công viên với nhau; “mảng xanh thẳng đứng” trên các tường và nóc nhà cao tầng, trồng cây ăn quả tại các vườn hoa khu chung cư và khuyến khích các trường học cũng như các tổ chức cộng đồng có thái độ làm chủ khi tham gia sáng kiến thành phố vườn

Kế hoạch làm xanh Singapore đến 2012 khẳng định thành phố không chấp nhận phát triển kiểu rừng bê tông và không bền vững như vẫn thường thấy [9]

1.4.3 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam

* Thời kỳ từ năm 1975 đến trước đổi mới

Trong giai đoạn này, quá trình Đô thị hóa hầu như không có biến động, phản ánh nền kinh tế còn trì trệ

Trang 33

* Thời kỳ từ sau đổi mới

Dưới tác động của công cụ đổi mới, cải tổ nền kinh tế theo định hướng thị trường thì cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ cấu lao động, nghề nghiệp cũng như khuôn mẫu của đời sống đô thị đã và đang diễn ra những biến đổi quan trọng

Quá trình Đô thị hóa đã có những chuyển biến nhanh hơn, đặc biệt trong những năm gần đây tình hình CNH đang diễn ra mạnh mẽ Tốc độ Đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra khá nhanh: 18,5% (năm 1989), 20,5% (năm 1997), 23,65% (năm 1999) và 25% (năm 2004) [7] Về số lượng đô thị, năm 1990, cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã có 703 đô thị, trong đó: 2 đô thị có quy mô dân số trên 3 triệu người, 15 đô thị quy mô dân số từ 25 vạn đến 3 triệu người, 74 đô thị có quy mô dân số từ 5 vạn đến 25 vạn người và các đô thị còn lại có quy mô dân số dưới 5 vạn người [1]

Tuy vậy Đô thị hóa ở Việt Nam còn ở mức thấp so với khu vực và trên thế giới Đô thị hóa cũng làm nảy sinh những mặt tiêu cực sau:

- Việc mở rộng không gian đô thị đang có nguy cơ làm giảm diện tích đất nông nghiệp Theo Hội Nông dân Việt Nam, trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, CSHT, mỗi năm Việt Nam có gần 200 nghìn ha đất nông nghiệp

bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm [2]

- Dân số đô thị tăng nhanh đã làm hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị bị quá tải, đặc biệt là tình trạng yếu kém của hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn…

- Tốc độ phát triển quá nhanh của đô thị đã vượt khả năng điều hành của chính quyền địa phương

- Vấn đề đói nghèo và thất nghiệp đang diễn ra ở các đô thị Sự thiếu hiểu biết của người dân kéo theo sự mất an toàn xã hội

Trước những thách thức trên, quá trình Đô thị hóa đã được Chính phủ quan tâm kịp thời Ngày 23 tháng 01 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

“Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị đến năm 2020” trong quyết định

Trang 34

số 10/1998/QĐ-TTg, trong đó xác định phương hướng xây dựng và phát triển các

đô thị trên địa bàn cả nước và các vùng đặc trưng [3]

1.4.4 Những nghiên cứu về đô thị hóa trên Thế giới và Việt Nam

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các hình thái đô thị và quá trình Đô thị hóa trên thế giới và khu vực

Từ cuối thế kỷ XIX, Cerda - kỹ sư người Catalan vẽ quy hoạch thành phố Barcelone, đặt ra thuật ngữ “urbanisacion” (sau này đã có trong tiếng Pháp:

“urbanization” – đô thị hoá) Ông tin rằng Đô thị hóa là một kế hoạch và tồn tại nhiều nguyên lý cơ bản chi phối sự kiến thiết một đô thị Ông cũng ý thức về tầm quan trọng của việc quản lý thành phố một cách toàn diện với sự huy động kế hoạch

về nhiều lĩnh vực của quản lý đô thị [1] Trong nửa đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu khoa học đã có những quyết định khác nhau về các mô hình đô thị Năm 1925, nhà xã hội học Ernest Burgess (Mỹ) đã đem ra “mô hình làn sóng điện” Theo mô hình này thì thành phố chỉ có một trung tâm và 5 vùng đồng tâm Đặc điểm chung của mô hình đô thị này là tất cả các lĩnh vực đều có xu hướng mở rộng “Mô hình thành phố đa cực” được hai nhà địa lý Marris và Ullman đưa ra vào năm 1945 Mô hình chủ yếu tính đổi các dạng đô thị mới phát sinh do sự phát triển của phương tiện giao thông [15] Vào năm 1939, “mô hình phát triển theo khu vực” do chuyên gia địa chính Hamer Hoyt đưa ra chủ yếu tính đến các dạng đô thị phát triển với sự hiện đại hoá các quá trình giao thông và nhiều thành phần phát triển theo kiểu khu phố

Có thể nói đây là hệ thống hoàn chỉnh nhất vì nó đã tính đến các trục giao thông lớn

Có nhiều quan điểm khác nhau trong quá trình phát triển đô thị Francois Perrous với quan điểm “thuyết kinh tế chủ đạo” hay còn gọi là “thuyết về các cực tăng trưởng” Ông cho rằng chỉ ở trung tâm đô thị của hai vùng có sự phát triển các ngành công nghiệp, có sức bành chướng mạnh mới có khả năng tăng trưởng lớn nhất Nông nghiệp trọng tâm đô thị ấy là những cực tăng trưởng Đây chính là quan điểm phát triển đô thị lấy tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm Tuy nhiên, theo nghiên cứu của David C Korkn cần phát triển đô thị lấy con người làm trung tâm Ông cho rằng “phát triển là một tiến trình quá trình qua đó các thành viên của xã hội tăng được khả năng cá nhân và định chế của mình để huy động các nguồn lực, tạo ra

Trang 35

những thành quả bền vững và được phân phối công bằng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với cuộc sống của họ” [1]

Trong nững năm gần đây các ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng đã có những công trình nghiên cứu về Đô thị hóa ở Việt Nam Đó là các nghiên cứu về

“tác động kinh tế xã hội và môi trường của quá trình đô thị hoá đối với các vùng nông thôn xung quanh các đô thị lớn”, nghiên cứu “tri thức, thái độ hành vi ứng xử của cộng đồng đối với vấn đề rác thải, môi trường đô thị…” [7]

Những đề tài nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan liên quan đến việc hoạch định cuộc sống, kế hoạch và quá trình phát triển đô thị nói trên

và cuộc sống, quan hệ phát triển kinh tế - xã hội nói chung Tháng 11/2004, Bộ Xây dựng đã tổ chức các hội nghị nhằm trao đổi chiến lược phát triển đô thị gắn với xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam, đây là một chiến lược quan trọng mà Việt Nam đang tích cực triển khai thực hiện [3]

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quá trình đô thị hóa tại thành phố Cao Bằng

- Tình hình sử dụng đất tại thành phố Cao Bằng

- Đời sống kinh tế hộ nông dân tại thành phố Cao Bằng

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn thành phố Cao Bằng gồm 3 phường

và 1 xã (phường Đề Thám, phường Sông Hiến, phường Ngọc Xuân và xã Hưng Đạo)

- Phạm vi thời gian: 05 năm (từ năm 2011 đến năm 2015)

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: thành phố Cao Bằng

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 11 năm 2017

2.3 Nội dung nghiên cứu

* Nội dung 1: Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Cao Bằng

- Điều kiện tự nhiên

- Kinh tế - xã hội

* Nội dung 2: Đánh giá thực trạng đô thị hóa trên địa bàn thành phố Cao Bằng giai đoạn 2011 - 2015

- Sự tập trung dân số tại các khu vực

- Sự phát triển kinh tế xã hội

- Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp

- Quá trình phát triển cơ sở hạ tầng

- Hiện trạng sử dụng đất tại thành phố Cao Bằng

* Nội dung 3: Đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa tớí việc sử dụng đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng

- Tình hình sử dụng đất

Trang 37

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập các thông tin liên quan đến quá trình nghiên cứu của đề tài gồm: Tư liệu tại các cơ quan quản lý, các đơn vị nghiên cứu khoa học như các Trường Đại học, các Viện nghiên cứu trong và ngoài nước Tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan nhà nước, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng NN & PTNT, phòng Thống kê, phòng Kế hoạch - Tài chính, UBND thành phố và UBND các xã, thị trấn Tiến hành điều tra bổ sung ngoài thực địa để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế và chuẩn hoá các số liệu

2.4.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ và người dân:

+ Xây dựng bộ câu hỏi điều tra

+ Phỏng vấn trực tiếp 100 người dân đã bị thu hồi đất tại 3 phường và 1 xã gồm phường Đề Thám, phường Sông Hiến, phường Ngọc Xuân và xã Hưng Đạo, mỗi phường, xã điều tra 25 phiếu Đây là các phường xã có tốc độ đô thị hóa cao trong toàn thành phố

2.4.3 Phương pháp chuyên gia

Sử dụng ý kiến của các chuyên gia để xây dựng phương án khoa học trên cơ

sở những kinh nghiệm quý giá về thực tiễn của quản lý, sử dụng đất bền vững theo

Trang 38

hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vận dụng một cách chọn lọc vào các nội dung nghiên cứu của đề tài

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Trên cơ sở số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành tổng hợp, phân tích so sánh

để biết được sự biến động sử dụng đất qua các năm để rút ra kết luận

Các số liệu được thống kê được xử lý bằng phần mềm Excel và thành lập được

các bảng biểu số liệu

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Cao Bằng là trung tâm hành chính, kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Cao Bằng, có vị trí tọa độ: 220 42’ đến 220 34’ Vĩ độ Bắc và 1060 10’ đến

1060 21’ Kinh độ Đông Tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính là

10.711,63 ha, có vị trí giáp ranh như sau:

- Phía Bắc giáp các xã Ngũ Lão và Bế Triều huyện Hoà An

- Phía Nam giáp xã Hồng Nam huyện Hoà An, xã Kim Đồng và xã Canh Tân huyện Thạch An

- Phía Đông giáp các xã Quang Trung và Hà Trì huyện Hoà An

- Phía Tây giáp các xã Lê Chung, xã Bạch Đằng và xã Hoàng Tung huyện Hoà An

Thành phố có 11 phường, xã, bao gồm: Phường Hợp Giang, Sông Bằng, Sông Hiến, Đề Thám, Ngọc Xuân, Hòa Chung, Tân Giang, Duyệt Trung và xã Vĩnh Quang, Hưng Đạo, xã Chu Trinh

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Thành phố Cao Bằng có địa hình dạng lòng máng thuộc vùng hợp lưu của sông Bằng, sông Hiến

Phần nội thị nằm trên bán đảo hình mu rùa, dốc về sông với độ dốc khoảng 0,8 - 1%, tạo nên bởi sông Bằng và sông Hiến Phần lãnh thổ còn lại của thành phố

có địa hình tương đối phức tạp, chia cắt mạnh với 3 dạng địa hình chính:

- Vùng đồng bằng: Nằm dọc theo sông Bằng, sông Hiến và các thung lũng ven các khe núi đổ về 2 sông

- Vùng đồi núi thấp: bao quanh thành phố bởi 3 phía Tây, Nam, Đông

- Vùng đồi núi cao: Tập trung ở phía Đông có địa hình đồi núi chia cắt mạnh,

độ dốc lớn

Trang 40

3.1.1.3 Khí hậu

- Thành phố Cao Bằng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm

có 4 mùa, nhưng hai mùa thể hiện rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

- Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp 210C Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tương đối cao Tháng nóng nhất trong năm là tháng 7 nhiệt độ trung bình là 260C, thấp nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình là 120C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 20C gây giá buốt ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng và chăn nuôi gia súc

- Lượng mưa trung bình năm 1.250 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5, 6, 7, 8, hàng năm trên địa bàn khu đo xuất hiện mưa đá từ 1 đến 3 lần, lượng mưa trong năm tuy không lớn nhưng lại tập trung nên thường xảy ra tình trạng lũ lụt, lũ quét, sạt lở cục bộ ở một số vùng

Độ ẩm không khí khá cao 83%, cao nhất vào các tháng 7, 8, 9 từ 84 ÷ 86% thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 năm sau Nhìn chung độ ẩm không khí trên địa bàn khu đo không có sự chênh lệch nhiều giữa các tháng trong năm

3.1.1.4 Thủy văn

Chảy qua địa bàn thành phố là 2 con sông chính, sông Bằng và Sông Hiến Sông Bằng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chiều dài chảy qua thành phố là 24,7km, lưu lượng dòng chảy trung bình là 72,50 m3/s Sông Hiến chảy theo hướng Nam - Bắc, đoạn qua thành phố dài khoảng 8,2 km Ngoài ra còn có hệ thống sông, suối nhỏ chảy vào hai sông lớn kể trên

Do ảnh hưởng của địa hình lòng máng và đặc thù của sông, suối thường ngắn, hẹp lòng, độ dốc lớn, hàng năm vùng ven sông Bằng và sông Hiến thường bị ngập úng vào mùa lũ và hạn hán vào mùa cạn gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của người dân

3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên đất:

Nhìn chung tài nguyên đất của thành phố Cao Bằng khá phong phú Theo kết quả tổng hợp trên bản đồ thổ nhưỡng 1/25.000 thì trên địa bàn thành phố có 8 loại đất chính: Đất phù sa (P): có diện tích là 1.190 ha, chiếm 11,52% diện tích tự nhiên

Ngày đăng: 06/04/2018, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w