1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của bổ sung dầu hạt lanh vào khẩu phần đến năng suất và chất lượng chứng gà ISA SHAVER

87 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN VĂN SƠN ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG DẦU HẠT LANH VÀO KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ ISA SHAVER LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI THÁI NGUYÊN - 201

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN SƠN

ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG DẦU HẠT LANH

VÀO KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT

VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ ISA SHAVER

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN SƠN

ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG DẦU HẠT LANH

VÀO KHẨU PHẦN ĐẾN NĂNG SUẤT

VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG GÀ ISA SHAVER

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Từ Trung Kiên

TS Nguyễn Văn Đại

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn có các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 11 năm 2017

Người thực hiện

Nguyễn Văn Sơn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 2 năm học tập, với nỗ lực của bản thân, cùng với sự giúp

đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay luận văn của tôi

đã được hoàn thành Tôi xin chân thành cảm ơn:

PGS.TS Từ Trung Kiên, TS Nguyễn Văn Đại đã tận tình, chu đáo, hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên, Phòng Đào tạo sau đại học; Khoa Chăn nuôi - Thú y đã tạo điều kiện để tôi học tập, tiếp thu kiến thức của chương trình học

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể, cá nhân trong Trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên giúp đỡ

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 11 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Sơn

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Khả năng sinh sản của gia cầm 4

1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm 6

1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gà 13

1.2 Những hiểu biết về gà đẻ trứng thương phẩm Isa shaver 15

1.3 Lipit trong thức ăn chăn nuôi 16

1.3.1 Giới thiệu chung 16

1.3.2 Vai trò của lipit với cơ thể động vật 17

1.3.3 Một số loại axit béo không no 17

1.4 Tình hình nghiên cứu bổ sung dầu vào thức ăn chăn nuôi 21

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21

1.4.2 Nghiên cứu trong nước 23

Trang 6

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

2.2 Nội dung 25

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 25

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 30

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 31

3.2 Khối lượng gà trước và sau thí nghiệm 32

3.3 Tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm 35

3.4 Năng suất trứng của gà thí nghiệm 38

3.5 Chất lượng trứng gà thí nghiệm 42

3.6 Thành phần hóa học và hàm lượng omega-3, omega-6, omega-9 trong trứng gà thí nghiệm 45

3.7 Ảnh hưởng của dầu hạt lanh đến độ đậm màu của lòng đỏ trứng 49

3.8 Khả năng tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm 52

3.9 Hiệu quả sử dụng và chuyển hóa thức ăn 52

3.10 Hiệu quả kinh tế 56

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

1 Kết luận 58

2 Đề nghị 59

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN……… 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

I Tài liệu tiếng Việt 61

II Tài liệu nước ngoài 63

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 26

Bảng 2.2 Thông tin về thành phần, hàm lượng dinh dưỡng thức ăn 27

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 31

Bảng 3.2 Khối lượng gà trước ở tuần thứ 49 và tuần thứ 56 33

Bảng 3.3 Tỷ lệ đẻ qua các tuần của gà thí nghiệm 35

Bảng 3.4 Năng suất trứng gà thí nghiệm qua các tuần đẻ 39

Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà thí nghiệm 43

Bảng 3.6 Thành phần hóa học và tỷ lệ omega-3, 6, 9 trong trứng gà 46

Bảng 3.7 Độ đậm màu lòng đỏ trứng ở các giai đoạn thí nghiệm 50

Bảng 3.8 Tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho 10 quả trứng 54

Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế trong thời gian làm thí nghiệm 56

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà trước và sau thí nghiệm 36Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ đẻ qua các tuần của gà thí nghiệm 40Hình 3.3 Đồ thị năng suất trứng gà thí nghiệm qua các tuần đẻ 41

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ngày nay, khi điều kiện kinh tế được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng của người dân thay đổi về chất, người tiêu dùng quan tâm nhiều đến chất lượng hơn là số lượng của sản phẩm, nhất là những sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe Những sản phẩm có tác dụng tốt cho sức khỏe, có tác dụng làm đẹp đang được người tiêu dùng đặc biệt quan tâm Một trong những chất đó là omega-3, omega-6 và omega-9; trong đó, omega-3 có thể giúp bảo vệ hệ tim mạch, làm tăng cholesterol có lợi trong máu, hạ huyết áp, làm đẹp da và bảo

vệ mắt…Trong thành phần của omega-3 có 3 loại axit béo: ALA, EPA, DHA

Axit α-linolenic (ALA) là một loại axit béo được tìm thấy ở thực vật Tương tự như các axit béo trong dầu cá, omega-3 là tiền chất của axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DHA) Ba loại axit này rất hiếm trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật ngoại trừ dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu hạt lanh Mặc dù có đôi chút khác biệt nhưng cơ thể động vật có thể biến đổi chúng thành axit béo omega-3 giống như loại có trong dầu

cá Thậm chí các nhà khoa học cho rằng axit béo omega-3 trong thực vật còn tốt hơn trong dầu cá vì axit béo omega-3 trong dầu cá có phản ứng phụ, làm cho các phân tử tế bào trở nên không ổn định, dễ sản sinh các gốc oxy tự do gây ung thư và làm xáo trộn insulin gây ra bệnh tiểu đường Vì vậy, việc thay thế chất béo động vật bằng nguồn chất béo thực vật không sinh cholesterol như dầu hạt hướng dương, dầu đậu nành, dầu hạt lanh là rất cần thiết để làm giảm lượng mỡ bụng và mỡ trong thân thịt (Newman và cs, 2002 [42]; Wongsuthavas và cs, 2008 [47])

Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về các ảnh hưởng của dầu hạt lanh đến năng suất, chất lượng trứng gà Xuất phát từ những vấn đề nêu trên,

chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của dầu hạt lanh đến

năng suất và chất lượng trứng gà isa shaver”

Trang 11

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được tỷ lệ bổ sung dầu hạt lanh thích hợp vào khẩu phần ăn của gà

- Xác định mức độ biến động sinh trưởng và năng suất trứng của gà đẻ khi bổ sung dầu hạt lanh vào khẩu phần

- Nâng cao giá trị dinh dưỡng, đặc biệt là tăng hàm lượng omega-3 trong trứng để cung cấp cho con người

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho lĩnh vực khoa học thức

ăn và dinh dưỡng gia cầm những thông tin cơ bản về việc sử dụng dầu hạt lanh trong thức ăn hỗn hợp để chăn nuôi gà sinh sản

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Bổ sung dầu hạt lanh vào thức ăn hỗn hợp của gà đẻ sẽ nâng cao năng suất và chất lượng trứng gà, đặc biệt cung cấp tỷ lệ thích hợp cho gà đẻ trứng nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị dinh dưỡng giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng, nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ và doanh nghiệp chăn nuôi

Làm cơ sở cho các nghiên cứu liên quan đến dinh dưỡng thức ăn cho gà

để tạo ra sản phẩm trứng gà có hàm lượng dinh dưỡng cao, bổ sung các thành phần dinh dưỡng khác giúp nâng cao khả năng thích ứng của con người trong điều kiện môi trường hiện nay và nâng cao khả năng kháng một số bệnh khác; đồng thời là một trong hướng đi mới trong việc sản xuất ra các sản phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu của nhân dân

Cung cấp cơ sở khoa học làm luận cứ để xây dựng, triển khai các kế hoạch sản xuất kinh doanh về sản phẩm trứng và các sản phẩm liên quan đến trứng; làm cơ sở để hạch toán chi phí thực tế và chi phí danh nghĩa, nhất là khâu xây dựng các đề tài, dự án thực nghiệm khoa học và dự án kinh tế,

Trang 12

khuyến khích các hoạt động nghiên cứu tiếp theo để tạo ra các sản phẩm thương mại từ trứng gà omega-3

Tạo điều kiện để các lĩnh vực hỗ trợ chăn nuôi phát triển như; chế tạo

dầu hạt lanh trong nước (hiện nay dầu hạt lanh chưa được sản xuất trong nước, do vậy nhu cầu sử dụng dầu hạt lanh phải thông qua nhập khẩu từ thị trường nước ngoài), chế tạo thiết bị bảo quản trứng, khai thác trứng, các sản

phẩm triết xuất, tách thành phần dinh dưỡng và công nghệ dinh dưỡng từ trứng gà omega-3 từ đó góp phần nâng cao tỷ trọng ngành chăn nuôi vào GDP của ngành nông nghiệp, đồng thời góp phần làm phong phú hơn các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp của nước ta

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Khả năng sinh sản của gia cầm

Sinh sản là chỉ tiêu rất được quan tâm trong công tác giống Ở các loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng có sự khác nhau rõ rệt

Sức đẻ trứng của gà là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá

khả năng sản xuất Sức đẻ trứng là số trứng thu được của mỗi đàn hoặc mỗi mái đẻ trong khoảng thời gian nhất định (một tháng, một mùa, một chu kỳ,

sau 10 tháng tuổi,…)

Theo Brandsch H và Bilchel H (1978) [3] thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng của 5 yếu tố chính: (1) Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục (2) Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng (3) Tần số thể hiện bản năng đòi ấp (4) Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông (5) Thời gian đẻ kéo dài hay chu

kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ)

Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống

và còn phụ thuộc vào điều kiện như: Chăm sóc, nuôi dưỡng, nhiệt độ môi trường, ánh sáng, các yếu tố tiểu khí hậu khác

Năng suất trứng của một cá thể gà là tổng số trứng đẻ ra trên một đơn

vị thời gian Đây là chỉ tiêu quan trọng, phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ và đặc điểm của cá thể Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh

Năng suất trứng được đánh giá qua cường độ đẻ và chu kỳ đẻ kéo dài

Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ cao và kéo dài trong thời kỳ sinh sản là giống tốt, nếu chế độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao Năng suất trứng/năm của một quần thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật,

Trang 14

cường độ đẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến hết năm đẻ

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Trong thời gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường Thời gian kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào

cường độ và thời gian chiếu sáng (Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ) Giữa các chu kỳ đẻ, gà thường có những khoảng

thời gian đòi ấp Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau Điều này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố như: Nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng Theo Brandsch

H và Bilchel H (1978) [3], nhiệt độ cao và bóng tối sẽ kích thích sự ham ấp, đồng thời yếu tố gen chịu tác động phối hợp giữa các gen thường và gen liên kết giới tính Trên cơ sở tỷ lệ đẻ hằng ngày hoặc tuần cho phép đánh giá một phần nào về chất lượng giống và mức độ ảnh hưởng của chế độ ngoại cảnh đến sự sản xuất của đàn giống Nghiên cứu của Brandsch H và Bilchel H cũng cho rằng gà thịt nặng cân đẻ ít hơn do tồn tại nhiều thể vàng nên lấn át buồng trứng thường xuyên hơn so với gà dòng trứng

Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gà thường hay nghỉ đẻ vào mùa đông do nguyên nhân giảm dần về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên Ngoài ra, sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn Thời gian nghỉ đẻ là tính trạng số lượng có hệ số di truyền cao, người ta có thể cải thiện di truyền bằng cách chọn lọc giống Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số trung bình chung của giống Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, tác động dinh dưỡng tới gà sinh sản Đồng thời khối lượng trứng lại quyết định tới chất lượng trứng giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng và sức sống của gà con Nó

là chỉ tiêu không thể thiếu của việc chọn lọc con giống

Trang 15

Theo Brandsch H và Bilchel H (1978) [3] cho biết: Trứng gia cầm khi bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm lúc trưởng thành Khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài, chiều rộng của quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [9] trong cùng một độ tuổi thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần Loại giống gà khác nhau thì khối lượng trứng khác nhau; khối lượng gà con khi nở thường bằng 62 - 78% khối lượng trứng ban đầu

1.1.2 Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm

Trứng gà có 3 phần cơ bản: Vỏ, lòng đỏ và lòng trắng Tỷ lệ các phần/khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6%; lòng trắng chiếm 57 - 60%; lòng đỏ chiếm 30 - 32% Thành phần hoá học của trứng không vỏ: Nước chiếm 73,5 - 74,4%; protein 12,5 - 13%; mỡ 11 - 12%; khoáng 0,8 - 1,0% Trứng có đặc điểm hình thái:

Hình dạng quả trứng thường có hình oval hoặc elip, một đầu lớn và một đầu nhỏ Theo Brandsch H và Bilchel H (1978) [3] thì tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của quả trứng là một chỉ số ổn định 1:0,75 Hình dạng của trứng tương đối ổn định, sự biến động theo mùa cũng không có ảnh hưởng lớn và

luôn có tính di truyền bền vững và có những biến dị không rõ rệt

Chỉ số hình thái ở mỗi loài gia cầm khác nhau và được quy định bởi nhiều gen khác nhau Nguyễn Hoài Tao, Tạ An Bình (1984) [16] cho rằng: Khoảng biến thiên trị số hình thái của trứng gà là 1,34 - 1,36; trứng vịt là 1,57

- 1,64; trứng có hình dạng quá dài hoặc tròn đều cho chất lượng thấp

Trứng gia cầm có cấu tạo từ ngoài vào gồm những thành phần chính là:

vỏ cứng, màng vỏ, lòng trắng, lòng đỏ có chứa đĩa phôi Mỗi thành phần chiếm tỷ lệ khác nhau ở mỗi cá thể, dòng, giống, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Tuy nhiên, vẫn có sự dao động tương đối

Trang 16

Vỏ trứng: Vỏ trứng là lớp vỏ bọc ngoài cùng bảo vệ về mặt cơ học, hoá học, lý học cho các thành phần khác bên trong trứng Màu sắc của vỏ trứng phụ thuộc vào giống, lá tai của từng loại gia cầm khác nhau Bên ngoài, nó được bao phủ bởi một lớp keo dính do âm đạo tiết ra, có tác dụng làm giảm

ma sát giữa thành âm đạo và trứng, tạo thuận lợi cho việc đẻ trứng, hạn chế sự bốc hơi nước của trứng và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn

Vỏ trứng có hai lớp màng đàn hồi tách nhau tạo thành buồng khí có ý nghĩa trong quá trình trao đổi khí với môi trường bên ngoài Vỏ trứng được cấu tạo chủ yếu từ canxi, trên bề mặt có nhiều lỗ khí Theo Nguyễn Duy Hoan

và cs (1998) [9], trên bề mặt vỏ trứng gà trung bình có khoảng 10.000 lỗ khí, mật độ lỗ khí khoảng 150 lỗ/1cm2, đường kính các lỗ khí dao động 4 - 10 μm Mật độ lỗ khí không đều, tập trung nhiều nhất ở đầu to giảm dần ở hai bên và thấp nhất ở đầu nhỏ

Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng Nó có ý nghĩa trong vận chuyển và ấp trứng Độ dày vỏ trứng gà dao động từ 0,229 - 0,373 mm, độ chịu lực là 2,44 - 3 kg/cm2 Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [9] thì chất lượng vỏ trứng không những chịu ảnh hưởng của các yếu

tố như canxi (70% canxi cần cho vỏ trứng là lấy trực tiếp từ thức ăn), ngoài ra

vỏ trứng hình thành cần có photpho, vitamin D3, vitamin K, các nguyên tố vi lượng khi nhiệt độ tăng từ 20 -300C, độ dày vỏ trứng giảm 6- 10% hoặc đẻ

ra trứng không có vỏ hoặc bị biến dạng Theo Nguyễn Thị Bạch Yến (1996) [20] nếu vỏ trứng quá mỏng, làm quá trình bốc hơi nước diễn ra nhanh, dẫn tới trứng bị mất nước gây chết phôi, sát vỏ, gà con nở ra yếu, tỷ lệ nuôi sống giảm Nếu vỏ trứng quá dầy cũng ảnh hưởng đến khả năng ấp nở, trao đổi khí kém, gà con không mổ vỏ ra ngoài được Độ dày vỏ ở đầu tù khoảng 0,279 - 0,588 mm, ở đầu nhọn khoảng 0,294 - 0,334 mm

Dưới lớp vỏ cứng là hai lớp màng dưới vỏ: Hai lớp màng này rất mỏng,

độ dày của hai lớp khoảng 0,057 - 0,069 mm, lớp ngoài dày hơn lớp trong

Trang 17

Lớp ngoài sát với vỏ trứng, lớp trong nằm sát với lòng trắng và đều có lỗ thở cho không khí đi vào giúp phôi thai phát triển ở giai đoạn cuối

Lòng trắng: Tiếp theo của lớp màng là đến lớp lòng trắng Lòng trắng

là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ, nó là sản phẩm của ống dẫn trứng Lòng trắng chủ yếu là albumin giúp cho việc cung cấp khoáng và muối khoáng, tham gia cấu tạo lông, da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi Chất lượng lòng trắng được xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh Lòng trắng chiếm tỷ lệ cao nhất, tới 56 %, gồm 4 lớp: Lớp loãng ngoài, lớp đặc giữa, lớp loãng giữa, lớp đặc trong… Đây là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho phôi phát triển Độ keo dính của lòng trắng phụ thuộc vào các yếu tố như: Nuôi dưỡng, giống, tuổi, bảo quản trứng,… Bảo quản trứng không đúng, kéo dài thời gian bảo quản làm cho lòng trắng trở nên loãng hơn dẫn tới pha lẫn giữa các lớp lòng trắng sẽ dẫn đến rối loạn cấu trúc sinh học

và làm giảm chất lượng trứng Trong lòng trắng còn chứa dây chằng lòng đỏ

có tác dụng giữ cho lòng đỏ luôn ở trung tâm của trứng Theo Trần Huê Viên (2006) [19] cho biết khối lượng trứng tương quan rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86) khối lượng lòng đỏ (r = 0,72) và khối lượng vỏ (r = 0,48)

Theo Ngô Giản Luyện (1994) [13] cho rằng: Chỉ số lòng trắng ở mùa đông cao hơn ở mùa xuân và mùa hè Trứng gà mái tơ và gà mái già có chỉ số lòng trắng thấp hơn gà mái đang độ tuổi sinh sản Trứng bảo quản lâu, chỉ số lòng trắng giảm Chất lượng lòng trắng giảm nếu cho gà ăn thiếu protein và vitamin nhóm B Để đánh giá chất lượng lòng trắng người ta quan tâm đến chỉ số lòng trắng, được tính bằng tỷ lệ chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính nhỏ và đường kính lớn của lòng trắng trứng Chỉ số lòng trắng chịu ảnh hưởng của giống, tuổi, chế độ nuôi dưỡng và thời gian bảo quản trứng

Lòng đỏ: Là tế bào trứng có dạng hình cầu, đường kính 35 - 40 mm (chiếm khoảng 32% khối lượng trứng), được bao bọc bởi màng lòng đỏ rất

Trang 18

mỏng dao động từ 16 - 20 µm, có tính đàn hồi, luôn giữ cho tế bào trứng ở dạng hình cầu, tính đàn hồi của màng lòng đỏ giảm theo thời gian bảo quản, ở giữa có hốc lòng đỏ nối với đĩa phôi lấy chất dinh dưỡng từ nguyên sinh chất

để cung cấp cho phôi phát triển Ngoài ra, màng này còn có tính thẩm thấu chọn lọc để thực hiện việc trao đổi chất giữa lòng trắng và lòng đỏ Lòng đỏ

có độ đậm đặc cao nằm giữa lòng trắng đặc, được giữ ổn định nhờ dây chằng

là những sợi protein quy tụ ở hai đầu lòng đỏ, phía trên lòng đỏ là mầm phôi Lòng đỏ cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho phôi

Theo Card và Nesheim (1970) [27] thì chỉ số lòng đỏ của trứng tươi là 0,4 - 0,42; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao Theo Ngô Giản Luyện (1994) [13], chỉ số lòng đỏ ít bị biến đổi hơn lòng trắng Theo Tạ An Bình, (1973) [2] khi chỉ số lòng đỏ giảm xuống còn 0,33, lòng đỏ bị biến dạng Theo Nguyễn Quý Khiêm, 1999 [11] nếu tăng nhiệt độ và bảo quản lâu, chỉ số lòng đỏ giảm xuống còn 0,25 - 0,29

Màu lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố màu và caroten có trong thức ăn Màu lòng đỏ ổn định trong thời gian đẻ trứng, nó thay đổi khi khẩu phần ăn của gà mái thay đổi trước vài tuần Lòng đỏ có màu đậm cho thấy trứng có chứa nhiều chất chống oxy hóa, là tiền chất vitamin A, có vai trò cải thiện sức khỏe Lòng đỏ trứng càng đậm chứng tỏ nó chứa nhiều chất dinh dưỡng lành mạnh với cơ thể của người (Anh Nguyên (2016) [12])

Chỉ số Haugh (HU): Là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định thông

qua khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng đặc Chỉ số HU càng cao thì chất lượng trứng càng cao Chỉ số này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động: Thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm, bệnh tật, nhiệt độ môi trường,

sự thay lông, giống, dòng

Thành phần hóa học trong một lòng đỏ trứng khối lượng 19g có chứa: 10,5mg Na; 17,9mg K; 25,7mg Ca; 2,6mg Mg; 1,5mg Fe; 29,8mg S; 24,7mg Cl; 94,8mg P

Trang 19

Hàm lượng vitamin trong trứng rất cao: 200 - 800UI vitamin A; 20UI vitamin D; 49mg vitamin B1; 84mg vitamin B2; 30mg axit nicotic; 58mg vitamin B6; 580mg axit pantothenic; 10mg biotin; 4,5mg axit folic; 0,3mg vitamin B12; 150mg vitamin E và 25mg vitamin K1

Thành phần hóa học của lòng đỏ Lòng đỏ trứng của tất cả các loại gia cầm (trừ thủy cầm) có chứa 49% là nước, 16% là protein, 33% là mỡ Hai phần

ba mỡ trong lòng đỏ là triglyxerit, 30% là photpholipit và 5% là cholesterol Lòng đỏ trứng thủy cầm chứa nhiều mỡ (36%) và 18% protein Hàm lượng nước trong lòng đỏ có thể thay đổi (46 - 50%) tùy thuộc vào thời gian và điều kiện bảo quản Hàm lượng mỡ trong lòng đỏ cũng có thể biến đổi thông qua khẩu phần ăn, chỉ riêng hàm lượng axit béo không no như palmitic và stearic là không thay đổi Hàm lượng các axit béo này duy trì ở mức 30 - 38% trong tổng

số chất béo Nếu khẩu phần ăn chứa nhiều axit béo không no mạch đa thì hàm lượng các axit béo này trong trứng cũng tăng lên Thông thường tỷ lệ axit béo không no và no là 2: 1

Thành phần hóa học của lòng trắng Lòng trắng là nơi dự trữ nước của trứng khoảng 88%, phần còn lại là protein như globulin, ovomuxin và albumin Ovomuxin chiếm 75% tổng số protein trong lòng trắng trứng, globulin chiếm khoảng 20% Theo kết quả của các nhà khoa học Nga, methionin có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp lòng trắng, còn lysine lại chiếm vị trí quan trọng trong quá trình tổng hợp ovoxumin Thành phần hóa học của lòng trắng ở tất cả các loại trứng gia cầm đều giống nhau Chất lượng lòng trắng thay đổi theo thời gian bảo quản Giá trị pH của lòng trắng trứng gà tươi là 7,6 sau 14 ngày bảo quản chúng có thể tăng lên pH = 9,2

Đặc điểm omega-3 trong trứng gà Omega-3 là loại chất béo thiết yếu đối với cơ thể con người nhưng cơ thể người không tự tổng hợp được nên phải bổ sung từ thực phẩm như: trứng, dầu thực vật Các nghiên cứu gần đây

Trang 20

cho thấy thành phần omega-3 có thể giúp bảo vệ hệ tim mạch, làm tăng cholesterol có lợi trong máu, hạ huyết áp, làm đẹp da và bảo vệ mắt…

Axit béo omega-3 rất hiếm trong các thực phẩm nguồn gốc thực vật ngoại trừ đậu nành Mặc dầu có đôi chút khác biệt nhưng cơ thể chúng ta có thể biến đổi chúng thành axit béo omega-3 tương tự như loại có trong dầu cá Nghiên cứu cho thấy axit béo omega-3 trong đậu nành còn tốt hơn trong dầu

cá vì axit béo omega-3 trong dầu cá có phản ứng phụ, làm cho các phân tử tế bào trở nên không ổn định, dễ sản sinh các gốc oxy tự do gây ung thư và làm xáo trộn insulin gây ra bệnh tiểu đường

Các axit béo chưa no nhiều nối đôi như axit linoleic (C18:2) và alpha axit linoleic (C18:3) còn được phân loại là axit béo omega-6 và omega-3, có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng động vật, nhất là ở người Các axit béo omega-6 là tiền chất của các eicosanoids của hệ thống nội tiết trong cơ thể Các axit béo omega-3 có chức năng quan trọng trong việc hình thành mô thần kinh và mắt, đáp ứng cho các hoạt động ổn định của hệ thống tim mạch và điều hòa hoạt động của hệ thống miễn dịch Động vật nói chung và gia cầm nói riêng không thể tự sản xuất các loại axit béo này nên phải bổ sung vào thức ăn các loại nguyên liệu có chứa omega-3

Trước đây, để tăng hàm lượng omega-3,6,9 trong trứng gà, hay sử dụng các nguyên liệu như dầu cá biển, rong biển để bổ sung vào thức ăn, tuy nhiên gần đây một số nước đã sử dụng một số loại dầu thực vật giàu các axit béo thiết yếu bổ sung vào khẩu phần của gà mái đẻ để làm tăng hàm lượng và thay đổi thành phần axit béo trong lòng đỏ trứng như dầu hạt lanh, dầu đậu nành, dầu hướng dương ưu điểm của các loại dầu này là hàm lượng omega-3,6,9 cao, sử dụng khá thông dụng

Từ những năm 1990, đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về omega-3, tạo ra các sản phẩm thực phẩm giàu omega-3 như: sữa tăng cường omega-3, trứng gà giàu omega-3 Các sản phẩm này có mặt hầu hết tại các

Trang 21

quốc gia tiên tiến như: Mỹ, Úc, Canada, Nhật Bản…Ở Việt Nam sản phẩm trứng gà giàu omega-3 cao hơn từ 5 - 8 lần so với trứng gà bình thường đã có trên thị trường nhưng chưa phổ biến; loại trứng gà này chủ yếu sử dụng dầu

cá, rong tảo biển trong khẩu phần do vậy giá thành cao, khó phát triển sản xuất rộng rãi Đây cũng là lý do nghiên cứu này chọn bổ sung giầu thực vật

bổ sung nguồn omega-3 để giảm giá thành và phổ biến rộng rãi cho sản xuất

Dựa trên kết quả các nghiên cứu trước đó cho thấy khẩu phần ăn có ảnh hưởng trực tiếp đến hàm lượng axit béo của trứng gà, có thể làm giàu hàm lượng omega-3 trong trứng gà thông qua việc chọn lọc khẩu phần thức ăn giàu omega-3 cho gà mái đẻ trứng Việc sử dụng các nguồn thức ăn này cho

gà mái đẻ trứng không làm ảnh hưởng đến thể trạng của gà mái, các chỉ tiêu chất lượng của trứng và năng suất đẻ trứng của gà

Trong thành phần của omega-3 có 3 loại axit béo: ALA (axit linolenic), EPA, và DHA Các chuyên gia y tế đã xác nhận rằng ALA là cơ sở vật chất quan trọng trong việc duy trì sự phát triển não bộ của con người và là thành phần quan trọng của các tế bào não Nó là tiền chất thiết yếu của các axit béo không no để cấu tạo nên các eicosanoids có chức năng hỗ trợ hệ miễn dịch, giúp cơ thể trẻ em khỏe mạnh hơn Axit α-linolenic là một loại omega-3 được tìm thấy ở thực vật Nó tương tự như các axit béo omega-3 trong dầu cá, được gọi là axit eicosapentaenoic (EPA) và axit docosahexaenoic (DHA) Đây là các chất dinh dưỡng quan trọng nhất cho sự phát triển não bộ của trẻ

α-sơ sinh, trong bào thai hoặc độ tuổi sớm Để đảm bảo sự tăng trưởng nhanh chóng và thuận lợi cho sự phát triển não bộ của bào thai, các chuyên gia của

Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên bổ sung lượng axit α-linolenic khoảng

1000 mg mỗi ngày Nhưng trong thực tế, do hấp thu chế độ ăn uống nghèo axit α-linolenic nên nhiều phụ nữ mang thai không đảm bảo cung cấp lượng cần thiết cho cơ thể Vì vậy, việc sử dụng các thực phẩm giàu axit α-linolenic

là rất quan trọng Nguồn thực phẩm giàu axit α-linolenic bao gồm hạt lanh,

Trang 22

dầu hạt lanh, hạt cải và dầu hạt cải, đậu nành và dầu đậu nành, hạt bí ngô và dầu hạt bí ngô, dầu hạt tía tô, đậu hũ Axit α-linolenic dầu có sẵn trên các loại dầu nấu ăn và trong các loại dầu thuốc Dầu hạt cải dầu có hàm lượng omega-

3 cao (trong 100 g có tối thiểu 5g omega-3;18g omega-6; 55g omega-9 ngoài

ra có 20mg vitamin E) Dầu đậu nành (trong 100g có năng lượng tối thiểu 900Kcal; omega-3: 4g; omega-6: 50g; omega-9: 20g; vitamin E: 3mg)

Tỷ lệ axit béo 0mega-6/omega-3 là yếu tố rất quan trọng đối với sức khỏe của người sử dụng, vì nó chỉ ra sự cân bằng các axit béo chưa no Một quả trứng tiêu chuẩn có tỉ số này là 20:1 Trong khi trứng gà nuôi tự nhiên có

tỷ số là 1:1, các nước châu Âu khuyến cáo tỉ số axit béo omega-6/omega-3 trong khẩu phần của người là 5:1 - 6:1 và theo FAO và WHO thì tỷ số này có thể từ 5:1 - 10:1

1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gà

Giống, dòng, có ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp Cụ

thể giống Leghorn trung bình có sản lượng 250 - 270 trứng/năm, gà Ri chỉ đạt

90 - 100 quả/mái/năm, gà Ai Cập là 160- 180 quả/mái/năm Về sản lượng trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa

được chọn lọc kỹ khoảng 15% - 30%

Tuổi gà có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó Như một quy luật,

ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm 15-

20% so với năm thứ nhất

Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến sức đẻ trứng của gà, nó là đặc điểm di truyền cá thể Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thành thục sinh dục

của gia cầm: loài, loại hình, giống, dòng, mùa vụ, thức ăn, chăm sóc,

Mùa vụ ảnh hưởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt Ở nước ta, mùa hè sức

đẻ trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên

Nhiệt độ môi trường liên quan mật thiết đến sản lượng trứng Ở điều kiện nước ta nhiệt độ chăn nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng là 14 - 220C

Trang 23

Nếu nhiệt độ dưới giới hạn thấp thì gia cầm phải huy động năng lượng chống

rét và trên giới hạn cao sẽ thải nhiệt nhiều qua hô hấp

Ánh sáng ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm Nó được xác định qua thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng Yêu cầu của gà đẻ thời gian chiếu sáng 12 - 16 h/ngày, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo để đảm bảo giờ chiếu sáng và cường độ chiếu sáng 3 - 3,5 w/m2 Theo Letner và Taylor (1987) [40], cho biết thời gian gà đẻ trứng thường từ 7

- 17 giờ, nhưng đa số đẻ vào buổi sáng Cụ thể số gà đẻ 7 - 9 giờ đạt 17,7 %

so với tổng gà đẻ trong ngày Ở nước ta do khí hậu khác với các nước, cho nên cường độ đẻ trứng ở gà cao nhất là khoảng từ 8 - 12 giờ chiếm 60 % gần

70 % so với gà đẻ trứng trong ngày

Cường độ đẻ trứng liên quan mật thiết với sản lượng trứng, nếu cường

độ đẻ trứng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại

Chu kỳ đẻ trứng được tính từ khi đẻ quả trứng đầu tiên đến khi ngừng

đẻ và thay lông, đó là chu kỳ thứ nhất và lặp lại tiếp tục chu kỳ thứ hai Chu

kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm con mà bắt đầu và kết thúc ở các tháng khác nhau thường ở gà là một năm Nó có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng, yếu tố này do hai gen P và p điều hành Sản lượng trứng phụ thuộc vào

thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng

Thay lông: Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh học gia cầm nghỉ đẻ và thay

lông Ở điều kiện bình thường, lần thay lông đầu tiên là những điểm quan trọng

để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu Những cá thể thay lông sớm là thường đẻ kém và thời gian thay lông kéo dài tới 4 tháng Ngược lại, nhiều con thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ đẻ dưới 2 tháng Đặc biệt ở một số cá thể hoặc đàn cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ khoảng 4 - 5 tuần, có những cá thể đẻ ngay

khi chưa thay xong bộ lông mới hay đẻ trong thời gian thay lông

Trang 24

Ảnh hưởng của độ ẩm đến sản lượng trứng của gia cầm Khi độ ẩm quá

cao làm cho chất độn chuồng bị ướt, tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian của chuồng nuôi Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự

hô hấp của gia cầm và làm ảnh hưởng đến năng suất và tiêu tốn thức ăn Độ

ẩm quá thấp (< 31 %) sẽ làm cho gia cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng

đến tỷ lệ hao hụt và khả năng sản xuất

Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng đến sản lượng trứng Đối với gà nội

(gà Ri) đẻ 90 - 120 trứng/mái/năm Đối với giống gà nội thì ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng là không lớn lắm nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu

dinh dưỡng lại cần được quan tâm chú ý

1.2 Những hiểu biết về gà đẻ trứng thương phẩm Isa shaver

Gà Shaver là một giống gà công nghiệp hướng trứng, gà sử dụng cho thí nghiệm này là gà thương phẩm được lấy từ công ty Jafa Gà Shaver có các dòng là Shaver Red; Shaver Brown; Shaver White và Shaver Black Ở Việt Nam, dòng Isa Shaver được công nhận là một giống vật nuôi được phép kinh doanh

Đặc điểm:

- Đối với dòng đỏ (Red Shaver) thì gà mái tơ có màu nâu đỏ trong màu sắc với màu trắng dưới lông, con trống lông trắng có màu trắng với một vài mảng đỏ trên lông Chúng là giống khỏe mạnh, kiêm dụng, vỏ trứng màu nâu

Gà mái đỏ có thể đẻ 305-315 trứng/năm

- Shaver nâu (Shaver brown) là giống gà thích nghi với nhiều điều kiện chăn nuôi truyền thống Gà có khối lượng trứng nhỏ nhưng chất lượng tốt, năng suất trứng từ 290-300 quả/năm

- Shaver trắng (Shaver White) là giống gà lý tưởng vì nó có tỷ lệ nuôi sống cao và chất lượng trứng cao, khối lượng trứng trung bình và tiêu tốn thức ăn thấp, năng suất trứng đạt từ 295-305 quả/năm

Trang 25

- Shaver đen (Shaver Black) là giống gà thích nghi cao tuy nhiên lại tiêu tốn thức ăn lớn, năng suất trứng đạt từ 285-295 quả/năm

Chỉ tiêu năng suất:

- Về khả năng sinh trưởng của gà Isa Shaver ở giai đoạn hậu bị (giai đoạn 9 - 18 tuần tuổi) được nuôi trong điều kiện khí hậu của Thái Nguyên nói riếng Việt Nam nói chung thì tỷ lệ nuôi sống của gà khảo nghiệm tương đối cao Đến 18 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống đạt 99,6 %, sức sống và sức đề kháng của gà Isa Shaver là rất tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu và điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam

- Khối lượng cơ thể của gà đến 18 tuần tuổi đạt 1594,58 g, cao hơn khối lượng chuẩn 44,58 g Tiêu tốn thức ăn đến hết 18 tuần tuổi là 6713 g/con Tỷ lệ chết do nhiễm bệnh của đàn gà giai đoạn 9 - 18 tuần tuổi là 0 % Quan nuôi thực nghiệm tại trại thực nghiệm Khoa chăn nuôi- thú y, Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên cho thấy gà Isa Shaver có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu ở đây

1.3 Lipit trong thức ăn chăn nuôi

1.3.1 Giới thiệu chung

1.3.1.1 Nguồn gốc

Chất béo nguồn gốc thực vật có nhiều axit béo chưa bão hòa dạng đa và không có cholesterol (trừ dầu dừa, dầu cọ có nhiều chất béo bão hòa), trong khi đó ở trong cá lại có nhiều chất béo chưa bão hòa Lipit hạt lạc 44,5%, đậu tương 18,4%, hạt dẻ 59%, hạt điều khô 49,3% (Dinh dưỡng và sức khỏe, 2016) [7]

1.3.1.2 Đặc điểm cấu tạo

Lipit là hợp chất hữu cơ được cấu tạo chủ yếu từ các nguyên tố C, H, O gồm nhiều loại với cấu trúc và chức năng khác nhau Lipit đơn giản được tạo

ra từ glixerol và axit béo nhờ liên kết este Các lipit phức tạp ngoài thành phần như các lipit đơn giản còn có thêm các nhóm khác Mỡ và dầu là nguồn

Trang 26

nguyên liệu dự trữ năng lượng chủ yếu của tế bào Photpholipit có vai trò cấu trúc nên màng sinh chất Steroit tham gia cấu tạo nên các hormore của cơ thể Lipit thực vật hầu hết ở trạng thái lỏng Các lipit đều nhẹ hơn nước, không tan trong nước, nhưng tan nhiều trong chất hữu cơ benzen, xăng, clorofom (Nguyễn Viết Đàm, 2015) [7]

1.3.2 Vai trò của lipit với cơ thể động vật

Chất béo cần thiết cho sự sống của động vật và thực vật Ở ruột non nhờ tác dụng xúc tác của các enzyme lipza và dịch mật chất béo bị thuỷ phân thành các axit béo và glyxerol rồi được hấp thụ vào thành ruột Chất béo giúp bảo vệ tế bào sống, ở mỗi dạng tồn tại đều thể hiện một phần quan trọng trong màng tế bào Màng tế bào giống nhau bao quanh cơ thể cùng với tế bào, giúp cho mỗi tế bào trong cơ thể có thể làm công việc mà không cần đến sự can thiệp không cần thiết của các tế bào khác

Lipit giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch Điều hòa tính bền vững của thành mạch, nâng cao tính đàn hồi và hạ thấp tính thấm của thành mạch Có vài trò trong cơ chế chống ung thư Đồng thời lipit cần thiết cho các chuyển hoá các vitamin nhóm B

Chất béo tham gia vào cấu trúc của tất cả các mô, là thành phần thiết yếu của tế bào, của các màng cơ thể và có vai trò điều hòa sinh học cao Não

bộ và các mô thần kinh đặc biệt giàu chất béo Các rối loạn chuyển hóa chất béo ảnh hưởng đến chức phận nhiều cơ quan kể cả hệ thần kinh

Chất béo cung cấp các axit béo thiết yếu không no đa nối đôi, chuỗi dài là tiền chất của một loạt các chất có hoạt tính sinh học cao như prostaglandin, leukotrienes, thromboxanes… Các eicosanoids này là các chất điều hòa rất mạnh 1 số tế bào và chức năng như: kết dính tiểu cầu, co mạch, đóng ống động mạch Botalli… (Mead Johnson, 2009) [21]

1.3.3 Một số loại axit béo không no

*Axit béo không no chứa nhiều nối đôi

Trang 27

Với cấu trúc trong chuỗi carbon chứa 2 nối đôi trở lên, chất béo chứa axit béo loại này được tìm thấy ở dầu mè, dầu hạt hướng dương, dầu đậu nành, dầu hạt bắp Chất béo không no chứa nhiều nối đôi tốt hơn chất béo bão hòa do nó làm giảm lượng cholesterol xấu trong máu nhưng đồng thời cũng làm giảm lượng cholesterol tốt trong máu Chính vì vậy, hiện nay, người bình thường được khuyên mỗi ngày chỉ nên dùng chất béo không no chứa nhiều nối đôi không quá 10% tổng năng lượng do khẩu phần ăn mang đến

*Axit béo không no chứa 1 nối đôi

Với cấu trúc trong chuỗi carbon chứa nối đôi duy nhất, chất béo chứa axit béo loại này được tìm thấy trong các dầu thực vật như dầu ô liu, dầu đậu phộng, dầu hạt hạnh nhân Đặc biệt, axit béo không no chứa 1 nối đôi có tên

là axit omega-3 (do khoảng cách từ carbon omega đến nối đôi có 3 carbon, còn có tên thông dụng là axit oleic)

*Axit béo dạng trans

Chứa trong chất béo trans (hoặc theo tiếng nước ngoài là trans fat), chủ yếu là axit béo nhân tạo Dầu thực vật chứa axit béo không no ở dạng lỏng như dầu bắp, hạt hướng dương, đậu nành, người ta có thể chế biến thành dạng đặc giống như bơ động vật gọi là margarin bằng phản ứng hóa học “hydrogen hóa” Như vậy để chế biến dầu lỏng thành dạng đặc (giống như bơ, trông hấp dẫn hơn), người ta đã biến chất béo không no thành chất béo bão hòa và chất béo dạng trans Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy khi dùng nhiều chất béo trans sẽ làm tăng lượng cholesterol toàn phần, làm tăng cholesterol xấu và làm giảm cholesterol tốt trong máu, đồng thời chất béo cũng là yếu tố chủ yếu đưa đến bệnh béo phì, các bệnh lý tim mạchnhưtăng huyết áp, bệnh mạch vành, đột quỵ, kể cả ung thư (Nguyễn Hữu Đức, 2015) [8] Thực tế bệnh lý dạng này đang có xu hướng phát triển nhanh trong xã hội công nghiệp Các axit béo này có 2 hoặc nhiều hơn các liên kết đôi cis, được tách

Trang 28

khỏi nhau bằng một nhóm methylen (dạng này còn được gọi là kiểu divinylmethan)

Các axit béo thiết yếu là tất cả các axit béo omega-3 và omega-6 được tách bởi methylen và được mô tả chi tiết theo biểu dưới đây:

Omega-3

Axit hexadecatrienoic (HTA) 16:3 (n-3) Axit

Axit clupanodonic 22:5 (n-3)

Axit docosapentaenoic

all-cis-7,10,13,16,19-Axit docosahexaenoic (DHA) 22:6 (n-3) Axit

all-cis-4,7,10,13,16,19-docosahexaenoic

Axit tetracosapentaenoic 24:5 (n-3) Axit

all-cis-9,12,15,18,21-tetracosapentaenoic Axit tetracosahexaenoic,

(axit nisinic) 24:6 (n-3)

Axit tetracosahexaenoic

Trang 29

all-cis-6,9,12,15,18,21-Omega-6

Axit linoleic 18:2 (n-6) Axit all-cis-9,12-octadecadienoic

Axit

gamma-linolenic (GLA) 18:3 (n-6) Axit all-cis-6,9,12-octadecatrienoic

Axit eicosadienoic 20:2 (n-6) Axit all-cis-11,14-eicosadienoic

Axit

dihomo-gamma-linolenic (DGLA) 20:3 (n-6) Axit all-cis-8,11,14-eicosatrienoic

Axit arachidonic (AA) 20:4 (n-6) Axit

all-cis-5,8,11,14-eicosatetraenoic

Axit docosadienoic 22:2 (n-6) Axit all-cis-13,16-docosadienoic

Axit adrenic 22:4 (n-6) Axit

all-cis-7,10,13,16-docosatetraenoic

Axit docosapentaenoic

(Axit osbond) 22:5 (n-6)

Axit docosapentaenoic

all-cis-4,7,10,13,16-Axit béo omega-9 không no một nối đôi và nhiều nối đôi

Axit oleic 18:1 (n-9) Axit cis-9-octadecenoic

Axit eicosenoic 20:1 (n-9) Axit cis-11-eicosenoic

Axit mead 20:3 (n-9) Axit 'all-cis-5,8,11-eicosatrienoic Axit erucic 22:1 (n-9) Axit cis-13-docosenoic

Axit nervonic 24:1 (n-9) Axit cis-15-tetracosenoic

Trang 30

Axit béo tiếp hợp có hai hoặc nhiều liên kết đôi tiếp hợp

Axit linoleic tiếp hợp (chứa hai liên kết đôi tiếp hợp)

Axit rumenic 18:2 (n-7) Axit 9Z,11E-octadeca-9,11-dienoic

18:2 (n-6) Axit 10E,12Z-octadeca-9,11-dienoic Axit linolenic tiếp hợp (3 liên kết đôi tiếp hợp)

Axit α-calendic 18:3 (n-6) Axit 8E,10E,12Z-octadecatrienoic

Axit β-calendic 18:3 (n-6) Axit 8E,10E,12E-octadecatrienoic

Axit jacaric 18:3 (n-6) Axit 8E,10Z,12E-octadecatrienoic

Axit α-eleostearic 18:3 (n-5) Axit 9Z,11E,13E-octadeca-9,11,13-trienoic Axit β-eleostearic 18:3 (n-5) Axit 9E,11E,13E-octadeca-9,11,13-trienoic Axit catalpic 18:3 (n-5) Axit 9Z,11Z,13E-octadeca-9,11,13-trienoic Axit punicic 18:3 (n-5) Axit 9Z,11E,13Z-octadeca-9,11,13-trienoic Khác

Axit rumelenic 18:3 (n-3) Axit 9E,11Z,15E-octadeca-9,11,15-trienoic

Axit α-parinaric 18:4 (n-3) Axit

9E,11Z,13Z,15E-octadeca-9,11,13,15-trienoic

Axit β-parinaric 18:4 (n-3) Axit octadeca-9,11,13,15-trienoic tất cả

dạng trans Axit bosseopentaenoic 20:5 (n-6) Axit 5Z,8Z,10E,12E,14Z-eicosanoic

Các axit không no nhiều liên kết đôi khác

Axit linolenic 18:3 (n-6) Axit (5Z,9Z,12Z)-octadeca-5,9,12-trienoic Axit podocarpic 20:3 (n-6) Axit (5Z,11Z,14Z)-eicosa-5,11,14-trienoic

1.4 Tình hình nghiên cứu bổ sung dầu vào thức ăn chăn nuôi

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Hiện nay ngành công nghiệp thực phẩm rất quan tâm đến việc cung cấp omega 3 trong khẩu phần ăn của con người thông qua thịt và trứng gà Hàm lượng omega-3 trong trứng gà có thể được làm giàu lên một cách dễ

Trang 31

dàng thông qua việc cung cấp các chất giàu omega-3 vào khẩu phần như dầu

cá, dầu hạt cải, dầu hạt lanh (Hargis và Elswyk, 1993) [35]

Nhiều nghiên cứu về hạt lanh, hạt cải và dầu của chúng như một nguồn omega-3 cung cấp cho gà đẻ và ảnh hưởng của chúng đến năng suất và chất lượng trứng Dầu hạt lanh cung cấp với tỷ lệ 1, 2, 3, 4% vào khẩu phần không ảnh hưởng đến năng suất trứng (Gonacuglu và Ergun, 2004) [32]

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc cung cấp vào khẩu phần ăn cho gà các chất dinh dưỡng giàu omega-3 hầu như không làm ảnh hưởng đến năng suất trứng (Schreiner và cs, 2004 [45]; Carrillo-Dominguez và cs, 2005 [29]; Ebeid và cs, 2008 [30]) Gonzalez-Esquerra và Leeson (2000) [33] cho biết khi khẩu phần thức ăn được bổ sung omega-3 ở các mức khác nhau thì năng suất trứng tất cả các giai đoạn đẻ đều không bị ảnh hưởng

Gonzalez-Esquerra và Leeson (2000) [33] khi nghiên cứu cung cấp vào khẩu phần thức ăn giàu omega-3 cho biết năng suất trứng tất cả các giai đoạn

đẻ đều không bị ảnh hưởng bởi việc bổ sung ở các mức khác nhau

Gonzalez-Esquerra và Leeson (2000) [33] thông báo khi bổ sung 5% dầu hạt lanh trong khẩu phần gà đẻ đã không tìm thấy sự ảnh hưởng của việc

bổ sung đến năng suất trứng gà Tương tự, Grobas và cs (2001) [34], đã bổ sung 5% và 10% dầu hạt lanh vào khẩu phần cho gà đẻ trong 12 tuần đẻ và thấy rằng năng xuất trứng vẫn ổn định, không bị ảnh hưởng

Jiang và cs (1991) [38]; Novak và Scheideler (2001) [43]; Bean I.D và Leeson (2003) [26] cho biết sản lượng trứng không bị ảnh hưởng khi bổ sung cho gà đẻ 10% hạt lanh Yannakopoulos và cs (1999) [48] bổ sung 10 và 20% hạt lanh trong khẩu phần gà đẻ và tác giả không thấy sự ảnh hưởng của việc

bổ sung đến năng suất trứng gà Gonacuglu và Ergun (2004) [32]; Jiang và cs, (1991) [38]; Novak và Scheideler (2001) [43]; Bean và Leeson (2003) [26] cho biết sản lượng trứng không bị ảnh hưởng khi bổ sung cho gà đẻ 10% hạt lanh Yếu tố ảnh hưởng chính đến giá trị dinh dưỡng của các nguồn chất béo

Trang 32

chính là khả năng tiêu hóa Khả năng tiêu hóa bị ảnh hưởng bởi nồng độ các axit béo no, cacbon trong chuỗi, sự tập trung các axit tự do, vị trí các phân tử glyxerin, cũng như sự tương tác giữa các axit béo no và không no

Grobas và cs (2001) [34] cho biết khi khẩu phần gà đẻ được bổ sung 5 hoặc 10% dầu hạt lanh sẽ làm giảm thu nhận thức ăn nhưng cải thiện hiệu quả chuyển hóa thức ăn Tương tự như vậy, Novak và Scheideler (2001) [43] cho biết khi bổ sung dầu hạt lanh thu nhận thức ăn gà đẻ giảm 14%, nhưng tăng hiệu quả chuyển hóa thức ăn

Theo Bean và Leeson (2003) [26] cho biết khi bổ sung 4% dầu hạt lanh

sẽ làm giảm thu nhận thức ăn so với lô đối chứng Tuy nhiên, Celebi và Utlu,

2006 cho biết ở mức bổ sung này không ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển hóa thức ăn

Theo Novak và Scheideler (2001) [43]; Ansari và cs (2006) [24] thì bổ sung hạt lanh như nguồn chất béo vào khẩu phần gà đẻ làm tăng thu nhận thức ăn Tuy nhiên, chưa rõ nguyên nhân làm tăng lượng thức ăn thu nhận Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu thêm về ảnh hưởng của việc bổ sung chất béo đến thu nhận thức ăn của gà Đây cũng là nội dung hết sức quan trọng mà nghiên cứu hướng tới

1.4.2 Nghiên cứu trong nước

Lê Thanh Phương (2015) [14] đã nghiên cứu ảnh hưởng chất béo của thức ăn trong khẩu phần đến thành phần axit béo của trứng gà công nghiệp

Tác giả đã sử dụng 3 loại dầu là cám gạo, dầu nành và dầu cá hồi với 3 tỷ

lệ là 1, 2 và 3% trong khẩu phần Kết quả cho thấy bổ sung dầu đã nâng cao năng suất sinh sản của gà; tỷ lệ đẻ cao nhất ở khẩu phần bổ sung 2% dầu cám gạo (96,81%) Gà nuôi khẩu phần bổ sung dầu cá hồi đã tăng tích lũy DHA, giảm hàm lượng cholesterol và tỷ lệ acid béo ω-6/ω-3 của lòng đỏ trứng

Lê Phúc Chiến và cs (2012) [4], đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến hàm lượng axit béo omega-3 trong trứng gà Tác giả sử

Trang 33

dụng 10% chất bổ sung vào khẩu phần ăn cho gà đẻ Isha brown đã làm tăng hàm lượng omega 3 lên 356 mg/trứng sau 60 ngày so với đối chứng Ở mức

bổ sung này đã không làm ảnh hưởng tới sản lượng trứng và các thông số chất lượng trứng

Huỳnh Minh Quân và Nguyễn Thị Thủy (2015) [15] đã nghiên cứu ảnh hưởng của mỡ cá tra trong khẩu phần lên năng suất, chất lượng trứng và khối lượng loại thải gà mái Hisex Brown nuôi công nghiệp Tác giả cho biết khi bổ sung tỷ lệ 0, 2, 4, 6% mỡ cá tra trong khẩu phần cho gà mái đẻ đã không cải thiện được tỷ lệ đẻ của gà mà làm tăng khối lượng trứng gà so với đối chứng; tiêu tốn thức ăn giảm dần khi lượng dầu tăng trong khẩu phần; chất lượng trứng được cải thiện về màu sắc; khối lượng gà tăng cao hơn so với đối chứng

Nguyễn Nhực, Xuân Dung và cs (2011) [5], nghiên cứu ảnh hưởng bổ sung dầu phọng và mỡ cá tra lên năng suất, chất lượng và thành phần chất béo của trứng gà Isa Brown nuôi trong chuồng hở Tác giả đã bổ sung lần lượt 1

và 3% dầu phông và mỡ cá tra đã không ảnh hưởng tới tỷ lệ đẻ và tiêu tốn thức ăn/ngày Ảnh hưởng khác biệt lên chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và tỷ

lệ lòng trắng Dùng dầu phộng 1 và 3% sản xuất trứng có hàm lượng cholesterol thấp hơn và có ý nghĩa thống kê so với dùng mỡ cá tra

Ngô Hồng Thêu (2014) [17] đã nghiên cứu ảnh hưởng của dầu đậu nành, dầu hạt cải đến năng suất và chất lượng trứng gà Lương Phượng Tác giả cho biết khi bổ sung dầu đậu nành và dầu hạt cải với các tỷ lệ 2, 3% trong khẩu phần ăn của gà Lượng Phượng đã làm tăng tỷ lệ omega 3, 6, 9 trong trứng gia cầm so với đối chứng

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Gà Isa shaver brown thương phẩm 49 tuần tuổi

- Dầu hạt lanh (DHL)

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Thời gian: Từ tháng 9/2015 đến tháng 11 năm 2016

2.2 Nội dung

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung dầu hạt lanh (0, 0,5 và 1%) đến khối lượng cơ thể, năng suất, khối lượng và chất lượng trứng

- Đánh giá hàm lượng omega-3, 6, 9 trong trứng sau khi sử dụng dầu hạt lanh

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.2.1 Bố trí thí nghiệm: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung dầu hạt

lanh đến năng suất và chất lượng trứng gà Isa shaver

Bố trí 3 lô thí nghiệm trên gà mái Isa shaver đang sinh sản ở tuần

49-56, mỗi chuồng gồm 30 con gà mái đẻ Isa shaver có tỷ lệ đồng đều nhau về giống, khối lượng Mỗi thí nghiệm được lặp lại 3 lần với cùng thời gian nuôi Tổng số gà thí nghiệm là 270 con Lô ĐC gà vẫn chăn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, 2 lô thí nghiệm có bổ sung thêm dầu hạt lanh với các tỷ lệ tương ứng là 0,5% và 1% Việc xác định mức bổ sung DHL là do để tránh trùng với các nghiên cứu về bổ sung DHL vào khẩu phần ăn trước đây, làm cơ sở để đối

Trang 35

chiếu với những nghiên cứu tương tự Dầu được bổ sung bằng cách hàng ngày phối trộn với thức ăn hỗn hợp và cho gà ăn 2 bữa/ngày (7h và 14h)

Gà được nuôi trong chuồng hở, trên nền có đệm lót, mật độ 4 con/m2 Trong thời gian thí nghiệm trứng thu được đem đi phân tích tại Viện Khoa học Sự sống

Bố trí thí nghiệm theo sơ đồ sau:

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm

(0,5% DHL)

Lô TN2 (1% DHL)

4 Khối lượng đầu TN Kg/con 2,04 2,11 2,09

5 Thời gian thí nghiệm Tuần tuổi 49-56 49-56 49-56

7 Yếu tố thí nghiệm TĂ hỗn hợp

TĂ hỗn hợp + 0,5% dầu hạt lanh

TĂ hỗn hợp + 1% dầu hạt lanh

Thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn thí nghiệm:

- Khẩu phần cơ sở là thức ăn của công ty Japfa cho gà đẻ có ME là

2750 kcal/kg, tỷ lệ protein là 17 %, xơ 6%, canxi 3%, photpho 1%, lysine 0,83%, methionine + cystine 0,68%; sau khi bổ sung dầu hạt lanh, khẩu phần của TN1 có ME là 2795 kcal và 17 %CP, xơ 6%, canxi 3%, photpho 1% lysine 0,83%, methionine + cystine 0,68%; của lô TN2 là 2840 kcal ME và 17

%CP, xơ 6%, canxi 3%, photpho 1%, lysine 0,83%, methionine + cystine 0,68% Giá 1 kg thức ăn hỗn hợp của KPCS là 8.900 VNĐ/kg, của lô TN1 là 12.650 VNĐ/kg; TN2 là 16.400 VNĐ/kg, DHL giá 800.000đ/lít

Trang 36

Bảng 2.2 Thông tin về thành phần, hàm lượng dinh dưỡng thức ăn hỗn

hợp cho gà đẻ của Công ty Japfa THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG

Hoặc Narasin/Nicarbazin (mg/kg) max:

Hoặc Salinomycin (mg/kg) max:

14

20

6 0,7-1,5 0,6-1,2

1 0,75 2.900

đó được trộn đều từ 4-5 lần trước khi cho gà ăn

2.2.2.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

* Các chỉ tiêu theo dõi:

- Tỷ lệ sống

- Khối lượng cơ thể gà thí nghiệm

- Khả năng tiêu thụ thức ăn

- Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng

Trang 37

- Hiệu quả sử dụng thức ăn

- Khối lượng trứng

- Hàm lượng omega-3, 6, 9 trong trứng

- Độ đậm màu của lòng đỏ

- Hiệu quả kinh tế

* Phương pháp theo dõi:

- Tỷ lệ nuôi sống: Hàng ngày theo dõi và ghi chép vào sổ nhật ký số gà của các lô thí nghiệm

- Khối lượng cơ thể gà thí nghiệm trước và sau khảo sát Cân khối lượng cơ thể gà trước lúc thí nghiệm và kết thúc thí nghiệm cân vào buổi sáng sớm (7h) trước khi cho ăn (chỉ cho uống nước) bằng cân Nhơn Hòa, dựa trên khối lượng từng con tính được khối lượng bình quân gam/con

KLCT trung bình (gam) =

KLCT con thứ 1+…+ KLCT con thứ n

n (con)

- Khả năng tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm

Thức ăn cung cấp hàng ngày vào 7h sáng, được cân bằng cân Nhơn Hòa, thức ăn thừa của từng lô được cân vào 7h sáng ngày hôm sau Sau đó tính thức ăn tiêu thụ (gam/con /ngày), trong tuần:

Khả năng tiêu thụ TĂ = Tổng khối lượng TTTĂ của cả lô /tuần

Số đầu gà trong tuần x 7 ngày

Trang 38

- Khối lượng trứng qua các tuần tuổi

Khối lượng trứng (gam) được xác định bằng cách cân 100 % số trứng thu được trong ngày vào 16h các ngày trong tuần, bằng cân điện tử chính xác

khi tách lòng đỏ ra khỏi lòng trắng và vỏ trứng, sau đó cân khối lượng lòng

đỏ, lòng trắng, vỏ bằng cân điện tử có độ chính xác tới 0,01 g Tỷ lệ lòng đỏ/lòng trắng được tính theo công thức:

- Độ đậm màu lòng đỏ trứng được đo bằng quạt so màu của Roche

- Hàm lượng omega-3, 6, 9 trong trứng Sau 8 tuần thí nghiệm lấy mẫu trứng đi phân tích; các chỉ tiêu VCK, protein, lipit được phân tích tại Viện Khoa học Sự sống, Trường Đại học Nông Lâm - ĐH Thái Nguyên; chỉ tiêu omega 3, 6, 9 được phân tích bằng phương pháp Ref AOAC 996.06 tại Viện Kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm Quốc Gia

- Hiệu quả sử dụng thức ăn trong giai đoạn gà đẻ trứng

Trang 39

TTTĂ/10 quả trứng = ∑ lượng thức ăn tiêu tốn trong tuần (kg) x 10

∑ số trứng thu được trong tuần (quả)

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được đem xử lý theo phương pháp xử lý thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (2002) [18], trên phần mềm Minitab 16, Microsoft Excel 2007

- Số trung bình (X)

- Sai số của số trung bình (m-x):

- Độ lệch tiêu chuẩn (S-x):

- Hệ số biến dị Cv (%)

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm

Đây là một tính trạng có yếu tố di truyền thấp, phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện môi trường sống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, thức ăn, sức chống chịu với điều kiện ngoại cảnh của từng cá thể, từng dòng, giống Vì vậy, nâng cao tỷ lệ nuôi sống là một trong những chỉ tiêu quan trọng khi nghiên cứu khả năng sản xuất của bất kỳ một dòng, giống gia súc, gia cầm nào Để đánh giá ảnh hưởng của dầu hạt lanh đến tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm, thí nghiệm thực hiện theo dõi số lượng gà hàng ngày Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống được trình bày tại bảng 3.1

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm (%)

Tuần tuổi

Trong tuần

Cộng dồn

Trong tuần

Cộng dồn

Trong tuần

Cộng dồn

Ngày đăng: 06/04/2018, 10:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Tạ An Bình (1973), "Những kết quả bước đầu về lai kinh tế gà", tạp chí Khoa học và Kỹ thuật nông nghiệp, tr.598-603 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả bước đầu về lai kinh tế gà
Tác giả: Tạ An Bình
Năm: 1973
3. Brandsh.H và Bilchell.H (1978), Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm, người dịch Nguyễn Chí Bảo, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, tr. 486 - 524 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Brandsh.H và Bilchell.H
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1978
4. Lê Phúc Chiến, Nguyễn Duy Thiên Ân, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trần Cẩm Tú, Lê Thành Long, Nguyễn Thị Hồng Vân, Hoàng Nghĩa Sơn (2012), “Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến hàm lượng axit béo omega 3 trong trứng gà”, tạp chí Sinh học, 2012, 34 (3SE): 319-325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn bổ sung đến hàm lượng axit béo omega 3 trong trứng gà
Tác giả: Lê Phúc Chiến, Nguyễn Duy Thiên Ân, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trần Cẩm Tú, Lê Thành Long, Nguyễn Thị Hồng Vân, Hoàng Nghĩa Sơn
Năm: 2012
9. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1998
11. Nguyễn Quý Khiêm, Nguyễn Đăng Vang (1999), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng và kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng, Trích báo cáo khoa học chăn nuôi thú y 1998 - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng và kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng
Tác giả: Nguyễn Quý Khiêm, Nguyễn Đăng Vang
Năm: 1999
13. Ngô Giản Luyện (1994), Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Khoa học nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 86 - 119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Ngô Giản Luyện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1994
15. Huỳnh Minh Quân, Nguyễn Thị Thủy (2015), Ảnh hưởng của mỡ cá tra trong khẩu phần lên năng suất, chất lượng trứng và khối lượng loại thải gà mái Hisex Brown nuôi công nghiệp, tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, phần B, Nông nghiệp Thủy sản và Công nghệ sinh học: 40 (2015) (2): 31-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của mỡ cá tra trong khẩu phần lên năng suất, chất lượng trứng và khối lượng loại thải gà mái Hisex Brown nuôi công nghiệp
Tác giả: Huỳnh Minh Quân, Nguyễn Thị Thủy
Năm: 2015
16. Nguyễn Hoài Tao, Tạ An Bình (1984), "Một số chỉ tiêu về tính năng sản xuất và chất lượng trứng, thịt của gà Ri", Tuyển tập Báo cáo khoa học Gia cầm Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chỉ tiêu về tính năng sản xuất và chất lượng trứng, thịt của gà Ri
Tác giả: Nguyễn Hoài Tao, Tạ An Bình
Năm: 1984
17. Ngô Hồng Thêu (2014), Ảnh hưởng của dầu đậu nành, dầu hạt cải đến năng suất và chất lượng trứng gà Lương Phượng, Luận văn thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của dầu đậu nành, dầu hạt cải đến năng suất và chất lượng trứng gà Lương Phượng
Tác giả: Ngô Hồng Thêu
Năm: 2014
18. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Giáo trình phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiêp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan
Nhà XB: Nxb Nông nghiêp
Năm: 2002
19. Trần Huê Viên (2006), Giáo trình Di truyền học động vật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 109 - 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Di truyền học động vật
Tác giả: Trần Huê Viên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
20. Nguyễn Thị Bạch Yến (1996), Một số đặc điểm di truyền về tính trạng năng suất của vịt Khakicambell qua bốn thế hệ nuôi thích nghi theo phương thức chăn thả, Luận án phó tiến sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm di truyền về tính trạng năng suất của vịt Khakicambell qua bốn thế hệ nuôi thích nghi theo phương thức chăn thả
Tác giả: Nguyễn Thị Bạch Yến
Năm: 1996
22. Amal, S. Omar., Nehad A Ramandan, Bahakaim A.S.A, Sahar M.H Osman and Abdel Malak N.Y., (2014). Effect of using different levels of fish oil, linseed oil and their combination in layer diets on egg omega 3 enrichment, J. Animal and Poultry Prod, Mansoura Univ., Vol. 5 (12):759-774 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of using different levels of fish oil, linseed oil and their combination in layer diets on egg omega 3 enrichment
Tác giả: Amal, S. Omar., Nehad A Ramandan, Bahakaim A.S.A, Sahar M.H Osman and Abdel Malak N.Y
Năm: 2014
23. Ana Beatriz Garcia Faitarone Rua (2016), “Yolk Color and Lipid Oxidation of the Eggs of Commercial White Layers Fed Diets Supplemented with Vegetable Oils”. Rev. Bras. Cienc. Avic. vol.18 no.1 Campinas Jan./Mar. Năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yolk Color and Lipid Oxidation of the Eggs of Commercial White Layers Fed Diets Supplemented with Vegetable Oils
Tác giả: Ana Beatriz Garcia Faitarone Rua
Năm: 2016
24. Ansari R., Azarbayejani A., Ansari S. Asgari S. and Gheisari A. (2006), “Production of egg enriched with omega-3 fatty axits in laying hens”, ARYA J., 1, 242- 246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Production of egg enriched with omega-3 fatty axits in laying hens"”", ARYA J
Tác giả: Ansari R., Azarbayejani A., Ansari S. Asgari S. and Gheisari A
Năm: 2006
6. Dinh dưỡng và sức khỏe (2016), Lipit,http://dinhduong.com.vn/news/lipit, ngày 16/6/2009 Link
7. Nguyễn Viết Đàm (2015), Lý thuyết este - lipit. http://www.hochoaonline.net/chuong-1-este-va-lipit/379-ly-thuyet-ve-este-lipit.html, ngày 16/3/2015 Link
8. Nguyễn Hữu Đức (2015), Chất béo: Lợi và hại, http://nld.com.vn/suc- khoe/chat-beo-loi-va-hai-20150712210443308.htm, ngày 12/7/2015 Link
10. Lê Đình Hòa (2017), Acid béo omega-3 là gì? http://thuanhoapharma.com.vn/content/tintucchitiet.php?catid=368&amp;subcatid=0&amp;newsid=83&amp;langid=0, ngày 17/5/2017 Link
12. Anh Nguyên (2016), Màu lòng đỏ trứng đậm hay nhạt thì tốt với sức khỏe hơn?.http://healthplus.vn/mau-long-do-trung-dam-hay-nhat-thi-tot-voi-suckhoe-hon-d46579.html, ngày 09/11/2016 Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w