PHẠM MINH PHƯƠNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐT51 TRONG VỤ HÈ THU NĂM 2016 TẠI HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Trang 1PHẠM MINH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐT51
TRONG VỤ HÈ THU NĂM 2016 TẠI HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2PHẠM MINH PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KĨ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐT51
TRONG VỤ HÈ THU NĂM 2016 TẠI HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 60.62.01.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN ĐIỀN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Phạm Minh Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn khoa học, các thầy cô giáo giảng dạy, sự giúp đỡ của cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
- PGS.TS Trần Văn Điền - Hiệu trưởng Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên - Giáo viên hướng dẫn khoa học
- Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo Phòng Đào tạo, Khoa Nông học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Thường trực Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
- Lãnh đạo Văn phòng HĐND và UBND huyện, Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
- Đảng ủy, HĐND, UBND xã Bình Long huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
- Gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên cổ vũ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
Phạm Minh Phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và Việt Nam 4
1.1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam 7
1.2 Tình hình sản xuất đậu tương tại tỉnh Thái Nguyên và huyện Võ Nhai 16
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Vật liệu nghiên cứu 19
2.2 Nội dung nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 20
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
2.3.2 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu theo dõi 22
2.4 Phương pháp xử lí số liệu 25
2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.5.1 Địa điểm nghiên cứu 25
2.5.2 Thời gian thực hiện 25
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân đạm đến sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương ĐT51 26
3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 26
3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương ĐT51: 27
3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT51 32
3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại, khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 38
3.1.5 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống đậu tương ĐT51 39
3.2 Ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương ĐT51 45
3.2.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón phân hữu cơ đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 46
3.2.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 46
3.2.3 Ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT51 49
3.2.4 Tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 trên các loại phân hữu cơ 51
3.2.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 52
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 8trưởng của giống đậu tương ĐT51 26 Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến chiều cao cây của
giống đậu tương ĐT51 28 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến đường kính thân
của giống đậu tương ĐT51 29 Bảng 3.4: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến chiều cao đóng
quả của giống đậu tương ĐT51 30 Bảng 3.5: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến số cành cấp 1 của
giống đậu tương ĐT51 31 Bảng 3.6: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến chỉ số diện tích lá
của giống đậu tương ĐT51 32 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đạm đến khả năng tích lũy vật
chất khô của giống đậu tương ĐT51 34 Bảng 3.8: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến số lượng và khối
lượng nốt sần của giống đậu tương ĐT51 36 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến mức độ sâu bệnh,
khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận 39 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến số quả chắc/cây
của giống đậu tương ĐT51 40
Trang 9Bảng 3.11: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến số hạt chắc/quả
của giống đậu tương ĐT51 41 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến P1000 của giống
đậu tương ĐT51 42 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến NSLT của giống
đậu tương ĐT51 43 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến NSTT của giống
đậu tương ĐT51 44 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ đến thời gian sinh
trưởng của giống đậu tương ĐT 51 46 Bảng 3.16: Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ đến chiều cao trung
bình của giống đậu tương ĐT 51 47 Bảng 3.17: Ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ đến chiều cao đóng quả, số
cành cấp 1, đường kính thân của giống ĐT51 48 Bảng 3.18: Ảnh hưởng của một số phân bón hữu cơ đến chỉ số diện tích lá và
khả năng tích luỹ vật chất khô của giống đậu tương ĐT51 49 Bảng 3.19: Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của giống đậu tương ĐT51 50 Bảng 3.20 Một số sâu hại chính và khả năng chống đổ của giống đậu tương
ĐT51 trên một số loại phân hữu cơ 52 Bảng 3.21 Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ sinh học đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 trong thí nghiệm vụ Hè Thu năm 2016 53
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến năng
suất của giống đậu tương ĐT51 tại Võ Nhai 45 Hình 3.2 NSTT và NSLT của các công thức phân bón thí nghiệm vụ Hè Thu
năm 2016 tại huyện Võ Nhai 55
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đậu tương (Glycine max (L) Merr) còn gọi là đậu nành là một cây trồng cạn
ngắn ngày có giá trị kinh tế cao Khó có thể có tìm thấy một cây trồng nào có tác dụng nhiều mặt như cây đậu tương Sản phẩm của nó làm thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp, hàng xuất khẩu và là cây cải tạo đất tốt Vì thế cây đậu tương được gọi là "Ông Hoàng trong các loại cây họ đậu" (Trần Văn Điền, 2007) [5]
Thành phần dinh dưỡng trong hạt đậu tương rất cao với hàm lượng prôtêin từ 38-40%, lipit từ 15-20%, hydratcacbon từ 15-16%, nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự sống Trong lĩnh vực y học, đậu tương là cây thực phẩm
có hàm lượng cholesterone thấp nên việc sử dụng các sản phẩm từ đậu tương sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch Hạt đậu tương đen có tác dụng rất tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột Prôtêin đậu tương dễ tiêu hóa hơn prôtêin thịt và không có các dạng axit uric nên tốt trong việc chữa bệnh suy dinh dưỡng trẻ em và người già Ngoài ra, chất lixithin trong đậu tương có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu, sung sức, tăng trí nhớ, tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể (Phạm
Văn Thiều, 2006) [11]
Võ Nhai là huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích tự nhiên toàn huyện theo địa giới hành chính là 83.942,6 ha Diện tích đất sản xuất nông nghiệp 11.284,9 ha chiếm 13,4%, trong đó: Diện tích đất trồng lúa 4.476,4 ha chiếm 5,33%; diện tích đất trồng cây lâu năm có 2.669,6 ha chiếm 3,2%; diện tích đất trồng cây hàng năm khác 4.138,9 ha chiếm 4,93% diện tích đất tự nhiên Diện tích đất trồng đậu tương
650 ha chiếm 15,7% diện tích đất trồng cây hàng năm (UBND huyện Võ Nhai, 2016)[20]
Đậu tương là một trong những cây trồng hàng năm được Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Võ Nhai quan tâm chỉ đạo sản xuất vì đậu tương là cây trồng ngắn ngày, giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu
Trang 12của huyện; là cây trồng không quá kén đất; có thể gieo trồng cả 3 vụ; có khả năng cải tạo đất Trên địa bàn huyện hiện có làng nghề An Long (xã Bình Long) sản xuất đậu phụ nổi tiếng Tuy nhiên theo số liệu thống kê của huyện, trong những năm gần đây diện tích và sản lượng đậu tương trên địa bàn giảm mạnh, năm 2010 diện tích là
385 ha, năng suất 15,03 tạ/ha, sản lượng 579 tấn thì đến năm 2016 diện tích là 121
ha, năng suất 14,21 tạ/ha, sản lượng 172 tấn (UBND huyện Võ Nhai, 2016) [20] Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do:
- Người nông dân chưa tìm được bộ giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt; chủ yếu vẫn dùng các giống cũ như DT84 và một số giống địa phương như đỗ cúc, đỗ lông, nhật bóng Các giống cũ này có ưu điểm đó là chất lượng hạt tốt tuy nhiên cây thấp, còi cọc, ít phân cành, năng suất thấp, thường dùng để giống cho vụ sau, dễ dẫn đến thoái hóa giống
- Các biện pháp tiến bộ kỹ thuật chưa được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất đậu tương, nhiều người dân trồng không đúng thời vụ, mật độ, ít đầu tư thâm canh, chưa tìm được kỹ thuật bón phân hợp lý cho cây đậu tương…dẫn đến năng suất và hiệu quả đạt thấp hơn các loại cây trồng khác như ngô, thuốc lá, rau màu
- Diện tích sản xuất đậu tương còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa quy hoạch được vùng sản xuất tập trung, công thu hái, vận chuyển không thuận lợi
Trong những nguyên nhân nêu ở trên thì nguyên nhân kỹ thuật đặc biệt là việc
sử dụng phân bón và xác định mật độ chưa phù hợp đã dẫn đến năng suất, sản lượng đậu tương trên địa bàn thấp Mà như chúng ta đã biết, để tăng năng suất đậu tương thì phân bón và mật độ là hai yếu tố quan trọng Trồng với mật độ thích hợp cùng với xác định liều lượng phân bón đúng kỹ thuật sẽ tạo điều kiện tối ưu cho đậu tương sinh trưởng, phát triển Nếu trồng dày quá thì số cây trên đơn vị diện tích nhiều vì thế diện tích dinh dưỡng cho một cây hẹp, cây sẽ thiếu dinh dưỡng và thiếu ánh sáng do vậy ít phân cành, sớm bị che phủ làm cho lá bị rụng nhiều, số hoa ít, số quả/cây ít; ngược lại nếu trồng thưa quá, diện tích dinh dưỡng của cây rộng nên cây phân cành nhiều, số hoa và số quả trên cây nhiều, nhưng số quả chắc và hạt chắc ít nên năng suất không cao
Trang 13Theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển đậu đỗ (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) giống đậu tương ĐT51 có nhiều ưu điểm vượt trội như sinh trưởng khỏe, ra nhiều hoa, tỷ lệ đậu quả cao, năng suất cao, chất lượng tốt có thể trồng được 3 vụ/năm, khi thu hoạch thân, lá vẫn còn xanh nên hàm lượng chất hữu
cơ nhiều, khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt Giống đậu tương ĐT51 đã được trồng tại Bắc Kạn, Cao Bằng, Thái Nguyên và cho thấy năng suất cao, phù hợp với điều kiện khí hậu đất đai ở nhiều vùng khác nhau
Với huyện Võ Nhai giống đậu tương ĐT51 là giống đậu tương mới nên việc nghiên cứu về các mức phân bón đạm và xác định mật độ trồng là cần thiết, bên cạnh đó cần tìm được loại phân hữu cơ bón lót thích hợp cho giống đậu tương,
chính vì thế tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số
biện pháp kĩ thuật đến sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu năm 2016 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân đạm đến sinh trưởng
và phát triển của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ đến sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
3 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu đề tài làm cơ sở khoa học xác định một số biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất, hiệu quả kinh tế sản xuất đậu tương trong vụ Hè
Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Kết quả nghiên cứu đề tài là nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và học tập
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định được mật độ, kĩ thuật bón phân cho giống đậu tương ĐT51
- Khuyến khích bà con nông dân mạnh dạn đầu tư thâm canh, mở rộng diện tích sản xuất đậu tương, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, luân canh, xen canh mang lại giá trị canh tác bền vững và lợi ích kinh tế
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương trên thế giới
1.1.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng của thế giới: đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ dầu Đây là trồng mang tính chiến lược với những quốc gia có điều kiện phát triển vì có trao đổi rất cao trên thị trường do nhu cầu sử dụng protein, dầu thực vật, thực phẩm chức năng và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc ngày càng gia tăng nên cây đậu tương được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở các nước châu Mỹ chiếm tới 73%, tiếp đó là các nước thuộc khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ) chiếm 23,15% Diện tích, năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên qua các thời kỳ
Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm 2010-2014 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)
Trang 15đối ổn định dao động từ 22,93 - 26,2 tạ/ha Năm 2012, năng suất đậu tương trên thế giới thấp nhất là 22,93 tạ/ha Năm 2014, năng suất đậu tương cao nhất là 26,2 tạ/ha
Do hàng năm diện tích trồng liên tục tăng lên nên sản lượng đậu tương trên thế giới cũng tăng lên, trong 4 năm từ 2010 - 2014 tăng 43,53 triệu tấn
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của 4 nước trồng đậu
tương chủ yếu trên thế giới
Tên nước Năm Diên tích (triệu
ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 16Trong 5 năm gần đây diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Mỹ không ngừng tăng lên Năm 2014 là năm Mỹ đạt đỉnh cao về cả diện tích, năng suất
và sản lượng khẳng định vị trí số một trong sản xuất đậu tương Có được thành công như vậy phải nói rằng nước Mỹ đã hết sức chú trọng đến việc phát triển đậu đỗ Không những tăng về diện tích mà Mỹ còn quan tâm đến vấn đề nghiên cứu và tạo giống Hiệp hội đậu tương Hoa Kỳ (ASA:American Soybean Association) được thành lập từ năm 1920 có 52 nghìn hội viên Ở Mỹ, việc chọn lọc, nhập nội và lai tạo giống rất được quan tâm Năm 1893, Mỹ đã có trên 10.000 mẫu giống được thu thập từ khắp nơi trên thế giới
Nước sản xuất lớn thứ 2 thế giới là Braxin, từ năm 2011 - 2014 thì diện tích, sản lượng đậu tương tăng theo từng năm, cao nhất vào năm 2014 là 86,76 triệu tấn Brazil đang tiếp tục đẩy mạnh công tác chọn, tạo giống mới chống chịu sâu bệnh, giống chuyển nạp gen, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới và nghiên cứu kết hợp giữa trong và ngoài nước, phát triển mạnh lúa mỳ và ngô luân canh với đậu tương Tại Brazil, đậu tương chủ yếu được dùng để làm bột và ép dầu Chính phủ khuyến khích đẩy mạnh nền công nghiệp chế biến trong nước và xuất khẩu
Quốc gia đứng thứ 3 về sản xuất đậu tương sau Mỹ, Brazil là Acgentina Tại quốc gia này đậu tương thường được trồng luân canh với lúa mì Chính phủ nước này đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương do đó mà cây đậu tương phát triển khá mạnh đưa nước này lên xếp thứ 3 về sản xuất đậu tương trên thế giới Từ năm 1961 - 1962 chính phủ đã có chính sách hỗ trợ cho việc phát triển cây đậu tương, nên cây đậu tương phát triển khá mạnh
Trung Quốc là nước đứng thứ 4 về cây trồng này Ở Trung Quốc, đậu tương được trồng chủ yếu ở vùng Đông Bắc, nơi có những điển hình năng suất cao, đạt 83,93 tạ/ha trên diện tích 0,4 ha và 49,6 tạ/ha trên diện tích là 0,14 ha Tuy sản xuất đậu tương của Trung Quốc còn đứng sau Mỹ, Braxin và Argentina nhưng đây vẫn
là nước có diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương lớn nhất châu Á Năng suất đậu tương của Trung Quốc thấp hơn năng suất bình quân thế giới khoảng 7 tạ/ha Sản lượng thì giảm gần 3 tấn do diện tích sản xuất giảm, sản lượng không đáp ứng
Trang 17được nhu cầu trong nước Hàng năm, Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương từ châu Mỹ; Trung Quốc là nước phải nhập đậu tương lớn nhất trên thế giới
1.1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Đậu tương là cây trồng lâu đời ở Việt Nam, nhân dân ta đã biết trồng và sử dụng đậu tương từ hàng nghìn năm nay Tuy nhiên trước đây việc sản xuất đậu tương chỉ
bó hẹp trong phạm vi nhỏ thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn Sau năm 1973, sản xuất đậu tương nước ta mới có bước phát triển đáng kể Diện tích bình quân thời kỳ 1985 - 1993 đạt 106 nghìn ha, tăng gấp 2 lần so với thời kỳ 1975 -
1980, năng suất bình quân tăng từ 500 kg/ha lên 780 - 900 kg/ha (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, (1996) [10]
Trong thời gian gần đây, dưới áp lực nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn có giá thành thấp và thuận lợi trong vận chuyển, diện tích đậu tương của Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng, mặc dù Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành nhiều chủ trương để phát triển cây trồng này Năm 2016, diện tích đậu tương Việt Nam chỉ đạt
94 nghìn ha, năng suất 1,57 tấn/ha, sản lượng 147,5 nghìn tấn; so với năm 2011 diện tích gieo trồng cả nước bị giảm trên 87 nghìn ha và sản lượng giảm 119,4 nghìn tấn Với số liệu này thì chỉ đạt 23,5% so với chỉ tiêu kế hoạch đề ra cho năm
2010 (400 nghìn ha) và khó đạt chỉ tiêu kế hoạch đến 2020 (500 nghìn ha) theo chủ
trương phát triển của Bộ Nông nghiệp và PTNT nếu không có giải pháp phù hợp
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam 2011 - 2016
Năm 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Diện tích trồng (nghìn ha) 181,1 119,6 117,2 109,4 100,8 94,0
Tổng sản lượng (nghìn tấn) 266,9 173,5 168,2 156,5 146,4 147,5
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) 2017 [22]
Theo số liệu thống kê chính thức của Chính phủ thì đậu tương được trồng ở 28 tỉnh trên khắp cả nước, trong đó 70% ở miền Bắc và 30% ở miền Nam Khoảng
Trang 1865% đậu tương nước ta được trồng ở vùng cao, những nơi đất không cần màu mỡ;
và 35% được trồng ở những vùng đất thấp ở khu vực đồng bằng sông Hồng Đậu tương được trồng ở nhiều địa phương trên khắp cả nước vào từng thời điểm khác nhau nên có cả vụ Xuân, vụ hè và vụ Đông
* Tình hình nhập khẩu đậu tương của Việt Nam
Do sản xuất đậu tương trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu nên hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu một lượng lớn hạt đậu tương từ các thị trường lớn trên thế giới
Bảng 1.4 Tình hình nhập khẩu đậu tương Việt Nam (2014-2016)
Số lượng (nghìn tấn) 1.519 1.707 1.546
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO) 2017[22]
Việt Nam nhập khẩu khối lượng đậu tương lớn nhất vào năm 2015 với 1.707 nghìn tấn, giá trị 765 triệu USD, đến năm 2016 giảm còn 1.546 nghìn tấn, giá trị
661 triệu USD Trong đó khoảng 45% nhập khẩu từ từ Hoa Kỳ, 35% từ Brazil và
phần còn lại từ Argentina, Canada, Paraguay và các nước khác
* Định hướng sản xuất đậu tương ở nước ta
Hiện nay, chính phủ đang có những ưu tiên để nghiên cứu phát triển cây đậu tương thông qua Quyết định 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, nhằm cải thiện nhanh hơn đời sống của nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo bảo vệ môi trường sinh thái, phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Nhiều giải pháp được đặt ra, trước mắt tập trung giải quyết các sản phẩm trọng điểm chủ lực để tăng cường kim ngạch xuất khẩu và hạn chế kim ngạch nhập khẩu Với chủ trương đó, hiện nay, đậu tương đang được khuyến khích phát triển trong cơ cấu 2 lúa - 1 màu chuyển đổi trên
Trang 19đất trồng lúa kém hiệu quả và luân canh cây trồng ở những vùng có truyền thống
sản xuất và điều kiện thời tiết thuận lợi
Cần thống nhất quan điểm phát triển cây đậu đỗ trong chuyển dịch kinh tế của từng vùng Xây dựng các vùng sản xuất tập trung mang tính hàng hóa, đầu tư thâm canh, phát huy lợi thế vùng nhiệt đới có thể trồng được đậu đỗ nhiều vụ trong năm Tăng cường cơ sở vật chất cho nghiên cứu và sản xuất chế biến Tăng cường nguồn vốn trong nước, đẩy mạnh thu hút nguồn vốn nước ngoài Phát triển 900.000 - 1.000.000 ha (Đậu tương 500.000 ha, lạc 350.000-400.000 ha, đậu xanh 70.000 - 100.000 ha) Năng suất đậu tương đạt trung bình 1,8-2,0 tấn/ha
Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Theo đó, diện tích đất quy hoạch khoảng 100 nghìn ha, tận dụng tăng vụ trên đất lúa để năm 2020 diện tích gieo trồng khoảng 350 nghìn ha, sản lượng 700 nghìn tấn; vùng sản xuất chính là đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên
1.1.2.2 Một số kết quả nghiên cứu giống đậu tương ở Việt Nam
Ở Việt Nam, công tác chọn tạo giống đậu tương cũng là một trong các hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Đã có rất nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành nghiên cứu chọn tạo ra các giống đậu tương mới
Trong vòng 20 năm qua đề tài lạc, đậu tương đã chọn tạo thành công trên 25 giống mới trong đó có trên 10 giống đậu tương được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật thông qua việc tuyển chọn từ tập đoàn giống thu thập trong nước và nhập nội Trên 10 giống tạo ra bằng con đường lai hữu tính và 6 giống bằng đột biến thực nghiệm Các giống mới được phân theo 3 nhóm chính:
- Nhóm cho vụ Xuân và Đông gồm các giống: AK03, AK04, AK05, VX92, VX93, ĐT92, ĐT2000, DN42, TL57, DT90, DT96, Đ98-04, ĐT26, Các giống này có phạm vị thích nghi hẹp, chủ yếu cho vụ Đông và Xuân ở các tỉnh phía Bắc, ít thích hợp cho các tỉnh phía Nam
- Nhóm giống chuyên cho vụ Hè và Hè Thu: M103, ĐT80, MĐT176, HL2
- Nhóm giống 3 vụ/năm: DT84, ĐT93, AK06, ĐT12, ĐT22, ĐT51, DT-02, DT2001, ĐVN5, ĐVN6
Trang 20Giống đậu tương ĐT51 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc từ tổ hợp lai giữa LS17 x DT2001 Giống đậu tương ĐT51 có hoa màu tím, hạt vàng, rốn nâu đậm, quả chín có màu vàng Chiều cao cây 45-55cm, phân cành khá, hơn 2 cành/cây, số quả chắc cao, tỷ
lệ quả 3 hạt đạt 25-30 % Khối lượng 100 hạt khoảng từ 17,5-20,0 g Thời gian sinh trưởng trung bình 90-95 ngày, năng suất 20-29 tạ/ha, tuỳ thuộc vào mùa vụ và điều kiện thâm canh Giống thích hợp trong vụ Hè, vụ Xuân và vụ Đông Giống ĐT51 nhiễm nhẹ bệnh vi rút, đốm nâu (Trần Thị Trường, 2012) [14]
1.1.2.3 Những nghiên cứu về thời vụ trồng
Bên cạnh nghiên cứu về giống thì các nhà khoa học cũng không ngừng nghiên cứu về quy trình thâm canh cây đậu tương để nó đạt được năng suất cao nhất với tiềm năng của giống Các nghiên cứu về thời vụ trồng đậu tương là một trong những hướng nghiên cứu để hoàn thiện quy trình kỹ thuật cho giống thích hợp với từng vụ, vùng sản xuất Kết quả nghiên cứu thời vụ gieo của tác giả Trần Thị Trường thì giống đậu tương ĐT51 có TGST từ 89 - 95 ngày Thời vụ tốt nhất như sau: Vụ Đông gieo từ 10/9 - 5/10, vụ Xuân gieo từ 15/2 - 10/3, vụ Hè Thu gieo từ 10/6 - 4/7 Riêng các tỉnh vùng núi phía Bắc do khí hậu lạnh hơn nên vụ Xuân thường gieo muộn hơn các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và chỉ nên trồng 2 vụ chính trong năm (vụ Xuân Hè gieo từ 10/3 - 15/4, vụ Hè Thu từ 15/7 - 20/8)
Theo tác giả Đoàn Thị Thanh Nhàn thì đậu tương không thể trồng ở miền Bắc vào tháng 11, 12 do trời lạnh, còn ở miền Nam thì có thể trồng quanh năm Cụ thể với miền Bắc thì tác giả cho rằng đậu tương có thể trồng 3 vụ là vụ Xuân từ 15/1 - 15/3, vụ Hè từ 20/5 - 15/6, vụ Đông từ 20/9 - 15/10 (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng
sự, 1996)[10] Cụ thể hơn cho từng nhóm giống và điều kiện khí hậu của từng vùng, tác giả Phạm Văn Thiều cho rằng thời vụ trồng đậu tương ở miền Bắc như sau: vụ Xuân nơi ấm và đủ ẩm thì gieo vào 15/1 - 15/2, nơi rét và khô hạn thì gieo từ 20/2 - 15/3 Vụ Hè với giống chín sớm thì gieo 25/5 - 15/6, chín muộn thì gieo từ 25/4 - 20/5, chín trung bình thì gieo từ 15/5 - 20/6 Vụ Thu gieo từ 20/6 - 10/7, vụ Đông gieo từ cuối tháng 9 đến chậm nhất là 10/10 (Phạm Văn Thiều, 2006) [11]
Trang 211.1.2.4 Những nghiên cứu về mật độ trồng
Mật độ trồng đối với cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng phát triển, năng suất và sự phát sinh của các loại sâu bệnh hại Mật độ là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành năng suất Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khi tăng mật độ trồng thì năng suất tăng nhưng đến một mức nào đó nếu trồng dày quá thì năng suất có thể giảm và là điều kiện thuận lợi cho các loại sâu bệnh phát sinh phát triển Vì vậy nghiên cứu về mật độ trồng hợp lý cho đậu tương có một ý nghĩa hết sức quan trọng Thực tế ở nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về vấn đề này
Kết quả nghiên cứu mật độ gieo trồng đậu tương của nhóm tác giả Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, Trần Văn Lài, Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào (1999) [3] chỉ ra rằng: Trồng đậu tương cần phải căn cứ vào thời gian sinh trưởng của giống (chín sớm, chín trung bình, hay chín muộn), đặc điểm sinh học của cây (cao thấp, phân cành nhiều hay ít, tán lá), trồng xen hay trồng thuần, thời vụ trồng (vụ Xuân, vụ Hè, hay vụ Đông) mà quyết định Nếu giống chín sớm, thấp cây, tán gọn thì nên trồng dày, giống dài ngày, cây cao to, phân cành nhiều, lá to thì trồng thưa, vụ Đông ở Miền Bắc nên trồng dày hơn vụ Xuân, vụ Hè
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Văn và các cs (2001) [15] nếu trồng với mật độ quá dày thì số cây trên đơn vị diện tích nhiều, diện tích dinh dưỡng cho mỗi cây hẹp, cây sẽ thiếu dinh dưỡng và ánh sáng nên cây ít phân cành, số hoa, số quả/cây ít, khối lượng 1000 hạt nhỏ; ngược lại nếu trồng thưa quá diện tích dinh dưỡng cho mỗi cây rộng nên cây phân cành nhiều, số hoa, số quả/cây nhiều, khối lượng 1000 hạt tăng nhưng trồng ở mật độ thấp nên năng suất không cao
Khi nghiên cứu xác định mật độ trồng thích hợp cho giống đậu tương D140 ở vùng đồng bằng Sông Hồng, Vũ Đình Chính (1995) [2] đưa ra kết luận: mật độ trồng không ảnh hưởng đến thời gian và tỷ lệ nảy mầm, nhưng có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng và ảnh hưởng rõ rệt đến các chỉ tiêu như chiều cao cây, chỉ số diện tích lá, khả năng tích lũy chất khô, khả năng chống chịu sâu bệnh hại, khả năng chống đổ, các yếu tố cấu thành năng suất và đối với giống đậu tương D140 khi
Trang 22trồng ở vùng Đồng bằng sông Hồng cho năng suất cao nhất khi trồng ở mật độ trồng
45 cây/m2 trong vụ Xuân và vụ Đông, ở mật độ trồng 35 cây/m2 trong vụ Hè
Nguyễn Thị Văn và Trần Đình Long (2002) [15] khi nghiên cứu xác định mật
độ gieo trồng thích hợp cho một số giống đậu tương địa phương và một số mẫu giống nhập nội từ Australia đã kết luận: Mật độ gieo trồng ít ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của các mẫu giống và không ảnh hưởng đến các đặc điểm hình thái của các mẫu giống Mật độ 48 cây/m2 cho năng suất cao nhất ở 4 mẫu giống
941273321, CLS1112 và Lơ 75 Mật độ 32 cây/m2 cho năng suất cao nhất ở mẫu giống 96031 Mật độ 24 cây/m2 cho năng suất thấp nhất ở tất cả các mẫu giống Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Trường và cs (2006) [13] vụ Xuân nên gieo với mật độ từ 30 - 35 cây/m2; vụ Hè gieo với mật độ từ 25 - 30 cây/m2; vụ Đông gieo với mật độ từ 40 - 45 cây/m2 Còn đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn, trên chân đất cát pha, có thể trồng dày hơn với mật độ từ 55 - 65 cây/m2
Kết quả nghiên cứu của Tạ Kim Bính và cs (2006) [1] chỉ ra rằng: Đối với giống đậu tương ĐT2006 ở các mật độ trồng 15, 25, 35, 45 cây/m2 thì mật độ trồng càng tăng thì số quả/cây và khối lượng 1000 hạt càng giảm
Nguyễn Tấn Hinh và Nguyễn Văn Lâm (2006) [8] sau khi nghiên cứu mật độ gieo đối với giống đậu tương Đ2101 trong vụ Xuân và vụ Đông kết luận: Trong vụ Đông trồng ở mật độ 40 - 50 cây/m2 cho năng suất cao nhất, còn trong vụ Xuân trồng ở mật độ 20 - 30 cây/m2cho năng suất cao nhất
Nhiều kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Thiều (2006) [11] đều dẫn đến kết luận rằng để xác định được mật độ trồng đậu tương thích hợp cần căn cứ vào đặc tính của giống, thời vụ gieo trồng, độ phì của đất và mức độ thâm canh
Nghiên cứu của Luân Thị Đẹp và cs (2008) [7] phương thức trồng xen ngô với đậu tương Xuân trên đất dốc tại tỉnh Bắc Kạn còn cho thấy: mật độ trồng đậu tương thích hợp còn chịu ảnh hưởng bởi phương thức trồng xen và liên quan đến năng suất đậu tương
Tác giả Lưu Thị Xuyến (2011)[18] khuyến cáo đối với giống đậu tương 99084
- A28 trồng tại Thái Nguyên thì mật độ thích hợp ở vụ Xuân là 35 cây/m2 và ở vụ Đông là 45 cây/m2
Trang 23Theo quy trình hướng dẫn sản xuất đậu tương của Bộ Nông nghiệp và PTNT thì mật độ trồng thay đổi theo từng thời vụ và thời gian sinh trưởng của giống: Ở vụ Xuân giống chín sớm trồng với mật độ 50 - 60 cây/m2, giống chín trung bình trồng với mật độ 40 - 50 cây/m2 Vụ Hè: giống chín sớm trồng với mật độ 40 - 50 cây/m2, giống chín trung bình trồng với mật độ 30 -40cây/m2, giống chín muộn trồng với mật độ 15 - 20 cây/m2
Những kết quả nghiên cứu trên của thế giới và Việt Nam đã mở ra những triển vọng mới góp phần thúc đẩy sản xuất thâm canh đậu tương theo hướng tăng năng suất và chất lượng Tuy nhiên yếu tố hạn chế chính trong sản xuất đậu tương là chưa
có bộ giống cho năng suất cao thích hợp với từng vùng sinh thái; kỹ thuật canh tác chủ yếu theo truyền thống (thời vụ, mật độ, bón phân, chăm sóc) tùy tiện đã dẫn đến năng suất thấp Ngoài ra, còn một số yếu tố như sâu bệnh hại, thủy lợi và thị trường tiêu thụ Vì vậy, nghiên cứu xác định giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp với từng vùng sinh thái là hết sức cần thiết trước khi sản xuất đại trà
1.1.2.5 Một số nghiên cứu về phân bón với đậu tương
* Hiệu lực của phân đạm
Phân đạm đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương Nguồn cung cấp đạm cho đậu tương là từ phân bón, đất và khả
năng tự cố định đạm khí trời nhờ vi khuẩn Rhyzobium japonicum Mỗi giai đoạn
sinh trưởng đậu tương cần lượng đạm khác nhau Đạm được sử dụng dưới các dạng như NH4NO3, HNO3, NH4OH và Urea Trong đó Urea là nguồn đạm tốt nhất Các nguồn đạm khác có hiệu lực thấp và không ổn định
Nghiên cứu của Võ Minh Kha (1997) [9] ở Việt Nam cho biết trên đất đồi chua, hàm lượng sắt nhôm cao bón phân lân và đạm có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương rõ rệt Theo tác giả trên đất tương đối nhiều dinh dưỡng bón đạm làm tăng năng suất đậu tương lên 10 - 20%, còn trên đất thiếu dinh dưỡng bón đạm làm tăng năng suất 40 - 50% Bón đạm có tầm quan trọng để thu năng suất tối đa, tuy nhiên nếu bón NO3 dư thừa lại có hại với năng suất vì lúc đó sự cố định đạm bị ức chế hoàn toàn (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [3]
Trang 24Kết quả nghiên cứu của tác giả Luân Thị Đẹp và cs, (1999) [6] về ảnh hưởng của liều lượng và thời kì bón đạm đến khả năng cố định đạm và năng suất đậu tương tại Thái Nguyên cho thấy: giai đoạn 4 - 5 lá kép nếu bón từ 25- 50 kg N/ha sẽ làm tăng sự phát triển của rễ cũng như tăng số lượng nốt sần Nghiên cứu của tác giả Trần Danh Thìn (2001) [12] cho biết: Để việc bón đạm thực sự có hiệu quả cao cần bón kết hợp giữa các loại phân khoáng khác như lân, kali và các phân vi lượng khác
* Hiệu lực của phân lân
Cây đậu tương thường hút lân từ phân bón và hút đến tận cuối vụ Tuy nhiên việc tăng P tổng số hấp thu có thể bị giới hạn do P trong phân được thay bằng P trong đất Bón lân còn tăng khả năng hình thành nốt sần của đậu tương Bón nhiều P nâng cao số lượng và khối lượng nốt sần Hiệu lực này tuỳ thuộc vào giống, điều kiện thời tiết và giai đoạn phát triển của đậu tương
Thiếu P dễ tiêu thường gắn liền với đất chua, hàm lượng Fe, AL, Mn cao Vùng nhiệt đới trồng đậu tương chủ yếu trên đất dốc, đất chua và khô hạn Trên loại đất này độc tố do đất chua và nhôm là một trong những yếu tố hạn chế cơ bản cho tất cả các cây trồng Các độc tố này ảnh hưởng sự phát triển của rễ và đặc biệt là khả năng hút lân của cây
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần (1996) [4] cho biết trên đất bạc màu Hà Bắc bón lân cho lạc và đậu tương đem lại hiệu quả kinh tế cao Lân làm tăng hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần Tuỳ theo năng suất đậu tương cao hay thấp và thành phần cơ giới có sẵn trong đất để xác định mức bón P cho hợp lý
Nghiên cứu của Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên (1998) [19] cho biết hiệu quả của việc sử dụng các loại phân bón N, P, K cho cây trồng trên đất đồi chua được xác định là P cho hiệu quả cao nhất, sau đó đến N và thấp nhất là K Tác giả cũng cho rằng P là một trong những yếu tố hạn chế lớn nhất đến đến năng suất tất cả các cây trồng cạn như sắn, lạc, đậu tương và lúa cạn
* Hiệu lực của phân kali
Kali đóng vai trò sống còn trong sự quang hợp tạo nên đường và chất hữu cơ cho cây Không đủ kali cho nhu cầu của cây làm giảm sự tăng trưởng, năng suất, cây
dễ nhiễm sâu bệnh Kali có tầm quan trọng như nhau ở tất cả các giai đoạn phát triển
Trang 25của cây đậu tương và nó ảnh hưởng lớn đến cân bằng dinh dưỡng của cây Việc hút K
có liên quan đến Ca và Mg, hàm lượng Ca và Mg thường giảm đi khi bón K Đó là hiệu ứng nghịch do bón Ca làm giảm tích luỹ K của cây đậu tương Tuy nhiên sự thay đổi này không quá lớn so với sự thay đổi nồng độ dinh dưỡng
Hiệu lực của K thường liên quan tới P Năng suất đậu tương tăng khi bón K và
P riêng biệt nhưng năng suất cao nhất khi bón kết hợp K với P Theo Vũ Đình Chính (1995) [2], trên đất dốc bạc màu nghèo dinh dưỡng, bón phân cho đậu tương với mức
90 kg P2O5/ha trên nền phân 40 kg N/ha đã làm tăng lượng nốt sần, số quả chắc/cây
và năng suất hạt Tác giả cho biết tổ hợp phân khoáng thích hợp nhất cho giống đậu tương Xanh Lơ trong điều kiện vụ hè tại Hà Bắc là: 20 kgN + 90 kgP2O5 + 90 kgK2O Theo Ngô Thế Dân và cs (1999) [3] ở đất nghèo kali, đất cát đậu tương phản ứng rõ rệt với phân kali, nhưng đối với các vùng trồng đậu tương thuộc đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, do đặc điểm đất ở đây tương đối giầu kali nên hiệu quả bón phân kali ở vùng này thấp
Nghiên cứu của Đỗ Thị Xô và các cs (1996) [17] về phân bón cho đậu tương trong
cơ cấu 2 lúa 1 đậu tương hè trên đất bạc màu vùng Hà Bắc cho biết công thức phân bón cho hiệu quả kinh tế cao là 8 tấn phân chuồng + 40 kg N + 60 kg P2O5 + 40 kg K2O
* Vai trò của phân hữu cơ
Phân bón hữu cơ và phân hóa học có mối liên hệ tương hỗ và không thể tách rời, phân hữu cơ không thể thay phân hóa học và ngược lại, mỗi loại có vai trò khác nhau cùng tác động trực tiếp và quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm của ngành nông nghiệp và tạo nền nông nghiệp phát triển ổn định bền vững Chất hữu cơ đối với cây trồng thì không thể thiếu, nó có một số tác dụng cụ thể như sau Thứ nhất chất hữu cơ tồn tại xen kẽ với các thành phần kết cấu của đất, tạo tạo
ra sự thông thoáng giúp rễ phát triển mạnh nên có cường độ hô hấp tối đa và dễ dàng hấp thu các nguồn dinh dưỡng
Thứ hai chất hữu cơ sẽ lưu giữ các khoáng chất đa, trung vi lượng từ các loại phân bón hóa học và cung cấp dần cho cây hạn chế được hiện tượng thất thoát phân bón trong quá trình sử dụng, giảm chi phí đáng kể trong sản xuất nông nghiệp, giúp đất giữ ẩm làm cây chống chịu khô hạn tốt hơn
Trang 26Thứ ba, sự hiện diện của chất hữu cơ làm môi trường sống cho các hệ vi sinh
có ích, các hệ vi sinh này cân bằng môi trường của hệ sinh thái vì vậy sẽ hạn chế một số đối tượng gây bệnh, góp phần tăng năng suất và chất lượng nông sản
Trong sản xuất, có nhiều loại phân hữu cơ, tạm thời phân ra các nhóm sau:
* Nhóm phân hữu cơ truyền thống, bao gồm các loại phân gia súc, gia cầm như chất thải của trâu, bò, lợn, gà, vịt, dê, cừu Các loại chất thải này nếu sử dụng nguyên chất thì có hàm lượng dinh dưỡng khá cao Ví dụ, trong phân bò tươi có
chứa chất đạm khoảng 0,341%, phân trâu có chứa 0,306% còn trong phân lợn có 0,669% chất N Nhưng trong phân chuồng, do cần có lượng phân nhiều nên thường cho thêm chất độn như rơm, rác, lá cây, cỏ… Hàm lượng dinh dưỡng trong phân chuồng có nhiều hay ít tùy theo lượng chất độn được cho thêm vào, nhưng chắc chắn là ít hơn phân nguyên chất rất nhiều Ngoài các chủng loại phân nói trên ta còn
có phân bùn ao, phân bùn của nhà máy đường, phân xanh, phân rác các loại khác
* Nhóm phân hữu cơ chế biến công nghiệp, bao gồm:
- Phân hữu cơ: Có hàm lượng hữu cơ khoảng 20%, chứa chất đạm từ 2% trở
lên, tỷ lệ C/N khoảng 12 (chất hữu cơ so với chất đạm)
- Phân hữu cơ khoáng: Có hàm lượng hữu cơ phải chiếm từ 15% trở lên và
tổng số N+P+K phải được 8% trở lên (8 - 18%)
- Phân hữu cơ sinh học: Hàm lượng các axit Humic, Fulvic hay Humin hoặc
tổng các axit amin, vitamin hay hợp chất sinh học khác phải đạt từ 5% trở lên
- Phân hữu cơ vi sinh: Chất hữu cơ trên 15%, có ít nhất 1 vi sinh vật hữu ích
1.2 Tình hình sản xuất đậu tương tại tỉnh Thái Nguyên và huyện Võ Nhai
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi Đông Bắc có tổng diện tích đất tự nhiên là 650.288 ha Tỉnh Thái Nguyên có nhiều tiềm năng để trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày, đặc biệt là cây đậu tương, một cây trồng phù hợp với việc luân canh, xen canh lại có tác dụng cải tạo đất tốt
Trang 27Bảng 1.5 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Thái Nguyên 2010 - 2016
Năm 2010 2012 2013 2014 2015 2016
Nguồn: Cục Thống kê Thái Nguyên, 2017 [21]
Qua bảng 1.5 cho thấy: Diện tích và sản lượng đậu tương của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây liên tục giảm Năm 2010 diện tích đậu tương là 1.567 ha thì đến năm 2015 chỉ còn 987 ha (giảm 637 ha) Điều đó dẫn đến sản lượng giảm từ 2.312 tấn (năm 2010) xuống 1.375 tấn (năm 2016) giảm 937 tấn Năng suất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây có xu hướng tăng, dao động từ 14,39 - 15,25 tạ/ha; năm 2013 năng suất đậu tương đạt lớn nhất 15,25 tạ/ha, do đã có một số ít hộ nông dân đã đưa giống mới vào sản xuất và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật
Có nhiều nguyên nhân giảm diện tích trồng đậu tương, trong đó có nguyên nhân chính là do kỹ thuật thâm canh còn hạn chế; thêm nữa là do quá trình đô thị hóa nhanh nên diện tích đất nông nghiệp giảm nên diện tích trồng đậu tương cũng giảm Trước thực trạng ấy, trong những năm tới thì việc áp dụng quy trình kỹ thuật canh tác mới để phát triển sản xuất ở Thái Nguyên ngày càng trở nên cấp thiết hơn
Đối với huyện Võ Nhai tình hình sản xuất đậu tương cũng theo xu hướng chung của tỉnh Điều đó được thể hiện qua bảng 1.6
Bảng 1.6 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Võ Nhai 2010 - 2016
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Nguồn: Cục Thống kê Thái Nguyên 2017 [21]
Qua bảng 1.6 cho thấy: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của huyện
Võ Nhai những năm gần đây cũng liên tục giảm Năm 2010 diện tích đậu tương là
Trang 28385 ha, sản lượng 579 tấn thì đến năm 2016 chỉ còn 121 ha (giảm 264 ha), sản lượng
172 tấn (giảm 407 tấn)
* Các biện pháp kỹ thuật đang áp dụng trong sản xuất đậu tương tại huyện Võ Nhai:
- Về thời vụ: Ở huyện Võ Nhai chủ yếu trồng đậu tương vào 2 vụ chính đó là vụ Xuân và vụ Hè Thu Vụ Xuân thường trồng vào cuối tháng 3-15/4, vụ Hè Thu từ 15/6-05/8 và chủ yếu trồng ở trên đất soi, bãi, lân và một số diện tích ở ruộng không chủ động nước Đối với vụ Đông hầu như người dân không trồng đậu tương do gặp điều kiện thời tiết rét đậm và khô hại mặt khác do thời vụ trồng lúa của huyện thường muộn hơn so với các huyện trong tỉnh nên người dân không trồng đậu tương
- Về giống: Chủ yếu vẫn dùng các giống cũ như DT84 và một số giống địa phương như đỗ cúc, đỗ lông, nhật bóng Trong những năm qua một số chương trình, dự án, mô hình về trình diễn các giống đậu tương như DT2008, ĐT26, Đ8 đã thực hiện tại địa phương nhưng hiệu quả nhân rộng chưa cao, người dân vẫn sử dụng giống địa phương do dễ chăm sóc, chất lượng thành phẩm đậu phụ cao
- Về mật độ: Chủ yếu người dân rạch hàng gieo với lượng giống từ 2-3kg/sào
- Về bón phân: Người dân hầu như không bón lót phân hữu cơ và ít bón thúc cho cây đậu tương
Trang 29Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu sử dụng trong nghiên cứu là giống đậu tương ĐT51 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc
từ tổ hợp lai giữa LS17 x DT2001 Giống được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc, theo quyết định số 218/QĐ-TT-CCN ngày 15 tháng 6 năm 2012
Giống đậu tương ĐT51 có hoa màu tím, hạt vàng, rốn nâu đậm, quả chín màu vàng Chiều cao cây trung bình 45 - 55cm, phân cành khá (hơn 2 cành/cây), số quả chắc cao, tỷ lệ quả 3 hạt từ 25 - 30% Khối lượng 1.000 hạt 175 - 200g Thuộc nhóm giống có thời gian sinh trưởng trung bình (90 -95 ngày) Năng suất và tiềm năng năng suất từ 20 - 29 tạ/ha (tuỳ thuộc mùa vụ và điều kiện thâm canh)
- Các loại phân bón vô cơ: Phân đạm Urê (46% N), Suppe lân (16% P2O5) và KCl (60% K2O)
- Các loại phân bón hữu cơ: Phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm - 01, phân hữu cơ sinh học NTT, phân chuồng
+ Phân Sông Gianh (Hữu cơ: 15%; độ ẩm: 30%, P2O5: 1,5%; Acid Humic: 2,5%; Trung lượng: Ca, Mg, S; Các chủng vi sinh vật hữu ích: 3 × 106CFU/g)
+ Phân Quế Lâm-01 ( Hữu cơ: 15%, độ ẩm: 30%, VSV Cố định đạm: 1x10⁶ CFU/g, VSV Phân giải lân: 1x10⁶ CFU/g, VSV phân giải xenlulozo: 1x10⁶ CFU/g)
+ Phân NTT ( hàm lượng hữu cơ 35%, axit Humic 6-8%, pH = 6)
+ Phân chuồng (đối chứng: phân lợn ủ hoai)
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân đạm đến sinh trưởng
và phát triển của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ đến sinh trưởng, và phát triển của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Trang 302.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm
đến sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương ĐT51
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (spit-Plot design); ô lớn là phân bón có diện tích 30m2, ô nhỏ là mật độ diện tích 10m2; 3 lần nhắc lại, tổng diện tích
là 270 m2 Khoảng cách gieo trồng của từng mật độ cụ thể: M1 (20 cây/m2) tương đương khoảng cách 35 cm x 10-12 cm; M2 (30 cây/m2) tương đương khoảng cách 35cm x 8-10 cm; M3 (40 cây/m2) tương đương khoảng cách 35 cm x 5-6 cm Ngày gieo trồng: 07/7/2016
vệ
P1 P2 P3
Dải bảo
Nhắc lại 1 Nhắc lại 2 Nhắc lại 3
Dải bảo vệ Dải bảo vệ Dải bảo vệ
Trang 31* Liều lượng bón phân:
- Mức phân bón thực tế cho 1 ô thí nghiệm của P1 là 32g Ure + 375g phân lân + 100 g phân KCl (tương đương với: 32 kg Ure + 375 kg phân lân + 100kg phân KCl + 1 tấn HCVSSG cho 1 ha)
- Mức phân bón thực tế cho 1 ô thí nghiệm của P2: 65g Ure + 375g phân lân + 100g phân KCl (tương đương với: 65 kg Ure + 375 kg phân lân + 100 kg phân KCl + 1 tấn HCVSSG cho 1 ha.)
- Mức phân bón thực tế cho 1 ô thí nghiệm của P3: 98g Ure + 375g phân lân + 100g phân KCl (tương đương với: 98kg Ure + 375 kg phân lân + 100kg phân KCl +
1 tấn HCVSSG cho 1 ha)
* Phương pháp bón phân:
+ Bón lót: ½ lượng đạm Urê + ½ lượng kali + 100% phân lân + 100% phân
hữu cơ vi sinh Sông Gianh
+ Bón thúc: 1 lần khi cây có từ 2 đến 3 lá thật: ½ lượng đạm + ½ lượng kali
- Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số phân hữu cơ đến khả năng
sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương ĐT51
Thí nghiệm được tiến hành với 4 loại phân hữu cơ dùng bón lót trên nền là phân bón vô cơ: 30kg N + 60 kg P2O5 + 60kg K2O và công thức dùng phân chuồng bón lót là đối chứng Cụ thể:
Công thức 1: Nền + 5 tấn phân chuồng hoai mục (đối chứng)
Công thức 2: Nền + 1 tấn phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh
Công thức 3: Nền + 1 tấn phân hữu cơ vi sinh Quế Lâm - 01
Công thức 4: Nền + 1 tấn phân hữu cơ sinh học NTT
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (Randimized Complete Block Design - RCBD) với 3 lần nhắc lại
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
Trang 322.3.2 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu theo dõi
Cách theo dõi các chỉ tiêu theo đúng hướng dẫn của QCVN 01-58:2011/ BNNPTNT
2.3.2.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng - phát triển
+ Thời gian từ gieo đến mọc (ngày): Là thời gian được tính từ khi gieo đến 50%
- Phương pháp theo dõi: Nhổ 3 cây liên tiếp trên ô, chuẩn bị 1dm2 bìa cứng, lấy lá
ở các tầng giữa, gốc và ngọn cây xếp cho kín 1dm2 bìa cứng rồi cân nhanh được khối lượng PA, sau đó cân toàn bộ khối lượng lá của 3 cây (PB)
CSDTL=
PB
x mật độ (m2 lá/m2 đất)
PA x 100 x 3 Trong đó:
Trang 33sần hữu hiệu là nốt sần có đường kính ≥ 0,25mm, bên trong có dịch màu hồng), cân rồi tính trung bình
+ Khả năng tích lúy vật chất khô: Được xác định ở 2 giai đoạn: Thời kì hoa rộ
- Sâu đục quả (Eitiella zinekenella): Điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo
phương pháp 5 điểm chéo góc
Sơ đồ điều tra:
Tổng số quả điều tra
Trang 34- Bệnh gỉ sắt (Phakopsora pachyrhizi Sydow):
Được đánh giá theo QCVN 01:58/2011/BNNPTNT) như sau:
2.3.2.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Đếm số cây thực tế thu hoạch/ô: Đếm số cây thực tế thu được trên mỗi ô trước khi thu hoạch Sau đó nhổ 5 cây liên tiếp ở 2 hàng giữa ở vị trí chéo nhau của
ô (10 cây/ô) và xác định các chỉ tiêu sau:
+ Số quả chắc/cây: Đếm số quả chắc trên 10 cây mẫu/ô Tính trung bình 10 cây + Đếm số quả 1 hạt/cây: Đếm số quả có 1 hạt trên 10 cây mẫu/ô Tính trung bình 1 cây
+ Đếm số quả 2 hạt/cây: Đếm số quả có 2 hạt trên 10 cây mẫu/ô Tính trung bình 1 cây
+ Đếm số quả 3 hạt/cây: Đếm số quả có 3 hạt trên 10 cây mẫu/ô Tính trung bình 1 cây
+ Xác định số hạt chắc/quả theo công thức:
Tổng số quả chắc/cây
Trang 35- Xác định khối lượng 1000 hạt
+ Phương pháp: Mỗi công thức đếm ba mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt để riêng rồi cân từng mẫu một được khối lượng M1, M2 và M3 rồi tính trung bình
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha):
NSLT = Số quả chắc/cây x số hạt chắc/quả x M1000 hạt x mật độ (cây/m
2) (tạ/ha) 10.000
- Năng suất hạt khô (tạ/ha): Thu riêng hạt khô sạch của từng ô, tính năng suất toàn ô (gồm cả khối lượng hạt của 10 cây mẫu) ở độ ẩm 12% và qui ra năng suất trên
1 ha, lấy 2 chữ số sau dấu phẩy
2.4 Phương pháp xử lí số liệu
- Thu thập và tổng hợp số liệu được tiến hành xử lý trên phần mềm Excel
- Số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê bằng phần mềm SAS, IRRISTAT
2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.5.1 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm biện pháp kỹ thuật được thực hiện tại xã Bình Long huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên
2.5.2 Thời gian thực hiện:
Thí nghiệm được bố trí trong vụ vụ Hè Thu năm 2016
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân đạm đến sinh trưởng và phát
triển của giống đậu tương ĐT51
3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51
Mật độ và liều lượng bón đạm có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành các cơ quan sinh trưởng sinh dưỡng và các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây đậu tương Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây đậu tương được tính từ khi gieo hạt đến khi hạt chín trên cây và được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (từ khi gieo đến khi ra hoa) và giai đoạn sinh trưởng sinh thực (từ ra hoa đến chín)
Thời gian sinh trưởng của đậu tương dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, thời vụ, mật độ, phân bón, điều kiện canh tác, thời tiết khí hậu… Thời gian này có ý nghĩa trong việc bố trí mùa vụ, bố trí các cây trồng trong công thức luân canh tăng vụ và nó có ý nghĩa quan trọng ở mỗi vùng trồng đậu tương
Kết quả theo dõi thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 được thể hiện qua bảng 3.1
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến thời gian sinh
trưởng của giống đậu tương ĐT51 Công thức Giai đoạn sinh trưởng (ngày)
Trang 37Qua bảng kết quả theo dõi cho thấy: Thời gian từ gieo đến mọc của giống đậu tương ĐT51 ở các công thức thí nghiệm là như nhau đều 5 ngày Thời gian từ gieo đến giai đoạn phân cành, hoa rộ, chắc xanh, đến chín có sự chênh lệch, tuy nhiên không đáng kể Tổng thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 trong vụ Hè Thu năm 2016 dao động từ 88-92 ngày, trong đó ở mức bón P2 với mật độ trồng 30 cây/m2 và ở mức bón P3 với mật độ trồng 30 cây/m2 thì giống đậu tương ĐT51 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (88 ngày) Ở mức bón P2 với mật độ trồng 20 cây/m2 và ở mức bón P3 với mật độ trồng 40 cây/m2 giống đậu tương ĐT51 có thời gian sinh trưởng dài ngày nhất (92 ngày)
3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến các chỉ tiêu sinh trưởng
và phát triển của giống đậu tương ĐT51:
Các chỉ tiêu như chiều cao cây, đường kính thân, số đốt hữu hiệu/thân chính, chiều cao đóng quả, số cành cấp 1 đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới khả năng tích luỹ vật chất khô cũng như năng suất của cây đậu tương Các chỉ tiêu này thể hiện ra bên ngoài, biểu hiện ở mức độ sinh trưởng, khả năng thích nghi của từng giống trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Do đó căn cứ vào đặc điểm hình thái của cây mà chúng ta có thể đánh giá được khả năng sinh trưởng của giống đó và cũng
từ đó có thể ước đoán được phần nào về khả năng cho năng suất của giống
3.1.2.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến chiều cao cây của giống đậu tương ĐT51
Chiều cao cây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự sinh trưởng và phát triển của quần thể đậu tương, chiều cao thân chính liên quan đến số đốt trên thân, số đốt mang quả và khả năng chống đổ của cây, ngoài ra đây là yếu tố quan trọng đối với việc bố trí mật độ đảm bảo cho quần thể đậu tương nhận được ánh sáng và dinh dưỡng tốt nhất tránh cây mọc vống, đồng thời tránh sâu bệnh hại Chiều cao thân chính của các giống đậu tương được quyết định chủ yếu bởi bản chất di truyền: Loại hữu hạn và loại bán hữu hạn thì có thân thấp, thẳng đứng, thân to, mập đều từ gốc đến ngọn, các đốt thường ngắn, loại vô hạn thường có thân nhỏ, các đốt thân dài,
Trang 38chiều cao lớn Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến chiều cao cây của giống đậu tương ĐT51 được thể hiện trong bảng 3.2.
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến chiều cao cây
của giống đậu tương ĐT51 Chỉ tiêu Phân bón
Qua kết quả theo dõi tại bảng số liệu 3.2 cho thấy: Có ảnh hưởng tương tác giữa liều lượng bón đạm và mật độ trồng đến chiều cao cây của giống đậu tương ĐT51 (PM*P<0,05) Ở 3 mức bón P1, P2, P3 với mật độ trồng 40 cây/m2 thì cho chiều cao cây hơn mật độ 30 cây/m2 và thấp nhất là mật độ 20 cây/m2 Chiều cao cây cao nhất (92,43cm) ở mức bón P3 với mật độ trồng 40 cây/m2 và chiều cao cây thấp nhất (75,27cm) ở mức bón P1 với mật độ trồng 20 cây/m2
3.1.2.2 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến đường kính thân của giống đậu tương ĐT51
Cùng với chiều cao cây, đường kính thân có liên quan đến sức sinh trưởng và tính chống đổ của cây đậu tương Nếu chiều cao cây thấp kết hợp với đặc điểm đường kính thân lớn và vị trí đóng quả thấp sẽ tăng khả năng chống đổ của cây đậu tương Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đạm đến chiều cao cây của giống đậu tương ĐT51 được thể hiện trong bảng 3.3
Trang 39Bảng 3.3: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến đường kính thân
của giống đậu tương ĐT51 Chỉ tiêu Phân bón
Vì thế sau đây đánh giá ảnh hưởng của từng nhân tố thí nghiệm riêng rẽ.
Mật độ trồng ảnh hưởng có ý nghĩa tới đường kính thân của giống đậu tương ĐT51 (P(M)<0,05) Với mật độ trồng 20 cây/m2 thì cho đường kính thân cao nhất 0,68 cm và thấp nhất với mật độ trồng 40 cây/m2 là 0,52cm, ở mức tin cậy 95% Với các mức bón đạm khác nhau cho thấy ảnh hưởng đến đường kính thân của giống đậu tương ĐT51 là khác nhau (P(P)<0,05) Với mức bón P1 và mức bón P2 cho đường kính thân tương đương nhau và cao hơn hẳn mức bón P3 ở mức tin cậy 95%
3.1.2.3 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến chiều cao đóng quả của giống đậu tương ĐT51:
Chiều cao đóng quả là chỉ tiêu cần quan tâm trong công tác chọn tạo giống vì
là chỉ tiêu có ý nghĩa trong việc cơ giới hóa khi thu hoạch đậu tương Chiều cao đóng quả cao sẽ thuận lợi cho thu hoạch bằng máy móc, giảm công lao động cho
Trang 40người nông dân Tuy nhiên, chiều cao đóng quả quá cao thì cây dễ bị đổ, nếu quá thấp dễ làm cho quả dễ bị thối Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến chiều cao cây của giống đậu tương ĐT51 được thể hiện trong bảng 3.4
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến chiều cao đóng
quả của giống đậu tương ĐT51 Chỉ tiêu Phân bón
Chiều cao đóng quả khác nhau khi mức phân bón phân đạm khác nhau (P(P)<0,05) Ở mức bón P3 cho chiều cao đóng quả cao nhất 22,96 cm; mức bón P1,
P2 cho chiều cao đóng quả tương đương nhau và thấp hơn mức bón P3 ở mức tin cậy 95%