1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYỀN ĐỀ Khai thác và sử dụng THÍ NGHIỆM TỰ TẠO trong DẠY HỌC VẬT LÝ

16 452 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 18,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG NGÃI TRƯỜNG THPT … CHUYỀN ĐỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Tháng 4 2018 MỞ ĐẦU Với quyết tâm xây dựng một nền giáo dục phát triển toàn diện điều quan trọng chính là khai thác những năng lực có sẵn ở học sinh, phát triển tính tích cực, sáng tạo và khả năng tư duy của người học. Đối với môn Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, nên đòi hỏi giáo viên phải tăng cường sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan. Khi dạy môn vật lí, giáo viên không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học mà còn rèn luyện học sinh những kỹ năng, kỹ xảo thực hành. Bởi sử dụng thí nghiệm luôn tạo hứng thú học tập, kích thích tính tích cực và tự giác của học sinh, nên đó cũng là một trong những biện pháp đổi mới ở phương pháp dạy học vật Với tinh thần đó, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài : “khai thác và sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học”. ICơ sở lý luận: 1.Khái niệm về thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền: Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền là những thí nghiệm được tạo ra với những dụng cụ thí nghiệm đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hằng ngày hoặc mua nhưng không đắt tiền. Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền đã có mặt trong dạy học vật lý từ rất sớm. Hiện nay, loại thí nghiệm này đang được nhiều nước quan tâm nghiên cứu, khai thác và sử dụng một cách có hiệu quan trong dạy học. 2.Ưu điểm và hạn chế:Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền có những ưu điểm nổi trội, vì vậy nó được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và khai thác sử dụng trong dạy học vật lý ở trường phổ thông. Những ưu điểm nổi bật của thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền là: Ưu điểm: Dụng cụ cần cho thí nghiệm là những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hằng ngày, có thể kiếm ở mọi nơi. Hạn chế: Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền chủ yếu là những thí nghiệm định tính, ít có thí nghiệm định lượng. Độ bền của dụng cụ và tính thẩm mỹ thường không cao. 2. Yêu cầu của thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền được tiến hành với những dụng cụ đơn giản tự tạo, tự kiếm (như lon bia, chai nước khoáng đã dùng...). Do vậy, ngoài những yêu cầu chung, khi khai thác và sử dụng thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền cần đặc biệt chú ý :Đảm bảo tính khoa học, Phải đảm bảo tính sư phạm,Phải đảm bảo tính thẩm mỹ Phải đảm bảo tính khả thi II.Cơ sở lý luận 1.1. Thí nghiệm tự tạo

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG NGÃI

TRƯỜNG THPT …

CHUYỀN ĐỀ

KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ

Tháng 4 -2018

Trang 2

MỞ ĐẦU

Với quyết tâm xây dựng một nền giáo dục phát triển toàn diện điều quan trọng chính là khai thác những năng lực có sẵn ở học sinh, phát triển tính tích cực, sáng tạo và khả năng tư duy của người học Đối với môn Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, nên đòi hỏi giáo viên phải tăng cường sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan Khi dạy môn vật lí, giáo viên không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học mà còn rèn luyện học sinh những kỹ năng, kỹ xảo thực hành Bởi sử dụng thí nghiệm luôn tạo hứng thú học tập, kích thích tính tích cực và tự giác của học sinh, nên đó cũng là một trong những biện pháp đổi mới ở phương pháp dạy học vật

Với tinh thần đó, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài : “khai thác và sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học”.

I/Cơ sở lý luận:

1.Khái niệm về thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền:

Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền là những thí nghiệm được tạo ra với những dụng cụ thí nghiệm đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hằng ngày hoặc mua nhưng không đắt tiền Thí nghiệm đơn giản,

rẻ tiền đã có mặt trong dạy học vật lý từ rất sớm Hiện nay, loại thí nghiệm này đang được nhiều nước quan tâm nghiên cứu, khai thác và sử dụng một cách có hiệu quan trong dạy học

2.Ưu điểm và hạn chế:Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền có những ưu điểm nổi trội, vì vậy nó được

nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và khai thác sử dụng trong dạy học vật lý ở trường phổ thông Những ưu điểm nổi bật của thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền là:

Ưu điểm: Dụng cụ cần cho thí nghiệm là những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm trong đời sống hằng

ngày, có thể kiếm ở mọi nơi

Hạn chế: - Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền chủ yếu là những thí nghiệm định tính, ít có thí nghiệm

định lượng Độ bền của dụng cụ và tính thẩm mỹ thường không cao

2 Yêu cầu của thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền

Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền được tiến hành với những dụng cụ đơn giản tự tạo, tự kiếm (như lon bia, chai nước khoáng đã dùng ) Do vậy, ngoài những yêu cầu chung, khi khai thác và sử dụng thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền cần đặc biệt chú ý :Đảm bảo tính khoa học, Phải đảm bảo tính sư phạm,Phải đảm bảo tính thẩm mỹ Phải đảm bảo tính khả thi

II.Cơ sở lý luận

1.1 Thí nghiệm tự tạo

Trang 3

Thí nghiệm tự tạo là những thí nghiệm được GV và HS tạo ra với những dụng cụ đơn giản,

dễ kiếm trong đời sống hằng ngày hoặc mua nhưng không đắt tiền

Thí nghiệm tự tạo có thể phân ba loại Đó là những thí nghiệm tự tạo lại theo mẫu trong SGK, hoặc là những thí nghiệm được cải tiến từ các thiết bị máy móc, hoặc là những thí nghiệm tự tạo theo ý tưởng, sáng kiến mới

12 Đặc điểm của thí nghiệm tự tạo

Các dụng cụ dùng cho thí nghiệm ít bền, dễ hư hỏng Đồng thời có sự hạn chế về mặt thẩm mỹ

1.3 Yêu cầu cần đảm bảo của thí nghiệm tự tại:Tính khoa học thể hiện ở những kết quả thí

nghiệm phải chính xác, rõ ràng, thuyết phục được HS Các thí nghiệm khi được tiến hành không phản giáo dục, dụng cụ dùng cho không độc hại, không nguy hiểm, đòi hỏi phải có tính sư phạm

1.1.2.4 Vai trò của TNTT trong việc phát huy tính tích cực sáng tạo của HS

Đối với giáo viên:.Có nhiều thí nghiệm tự tạo GV sẽ thuận lợi trong nghiên cứu dạy học theo

hướng tích cực, phù hợp cho từng nội dung bài học, tăng tính hấp dẫ

Đối với học sinh : Rèn luyện cho HS tính tự lực, sáng tạo, ham học hỏi, tìm tòi khám phá tự

nhiên.Học sinh có niềm tin vào bản thân

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Thực trạng sử dụng thí nghiệm Nhiệt ở trường THPT

GV có tiến hành thí nghiệm tuy nhiên HS không nhận thấy hiện tượng xảy ra, dẫn đến tốn thời gian mà tiết học ít hiệu quả Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS vẫn chưa đổi mới, chưa thật

sự quan tâm đến các kỹ năng thực hành

2.2 Nguyên nhân thực trạng

- Thiết bị thí nghiệm được cung cấp nhiều nhưng không đồng bộ

- Các thiết bị thí nghiệm chất lượng kém, bị hư hỏng trong vận chuyển Tư tưởng "Học gì, thi nấy" là nguyên nhân dẫn đến xem nhẹ thí nghiệm trong DH

III PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN, RẺ TIỀN

Có thể dùng các thí nghiệm này vào các mục đích sau:

1.Thí nghiệm để gây hứng thú và đưa ra tình huống có vấn đề

Sử dụng thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền để trình bày hiện tượng Vật lý nhưng hiện tượng vật lý xảy ra luôn lôi cuốn học sinh ngay từ ban đầu dẫn đến học sinh luôn phải đặt câu hỏi tại sao

2 Thí nghiệm để tích cực hoá hoạt động tìm kiếm kiến thức

Theo con đường minh họa: Giáo viên hướng dẫ học sinh biết cách thu thập cứ liệu nhằm minh họa cho những kiến thức đã được xây dựng bằng con đường gián tiếp

Trang 4

3 Thí nghiệm nhằm củng cố kiến thức, kỹ năng

Sau khi kết thúc bài học thì giáo viên sữ dụng những thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền vào việc cũng

cố bài học Học sinh sữ dụng những kiến thức đã học để giải thích những hiện tượng đó Từ đó, giải thích các hiện tượng liên quan trong thực tế

4 Hướng dẫn học sinh tự làm thí nghiệm ở nhà

Việc hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm ở nhà sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các hiện tượng Vật lý, yêu thích môn học hơn đồng thời hình thành cho các em các kĩ năng, kĩ xảo thực hành thí nghiệm

5 Phối hợp thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền với phương tiện nghe nhìn khác trong dạy học

Có những thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền mà học sinh khó có thể quan sát, giáo viên sữ dụng các thiết bị hỗ trợ khác như: camera, máy chiếu… để chiếu các hiện tượng đó lên màn chiếu giúp cả lớp có thể quan sát được dễ dàng

IV.NGHIÊN CỨU KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM

TỰ TẠO TRONG DẠY HỌC PHẦN NHIỆT HỌC 2.2.1 Thí nghiệm "Sự nở vì nhiệt của chất rắn"

2.2.1.1 Mục đích thí nghiệm:

Học sinh hiểu được: Chất rắn nở ra khi nóng lên, co lại khi lạnh đi Các chất rắn khác nhau

nở vì nhiệt khác nhau

2.2.1.2 Phương án 1:

Vật liệu

- Một tấm gỗ rộng (15cmx40cm);

- Một thanh gỗ cao (2cmx10cm);

- Một thanh đồng dài 7cm;

- Một bóng đèn;

- Ba viên pin tiểu, hai dây điện;

Tiến hành thí nghiệm

Trang 5

tiếp xúc với tiếp điểm trên thanh đồng Dây dẫn từ bóng đèn và dây dẫn từ thanh đồng sẽ được nối vào nguồn điện Toàn bộ hệ thống mạch điện đang ở chế độ hở (hình 2.2)

Hình 2.2

- Dùng đèn cồn đốt nóng thanh sắt xi hãy quan sát thí nghiệm Rút ra kết luận gì?

Kết quả thí nghiệm

- Khi bị đốt nóng, thanh sắt xi nở ra và tạo thành mạch kín, thanh sắt xi đóng vai trò dây dẫn nên bóng đèn sáng lên (hình 2.3)

tượng gì sẽ xảy ra?

còn sáng

 Rút ra kết luận

2.2.1.3 Phương án 2

Vật liệu

- Một thanh sắt xi dài 20cm và  2mm;

- Một đế tròn có gắn kim;

- Một đèn cồn;

- Một bảng gỗ (20cmx40cm)(hình 2.4)

Hình 2.4

Tiến hành thí nghiệm

- Lắp đế tròn có gắn kim vào giá đỡ Thanh sắt xi một đầu mắc cố định vào giá đỡ còn đầu kia để

hở và tiếp xúc với kim chỉ thị Lưu ý là chỉ cần đụng nhẹ vào kim thì kim sẽ bị lệch

- Đặt đèn cồn vào dưới thanh sắt xi và đốt cháy, quan sát kim chỉ thị Rút ra kết luận (hình 2.5)?

Kết quả thí nghiệm

- Kim chỉ thị lệch về phía bên phải Khi bị đốt nóng thanh đồng nở ra và thanh đồng đã chạm vào kim chỉ thị vì vậy đã làm kim quay (hình 2.6)

- Khi kim chỉ thị lệch, ta thổi tắt đèn cồn, hiện tượng gì xảy ra?

- Thổi tắt đèn cồn, sau thời gian thanh sắt xi nguội và co lại, do vậy kim chỉ thị trở về vị trí ban đầu (hình 2.4)

 Rút ra kết luận

Trang 6

2.2.1.4 Phương án 3

Vật liệu

- Một thanh đồng dài 12cm và  5mm;

- Một thanh nhôm dài 12cm và  5mm;

2.7

- Bốn thanh đỡ; Đèn cồn; Một tấm gỗ (15cmx40cm) (hình 2.7)

Tiến hành thí nghiệm

- Gắn thanh nhôm và thanh đồng vào miếng nhôm tròn với mục đích bảo đảm lượng nhiệt cung cấp cho hai thanh là như nhau

- Hai bóng đèn một đầu được nối vào nguồn điện và đầu kia được nối với hai thanh nhôm với vai trò là thanh đỡ (hình 2.8)

- Đặt hai thanh đó lên giá đỡ và lúc này cả hệ thống mạch điện để hở Lưu ý khi đặt phải cân bằng khoảng cách giữa hai thanh và nhẹ tay để khỏi tạo thành mạch kín

- Đốt đèn cồn lên và quan sát bóng đèn nào sáng trước? Rút ra kết luận

Trang 7

Kết quả thí nghiệm

- Bóng đèn được nối với thanh đồng sáng trước

- Vì thanh đồng giãn nở tốt hơn thanh nhôm do vậy bóng đèn nối thanh đồng sẽ sáng trước

và bóng đèn nối với thanh nhôm sáng sau (hình 2.9)

 Rút ra kết luận

2.2.1.5 Nhận xét các phương án thí nghiệm

- Khi dạy bài này, thí nghiệm được trình bày theo SGK chỉ đề cập đến sự nở vì nhiệt của vật rắn hình cầu (sự nở khối) chưa thật sự quan tâm đến sự nở vì nhiệt của thanh rắn kim loại Vì thế chúng tôi đề xuất các phương án thí nghiệm trên nhằm tạo ra cho HS tích cực hơn trong hoạt động nhận thức của bản thân

- Thí nghiệm có độ nhạy cao, dễ tiến hành

- Thí nghiệm dùng quả cầu kim loại thả vừa lọt qua vòng kim loại trong SGK có giá thành đắt cho nên mỗi trường THCS chỉ được cung cấp một bộ Vì vậy khi dạy bài này GV chỉ sử dụng thí nghiệm để biểu diễn và HS chỉ quan sát mà không được trực tiếp tiến hành thí nghiệm Chính

vì thế, các phương án thí nghiệm trên sẽ giải quyết được vấn đề khó khăn này bởi giá thành thí nghiệm rẻ và cho kết quả chính xác

Lưu ý: Thí nghiệm ở phương án 1 và 2 mô tả sự nở của một chất rắn, còn thí nghiệm ở

phương án 3 nhấn mạnh sự nở của các chất khác nhau thì khác nhau.

2.2.2 Thí nghiệm "Sự bay hơi và ngưng tụ"

2.2.2.1 Mục đích thí nghiệm

Thí nghiệm này giúp HS hiểu được sự bay hơi là sự chuyển thể từ thể lỏng sang thể hơi; ngược lại sự ngưng tụ là sự chuyển từ thể hơi sang thể lỏng; tốc độ bay hơi phụ thuộc vào nhiệt độ, gió và diện tích mặt thoáng

2.2.2.2 Phương án 1

Vật liệu

- Một ly thuỷ tinh cao 15cm;

- Một đèn cồn;

- Một giá đỡ cao 35cm;

- Một ống hút nước;

- Một bình sơn đựng nước bằng sắt;

Trang 8

- Một pha đèn; - Một tấm gỗ (5cmx20cm); - Một

ống đồng rỗng 20cm và  2mm (hình 2.10) Hình 2.10

Tiến hành thí nghiệm

- Dùng ống đồng nối pha đèn và cái bình sơn đựng nước Ống đồng được đặt trên cái giá (hình 2.11) Trên pha đèn, ta khoan một lỗ nhỏ và nối vào một ống hút nước

- Đặt lần lượt ly, đèn cồn dưới ống hút nước và bình sơn đựng nước Sau đó dùng đèn cồn đốt lên làm nóng nước trong bình sơn và cho HS quan sát, dự đoán hiện tượng gì xảy ra?

Kết quả thí nghiệm

- Có nước trong pha đèn chảy xuống ly nước Khi làm nóng nước trong bình sơn, lúc đó có

quá trình bay hơi xảy ra nhưng hơi nước ở bình sơn gặp lạnh đi theo ống lên gặp mặt gương, hơi nước ngưng tụ thành những giọt nước

- Cuối cùng, nước từ trong pha đèn chảy ra ly thông qua ống hút nước Đây chính là lượng

nước được ngưng tụ từ hơi nước nóng ở bình sơn (hình 2.12).

 Rút ra kết luận

2.2.2.3 Phương án 2

Vật liệu

- Một ly uống nước (hình 2.13)

Hình 2.13

Tiến hành thí nghiệm

Trang 9

- Dùng miếng kính đậy trên ly nước sôi Yêu cầu HS quan sát hiện tượng gì xảy ra và rút ra kết luận (hình 2.14)?

Hình 2.14

Kết quả thí nghiệm

Trang 10

- Sau thời gian ngắn, trên tấm kính có những giọt nước đọng lại Trong ly nước nóng có hơi nước bay lên Nếu không có tấm kính thì hơi nước tiếp tục bay lên trên, còn nếu có tấm kính thì hơi nước bị tấm kính ngăn lại và tụ thành những giọt nước Đây chính là phần nước được ngưng tụ

từ hơi nước nóng (hình 2.14)

 Rút ra kết luận

2.2.2.4 Phương án 3

Vật liệu

- Hai miếng kính tròn đường kính 3cm;

- Hai thanh trụ cao 10cm;

- Một cánh quạt;

- Pin tiểu;- Ba tấm mê ca (15cmx40cm);- Hai tấm mê ca (15cmx15cm);

- Một tấm gỗ (15cmx40cm) (hình 2.1

Tiến hành thí nghiệm

- Hai miếng kính được dán trên hai thanh trụ đặt trong hộp kín Hộp kín được ngăn hai phần giống nhau, phần bên phải gắn một cái quạt và phần bên trái không gắn quạt Nhỏ rượu vào hai miếng kính và bật quạt lên Sau thời gian ba phút, HS quan sát hiện tượng và rút ra kết luận

Kết quả thí nghiệm

- Trong phần hộp có quạt, rượu bay hơi nhanh hơn.Vì quạt đã tạo ra gió, nhờ có gió mà tốc

độ bay hơi của rượu nhanh hơn Điều này chứng tỏ tốc độ bay hơi của chất lỏng phụ thuộc vào gió

 Rút ra kết luận

2.2.2.5 Nhận xét phương án thí nghiệm

- Thí nghiệm ở phương án 1 và 2 nhấn mạnh cả hai quá trình bay hơi và ngưng tụ.

- Thí nghiệm ở phương án 3 chứng tỏ tốc độ bay hơi của chất lỏng phụ thuộc vào gió

- Đối với thí nghiệm chứng tỏ sự phụ của tốc độ bay hơi vào diện tích mặt thoáng đưa vào phần HS đề xuất thí nghiệm kiểm chứng

2.3 ĐỀ XUẤT ỨNG DỤNG MỘT SỐ THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN, RẺ TIỀN TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ LỚP 10 THPT

Trang 11

a Thí nghiệm: Quán tính của vật treo

Dụng cụ

- 1 gia trọng 300 đến 500g có móc ở hai đầu,

- 1 chân đế,

- 1 thanh trụ có đường kính 10mm, dài 500mm;

- 1 thanh trụ có đường kính 10mm, dài 250mm;

- 1 khớp nối chữ thập;

- 60cm dây chỉ

Tiến hành

- Cắt sợi dây chỉ thành hai đoạn:

+ Một sợi treo gia trọng lên thanh ngang

+ Sợi còn lại buộc vào đầu dưới gia trọng

- Cầm sợi chỉ bên dưới kéo từ từ xuống Yêu cầu HS quan sát hiện tượng xảy ra

- Vẫn treo gia trọng như ban đầu, cầm sợi dây chỉ bên dưới và giật mạnh xuống Yêu cầu HS quan sát hiện tượng xảy ra

Kết quả

- Khi cầm sợi chỉ bên dưới kéo từ từ xuống, sợi chỉ bên trên bị đứt

- Khi cầm sợi chỉ bên dưới giật mạnh và nhanh xuống, sợi chỉ bên dưới bị đứt

Gợi ý

- Trước khi kéo sợi chỉ, giáo viên yêu cầu học sinh dự đoán điều gì sẽ xảy ra nếu kéo sợi chỉ bên dưới từ từ hoặc giật nhanh xuống

Trang 12

- Giáo viên hỏi học sinh tại sao thí nghiệm chỉ có kết quả với vật nặng

- Sau thí nghiệm làm rõ liên hệ giữa thí nghiệm và định luật 1 Niutơn

- Nếu sợ quả nặng rơi vào tay hoặc va chạm mạnh lên sàn có thể buộc thêm một sợi dây bảo hiểm( dài hơn đoạn dây phía trên) một đầu buộc vào thanh ngang, một đầu buộc vào móc dưới của vật

b Thí nghiệm: Chuyển động bằng phản lực

Dụng cụ - Một số quả bóng bay(loại dài)

- 01 sợi dây dài từ 3 đến 5m (dây cướt)

- Một ít giấy màu - 01 ống trúc nhỏ

- 01 dây cao su - 01 cuộn băng keo

Chuẩn bị dụng cụ

- Cho ống trúc nhỏ vào miệng của quả bóng và dùng dây cao su buộc chặt

- Thổi bóng lên và nút chặt

- Cắt giấy màu và gấp thành dạng cánh tên lửa

- Dùng băng dính dán các cánh tên lửa đã được cắt vào quả bóng bay

- Dùng băng dính dán vào quả bóng bay tạo thành ba khuy để luồn dây vào Sau đó căng dây

đã gắn quả bóng vào giữa hai điểm thích hợp trong phòng học(hình vẽ)

Tiến hành

- Mở nút miệng quả bóng cho không khí phụt ra

- Yêu cầu học sinh quan sát hiện tượng và giải thích kết quả

g Thí nghiệm: Định luật Bôi-Ma-Ri-Ốt

Dụng cụ:- 01 chai thuỷ tinh trong suốt, đường kính

khoảng 60mm, cao 100mm

- 02 ống hút nước ngọt( một trong hai ống

có thể bẻ cong hình chữ L)

- 01 miếng xốp có đường kính 65mm, dày 25mm

- 01 lọ thuốc nhỏ mắt đã dùng hết, cắt bỏ

phần đáy - Một ít nến sáp - Nước pha màu - 02 cốc thuỷ tinh nhỏ

A

Trang 14

Chuẩn bị dụng cụ

Sau khi gia công dụng cụ có dạng như hình vẽ

c) Bố trí thí nghiệm như hình vẽ.

- Rót nước từ cốc thuỷ tinh vào chai qua phễu

- Học sinh quan sát hiện tượng xảy ra và giải thích

* Lưu ý: Thí nghiện này cũng có thể tạo tình huống có vấn đề cho học sinh để vào bài mới

hoặc để củng cố bài dạy.

h Sử dụng thí nghiệm để mở đầu bài học Định luật Bôi-Ma-Ri-Ốt

Dụng cụ: Dụng cụ thí nghiệm được mô tả như thí nghiệm 6

Tiến hành

GV: Giới thiệu dụng cụ thí nghiệm, các bước tiến hành thí nghiệm

HS: Dự đoán

Nước đầy chai, nếu tiếp tục rót nó sẽ chảy ra ngoài qua ống A

GV: Tiến hành thí nghiệm, yêu cầu học sinh quan sát hiện tượng xảy ra và tìm lời giải thích hiện tượng vừa quan sát được

HS: Quan sát thí nghiệm và ghi nhận hiện tượng xảy ra

Kết quả thí nghiệm cho thấy:

Hiện tượng xảy ra trái với dự đoán của đa số HS và các em không tự tìm được câu trả lời Chính điều này đã gây cho HS sự ngạc nhiên và khi đó tính tò mò của các em bị kích thích Chính điều này đã thôi các em đi tìm câu trả lời Lúc này HS đã ở trong tình huống có vấn đề Đây là cơ hội tốt để GV dẫn HS đi tìm câu trả lời – tìm kiếm kiến thức mới

Ngày đăng: 06/04/2018, 10:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w