1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại xác ĐỊNH tài sản của DOANH NGHIỆP lâm vào TÌNH TRẠNG PHÁ sản

55 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 8,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn đối với chủ nợ thì sợ rằng số tài sản còn lại của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không được xác định một cách toàn diện để thanh toán nợ... Vì vậy, việc xác định phạm vi khố

Trang 1

KHOA LUẬT



BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA: 2005-2009

ĐỀ TÀI :

XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP

LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS DƯ NGỌC BÍCH ĐẶNG THỊ YẾN TRINH MSSV: 5054980

LỚP: Luật Thương mại 02-31

MỤC LỤC Cần Thơ, 4/2009

Trang 2

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

- Lý do chon đề tài 1

- Đối tượng nghiên cứu 2

- Mục tiêu nghiên cứu 2

- Phạm vi nghiên cứu 2

- Phương pháp nghiên cứu 2

- Cấu trúc của luận văn 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN 4

1.1 Khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 4

1.2 Cách xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 6

1.3 Sự cần thiết của việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 11

CHƯƠNG 2: XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN 13

2.1 Vấn đề xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 13

2.2 Những nguyên tắc và cách thức xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 15

2.2.1 Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp có tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 15

2.2.1.1 Tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp đang có ở doanh nghiệp 15

2.2.1.1.1 Tài sản cố định 15

2.2.1.1.2 Tài sản lưu động 17

2.2.1.2 Tiền hoặc tài sản góp vốn liên doanh, liên kết cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức khác 18

2.2.1.3 Tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà các nhân, tổ chức doanh nghiệp khác đang nợ hoặc chiếm đoạt 20

2.2.1.4 Tài sản mà doanh nghiệp đang cho thuê hoặc cho mượn 21

2.2.1.4.1 Đối với tài sản cho thuê 21

2.2.1.4.2 Đối với tài sản cho mượn 22

Trang 3

nghiệp sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Tòa án

thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 23 2.2.3 Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp

Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ bảo

đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh

toán thì phần vượt qua đó là tài sản của doanh nghiệp 23 2.2.4 Gía trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp 26 2.2.5 Số tiền còn lại của doanh nghiệp đã trả trước tiền thuê nhưng chưa

hết thời hạn thuê trong trường hợp doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý

2.2.6 Tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không

trực tiếp dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh 28 2.2.7 Những tài sản thu hồi từ giao dịch vô hiệu 32 2.2.8 Tài sản, quyền tài sản có thể hình thành trong khoảng thời gian từ

khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến thời điểm Tòa án ra

quyết định đình chỉ thanh lý tài sản phá sản 34 2.2.8.1 Tài sản, quyền tài sản có thể hình thành trong khoảng thời

gian từ khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến thời điểm có

quyết định mở thủ tục phá sản 35 2.2.8.2 Tài sản, quyền tài sản có thể hình thành từ thời điểm mở thủ

tục phá sản đến thời điểm có quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản 35 2.2.8.2.1 Tài sản, quyền tài sản hình thành từ quá trình phục

hồi hoạt động sản xuất kinh doanh 36 2.2.8.2.2 Tài sản, quyền tài sản có thể hình thành trong giai

đoạn thanh lý tài sản 37

CHƯƠNG 3: NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN

CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN VÀ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÁ SẢN NHẰM

XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH

TRẠNG PHÁ SẢN 40

3.1 Những hạn chế của việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình

trạng phá sản 40 3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp Luật Phá sản nhằm xác định tài sản

của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 46

KẾT LUẬN

Trang 4

cơ hội để doanh nghiệp rút ra khỏi thương trường một cách có trật tự để có điều kiện tìm kiếm một cơ hội kinh doanh khác Với tinh thần đó thì phá sản là cần thiết cho sự phát triển, phá sản để phát triển chứ không phải phá sản là mất đi Ra đời, hoạt động, phá sản doanh nghiệp là một quá trình gắn kết với nhau Quá trình này không thể nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật Nước ta xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước cũng có nghĩa là phải chấp nhận các thuộc tính, quy luật vốn có của nó, trong đó có vấn đề phá sản Trước yêu cầu

đó, pháp luật về phá sản ở Việt Nam với tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật kinh tế đã được hình thành là một tất yếu khách quan Mốc quan trọng đánh dấu cho sự hình thành pháp luật phá sản Việt Nam là Luật phá sản doanh nghiệp được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30/12/1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/1974 Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên để điều chỉnh trình tự, thủ tục phá sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Tuy nhiên, trong mười năm thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết Luật phá sản năm 2004 ra đời tưởng chừng như đã khắc phục được những hạn chế của Luật phá sản doanh nghiệp 1993 Thế nhưng sau bốn năm thi hành, năm 2008

số lượng các vụ việc phá sản được thụ lý vẫn ở mức rất khiêm tốn, tổng cộng chỉ có

136 đơn Điều này không có nghĩa là tất cả doanh nghiệp ở nước ta hoạt động kinh doanh không bị thua lỗ mà phản ánh rằng có rất nhiều doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản nhưng ngay cả doanh nghiệp mắc nợ và cả chủ nợ lo ngại một khi yêu cầu tuyên bố mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp thì quyền lợi của mình có được bảo đảm một cách tốt nhất Đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì doanh nghiệp lo ngại phạm vi khối tài sản của mình có được xác định một cách chính xác và đầy đủ Còn đối với chủ nợ thì sợ rằng số tài sản còn lại của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không được xác định một cách toàn diện để thanh toán nợ

Trang 5

Vì vậy, việc xác định phạm vi khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản có ý nghĩa rất quan trọng vì nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi tối đa của các chủ nợ và các bên có liên quan mà còn có ý nghĩa lớn trong việc quyết định phương hướng giải quyết một vụ việc phá sản cụ thể

Nó là căn cứ để xác định một doanh nghiệp đã thật sự lâm vào tình trạng phá sản hay chưa và tình trạng phá sản của doanh nghiệp đó ra sao, từ đó sẽ chi phối việc lựa chọn thủ tục tố tụng phù hợp (nếu Tòa án xác định được rằng, tài sản của con nợ không còn hoặc còn nhưng không đáng kể thì Tòa án có thể tuyên bố ngay con nợ bị phá sản và chấm dứt vụ việc mà không phải tiến hành bất cứ một thủ tục pháp lý nào khác) Bên cạnh đó, việc xác định này nhằm đánh giá sự cần thiết áp dụng các biện pháp bảo toàn, quản lý tài sản của doanh nghiệp trong trình tự tố tụng

Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu vấn đề xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Mục tiêu nghiên cứu:

Luận văn phân tích, đánh giá vấn đề xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, khối tài sản của doanh nghiệp được xác định dựa theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (bao gồm tài sản quy định tại Điều 49, Điều 43 của Luật Phá sản năm 2004) và tài sản phát sinh từ khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến thời điểm Tòa án quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản Từ đó, đưa ra những hạn chế của việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng Đồng thời, đưa ra một số giải pháp phục vụ cho việc hoàn thiện pháp Luật Phá sản nhằm xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu về việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo quy định của pháp luật hiện hành và cả những tài sản có thể phát sinh từ thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến thời điểm Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản

Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phân tích tài liệu, tổng hợp, so sánh, thống kê vụ việc phá sản từ năm 2005-2008

Trang 6

Cấu trúc của luận văn:

Nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và ý nghĩa của việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Chương 2: Xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Chương 3: Những hạn chế của việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và một số giải pháp hoàn thiện pháp Luật Phá sản nhằm xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

“Xác định tài sản lâm vào tình trạng phá sản” là một đề tài tương đối hẹp và khó Mặc dù bản thân em đã rất nổ lực để hoàn thành luận văn một cách tốt nhất, song

do sự hiểu biết của em còn hạn chế nên chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót trong bài viết của mình Vì vậy, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy (cô) và các bạn để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em xin chân thành cám ơn cô Dư Ngọc Bích

đã giúp đỡ nhiệt thành cho em để em được hoàn thành luận văn của mình một cách tốt nhất

Trang 7

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO

TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN 1.1 KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

Luật Phá sản năm 2004 áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng Luật này đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích thiết yếu

Về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 quy định: "Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản"

Đây là khái niệm cực kỳ quan trọng của pháp luật phá sản Theo tác giả Nguyễn

Tấn Hơn, định nghĩa phá sản “có lẽ là khó nhất đối với các nhà lập pháp” Tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của mỗi quốc gia mà sự can thiệp của Nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo

vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ

Trong Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 khái niệm này dường như được xây dựng trên cơ sở kết hợp một cách mỹ mãn tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản nếu con nợ không trả nợ sau thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày đòi nợ, quy định về thời hạn ba tháng nợ lương liên tiếp với người lao động Tính định tính còn thể hiện ở quy định về những tài liệu cần thiết mà con nợ phải gửi cho Tòa án sau khi Tòa

án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản của con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài chính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của con nợ… Khái niệm phá sản còn phải gắn với lý do khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc lý do bất khả kháng Với khái niệm như vậy, trên thực tế các chủ nợ sẽ không bao giờ thực hiện được quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ của mình bởi lẽ họ phải chứng minh là con nợ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh Chủ nợ chỉ có thể chứng minh là con nợ đã

Trang 8

trễ hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, còn vì sao con nợ trễ hạn thanh toán – không trả nợ thì chủ nợ có thể không biết mà cũng không cần biết Những thông tin này thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của con nợ và chỉ có thể xác định trên cơ sở sổ sách kế toán của con nợ Điều này hoàn toàn ngoài khả năng của chủ nợ

Luật Phá sản năm 2004 (Điều3) khi đưa ra khái niệm phá sản đã đoạn tuyệt với nguyên nhân khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và thời hạn thua lỗ “Không

đủ tiền và tài sản để thanh toán các khoản nợ đến hạn bất luận vì lý do gì mà không thể khắc phục được thì đều được coi là đã lâm vào tình trạng phá sản”1 Đây là một bước tiến lớn của pháp luật phá sản nước ta, thể hiện sự can thiệp sớm của Nhà nước vào hiện tượng phá sản Tính chất nghiêm trọng về hậu quả có tính dây chuyền của hiện tượng phá sản trong đời sống kinh tế đòi hỏi khách quan sự can thiệp sớm của Nhà nước

Mặc dù khái niệm này có sự hoàn thiện hơn so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 nhưng vẫn còn hạn chế ở tính thiếu triệt để của nó Điều 3 Luật Phá sản năm

2004 không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của con nợ Vì vậy về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số tiền là 1.000 đồng và quá hạn thanh toán một ngày sau khi chủ nợ có đơn yêu cầu đòi nợ cũng có thể bị xem

là lâm vào tình trạng phá sản Điều này có thể dẫn đến sự lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ Kinh nghiệm của một số nước khi xây dựng khái niệm phá sản theo trường phái định lượng thì thường có quy định về số nợ cụ thể,

về thời hạn trễ hạn thanh toán nợ từ phía con nợ sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ Ví

dụ như “Luật Phá sản của Liên bang Nga quy định số nợ không thấp hơn 100.000 rúp với chủ nợ là pháp nhân và 10.000 rúp với chủ nợ là cá nhân Theo Luật Công ty của

Úc chủ nợ có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định bắt đầu thủ tục thanh toán tài sản của một công ty vì lý do vỡ nợ nếu công ty đó có một khoản nợ đến hạn ít nhất là $2000 AUD và công ty không chứng minh được khả năng trả khoản nợ đến hạn đó”2

Một số ý kiến cho rằng, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là Doanh nghiệp không chỉ không có khả năng thanh toán mà còn có dấu hiệu thua lỗ trong kinh doanh

Nguyễn Thái Phúc - luật phá sản 2004-những tiến bộ và hạn chế -

http://www.thuvienphapluat.com/?CT=NW&NID=12630 – ngày đăng bài 17/02/2008 – ngày đọc bài 02/01/2009

Trang 9

Giữa doanh nghiệp có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản với doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản có sự khác biệt khá lớn Không phải mọi doanh nghiệp có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản đều sẽ bị tuyên bố phá sản Dấu hiệu đầy đủ nhất và dễ thấy nhất để nhận biết doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là khả năng thanh toán nợ đến hạn khi các chủ nợ yêu cầu phải thanh toán mà doanh nghiệp không thanh toán được

Có rất nhiều nguyên nhân của tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp như làm ăn thua lỗ, hạn hán, thiên tai, khủng hoảng kinh tế-tài chính… Như thế thua lỗ trong kinh doanh cũng chỉ là nguyên nhân của tình trạng mất khả năng thanh toán và trong không ít trường hợp doanh nghiệp dù bị thua lỗ trong kinh doanh nhưng vẫn có khả năng thanh toán nợ đến hạn

1.2 CÁCH XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

Đã có nhiều ý kiến chỉ ra sự bất cập của Luật Phá sản Doanh nghiệp năm 1993, coi các quy định không phù hợp của Luật này là một trong số các nguyên nhân chủ yếu

dẫn đến tình trạng quá ít các vụ việc phá sản được Toà án thụ lý và giải quyết

Qua nghiên cứu, có tình trạng như trên là do các nguyên nhân chủ yếu bao gồm:

do chính Luật Phá sản doanh nghiệp ra đời trong thời gian đầu thập kỷ 90, khi đó kinh nghiệm, hiểu biết về kinh tế thị trường của chúng ta chưa nhiều; Toà án lại chưa có kinh nghiệm trong việc giải quyết phá sản Trong đó nguyên nhân thứ nhất được xem là chủ yếu

Về sự bất cập của Luật phá sản Doanh nghiệp năm 1993, có thể kể đến quy định tại Điều 2, trong đó quy định Doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là “doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn” Tương tự,

tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 189 hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệpquy định dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản là “Doanh nghiệp bị thua lỗ trong hai năm liên tiếp tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp”

Theo các quy định này, các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hay những người có quyền nộp đơn đề nghị giải quyết phá sản doanh nghiệp là rất khó có thể đưa

vụ việc đến Toà án Dường như vào thời điểm Luật này được thông qua, việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp còn quá mới mẻ và có thể có nhiều ý kiến khác nhau về các hậu quả khác của việc cho phép doanh nghiệp phá sản, ví dụ hậu quả về mất việc làm cho

Trang 10

người lao động hay ảnh hưởng tới sự ổn định xã hội mà không có sự chú ý thích đáng cho chính các doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng không thể hoạt động, không thể trả

nợ, không đem lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp và xã hội song vẫn phải tồn tại

Các điều kiện mà các quy định nói trên nêu ra có thể đưa việc phá sản doanh nghiệp đến Tòa án, song, sẽ là quá muộn khi nhìn vào thời hạn “hai năm thua lỗ liên tiếp” của doanh nghiệp dẫn đến “không trả được nợ đến hạn” hay “ba tháng liên tiếp” không “trả đủ lương cho người lao động” Bởi lẽ, đã đến tình trạng như vậy thì khả năng “phục hồi” của doanh nghiệp là rất khó và việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp để nhằm mục đích “trả nợ tập thể” cho các chủ nợ được xem là không khả thi do doanh nghiệp cũng không còn tài sản gì để có thể thanh toán Hơn nữa, khi doanh nghiệp đã không còn tài sản hay không có khả năng về tài chính để trả nợ đến hạn hay lương cho người lao động, lại có quy định phải kiểm toán trước khi đưa vụ án ra Toà cũng có thề nhìn nhận như một cản trở cho việc đưa đơn Bởi lẽ, doanh nghiệp lúc đó không có đủ khả năng để trả tiền cho việc thuê kiểm toán và vì thế, Toà án không nhận đơn để giải quyết việc phá sản

Theo kinh nghiệm các nước, có thể nói, việc xác định thời điểm Toà án thụ lý đơn để xem xét việc phá sản là khá sớm khi so sánh với quy định hiện thời của Việt Nam Ví dụ, “Luật phá sản của Nhật Bản quy định, “Khi một người mắc nợ ngừng trả tiền thì người đó được coi là không thể trả được nợ”; luật của Pháp quy định: “Mọi thương nhân và pháp nhân, kể cả các pháp nhân không có quy chế thương nhân, khi bị lâm vào tình trạng ngừng thanh toán thì đều phải khai báo trong thời hạn mười lăm ngày để mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp hoặc thủ tục thanh lý doanh nghiệp”; còn Luật Phá sản của Trung Quốc quy định tại Điều 7: “Trong trường hợp người mắc nợ không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, thì các chủ nợ có thể làm đơn yêu cầu giải quyết phá sản đối với người mắc nợ”

Theo Luật của Úc (Australia), một công ty sẽ lâm vào tình trạng phá sản và buộc phải giải quyết việc phá sản nếu công ty đó không trả được tất cả các khoản nợ đến hạn Có một cách thức được sử dụng phổ biến để chứng minh một công ty ở vào tình trạng phải bắt buộc phá sản là sử dụng quy định về việc để công ty phải trả lời chính thức về việc trả nợ cho chủ nợ Theo đó, chủ nợ sẽ gửi cho công ty một bản kê khoản

nợ (hay các khoản nợ), có tổng trị giá tối thiểu là 2.000 Đô la Úc (hai ngàn Đô la) và

thông báo việc công ty mắc nợ phải trả nợ trong hạn 21 ngày Công ty đó sẽ bị coi là

Trang 11

lâm vào tình trạng bắt buộc phá sản và đưa ra Toà nếu không trả được khoản tiền trong hạn nói trên”3

Do đó, em hoàn toàn nhất trí với Luật phá sản năm 2004 khi xác định thời điểm

có thể đưa vụ việc đến Toà án, đó là khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được nợ đến hạn

Với quy định này, có thể sẽ khắc phục được tình trạng quá muộn để phục hồi doanh nghiệp hay có điều kiện tốt hơn trong việc thanh toán cho các chủ nợ Đó là vì vào thời điểm khi phát hiện ra việc doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, vụ việc có thể được đưa ngay đến Toà án, các hoạt động và tài sản của doanh nghiệp sẽ

được đặt dưới sự kiểm soát của Toà án và các chủ nợ Khi đó, hoặc phương án phục hồi

sẽ được chấp nhận, hoặc việc phá sản sẽ được tiến hành nếu không thể phục hồi, song

cơ hội để thực hiện cả hai việc này sẽ tốt hơn, bởi nếu có phương án phục hồi kịp thời, doanh nghiệp mới có thể tồn tại; nếu phải thanh toán nợ và đi đến phá sản, các chủ nợ còn có thể được trả nợ khi bán các tài sản còn lại của doanh nghiệp Cách giải quyết như trên sẽ khác với trường hợp doanh nghiệp “không còn gì” khi ra Toà giải quyết phá sản theo luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 Doanh nghiệp khi đó, nếu sau khi thụ lý

vụ phá sản, trở lại kinh doanh được, vụ án sẽ được đình chỉ, nếu không sẽ đi đến việc tuyên bố phá sản

Nói cách khác, quy định về thời điểm để có thể bắt đầu “mở thủ tục phá sản”của luật phá sản năm 2004 sẽ đảm bảo hơn quyền lợi của các chủ nợ tham gia vào việc quản lý, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp có dấu hiệu phá sản để có thể bảo vệ tốt hơn quyền lợi chủ nợ Mặt khác, bằng việc quy định này cùng với các quy định mới tại chương IV của Luật phá sản 2004, một mặt đã hạn chế được việc doanh nghiệp mắc

nợ có thể tẩu tán tài sản; mặt khác, lại giúp họ có thể có được điều kiện tốt hơn và giảm bớt khó khăn trong việc kinh doanh

Chúng ta cũng có thể đưa ra một phương thức xác định trước tình trạng của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là họ không thể thanh toán hay không chịu thanh toán một khoản nợ đến hạn nhất định Theo quy định của luật Úc như nêu trên, khoản nợ không trả được khi đã đến hạn dùng để xác định trong trường hợp buộc một công ty phải làm thủ tục phá sản không phải là lớn, chỉ tương đương với 24 triệu đồng Việt Nam Cũng có thể nhìn nhận là bằng sự quy định như thế, các doanh nghiệp, công

ty có thể sẽ có được ý thức chấp hành pháp luật tốt hơn, hạn chế sự chiếm dụng tiền

3

Dương Quốc Thành - Căn cứ để xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản -

pha-san.htm - ngày đăng bài 24/11/2003 – ngày đọc bài 02/01/2009

Trang 12

http://dddn.com.vn/26199cat103/Can-cu-de-xac-dinh-thoi-diem-doanh-nghiep-lam-vao-tinh-trang-vốn của chủ nợ một cách tuỳ tiện bởi nếu làm như thế, việc kinh doanh và ngay cả địa

vị pháp lý của doanh nghiệp sẽ bị đặt trên bờ vực của sự phá sản

Cũng cần nhấn mạnh rằng, theo quan điểm chủ đạo Luật phá sản năm 2004 sẽ không chỉ chú ý đến việc thanh toán nợ hay “trả nợ tập thể” cho các chủ nợ mà rất chú trọng đến việc giúp cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể ra khỏi khó khăn và phục hồi việc kinh doanh Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, luật không nên coi việc phục hồi hay tổ chức lại kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là bắt buộc mà nên thanh toán tài sản hay tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản để các chủ nợ có thể được trả nợ ngay

Như vậy tiêu chí xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp theo luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 thì phải thoả mản cả hai điều kiện thua lỗ nghiêm trọng và đã

áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết Ở đây các nhà làm luật năm 1993 đã có quan niệm khắc khe về tình trạng phá sản Quan niệm này quan tâm chủ yếu tới việc tìm nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá sản: kinh doanh thua lỗ hoặc gặp lý do bất khả kháng và do vậy thường quan tâm nhiều đến việc tìm ra được nguyên nhân của tình trạng đó hơn là xác định tình trạng, do đó làm chậm đi thời điểm mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Trong khi đó quá trình giải quyết thủ tục phá sản cho thấy, việc xác định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của thủ tục Vì nếu mở thủ tục quá sớm, khi doanh nghiệp vẫn có thể tự mình khắc phục được những khó khăn thì có thể làm triệt tiêu những năng động, sáng tạo của các doanh nghiệp trong hoạt động của mình và làm lãng phí công sức, tiền bạc và thời gian của bản thân doanh nghiệp mắc nợ, các chủ nợ và của nhà nước Ngược lại nếu

mở thủ tục chậm tình trạng của doanh nghiệp đang ở mức trầm trọng, tài sản của doanh nghiệp gần như không còn thì ngoài việc không thể phục hồi được doanh nghiệp, quyền lợi của các chủ nợ và của xã hội nói chung cuãng không được bảo đảm

Với quan niệm của luật phá sản 1993 tình trạng phá sản của doanh nghiệp đồng nghĩa với tình trạng tài sản của doanh nghiệp không còn lại là bao vì doanh nghiệp đã kinh doanh thua lỗ trong 2 năm liên tiếp, sau đó lại áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết nhưng vẫn không có kết quả Thực tế này đã được chứng minh qua các vụ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản thời gian vừa qua, chẳng hạn “trường hợp phá sản của công ty thương mại Hà Tĩn, tổng tài sản còn lại của công ty chỉ còn 150 triệu đồng, tỷ

lệ vốn- nợ là 150 triệu đồng/ 1,2 tỷ Trường hợp công ty Nông- Súc xuất khẩu Quảng Nam- Đà Nẳng, tổng số nợ của công ty là 6,5 tỷ đồng, trong đó số có nợ bảo đảm cho các ngân hàng chiếm xấp xỉ 3 tỷ đồng sau khi thanh toán số nợ này, tài sản của công ty

Trang 13

không còn để trả số nợ có bảo đảm trên 3,5 tỷ đồng”4 Những nhược điểm này phần nào

đã dược khắc phục tại luật phá sản năm 2004, theo tinh thần của điều luật, ta có thể hiểu tình trạng phá sản của doanh nghiệp xuất hiện khi có hai điều kiện:

- Các chủ nợ có yêu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn

- Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn

đó

Như vậy sẽ có truờng hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn nhưng không có một chủ nợ nào đứng ra đòi nợ thì vẫn chưa bị coi là “lâm vào tình trạng phá sản” Điều này có phần mâu thuẩn với Điều 20 của luật phá sản năm

2004 quy định về việc các cơ quan chức năng, trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình nếu nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã “ lâm vào tình trạng phá sản” thì phải thông báo bằng văn bản cho những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó Bởi vì sẽ có những trường hợp cơ quan chức năng phát hiện rằng tài sản hiện có của doanh nghiệp không thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn nhưng chưa có chủ nợ nào yêu cầu doanh nghiệp trả nợ thì doanh nghiệp vẫn chưa coi là lâm vào tình trạng phá sản để các cơ quan chức năng ra thông báo

Từ nhận định trên đây có thể thấy biểu hiện mất khả năng thanh toán đã được xác định là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc xác định một doanh nghiệp đã hay chưa lâm vào tình trạng phá sản Tuy nhiên quy định này vẫn chưa được rõ ràng khi xác định kèm theo đó điều kiện “khi chủ nợ có yêu cầu” Thiết nghĩ, bản thân tình trạng không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn đã nói lên tình trạng khó khăn của doanh nghiệp và cần có sự can thiệp để bảo vệ quyền lợi của các bên có liên quan

Có thể nói rằng, cùng với sự hoàn thiện của Luật Doanh nghiệp, số lượng các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp của thành phần kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh chóng, đóng góp ngày một nhiều vào tổng đầu tư của xã hội Có nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh cũng có nghĩa là sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp cần giải thể và giải quyết phá sản Đây là điều không thể tránh khỏi trong một nền kinh tế cạnh tranh Vấn đề ở đây là làm sao cho, bằng các quy định phù hợp của luật pháp, các doanh nghiệp sẽ thực sự có được một “sân chơi” hay một “hành lang pháp lý” phù hợp

4

Dương Quốc Thành - Căn cứ để xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản -

pha-san.htm - ngày đăng bài 24/11/2003 – ngày đọc bài 02/01/2009

Trang 14

http://dddn.com.vn/26199cat103/Can-cu-de-xac-dinh-thoi-diem-doanh-nghiep-lam-vao-tinh-trang-để họ có thể được kinh doanh và được chấm dứt việc kinh doanh một cách công bằng; đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bộ phận khác của xã hội liên quan đến các doanh nghiệp, bất kể họ là người cho doanh nghiệp vay tiền hay là người làm công ăn lương cho doanh nghiệp Và điều quan trọng hơn là các quy định này phải đảm bảo một cách có hiệu quả nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan và của các doanh nghiệp khi doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản

1.3 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

Xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Xác định chính xác tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản sẽ giải quyết tốt việc phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc trong trường hợp không phục hồi được thì việc thanh lý tài sản doanh nghiệp để thanh toán cho các chủ

nợ cũng được đảm bảo ở mức cao nhất Vấn đề này được xem là trung tâm của thủ tục giải quyết phá sản

Việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản nhằm xem xét khả năng tài chính, khả năng thanh toán đồng thời là cơ sở giúp cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo toàn tài sản và các thủ tục tố tụng phù hợp để giải quyết việc phá sản đối với con nợ Về vấn đề này, luật phá sản cuả các nước có những quy định khác nhau nhưng nhìn chung chủ yếu dựa vào những điểm cơ bản như: “Xác định khối tài sản có thể căn cứ vào thời điểm và thủ tục giải quyết vụ phá sản, hoặc có thể căn cứ vào loại hình tài sản, nguồn tài sản hoặc xác định nhóm tài sản loại trừ theo thời điểm phát sinh tài sản, phạm vi không gian tài sản (Luật phá sản của Nhật Bản), tính chất sở hữu của tài sản (Luật phá sản của Trung Quốc, Cộng hòa Liên Bang Nga), giá trị tài sản, mục đích, công dụng của tài sản (Luật phá sản của Mỹ, Luật phá sản của Cộng hoà Liên Bang Đức)”5 Tại điều 49 Luật Phá sản năm 2004 xác định tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản gồm có: “Tài sản

và quyền về tài sản mà doanh ghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo

5

Trương Hồng Hải – Đặc điểm quy chế xác định tài sản doanh nghiệp phá sản của Việt Nam

và những đề xuất sửa đổi – Tạp chí Luật học số 1/2004, trang 59

Trang 15

đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; Gía trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai” Ngoài ra theo khoản 2 Điều 43 của luật phá sản năm 2004 thì tài sản thu hồi được từ giao dịch vô hiệu phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Như vậy, Luật phá sản năm 2004 quy định về việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng dựa vào rất nhiều tiêu chí như thời điểm và thủ tục, nguồn tài sản…

Trang 16

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ

SẢN 2.1 VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

Về nguyên tắc, toàn bộ tài sản mà con nợ có được từ thời điểm có quyết định của Tòa án về việc thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản đến thời điểm Tòa án ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản hợp thành một khối thống nhất và duy nhất gọi là tài sản phá sản Theo đó, cách thức để xác định những tài sản hiện có của doanh nghiệp trong giới hạn về thời gian nói trên, ngoài ra còn phải xác định những tài sản không được tính vào tài sản phá sản, đó là những tài sản mặc dù là tài sản hiện có của doanh nghiệp nhưng trên bảng cân đối tài sản và theo sổ sách kế toán thì bị loại trừ ra khỏi khối tài sản phá sản vì đó là những tài sản mà doanh nghiệp đang nợ các chủ thể khác (gọi chung là tài sản nợ của doanh nghiệp)

Luật phá sản năm 2004 không quy định khái niệm, phạm vi tài sản phá sản mà chỉ quy định theo hướng liệt kê các loại tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, đồng thời quy định doanh nghiệp phải thực hiện những nghĩa vụ về tài sản, qua đó có thể xác định tài sản nợ của doanh nghiệp

Tại khoản 1 Điều 49 Luật phá sản năm 2004 chỉ nêu những loại tài sản nằm trong phạm vi khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, cụ thể những tài sản đó bao gồm:

- Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Tòa

án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

- Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

- Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã

Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

- Gía trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai

Trang 17

Ngoài ra tại khoản 2 Điều 49 Luật Phá sản năm 2004 cũng quy định rõ tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản bao gồm tài sản quy định tại khoản 1 Điều này và tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh Như vậy Luật phá sản năm 2004

đã bổ sung việc xác định tài sản đối với thành viên hợp danh của công ty hợp danh – một loại hình doanh nghiệp mới, phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp năm

1999 và điều này cũng được Luật Doanh nghiệp năm 2005 ghi nhận Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợ danh có tài sản thuộc sở hữu chung thì phần tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh có được chia theo quy định của

bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Như vậy so với luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 thì Luật Phá sản năm 2004

đã có những quy định tương đối rõ ràng và chi tiết trong việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Cụ thể là:

Thứ nhất, xác định tài sản, quyền về tài sản có của doanh nghiệp vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Luật cũ không xác định thời điểm này;

Thứ hai, bổ sung việc xác định các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

Thứ ba, đề cập chi tiết đến tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, quy định cách thức xử lý đối với tài sản trong trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm thì phần vượt quá đó là phần của doanh nghiệp;…

Thứ tư, đề cập đến giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp được xác định theo quy định về đất đai Đây là một loại quyền đặc biệt, chịu sự điều chỉnh khác biệt

so với các quyền dân sự, kinh tế thong thường khác;

Như vậy vấn đề tài sản phá sản đã được quy định tại Điều 49 Luật Phá sản năm

2004 với những nội dung cơ bản là khá rõ ràng, cách phân loại tài sản này tránh được

sự tản mạn, vụn vặt và không đẩy đủ trong cách phân loại theo Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, “quy định này đã đảm bảo được sự tương đồng với cách xác định khối tài sản của doanh nghiệp mắc nợ của pháp luật các nước trên thế giới Đó là:

- Về phạm vi khối tài sản bao gồm các bộ phận chính như tài sản hiện có tại doanh nghiệp, tài sản thuộc sở hữu (hoặc quản lý) của doanh nghiệp đang đầu tư hoặc cho các chủ thể khác vay, mượn và các quyền về tài sản

Trang 18

Căn cứ chứng minh tình hình tài sản là các tài liệu kế toán cũng như các giấy tờ khác chứng nhận về tài sản của doanh nghiệp theo pháp luật kế toán và các quy định khác có liên quan”6

Ngoài Điều 49, Luật phá sản năm 2004 còn quy định tài sản thu hồi được từ các giao dịch bị coi là vô hiệu được liệt kê tại khoản 1 Điều 43 cũng được nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Các giao dịch đó là:

- Tặng cho động sản và bất động sản cho người khác,

- Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia,

- Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn,

- Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ,

- Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp

Mục đích của quy định tyên bố giao dịch vô hiệu là nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ đến tái tạo lại khối tài sản của con nợ phục vụ cho việc phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.2 NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CÁCH THỨC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN

2.2.1 TÀI SẢN VÀ QUYỀN VỀ TÀI SẢN MÀ DOANH NGHIỆP CÓ TẠI THỜI ĐIỂM TÒA ÁN THỤ LÝ ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN

2.2.1.1 TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP ĐANG CÓ Ở DOANH NGHIỆP

2.2.1.1.1 TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 7 :

Tài sản cố định là tất cả những tài sản của doanh nghiệp có giá trị lớn, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên 1 năm hoặc trên 1 chu kỳ kinh doanh (nếu chu

kỳ kinh doanh lớn hơn hoăch bằng 1 năm)

Trên thực tế, khái niệm tài sản cố định bao gồm những tài sản đang sử dụng, chưa được sử dụng hoặc không còn được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh

do chúng đang trong quá trình hoàn thành (máy móc thiết bị đã mua nhưng chưa hoặc

Trang 19

đang lắp đặt, nhà xưởng đang xây dựng chưa hoàn thành ) hoặc do chúng chưa hết giá trị sử dụng nhưng không được sử dụng

Đặc điểm của tài sản cố định: Tuổi thọ có thời gian sử dụng trên một năm, tức là tài sản cố định sẽ tham gia vào nhiều niên độ kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dần vào gíá trị sản phẩm làm ra thông qua khoản chi phí khấu hao Điều này làm giá trị của tài sản cố định giảm dần hàng năm Tuy nhiên, không phải mọi tài sản có thời gian

sử dụng trên một năm đều được gọi là tài sản cố định, thực tế có những tài sản có tuổi thọ trên một năm nhưng vì giá trị nhỏ nên chúng không được coi là tài sản cố định mà được xếp vào tài sản lưu động Theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính, một tài sản được gọi là tài sản cố định khi có đặc điểm như đã nêu đồng thời phải có giá trị trên mười triệu đồng

Tài sản cố định của doanh nghiệp bao gồm:

- Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định), thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như: nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc, thiết bị; phương tiện vận tải; dụng cụ văn phòng

-Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh như: một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả

- Đầu tư tài chính dài hạn: Đầu tư tài chính là tiền vốn của doanh nghiệp đầu tư vào kinh doanh ở bên ngoài hoạt động của doanh nghiệp mục đích hưởng lãi hoặc chia

sẻ lợi ích với doanh nghiệp khác Đầu tư tài chính có thể là: cổ phiếu; trái phiếu các loại; vốn góp liên doanh; tài sản, đất đai cho thuê ngoài; tiền vốn cho vay v.v

Tài sản cố định dở dang: Là các tài sản cố định hữu hình hoặc vô hình đang trong quá trình hình thành, hiện chưa sử dụng và được xếp vào mục chi phí xây dựng

cơ bản dở dang Ngoài ra những khoản ký quỹ, ký cược dài hạn mà doanh nghiệp thực hiện cũng được xếp vào tài sản cố định

Trang 20

2.2.1.1.2 TÀI SẢN LƯU ĐỘNG 8

Tài sản lưu động của doanh nghiệp là tất cả những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp , có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một năm (nếu chu kỳ kinh doanh  một năm ) hoặc trong vòng một chu kỳ kinh doanh, (nếu chu kỳ kinh doanh > một năm)

Chu kỳ kinh doanh được hiểu là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ vốn vào kinh doanh dưới hình thái tiền tệ lại thu được vốn đó dưới hình thái tiền tệ

Tuỳ theo lĩnh vực kinh doanh mà chu kỳ kinh doanh của mỗi doanh nghiệp khác nhau Đối với doanh nghiệp sản xuất, đó là khoảng thời gian cần thiết kể từ khi doanh nghiệp bỏ tiền mua vật tư, chế biến vật liệu đó thành sản phẩm và bán được sản phẩm

đó Đối với doanh nghiệp thương mại, chu kỳ kinh doanh được hiểu là khoảng thời gian kể từ khi bỏ tiền mua hàng hoá và đem bán được hàng hoá đó

Tài sản lưu động thay đổi hình thái của nó trong phạm vi một chu kỳ kinh doanh Như vậy, giá trị của nó sẽ được chuyển toàn bộ, một lần vào sản phẩm làm ra Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động có sự thay đổi hình thái thường xuyên theo một chu kỳ khép kín : Tiền  Nguyên vật liệu  Bán thành phẩm  Sản phẩm  Tiền (T – H – T’) Tài sản lưu động của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền tệ, hiện vật (vật tư, hàng hoá), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu ngắn hạn

Các thành phần của tài sản lưu động Tài sản lưu động của một doanh nghiệp gồm có:

- Vốn bằng tiền: Là tài sản biểu hiện trực tiếp dưới hình thức giá trị (tiền đồng

Việt Nam, ngân phiếu, ngoại tệ , vàng bạc, đá quý) Phần lớn vốn bằng tiền của doanh nghiệp được gửi ở ngân hàng, ngoài ra có một phần tồn tại dưới dạng tiền mặt tại doanh

nghiệp, dùng chi trả các khoản thường xuyên

- Các khoản phải thu: Là những khoản tiền vốn của doanh nghiệp nhưng do quan hệ thanh toán, các đơn vị, cá nhân khác còn giữ chưa trả cho doanh nghiệp (ví dụ: tiền hàng người mua còn chịu, tiền tạm ứng chưa thanh toán )

- Hàng tồn kho: Là loại tài sản được dự trữ cho họat động sản xuất kinh doanh

của doanh nghiệp nhằm bảo đảm cho họat động này được thường xuyên, liên tục,

8

Quản trị chi phí kinh doanh trong doanh nghiệp (phần 3) -

http://www.hcg.vn/v2/index.php?qs=VN/service/320

Trang 21

không bị gián đoạn, bao gồm: nguyên vật liệu, dụng cụ, sản phẩm dở dang tồn kho, thành phẩm

Đối với doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho gồm nguyên liệu dự trữ trong kho chuẩn bị sản xuất, sản phẩm dở dang trong các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, thành phẩm dự trữ trong kho để chờ bán và cả các tài sản tham gia vào nhiều niên độ kinh doanh nhưng có giá trị nhỏ (công cụ, dụng cụ)

Đối với doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho chỉ bao gồm hàng hóa dự trữ trong kho nhằm đảm bảo cho khâu bán hàng thường xuyên có đủ số lượng hàng, chủng loại hàng đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng

- Đầu tư tài chính ngắn hạn: Đầu tư tài chính là sự bỏ vốn vào kinh doanh dưới hình thức mua bán chứng khoán, góp vốn liên doanh, cho thuê tài sản, cho vay lấy lãi, mua bán bất động sản… Đầu tư tài chính ngắn hạn phản ánh giá trị các khoản tiền đầu

tư có thời hạn thu hồi vốn từ một năm trở lại

2.2.1.2 TIỀN HOẶC TÀI SẢN GÓP VỐN LIÊN DOANH, LIÊN KẾT CÁ NHÂN, DOANH NGHIỆP HOẶC TỔ CHỨC KHÁC

Kể từ khi Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - 1986 cho đến nay, nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp tích cực để thu hút đầu tư nước ngoài, trong đó có cải thiện môi trường đầu tư và môi trường pháp lý Trên cơ sở đó, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp 2005 (còn gọi là Luật Doanh nghiệp thống nhất), Luật Đầu tư năm 2005 (còn gọi là Luật đầu tư chung) nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Chính phủ cũng đã đồng ý áp một mức giá dịch vụ thống nhất đối với các nhà đầu tư hoạt động tại Việt Nam (không phân biệt nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài

Trong thời gian đầu của thời kỳ mở cửa, đối với hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thức liên doanh được nhiều doanh nghiệp trong nước lựa chọn để hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài Do các doanh nghiệp nước ta lúc bấy giờ còn thiếu vốn, kinh nghiệm quản trị và công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất kinh doanh theo

cơ chế thị trường, nên nhiều doanh nghiệp trong nước muốn thông qua việc liên doanh với đối tác nước ngoài để tranh thủ, học hỏi những thế mạnh của họ Do vậy, thời kỳ này các doanh nghiệp liên doanh chiếm một số lượng lớn và chủ yếu trong số các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam

“Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính

Trang 22

phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp một khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy phép đầu tư”9

Đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp liên doanh là có sự phối hợp cùng góp vốn đầu tư sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư Việt nam

Tỷ lệ góp vốn của mỗi bên sẽ quyết định tới mức độ tham gia quản lý doanh nghiệp, tỷ

lệ lợi nhuận được hưởng cũng như rủi ro mỗi bên tham gia liên doanh phải gánh chịu

Nếu việc kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ và doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì tài sản của doanh nghiệp được xác định không chỉ là phần tài sản hiện

có của doanh nghiệp mà còn cả tài sản doanh nghiệp góp vốn liên doanh nữa Vấn đề đặc ra là xác định phần vốn góp liên doanh này như thế nào?

Theo quy định của pháp luật “Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng,

dự án đầu tư vào địa bàn khuyến khích đầu tư, dự án trồng rừng, dự án quy có quy mô lớn, tỷ lệ này có thể thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn đầu tư và phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận Tỷ lệ góp vốn của bên hoặc các bên liên doanh nước ngoài do các bên liên doanh thoả thuận, nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, công nghệ, thị trường, hiệu quả kinh doanh và các lợi ích kinh tế - xã hội khác của dự án, Cơ quan cấp giấy phép đầu tư có thể xem xét cho phép bên liên doanh nước ngoài có tỷ lệ góp vốn thấp hơn, nhưng không dưới 20% vốn pháp định”10

Trong quá trình hoạt động kinh doanh tỷ lệ vốn góp của các bên liên doanh có thể tăng lên hoặc giảm xuống tùy vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp liên doanh Chính vì thế nên khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì phần vốn góp của doanh nghiệp trong doanh nghiệp liên doanh được xác định ngay tại thời điểm đó chứ không phải là phần vốn góp ban đầu mà doanh nghiệp góp vốn vào

Trang 23

Bên cạnh những doanh nghiệp liên doanh nêu trên, các doanh nghiệp trong nước cũng liên doanh, liên kết với nhau để mở rộng thị phần kinh doanh “Nếu như các doanh nghiệp Việt Nam liên doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài để hình thành nên một pháp nhân mới trên cơ sở hợp đồng liên doanh, thì hình thức liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau không hình thành nên một pháp nhân mới

mà các bên chỉ thỏa thuận thực hiện một thương vụ nào đó theo hợp đồng hợp tác kinh doanh Các bên góp vốn theo tỷ lệ thỏa thuận và hưởng lợi, chịu rủi ro tương ứng với tỷ

lệ vốn góp của mỗi bên Khi thương vụ kinh doanh đó kết thúc, thì hợp đồng hợp tác kinh doanh chấm dứt và các bên tiến hành thanh lý hợp đồng”11

Đối với trường hợp này tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản cũng bao gồm cả tài sản hiện có của doanh nghiệp cộng với tài sản mà doanh nghiệp đang góp vốn trên cơ sở hợp đồng liên doanh nói trên

2.2.1.3 TIỀN HOẶC TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP MÀ CÁ NHÂN,

TỔ CHỨC, DOANH NGHIỆP KHÁC ĐANG NỢ HOẶC CHIẾM ĐOẠT

Tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác đang nợ đó chính là tài sản của doanh nghiệp dựa trên các khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho doanh nghiệp Các khoản phải thu này được ghi nhận là tài sản của doanh nghiệp vì chúng phản ánh các khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai

Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác đang nợ hoặc chiếm đoạt chính là các khoản phải thu hồi

Việc thu hồi các khoản này cũng không đơn giản Nhiều con nợ khi biết doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã tìm cách trốn tránh, không hợp tác với tổ quản lý, thanh lý tài sản Trường hợp con nợ đang chấp hành án tù mà không có tài sản trả nợ, không thể chờ chấp hành xong hình phạt mới thu hồi để giải quyết phá sản thì việc xác định phần tài sản này như thế nào hiện luật chưa có quy định cụ thể

11

Công ty luật Bico – doanh nghiệp liên doanh -

http://www.bico.com.vn/webplus/viewer.asp?pgid=6&aid=190

Trang 24

2.2.1.4 TÀI SẢN MÀ DOANH NGHIỆP ĐANG CHO THUÊ HOẶC CHO MƯỢN

2.2.1.4.1 ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHO THUÊ:

Cho thuê tài sản là việc một bên giao tài sản của mình (Trong trường hợp này bên cho thuê là doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản) cho bên kia để sử dụng

có thời hạn và phải trả một số tiền nhất định Hình thức pháp lí của cho thuê là hợp đồng thuê Trong hợp đồng thuê tài sản, bên cho thuê có nghĩa vụ giao tài sản cho người thuê để sử dụng trong một thời gian nhất định Còn người thuê có nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng với công dụng của tài sản, trả tiền thuê tài sản và trả lại tài sản khi hết thời hạn cho thuê Hợp đồng thuê tài sản là hợp đồng song vụ vì mỗi bên đều có những quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định, quyền dân sự của bên này tương ứng với nghĩa vụ dân sự của bên kia Hợp đồng thuê tài sản được coi là đã kí kết sau khi hai bên thoả thuận với nhau về việc thuê tài sản Hợp đồng thuê tài sản là hợp đồng có đền bù

vì người thuê tài sản phải trả một số tiền để bù đắp vào việc sử dụng tài sản của người cho thuê

Tài sản cho thuê có thể là tài sản vô hình hoặc tài sản hữu hình dùng để thỏa mản nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất của cá nhân và các tổ chức Do vậy đối tượng của hợp đồng thuê tài sản là tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng Quyền sử dụng đất cũng có thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê « Doanh nghiệp chỉ được phép cho người khác thuê quyền sử dụng đất khi quyền sử dụng đất này của doanh nghiệp trước đó được nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, hoặc doanh nghiệp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền đã trả cho việc nhận chuyển nhượng đó không có nguồn gốc

từ ngân sách Nhà nước, hoặc được Nhà nước cho thuê đất trước ngày Luật Đất đai

2003 có hiệu lực thi hành mà doanh nghiệp đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là năm năm, doanh nghiệp chuyển mục đích sử dụng đất mà tiền đã trả cho mục đích chuyển đổi không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước mà doanh nghiệp chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất »12

Đối với bên cho thuê: trong suốt thời hạn cho thuê, bên cho thuê vẫn có quyền

sở hữu pháp lý đối với tài sản, do đó bên cho thuê có quyền lấy lại tài sản nếu xét thấy bên thuê có biểu hiện vi phạm hợp đồng Mặt khác, trong trường hợp bên thuê lâm vào tình trạng phá sản thì tài sản thuê vẫn không bị phát mãi mà vẫn bảo đảm quyền sở hữu

12 Điều 110, điều 111, điều 112 Luật đất đai năm 2003

Trang 25

hợp pháp của bên cho thuê đối với tài sản này Vì vậy khi bên cho thuê lâm vào tình trạng phá sản thì tài sản của doanh nghiệp bao gồm luôn cả tài sản mà doanh nghiệp đang cho thuê Giá trị tài sản cho thuê ở thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chính là giá trị còn lại của tài sản cho thuê

2.2.1.4.2 ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHO MƯỢN

Cho mượn tài sản là việc làm mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống Cho mượn tài sản thường xảy ra giữa những doanh nghiệp có mối quan hệ làm ăn thân thiết Doanh nghiệp có tài sản thuộc sở hữu của mình chuyển cho người khác chiếm hữu, sử dụng trong một thời gian nhất định

Doanh nghiệp cho mượn không tính toán về kinh tế đối với người mượn Tuy nhiên trong một số trường hợp, bên mượn tài sản vô ý làm hư hỏng hoặc cố ý chiếm đoạt tài sản của bên cho mượn Do vậy, để bảo vệ quyền lợi của bên cho mượn pháp luật điều chỉnh mối quan hệ của hai chủ thể, nhằm xác định rõ trách nhiệm của bên mượn tài sản khi không thực hiện đúng những điều cam kết của mình, hạn chế trường hợp lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của người khác… Điều 512 Bộ Luật dân

sự quy định: Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận của các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên cho mượn để sử dụng trong một thời gian mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được

“Quan hệ cho mượn tài sản được hình thành kể từ thời điểm chuyển giao tài sản Trong hợp đồng cho mượn, đối tượng của hợp đồng là một hoặc nhiều tài sản Khái niệm tài sản không thể hiểu theo điều 163 Bộ luật dân sự mà cần được hiểu cụ thể hơn là vật có thực, vật đó có thể sử dụng đem lại lợi ích cho người mượn Đối tượng của hợp đồng phải là vật đặc định, không tiêu hao được hiểu theo quy định của Bộ luật dân sự ( Điều 178, điều 179 Bộ luật dân sự) Khi hết hạn hợp đồng bên mượn tài sản phải trả lại tài sản trong tình trạng ban đầu (khi mượn) Nếu làm hư hỏng , mất mát, phải bồi thường thiệt hại”13

Bên cho mượn là người có quyền sở hữu tài sản vì vậy một khi bên cho mượn (doanh nghiệp) lâm vào tình trạng phá sản, trong quá trình xác định tài sản của doanh nghiệp phải kể đến tài sản cho mượn Giá trị của tài sản cho mượn chính là giá trị tài sản trong tình trạng ban đầu khi mượn

13

Phùng Trung Tập, Nguyễn Minh Tuấn – Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập 2 – Trường

Đại học luật Hà Nội – NXB Công an nhân dân , trang 191

Trang 26

2.2.2 CÁC KHOẢN LỢI NHUẬN, CÁC TÀI SẢN VÀ QUYỀN VỀ TÀI SẢN

MÀ DOANH NGHIỆP SẼ CÓ DO VIỆC THỰC HIỆN CÁC GIAO DỊCH ĐƯỢC XÁC LẬP TRƯỚC KHI TÒA ÁN THỤ LÝ ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN

Trước khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì doanh nghiệp có thể

có xác lập một số giao dịch để tìm kiếm lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng không phải trong bất kỳ trường hợp nào thì ngay sau khi xác lập giao dịch các khoản lợi nhuận hoặc tài sản sẽ phát sinh ngay mà có những trường hợp sau khi xác lập giao dịch một thời gian thì lợi nhuận, tài sản hoặc quyền về tài sản mới phát sinh Có thể hình dung gọi đó là tài sản hình thành trong tương lại.Tài sản hình thành trong tương lai là loại tài sản sẽ có nhưng ở thời điểm, giao kết hợp đồng, các biện pháp bảo đảm thì chưa có hoặc chuẩn bị có nhưng bảo đảm khả năng chắc chắn có Ngay tại thời điểm doanh nghiệp xác lập giao dịch thì lợi nhuận, tài sản hoặc quyền tài sản chưa thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì số tài sản đó mới thuộc về quyền sở hữu của doanh nghiệp thì dĩ nhiên số tài sản này cũng thuộc tài sản của doanh nghiệp Chẳng hạn như trước khi tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp đã giao kết hợp đồng mua một số hàng hóa từ doanh nghiệp nào đó Nhưng số hàng hóa đó chưa được chuyển giao ngay cho doanh nghiệp Đến lúc Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì số hàng mới được chuyển giao (đúng như thỏa thuận trong hợp đồng) cho doanh nghiệp Tức ngay tại thời điểm số hàng được chuyển giao cho doanh nghiệp thì số hàng

đó thuộc tài sản của doanh nghiệp

2.2.3 TÀI SẢN LÀ VẬT BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CỦA DOANH

NGHIỆP TRƯỜNG HỢP THANH TOÁN TÀI SẢN LÀ VẬT BẢO ĐẢM ĐƯỢC TRẢ CHO CÁC CHỦ NỢ CÓ BẢO ĐẢM, NẾU GIÁ TRỊ CỦA VẬT BẢO ĐẢM VƯỢT QUÁ KHOẢN NỢ CÓ BẢO ĐẢM PHẢI THANH TOÁN THÌ PHẦN VƯỢT QUA ĐÓ LÀ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP

Giao dịch bảo đảm là một thiết chế ra đời khá sớm ở nhiều quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển trên thế giới Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy thiết chế này được xây dựng đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động tín dụng nói chung và sự phát triển của nền kinh tế nói riêng Việc xác lập các giao dịch bảo đảm luôn hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch dân

sự, đặc biệt là quyền lợi của bên có quyền trong giao dịch này Với ý nghĩa đó, việc xác lập các giao dịch bảo đảm đã góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân

sự, kinh tế, tránh các tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiện

Trang 27

nhưng không đúng nghĩa vụ dân sự, kinh tế của bên có nghĩa vụ gây ra Đồng thời, trong trường hợp nêu trên, các giao dịch bảo đảm còn tạo điều kiện khắc phục những thiệt hại cho bên có quyền một cách nhanh chóng và hiệu quả Trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, chúng giữ một vai trò quan trọng đối với việc mở rộng tín dụng cho nền kinh tế Vai trò đó được thể hiện thông qua việc mở rộng khả năng, cơ hội tiếp cận tín dụng nói chung, tín dụng ngân hàng nói riêng của các doanh nghiệp, tổ chức khác và cá nhân, đồng thời tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới quyết định cấp tín dụng của tổ chức tín dụng

“Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giao dịch bảo đảm chính là giải pháp cho việc tiếp cận tín dụng vì để nâng cao sự an toàn cho việc thu hồi vốn, các tổ chức tín dụng thường yêu cầu có biện pháp bảo đảm bằng tài sản khi cấp tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Dưới góc độ này, các giao dịch bảo đảm đã trở thành công cụ hữu hiệu để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận tín dụng ngân hàng”14

Mặt khác, việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản sẽ bảo đảm quyền ưu tiên của tổ chức tín dụng trong việc thu hồi nợ trong trường hợp doanh nghiệp vay vốn gặp khó khăn trong thanh toán, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản Hơn nữa, việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp sẽ bảo đảm cho tổ chức tín dụng quản lý, theo dõi được hoạt động của doanh nghiệp một cách chặt chẽ hơn, từ đó bảo đảm an toàn cho tổ chức tín dụng trong việc thu hồi vốn vay

Giao dịch bảo đảm được thiết lập trên cơ sở hợp đồng, do đó, quyền tự do cam kết, thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch đóng vai trò quyết định Áp dụng biện pháp bảo đảm, chủ nợ không chỉ có quyền theo hợp đồng buộc bên vay nợ phải hoàn trả vốn vay, mà còn có quyền xử lý tài sản mà bên vay dùng để bảo đảm Điều này sẽ đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản

Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm

Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, các bên được thoả thuận về phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, theo đó không chỉ có thể bảo đảm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, mà còn bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai (đáp ứng nhu cầu vay theo hạn mức và vay theo dự án) và nghĩa vụ có điều kiện Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy

14

Ngọc Phượng – Nhìn nhận giao dịch bảo đảm dưới gốc độ pháp lý và kinh tế -

http://www.vnlawfind.com.vn/default.aspx?tabid=170&ID=5826&CateID=140 – Ngày đăng

bài 08/9/2008 – Ngày đọc bài – 25/01/2009

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:51

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w