1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại WTO với doanh nghiệp việt nam – những cơ hội và thách thức hậu gia nhập WTO

82 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu: Do khả năng còn hạn chế của người thực hiện đề tài nên nghiên cứu chỉ tập trung xem xét về các cam kết của Việt Nam trong WTO nhằm làm nổi bật những tác động của nó

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

BỘ MÔN THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

KHÓA 30 (Niên khóa 2004 – 2008)

Lớp: Luật Thương Mại, K30

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN

 ………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC



LỜI MỞ ĐẦU Trang 1 Tính cấp thiết của đề tài ……….1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Phạm vi nghiên cứu .2

4 Phương pháp nghiên cứu .2

5 Cấu trúc luận văn 2

CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)………3

1.1 WTO là gì? ………3

1.2 Quá trình phát triển của WTO………3

1.3 Mục tiêu hoạt động và chức năng của WTO……… 6

1.4 Các nguyên tắc pháp lý của WTO……… 9

1.4.1 Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)……… 9

1.4.2 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT)……… 11

1.4.3 Nguyên tắc loại bỏ sự hạn chế số lượng nói chung……… 13

1.4.4 Nguyên tắc cạnh tranh công bằng……… 14

1.4.5 Sự ràng buộc của thuế quan và cắt giảm thuế quan……… 15

1.5 Tư cách thành viên của WTO……… 16

1.6 Cơ cấu tổ chức của WTO……….17

CHƯƠNG 2: VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)……… 22

2.1 Sự cần thiết phải gia nhập WTO của Việt Nam……… 22

2.2 Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam………23

2.3 Một số cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO……… 27

2.3.1 Cam kết đa phương……… 28

2.3.2 Cam kết về thuế nhập khẩu……… 36

2.3.3 Cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ…………….41

2.4 Tác động của WTO đến Việt Nam……… 44

2.4.1 Tác động của WTO đến kinh tế - xã hội Việt Nam……… 44

2.4.2 Tác động của WTO đến môi trường tài chính……… 47

2.4.3 Tác động của WTO đến thị trường lao động……… 48

2.4.4 Tác động của WTO đến môi trường pháp lý – hành chính…………51

2.5 Những cơ hội khi Việt Nam là thành viên của WTO……… 52

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 3: WTO VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM – NHỮNG

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC HẬU GIA NHẬP

WTO……… 56

3.1 Vài nét về môi trường kinh doanh tại Việt Nam……… 56

3.2 Việt Nam sau một năm gia nhập WTO………60

3.3 Doanh nghiệp Việt Nam đồng hành với cơ hội và thách thức hậu

gia nhập WTO………65

KẾT LUẬN CHUNG……… 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI MỞ ĐẦU

  

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện nay, tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa là một xu thế của thời đại, vì vậy việc hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan Muốn chống lại đói nghèo, lạc hậu không còn cách nào khác hơn là chúng ta phải phát triển giao lưu, thương mại, buôn bán giữa các nước, cùng hội nhập cùng hợp tác và cùng nhau phát

triển Tổng giám đốc WTO Supachai Panitchpakdi đã từng nói: “thương mại là công

cụ tốt nhất để chống lại đói nghèo” Thế cho nên hòa bình, hợp tác để phát triển đã trở thành xu thế chung của cả thế giới với hầu hết các quốc gia Việt Nam chúng ta cũng ưu tiên phát triển kinh tế bằng việc thực hiện chính sách mở cửa, sẵn sàng là bạn

là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên thế giới Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã không ngại khó khăn, gian khổ vẫn kiên trì tiến trình đàm phán với các đối tác trong suốt 11 năm trường để được đặt chân vào Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO nhằm thực hiện cho kỳ được mục tiêu, chủ trương, chính sách đã đề ra là đưa đất nước Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020

Tuy nhiên, mở cửa thị trường thông qua gia nhập WTO không chỉ mang lại cho đất nướcViệt Nam nói chung và cho các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng những điều kiện thuận lợi to lớn để phát huy sức mạnh giúp cho nước nhà phát triển, thế nhưng đồng hành với thuận lợi bao giờ cũng là khó khăn, thách thức đi kèm

Vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu những tác động của WTO đối với doanh nghiệp Việt Nam cũng như những cơ hội và thách thức sau khi chúng ta gia nhập là cần thiết để các doanh nghiệp Việt Nam có cái nhìn đúng đắn hơn, đồng thời chủ động

đề ra những biện pháp, những phương thức để vượt qua khó khăn và vững bước trên

con đường hội nhập Đây cũng là lý do mà người viết chọn đề tài: “WTO với doanh nghiệp Việt Nam – những cơ hội và thách thức hậu gia nhập WTO” cho luận văn

cuối khóa của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Sau một năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) nền kinh tế Việt Nam có những chuyển biến tích cực cũng như những tồn tại nào; môi trường kinh doanh ra sau, doanh nghiệp Việt Nam – đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có những thuận lợi và gặp phải những khó khăn thách thức gì? Đó cũng là những gì mà người viết quan tâm khi nghiên cứu đề tài

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

3 Phạm vi nghiên cứu:

Do khả năng còn hạn chế của người thực hiện đề tài nên nghiên cứu chỉ tập trung xem xét về các cam kết của Việt Nam trong WTO nhằm làm nổi bật những tác động của nó đối với Việt Nam từ đó rút ra những đánh giá, nhận xét về thuận lợi cũng như khó khăn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam khi đất nước gia nhập WTO mà không đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề về chính trị, nhưng để làm sinh động hơn cho bài viết tác giả cũng giới thiệu khái quát một số vấn đề về chủ trương, chính sách cũng như việc ban hành các văn bản luật, nghị định,…của Đảng và Nhà nước ta nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập và kiên quyết thực hiện đúng những cam kết của WTO

4 Phương pháp nghiên cứu:

Khi nghiên cứu đề tài người viết đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp Chủ nghĩa duy vật biện chứng được sử dụng với vai trò chính dùng làm cơ sở và là phương pháp luận để xem xét toàn bộ vấn đề của đề tài, phương pháp sưu tầm, trích dẫn và tổng hợp từ những bài phân tích, những ý kiến của các chuyên gia, những người đứng đầu Nhà nước cùng các văn bản và các dự thảo luật có liên quan được người viết sử dụng để viết thành một bài nghiên cứu hoàn chỉnh

5 Cấu trúc luận văn:

Bài viết được chia thành 3 chương:

- Chương 1: Sơ lược về tổ chức thương mại thế giới (WTO)

- Chương 2: Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)

- Chương 3: WTO với doanh nghiệp Việt Nam – những cơ hội và thách thức hậu gia nhập WTO

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

CHƯƠNG 1

SƠ LƯỢC VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

(WTO)

1.1 WTO là gì?

WTO là tên viết tắt từ tiếng Anh của Tổ chức Thương mại Thế giới (World

Trade Organization) - tổ chức quốc tế duy nhất đưa ra những nguyên tắc thương mại

giữa các quốc gia trên thế giới Trọng tâm của WTO chính là các hiệp định đã và đang được các nước đàm phán và ký kết

WTO được thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới được ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 15/4/1994 Ngày 1/1/1995 WTO chính thức đi vào

hoạt động - kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ chức tiền thân Tiền thân của WTO là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, gọi tắt là GATT

(General Agreement on Tariffs and Trade) - bắt đầu chính thức có hiệu lực năm 1948

GATT ra đời sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi nổi

WTO là tổ chức kinh tế nhiều bên có quy tắc kinh tế thương mại quốc tế chuẩn mực nhất, hiện nay có 151 nước thành viên (thành viên thứ 151 là Tonga gia nhập vào

năm 2007), cùng với tổ chức Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF- International Monetary Fund),

Ngân hàng thế giới (WB - World Bank) cả ba đều được xem là “ba trụ cột lớn” của kinh

tế thế giới Sau đại chiến, GATT và WTO đã phát huy tác dụng quan trọng trong việc mở rộng thương mại quốc tế, giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, thu hút đông đảo các

nước phát triển tham gia thương mại nhiều bên nhằm đưa nền kinh tế toàn cầu bước sang một tầm cao mới Nói một cách đơn giản, WTO là nơi đề ra những quy định điều tiết hoạt động thương mại của các quốc gia trên quy mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thế giới

1.2 Quá trình phát triển của WTO:

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế nhằm điều tiết các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hàng hóa, khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển Từ tháng 4 đến tháng

10 năm 1947, 23 nước sáng lập GATT (gồm có Mỹ, Anh, Trung Quốc, Pháp) đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị lần thứ hai Ủy ban trù bị thương mại và việc làm thế giới tổ chức tại Geneva Hội nghị đàm phán dự thảo Hiến chương tổ chức Thương mại quốc tế (ITO) với tư cách là chuyên môn của Liên Hiệp Quốc, đồng thời các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý những biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đầu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên Bên cạnh đó, trong thời gian hội nghị tiến hành vòng đầu đàm phán về cắt giảm thuế quan, các nước tham gia đã đạt được hiệp định nhiều bên,

có 123 mục có liên quan về thuế quan đã được cắt giảm, tổng số có 45.000 mục thuế quan đã được cắt giảm (chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới), đã thúc đẩy thực hiện nhanh chóng thành quả cắt giảm thuế quan, các nước tham gia đã trích một một số điều khoản trong dự thảo có liên quan về chính sách thương mại trong Hiến chương tổ chức thương mại quốc tế, tập hợp với Hiệp định riêng lẻ, tức “Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại” Tháng 10, Hội nghị Thương mại và Việc làm

Liên hiệp quốc xem xét và thông qua “Hiến chương tổ chức thương mại quốc tế” (tức

Hiến chương La Havana), chuyển cho các nước phê chuẩn Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thỏa thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ tháng 11/1947 đến ngày 23/4/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được

Trước khi Hiến chương tổ chức thương mại trên có hiệu lực, 23 nước trong

đó Mỹ, Anh, Trung Quốc, Pháp đã đạt được Hiệp nghị về sự ràng buộc của các biện pháp thuế quan và bảo hộ lao động thương mại của các nước, quyết định sử dụng tạm thời “Hiệp định chung về thuế quan và thương mại” (GATT) và từ ngày 1 tháng 1 năm 1948 GATT chính thức có hiệu lực GATT là hiệp định thương mại nhiều bên duy nhất của toàn cầu, có mục tiêu là thực hiện thương mại quốc tế tự do hóa, từng bước giảm thấp thuế quan và loại bỏ các loại hàng rào phi thuế quan nhằm nâng cao mức sống, bảo đảm thu nhập thực tế và nhu cầu có hiệu quả tăng trưởng bền vững to lớn của các nước, mở rộng việc lợi dụng đầy đủ tài nguyên thế giới, phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Tháng 9 năm 1986 Hội nghị cấp Bộ trưởng tại Uruguay, là vòng đàm phán thứ tám nhiều bên về thương mại, còn gọi là “vòng mới” đàm phán Vòng đàm phán mới này đã lập 15 nhóm đàm phán như biện pháp thuế quan, phi thuế quan, sản phẩm tài nguyên thiên nhiên, hàng dệt may, nông sản phẩm, sản phẩm nhiệt đới, điều khoản Hiệp định chung, Hiệp định thương mại nhiều bên, biện pháp tự vệ, trợ giá và chống trợ giá, vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, có liên quan đến thương mại, giải quyết tranh chấp, tác dụng của thể chế Hiệp định chung về thương mại dịch vụ Kế hoạch ban đầu của đàm phán “vòng mới” họp tại Bruxen, có 107 nước tham gia, dự định kết thúc ngày 7 tháng 12 năm 1990, nhưng do Mỹ và EU còn nhiều bất đồng nghiêm trọng về vấn đề trợ giá nông sản phẩm, do đó cuộc đàm phán trở nên căng thẳng và bị kéo dài

Từ ngày thành lập đến nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan; GATT đã có tác dụng nhất định về mở rộng thương mại quốc tế, thúc đẩy kinh tế tăng truởng, nâng cao mức sống Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ hiệp định Uruguay (1986-1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý đã tỏ ra không còn phù hợp với tình hình mới Và so sánh với mục tiêu đã đạt được thì GATT còn bộc lộ khá nhiều hạn chế Những hạn chế chủ yếu là:

GATT là một hiệp định tạm thời và là tổ chức quốc tế phi chính thức, chỉ có thể xem là một tổ chức chuẩn quốc tế

Qui tắc cho phép của GATT không chặt chẽ, khi thực hiện còn nhiều khe hở rất lớn, có một số quy tắc thiếu sức ràng buộc về luật pháp

Trong GATT còn rất nhiều ngoại lệ Có một số nước ký kết hiệp định đã vi phạm nguyên tắc của GATT nhưng không có biện pháp cưỡng chế có tính ràng buộc

về luật pháp, làm cho nhiều tranh chấp thương mại quốc tế quan trọng không có cách nào giải quyết

Chính vì vậy, sau thời gian dài chuẩn bị, về cơ bản trên cơ sở đạt được sự thống nhất ý kiến xây dựng Tổ chức Thương mại thế giới, ngày 15 tháng 11 năm

1993, 111 nước và lãnh thổ họp tại Geneva đã thỏa thuận một hiệp nghị (dự thảo) về thành lập một Tổ chức Thương mại thế giới (lúc đầu xác định tên là Tổ chức Thương mại nhiều bên) Ngày 15 tháng 4 năm 1995, đồng thời với 109 Chính phủ ký một văn kiện cuối cùng đàm phán thương mại vòng Uruguay, có các Bộ trưởng của 97 nước

ký một văn kiện phụ, tuyên bố thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), văn

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

bản này sau khi các cơ quan luật pháp các nước phê chuẩn, ngày 1 tháng 1 năm 1995 chính thức có hiệu lực - Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tuyên bố thành lập - độc lập với hệ thống Liên Hiệp Quốc Mặc dù vậy, GATT vẫn song song tồn tại với WTO trong thời gian một năm

1.3 Mục tiêu hoạt động và chức năng của WTO:

Mục tiêu hoạt động:

Ngoài chức năng cơ bản của GATT là tự do hóa ngoại thương và không áp dụng chính sách phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại giữa các nước nhằm khắc phục và tránh các cuộc chiến tranh và trừng phạt thương mại diễn ra từ năm 20 của thế kỉ XX, WTO còn quán xuyến hàng chục hiệp định khác như: hiệp định về nông nghiệp, hiệp định chung về thương mại và dịch vụ, hiệp định TRIPS chuyên quản lý tài sản trí tuệ, hiệp định TRIM điều chỉnh các khoản đầu tư “có quan hệ thương mại”,… Với tư cách là một tổ chức thương mại của tất cả các nước trên thế giới, thực hiện những mục tiêu đã được nêu trong lời nói đầu của Hiệp định GATT 1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới WTO có rất nhiều mục tiêu sau đây là 3 mục tiêu chính:

Thứ nhất: thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hóa và dịch vụ trên thế giới phát triển nhanh nhằm phục vụ cho sự phát triển chung của thế giới cũng như sự ổn định, bền vững của toàn cầu và góp phần bảo vệ môi trường của cả nhân loại;

Thứ hai: thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng

và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế, bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu hơn rộng hơn vào nền kinh tế chung của thế giới;

Thứ ba: nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu của họ

WTO thực hiện 5 chức năng sau:

 Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận thương mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ Phần lớn các

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

quyết định của WTO đều dựa trên cơ sở đàm phánđồng thuận Mỗi thành viên của WTO có một phiếu bầu có giá trị ngang nhau Nguyên tắc đồng thuận có ưu điểm là

nó khuyến khích tìm ra một quyết định khả dĩ nhất được tất cả các thành viên chấp nhận Nhược điểm của nó là tiêu tốn nhiều thời gian và nguồn lực để có được một quyết định đồng thuận Đồng thời, nó dẫn đến xu hướng sử dụng những cách diễn đạt chung chung trong hiệp định đối với những vấn đề có nhiều tranh cãi, khiến cho việc diễn giải các hiệp định gặp nhiều khó khăn

 Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết nghị của Hội nghị Bộ trưởng WTO

 Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thương mại đa phương

và nhiều bên

Việc giải quyết tranh chấp là cơ sở của hệ thống thương mại đa phương và là

sự đóng góp chưa từng có của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho sự ổn định của nền kinh tế thế giới Nếu không có các phương tiện giải quyết tranh chấp, hệ thống thương mại dựa trên các quy tắc có lẽ sẽ không còn có ích vì các quy tắc đó không thể áp dụng được Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO nhằm bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật và làm cho hệ thống thương mại vững chắc hơn cũng như việc

có thể dự báo được Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên 4

nguyên tắc cơ bản: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các

bên tranh chấp Là một tổ chức quốc tế dựa trên các nghĩa vụ pháp lý (rule-based) GATT trước kia cũng như WTO hiện nay đều cần có một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả và công bằng, nhằm bảo đảm để tất cả các nước thành viên dù lớn hay nhỏ,

dù là nước phát triển hay đang phát triển cũng đều phải tuân thủ “luật chơi chung” của thương mại quốc tế Giáo sư Luật kinh tế quốc tế Ernst-Ulrich Petersmann - một trong

những chuyên gia hàng đầu thế giới về GATT/WTO đã có nhận xét như sau: “Cơ chế

giải quyết tranh chấp của GATT có tầm quan trọng sống còn đối với việc duy trì một

hệ thống thương mại quốc tế mở cửa, bởi vì cơ chế đó không chỉ đơn thuần giải quyết

êm thấm các tranh chấp mà nó còn là công cụ bảo đảm sự tin cậy về mặt pháp lý đối với các cam kết của các chính phủ và quan trọng hơn cả đó là một vũ khí dùng để răn

đe những nước có chủ trương chính sách ngoại giao thương mại dựa trên sức mạnh”

Những nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp của GATT đã được WTO kế thừa

và phát triển Sau gần 5 năm hoạt động, cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO đã thực sự trở thành một trong những định chế có quyền lực nhất trên thế giới Ngay cả các siêu cường như EU, Mỹ cũng phải chấp nhận đưa các tranh chấp của họ ra giải

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

quyết trước WTO và chấp nhận thực hiện các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp, mặc dù đôi lúc những nước này đã công khai phản đối lại các quyết định này

 Là cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của các nước thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và tuân thủ các quy định của WTO

Hiệp định thành lập WTO đã quy định một cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại áp dụng chung đối với tất cả các nước thành viên Một trong những yêu cầu cơ bản đối với những công ty tham gia vào thương mại quốc tế là tính ổn định và

có thể dự đoán trước của chính sách và hệ thống pháp lý về thương mại Trong WTO, hai mục tiêu này được thực hiện thông qua cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại (TPRM) Việc kiểm điểm thực hiện theo nguyên tắc nước thành viên có vị trí càng quan trọng trong thương mại quốc tế thì càng phải kiểm điểm thường xuyên hơn các nước thành viên khác Vì vậy, bốn cường quốc thương mại lớn nhất thế giới là Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Canada sẽ kiểm điểm 2 năm/lần, 16 thành viên tiếp theo đó sẽ kiểm điểm 4 năm/lần; trung bình một năm có khoảng 20 nước phải kiểm điểm chính sách thương mại

Cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại khác với cơ chế giải quyết tranh chấp là không có quyền cưỡng chế hoặc giải thích các điều khoản trong các Hiệp định của WTO Mục đích của TPRM là thông qua cơ chế kiểm điểm giúp các thành viên tuân thủ các luật lệ, quy định của WTO và các cam kết riêng của mình Đồng thời nhân dịp kiểm điểm này, các nước thành viên có cơ hội giải thích và làm cho các thành viên khác hiểu biết hơn về chính sách và thực tiễn thương mại của nước mình cũng như về những khó khăn mà nước đó có thể gặp phải khi thực hiện các cam kết

ấy

 Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong việc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1.4 Các nguyên tắc pháp lý của WTO:

Các hiệp định của WTO rất dài và phức tạp vì đó là những văn bản pháp lý quy định rất nhiều lĩnh vực hoạt động như: nông nghiệp, hàng dệt may, hoạt động ngân hàng, viễn thông và còn nhiều lĩnh vực khác nữa Tuy nhiên, có một số nguyên tắc đơn giản và cơ bản làm kim chỉ nam của tất cả các lĩnh vực và trở thành nền tảng của hệ thống thương mại đa biên1

1.4.1 Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN):

Tối huệ quốc, viết tắt theo tiếng Anh là MFN (Most favoured nation), là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO Tầm quan trọng đặc biệt của MFN được thể hiện ngay tại Điều I của Hiệp định GATT Nguyên tắc MFN được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một sự đối xử ưu đãi nào đó thì nước này cũng sẽ phải dành sự ưu đãi đó cho tất cả các nước thành viên khác Thông thường, nguyên tắc MFN được quy định trong các hiệp định thương mại song phương Khi nguyên tắc MFN được áp dụng đa phương đối với tất cả các nước thành viên của WTO thì cũng đồng nghĩa với nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử (Non - discrimination) vì tất cả các nước sẽ dành cho nhau sự “đối xử ưu đãi nhất” Tuy nhiên, nguyên tắc MFN trong WTO không có tính chất áp dụng tuyệt đối Hiệp định GATT 1947 quy định mỗi nước có quyền tuyên bố không áp dụng tất cả các điều khoản trong Hiệp định đối với một nước thành viên khác (như trường hợp không áp dụng MFN đối với Cuba mặc dù Cuba là thành viên sáng lập GATT và WTO)

Nếu như nguyên tắc MFN trong GATT 1947 chỉ áp dụng đối với “hàng hóa” thì trong WTO, nguyên tắc này được mở rộng sang thương mại dịch vụ (Điều 2 Hiệp định GATS), và sở hữu trí tuệ (Điều 4 Hiệp định TRIPS)

Mặc dù được xem là “hòn đá tảng” trong hệ thống thương mại đa phương, nhưng Hiệp định GATT 1947 và WTO vẫn quy định một số ngoại lệ (exception) và

1

Hệ thống thương mại “đa biên” là hệ thống do WTO điều hành Phần lớn các quốc gia trên thế giới - trong đó gồm hầu hết các cường quốc thương mại chính của thế giới - là thành viên của hệ thống này Tuy vậy, có một số nước không gia nhập hệ thống nên thuật ngữ “thế giới” đã được thay thế bằng thuật ngữ “đa biên”để nêu lên đặc điểm này

Đối với WTO, thuật ngữ này còn bao hàm một nghĩa quan trọng khác Tại đây, “đa biên” có nghĩa là các hoạt động được triển khai trên quy mô thế giới hoặc gần như toàn thế giới (đặc biệt đối với các nước thành viên WTO), thuật ngữ được sử dụng nhằm đối lập với những biện pháp sử dụng trong phạm vi khu vực hoặc trong một số nhóm quốc gia (“Đa biên” được sử dụng khác với “đa phương” vẫn thường được sử dụng trong những lĩnh vực quan hệ quốc tế khác, theo đó, một cơ chế an ninh “đa phương” có thể mang tính chất toàn khu vực)

(Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế Quốc tế, Tìm hiểu Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Nxb Hà Nội, năm 2006, tr.19)

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

miễn trừ (waiver) quan trọng đối với nguyên tắc MFN Ví dụ như Điều XXIV của GATT quy định các nước thành viên trong các Hiệp định thương mại khu vực có thể dành cho nhau sự đối xử ưu đãi hơn mang tính chất phân biệt đối xử với các nước thứ

ba, trái với nguyên tắc MFN GATT 1947 cũng có hai miễn trừ về đối xử đặc biệt và

ưu đãi hơn với các nước đang phát triển

Miễn trừ thứ nhất là: Quyết định ngày 25-6-1947 của Đại hội đồng GATT

về thiết lập “hệ thống ưu đãi phổ cập” (GSP) chỉ áp dụng cho hàng hóa xuất xứ từ những nước đang phát triển và chậm phát triển Trong khuôn khổ GSP, các nước phát triển có thể thiết lập một số mức thuế ưu đãi hoặc miễn thuế quan cho một số nhóm mặt hàng có xuất xứ từ các nước đang phát triển và chậm phát triển và không có nghĩa

vụ phải áp dụng những mức thuế quan ưu đãi đó cho các nước phát triển khác theo nguyên tắc MFN

Miễn trừ thứ hai là: Quyết định ngày 26-11-1971 của Đại hội đồng GATT về

“Đàm phán thương mại giữa các nước đang phát triển”, cho phép các nước này có

quyền đàm phán, ký kết những hiệp định thương mại dành cho nhau những ưu đãi hơn

về thuế quan và không có nghĩa vụ phải áp dụng cho hàng hóa đến từ các nước phát triển, trên cơ sở quyết định này, Hiệp định về “Hệ thống ưu đãi thương mại toàn cầu giữa các nước đang phát triển đã được ký kết năm 1989

Mặc dù được tất cả các nước trong GATT/WTO công nhận là nguyên tắc bất

di bất dịch nhưng thực tế cho thấy các nước phát triển cũng như đang phát triển, không phải lúc nào cũng tuân thủ nguyên tắc MFN một cách nghiêm túc; chính vì vậy cho nên đã có không ít những tranh chấp trong lịch sử của GATT liên quan đến việc

áp dụng nguyên tắc này Và thông thường thì vi phạm của các nước đang phát triển dễ

bị phát hiện và bị kiện hơn vi phạm của các nước phát triển

Ví dụ: Năm 1981, Braxin đã kiện Tây Ban Nha ra trước GATT về thuế suất đặc biệt đối với cà phê chưa rang Braxin cho rằng Nghị định 1764/79 của Tây Ban Nha quy định các mức thuế quan khác nhau đối với năm loại cà phê chưa rang khác nhau (cà phê Arập chưa rang, cà phê Robusta, cà phê Côlômbia, cà phê nhẹ và cà phê khác) Hai loại cà phê đầu được nhập khẩu miễn thuế, ba loại cà phê còn lại chịu mức thuế giá trị gia tăng là 7% Sau khi xem xét Nghị định nói trên, nhóm chuyên gia của GATT đã đi đến kết luận như sau: “Hiệp định GATT không quy định nghĩa vụ cho các bên ký kết phải tuân thủ một hệ thống phân loại hàng hóa đặc biệt nào Tuy nhiên, Điều I.1 của GATT quy định nghĩa vụ của các bên ký kết phải dành một sự đối xử như nhau cho những sản phẩm tương tự”… Lập luận của Tây Ban Nha biện minh cho

sự cần thiết phải có sự đối xử khác nhau đối với từng loại cà phê khác nhau chủ yếu

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

dựa trên những yếu tố như địa lý, phương pháp trồng trọt, quá trình thu hoạch hạt và giống Những yếu tố này tuy có khác nhau nhưng không đủ để Tây Ban Nha có thể áp dụng những thuế suất khác nhau đối với từng loại cà phê khác nhau Đối với tất cả những người tiêu thụ cà phê trên thế giới thì cà phê chưa rang được bán dưới dạng hạt cho dù thuộc nhiều loại khác nhau cũng chỉ là một sản phẩm cùng loại, có tính năng

sử dụng duy nhất là để uống mà không phân biệt độ cafein mạnh hay nhẹ Năm loại cà phê chưa rang nhập khẩu có tên trong danh mục thuế quan của Tây Ban Nha đều là những sản phẩm cùng loại Việc Tây Ban Nha áp dụng một mức thuế quan cao hơn đối với hai loại cà phê Arập và Robusta, được nhập khẩu từ Braxin mang tính chất phân biệt đối xử đối với những sản phẩm cùng loại và như vậy trái với quy định của Điều I, Khoản 1 hiệp định GATT

1.4.2 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT):

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment – NT), được quy định tại Điều III Hiệp định GATT, Điều 17 GATS và Điều 3 TRIPS Nguyên tắc NT được hiểu là hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối

xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hóa cùng loại trong nước Trong khuôn khổ WTO, nguyên tắc NT chỉ áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ, các quyền sở hữu trí tuệ

mà chưa áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân Phạm vi áp dụng của nguyên tắc NT đối với hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ có khác nhau Đối với hàng hóa và sở hữu trí tuệ việc áp dụng nguyên tắc NT là một nghĩa vụ chung (general obligation), có nghĩa là hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài sau khi đã đóng thuế quan hoặc được đăng ký bảo vệ hợp pháp phải được đối xử bình đẳng như hàng hóa và quyền sở hữu trí tuệ trong nước đối với thuế và lệ phí nội địa hay các quy định về mua, bán, phân phối, vận chuyển Đối với dịch vụ, nguyên tắc này chỉ áp dụng đối với những lĩnh vực, ngành nghề đã được mỗi nước đưa vào trong danh mục cam kết cụ thể của mình và mỗi nước có quyền đàm phán đưa ra những ngoại lệ (exception)

Các nước, về nguyên tắc, không được áp dụng những hạn chế số lượng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ những ngoại lệ được quy định rõ ràng trong các hiệp định của WTO, cụ thể đó là các trường hợp mất cân đối cán cân thanh toán; nhằm mục đích bảo vệ ngành sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc để đối phó với sự khan hiếm của một mặt hàng nào đó trên thị trường do quốc gia đó xuất khẩu quá nhiều; hay vì lý do sức khỏe, vệ sinh và vì lý do an ninh của một quốc gia chẳng hạn

Một trong những ngoại lệ quan trọng đối với nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là vấn đề trợ giá cho sản xuất hoặc xuất hay nhập khẩu Vấn đề này được quy định lần

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

đầu tại Điều VI và Điều XVI Hiệp định GATT 1947 và sau này được điều chỉnh trong

thỏa thuận Vòng Tokyo 1979 và hiện nay trong Thỏa thuận Vòng Uruguay về trợ cấp

và thuế đối kháng, viết tắt theo tiếng Anh là SCM Thỏa thuận SCM có một điểm khác biệt lớn so với GATT 1947 và thỏa thuận Tokyo ở chỗ nó được áp dụng cho cả các nước phát triển và đang phát triển Hiệp định mới về trợ giá phân chia các loại trợ giá làm 3 loại: loại “xanh”; loại “vàng” và loại “đỏ” theo nguyên tắc “đèn hiệu giao thông” (traffic lights)

Riêng về vấn đề hạn chế số lượng đối với hàng dệt may được quy định trong

Hiệp định Đa sợi (MFA) và hiện nay được thay thế bởi Hiệp định về hàng dệt may

của Vòng đàm phán Uruguay (ATC) Hiệp định ATC đã chấm dứt 30 năm các nước phát triển phân biệt đối xử đối với hàng dệt may của các nước đang phát triển Các nước phát triển có một thời gian chuyển tiếp là 10 năm để bãi bỏ chế độ hạn ngạch về

số lượng hiện hành Điều 1 của Hiệp định ATC cũng quy định điều khoản xem xét đặc biệt đối với một số nhóm nước; ví dụ như các nước cung cấp nhỏ, các nước mới bước vào thị trường (new entrants), các nước phát triển nhất, các nước đã ký hiệp định MFA từ 1986 cũng như các nước xuất khẩu bông

Việc áp dụng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia trên thực tế gây rất nhiều tranh chấp giữa các bên ký kết GATT/WTO bởi một lý do dễ hiểu là nếu các nước dễ dàng chấp nhận nguyên tắc đối xử bình đẳng đối với các nước thứ ba thì nước nào cũng muốn dành một sự bảo hộ nhất định đối với sản phẩm nội địa Mục tiêu chính của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là tạo ra những điều kiện cạnh tranh bình đẳng giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa cùng loại Trong vụ Vênêxuêla kiện Mỹ về thuế môi trường đối với xăng dầu, Bồi thẩm đoàn của GATT đã khẳng định lại Điều III.2 Hiệp định GATT quy định nghĩa vụ của các bên ký kết là tạo những điều kiện cạnh tranh bình đẳng cho cả hàng hóa nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước Trong vụ kiện khác mà Mỹ liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia, Bồi thẩm đoàn của GATT đã khẳng định lại nguyên tắc việc áp dụng thuế nội địa, luật và quy định về mua bán vận chuyển, phân phối và sử dụng hàng hóa không được mang tính chất bảo hộ hàng hóa sản xuất trong nước

Về vấn đề “doanh nghiệp Nhà nước độc quyền thương mại”, Hiệp định không cấm các bên ký kết thành lập hoặc duy trì những doanh nghiệp Nhà nước kiểu như vậy nhưng phải bảo đảm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia vẫn được áp dụng đối với những doanh nghiệp này Trong vụ Mỹ kiện Thái Lan về những hạn chế số lượng và tăng thuế tiêu thụ đánh vào thuốc lá điếu nhập khẩu, Nhóm chuyên gia của GATT đã quyết định rằng Chính phủ Thái Lan có quyền thành lập “Thai Tobacco Monopoly” là

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

công ty của Nhà nước độc quyền trong lĩnh vực nhập khẩu và phân phối thuốc lá Thái Lan và có quyền sử dụng công ty này để điều chỉnh giá cả và hệ thống bán lẻ thuốc lá Tuy nhiên, ngược lại Thái Lan cũng có nghĩa vụ không được đối xử với thuốc lá nhập khẩu kém ưu đãi hơn so với thuốc lá sản xuất trong nước (theo nguyên tắc đãi ngộ quốc gia) Vì vậy, việc Thái Lan hạn chế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thuốc lá ngoại và tăng thuế tiêu thụ nội địa căn cứ vào tỷ lệ “nội hóa” trong thuốc lá là vi phạm Điều III của GATT về đãi ngộ quốc gia Bồi thẩm đoàn của GATT đồng thời cũng bác bỏ lập luận của Thái Lan viện dẫn điều khoản cho phép hạn chế số lượng vì lý do sức khỏe vì cho rằng mục tiêu thực sự của Chính phủ Thái Lan không phải là để hạn chế việc tiêu thụ thuốc lá nói chung (việc hạn chế nhập khẩu và tăng thuế không áp dụng đối với sợi và giấy để sản xuất thuốc lá nội địa) mà thực chất là nhằm bảo hộ ngành sản xuất thuốc lá của Thái Lan

Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cùng với MFN là hai nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất của hệ thống thương mại đa phương mà ý nghĩa thực sự là bảo đảm việc tuân thủ một cách nghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường mà tất cả các nước thành viên đã chấp nhận khi chính thức trở thành thành viên của WTO

1.4.3 Nguyên tắc loại bỏ sự hạn chế số lượng nói chung:

Nguyên tắc này quy định bất kỳ nước ký kết hiệp định nào ngoài thu thuế và các lệ phí khác ra đều không được lập và duy trì hạn ngạch, giấy cho phép xuất nhập khẩu hoặc các biện pháp khác nhằm hạn chế hoặc ngăn chặn nhập vào các sản phẩm của lãnh thổ muốn ký kết hiệp định khác, hoặc xuất hiện tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu của lãnh thổ nước ký kết hiệp định khác Các bên thành viên đối với xí nghiệp nước mình chỉ có thể thông qua thuế quan để bảo hộ, còn các biện pháp để bảo hộ như hạn ngạch nhập khẩu và chế độ cấp giấy phép đều bị cấm, nhưng WTO cũng cho phép trong một số trường hợp sau đây có thể sử dụng biện pháp hạn chế số lượng:

- Thực hiện sự hạn chế nhằm bảo vệ thị trường sản phẩm nông nghiệp, ngư nghiệp

- Thực hiện sự hạn chế nhằm bảo vệ thanh toán quốc tế của nước mình

- Thực hiện sự hạn chế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước thành viên không phát triển

- Hạn chế số lượng theo quy định của hiệp định nhằm thực thi biện pháp bảo

vệ

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Khi sử dụng sự hạn chế số lượng, cần tuân theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, tức trừ phi đối với sự nhập khẩu các sản phẩm cùng loại của tất cả các nước thứ ba đều ngăn chặn và hạn chế như nhau, bất kỳ nước ký kết hiệp định nào cũng không được hạn chế hoặc cấm nhập sản phẩm từ lãnh thổ của nước khác và cũng không được cấm hoặc hạn chế sản phẩm xuất sang lãnh thổ của nước ký kết hiệp định khác Sau khi những điều kiện sử dụng hạn chế số lượng mất đi, thì chúng ta cần loại

bỏ ngay biện pháp hạn chế này

1.4.4 Nguyên tắc cạnh tranh công bằng:

Cạnh tranh công bằng (fair competition) thể hiện nguyên tắc “tự do cạnh

tranh trong những điều kiện bình đẳng như nhau” và được công nhận trong án lệ của Uruguay kiện 15 nước phát triển (1962) về việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng nhập khẩu Do tính chất nghiêm trọng của vụ kiện, Đại hội đồng GATT đã phải thành lập một Nhóm Công tác (Working Group) để xem xét vụ này Nhóm công tác đã cho kết luận rằng, về mặt pháp lý việc áp dụng các mức thuế nhập khẩu khác nhau đối với cùng một mặt hàng không trái với các quy định của GATT, nhưng việc áp đặt các mức thuế khác nhau này đã làm đảo lộn những “điều kiện cạnh tranh công bằng” mà Uruguay có quyền mong đợi từ phía những nước phát triển và đã gây thiệt hại cho lợi ích thương mại của Uruguay Trên cơ sở kết luận của nhóm công tác, Đại hội đồng thông qua khuyến nghị các nước phát triển có liên quan

“đàm phán” với Uruguay để thay đổi các cam kết và nhân nhượng thuế quan trước đó

Vụ kiện của Uruguay đã tạo ra một tiền lệ mới, nhìn chung có lợi cho các nước đang phát triển - từ nay các nước phát triển có thể bị kiện ngay cả khi về mặt pháp lý không

vi phạm bất kỳ điều khoản nào trong hiệp định GATT nếu những nước này có những hành vi trái với nguyên tắc cạnh tranh công bằng

Từ thực tiễn nêu trên ta có thể thấy rằng nguyên tắc cạnh tranh công bằng chủ

yếu là nhằm chống lại sự bán phá giá và chống sự trợ giá Bán phá giá là chỉ xí nghiệp

xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài với giá thấp hơn giá trong nước hoặc thấp hơn giá thành Vì vậy, nước nhập khẩu có thể thu thuế chống bán phá giá để loại bỏ thiệt hại

do hành vi bán phá giá gây ra Trợ giá là chỉ hành động của chính phủ một nước cung

cấp sự giúp đỡ về giá cả hoặc sự giúp đỡ về thu nhập đối với một ngành hoặc khu vực nào đó Trợ giá có thể chia làm 3 loại:

- Trợ giá cấm sử dụng như trợ giá xuất khẩu và trợ giá sản xuất hàng thay thế nhập khẩu

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Trợ giá cho phép sử dụng, nhưng khi nó gây ảnh hưởng và thiệt hại đến lợi ích kinh tế đối với nước ký kết hiệp định khác, các nước khác có thể sử dụng biện pháp chống lại và ngăn chặn loại trợ giá này

- Trợ giá cần thiết để phát triển kinh tế nước mình, loại trợ giá này không thể làm thiên lệch thương mại quốc tế hoặc gây thiệt hại đến sức cạnh tranh của sản phẩm nước khác, và cũng không cho phép sử dụng biện pháp chống phá giá đối với loại trợ giá này

1.4.5 Sự ràng buộc của thuế quan và cắt giảm thuế quan:

Sự ràng buộc và cắt giảm thuế quan là chỉ các thành viên của WTO không được trưng thu thuế quan hoặc các lệ phí khác vượt quá tỷ lệ quy định trong bản cắt giảm thuế quan và trên cơ sở này dựa theo tinh thần cùng ưu đãi cùng có lợi, thuế quan của các nước thành viên ký hiệp định không ngừng cắt giảm, giảm thấp, đặc biệt cần cắt giảm, giảm thấp những thuế quan cao cản trở xuất nhập khẩu hàng hóa WTO quy định, bản cắt giảm thuế quan đạt được dựa trên cơ sở ưu đãi lẫn nhau sau các cuộc đàm phán nhiều bên có sức ràng buộc đối với các thành viên; bất kỳ một thành viên nào đều không có quyền đơn phương sửa đổi, một thành viên nào đó trong tình hình đặc biệt cần nâng cao thuế quan nước mình, thì cần phải tiến hành đàm phán và hiệp thương đối với thành viên có liên quan, và sự có bồi thường tương ứng

Sự ràng buộc của thuế quan chia làm 2 loại: một là khi đàm phán “phúc quan”, sau khi đàm phán hai bên, nhiều bên, “cố định” thuế quan trên một điểm nào đó; một loại nữa là trong các cuộc đàm phán sau “phúc quan”, dựa theo nguyên tắc cùng ưu đãi, cùng có lợi tiến hành hiệp thương và ràng buộc thuế quan Thuế quan bị ràng buộc, nói chung sau này chỉ cho phép không ngừng cắt giảm và không cho phép nâng cao lên

Cắt giảm thuế quan thông qua đàm phán thuế quan Kết quả đàm phán là bản liệt kê cắt giảm thuế quan, phù hợp tất cả các bên tham gia đàm phán

1.5 Tư cách thành viên của WTO:

Tuy là một tổ chức Liên chính phủ nhưng thành viên của WTO không chỉ có các quốc gia có chủ quyền mà nó bao gồm

cả những lãnh thổ riêng biệt, ví dụ như: EU, Hồng Kông, Macao

Trong WTO có 2 loại thành viên: thành viên sáng lập và thành viên gia nhập:

- Thành viên sáng lập là những nước: là một bên ký kết GATT 1947 và phải

ký, phê chuẩn Hiệp định về WTO trước ngày 31-12-1994 (tất cả các bên ký kết GATT đều trở thành thành viên sáng lập của WTO)

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Thành viên gia nhập là các nước hoặc lãnh thổ gia nhập Hiệp định WTO sau ngày 1-1-1995, các nước này đều phải đàm phán về các điều kiện gia nhập với tất

cả các nước đang là thành viên của WTO và quyết định gia nhập phải được Đại hội đồng WTO bỏ phiếu thông qua với ít nhất hai phần ba số phiếu thuận

Khác với việc gia nhập, việc rút khỏi WTO phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định riêng của từng nước, Điều XV Hiệp định về WTO quy định việc rút khỏi WTO bao hàm cả việc rút khỏi tất cả các Hiệp định thương mại đa phương và sẽ có hiệu lực sau 6 tháng kể từ ngày WTO nhận được thông báo bằng văn bảng về việc rút đó Thượng viện Mỹ khi bỏ phiếu cho phép Tổng thống phê chuẩn Hiệp định WTO đã thông qua quyết định về việc nước này sẽ rút khỏi WTO nếu một Ủy ban đặc biệt bao gồm 5 cựu thẩm phán Liên bang của Mỹ kết luận rằng Mỹ đã bị Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO xử cho thua một cách “phi lý” hoặc các quyền lợi cơ bản (substantial) của Mỹ đã “vi phạm” trong 3 quyết định liên tiếp của cơ quan này Việc

EU rút khỏi WTO phức tạp hơn vì ủy ban Châu Âu (Cơ quan hành pháp của Liên minh châu Âu) không có thẩm quyền thay mặt tất cả các nước thành viên EU để ra một quyết định như vậy (đây là một vấn đề còn đang tranh cãi giữa các chuyên gia pháp lý của EU) Một số cho rằng EU chỉ có thể rút khỏi WTO khi tất cả các nước thành viên EU đều rút khỏi tổ chức này Một số khác cho rằng chỉ cần một hoặc một

số thành viên chủ chốt của EU như Đức, Pháp, Anh, rút khỏi WTO cũng đủ để cho

EU không còn tư cách đại diện cho 15 nước thành viên tại tổ chức này

1.6 Cơ cấu tổ chức của WTO:

Về cơ cấu tổ chức, hiện nay WTO có 151 nước, lãnh thổ thành viên, chiếm 97% thương mại toàn cầu và khoảng 30 quốc gia khác đang trong quá trình đàm phán gia nhập

Hầu hết các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự nhất trí chung, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu Mỗi thành viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và các phiếu bầu của các thành viên có giá trị ngang nhau So với IMF và WB, WTO có những khác biệt rõ rệt Nước tham gia có quyền bỏ phiếu nhỏ như X-Kile-e Ne-vit với 50.000 dân, lớn như Trung Quốc với 1,3 tỷ dân, mỗi nước đều có 1 phiếu Có điều từ GATT đến WTO đã gần 60 năm chưa bao giờ phải bỏ phiếu Tất cả đều được đồng thuận

WTO có một cơ cấu gồm 3 cấp:

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thứ nhất: Các cơ quan lãnh đạo chính trị và có quyền ra quyết định (decision-making power) bao gồm Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng WTO, Cơ quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại;

Thứ hai: Các cơ quan thừa hành và giám sát việc thực hiện các Hiệp định thương mại đa phương, bao gồm Hội đồng GATT, Hội đồng GATS và Hội đồng TRIPS;

Thứ ba: Cuối cùng là các cơ quan thực hiện chức năng hành chính - thư ký là Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO

* Hội nghị Bộ trưởng, Đại hội đồng WTO, Cơ quan giải quyết tranh chấp

và Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại:

- Hội nghị Bộ trưởng WTO: là cơ quan lãnh đạo chính trị cao nhất của WTO, họp ít nhất hai năm một lần, thành viên là đại diện cấp Bộ trưởng của tất cả các thành viên Điều IV.1 Hiệp định thành lập WTO quy định Hội nghị Bộ trưởng WTO thực hiện tất cả các chức năng của WTO và có quyền quyết định mọi hành động cần thiết

để thực hiện những chức năng đó Hội nghị Bộ trưởng WTO cũng có quyền quyết định về tất cả các vấn đề trong khuôn khổ bất kỳ một hiệp định đa phương nào của WTO

- Đại hội đồng WTO: trong thời gian giữa các khóa họp của Hội nghị Bộ trưởng WTO, các chức năng của Hội nghị Bộ trưởng WTO do Đại hội đồng (General Council) đảm nhiệm Đại hội đồng WTO hoạt động trên cơ sở thường trực tại trụ sở của WTO ở Geneva, Thụy Sĩ Thành viên của Đại hội đồng WTO là đại diện ở cấp đại

sứ của chính phủ tất cả các thành viên Đa số các nước đang phát triển thường cử luôn đại sứ, Trưởng đại diện bên cạnh Liên Hợp quốc tại Geneva làm đại sứ tại WTO; các nước phát triển, đặc biệt là các cường quốc thương mại hàng đầu như Mỹ, EU đều cử đại sứ riêng về WTO tại Geneva Các ủy ban báo cáo lên đại hội đồng WTO Đại hội đồng có quyền thành lập các ủy ban giúp việc và báo cáo trực tiếp lên đại hội đồng là:

ủy ban về thương mại và phát triển; ủy ban về các hạn chế cán cân thanh toán; ủy ban

về ngân sách, tài chính và quản trị; ủy ban về các hiệp định thương mại khu vực Ba

ủy ban đầu được thành lập theo hiệp định về thành lập WTO, riêng đối với ủy ban cuối cùng được thành lập vào tháng 2/1996 theo quyết định của Đại hội đồng WTO

Ngoài ra, còn có hai ủy ban là “ủy ban về hàng không dân dụng” và “ủy ban

về mua sắm chính phủ” được thành lập theo quyết định của Vòng Tokyo và có số thành viên hạn chế (chỉ những nước ký kết các “bộ luật” có liên quan của vòng Tokyo mới được tham gia), vẫn tiếp tục hoạt động trong khuôn khổ của WTO Nhưng những

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ủy ban này không phải báo cáo (notify) thường xuyên về hoạt động của họ lên Đại hội đồng WTO

- Cơ quan giải quyết tranh chấp và Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại: Điều IV.2 Hiệp định WTO quy định, ngoài việc thực hiện các chức năng của Hội nghị

Bộ trưởng WTO trong thời gian giữa hai khóa họp, Đại hội đồng WTO còn thực hiện những chức năng khác được trao trực tiếp theo các hiệp định thương mại đa phương, trong đó quan trọng nhất là chức năng giải quyết tranh chấp và chức năng kiểm điểm chính sách thương mại Chính vì vậy, mà Đại hội đồng WTO đồng thời là “cơ quan giải quyết tranh chấp” khi thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp và là “cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại” khi thực hiện chức năng kiểm điểm chính sách thương mại

Ngoài việc là diễn đàn đàm phán các quy định trong thương mại, WTO còn hoạt động như một trọng tài giải quyết các tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc áp dụng quy định của WTO Không giống như các tổ chức quốc tế khác, WTO có quyền lực đáng kể trong việc thực thi các quyết định của mình thông qua việc cho phép áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại đối với thành viên không tuân thủ theo phán quyết của WTO Một nước thành viên có thể kiện lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp của WTO nếu như họ tin rằng một nước thành viên khác

đã vi phạm quy định của WTO

Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm hai cấp: sơ thẩm và phúc thẩm Ở cấp sơ thẩm, tranh chấp sẽ được giải quyết bởi một Ban Hội thẩm Giải quyết Tranh chấp Ban hội thẩm này thông thường gồm 3 đến 5 chuyên gia trong lĩnh vực thương mại liên quan Ban hội thẩm sẽ nghe lập luận của của các bên và soạn thảo một báo cáo trình bày những lập luận này, kèm theo là phán quyết của ban hội thẩm Trong trường hợp các bên tranh chấp không đồng ý với nội dung phán quyết của ban hội thẩm thì họ có thể thực hiện thủ tục khiếu nại lên Cơ quan phúc thẩm Cơ quan này sẽ xem xét đơn khiếu nại và có phán quyết liên quan trong một bản báo cáo giải quyết tranh chấp của mình Phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp nêu trên

sẽ được thông qua bởi Hội đồng Giải quyết Tranh chấp Báo cáo của cơ quan giải quyết tranh chấp cấp phúc thẩm sẽ có hiệu lực cuối cùng đối với vấn đề tranh chấp nếu không bị Hội đồng giải quyết tranh chấp phủ quyết tuyệt đối (hơn 3/4 các thành viên Hội đồng giải quyết tranh chấp bỏ phiếu phủ quyết phán quyết liên quan)

Trong trường hợp thành viên vi phạm quy định của WTO không có các biện pháp sửa chữa theo như quyết định của Hội đồng Giải quyết Tranh chấp, Hội đồng có thể ủy quyền cho thành viên đi kiện áp dụng các "biện pháp trả đũa" (trừng phạt

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thương mại) Nhìn chung những biện pháp như vậy có ý nghĩa rất lớn khi chúng được

áp dụng bởi một thành viên có tiềm lực kinh tế mạnh như Hoa Kỳ hay Liên minh Châu Âu Ngược lại, ý nghĩa của chúng giảm đi nhiều khi thành viên đi kiện có tiềm lực kinh tế yếu trong khi thành viên vi phạm có tiềm lực kinh tế mạnh hơn

* Các cơ quan thừa hành giám sát việc thực hiện các hiệp định thương mại

* Tổng giám đốc và Ban thư ký WTO:

Khác với GATT 1947, WTO có một Ban thư ký rất quy mô, bao gồm khoảng trên 500 viên chức và nhân viên thuộc biên chế chính thức của WTO Đứng đầu Ban thư ký là Tổng giám đốc WTO Tổng giám đốc WTO (hiện nay là ông Pascal Lamy – người Pháp) do Hội nghị Bộ trưởng bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm Ngoài vai trò điều hành, Tổng giám đốc của WTO còn có một vai trò chính trị rất quan trọng trong hệ thống thương mại đa phương Chính vì vậy mà việc lựa chọn các ứng cử viên vào chức vụ này luôn là một cuộc chạy đua ác liệt giữa các nhân vật chính trị quan trọng, của các cấp Bộ trưởng, Phó Thủ tướng hoặc Tổng thống của các nước thành viên (trong số các ứng cử viên vào chức vụ Tổng giám đốc đầu tiên của WTO có ông Salinas, cụ Tổng thống Mêhicô)

Quyền hạn và trách nhiệm của Tổng giám đốc do Hội nghị Bộ trưởng quyết định, biên chế Ban thư ký WTO do Tổng giám đốc quyết định Tổng giám đốc và thành viên Ban thư ký WTO có quy chế tương tự như của viên chức các tổ chức quốc

tế, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo các quyết định và tôn chỉ của WTO Họ được hưởng các quyền ưu đãi miễn trừ tương tự như viên chức của các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc Cũng như những người tiền nhiệm trước kia của GATT, Tổng giám đốc WTO có vai trò hết sức quan trọng, đó là dẫn dắt các vòng đàm phán thương

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

mại đa biên và giải quyết tranh chấp (ví dụ ông Rugiero - Tổng giám đốc của WTO đã đóng vai trò trung gian hòa giải rất tích cực và có hiệu quả trong vụ tranh chấp giữa

Mỹ và EU liên quan đến việc áp dụng các đạo luật Helms-Burton và Kennedy năm 1997) Vị trí đặc biệt của Tổng giám đốc WTO thể hiện một trong những nét đặc trưng trong ngoại giao đa phương ngày nay khi trên thực tế các quan chức lãnh đạo cao cấp của các tổ chức quốc tế ngày càng đóng vai trò “điều hành”(managing) hơn là “chấp hành”(executive)

D’Amato-Về ngân sách hoạt động của WTO nó do tất cả các nước thành viên đóng góp trên cơ sở tương ứng với phần của mỗi nước trong thương mại quốc tế Tỷ lệ đóng góp tối thiểu là 0,03% ngân sách của WTO

Sơ đồ tổ chức hoạt động của WTO2: Tất cả thành viên thuộc WTO đều có thể tham gia vào các Hội đồng, Ủy ban…ngoại trừ Bộ phận Kháng cáo, Ban Hội thẩm Dàn xếp Tranh chấp và Ủy ban Thương mại Đa phương

(2) (3)

(3) (1)

ộội hội động

Hội động vộ Thộộng mội Dộch vộ

ộy ban Thộộng mội ộa phộộng

Hội động TRIPS

Các ộy ban, thành viên tham gia, nhóm tham gia

Hội động Thộộn

g mội Hàng hóa

ộy ban ộàm phán Thộộng mội

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Chú thích:

(1): Báo cáo cho Đại hội đồng

(2): Thông báo cho Đại hội đồng hay Hội đồng về Thương mại hàng hóa

về các hoạt động của họ, mặc dù những thỏa thuận này không được tất cả các thành viên WTO ký kết

(3): Báo cáo cho Đại hội đồng

CHƯƠNG 2 VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI

THẾ GIỚI (WTO)

2.1 Sự cần thiết phải gia nhập WTO của Việt Nam:

Để khỏi bị gạt bỏ ra ngoài lề của sự phát triển, các nước đều nỗ lực hội nhập vào xu thế chung vào sức cạnh tranh kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của chính mình Kết quả của quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong suốt nhiều năm qua là một minh chứng cho xu thế này

“Cách đây vừa tròn 60 năm, ngay sau khi đất nước tôi mới giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã

đề xuất những định hướng rõ ràng cho đất nước về mở cửa và hội nhập với kinh tế khu vực và kinh tế quốc tế Trong bức thư gửi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc năm

1946, Người đã khẳng định: “Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp

tác trong mọi lĩnh vực; nước Việt Nam luôn dành sự tiếp nhận thuận lợi nhất cho đầu

tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên Hiệp Quốc”

Chúng tôi vô cùng xúc động khi nhìn lại, vào thời điểm đó, khi vận nước trải qua thử thách sống còn, Hồ Chí Minh - vị nguyên thủ đầu tiên của đất nước mới giành được độc lập sau gần một thế kỷ là thuộc địa của nước ngoài, đã sớm có tầm nhìn chiến lược để gửi tới nhân loại bức thông điệp rõ ràng, sâu sắc, thể hiện nguyện vọng

chân chính vì hòa bình và hợp tác của một dân tộc yêu tự do và luôn phấn đấu vì sự

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

phát triển của đất nước Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử, vì phải tiếp tục trải qua các cuộc chiến tranh liên tục và chịu đựng bao vây, cấm vận trong nhiều thập kỷ nên chúng tôi đã chưa thể triển khai một cách đầy đủ ý tưởng đó của chủ tịch Hồ Chí Minh”3

Noi theo tấm gương của Bác, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được thể hiện rõ nhất trong các văn kiện của Đảng kể từ năm 1986 đến nay Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước ta chỉ triển khai việc hội nhập WTO vào năm 1995 Với chủ trương tiếp tục đổi mới nền kinh tế, đa phương hóa, đa dạng hóa từng bước tiến hành

tự do hóa các hoạt động kinh tế, mở cửa thị trường và tham gia vào các tổ chức kinh

tế ở khu vực và thế giới, nước ta đã thu được những kết quả rất khả quan về ổn định

và phát triển kinh tế, quan hệ kinh tế và đối ngoại được mở rộng, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao Nhờ có hội nhập kinh tế quốc tế mà kinh

tế Việt Nam không ngừng tăng trưởng Chỉ tính trong 5 năm qua (2001 - 2005) GDP của Việt Nam tăng bình quân 7,5% năm, riêng năm 2005 có mức tăng trưởng rất khá: 8,5% Tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống còn 20,7%, tỷ trọng ngành công nghiệp tăng lên chiếm 41% trong tổng GDP Tổng đầu tư toàn xã hội đạt 37,5% so với GDP, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 17%/năm Nếu năm 1986 khi mới bắt đầu mở cửa nền kinh

tế, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam mới đạt 3 tỷ USD thì đến năm 2003 đã đạt mức 44,5 tỷ USD, gấp gần 15 lần Vì vậy, việc gia nhập WTO là bước đi quan trọng tiếp theo trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam (sau khi tham gia Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và Diễn đàn hợp tác Á - ÂU (ASEM))

Hơn nữa, thực tế hầu hết các quốc gia nhận định rằng họ có vị thế cao hơn khi gia nhập WTO, điều này được thể hiện trong chính sách các nước thành viên của WTO Bằng cách tham gia vào WTO, các nước nhỏ như Việt Nam chúng ta cũng tự động được hưởng những lợi ích mà tất cả các thành viên khác trong WTO dành cho

nhau thông qua nguyên tắc tối huệ quốc

2.2 Tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam:

Đàm phán gia nhập WTO là một quá trình đầy gian nan và phức tạp, một quốc gia không chỉ phải tuân thủ tất cả các quy định của WTO là được kết nạp Ngoài

3 Trích tộ nội dung Bài phát biộu cộa Phó Thộ tộộng Phộm Gia Khiêm ngày 7/11/2006 tội trộ sộ Tộ chộc Thộộng mội Thộ giội (WTO) ộ Geneva (Thộy Sộ)

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

việc tuân thủ các quy định của WTO, những quốc gia xin gia nhập còn phải nhượng

bộ đối với từng thành viên riêng lẽ để đổi lấy sự ủng hộ gia nhập WTO Vì vậy, đàm phán gia nhập WTO là một quá trình đan xen những nỗ lực đàm phán đa phương với những cố gắng để đạt được những thỏa thuận thương mại song phương với các quốc gia thành viên khác của WTO

Trong đàm phán song phương “đối thủ nặng ký” nhất của ta là Mỹ Người ta

ví Mỹ như chiếc xe lu đi trước “càn quét” toàn bộ sân chơi WTO, các nước còn lại có thể đi sau và hưởng lợi từ những đường ủi phẳng lì Thậm chí có nước chỉ chờ Mỹ đàm phán, bởi vì theo nguyên tắc của WTO là “cùng hưởng” thì những lợi ích gì Mỹ đàm phán được, các thành viên còn lại đều được hưởng Mỹ không phải là đối tác đàm phán xa lạ đối với Việt Nam; sau các cuộc đàm phán Hiệp định Thương mại song phương kéo dài hơn năm năm trời mà nhiều chuyên gia đàm phán Việt Nam đã nhận xét thẳng là “khó chơi” Mỹ đã đưa ra nhiều yêu sách mà theo Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển là “khó chấp nhận”, bao gồm mở cửa thậm chí với dầu khí, lương thực - thực phẩm, thép bởi vì nếu khi Việt Nam và Mỹ ký kết thỏa thuận để

Việt Nam gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với việc Mỹ phải dành quy chế thương mại

bình thường vĩnh viễn cho Việt Nam như cho bất kỳ một thành viên WTO nào khác

Và Quốc hội Mỹ cũng đóng vai trò trong quá trình này với việc phê chuẩn quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt Nam sau khi phía hành pháp thông báo kết thúc đàm phán Chính vì vậy, mà phía Mỹ đã cố tình gây khó dễ đối với ta

Mặc dù, Việt Nam là nước đang phát triển nhưng chúng ta không có nhiều cơ hội sử dụng vị trí của một nước đang phát triển để đề xuất những ưu đãi trong đàm phán Trên góc độ đàm phán đa phương, về nguyên tắc, WTO dành những ưu đãi nhất định để hỗ trợ cho các nước đang phát triển để chuẩn bị sẵn sàng hơn cho việc thực hiện đầy đủ các cam kết khi gia nhập Tuy vậy, ngay cả khi Việt Nam có thể đạt được những ưu đãi trong đàm phán đa phương thì vẫn có khả năng những ưu đãi này có thể

bị xóa bỏ kết quả đàm phán song phương với các quốc gia thành viên Xu hướng chung trong đàm phán song phương là các đối tác đàm phán thường đòi hỏi Việt Nam cam kết nhiều hơn nữa những gì mà WTO quy định Một khi Việt Nam đạt được thoả thuận trong khuôn khổ một Hiệp định song phương thì Việt Nam cũng sẽ phải đa

phương hóa những nhượng bộ đó cho các thành viên khác theo quy tắc tối huệ quốc

Kết quả là gói gia nhập cuối cùng trước khi Việt Nam có thể trở thành thành viên chính thức của WTO sẽ chặt chẽ hơn, chứa đựng nhiều nhượng bộ hơn tất cả những gì quy định trong khuôn khổ các hiệp định đa phương của WTO Đây chính là ý nghĩa của “WTO cộng” mà Việt Nam sẽ phải chấp nhận cam kết khi trở thành thành viên

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

chính thức của tổ chức này Như tất cả chúng ta đều biết rằng WTO là Tổ chức Thương mại Thế giới hoạt động dựa trên mục tiêu chính là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảo việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thương mại

và sử dụng hiệu quả nhất nguồn nhân lực của thế giới Chính vì thế, gia nhập WTO, các thành viên sẽ có động lực để thúc đẩy nền kinh tế của mình phát triển nhanh và hiệu quả nhất

Điều đầu tiên mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng nhìn thấy khi gia nhập WTO là Việt Nam sẽ tiếp cận được với thị trường toàn cầu trên cơ sở cạnh tranh bình đẳng, không bị rào cản của thuế quan, điều mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng mong muốn Trong thị trường rộng lớn đó, các doanh nghiệp mặc sức tung hoành với những chiến thuật, chiến lược kinh doanh của mình để khuếch trương quy mô và thu về những nguồn lợi khổng lồ

WTO là diễn đàn thương mại mà ở đó mọi thành viên đều có quyền bảo vệ mình khi có xảy ra tranh chấp Những luật lệ đã được đưa vào thế giới thương mại, một thế giới mà trước đây những nước yếu không đủ sức kháng cự những nước mạnh Trở thành hội viên của WTO có nghĩa là các nước còn yếu như Việt Nam có quyền khiếu nại và thương lượng một cách công bằng hơn với các cường quốc trong tranh chấp dựa trên những luật lệ chung đó

Dưới đây là tiến trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam:

Có thể chia thành 6 giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: ngày 4-1-1995 Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO Đến ngày 30 tháng 1 cùng năm, Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam được thành lập Trong số 38 quốc gia và lãnh thổ thành viên, nhiều nước có quan tâm đến thị trường Việt Nam

Giai đoạn 2: gửi Bị vong lục về chế độ ngoại thương Việt Nam tới Ban Công tác

Tháng 8-1996, Việt Nam hoàn thành Bị vong lục về chế độ ngoại thương của Việt Nam và gửi tới Ban Thư ký WTO để luân chuyển tới các thành viên của Ban công tác Bị vong lục không chỉ giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạch định và thực thi chính sách, mà còn cung cấp các thông tin chi tiết về chính sách liên quan tới thương mại hàng hóa, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ

Giai đoạn 3: minh bạch hóa chính sách thương mại

Trang 30

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Sau khi nghiên cứu Bị vong lục về chế độ ngoại thương Việt Nam, nhiều thành viên của WTO đặt ra câu hỏi yêu cầu chúng ta trả lời để họ hiểu rõ hơn về chính sách, bộ máy quản lý và việc thực thi chính sách của ta Ngoài việc trả lời các câu hỏi đặt ra, Việt Nam cũng phải cung cấp nhiều thông tin khác theo biểu mẫu do WTO quy định về hỗ trợ nông nghiệp, trợ cấp trong công nghiệp, các doanh nghiệp có đặc quyền, các biện pháp đầu tư không phù hợp với quy định của WTO, thủ tục hải quan,

hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ…

Ban công tác tổ chức các phiên họp tại trụ sở WTO để đánh giá tình hình chuẩn bị của Việt Nam và tạo điều kiện để Việt Nam trực tiếp giải thích chính sách Đến tháng 5/2003, Việt Nam đã tham gia 6 phiên họp của Ban công tác Về cơ bản, Việt Nam đã hoàn thành giai đoạn làm rõ chính sách

Giai đoạn 4: đưa ra các bản chào ban đầu và tiến hành đàm phán song phương Gia nhập WTO có nghĩa là Việt Nam có quyền tiếp cận thị trường của tất cả các nước thành viên khác trên cơ sở đối xử tối huệ quốc (MFN) Trải qua nửa thế kỷ, các thành viên chỉ duy trì bảo hộ sản xuất trong nước chủ yếu bằng thuế quan với thuế suất nói chung khá thấp Để được hưởng thuận lợi này Việt Nam cũng phải cam kết chấp nhận các nguyên tắc đa biên, đồng thời giảm mức bảo hộ của mình với việc cam kết thuế suất thuế nhập khẩu tối đa và có lộ trình loại bỏ các hàng rào phi thuế quan, đặc biệt là các biện pháp hạn chế định lượng như cấm nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu hay cấp phép hạn chế nhập khẩu một cách tùy tiện

Mặt khác, Việt Nam cũng phải mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài được tham gia kinh doanh trong nhiều lĩnh vực dịch vụ với những điều kiện thông thoáng hơn như những lĩnh vực dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ xây dựng, dịch

vụ vận tải,…

Mức độ mở cửa thị trường tiến hành thông qua đàm phán song phương với tất

cả các thành viên quan tâm Trước hết, Việt Nam đưa ra những bản chào ban đầu về

mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ để thăm dò phản ứng của các thành viên khác Trên cơ sở đó, các thành viên yêu cầu Việt Nam phải giảm bớt mức độ bảo hộ ở một

số lĩnh vực Việt Nam sẽ xem xét yêu cầu của họ và nếu chấp nhận được thì có thể đáp ứng hoặc đưa ra mức bảo hộ thấp hơn một chút Quá trình đàm phán như vậy tiếp diễn cho tới khi mọi thành viên đều chấp nhận với mức độ mở cửa của thị trường hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam

Đầu năm 2002, Việt Nam đã gửi Bản chào ban đầu về thuế quan và bản chào ban đầu về dịch vụ tới WTO Bắt đầu phiên họp 5 của Ban công tác (tháng 4/2002)

Trang 31

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Việt Nam đã tiến hành đàm phán song phương với một số thành viên của Ban công tác Việc đàm phán được tiến hành với từng nước thành viên yêu cầu đàm phán, về toàn bộ và từng nội dung nói trên cho tới khi kết quả đàm phán thỏa mãn mọi thành viên WTO

Giai đoạn 5: hoàn thành nghị định thư gia nhập

Mọi nghị định thư nêu rõ các nghĩa vụ của Việt Nam khi trở thành thành viên WTO

sẽ được hoàn tất dựa trên các thỏa thuận đã đạt được sau các cuộc đàm phán song phương, đàm phán đa phương và tổng hợp các cam kết song phương

Sau 11 năm đàm phán với hơn 200 cuộc đàm phán song phương và đa phương đầy gian khổ, cuối cùng ngày 7/11/2006 Đại hội đồng WTO đã bỏ phiếu thông qua hồ sơ gia nhập của Việt Nam và ngày 11/1/2007 các cam kết của Việt Nam trong WTO chính thức có hiệu lực Đây là một sự kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đánh dấu việc Việt Nam từ nay tham gia một cách bình đẳng vào thể chế thương mại toàn cầu

2.3 Một số cam kết chính của Việt Nam khi gia nhập WTO:

Trên bàn đàm phán ai cũng muốn tìm những thỏa thuận có lợi nhất cho mình Tuy nhiên, có những điều kiện bất lợi mà vẫn không thể không chấp nhận Có thể lấy

ví dụ ngay ở thành viên vừa được gia nhập vào Hội nghị Bộ trưởng WTO vừa qua là Arab Saudia Arab Saudia đã phải chấp nhận những nhượng bộ: sau 3 năm kể từ khi gia nhập, nước này phải cho phía nước ngoài sở hữu 70% vốn trong các liên doanh ở các dịch vụ viễn thông cơ bản cũng như các dịch vụ giá trị gia tăng Ngoài ra, trong lĩnh vực ngân hàng, Arab Saudia phải đồng ý cho họ tăng sở hữu vốn lên tới 60% trong các liên doanh ngay từ thời điểm chính thức trở thành hội viên WTO Một điểm chung trong các nhượng bộ của các thành viên gia nhập WTO từ năm 1995 là đều phải cam kết chấp nhận mức thuế suất trung bình là 10% Thậm chí, Trung Quốc và một số nước phải chấp nhận mức thuế suất bằng 0% ở nhiều mặt hàng công nghiệp và nông nghiệp Như vậy, những đòi hỏi mà phía Mỹ đưa ra với chúng ta thực chất là nằm trong luật chơi mà chúng ta buộc phải chấp nhận4 Những điều kiện gia nhập WTO quả là quá cao, tuy nhiên các chuyên gia kinh tế cao cấp của Việt Nam đều nhận định rằng, trở thành hội viên vẫn hơn

Ngày 7/11/2006, phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng WTO đã thông qua báo cáo của Ban công tác và các văn kiện gia nhập của Việt Nam Bộ văn kiện gia nhập WTO là thỏa thuận thương mại đồ sộ nhất cả về quy mô và mức độ cam kết mà chúng

4 http://chungta.comdong , WTO được và mất

Trang 32

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

ta từng ký kết Nó tổng hợp các kết quả của hơn 11 năm đàm phán và là cơ sở để chúng ta thực hiện tư cách thành viên WTO của mình Các cam kết được tổng hợp trong 4 tài liệu (bản cam kết dài 560 trang của Việt Nam trong lĩnh vực hàng hóa, thuế quan, trợ cấp nông nghiệp cùng lộ trình xuất khẩu; bản cam kết trong lĩnh vực dịch vụ

60 trang) sẽ có hiệu lực pháp lý sau 30 ngày kể từ khi Việt Nam thông báo cho WTO

về quyết định phê chuẩn của Quốc hội, đó là:

- Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO;

- Biểu cam kết về thương mại hàng hóa (bao gồm cam kết về thuế nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan và trợ cấp nông ngiệp);

- Biểu cam kết về thương mại dịch vụ;

- Dự thảo nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam

Sau đây người viết xin liệt kê một số cam kết chính của Việt Nam trong WTO:

2.3.1 Cam kết đa phương:

Các cam kết đa phương của Việt Nam được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc được quy định trong các hiệp định của WTO Đây là những nguyên tắc mang tính

ràng buộc với mọi thành viên nhằm mục đích đưa hệ thống luật lệ và cơ chế điều hành

thương mại của các nước thành viên phù hợp chuẩn mực chung Về cơ bản, chúng ta cam kết thực hiện toàn bộ các hiệp định của WTO ngay từ thời điểm gia nhập Các hiệp định

này đưa ra các quy định cụ thể đối với các lĩnh vực thương mại điều tiết bởi WTO như

vấn đề cấp phép, hải quan, kiểm dịch, chống phá giá, sở hữu trí tuệ,… Tuy nhiên, do Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp, lại đang trong quá trình chuyển đổi nên ta

yêu cầu và WTO đã chấp nhận cho ta hưởng một thời gian chuyển đổi để thực hiện một

số cam kết có liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp cho phi nông nghiệp, quyền

Trang 33

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Nam tham gia một phần là thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng Thời gian để

thực hiện cam kết giảm thuế là từ 3-5 năm

- Về trợ cấp phi nông nghiệp:

Ta đồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy định WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa Tuy nhiên, với các loại trợ cấp bị cấm dưới hình thức ưu đãi đầu tư dành cho hàng xuất khẩu đã cấp trước ngày gia nhập WTO, ta được bảo lưu thời gian quá độ là 5 năm (trừ ngành dệt may) Đối với trợ cấp nông sản,

nước xin gia nhập phải cam kết loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản Đối với sản phẩm

phi nông sản , có 3 nhóm trợ cấp: Nhóm đèn đỏ là trợ cấp cấm được áp dụng (gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp thay thế nhập khẩu) Nhóm đèn vàng là trợ cấp riêng biệt cho

một ngành, gây bóp méo cho thương mại, không bị cấm áp dụng nhưng có thể bị “trả đũa” Nhóm đèn xanh là trợ cấp được coi là ít gây bóp méo thương mại Tuy nhiên, WTO cũng có những ngoại lệ dành cho các nước đang và kém phát triển đối với trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp Đối với hỗ trợ trong nước, với nông nghiệp ta vẫn được hưởng mức hỗ trợ là 10%

Trên thực tế, Luật Đầu tư 2005, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP, Nghị định số 24/2007/NĐ-CP đã bãi bỏ các hình thức trợ cấp bị cấm Nghị định số 151/2006/NĐ-

CP đã bãi bỏ trợ cấp bị cấm trong ngành dệt may

- Về kinh tế phi thị trường:

Việt Nam chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị trường trong 12 năm (không muộn hơn 31/12/2018) Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với đối tác nào đó là kinh tế Việt Nam đã hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ “phi thị trường” đối với Việt Nam Chế

độ “phi thị trường” nói trên chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá Các thành viên WTO không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ đặc thù (là cơ chế khác với cơ

chế chung trong WTO mà một số nước có nền kinh tế phi thị trường khi gia nhập

WTO phải chịu) đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, kể cả trong thời gian bị coi là nền kinh tế phi thị trường Trong quá trình đàm phán, chúng ta đã có sự thỏa thuận với một số đối tác như Trung Quốc, Hàn Quốc về công nhận nền kinh tế phi thị trường của nhau Còn với các đối tác khác, trong quá trình thực hiện chúng ta có thể rút ngắn thời gian, không phải cứ phải qua 12 năm mới công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam

Trang 34

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Về dệt may và da giày 5 :

Các thành viên WTO sẽ không được áp dụng hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam khi Việt Nam vào WTO Riêng trường hợp vi phạm quy định WTO về trợ cấp bị cấm đối với hàng dệt may thì một số nước có thể có biện pháp trả đũa nhất định Ngoài ra, thành viên WTO cũng sẽ không được áp dụng cơ chế tự vệ đặc biệt đối với hàng dệt may của Việt Nam

Đối với cam kết này thì ngành dệt may của ta sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi

để phát triển Tuy nhiên, cái mất của ngành dệt may cũng không phải là ít Thứ nhất là hàng rào bảo hộ tại thị trường nội địa sẽ không còn Nhóm hàng xơ, sợi giảm thuế nhập khẩu từ 20% xuống còn 5%; nhóm hàng vải giảm từ 40% xuống còn 12%; quần

áo, đồ may sẵn phải giảm từ 50% xuống còn 20% Như vậy, sản phẩm dệt may Việt Nam sẽ phải cạnh tranh quyết liệt với hàng dệt may nhập khẩu ngay tại thị trường nội địa

Dệt may và da giày là hai ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và cũng

chịu tác động lớn từ những cam kết trong WTO Tác động của những cam kết không chỉ từ những thay đổi về thuế nhập khẩu mà còn từ những ảnh hưởng chung của nền kinh tế Thuế nhập khẩu phải thực hiện việc cắt giảm ngay khi Việt Nam gia nhập WTO Các doanh nghiệp dệt may cho rằng áp lực quá lớn đối với họ vì sự cạnh tranh

từ bên ngoài ngay khi Việt Nam thực hiện cam kết thay vì có lộ trình Tham gia WTO, Việt Nam thực hiện cắt giảm thuế nhiều mặt hàng nhưng hầu hết đều có lộ trình Tuy nhiên, ngành dệt may không được hưởng ân hạn này Có nghĩa là các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam không có thời gian để chuẩn bị mà phải cạnh tranh ngay Việc cắt giảm thuế ngay đối với ngành dệt may được cho là để đánh đổi việc bãi

bỏ quota, tức là mở ra cơ hội thị trường lớn đặc biệt là Mỹ cho ngành dệt may, điều

mà những ngành được ân hạn lộ trình khác không có Ngược lại, việc cắt giảm thuế của ngành giày da không làm các doanh nghiệp căng thẳng nhưng áp lực thì cũng không kém

Theo cam kết, hàng giày dép thuế suất chỉ còn 40% so với 50% theo thuế ưu đãi MFN Ngành da giày đang phải đối đầu với tình trạng thiếu lao động không chỉ vì chính sách tiền lương hay điều kiện làm việc mà là thách thức từ WTO Theo các doanh nghiệp, việc làm nhiều hơn đang tạo cơ hội cho người lao động tránh xa ngành dệt may Ông Lê Quốc Ân (Phó chủ tịch Hội Dệt may - Thêu đan Tp.HCM kiêm Phó

5 http://www.nciec.gov.vn/index.nciec?1309

Trang 35

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

chủ tịch Hội Da giày) khái quát 4 thách thức khi thực hiện các cam kết WTO thể hiện

ở 4 cấp độ: toàn cầu, quốc gia, ngành và doanh nghiệp

Theo các chuyên gia EU, tác động lên hai ngành còn nằm ở các vụ kiện chống bán phá giá Cơ chế giám sát mà Bộ Công thương đang thực hiện được đánh giá là tốt nhưng tạo ra những lo lắng không chỉ cho doanh nghiệp mà cả chính cơ quan này

Bởi lẽ, cơ chế giám sát quá chặt sẽ làm mất đi cơ hội xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam cũng như đánh mất cơ hội tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nếu quá lỏng lẻo sẽ tạo cơ hội tăng trưởng nóng cho ngành dệt may và kết quả là phản ứng mạnh từ phía Hoa Kỳ Như Hoa Kỳ sẽ áp thuế chống bán phá giá khi thấy tình trạng tăng đột biến; từ đây sẽ gây cản trở cho tất cả các doanh nghiệp dệt may và da giày của ta

Thị trường EU cũng không loại trừ các vụ kiện chống bán phá giá Tuy nhiên, quy chế kinh tế thị trường, một trong những yếu tố quyết định của vụ kiện chống bán phá giá mà EU sẽ trao cho Việt Nam sắp tới, hứa hẹn sẽ gỡ bỏ hoặc giảm

cơ chế giám sát hàng nhập khẩu bằng thuế chống bán phá giá từ Việt Nam Theo ông

Ân thì khó khăn lớn nhất đối với ngành dệt may hiện nay là để mất thị trường Mỹ Để

Quốc hội Mỹ chấp thuận thông qua việc áp dụng Quy chế thương mại bình thường

vĩnh viễn đối với Việt Nam (PNTR), Chính phủ Mỹ đã cam kết sẽ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam và áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Tất cả các nhà nhập khẩu Mỹ cho rằng việc áp dụng biện pháp này sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của họ, bởi họ không thể lường trước được khi nào sẽ bị tăng thuế Điều này đồng nghĩa với việc nhiều nhà nhập khẩu Mỹ sẽ quay lưng lại với hàng dệt may Việt Nam và lựa chọn một đối tác làm ăn khác ít bị rủi ro hơn

Do đó, nhiều nhà nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam ở Mỹ đang chuyển hướng đầu tư và đơn hàng sang các nước khác “Theo dự báo trước đây, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may sẽ tăng 15-20%/năm, nhưng nếu Mỹ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam và áp dụng biện pháp chống bán phá giá, thì mức tăng chỉ còn khoảng 5-7%/năm” mà thôi

- Về minh bạch hóa chính sách:

Trang 36

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Thứ nhất: Minh bạch hóa hoạt động chính sách là một yêu cầu và cũng là một nguyên tắc trong hội nhập kinh tế quốc tế Trong hoạt động đầu tư nước ngoài, minh bạch hóa góp phần tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng giữa các doanh nghiệp và tạo điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư Thông thường, một môi trường đầu tư bình đẳng, công bằng với cơ chế thương mại và cơ chế đầu tư thông thoáng là những công cụ thu hút vốn đầu tư nước ngoài hữu hiệu nhất Bên cạnh đó, minh bạch hóa cũng sẽ giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài giảm được những chi phí không chính thức, giảm thiểu những rủi ro về quyền sở hữu và những rủi ro về chính sách cũng như lòng tin và do đó dòng chảy FDI vào Việt Nam ngày càng gia tăng

Thứ hai: Tác động tích cực của chính sách minh bạch đó là: giúp cho các nhà đầu tư tránh được các chi phí tăng thêm trong hoạt động kinh doanh Trong một nền kinh tế không minh bạch, để có được những thông tin các nhà đầu tư phải bỏ thêm chi phí trả cho các cơ quan quản lý hoặc cơ quan thực thi chính sách của Nhà nước Các chi phí tăng thêm này phát sinh là do vấn đề tham nhũng - đó cũng là một trong những nguyên nhân của vấn đề không minh bạch trong các hoạt động kinh tế

Thứ ba: Minh bạch hóa sẽ giảm bớt những rủi ro từ môi trường đầu tư Một quốc gia có hệ thống chính sách thu hút đầu tư minh bạch bao giờ cũng có những điều khoản rõ ràng, công khai đảm bảo về quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư Như vậy, minh bạch hóa sẽ làm tăng tính an toàn về vốn và tài sản cho chủ đầu tư Minh bạch hóa cũng gắn liền với yêu cầu các chính sách và hệ thống luật pháp phải rõ ràng, nhất quán và dễ dự đoán

Về phần Việt Nam, ngay từ khi gia nhập WTO ta đã cam kết sẽ công bố dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ ban hành để lấy ý kiến nhân dân với thời hạn dành cho việc góp ý tối thiểu

là 60 ngày Quy định về việc chỉ có văn bản đăng công khai trên Công báo thì mới có hiệu lực thi hành6 Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ đăng công khai các văn bản pháp luật

trên các tạp chí hoặc website của các Bộ, ngành Ngoài ra, Việt Nam còn có nghĩa vụ

xây dựng và cung cấp định kỳ các bản thông báo theo quy định của từng Hiệp định của WTO cho Ban thư ký WTO

Hiện nay, Bộ Công thương đã hoàn thành dự thảo quy chế tổ chức và hoạt động của mạng lưới Hỏi đáp nhằm thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO và đang lấy ý kiến của các bộ ngành liên quan

6 Văn phòng Quốc hội đã khai trương website lấy ý kiến của nhân dân về các Dự luật trước khi trình Quốc hội,

đây chính là biện pháp thực hiện cam kết WTO về minh bạch hóa chính sách pháp luật

(địa chỉ: http//: www.duthaoonline.quochoi.vn)

Trang 37

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Về quyền kinh doanh:

Bao gồm quyền xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, tuân thủ quy định WTO, Việt Nam đồng ý cho doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được quyền xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa như doanh nghiệp và cá nhân người Việt Nam kể từ khi gia nhập (cam kết này “mở” hơn nhiều so với trước đây – tức là trước đây các doanh nghiệp nước ngoài chỉ được phép kinh doanh hoạt động xuất nhập khẩu bó hẹp trong phạm vi giấy phép kinh doanh) trừ đối với các mặt hàng thuộc doanh mục thương mại Nhà nước như: xăng dầu, thuốc lá điếu, xì gà, băng đĩa hình, báo, tạp chí và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà Việt Nam chỉ cho phép sau một thời gian chuyển đổi như gạo

và dược phẩm

Việt Nam cũng đồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không

có hiện diện tại Việt Nam được đăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam Quyền xuất nhập khẩu ở đây chỉ là quyền đứng tên trên tờ khai hải quan để làm thủ tục xuất nhập khẩu Trong mọi trường hợp, doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài sẽ không được tự động tham gia vào hệ thống phân phối trong nước Các cam kết về quyền kinh doanh sẽ không ảnh hưởng đến quyền của Việt Nam trong việc đưa ra các quy định để quản lý dịch vụ phân phối, đặc biệt đối với sản phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo, tạp chí,…

Để thực hiện cam kết trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 và Nghị định số 90/2007/NĐ-23/2007/NĐ-CP ngày 32/05/2007 Điều 4

khoản 1 Nghị định số 90/2007/NĐ-CP quy định như sau: “Thương nhân nước ngoài

không có hiện diện tại Việt Nam được quyền:

a) Thực hiện các quyền xuất khẩu, nhập khẩu khi được cấp Giấy chứng nhận

đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu đối với các loại hàng hoá được phép xuất

khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và theo lộ trình cam kết về mở cửa thị trường của Việt Nam

b) Thực hiện mua hàng hoá để xuất khẩu và bán hàng hoá nhập khẩu với thương nhân Việt Nam có đăng ký kinh doanh các loại hàng hoá đó theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam”

Ngoài ra, Bộ Thương Mại (nay là Bộ Công thương) đã ban hành Quyết định

số 10/2007/QĐ-BTM ngày 21/05/2007, Thông tư số 09/2007/TT-BTM ngày 17/07/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 23 nhằm quy định cụ thể việc đăng ký quyền nhập khẩu và xuất khẩu của doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài

- Về Doanh nghiệp Nhà nước và Doanh nghiệp Thương mại Nhà nước:

Trang 38

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Doanh nghiệp Nhà nước và Doanh nghiệp Thương mại Nhà nước, sẽ hoàn toàn hoạt động theo tiêu chí thương mại, cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực này là Nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước Tuy nhiên, Nhà nước với tư cách là một cổ đông được can thiệp bình đẳng vào hoạt động của doanh nghiệp như các cổ đông khác Việt Nam cũng đồng ý không coi mua sắm của doanh nghiệp Nhà nước là mua sắm chính phủ Việt Nam bảo lưu chế độ thương mại Nhà nước đối với các mặt hàng thuốc lá, xì gà, xăng, dầu thô, báo và tạp chí, máy bay và phụ tùng, băng đĩa hình

Trong công ty cổ phần, thì tỷ lệ cổ phần để thông qua quyết định tại doanh nghiệp: theo Điều 52 và 104 của Luật Doanh nghiệp quy định một số vấn đề quan trọng có liên quan đến hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty Cổ phần chỉ được phép thông qua khi có số phiếu đại diện ít nhất là 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận Quy định này có thể vô hiệu hóa quyền của bên góp đa số vốn trong liên doanh Do vậy, Việt Nam đã xử lý theo hướng cho phép các bên tham gia liên doanh được thỏa thuận vấn đề này trong Điều lệ công ty

- Về thuế tiêu thụ đặc biệt:

Đối với rượu và bia, các thành viên WTO đồng ý cho Việt Nam thời gian chuyển đổi không quá 3 năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu và bia cho phù hợp với quy định WTO Hướng sửa đổi là: đối với rượu trên 20 độ cồn, Việt Nam hoặc sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm; đối với bia, Việt Nam sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm Hiện nay, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu có nồng độ cồn trên 40 độ mức thuế suất là 60%, nồng độ cồn dưới

40 độ mức thuế suất là 30% và không có phân biệt giữa rượu trong nước và rượu nước ngoài Trên thực tế, các loại rượu ngoại whisky và cognac đều có nồng độ cồn trên 40

độ, trong khi rượu trong nước ở mức dưới 40 độ, do vậy được hưởng thuế thấp hơn, điều này gián tiếp đã tạo ra sự phân biệt đối xử” Theo kế hoạch, năm 2008 Chính phủ

sẽ trình Quốc hội dự thảo luật sửa đổi Luật thuế tiêu thụ đặc biệt để đảm bảo tuân thủ đúng cam kết trên

- Về một số biện pháp hạn chế nhập khẩu:

Việt Nam cam kết sẽ không áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng nhập khẩu kể từ khi gia nhập WTO, để thực thi cam kết này Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 bãi bỏ các biện pháp hạn chế định lượng nhập khẩu, thay thế lệnh cấm nhập khẩu thuốc lá điếu và xì gà bằng quy định đầu mối nhập khẩu Với hai mặt hàng này mức thuế nhập khẩu mà Việt Nam

Trang 39

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

đàm phán được là rất cao Việt Nam cũng đồng ý cho nhập khẩu xe máy phân khối lớn không muộn hơn ngày 31/05/2007 (ngày 30/05/2007 Bộ Thương mại đã ban hành Thông tư số 06/2007/TT-BTM hướng dẫn việc nhập khẩu xe gắn máy phân khối lớn

từ 175cm3 trở lên) Điều 10 khoản 3 Thông tư số 06/2007/TT-BTM quy định về việc

nhập khẩu ô tô các loại đã qua sử dụng như sau: “Ô tô các loại đã qua sử dụng được

nhập khẩu phải bảo đảm điều kiện: loại đã qua sử dụng không quá 05 năm, tính từ năm sản xuất đến năm nhập khẩu

- Việc nhập khẩu mô tô phân khối lớn thực hiện theo giấy phép nhập khẩu tự động của Bộ Thương mại

- Việc kinh doanh tạm nhập tái xuất, kinh doanh chuyển khẩu mô tô phân khối lớn thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng

01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Thủ tục kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu giải quyết trực tiếp tại Hải quan Cửa khẩu, không cần xin phép Bộ Thương mại

- Việc đăng ký sử dụng và quy định chế độ thi lấy giấy phép điều khiển mô tô phân khối lớn thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành

- Cấm nhập khẩu mô tô các loại đã qua sử dụng”

Tuy nhiên, Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp như quy định độ tuổi người sử dụng và đưa ra chế độ cấp bằng lái đặc biệt; bảo lưu quyền áp dụng thuế nhập khẩu cao và nhiều biện pháp quản lý kỹ thuật chặt chẽ khác

Nhìn chung, các cam kết quốc tế của Việt Nam có hình thức, phạm vi và mức

độ khác nhau song đều hướng tới mục tiêu chung là nhằm tự do hóa hoạt động đầu tư nước ngoài bằng việc mở cửa các lĩnh vực kinh tế và thực hiện chế độ không phân biệt đối xử cho nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình nhất định, đồng thời thiết lập cơ chế bảo hộ đầu tư phù hợp với thông lệ quốc tế

Các cam kết về tự do hóa đầu tư chứa đựng nghĩa vụ của Chính phủ Việt Nam trong việc từng bước xóa bỏ những rào cản về tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tăng cường tính minh bạch, công khai và hiệu lực thi hành của hệ thống luật pháp, chính sách đồng thời thiết lập khung pháp lý hữu hiệu nhằm bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài Việc thực hiện các cam kết này cùng với những cải thiện tích cực về pháp luật, chính sách đầu tư nước ngoài trong thời gian qua là những nhân tố quan trọng góp phần củng cố lòng tin của nhà

Trang 40

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

đầu tư nước ngoài về tính hấp dẫn và cạnh tranh của môi trường đầu tư Việt Nam, mở

ra cơ hội mới trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Đây là tín hiệu tích cực gửi đến cộng đồng quốc tế về những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới

2.3.2 Cam kết về thuế nhập khẩu 7 :

Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu hiện hành gồm 10.600 dòng thuế Thuế suất cam kết cuối cùng có mức bình quân giảm đi 23% so với mức thuế bình quân hiện hành (thuế suất MFN) của Biểu thuế (từ 17,4% xuống còn 13,4%) Thời gian thực hiện sau 5-7 năm Trong toàn bộ Biểu cam kết, Việt Nam sẽ cắt giảm thuế đối với khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc ở mức thuế hiện hành với khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của Biểu thuế); ràng buộc theo mức thuế trần - cao hơn mức thuế trần hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của Biểu thuế) chủ yếu là đối với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hóa chất và một số phương tiện vận tải

Một số mặt hàng đang có thuế suất cao từ trên 20%, 30% sẽ được cắt giảm thuế ngay khi chúng ta gia nhập Những nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện điện tử

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm gia nhập và 21% sẽ là mức cắt giảm cuối cùng So sánh với mức thuế MFN bình quân đối với lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm đi sẽ là 10% Trong lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam sẽ được áp dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan đối với 4 mặt hàng, gồm: trứng, đường, thuốc lá lá và muối Riêng muối là mặt hàng

mà WTO không coi là hàng nông sản, do vậy không được áp dụng công cụ hạn ngạch thuế quan nhưng ta kiên quyết giữ để bảo vệ lợi ích của diêm dân Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế MFN hiện hành (trứng 40%, đường thô 25%, đường tinh 40-50%, thuốc lá lá 30%, muối ăn 30%) Mức thuế ngoài hạn ngạch cao hơn rất nhiều Đối với lĩnh vực công nghiệp, mức cam kết bình quân vào thời điểm gia nhập là 16,1% và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 23,9%

Trong các hiệp định trên, tham gia ITA là quan trọng nhất, theo đó khoảng

330 dòng thuế thuộc diện công nghệ thông tin sẽ phải có thuế suất 0% sau 3-5 năm

7 Nguồn từ Bộ tài chính

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w