1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại VIỆT NAM TRUNG QUỐC với TRIỂN VỌNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ở BIỂN ĐÔNG

78 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng qua việc nghiên cứu đề tài này, người viết muốn tìm hiểu rõ hơn về các vấn đề tranh chấp của Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông, về tình hình thực tế tranh chấp cũng như những thỏa t

Trang 1

Cần Thơ - 4/2011

Đề tài:

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Trang 2

Trang 3

Trang 4

1

.1

.2

2

2

3

4

4

1.1.1 Vị trí địa lý 4

1.1.2 Các tên gọi khác của biển Đông (Việt Nam) 5

6

1.2.1 Luật biển quốc tế 7

1.2.2 Luật biển Việt Nam 9

11

1.3.1 Tầm quan trọng của vấn đề phân định biển 11

1.3.2 Các nguyên tắc phân định 12

14

1.4.1 Phía Trung Quốc 14

1.4.2 Phía Việt Nam 18

19

23

1.6.1 Điều ước quốc tế 23

1.6.2 Tập quán quốc tế 24

25

Trang 5

2.1.1 Sự hình thành của Tòa án quốc tế về luật biển .28

2.1.2 Tổ chức của Tòa án quốc tế về luật biển 29

2.1.3 Thẩm quyền của Tòa án Quốc tế về luật biển 32

2.1.4 Hoạt động của Tòa án quốc tế về luật biển 36

2.1.5 Việt Nam và Tòa án quốc tế về luật biển 38

41

2.2.1 Giải quyết tranh chấp của Việt Nam - Trung Quốc bằng đàm phán trực tiếp (thương lượng) về các vấn đề ở biển Đông 41

2.2.1.1 Khái niệm 41

2.2.1.2 Hình thức giải quyết 42

2.2.1.3 Giá trị pháp lý 44

2.2.2 Giải quyết tranh chấp của Việt Nam - Trung Quốc thông qua môi giới và trung gian về các vấn đề ở biển Đông 45

2.2.2.1 Khái niệm 45

2.2.2.2 Hình thức giải quyết 45

2.2.2.3 Giá trị pháp lý 46

2.2.3 Giải quyết tranh chấp của Việt Nam - Trung Quốc thông qua Ủy ban điều tra và Ủy ban hòa giải về các vấn đề ở biển Đông 47

2.3.3.1 Khái niệm 47

2.3.3.2 Hình thức giải quyết 48

2.3.3.3 Giá trị pháp lý 49

2.2.4 Giải quyết tranh chấp của Việt Nam - Trung Quốc thông qua trọng tài quốc tế về các vấn đề ở biển Đông 50

2.2.4.1 Khái niệm 50

2.2.4.2 Hình thức giải quyết 51

2.2.4.3 Giá trị pháp lý 52

2.2.5 Giải quyết tranh chấp của Việt Nam - Trung Quốc thông qua Tòa án công lí quốc tế về các vấn đề ở biển Đông 53

2.2.5.1 Khái niệm 53

2.2.5.2 Hình thức giải quyết 54

2.2.5.3 Giá trị pháp lý 55

Trang 6

57

3.1.1 Giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán trực tiếp (thương lượng) 57

3.1.1.1 Những thuận lợi 57

3.1.1.2 Những khó khăn 58

3.1.1.3 Giải pháp 60

3.1.2 Giải quyết tranh chấp thông qua môi giới, trung gian 60

3.1.2.1 Những thuận lợi 60

3.1.2.2 Những khó khăn 61

3.1.2.3 Giải pháp 63

3.1.3 Giải quyết tranh chấp thông qua Ủy ban điều tra và Ủy ban hòa giải 64

3.1.3.1 Những thuận lợi 64

3.1.3.2 Những khó khăn 64

3.1.3.3 Giải pháp 65

3.1.4 Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài 66

3.1.4.1 Những thuận lợi 66

3.1.4.2 Những khó khăn 66

3.1.4.3 Giải pháp 68

3.1.5 Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án 68

3.1.5.1 Những thuận lợi 68

3.1.5.2 Những khó khăn 69

3.1.5.3 Giải pháp 70

71

74

Trang 7

- : đặc biệt, một lần

- : Công ước Liên hiệp quốc về luật biển năm 1982

Trang 8

Lãnh thổ bên giới quốc gia là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống pháp luật quốc tế Một quốc gia khi tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế với tư cách là chủ thể cơ bản và chủ yếu thì sự hưng thịnh ổn định của quốc gia trước hết phụ thuộc vào yếu tố lãnh thổ Ngoài ra, lãnh thổ còn có ý nghĩa với việc tồn tại và duy trì một ranh giới quyền lực nhà nước trong một cộng đồng dân cư nhất định Quan niệm và sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia liên quan đến vấn đề biên giới lãnh thổ ở mỗi thời kì phát triển đều có sự thay đổi khác nhau, nhưng dù khác nhau như thế nào thì vấn đề biên giới, lãnh thổ vẩn là nền tảng của một trật tự pháp lý quốc tế ổn định

Để xác định lãnh thổ thì vấn đề đầu tiên là phải xác định được biên giới trên đất liền cũng như trên biển phải rõ ràng và ổn định về mặt pháp lý cũng như thực tiễn với các nước làng giềng Do đó, mỗi quốc gia xác định vấn đề biên giới là vấn đề trọng đại của đất nước và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, nhất là trong những năm gần đây Việt Nam và các nước hữu quan cũng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn liên quan đến vấn đề ranh giới quốc gia trên bộ và đặc biệt hơn là trên biển Điển hình như vấn đề tranh chấp trên biển Đông đang nóng dần lên từng ngày và đòi hỏi cần có sự hành động của các nước có liên quan thật nghiêm túc đề giải quyết các vấn đề tranh chấp Một khi vấn đề tranh chấp ở biển Đông vẩn còn nóng, căng thẳng, là một mối lo lớn không chỉ Việt Nam mà cả các nước hữu quan khác Có nhiều dự báo cho rằng tranh chấp ở biển Đông nếu không có sự điều chỉnh sẽ dẩn đến một cuộc chiến tranh giữa các nước mà được nói đến ở đây là Trung Quốc với mưu đồ bá quyền của mình sẽ còn đẩy tình hình này theo những chiều hướng đáng lo ngại hơn cùng với những chính sách trên biển được áp dụng

Chính vì vậy, mà tác giả chọn đề tài “Việt Nam – Trung Quốc với triển vọng giải quyết tranh chấp ở biển Đông” để làm luận văn tốt nghiệp Trước hết, nhằm tìm hiểu hệ thống pháp luật quốc tế về vấn đề tranh chấp biển như thế nào và từ những quy định đó Việt Nam và các nước hữu quan có liên quan đến tranh chấp với Trung Quốc sẽ áp dụng vào đề giải quyết tranh chấp Cũng qua việc nghiên cứu đề tài này, người viết muốn tìm hiểu rõ hơn về các vấn đề tranh chấp của Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông, về tình hình thực tế tranh chấp cũng như những thỏa thuận đã đạt được mà từ đó thấy được những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại trong tiến trình giải quyết các tranh chấp mà từ đó người viết có những ý kiến đóng góp mang tính tham khảo, góp phần vào việc giải quyết hòa bình các tranh chấp với tranh chấp theo đúng những chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Trang 9

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương có bờ biển từ biên giới Việt-Trung cho đến biên giới Việt – Campuchia dài khoảng 3.260km Nếu tính cả bờ biển các đảo và quần đảo trên biển Đông thì chiều dài này còn lớn hơn nhiều, khiến Việt Nam có độ dài bờ biển lớn hơn Thailand, ngang bằng với Malaysia và đứng đầu các nước ở bán đảo Trung Ấn Theo Công ước Quốc tế, mỗi quốc gia có quyền ấn định lãnh hải của mình là 12 hải lý kể từ đường cơ sở, vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế được quy định với chiều rộng

là 200 hải lý Thềm lục địa cũng được tính cho đến 200 hải lý Như vậy, Việt Nam có chủ quyền trên một vùng biển khá rộng lớn, khoảng 1 triệu km2 ở biển Đông

Những quy định của hệ thống pháp luật quốc tế điều chỉnh các vấn đề về biển được cụ thể hóa tại Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 và được các quốc gia tham gia ký kết, áp dụng cho đến nay Bên cạnh những hiệu quả của Công ước này mang lại, nó cũng bộc lộ những hạn chế như các quy định chưa chặt chẽ còn nhiều hạn chế, có những quy định về các phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp gây khó khăn cho việc áp dụng, một số vấn đề chưa được điều chỉnh Mục đích nghiên cứu của đề tài là đi sâu vào những quy định về các phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp, tìm hiểu những thuận lợi cũng như những bất cặp của những phương thức này Từ đó góp phần vào việc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế cũng như tình hình tranh chấp giữa Việt Nam – Trung Quốc như hiện nay

Tranh chấp ở biển Đông giữa Việt Nam – Trung Quốc là một vấn đề lớn, liên quan đến nhiều quốc gia, tranh chấp đa dạng, gây rất khó khăn cho việc nghiên cứu, do đó người viết chỉ nghiên cứu chủ yếu về tranh chấp giữa Việt Nam – Trung Quốc Đồng thời, với một kiến thức nghiên cứu khoa học về vấn đề tranh chấp biển còn hạn hẹp, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều Mặt khác, đây là một đề tài mang tầm vóc quốc tế, nhiều phức tạp nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

− Quy định của hệ thống pháp luật quốc tế về các vấn đề tranh chấp trên biển có liên quan đến các tranh chấp giữa Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông

− Thực tiễn giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế được áp dụng trong các tranh chấp giữa Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông

Để làm sáng tỏ những nội dung chủ yếu của đề tài, tháo gỡ những vướng mắc thật cần thiết của luật quốc tế về các vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông, người viết

đã sử dụng phương pháp luận để phân tích Ngoài ra, người viết còn sử dụng các phương pháp khoa học khác để phân tích như: phân tích luật quốc tế, liệt kê, bình luận và tổng hợp các ý kiến, các tài liệu có liên quan Nhằm chuyển tải hết những nội dung cơ bản của đề tài, tuy chỉ

Trang 10

là những ý kiến của cá nhân người viết nhưng với những phương pháp nghiên cứu khoa học sẽ giúp ích cho việc giải quyết các tranh chấp quốc tế cũng như các vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông

Cấu trúc của đề tài gồm những phần chính sau: lời mở đầu, nội dung và kết luận Riêng phần nội dung gồm có:

− Chương 1: Khái quát chung về tranh chấp của Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông

− Chương 2: Cơ sở pháp lý về các phương thức giải quyết tranh chấp của Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông

− Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp của Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông và một số giải pháp hoàn thiện

Trang 11

Biển Đông (vùng biển đông Việt Nam) là một (marginal sea), một phần của Thái Bình Dương bao phủ một diện tích từ Singapore tới eo biển Đài Loan với diện tích áng chừng khoảng 3.5 triệu km² Các đảo ở biển Đông có số lượng nhiều, tập hợp thành một số quần đảo Vùng biển này và phần lớn các đảo không có người ở của nó là mục tiêu tranh chấp chủ quyền của nhiều quốc gia xung quanh Biển Đông là khu vực hết sức chiến lược và là vị trí rất quan trọng đối với rất nhiều nước mà đặc biệt là Việt Nam – Trung Quốc

Phía đông bắc biển Đông có quần đảo Đông Sa, thuộc Trung Quốc (Pratas Islands), mà Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền Phía Tây Bắc Biển Đông cách đảo Lý Sơn, Quảng Nam, Việt Nam khoảng 200 km, cách đảo Hải Nam, Trung Quốc 235 km có quần đảo Hoàng Sa với 18 đảo, cồn và 22 bãi, đá (theo giáo sư Sơn Hồng Đức, thì có đến 230 đảo, cồn, đá, bãi) Lớn nhất

là đảo Phú Lâm Độ cao tuyệt đối lớn nhất 14 m Quần đảo này hiện đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép

Bên trong vùng biển, có hơn 200 đảo và bãi đá ngầm đã được đặt tên, đa số chúng thuộc Quần đảo Trường Sa Quần đảo Trường Sa trải dài trên một vùng rộng 810, dài 900 km với khoảng 175 đảo đã được xác định, hòn đảo lớn nhất là đảo Ba Bình (Itu Aba) với chỉ hơn 1,3

km chiều dài và điểm cao nhất là 3,8 m Có một núi ngầm rộng 100 km được gọi là Redd Tablemount ở đông bắc quần đảo Trường Sa, cách biệt khỏi đảo Palawan của Philippine bởi Rãnh Palawan Hiện nay nằm sâu 20m dưới mực nước biển nhưng trước kia nó từng là một hòn đảo trước khi bị mực nước biển dâng lên ở thời băng hà cuối cùng làm chìm ngập

Phía đông quần đảo Hoàng Sa có các bãi ngầm như Macclesfield Bank (quần đảo Trung Sa), Stewart Bank, Truro Shoal và Scarborough Shoal Theo những nghiên cứu cho biết thì vùng biển này chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệ sinh thái Có rất nhiều tranh cãi về lãnh hải trên vùng biển Đông và các nguồn tài nguyên của nó Bởi luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc cho phép các nước có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mở rộng 200 dặm biển (370.6 km) từ lãnh hải của họ, tất cả các nước quanh vùng biển có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền với những phần rộng lớn của nó Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố chủ quyền hầu như toàn bộ vùng biển Những báo cáo gần

Trang 12

đây cho thấy Trung Quốc đang phát triển một nhóm tàu sân bay để bảo vệ những đường vận chuyển nhiên liệu ở biển Đông

South China Sea là thuật ngữ phổ biến nhất trong tiếng Anh để chỉ vùng biển này, và tên trong đa số các ngôn ngữ Châu Âu khác cũng như vậy, nhưng các nước xung quanh thì gọi nó bằng nhiều tên khác nhau, thường phản ánh chủ quyền lịch sử của họ đối với quyền bá chủ vùng biển Tại Việt Nam, hầu hết lãnh thổ hướng chính ra biển là hướng đông, do đó tên tiếng Việt của biển này hàm nghĩa là vùng biển Đông Việt Nam Ở đồng bằng sông cửu long (Việt Nam) có thể ra biển về hướng tây (Vịnh Thái Lan) về phía các nước Campuchia và Thái Lan Trong các tài liệu cổ về hàng hải của Bồ Đào Nha vào thế kỉ XV – XVI còn có tên là biển Chăm Pa

Trung Quốc thường hay gọi tắt biển này là Nam Hải Trong ngành xuất bản hiện nay của Trung Quốc, nó thường được gọi là Nam Trung Quốc Hải, và cái tên này cũng thường được dùng trong các bản đồ bằng tiếng Anh do Trung Quốc ấn hành Philippines gọi là biển Luzón theo tên hòn đảo lớn Luzon của Philippine Ngoài ra còn có East China Sea (tên quốc tế của biển này) ở phía bắc so với biển Đông Việt Nam, Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải, khi tra cứu những tài liệu của Trung Quốc hoặc của nước khác tham khảo tài liệu Trung Quốc, chú ý không nhầm lẫn hai biển Đông này

Tên gọi quốc tế của biển Đông ra đời từ nhiều thế kỷ trước, là biển Nam Trung Hoa vì thời bấy giờ Trung Quốc là nước rộng lớn nhất, phát triển nhất, nổi tiếng nhất trong khu vực và đã

có giao thương với phương Tây qua con đường tơ lụa Tên gọi nhiều biển, đại dương vốn căn

cứ vào vị trí của chúng so với các vùng đất gần đó cho dễ tra cứu, không có ý nói về chủ quyền

Có thể kể ra các thí dụ là Ấn Độ Dương là đại dương ở phía nam Ấn Độ, giáp nhiều nước ở Châu Á và Châu Phi, không phải là của riêng nước Ấn Độ; hay biển Nhật Bản, được bao quanh bởi Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Nhật Bản

Vịnh Bắc Bộ là phần biển Đông giữa miền Bắc Việt Nam với Đảo Nam Hải miền Nam Trung Quốc Bờ phía Tây là bờ biển Việt Nam từ Thanh Hóa đến Móng Cái Phía bắc từ Móng Cái trở sang phía Đông là 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc với bán đảo Lôi Châu, Bờ Đông là đảo Hải Nam của Trung Quốc Trong vịnh có hàng nghìn đảo nhỏ, nổi tiếng nhất là các đảo trong vịnh Hạ Long được UNESCO xếp loại là di sản văn hóa thế giới Đảo Bạch Long Vĩ thuộc Việt Nam ở giữa vịnh, có diện tích khoảng 2,5 km²

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa biển Đông đã được nhiều chính quyền Việt Nam liên tục thực hiện chủ quyền từ nhiều thế kỷ qua Quần đảo Hoàng Sa do Trung Quốc dùng bạo lực chiếm giữ một phần từ những năm 1950 và hoàn toàn từ năm 1974 Tranh chấp

Trang 13

chủ quyền, một phần hay toàn bộ, cũng đã diễn ra tại quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei và Đài Loan

Hiện nay sự tranh chấp đang được các bên thương lượng đàm phán vì sự hòa bình và ổn định trong khu vực để phát triển kinh tế Tổ chức thủy văn học quốc tế xác định vùng biển trải dài theo hướng từ tây nam đến đông bắc, biên giới phía nam là 3 độ vĩ độ Nam giữa Nam Sumatra và Kalimantan (eo biển Karimata), và biên giới phía bắc của nó là eo biển Đài Loan từ mũi phía bắc Đài Loan tới bờ biển Phúc Kiến thuộc đại lục Trung Quốc Vịnh Thái Lan chiếm phần phía tây của biển Đông Biển nằm trên một thềm lục địa ngầm; trong những kỷ băng hà gần đây nước biển đã hạ thấp xuống hàng trăm mét, và Borneo từng là một phần của lục địa Châu Á Các nước và lãnh thổ có biên giới với vùng biển này (theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc) gồm: Trung Quốc, Ma Cao, Hồng Công, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam

Cả Việt Nam và Trung Quốc đều theo đuổi các tuyên bố chủ quyền một cách mạnh mẽ Quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm được 6 đảo 1974 và 18 binh sĩ đã thiệt mạng Quần đảo Trường sa là nơi đã xảy ra xung đột hải quân, hơn bảy mươi lính thủy Việt Nam đã bị giết hại ở phía nam bãi đá ngầm Chigua tháng 3, năm 1988 Các nước tranh chấp thường xuyên thông báo về các vụ va chạm giữa các tàu hải quân1

ASEAN nói chung, và Trung Quốc nói riêng luôn muốn đảm bảo rằng những tranh chấp bên trong Biển Đông sẽ không leo thang trở thành xung đột quân sự Vì vậy, các cơ cấu phát triển chung (Joint Development Authorities) đã được lập ra tại các vùng tranh chấp chồng lấn để cùng phát triển vùng và phân chia quyền lợi công bằng tuy nhiên không giải quyết vấn đề chủ quyền của vùng đó Điều này đã trở thành sự thực, đặc biệt là ở Vịnh Thái Lan Tuy nhiên, gần đây Trung Quốc đã tuyên bố sẽ không ngại dùng vũ lực để lấy quần đảo Trường Sa

Luật biển là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc tế, bao gồm tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm được hình thành bằng sự thỏa thuận của các chủ thể của luật quốc tế (trước tiên

và chủ yếu của các quốc gia) nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ môi trường biển vì mục đích hòa bình2

Từ rất sớm, con người đã có các hoạt động trên biển Luật biển đã được hình thành rất lâu trong lịch sử, vào thời cổ đại ở Hy lạp, Ai cập và La Mã đã xuất hiện các tập quán về biển, và tiếp đến vào khoảng Thế kỷ thứ XIII, đã xuất hiện một số nguyên tắc về luật biển ở vùng Biển

Trang 14

Bắc Âu, và sau đó đã được phổ biến sang khu vực Địa trung Hải

Vào thế kỷ XVII đã có những tác phẩm nổi tiếng về luật biển như “Biển tự do” của Hugo Gratuit về nguyên tắc tự do trên biển hoặc tác phẩm “ biển kín” của ngành luật học người Anh Selden về nguyên tắc chủ quyền của quốc gia trên biển

Mãi cho tới năm 1930, Hội nghị quốc tế đầu tiên về luật biển, mới được triệu tập ở Lahay, với mục đích bàn về vấn đề cấp bách lúc đó như quy chế lãnh hải, chống cướp biển, nguyên tắc

sử dụng tài nguyên thiên nhiên biển Do có nhiều mâu thuẫn nên hội nghị Lahay không giải quyết được thỏa đáng vấn đề cụ thể nào

Quá trình pháp điển hóa Luật biển phát triển mạnh sau Đại chiến thế giới thứ hai thông qua

ba hội nghị lớn của Liên Hiệp Quốc vào các năm 1958, 1960 và năm (1973 – 1982)

Ngày 24/02/1958, Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ nhất về luật biển tại Geneva, và Hội nghị đã thông qua bốn công ước đầu tiên về luật biển:

+ Công ước về lãnh hải, và vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực từ ngày 10/9/1946, có

46 quốc gia là thành viên);

+ Công ước về thềm lục địa (có hiệu lực từ ngày 10/6/1964, có 54 quốc gia là thành viên);

+ Công ước về đánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật biển (có hiệu lực từ ngày 20/3/1966, có 36 quốc gia là thành viên);

+ Công ước về biển cả (có hiệu lực từ ngày 30/9/1962, có 57 quốc gia là thành viên) Các công ước đã đặt nền móng cho quá trình pháp điển hóa Luật biển, chúng ta đã đề cập đến một số khái niệm mới, và ghi nhận một số tập quán quốc tế về khai thác, sử dụng biển Tuy nhiên, Hội nghị 1958 đã không đạt được sự thỏa thuận trong một số vấn đề (đặc biệt là việc xác định chiều rộng lãnh hải), một số quốc gia không thấy thỏa mãn với các điều khoản khác nhau trong các Công ước trên, quy định chưa đầy đủ, và còn nhiều mâu thuẫn, số quốc gia thành viên tham gia ít và phần lớn các quốc gia vừa giành được độc lập dân tộc thì chưa được tham gia, cộng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật đòi hỏi có sự sửa đổi, bổ sung cho các Công ước nêu trên

Hội nghị lần thứ hai của Liên Hiệp Quốc về luật biển, được tổ chức vào ngày 17/3/1960 tại Geneva, nhưng do những bất đồng và mâu thuẫn giữa các quốc gia tham gia, nên hội nghị kết thúc mà không có sự thỏa thuận nào (vấn đề xác định chiều rộng lãnh hải vẩn chưa được thống nhất)

Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về luật biển sau năm năm trù bị (1967 - 1972) , và chín lần đàm phán thương lượng (1973 – 1982) với 144 quốc gia và 08 (tám) cơ quan đại diện đặc biệt tham gia đã thông qua Công ước mới về luật biển Văn bản cuối cùng đã được thông qua vào ngày 10/12/1982 tại Mongtego-Bay, Giamaica với 320 điều khoản, 17 phần và 9 phụ

Trang 15

lục

Công ước 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994, chỉ có một nước phương tây phê chuẩn, và đến nam 1995 có thêm 13 quốc gia gửi thư phê chuẩn hoặc kế thừa Công ước, nâng tổng số thành viên tham gia lên 81 quốc gia thành viên

Theo điều 311 của Công ước thì đối với các quốc gia thành viên, Công ước này sẻ có giá trị hơn bốn Công ước năm 1958 Hầu hết các điều khoản của bốn Công ước được lập lại, sửa đổi hoặc được thay thế bởi Công ước 1982

Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển 1982, là văn kiện tổng hợp toàn diện, đề cập tới tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế khoa học, kỹ thuật, môi trường…nó phản ánh một sự nhất trí rộng rãi về hầu hết các vấn đề liên quan đến biển, và nhằm mục đích xác lập một trật tự pháp lý để điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong quá trình khai thác, sử dụng

và bảo vệ biển và đại dương

Đến nay, Công ước đã có 158 nước phê chuẩn và Hiệp định 1994 thay đổi nội dung phần XI của Công ước đã có hiệu lực vào ngày 28/7/1995 và trở thành bộ phận hữu cơ của Công ước Luật biển ra đời phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai nguyên tắc lớn: tự do biển cả và chủ quyền quốc gia Tồn tại hai học thuyết trái ngược nhau về bản chất pháp lý của luật biển: resnullius và res commuunis3

• Resnullius có nghĩa là biển cả vô chủ, cho phép quốc gia ven biển được toàn quyền hành động thiết lập chủ quyền quốc gia

• Res commuunis ngụ ý biển cả là của chung, các quốc gia bình đẳng trong việc sử dụng biển

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay cả hai học thuyết này đều không được dùng đến đầy đủ, việc xác định biên giới trên biển còn nhiều vướng mắc

Luật biển là một ngành luật của hệ thống pháp luật quốc tế Vì vậy ngành luật này có đầy đủ đối tượng điều chỉnh, tính chất cưỡng chế, chủ thể hoàn toàn tương đồng với các đặc điểm của luật quốc tế nói chung Nó cũng tuân thủ và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản đã được thừa nhận chung trong luật quốc tế hiện đại Ngoài ra, vì là một ngành luật độc lập, luật biển quốc tế cũng có phạm vi điều chỉnh và những nét đặc thù riêng của mình

Trật tự pháp lý biển được xác định trên các vùng biển có vị trí, tính chất và phạm vi rất khác nhau Nó được xác định theo các điều kiện, tiêu chuẩn pháp lý cụ thể Nếu tính từ đất liền của quốc gia ven biển hướng ra biển cả (biển quốc tế) sẻ có các vùng biển sau đây: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng thềm lục địa

3 Xem: Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về luật biển, NXB Công an nhân dân, năm 1997

Trang 16

Căn cứ vào lịch sử Việt Nam, Luật biển Việt Nam được chia thành 4 giai đoạn: Luật biển trước khi các nước phương Tây tới (trước 1874), Luật biển dưới thời thực dân, Luật biển trong giai đoạn Việt Nam bị phân chia (1954 – 1976), Luật biển từ khi tổng tuyển cử thống nhất đất nước (từ năm 1976 trở đi)4

+ Luật biển trước khi các nước phương Tây tới (trước 1874):

Trong giai đoạn này, ngoài Trung Quốc, Việt Nam cũng đã mỡ thông thương với các nước phương Tây, với Nhật Bản và các nước khác ở Đông Nam Á, các cửa biển đã được mỡ ra ở Vân Đồn (1010 – 1788), Hội An (thế kỷ XVII – XVIII) để khuyến khích các hoạt động ngoại thương Người Việt Nam đã đi đến các quần đảo xa bờ như Trường sa, Hoàng sa, trong giai đoạn này chiều rộng và quy chế pháp lý còn chưa rỏ ràng

+ Luật biển dưới thời thực dân:

• Nghị định ngày 09 tháng năm 1926 quy định mỡ rộng việc áp dụng Luật ngày 01 tháng

3 năm 1988 cho các thuộc địa Luật này nghiêm cấm không cho người nước ngoài được vào đánh cá trong vùng nước lãnh hài của Pháp và Angiêri, giới hạn bởi đường ranh giới

3 hải lý tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất

• Nghị định ngày 22 tháng 9 năm 1936 của Bộ trưởng thuộc địa: “về phương diện đánh

cá, lãnh hải Đông Dương có chiều rộng là 20km tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất”

• Nghị định số 104/1306 ngày 13 tháng 4 năm 1948 quy định thêm vùng tiếp giáp có chiều rộng 20km tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất

+ Luật biển trong giai đoạn Việt Nam bị phân chia (1954 – 1976):

• Hiệp định Geneva ngày 21 tháng 7 năm 1954 nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đưa đến hậu quả phân chia nước Việt Nam thành hai miền theo vĩ tuyến 17: Việt Nam dân chủ Cộng hòa ở phía Bắc và Việt Nam Cộng hòa ở phía Nam Liên quan đến lãnh hài, đường phân chia là đường vuông góc với bờ biển

• Việt Nam dân chủ Cộng hòa không được tham gia vào Hội nghị lần thứ nhất năm 1958 của Liên Hiệp Quốc về Luật biển do chính sách thù địch của Mỹ

• Ngày 15 tháng 3 năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ và chiến sĩ Hải quân Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa: “ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta

có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”

• Việt Nam Cộng hòa, với tư cách là thành viên của hơn 30 tổ chức quốc tế, đã có mặt tại Hội nghị Luật biển lấn thứ nhất của Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Geneva năm 1958 Đoàn

do Giáo sư Nguyễn Quốc Định, chuyên gia nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực luật quốc tế, đứng đầu Nam Việt Nam cùng Philippine yêu cầu quyền đánh cá ưu tiên trên một phần

4 Xem: Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về luật biển, NXB Công an nhân dân, năm 1997

Trang 17

của biển cả cho các quốc gia ven biển phụ thuộc nhiều vào nghề đánh cá, nhất là các quốc gia chưa phát triển Về thềm lục địa, đoàn chủ trương chỉ lấy một tiêu chuẩn là độ sâu vì hầu hết các vùng biển tiếp giáp với vùng biển Nam Việt Nam đều nông và chỉ đạt tới độ sâu 200m ở khoảng cách 200 hải lý Các đề nghị này không được chấp nhận nên Nam Việt Nam đã không ký các Công ước Geneva năm 1958 về Luật biển

• Tuyên bố ngày 27 tháng 4 năm 1965 về các biện pháp bảo vệ lãnh hải, Nam Việt Nam chính thức thiết lập chiều rộng lãnh hải của mình là 3 hải lý

• Ngày 07 tháng 9 năm 1967, Sài Gòn đưa ra tuyên bố của Tổng thống về thẫm quyền riêng biệt và quyền kiểm soát trực tiếp của nước Cộng hòa trên phần thềm lục địa tiếp giáp với lãnh hải của Việt Nam Ngày 01 tháng 4 năm 1970, chính quyền Sài Gòn cũng thông qua Luật dầu lửa, có định nghĩa thềm lục địa Nam Việt Nam Sài Gòn đã đưa ra phân lô thềm lục địa Nam Việt Nam gồm 33 lô bằng Nghị định ngày 09 tháng 6 năm

19715

• Tới ngày 01 tháng 4 năm 1972, Nam Việt Nam mới tuyên bố một vùng đánh cá đặc quyền rộng 50 hải lý tính từ ranh giới ngoài cùng của lãnh hải

+ Luật biển từ khi tổng tuyển cử thống nhất đất nước (từ năm 1976 trở đi):

• Ngày 02 tháng 7 năm 1976, tổng tuyển cứ thống nhất đất nước

• Tuyên bố của chính phủ ngày 12 tháng 5 năm 1977 về các vùng biển Việt Nam: nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã trở thành nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á thiết lập vùng Đặc quyền kinh tế 200 hải lý

• Tháng 7 năm 1977 đoàn đại biểu Việt Nam thống nhất tham dự Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp quốc về Luật biển, gồm các Ông Phạm Giảng, Nguyễn Thương, Lê Kim Chung

• Hiến pháp của nước Việt Nam thống nhất 1980, điều 1 quy định “Nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, vùng trời, vùng biển và các hải đảo”

• Ngày 10 tháng 12 năm 1982, Việt Nam ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982

• Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982

Tranh chấp ở Biển Đông là một cuộc tranh chấp của nhiều bên, với sự tham gia của nhiều quốc gia, đối tượng của tranh chấp rất đa dạng nhưng với một phạm vi nghiên cứu tương đối thì người viết chỉ thể hiện chủ yếu là tranh chấp giữa Việt Nam – Trung Quốc về vấn đề ở Biển

5 Xem: Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về luật biển, NXB Công an nhân dân, năm 1997

Trang 18

Đông và sau đây là một vài nguyên nhân mà người viết sẻ đề cập đến

Những năm cuối của thế kỷ XX đánh dấu sự chuyển mình tiến ra biển mạnh mẽ của nhân loại Việc công ước năm 1982 của Liên hiệp quốc về Luật biển có hiệu lực ngày 16/11/1994 đã góp phần thiết lập một trật tự pháp lý trên biển, với nhiều vùng biển có quy chế pháp lý khác nhau Theo Công ước 1982 của Liên hiệp quốc về Luật biển, các quốc gia ven biển đều có danh nghĩa pháp lý quy định các vùng biển của mình như nội thủy, lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa

Khi thực hiện quyền mở rộng biển của mình trong các vùng biển hẹp (bề rộng không quá

400 hải lý), các quốc gia có bờ biển tiếp giáp hay đối diện nhau đều có một mối quan tâm chung : Phân định các vùng biển chồng lấn Trong những trường hợp như vậy, hoạt động phân định biển không phụ thuộc vào ý chí của một quốc gia mà là một hành động mang tính quốc tế, song phương hoặc đa phương, thể hiện sự phân chia, phù hợp với luật pháp quốc tế, các danh nghĩa pháp lý tương ứng của mỗi quốc gia trên các vùng biển chồng lấn

Giải quyết tốt vấn đề phân định sẽ góp phần giảm bớt xung đột, tạo môi trường ổn định và phạm vi biển rõ ràng cho phát triển, bảo vệ, quản lý, khai thác tài nguyên thiên nhiên biển Theo thống ke có tới gần 400 đường biên giới phải phân chia trên thế giới nhưng chỉ có 1/3 con

số này được giải quyết thông qua các quyết định song phương hoặc thông qua cơ quan tài phán6

Khu vực biển Đông với khoảng hơn 20 tranh chấp biên giới biển, là một trong những điểm nóng trên thế giới Vì vậy, một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu trong khu vực này, nhằm tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng Đó là một nhiệm

vụ cấp bách quan trọng hàng đầu với các tranh chấp như hiện nay về các vấn đề trên biển Đông

và người viết sẽ đề cập một số nguyên tắc phân định ở phần sau nhằm góp phần vào việc giải quyết các tranh chấp

− Nguyên tắc thỏa thuận: Thỏa thuận là một nguyên tắc cơ bản, có tính tập quán của luật quốc tế, trong giải quyết các tranh chấp quốc tế Khi hai quốc gia có bờ biển đối diện hay tiếp giáp nhau và có các danh nghĩa pháp lý chồng nhau thì họ phải có nghiã vụ đàm phán một cách thiện chí và có ý định thật sự đạt tới một kết quả nhất định Nguyên tắc này áp dụng cho tất cả các dạng phân định nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh

6 Xem: T.S Trần Văn Thắng, Th.S Lê Mai Anh, G.V Hoàng Ly Anh, G.V Đỗ Mạnh Hồng, G.V.C Nguyễn Văn Luận, T.S Nguyễn Hồng Thao, Luật quốc tế Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Giáo dục năm 2001

Trang 19

tế Nguyên tắc này được thể hiện trong Điều 12.1 của Công ước Geneva năm 1958 về lãnh hải

và vùng tiếp giáp; điều 15 của Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 (phần phân định lãnh hải); Điều 6 của Công ước Geneva năm 1958 về thềm lục địa; điều 74 và 83 của công ước Liên hiệp quốc về luật biển năm 1982 về phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh

tế Thỏa thuận của các bên về phân định biển chỉ có giá trị với bên thứ ba nếu nó tuân thủ đúng các nguyên tắc và quy định của luật pháp quốc tế Các bên được tự do thỏa thuận với điều kiện các thỏa thuận đạt được không vi phạm các nguyên tắc mệnh lệnh của luật pháp quốc tế hay làm tổn hại đến quyền lợi chính đáng của nước thứ ba

− Nguyên tắc trung tuyến hay cách đều: Trước khi có Phán quyết thềm lục địa Biển Bắc của Tòa án công lý quốc tế năm 1969, luật quốc tế về biển coi nguyên tắc trung tuyến hay cách đều là nguyên tắc ưu tiên, áp dụng chung cho phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp, thềm lục địa Theo Điều 6, khoản 1 và 2 của Công ước Geneva năm 1958 về thềm lục địa cũng quy định:

"Trong trường hợp thềm lục địa tiếp giáp với lãnh thổ của hai hay nhiều quốc gia có bờ biển đối diện (tiếp liền), việc phân định thềm lục địa giữa các quốc gia được thực hiện bằng con đường thỏa thuận giữa các quốc gia đó Trong trường hợp không có thỏa thuận và trừ khi các hoàn cảnh đặc biệt biện minh cho một giải pháp khác, việc phân định được tiến hành bởi đường trung tuyến (cách đều) mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đường co sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia"

Trong phần lớn các trường hợp phân định, phương pháp đường trung tuyến (cách đều) thể hiện tính tiện lợi, thực tiễn, công bằng hơn hẳn các phương pháp khác, nhưng phương pháp này không hẳn đem lại kết quả công bằng Trong các trường hợp hình thái bờ biển lồi lõm, có sự hiện diện của các đảo hay luồng hàng hải trong khu vực phân định, phương pháp này đưa đến những kết quả không công bằng Do đó, vấn đề ở biển Đông không thể áp dụng nguyên tắc này

để phân định vì trên thực tế phần lớn các đảo ở khu vực này thuộc chủ quyền của Việt Nam mà Trung Quốc đang tranh chấp Tuy nhiên, trong một số trường hợp nguyên tắc này vẫn đem lại một kết quả công bằng

− Nguyên tắc phân định công bằng: Điều 74.1 và Điều 83.1 của Công ước 1982 quy định :

"Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (thềm lục địa) giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng pháp luật quốc tế như đã nêu ở Điều 38 Quy chế của Tòa án công lý quốc tế để đi đến một giải pháp công bằng" Công bằng trong phân định là xem xét, cân nhắc tất cả hoàn cảnh hữu quan như : hình dạng bờ biển, đảo, luồng hàng hải, tài nguyên để tìm ra một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận Các bên có thể coi kết quả của giải pháp mang lại là công bằng chứ không phải là sự án dụng máy móc, khắt khe một loạt các quy tắc, nguyên tắc hình thức Muốn đạt được kết quả công bằng cần phải áp dụng, điều chỉnh các quy tắc và nguyên tắc công bằng của luật phân

Trang 20

định biển phù hợp với thực tế và hoàn cảnh hữu quan của khu vực phân định, trong đó các yếu

tố địa lý là trọng điểm xem xét của quá trình phân định7

− Nguyên tắc áp dụng các dàn xếp tạm thời: Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 cũng quy định : Trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận công bằng các vùng biển, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hợp tác và hiểu biết, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và để không làm phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến việc hoạch định cuối cùng (khoản 3, Điều 74 và 83)

Công ước không nói rõ " các dàn xếp tạm thời mang tính thực tiễn" là gì Trên thực tế, việc lập ra các vùng khai thác chung là một trong những dàn xếp tạm thời cho phép các quốc gia vượt qua được những tranh chấp lãnh thổ, tạo điều kiện dễ dàng cho việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong giai đoạn chuyển tiếp

Trong bối cảnh ngăn ngừa mọi việc khai thác làm phương hại đến yêu sách của các bên đồng thời lại tránh được việc lãng phí không sử dụng được tài nguyên thì việc áp dụng chế độ khai thác chung cho toàn bộ hay một phần khu vực là một giải pháp hấp dẫn và thú vị trong khi chờ đợi sự phân định cuối cùng

Lập trường của Việt Nam về vấn đề phân định biển được thể hiện rõ ràng trong tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và trong các văn kiện pháp lý khác : “Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên”

Trong thực tiễn phân định biển của mình, Việt Nam đã áp dụng sáng tạo các nguyên tắc trên của luật quốc tế để giải quyết các vấn đề trên biển với các nước láng giềng

Nhìn bên ngoài, Trung Quốc phát triển mạnh mẽ về kinh tế, tài chánh cũng như quân sự nhưng có những giới hạn mà Hoa Kỳ cũng như các cường quốc trên thế giới không để Trung Quốc đi quá và Trung Quốc cũng phải hiểu những giới hạn của mình Dù GDP Trung Quốc có đứng hàng đầu thế giới đi nữa nhưng GDP bình quân đầu người vẫn xếp thứ hạng sau 100 và

đó chính là một trở ngại về chính trị đáng quan tâm với Trung Quốc

Bởi vì, theo lời nhận xét từ nhà bình luận quân sự nổi tiếng Trung Quốc – đại tá không

7 Xem: T.S Trần Văn Thắng, Th.S Lê Mai Anh, G.V Hoàng Ly Anh, G.V Đỗ Mạnh Hồng, G.V.C Nguyễn Văn Luận, T.S Nguyễn Hồng Thao, Luật quốc tế Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Giáo dục năm 2001

Trang 21

Đới Húc mới đây nhắc lại một số sự kiện lịch sử liên quan tới GDP: năm 1840 GDP của Trung Quốc thời nhà Thanh chiếm 33% GDP toàn cầu, gấp 6 lần GDP nước Anh Thế mà Trung Quốc lại bị các cường quốc châu Âu xâu xé Quân đội triều đình nhà Thanh có hơn 1 triệu binh sĩ, thế

mà bị 4000 lính viễn chinh Anh Quốc đánh cho đại bại, tới mức phải ký Hiệp ước Nam Kinh (tháng 8-1842) nhục nhã, nhận bồi thường cho nước Anh 21 triệu đồng bạc trắng Năm 1894 dù

đã bị các nước phương Tây xâm lược nửa thế kỷ, GDP của Trung Quốc vẫn lớn gấp 9 lần GDP của Nhật Bản, thế mà trong cuộc chiến tranh Trung-Nhật Bản năm ấy (còn gọi là Chiến tranh Giáp Ngọ) Trung Quốc vẫn thua to, bị Nhật Bản chiếm mất 2 đảo Đài Loan, Bành Hồ và phải bồi thường cho Nhật 200 triệu lạng bạc Như vậy GDP lớn không có nghĩa là quốc lực lớn

Về tình hình cơ bản của Trung Quốc vẫn là một cường quốc người đông, vốn mỏng, tương đối thiếu tài nguyên, lắm người nghèo Nhiều năm qua, mặc dù gặt hái nhiều thành tựu to lớn,

có nhiều dự đoán cho rằng kinh tế Trung Quốc sắp vượt qua Nhật Bản để đứng thứ hai thế giới, tuy nhiên, đằng sau bức tranh kinh tế – xã hội của đất nước có diện tích khổng lồ này đã bộc lộ những khiếm khuyết đe dọa đến sự phát triển bền vững của chính họ

Về kinh tế, tài chính:

Về kinh tế, Trung Quốc đã lâm vào tình trạng mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng: Sau hơn 30 năm phát triển, tổng sản lượng quốc nội tăng từ 461 tỷ NDT (tương đương 309 tỷ USD) vào năm 1980 lên đến 25,731 tỷ NDT (tương đương 3,377 tỷ USD) vào năm 2007 và 33.535,3 tỷ NDT vào năm 2009 Đồng lương tối thiểu của nhân công trong các khu kỹ nghệ đã tăng lên

100 USD, có nhiều nơi 150 USD một tháng Trung Quốc đang mất dần tính cạnh tranh về lao động rẽ so với các quốc gia trong vùng như Việt Nam, Bangledesh Trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009, đã có 4 triệu công nhân mất việc năm 2008 và 5 triệu công nhân mất việc năm 20099

Ở một khía cạnh khác, Trung Quốc còn phải đối mặt với gánh nặng nợ nần của các địa phương Theo nhận định của nhóm các chuyên gia tài chính thì việc Trung Quốc kích thích nền kinh tế phát triển vung tay cho vay 1,400 tỉ USD vào năm 2009 của chính quyền các địa phương đã khiến lạm phát trở nên khó kiểm soát và tạo nên tình trạng nợ rất lớn Ngoài ra, những chính sách hỗ trợ công nghiệp đã duy trì sự tồn tại của các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả và dẫn đến hiện tượng dư thừa công sức không những gây ra lãng phí mà còn tạo sức

http://quangbinhtre.com/index.php?option=com_content&view=article&id=672:tng-sn-phm-quc-ni-gdp-ca-trung-quc-noi-9 http://www.tranhchapbiendong.com/trung-quoc-2.html

Trang 22

trong nước

Về mặt tài chính, từ những năm của thập niên 90, Trung Quốc cố giữ đồng NDT yếu so với đồng USD nhằm thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, nhờ vậy mà hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc có giá thấp nên chiếm được thị trường Và như vậy nói theo một cách dễ hiểu là khi đồng NDT tăng giá so với đồng USD, hàng hóa của Trung Quốc cũng tăng giá theo đồng tiền Ưu thế của hàng hóa của Trung Quốc là giá rẻ sẽ bị hóa giải, kéo theo sự giảm dần ưu thế kinh tế của nước này Từ năm 2003, ngoài Mỹ, các nước ở Âu Châu, Nhật, các nước ở Nam

Mỹ cũng như Quĩ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) đều áp lực, bắt Trung Quốc tăng giá đồng NDT10 Điều này mặc nhiên khiến cho hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc sẽ không còn giá rẻ như trước nữa, giảm khả năng cạnh tranh với hàng hóa của các nước Âu Mỹ Bởi vì, so về mặt chất lượng hàng hóa, hàng hóa của Trung Quốc không thể cạnh tranh với hàng hóa của các nước khác như Anh, Pháp, Mỹ

Về mặt năng lượng do sự tăng trưởng kinh tế nên mấy thập niên qua, Trung Quốc đã tiêu thụ một số năng lượng khổng lồ, theo số liệu của AIE, năm 2009, tính tương đương với dầu hoả, Trung Quốc đã tiêu thụ 2,252 tỷ tấn nhiên liệu, hơn Hoa Kỳ đến 4% Sự tập trung vào các ngành công nghiệp nặng, tiêu thụ nhiều năng lượng (chẳng hạn như thép, nhôm, và hóa chất) buộc Trung Quốc phải tìm kiếm không ngừng nghỉ các nguồn cung cấp năng lượng trong nước cũng như khắp nơi trên thế giới Điều này làm quá trình tăng trưởng thiếu tính chất bền vững

và không hài hòa với bối cảnh kinh tế toàn cầu Nguồn năng lượng trong nước không đủ cho nền kinh tế đang phát triển nên Trung Quốc phải tìm thêm nguồn năng lượng nhập cảng từ các nước ngoài Mỗi ngày Trung Quốc tiêu thụ 6.7 triệu thùng dầu, hạng nhì sau Hoa Kỳ Trong số

đó Trung Quốc đã nhập hơn 3 triệu thùng chủ yếu từ các nước như Angola, Saudi Arabia, Soudan, congo, Yemen, Equator, Venezuela, Nga Oman Như vậy nguồn năng lượng chủ yếu của Trung Quốc nhập khẩu là ở các nước Châu Phi, Nam Mỹ và trung Á

Việc nhập nguồn đã gặp nhiều khó khăn nhưng việc chuyên chở lại gây nhiều khó khăn hơn nữa, theo thống kê thì Trung Quốc chỉ có khả năng chuyên chở 15% dầu nhập cảng bằng tàu của Trung Quốc Việc vận chuyển dầu phải đi qua các hải phận do Anh, Mỹ kiểm soát (kinh đào Suez, eo biển Ormuz trên vịnh Ba Tư, eo Malacca) Khi có cuộc khủng hoảng, con đường tiếp tế dầu này dễ bị phong tỏa

Về chính trị – xã hội:

Trung Quốc ngày càng bất ổn, gần đây nhất là vụ bạo động đẫm máu ở Tân Cương vào ngày

05 tháng 7 năm 2009, làm gần 1000 người chết và bị thương tại thủ phủ khu tự trị Tân Cương cũng như cuộc bạo động ở Tây Tạng tháng 3 năm 2008 mà nguyên nhân cơ bản là các chính

10 http://www.tranhchapbiendong.com/trung-quoc-2.html

Trang 23

sách khai thác quá đáng đi kèm với phân phối bất công về tài nguyên, nguồn lực của chính quyền trung ương đối với người dân bản địa, thêm vào đó là chính sách di dân cưỡng bức người Hán, tộc người chiếm đa số, vốn lâu nay gây nhiều bất bình và xáo trộn với cộng đồng các sắc dân bản địa,càng làm thêm căng thẳng mối quan hệ giữa Trung – Thổ Những bất ổn về chính trị bên trong của Trung Quốc càng làm cho các đế quốc chú ý tới và tình hình chính trị ngày càng bất ổn hơn

Tình hình xã hội cũng gặp nhiều rối ren: Theo thống kê của Trung Quốc, song song với sự thành tựu kinh tế, hàng trăm triệu dân Trung Quốc đã thoát cảnh nghèo khổ nhưng cho đến năm

2005, vẫn có 10.8% dân Trung Quốc (140 triệu dân) sống trong cảnh nghèo khổ với lợi tức kém hơn 1 USD mỗi ngày Bên cạnh đó, với việc tăng trưởng kinh tế vượt bậc đã đến tình trạng Trung Quốc trở thành quốc gia độc hại nhất thế giới về tình trạng ô nhiễm môi trường11

Theo báo cáo năm 2007 của Ngân hàng thế giới, mỗi năm có 750,000 người Trung Quốc chết sớm do không khí và nước bị ô nhiễm Tuy nhiên, chính quyền Trung Quốc vẫn lưỡng lự không muốn công bố, do lo ngại có thể gây bất ổn xã hội, trong 30 thành phố ô nhiễm nhất thếgiới thì 20 là ở Trung Quốc, với 70% hệ thống sông hồ bị ô nhiễm và hơn 300 triệu dân không

có nước sạch để uống, sức khỏe của nhiều người dân, đặc biệt là dân nghèo, đã bị ảnh hưởng nặng nề Ngoài ra, với việc mất cân bằng về giới tính do chính sách phát triển dân số của Trung Quốc đã gây ra làn sóng khiếu nại và phản đối mạnh mẽ trong quần chúng, có khả năng làm mất ổn định xã hội12

Ngoài ra, Hoa Kỳ có rất nhiều căn cứ hải-không quân ở hải ngoại cũng như trong vùng Thái Bình Dương: các căn cứ hải-không quân tại Anh, Gaeta tại Ý (Đệ Lục Hạm Đội), Manama tại Bahrain (Đệ Ngũ Hạm Đội), Yokosuka, Sasebo, Atsugi tại Nhật Bản (Đệ Thất Hạm Đội), các căn cứ tại Hạ Uy Di, Guam tại Thái Bình Dương, căn cứ Changi ở Tân Gia Ba, căn cứ Diego

11 http://www.tranhchapbiendong.com/trung-quoc-2.html

12 http://www.tranhchapbiendong.com/trung-quoc-2.html

Trang 24

Garcia ở Ấn Độ Dương, quyền cập bến tại Đại Hàn, Đài Loan Đó là chưa kể 2 vịnh Subic của Phi Luật Tân và Cam Ranh của Việt Nam mà Hoa Kỳ cũng đang thương thuyết để có quyền cập bến Trái lại, Trung Quốc chưa có một căn cứ nào ở hải ngoại

Thực chất đó là một cuộc chạy đua vũ trang vô nghĩa của Trung Quốc Do đó, để đãm bảo vị thế của mình trên trường quốc tế, càng thúc đẩy Trung Quốc quyết liệt trong tranh việc tranh giành hai quần đảo Trường sa – Hoàng sa, một vị trí chiến lược vô củng quan trọng và đây cũng là nguyên nhân chủ yếu của Trung Quốc

Nói đến Việt Nam, thì phải nhấc đến từ thời các Vua Hùng đã có công dựng nước và cho đến ngày nay đó là sự ra đời của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Nhìn lại lịch sử của dân tộc Việt Nam, phải chịu cảnh bị đô hộ hơn 1000 năm của giặc Tàu, gần 100 năm của giặc Tây và hơn 30 năm của đế quốc Mỹ, một dân tộc phải hi sinh biết bao là xương máu để có độc lập, tự do như ngày hôm nay, một tất đất mà dân tộc Việt Nam giành lại được, đổi lại đó là sự

hi sinh của biết bao con người Việt Nam

Hơn 50 năm trước trong một chuyến thăm, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp mặt và giao nhiệm

vụ cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong Việt Nam, Người từng dặn rằng: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” Theo lời dặn đó và ngày hôm nay dân tộc Việt Nam càng cương quyết hơn trong công cuộc bảo vệ Tổ Quốc, bảo

vệ biên giới quốc gia mà vấn đề đang cấp bách hiện nay là vấn đế ở biển Đông (Trường sa và Hoàng sa) giữa Việt Nam và Trung Quốc

So về tương quan lực lượng, so về sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế, sức mạnh quốc phòng Việt Nam không thể sánh ngang được với Trung Quốc Như thế việc này nói lên một điều, Việt Nam đã làm đúng trong công cuộc bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia và Trung Quốc muốn dựa vào sức mạnh cũng như uy tín của mình để tranh chấp ở Biển Đông (Trường sa và Hoàng sa)

Trên thực tế, Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ít nhất là

từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình cho đến khi quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa bị các lực lượng vũ trang Trung Quốc đánh chiếm Cơ bản Việt Nam đã áp dụng nguyên tắc thực sự là một nguyên tắc quan trọng của luật pháp quốc tế về xác lập chủ quyền đối với các lãnh thổ vô chủ (rès nullius) từ nhiều thế kỷ vừa qua Hiện nay, nguyên tắc này đã trở thành một trong các quy phạm của luật quốc tế tập quán và đã trở thành các tiêu chuẩn để xác lập chủ quyền đối với lãnh thổ vô chủ và lãnh thổ bị

từ bỏ (rès derelicta) Việc chiếm hữu thật sự và thực hiện thật sự, liên tục và hoà bình quyền lực của Nhà nước có giá trị như một danh nghĩa chủ quyền Theo luật pháp quốc tế hiện đại, những

Trang 25

luận cứ về việc phát hiện đầu tiên, việc chiếm hữu của tư nhân, chiếm hữu bằng chinh phục bạo lực không mang lại chủ quyền đối với vùng đất đai được phát hiện hoặc bị chinh phục

Cũng như trên, người viết đã trình bày về tiềm năng của Biển Đông, về tầm quan trọng, vị trí chiến lược cực kì quan trọng của Biển Đông, nó có ảnh hưởng to lớn đến công cuộc bảo vệ Tổ Quốc, đến vận mệnh đất nước Việt Nam, cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển về chính trị, kinh tế – xã hội của Việt Nam Hơn thế nửa, từ những minh chứng lịch sử đã chứng tỏa về chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo này, do đó Việt Nam càng quyết liệt trong việc tranh chấp với Trung Quốc trong công cuộc bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và đó cũng là nguyên nhân chủ yếu của Việt Nam trong tranh chấp Việt Nam – Trung Quốc ở Biển Đông

Tranh chấp là sự bất đồng về một vấn đề thực tế, pháp luật hoặc chính sách, trong đó yêu cầu của một bên bị từ chối, phản bác bởi một bên khác13

Theo nghĩa rộng, tranh chấp quốc tế diễn ra khi có sự liên quan của chính phủ, các tổ chức quốc tế, các công ty hoặc cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau

− Căn cứ vào số lượng chủ thể: tranh chấp song phương và tranh chấp đa phương

− Căn cứ vào tính chất của vụ tranh chấp: tranh chấp có tính chất chính trị, tranh chấp có tính chất pháp lý

− Căn cứ vào đối tượng tranh chấp: tranh chấp về kinh tế, về thực hiện nghĩa vụ thành viên điều ước quốc tế hoặc tổ chức quốc tế

Nói đến Biển Đông không thể không thể không nói đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa nằm ở trung tâm Biển Đông Nói đến chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam cũng không thể không nói đến việc Việt Nam, đã từ rất lâu trong lịch sử, khám phá và liên tục thực hiện quyền chiếm hữu đối với hai quần đảo này Trong tiềm thức của người dân Việt Nam, quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa được coi là những phần đất thiêng liêng của Tổ quốc do ông cha chúng ta đã khám phá và thực thi chủ quyền từ xa xưa, mà trách nhiệm của các thế hệ người Việt Nam sau này phải quyết tâm gìn giữ và bảo vệ

Quần đảo Hoàng Sa (Paracels) gồm trên 30 đảo, đá, cồn san hô, đá ngầm và bãi cạn, cách đảo Lý Sơn của Việt Nam khoảng 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 hải

lý Diện tích toàn bộ quần đảo chiếm gần 15.000 Km2 diện tích mặt nước, trong đó diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 10 km2 và đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm, diện tích khoảng 1,5 km2

13 http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/giai-quyet-tranh-chap-quoc-te.162953.html

Trang 26

Quần đảo Trường Sa (Spratly) gồm hơn 100 hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi cát, cách Cam Ranh khoảng 248 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 595 hải lý Diện tích toàn bộ quần đảo chiếm gần 160.000 Km2 diện tích mặt nước, trong đó phần đất nổi của quần đảo cũng khoảng 10 km2, trong đó đảo Ba Bình lớn nhất, rộng khoảng 0,5 km2 Trường Sa là nơi tranh chấp của Brunei, Malaysia, Philippin, Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan

Trước một Trung Quốc đang thiếu hụt về tài nguyên, khủng hoảng về năng lượng, bất ổn về chính trị – xã hội và đang lao vào cuộc chạy đua vũ trang phi nghĩa với một Việt Nam đang đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới quốc gia thì vấn đề ở biển đông đang có ý nghĩa quan trọng về nguồn lợi về kinh tế cũng như về chính trị đặc biệt quan trọng sẽ là một thử thách với một quốc gia như Việt Nam trong công cuộc bảo vệ Tổ Quốc trước một đế quốc lớn

− Về kinh tế

+ Sinh vật biển đa dạng: Vị trí, địa lý và khí hậu đặc biệt đã tạo cho vùng biển Đông sự

đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế giới, cả về cấu trúc thành phần loài, hệ sinh thái

và nguồn gen Khác biệt về điều kiện tự nhiên từ Bắc đến Nam như sự thay đổi nhiệt độ theo vĩ tuyến, mức độ trao đổi môi trường với các vùng xung quanh, hình thái thềm lục địa… đã tạo nên những nét đặc trưng của các hệ sinh thái giữa các vùng biển ở Việt Nam Cho đến nay, trong vùng biển này đã phát hiện được khoảng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình Trong đó có khoảng 6.000 loài động vật đáy, 2.038 loài cá, trên 100 loài cá kinh tế, hơn 300 loài san hô cứng, 653 loài rong biển, 657 loài động vật phù du, 537 loài thực vật phù du, 94 loài thực vật ngập mặn, 225 loài tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài rắn biển, 12 loài thú biển và 5 loài rùa biển

Nguồn tài nguyên sinh vật biển quan trọng đã mang đến những ưu thế cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, góp một phần lợi nhuận vào tổng thu nhập của quốc gia thông qua việc khai thác nguồn sinh vật, với trữ lượng hải sản đánh bắt khoảng 3 – 3,5 triệu tấn, cơ cấu hải sản rất phong phú, có giá trị kinh tế cao có thể khai thác được hàng năm Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines

+ Khoáng sản phong phú: Biển Đông được coi là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mêkông, sông Hồng, cửa sông Châu Giang Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của

14 http://biendong.net/gioithieubiendong/khai-quat-bien-dong/155-bien-dong-nguon-song-vo-tan.html

Trang 27

toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ m3 (theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu được kiểm chứng ở biển Đông là 7 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày) Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung Việt Nam

Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho các quốc gia xung quanh đang thiếu hụt nguồn năng lượng, để khai thác nguồn tài nguyên phong phú này

Hơn thế, nó là đường hàng hải đông đúc thứ hai trên thế giới, trong khi nếu tính theo tổng lượng hàng hoá thương mại chuyển qua hàng năm, hơn 50% đi qua Eo biển Malacca, Eo Sunda, và Eo Lombok Hơn 1.6 triệu m³ (10 triệu barrel) dầu thô được chuyển qua eo biển Malacca hàng ngày, nơi thường xảy ra các vụ hải tặc, nhưng hiện đã giảm nhiều so với giữa thế

kỷ 20

Theo những nghiên cứu do Sở môi trường và các nguồn lợi tự nhiên Philippine, vùng biển này chiếm một phần ba toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới, vì vậy nó là vùng rất quan trọng đối với hệ sinh thái

Tuyến giao thông huyết mạch: Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Mỗi ngày có khoảng từ

150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên Trong khu vực Đông Nam Á có khoảng

536 cảng biển, trong đó có hai cảng vào loại lớn và hiện đại nhất thế giới là cảng Singapore và Hồng Công Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng gia tăng ở khu vực Nhiều nước ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama Khu vực biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, với 4 trong 16 con đường chiến lược của thế giới nằm trong khu vực Đông Nam Á Đặc biệt eo biển Malacca là eo biển

Trang 28

nhộn nhịp thứ hai trên thế giới15

Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua biển Đông Trung Quốc có 29/39 tuyến đường hàng hải và khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển qua biển Đông.Hiện nay sự tranh chấp đang được các bên thương lượng đàm phán vì sự hòa bình và ổn định trong khu vực để phát triển kinh tế

Tiềm năng du lịch biển: Tài nguyên du lịch biển cũng là một ưu thế đặc biệt, mở ra triển vọng khai thác tổng hợp để phát triển mạnh Các bãi biển của Việt Nam phân bố trải đều

từ Bắc vào Nam Dọc bờ biển Việt Nam có khoảng 125 bãi biển thuận lợi cho việc phát triển du lịch, với bãi thoải, nước trong xanh, khí hậu ôn hòa, và cảnh quan thiên nhiên kỳ thú Trên 30 bãi biển đã được đầu tư và khai thác Một số địa danh du lịch biển của Việt Nam đã được biết đến trên phạm vi toàn cầu như vịnh Hạ Long – hai lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, đang nằm trong danh sách đề cử kỳ quan thiên nhiên của thế giới Vịnh Nha Trang được coi là một trong những vịnh đẹp nhất hành tinh, bãi biển Đà Nẳng được tạp chí Forbes bầu chọn là một trong 6 bãi tắm quyến rũ nhất hành tinh

Theo số liệu thống kê trong vòng 10 năm trở lại đây, vùng ven biển là lãnh thổ thu hút hàng năm trên 73% số lượt khách du lịch quốc tế đến các địa phương trong lãnh thổ Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 31%/năm Năm 1997 số lượt khách du lịch quốc tế đến vùng ven biển đạt 2.127 ngàn, năm 2002 gần 5,3 triệu lượt và năm 2008 các tỉnh ven biển đón khoảng 9 triệu lượt khách quốc tế Cùng với tỉ lệ cao số lượng khách du lịch, thu nhập xã hội từ

du lịch của các địa phương ven biển luôn chiếm tỉ lệ lớn (trên 70%) trong tổng thu nhập xã hội

từ du lịch của cả nước

- Về chính trị – quân sự

Vùng biển Đông không những có vị trí quan trọng về kinh tế mà còn có vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự đối với các nước trong khu vực và trong chiến lược của các nước lớn, nó là biên giới phía Đông, là đường tiếp cận, bàn đạp tiến công, uy hiếp, phong tỏa và phá hoại nhiều mặt của các thế lực xâm lược

Lịch sử cho thấy rằng trong 14 cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù đối với Việt Nam, thì

có 10 cuộc bắt đầu từ hướng biển Ngày nay, biển Đông cùng các đảo vẫn còn diễn ra các tranh chấp phức tạp và quyết liệt về chủ quyền giữa các quốc gia, nơi tiềm ẩn những bất trắc khó lường, đang là thách thức đe dọa đến chủ quyền lãnh thổ, an ninh của nước ta trên biển và từ hướng biển

Với tình hình hiện nay, trong công cuộc chạy đua vũ trang đang diễn ra sôi nổi giữa các

15 http://www.tranhchapbiendong.com/trung-quoc-2.html

Trang 29

nước đế quốc thì biển đông là một vị trí chiến lược quan trọng, nếu Trung Quốc quản lý được khu vực này sẻ có một ý nghĩa quan trọng cho việc phát triển quân sự cũng như quốc phòng đối với Trung Quốc, trước tình hình các căn cứ quân sự của Mỹ ngày càng nhiều trong khu vực như ở Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan Đây là một vùng biển có ý nghĩa chính trị vô cùng quan trọng và chắc chắn Trung Quốc sẽ dựa vào sức mạnh của mình như hiện nay để thực hiện mưu

đồ ở biển Đông

Nhìn chung, vấn đề tranh chấp ở Biển Đông là một vấn đề nóng bỏng, đáng quan tâm, mục đích chủ yếu của tranh chấp là chủ quyền đảo và vùng biển Những trở ngại lớn nhất cho mọi giải pháp là vấn đề chủ quyền, đường đứt khúc 9 đoạn (đường chữ U, đường lưỡi bò), quy chế đảo và chủ nghĩa dân tộc

Giải quyết các trở ngại, các tranh chấp trên phải căn cứ vào luật biển cũng như các nguồn bổ trợ khác để giải quyết và thiện chí của các quốc gia

Theo Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước ký kết quốc tế giữa các quốc gia thì điều ước quốc tế được xác định là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì Điều ước quốc tế được coi là nguồn của luật quốc tế nếu nó đáp ứng được các yêu cầu: phải được ký kết đúng năng lực của các bên ký kết, phải được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện giữa các chủ thể, phải được ký kết phù hợp với quy định của pháp luật của các bên ký kết về thẩm quyền

và thủ tục ký kết, cam kết phải phù hợp về mặt hình thức, đối tượng của điều ước phải hợp pháp

Điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của Luật quốc tế trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm thiết lập những quy chế pháp lý bắt buộc gọi là những quy phạm Luật quốc tế, để

ấn định, thay đổi hoặc hủy bỏ những quyền và nghĩa vụ đối với nhau Trong quan hệ quốc tế hiện nay, điều ước quốc tế trình bày chủ yếu dưới dạng thành văn, nhưng cũng có một số điều ước quốc tế chỉ thỏa thuận bằng miệng – đó là các điều ước quân tử Tuy nhiên hiện nay các điều ước quân tử rất ít xuất hiện trong quan hệ giữa các chủ thể Luật quốc tế

Văn bản quan trọng nhất góp phần vào việc giải quyết tranh chấp của Việt Nam – Trung Quốc về vấn đề ở biển Đông là Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 Cả Việt Nam – Trung Quốc đều là thành viên của Công ước này, do đó việc tuân thủ những quy định của Công ước này là điều hiển nhiên, nhưng trên thực tế hiện nay tranh chấp về biên giới lãnh thổ, chủ quyền trên biển giữa hai quốc gia lại chưa thể giải quyết được Giải quyết tranh chấp này phụ thuộc nhiều vào ý chí của các bên trên cơ sở nhượng bộ lẫn nhau và áp dụng Công ước

Trang 30

Luật biển năm 1982 đúng theo tinh thần của nó

Đối với một vấn lớn như “tranh chấp ở biển Đông” như hiện nay thì Luật biển thật sự chưa phát huy hết đúng như tinh thần của Công ước, việc giải quyết tranh chấp còn gặp nhiều khó khăn, còn phụ thuộc nhiều vào tinh thần hợp tác của các bên, hơn thế nữa là vì biển Đông có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng , do đó ngoài việc hợp tác giải quyết tranh chấp thông qua điều ước quốc tế, theo người viết còn có thể dựa vào các tập quán quốc tế hay các nguyên tắc như nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ (còn gọi là chiếm hữu thực sự) là một tập quán quốc tế mặc

dù nó là một nguyên tắc trong Định ước Berlin ký năm 1885 giữa 13 nước châu Âu và Hoa Kỳ, sau đó đưa vào Tuyên bố Lausanne của Viện Pháp luật quốc tế năm 1888 Tuy nhiên, nguyên tắc này bị Hiệp ước Saint Germain năm 1919 huỷ bỏ Huỷ bỏ không phải vì nguyên tắc này không còn giá trị mà vì trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa

Tập quán quốc tế là quy tắc xử sự chung ban đầu, hình thành trong thực tiễn quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận rộng rãi là quy phạm có tính chất pháp lý bắt buộc Tập quán quốc tế là nguồn của Luật quốc tế khi thỏa mãn các điều kiện: tập quán này phải được áp dụng qua một thời gian dài, tập quán đó phải được thừa nhận rộng rãi như những quy phạm có tính chất pháp lý bắt buộc, tập quán đó phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế Ví dụ: Hành vi phóng tàu vũ trụ qua không phận của các nước láng giềng được cộng đồng quốc tế thừa nhận là hành vi không cần xin phép được lập đi lập lại nhiều lần

và trở thành tập quán quốc tế

Ngoài ra còn có các nguồn bổ trợ có thể áp dụng giải quyết tranh chấp Việt Nam – Trung Quốc: các nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ, các phán quyết của Tòa án quốc

tế, các tuyên bố đơn phương của quốc gia, các hội nghị

Một khi có tranh chấp quốc tế thì đương nhiên phải giải quyết tranh chấp, có thể thông qua các điều ước quốc tế hay các tập quán quốc tế để giải quyết nhưng đối với vấn đề tranh chấp ở Biển Đông như hiện nay thì không chỉ các điều ước quốc tế hay các tập quán quốc tế để giải quyết mà còn phải dựa vào các nghị quyết cũng như các phán quyết quốc tế hay các văn bản của các Hội nghị cũng như các tuyên bố đơn phương của các quốc gia Tất cả nếu có cơ sở hợp pháp và được cộng đồng quốc tế thừa nhận thì cũng đều có thể áp dụng để giải quyết tranh chấp

Để có thể hiểu rỏ hơn, tìm hiểu sâu hơn quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến các vấn

đề tranh chấp của Việt Nam – Trung Quốc ở Biển Đông thì người viết sẻ trình bày ở phần tiếp theo của đề tài

- Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế: Sự hình thành và phát triển của

Trang 31

nguyên tắc này gắn liền với sự hình thành và phát triển của nguyên tắc dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế và là hệ quả tất yếu của nguyên tắc này Trong thực tiễn quốc tế, tranh chấp luôn là một khả năng tiềm ẩn phát sinh từ các mối quan hệ giữa các quốc gia Đó là hoàn cảnh cụ thể mà trong đó các chủ thể của luật quốc tế có những quan điểm trái ngược nhau hay mâu thuẫn nhau, không thống nhất được quyền và lợi ích Nguyên tắc này thừa nhận việc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế và được đảm bảo thực hiện ghi nhận tại (Điều 279) Công ước quốc tế về luật biển năm 1982 và giải quyết tranh chấp bất kỳ lúc nào, bằng bất kỳ phương pháp gì do các bên lựa chọn (Điều 280), không ảnh hưởng đến quyền của các quốc gia thành viên Bên cạnh đó, Liên hiệp quốc cùng với bản Hiến chương của mình lần đầu tiên đã nâng vấn đề giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế thành một nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia nguyên tắc này được thực hiện theo đúng tinh thần tại Khoản 3 Điều

2 Hiến chương Liên hiệp quốc “Tất cả các Thành viên giải quyết các tranh chấp quốc tế của

họ bằng biện pháp hòa bình, theo cách không làm nguy hại đến hòa bình và an ninh quốc tế, và công lý”

− Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực: Luật quốc tế thời cổ đại người ta luôn coi chiến tranh là biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết mọi xung đột, mọi tranh chấp quốc tế Trước chiến tranh thế giới thứ hai những quy định về việc không sử dụng chiến tranh chỉ là những quan điểm, ý tưởng và chưa trở thành nguyên tắc bắt buộc chung Sự ra đời của Liên hiệp quốc với bản Hiến chương của mình được đánh giá rất cao vì mục đích gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế Tại khoản 4 điều 2 của Hiến chương này quy định rằng: “Tất cả các Thành viên từ bỏ việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc bằng cách khác trái với những Mục đích của Liên Hiệp Quốc” Theo nguyên tắc này, mặc nhiên theo tinh thần của Công ước về luật biển năm 1982 thì “đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực” sẽ bị nghiêm cấm Đồng thời khuyến khích việc giải quyết tranh chấp bằng hòa bình thông qua các cuộc gặp mặt thương lượng, trao đổi quan điểm dần dần đi đến những thỏa thuận (Điều 283), cũng như thủ tục hòa giải khi yêu cầu đã được chấp nhận và nếu các bên đồng ý sẽ được áp dụng (Điều 284), hay đưa ra trước Tòa án hoặc tùy sự lựa chọn (Điều 287) và các thủ tục khác (Điều 285) của Công ước luật biển 1982

Ngoài ra, cũng có thể áp dụng các nguyên tắc khác vào việc giải quyết tranh chấp của Việt Nam – Trung Quốc ở biển Đông được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế như:

Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia: Đây là nguyên tắc được đặt ở vị trí đầu tiên trong số các nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 2 Hiến chương Liên hiệp quốc: “Liên Hiệp Quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các Thành viên” Nguyên tắc này là xuất phát điểm của toàn bộ hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế Ngoài

Trang 32

Hiến chương Liên hiệp quốc, nguyên tắc này còn được đề cập một cách đầy đủ trong tuyên bố

về các nguyên tắc cơ bản luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia ngày 24/10/1970 và một số văn bản pháp lý khác

Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế: Hiện nay, nguyên tắc này tồn tại hầu hết trong các văn bản pháp lý quan trọng của luật quốc tế và được ghi nhận chính thức tại Điều 2, khoản 2 Hiến chương Liên hiệp quốc: “Tất cả các Thành viên đều phải thực hiện một cách có thiện ý những nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận theo Hiến chương này, nhằm đảm bảo hưởng toàn bộ các quyền và ưu đãi do tư cách thành viên mà có”

-Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác: Xuất hiện trong thời kì cách mạng tư sản, được quy định trong Hiến pháp của Nhà nước tư sản pháp Tuy nhiên, nguyên tắc này chưa được thừa nhận rộng rải là nguyên tắc chung của cộng đồng quốc tế Khi

tổ chức Liên Hiệp Quốc ra đời, Hiến chương của tổ chức này đã được cụ thể hóa nội dung của nguyên tắc tại khoản 7 Điều 2 “Không có bất kỳ điều gì trong Hiến chương này cho phép Liên Hiệp Quốc được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào, hoặc đòi hỏi các Thành viên phải đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến chương; tuy nhiên, nguyên tắc này không liên quan đến việc thi hành những biện pháp cưỡng chế nói ở Chương VII”

Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác: Ý tưởng về sự hợp tác giữa các quốc gia lần đầu tiên được thể hiện trong khoản 3 Điều 1 Hiến chương Liên hiệp quốc rằng một trong những mục đích của tổ chức là “ thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế

về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo, và trong việc khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”

Nguyên tắc dân tộc tự quyết: Nguyên tắc này được ghi nhận trong Hiến chương Liên hiệp quốc tại khoản 2 điều 1: “ Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và tiến hành những biện pháp phù hợp khác để củng cố hòa bình thế giới” và nhiều văn bản pháp lý quan trọng khác

Trang 33

Tòa án quốc tế về luật biển là cơ quan tài phán do Công ước về luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982 và được thành lập năm 1996 Vấn đề thiết lập một Tòa án quốc tế về luật biển đã xuất hiện trong các chương trình nghị sự của các cơ quan quốc tế liên quan đến luật biển năm

1969

Trong Hội nghị lần thứ ba của Liên hiệp quốc về luật biển đã xuất hiện ý tưởng thành lập một Tòa trọng tài nằm trong Cơ quan quyền lực đáy đại dương để giải quyết các tranh chấp liên quan đến Vùng đáy biển - di sản chung của loài người16 Các tranh chấp nảy sinh giữa các quốc gia, cá nhân và pháp nhân trong khi Tòa án công lý quốc tế, cơ quan tài chính của Liên hiệp quốc, chỉ có thẫm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia Ý tưởng này đã tồn tại cho đến năm 1977 và được thay thế bằng một hệ thống xử lý độc lập và song song với Tòa

án công lý quốc tế trong lĩnh vực luật biển Đề nghị này được biện minh bởi các lý do sau: Tòa án được hưởng quy chế chế quan sát viên tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và có Thỏa thuận với Liên Hiệp Quốc 1998 Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc nhận xét: “Không có một tiền lệ nào được biết đến như việc thiết lập một quy chế pháp lý quốc tế có tính chất như của Tòa án quốc tế về luật biển, một cơ quan độc lập của tổ chức mẹ” Số thành viên của Tòa án gồm 21 thẫm phán độc lập được tuyển chọn trong số các nhân vật có uy tín nhất về công bằng và liêm khiết, có năng lực chuyên môn trong lĩnh vực luật biển

Tòa án được để ngỏ cho tất cả các quốc gia thành viên Công ước 1982 cũng như cho các thực thể không phải là quốc gia thành viên trong tất cả các trường hợp liên quan đến việc quản

lý và khai thác Vùng đáy biển – di sản chung của loài người hay cho mọi tranh chấp được đưa

ra theo thỏa thuận khác giao cho Tòa án một thẫm quyền được tất cả các bên trong vụ tranh chấp chấp nhận Trong vụ Bảo tồn và khai thác bền vững trữ lượng cá kiếm vùng biển Nam Thái Bình Dương năm 2000, Tòa án đã chấp nhận yêu cầu xem xét của Cộng đồng châu Âu (EC) Trước hết các bên phải áp dụng thủ tục hòa giải bắt buộc Trường hợp vẩn không giải quyết được và theo yêu cầu của một bên, các bên có thể áp dụng thủ tục tài phán bắt buộc dẩn tới các quyết định bắt buộc Điều 287 quy định việc lựa chọn một hay nhiều biện pháp bắt buộc sau: Tòa án quốc tế về luật biển được thành lập theo đúng Phụ lục VI, Tòa án công lý quốc tế, Tòa trọng tài được thành lập theo đúng phụ lục VII, Tòa trọng tài đặc biệt được thành lập theo đúng Phụ lục VIII Quy định này thể hiện sự nhượng bộ giữa hai ý kiến trên: không hạ thấp vai trò của Tòa án Công lý quốc tế đồng thời chấp nhận sự tồn tại độc lập và song song của các cơ quan tài phán khác tong lĩnh vực luật biển Sự thành lập Tòa án quốc tế về luật biển thể hiện sự

16 Xem: TS Nguyễn Hồng Thao, Tòa án quốc tế về luật biển, nhà xuất bản tư pháp Hà Nội, năm 2006

Trang 34

chuyên môn hóa trong côn tác tài phán Tòa án công lý quốc tế là cơ quan tài phán chính của Liên Hiệp Quốc có thẫm quyền giải quyết tranh chấp rộng lớn, bao trùm các lĩnh vực trong đó

có lĩnh vực luật biển Trong lĩnh vực luật biển, Tòa án công lý đã có nhiều đóng góp mang tính nền tảng như việc xác định đường cơ sở thẳng, khái niệm thềm lục địa, các nguyên tắc phân định biển Tuy nhiên, Tòa án quốc tế về luật biển có thẫm quyền và cơ chế linh hoạt của mình

là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tài phán quốc tế và là cơ quan tài phán chính trong giải thích, áp dụng Công ước 1982

- Thành phần của Tòa án

+ Thẩm phán: Số thành viên của Tòa án quốc tế về luật biển gồm 21 Thẩm phán độc lập, được tuyển chọn trong số các nhân vật có uy tín nhất về công bằng và liêm khiết, có năng lực chuyên môn trong lĩnh vực luật biển (khoản 1 Điều 2 Quy chế của Tòa án)17

Việc lựa chọn được tiến hành trên các nguyên tắc:

 Thành phần của Tòa án phải đảm bảo có sự đại diện của các hệ thống pháp lý chủ yếu của thế giới và một sự phân chia công bằng về mặt địa lý (khoản 2 Điều 2 Quy chế Tòa án) Mỗi một nhóm theo địa lý do Đại hội đồng Liên hiệp quốc xác định phải có ít nhất

3 thành viên trong Tòa án (khoản 2 Điều 3 Quy chế Tòa án)

 Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định nhiều nhất là 2 người, các thành viên được tuyển lựa trên danh sách được đề cử Tuy nhiên, không thể có quá một thành viên Tòa án

là công dân cùng một quốc gia (khoản 1 Điều 3 Quy chế Tòa án)

 Các thành viên được bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín, là những ứng cử viên đạt được số phiếu bầu cao nhất và phải được 2/3 số quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu (khoản

1 Điều 56 Quy chế thủ tục của Hội các quốc gia thành viên Công ước quy định rỏ khái niệm “các quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu” Thẩm phán Tòa án quốc tế về luật biển được lựa chọn một lần Điều này khác với Thẩm phán Tòa án công lý quốc tế phải được cả đại hội đồng và Hội đồng bảo an bỏ phiếu lựa chọn

+ Thẩm phán ad hoc: Thẩm phán ad hoc là Thẩm phán do một hoặc hai bên tranh chấp không có Thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần cùa Tòa án đề cử Đây có thể coi là hình thức tiếp thu kinh nghiệm của hình thức Trọng tài và của Tòa án công lý quốc tế mà

lý do chủ yếu là duy trì các Thẩm phán được các bên tranh chấp lựa chọn một cách đặc biệt Các thẩm phán của Tòa án được lựa chọn không phụ thuộc vào quốc tịch Như vậy, sẻ có trường hợp một trong các bên tranh chấp có Thẩm phán mang quốc tịch nước mình trong thành phần của Tòa án Để cho các bên bình đẳng trước Tòa án, sẻ có hai khả năng: hoặc loại bỏ

17 Xem: TS Nguyễn Hồng Thao, Tòa án quốc tế về luật biển, nhà xuất bản tư pháp Hà Nội, năm 2006

Trang 35

Thẩm phán mang quốc tịch của một trong các bên tranh chấp hoặc cho phép bên kia lựa chọn một Thẩm phán ad hoc bổ sung vào thành phần của Tòa án

Khoản 1 Điều 17 Quy chế Tòa án quy định thành viên có quốc tịch của một bên nào đó trong

số các bên của một vụ tranh chấp có quyền ngồi xét xử

Theo quan điểm của người viết thì việc loại bỏ Thẩm phán mang quốc tịch của một trong các bên tranh chấp xem ra sẻ có tính khách quan cao hơn, bởi vì như vậy sẻ đảm bảo sự công bằng hơn trong hoạt động xét xử Xem ra khả năng cho phép bên kia lựa chọn một Thẩm phán ad hoc bổ sung vào thành phần của Tòa án có vẽ sẻ bình đẳng hơn, vì như vậy phán quyết có lẻ sẻ được tôn trọng hơn đồng thời thể hiện được ý chí cũng như nguyện vọng của các bên tranh chấp một khi quyền lợi củ quốc gia mình bị xâm phạm, do đó việc lựa chọn Thẩm phán ad hoc

bổ sung trong trường hợp này là rất cần thiết

Tuy vậy, tổ chức quốc tế, một pháp nhân, một thể nhân hay một doanh nghiệp nhà nước không được quyền chỉ định Thầm phán ad hoc trong trường hợp trong thành phần Tòa án có một Thẩm phán mang quốc tịch của quốc gia thành viên tổ chức quốc tế hoặc một Thẩm phán mang quốc tịch của quốc gia bảo trợ cho thể nhân, pháp nhân và doanh nghiệp nhà nước đó18 Khi một tổ chức quốc tế là một bên trong vụ việc và trong thành phần Tòa án có một Thẩm phán mang quốc tịch một quốc gia thành viên của tổ chức đó, thì bên kia có thể chỉ định một Thẩm phán ad hoc Khi trong thành phần Tòa án có từ 2 Thẩm phán trở lên mang quốc tịch các quốc gia thành viên của tổ chức quốc tế có liên quan hoặc của các quốc gia bảo trợ cho một bên, sau khi đã tham vấn ý kiến các bên, Chánh án Tòa án có thể yêu cầu một hoặc một số Thẩm phán trong số các Thẩm phán đó rút ra khỏi thành phần Tòa án

Như vậy, số lượng các Thẩm phán có thể thay đổi trong từng trường hợp cụ thể Các bên tranh chấp có thể có:

• Hai Thẩm phán mang quốc tịch của các bên tranh chấp;

• Một Thẩm phán có quốc tịch của một bên tranh chấp và một Thẩm phán ad hoc do bên kia đề cử;

• Hai Thẩm phán ad hoc do các bên đề cử;

• Không có Thẩm phán có quốc tịch của một bên tranh chấp và không có cả Thẩm phán

ad hoc

Ví dụ: Trong vụ Cá ngừ vây xanh phía Nam 1999 (Australia và New Zealand kiện Nhật Bản) do Nhật Bản có một Thẩm phán trong thành phần Tòa án và New Zealand đồng tiến cử một Thẩm phán ad hoc, hay trong vụ tàu Volga năm 2002, phía Australia cũng tiến cử một Thẩm phán ad hoc

18 Xem: TS Nguyễn Hồng Thao, Tòa án quốc tế về luật biển, nhà xuất bản tư pháp Hà Nội, năm 2006

Trang 36

Các Thẩm phán được lựa chọn này phải là những nhân vật có phẩm chất đạo đức cao, đáp ứng các yêu cầu đề ra ở nước họ để chỉ định giữ chức vụ cao nhất hoặc những luật gia có uy tín lớn trong lĩnh vực luật biển quốc tế

Quy định về Thẩm phán ad hoc không chỉ đảm bảo nguyên tắc cân bằng các hoàn cảnh mà còn tạo điều kiện cho các quốc gia tranh chấp bày tỏ quan điểm của mình trong quá trình xét

xử Các Thẩm phán ad hoc này được tham gia bình đẳng với các đổng sự của họ trong việc tham gia nghị án (khoản 6 Điều 17 Quy chế Tòa án; Điều 8 Nội quy của Tòa án)

+ Chánh án và Phó Chánh án: Nhiệm kỳ 3 năm của Chánh án và Phó Chánh án của Tòa

án tính từ ngày bắt đầu nhiệm kì mới (Điều 10 Nội quy của Tòa án) Chánh án mới được bầu sẽ chủ trì việc bầu Phó Chánh án (Điều 11 Nội quy của Tòa án) Chánh án sẽ điều khiển các buổi họp, sẽ đại diện cho Tòa án trong mối quan hệ với các quốc gia và các thực thể khác

+ Các chuyên gia khoa học kỹ thuật tham gia Tòa án: Đối với các vụ tranh chấp liên quan đến các vấn đề khoa học kỷ thuật, Tòa án có thể quyết định chọn các chuyên gia theo yêu cầu của một bên hoặc theo chủ ý của mình Điều 289 của Công ước năm 1982 thì dề nghị của một bên phải được đưa ra chậm nhất vào thời gian kết thúc thủ tục viết Tòa án sẽ chon các chuyên gia theo yêu cầu của Chánh án đưa ra sau khi tham khảo ý kiến (Điều 15 Nội quy Tòa án)

+ Thư ký Tòa án: Ban thư ký Tòa án là một cơ quan hành chính thường trực của Tòa án, vai trò của nó được khẳng định trong các Điều từ 32 đến 39 của Nội quy Tòa án Vì Tòa án là

cơ quan tài phán của một Công ước quốc tế nên tính chất của Ban thư ký cũng có tính chất đặc thù riêng Đây là cơ quan đảm trách các dịch vụ tư pháp là bên liên lạc giữa Tòa án với các quốc gia thành viên và các bên khác

- Các viện (Tòa án nhỏ) đặc biệt của Tòa án:

Ngoài Tòa gồm 21 thành viên, Tòa án quốc tế về luật biển còn lập các Viện để giải quyết các tranh chấp đặc biệt

+ Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển: Thành phần của Viện gồm 11 thành viên do Tòa án lựa chọn trong các thành viên đã được bầu của Tòa án theo đa số các thành viên đó

+ Viện rút gọn trình tự tố tụng: Mục đích thành lập Viện này nhằm thúc đẩy giải quyết các vụ việc Viện này có thể xem xét và giải quyết các vụ việc theo trình tự xét xử sơ bộ Năm

2002, trong vụ tàu Chaisiri Reefer 2 (Panama/Yemen), Panama đã đệ đơn lên viện rút gọn trình

tự tố tụng xem xét giải quyết

+ Viện đặc biệt: Theo khoản 1 Điều 15 Quy chế của Tòa án, nếu thấy cần thiết, Tòa án có thể lập ra một hay nhiều viện gồm 3 Thẩm phán hoặc nhiều hơn tùy theo sự suy xét của Tòa án

để xét xử các loại vụ kiện nhất định Tòa án cũng có thể lập ra một Viện để giải quyết một tranh

Trang 37

chấp, một vụ việc theo yêu cầu của các bên

- Các ủy ban điều hành nội bộ tổ chức Tòa án

Tòa án quyết định thành lập các Ủy ban điều hành các công việc trong nội bộ tổ chức Tòa án vào tháng 4 năm 1999 Các thành viên của Ủy ban này nhiệm kỳ là 1 năm, thành phần của các

Ủy ban này là các Thẩm phán của Tòa án quốc tế về luật biển

+ Ủy ban về ngân sách và tài chính

+ Ủy ban về nội quy và thực tiễn xét xử

+ Ủy ban về hành chính và nhân sự

+ Ủy ban về thư viện và xuất bản

+ Ủy ban chịu trách nhiệm về tòa nhà trụ sở và hệ thống điện

- Trụ sở của Tòa án quốc tế về luật biển:

Năm 1981, trong khuôn khổ Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về luật biển, chính quyền thành phố Hamburg (một cảng của Cộng hòa liên bang Đức nổi tiếng về lượng tàu thuyền quốc tế ra vào và thương mại liên quan đến biển) đưa đơn đăng kí ứng cử là nơi được Tòa án quốc tế đặt trụ sở Tháng 8 năm 1981, Hội nghị đã thông qua đề nghị của Hamburg, Điều 1 Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển quy định: “Tòa án đặt trụ sở tại thành phố tự

do và buôn bán Hamburg thuộc nước Cộng hòa liên bang Đức”

- Cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền và hoạt động của Tòa án

Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về luật biển đưc quy định trong Mục 5 Phần XI (các điều từ

186 đến 191), Phần XV – Giải quyết các tranh chấp và đặc biệt trong phụ lục VI của Công ước luật biển 1982 Phụ lục này có tên gọi là Quy chế của Tòa án, bao gồm 5 mục, 41 điều quy định

về tổ chức của Tòa án (Thẩm phán, các viện và các điều kiện để lựa chọn Thẩm phán ), thẩm quyền của Tòa án (thẩm quyền xét xử, luật áp dụng ), trình tự xét xử (việc hình thành vụ kiện, các thủ tục nói và viết ) cũng như của viện giải quyết các vấn đề liên quan đến đáy biển Điều

1 Quy chế quy định: “Tòa án quốc tế về luật biển được thành lập và hoạt động theo đúng các quy định của Công ước và Quy chế này” Như vậy, Quy chế là một trong những cơ sở chính cho việc xác định thẩm quyền cho Tòa án Việc Quy chế này là một bộ phận của Công ước luật biển năm 1982 (phụ lục VI) thể hiện rỏ tính gắn bó của Tòa án với Công ước và chính Tòa án quốc tế về luật biển chứ không phải một Tòa án nào khác là cơ quan tài phán của Công ước về luật biển năm 198219

Trong Nội quy ngày 21 tháng 9 năm 2001, Tòa án cũng sửa lại các quy định về bầu cử, tái

cử, thời hạn nhiệm kỳ, đa số phiếu cần thiết đối với Tòa án Nhiệm kỳ của Thư ký Tòa án từ 7

19 Xem: TS Nguyễn Hồng Thao, Tòa án quốc tế về luật biển, nhà xuất bản tư pháp Hà Nội, năm 2006

Trang 38

năm đã được điều chỉnh thành 5 năm cho phù hợp thực tế

Nội quy và Quy chế của Tòa án cùng với những điều khoản liên quan của Công ước về luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982 tạo thành cơ sở pháp lý cho việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Tòa án quốc tế về luật biển

- Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về luật biển

Thẩm quyền của Tòa án quốc tế về luật biển do các quốc gia thành viên thỏa thuận xác định trong Công ước, trong Quy chế và được cụ thể hóa trong Nội quy của Tòa án Về nguyên tắc, thẩm quyền của Tòa án dựa trên sự đồng ý rõ ràng của các bên tranh chấp và được xác định đúng thủ tục Trong trường hợp có sự tranh cải về vấn đề Tòa án quốc tế về luật biển có thẩm quyền hay không, thì vấn đề này sẻ do Tòa án quyết định (Điều 288 Công ước và Điều 58 Nội quy) Thẩm quyền của Tòa án về giải quyết tranh chấp sẻ bao gồm thẩm quyền xét quyền được đưa vấn đề ra Tòa án giữa các bên (thẩm quyền về thủ tục), thẩm quyền xét xử về nội dung tranh chấp được đưa ra theo đúng thủ tục và thẩm quyền xét xử ex aequo et bono (công bằng) Ngoài ra, Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển của Tòa án quốc tế về luật biển còn có h\thẩm quyền đưa ra các ý kiến tư vấn trong một số trường hợp nhất định

+ Quyền được đưa vấn đề ra Tòa án: Trong khi Tòa án quốc tế chỉ chấp nhận giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, thì Điều 20 Quy chế Tòa án quốc tế về luật biển quy định:

“1 Tòa án được để ngỏ cho các quốc gia thành viên;

2 Tòa án được để ngỏ cho các thực thể không phải là quốc gia thành viên trong tất cả các trường hợp đã được quy định rõ trong phần XI hay cho mọi tranh chấp được đưa ra theo mọi thỏa thuận khác, giao cho Tòa án một thẩm quyền được tất cả các bên tron vụ tranh chấp chấp nhận”

Như vậy, các bên được quyền đưa tranh chấp ra trước Tòa án gồm: các quốc gia thành viên, các quốc gia không thành viên, các thể nhân, pháp nhân, tổ chức quốc tế Thẩm quyền của Tòa

án được xác lập chỉ khi có sự đồng ý rõ ràng của các bên tranh chấp

Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia theo ba cách: chấp nhận thẩm quyền của Tòa án theo từng vụ việc (Điều 28 Nội quy của Tòa án), chấp nhận trước thẫm quyền của Tòa án trong các điều ước quốc tế (khoản 2 Điều 288 của Công ước), chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa án bằng một tuyên bố đơn phương

Xem ra cách giải quyết tranh chấp thứ ba “ chấp nhận trước thẩm quyền của Tòa án bằng một tuyên bố đơn phương” sẻ phù hợp hơn đối với vấn đề tranh chấp ở biển Đông giữa Việt Nam – Trung Quốc như tình hình hiện nay

Ở cách giải quyết này thì Công ước cho phép mở rộng khả năng tự lựa chọn các thủ tục bắt buộc dẩn tới các quyết định bắt buộc

Theo cơ chế này, khi tranh chấp xảy ra giữa hai quốc gia thành viên đều có tuyên bố đơn

Trang 39

phương chấp nhận trước thẫm quyền của Tòa án thì một bên có quyền đơn phương đưa vụ kiện

về vụ việc này ra trước Tòa án Trong đơn cần phải trình bày rõ vụ việc, lập luận các bên và yêu cầu Tòa án xét xử nội dung gì Trong thực tiễn hoạt động của Tòa án về luật biện như các

vụ Cá ngừ vây xanh phái nam năm 1999 (Austrailia/Nhật Bản; New Zealand/Nhật Bản) hay vụ Nhà máy năng lượng hạt nhân MOX năm 2001 (Ireland/Anh), các bên đã lựa chọn các Tòa trọng tài được thành lập dựa trên Phụ lục VII của Công ước luật biển và chỉ yêu cầu Tòa án đưa

ra các biện pháp tạm thời (bảo đảm) trong khi chờ thành lập Tòa trọng tài này

+ Thẩm quyền xét xử nội dung: (Theo Điều 21 Quy chế Tòa án)

+ Thẩm quyền xét xử ex aequo et bono (công bằng):

Thông thường các Tòa án có thẩm quyền sẽ phải lựa chọn luật áp dụng Theo khoản 1 Điều

293, Tòa án quốc tế về luật biển cũng như các Tòa án có thẩm quyền khác có nghĩa vụ áp dụng các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế không mâu thuẫn với Công ước để giải quyết các tranh chấp đưa ra Tòa án theo đúng thủ tục Tuy nhiên, quy định này không đụng chạm đến quyền hạn của Tòa án có thẩm quyền xét xử ex aequo et bono nếu các bên có thảo thuận (khoản 2 Điều 293 Công ước) Công ước đã không giải thích thế nào là

ex aequo et bono20

Quy định này giống như khoản 2 Điều 38 Quy chế Tòa án công lý quốc tế và Quy chế Pháp viện thường trực công lý quốc tế 1920

Trong thực tiễn, thẩm quyền xét xử ex aequo et bono chưa bao giờ một tài phán quốc tế nào

áp dụng Nguyễn Quốc Định, daillier và Pellet hay Charles cho rằng, với sự đồng ý của các quốc gia, ex aequo et bono có nghĩa là cơ quan tài phán hoàn toàn có thẫm quyền thoát ra khỏi các quy định của luật pháp quốc tế để xét xử trên cơ sở mà Tòa án cho là công bằng

Đối với Tòa án quốc tế về luật biển, thẩm quyền không vượt quá phạm vi giải quyết các tranh chấp liên quan đến giải thích, áp dụng Công ước 1982 với điều kiện được các quốc gia thỏa thuận Công bằng được nhắc đến trong Điều 59, Điều 74 và Điều 83 của Công ước Trong một số quy định của Công ước có trù định những trường hợp những câu hỏi mang tính chất pháp lý nhưng cần được giải quyết như khoản 3 Điều 121: “các đảo, đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa” Phải chăng, sẽ có thời điểm các bên trao cho Tòa án quốc tế về luật biển quyền xét xử ex aequo et bono đối với những câu hỏi tương tự

+ Thẩm quyền đưa ra các ý kiến tư vấn

Viện giải quyết các tranh chấp liên quan đến đáy biển có quyền đưa ra các ý kiến tư vấn theo yêu cầu của Đại hội đồng hay Hội đồng của Cơ quan quyền lực về những vấn đề pháp lý được

20 Xem: TS Nguyễn Hồng Thao, Tòa án quốc tế về luật biển, nhà xuất bản tư pháp Hà Nội, năm 2006

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w