Một quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chỉ được xác lập khi có sự tham gia cùng lúc của hai loại chủ thể hưởng quyền, có điều kiện và khả năng thực hiện các quyền chủ thể tương ứ
Trang 1LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2012 - 2013
Đề tài:
VẤN ĐỀ XÁC LẬP QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Giảng viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện:
Lớp: Luật Thương mại 1 - K35
Cần Thơ, 4/2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Bốn năm học dưới mái trường Đại học Cần Thơ đã trôi qua một cách nhanh chóng, để lại trong em nhiều kỉ niệm đẹp và những luyến tiếc về những dự định dang dỡ Kết thúc khóa học, bước sang một trang mới của cuộc đời, mỗi sinh viên chúng em giờ đây cùng có một tâm trạng vui, buồn khó tả Xa rời nơi đây, lời cảm ơn sâu sắc nhất em muốn gửi đến quý thầy cô Khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã mang đến cho em nhiều tri thức trong khoảng thời gian học tập Đặc biệt em muốn gửi lời cảm ơn đến cô Bùi Thị Mỹ Hương người đã hướng dẫn em rất nhiệt tình trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp Cuối lời, em xin chúc quý thầy, cô được nhiều sức khỏe và thành công hơn trong giảng dạy, mãi mãi là ngọn hải đăng sáng dẫn dắt nhiều thế hệ sinh viên Luật bước đi đến con đường tương lai mới
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, tháng 4 năm 2013
Dương Nguyệt Thanh
Trang 3………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Trang 4
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ XÁC LẬP QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm nuôi con nuôi và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 04
1.1.1.Khái niệm nuôi con nuôi Trang 04 1.1.2.Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 05
1.2 Mục đích, ý nghĩa, bản chất của việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 06
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 06 1.2.2.Bản chất của việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 07
1.3 Đặc trưng của quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 09
1.3.1.Đối tượng điều chỉnh Trang 09 1.3.1.1.Yếu tố chủ thể Trang 09 1.3.1.2.Yếu tố khách thể Trang 10 1.3.1.3.Sự kiện pháp lý Trang 11 1.3.1.4.Yếu tố nơi cư trú Trang 11 1.3.2.Phương pháp điều chỉnh Trang 12 1.3.2.1.Phương pháp xung đột Trang 12 1.3.2.2.Phương pháp thực chất Trang 12 1.3.3.Nguồn điều chỉnh Trang 13 1.3.3.1.Điều ước quốc tế Trang 13 1.3.3.2.Pháp luật quốc gia Trang 14 1.3.4.Nguyên tắc điều chỉnh Trang 15 1.3.4.1.Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự Trang 15 1.3.4.2.Nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự Trang 15 1.3.4.3.Nguyên tắc luật của nước có tòa án Trang 16
Trang 5
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam Trang 17
1.4.1.Thời kỳ từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959 Trang 17 1.4.2.Thời kỳ từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp 1980 Trang 18 1.4.3.Thời kỳ từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992 Trang 19 1.4.4.Thời kỳ từ Hiến pháp 1992 đến trước năm 2001 Trang 20 1.4.5.Thời kỳ từ năm 2001 đến nay Trang 21
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ XÁC LẬP QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI_ THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
2.1 Quy định chung về việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo luật hiện hành Trang 23
2.1.1 Đối tượng điều chỉnh, quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 23
2.1.1.1 Đối tượng là người được nhận làm con nuôi Trang 23 2.1.1.2 Đối tượng là người nhận nuôi con nuôi Trang 23 2.1.1.3 Quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài Trang 24 2.1.2 Điều kiện nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và các hành vi bị cấm khi nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 25
2.1.2.1 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi Trang 25 2.1.2.2 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi Trang 28 2.1.2.3 Các hành vi bị cấm khi nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 31 2.1.3 Thẩm quyền giải quyết các vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 34
2.1.3.1 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi tại Việt Nam Trang 34
2.1.3.2 Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi tại cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam Trang 41
Trang 6
2.1.3.4 Thẩm quyền cấp phép, trình tự thành lập, quyền và nghĩa vụ của
Tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam Trang 47 2.1.4 Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 50
2.1.4.1 Quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi Trang 50 2.1.4.2 Quan hệ với gia đình gốc Trang 52
2.2 Thực trạng và hướng hoàn thiện pháp luật về việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Trang 53
2.2.1 Thực trạng về việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 53
2.2.1.1 Thành tựu trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 53
2.2.1.2 Hạn chế trong việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trang 57 2.2.2 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Trang 61
KẾT LUẬN Trang 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 1 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội xảy ra phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới và được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật của các nước trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế và mục đích xã hội của mỗi quốc gia
Ở nước ta, nuôi con nuôi là một vấn đề mang tính nhân đạo, được Đảng và nhà nước quan tâm sâu sắc Trong hoàn cảnh đất nước còn phải chịu những di chứng nặng nề của chiến tranh, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, mức thu nhập của nhân dân còn thấp, nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần có mái ấm gia đình… thì vấn đề nuôi con nuôi càng trở nên cấp thiết trong đời sống xã hội
Bên cạnh ý nghĩa tạo mái ấm gia đình cho trẻ em, việc nuôi con nuôi còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng nhận con nuôi, đặc biệt là những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân…
Pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi ở nước ta được hình thành từ khá sớm và trong những năm qua đã góp phần quan trọng vào việc bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình; động viên khơi dậy tinh thần nhân đạo, nhân văn của con người Việt Nam; giữ gìn và phát huy truyền thống tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách trong nhân dân
Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập ngày nay vấn đề bảo vệ trẻ em không chỉ
là nhiệm vụ của riêng một quốc gia nào, sự hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi trẻ em ngày càng được phát triển sâu rộng Trẻ em hơn ai hết là người cần được hưởng đầy đủ nhất quyền được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục vấn
đề nuôi con nuôi cần phải được nhắc đến nhất là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Luật Nuôi con nuôi 2010 chính là cơ sở pháp lý đồng bộ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các cặp vợ chồng trong nước và người nước ngoài mong muốn có con nuôi; bảo vệ quyền và lợi ích của cha mẹ nuôi, giúp họ ổn định tư tưởng và yên tâm trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con nuôi như con đẻ Bên cạnh
đó, việc ban hành Luật Nuôi con nuôi còn thể hiện sự tôn trọng các cam kết quốc tế của nhà nước ta khi tham gia công ước quốc tế về quyền trẻ em, tôn trọng và bảo đảm các quyền trẻ em, bảo đảm việc nuôi con nuôi được tiến hành trên nguyên tắc nhân đạo, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em
Để tìm hiểu kỹ hơn vấn đề nuôi con nuôi, đặc biệt là việc xác lập nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài kể từ khi có Luật Nuôi con nuôi 2010 ra đời, qua đó có thể so sánh, phân tích và thấy được những điểm mới, tính ưu việt của đạo luật này;
Trang 8GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 2 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
đồng thời đề ra những cơ chế đảm bảo và biện pháp đưa pháp luật nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng vào đời sống xã hội, vì vậy
người viết đã chọn đề tài “Vấn đề xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước
ngoài” làm đề tài luận văn cho mình
2 Phạm vi nghiên cứu
Nuôi con nuôi là vấn đề rộng lớn, nhạy cảm và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong quan hệ dân sự và hôn nhân gia đình Trong điều kiện hạn hẹp về thời gian cũng như giới hạn của đề tài nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu ở phương diện pháp lý của việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài,
từ đó đưa ra thực trạng cần phải giải quyết hiện nay trong vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Chương 1, người viết tập trung vào các vấn đề về khái niệm nuôi con nuôi, xác lập, bản chất, đặc trưng của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đồng thời xem xét phương pháp và nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ này dựa trên những nguồn pháp luật điều chỉnh cụ thể, lịch sử phát triển qua các giai đoạn
Chương 2, người viết phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Từ đó, thông qua những thành tựu, đồng thời đúc kết những tồn tại và hạn chế trong quá trình thi hành và áp dụng pháp luật, đưa ra hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành trong công tác thực hiện việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên thực tiễn
Với đề tài này, người viết dựa trên cơ sở những tài liệu, những điều ước quốc tế, quy định pháp luật được áp dụng ở một số quốc gia trên thế giới và văn bản pháp luật nước nhà
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài: “Vấn đề xác lập quan hệ nuôi con nuôi
có yếu tố nước ngoài”, giúp ta hiểu thêm quy định của pháp luật quốc gia và pháp
luật các nước, những điều ước quốc tế về vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, cũng như những vấn đề còn hạn chế của pháp luật hiện hành về vấn đề này
Từ đó đưa ra quan điểm của người viết, góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật nước nhà việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Và hiểu thêm về bản chất, ý nghĩa, vai trò của nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài để một lần nữa nhấn mạnh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đối sự ổn định, phát triển của gia đình tạo nền tảng cho sự phát triển xã hội
Trang 9GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 3 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đề giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài, người viết thể hiện một
số phương pháp: phân tích, tổng hợp, liệt kê, so sánh…cho bài luận văn của mình
Từ đó, làm rõ hơn quy định của pháp luật quốc gia về vấn đề nuôi con nuôi có yếu
Trang 10GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 4 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC XÁC LẬP NUÔI CON
NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm nuôi con nuôi, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm nuôi con nuôi
Nuôi con nuôi là một chế định quan trọng trong pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng và trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung bởi nó điều chỉnh mối quan hệ gắn bó giữa cha mẹ con trong gia đình “Quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi được thiết lập không qua con đường sinh sản mà theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thầm quyền”.1
Từ đó, việc nuôi con nuôi phải thể hiện được sự trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em, đặc biệt là đối với trẻ em mồ côi, bị tàn tật, bị cha mẹ bỏ rơi
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng cho rằng: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”, cho nên việc nuôi con nuôi, trước hết phải xuất phát từ mục đích quan trọng là vì lợi ích của người được nhận làm con nuôi Nhằm mang lại cho đứa trẻ được nhận làm con nuôi một mái ấm gia đình, được yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc và hơn hết người được nhận làm con nuôi phải được giáo dục tốt
để mai này trở thành một người có ích cho xã hội, làm giàu thêm cho đất nước Bên cạnh đó, việc nuôi con nuôi cũng xuất phát từ nhu cầu tình cảm thực sự của người nhận nuôi, nhằm thiết lập quan hệ tình cảm gắn bó giữa cha, mẹ và con cái trong gia đình chung
Theo Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định rất cụ thể về vấn đề này : “ Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội”
Kế thừa quy định trên về nuôi con nuôi trong Luật hôn nhân và gia đình, Luật Nuôi con nuôi 2010 đã đưa ra khái niệm của việc nuôi con nuôi như sau:
“Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi với người được nhận làm con nuôi”.2 Khái niệm này, cho thấy nuôi con nuôi là một quan hệ pháp luật đặc biệt vì nó có tính chất xác lập mối quan hệ cha, mẹ, con bằng
Trang 11GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 5 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
sự ghi nhận về mặt pháp lý Sự ghi nhận của pháp luật là điều kiện quan trọng cho việc xác lập mối quan hệ cha, mẹ, con
Cùng với mục đích xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững,thì việc nuôi con nuôi phải bảo đảm vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình
1.1.2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một vấn đề hiện được nhiều nước trên thế giới quan tâm Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thực sự đã trở thành vấn đề nhân đạo mang tính toàn cầu và đã được thể chế hoá trong pháp luật quốc tế và pháp luật trong nước
Ở Việt Nam, “nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” là một thuật ngữ của chuyên ngành tư pháp quốc tế Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong nhóm quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài, được điều chỉnh trong hệ thống pháp luật về quan hệ dân sự theo nghĩa rộng
Tại Khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 khái niệm: “Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công nhân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài ” Qua khái niệm đã nêu lên việc xác lập quan hệ cha mẹ con bằng con đường nuôi dưỡng để phân biệt với hình thức cha mẹ con trên cơ sở huyết thống Nếu như quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ là quan hệ gia đình huyết thống được hình thành từ việc sinh đẻ thì quan hệ cha mẹ con nuôi là quan hệ nhân tạo được xác lập về mặt pháp lý Một quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chỉ được xác lập khi có sự tham gia cùng lúc của hai loại chủ thể hưởng quyền, có điều kiện và khả năng thực hiện các quyền chủ thể tương ứng “chủ thể nhận con nuôi” và “chủ thể được nhận làm con nuôi”.3
Về nguyên tắc, người xin nhận con nuôi phải thường trú ở những nước là thành viên của điều ước quốc tế hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam và đáp ứng
đủ các điều kiện nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010 Điều đáng lưu ý
là trẻ em Việt Nam chỉ được giải quyết cho làm con nuôi người nước ngoài khi đã thực hiện các biện pháp tìm gia đình thay thế nhưng vẫn không được nhận làm con nuôi trong nước, nghĩa là pháp luật hiện hành của Việt Nam vẫn ưu tiên tìm mái ấm trong nước cho trẻ em
3 Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr38
Trang 12GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 6 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
1.2 Mục đích, ý nghĩa, bản chất của việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
“Sống trong cuộc sống cần có một tấm lòng” là lời một bài hát, mang ý nghĩa sâu sắc về tình người và mối quan hệ của con người trong cuộc sống Sống cần có tấm lòng để tha thứ bao dung cho những ai lầm lỗi cũng như dang rộng tay mình che chở cho những trẻ em không may mắn tìm lại được hạnh phúc trong gia đình Ở Việt Nam có hàng nghàn trẻ em rơi vào hoàn cảnh cơ nhở, trẻ em mồ côi, bị cha mẹ
bỏ rơi, bị di chứng, bệnh tật chưa được sự quan tâm của cộng đồng, trẻ em cần có một mái ấm tình thương để được bảo bọc, che chở nhằm vượt qua khó khăn, gian khổ này Bởi thế, việc nhận nuôi con nuôi nói riêng và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói chung là một việc làm vô cùng cao cả, việc làm đó đem lại tình yêu, sự hạnh phúc, một tương lai mới, một cuộc đời mới cho trẻ em lang thang Việt Nam Thực tế cho thấy, nếu không có chính sách hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, nhiều trẻ em Việt Nam không có điều kiện được quan tâm, chăm sóc để phát triển toàn diện Trẻ em được tiếp xúc với môi trường văn hóa, ngôn ngữ mới làm phong phú thêm kiến thức của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát huy hết năng lực và tiềm năng sẳn có của mình, theo đuổi những hoài bảo ước
mơ của mình để sau này đem cái hay, cái mới nơi xứ người về quê hương phục vụ cho đất nước
Vì vậy, việc nhận nuôi con nuôi phải lâu dài, bền vững vì lợi ích của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình Các trường hợp nhận trẻ về làm con nuôi phải đảm bảo mục đích và yêu cầu trên, nếu việc nhận nuôi con nuôi không vì quyền lợi của người được nhận nuôi, làm sai lệch mục đích ý nghĩa của việc nhận con nuôi, thì việc nhận nuôi con nuôi đó sẽ không được công nhận
Việc xác định mục đích của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một việc làm khó khăn, khó kiểm soát, đây cũng là một nguyên tắc cơ bản để thiết lập quan hệ cha mẹ con nuôi của nhiều nước trên thế giới, chẳng hạn: “ Mục đích của việc nhận con nuôi là phải nhằm thiết lập quan hệ cha mẹ và con cái giữa người nuôi và người được nhận nuôi, đảm bảo vì sự hạnh phúc của người nuôi”.4
Việc nuôi con nuôi phải xuất phát từ mục đích lợi ích của người được nhận nuôi sẽ được pháp luật bảo hộ và mang một ý nghĩa nhân văn, tình người sâu sắc Sự quan tâm của toàn xã hội Việt Nam trước những mãnh đời bất hạnh của trẻ em là vô cùng cần
4 Điều 2 Luật nuôi con nuôi của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1999
Trang 13GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 7 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
thiết Vì vậy việc mở rộng tăng cường hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày càng có ý nghĩa thiết thực
1.2.2 Bản chất của việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Bản chất xã hội
Nuôi con nuôi là một hoạt động nhân dạo sâu sắc, trong đó vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thể hiện mối quan tâm rộng rãi đối với những con người bất hạnh, việc làm này không chỉ bó hẹp trong phạm vi một nước mà lang ra toàn thế giới Thể hiện sự quan tâm của cộng đồng người trong phạm vi quốc tế về vấn
đề mái ấm gia đình cho trẻ em ngày mai Bản chất xã hội cao nhất của vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là tin thần hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong sự phát triển cũng như chia sẻ, giúp đỡ các vấn đề về bảo vệ quyền lợi trẻ em phù hợp với các quy định quốc tế Từ đó, tạo ra nhiều khả năng mang lại cơ hội phát triển cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Mặt khác, nhận nuôi con còn thúc đẩy và nhân rộng mối quan hệ giữa các nước đưa đến những cơ hội hợp tác đa dạng trong bảo vệ quyền lợi trẻ em
Ngoài ra, vấn đề nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn thể hiện ở mục đích mang lại nhiều cơ hội cho những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở những nước nghèo, được sự quan tâm và chăm sóc của cộng đồng xã hội Đem lại hạnh phúc, tương lai, bảo vệ quyền lợi cho trẻ là việc làm phù hợp với đạo lý xã hội và
xu hướng của thời đại Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đã phần nào làm kết chặt mối quan hệ pháp lý giữa các quốc gia Gắn kết mối quan hệ có tính chất thiêng liêng trong gia đình giữa cha, mẹ
và con, xóa dần khoảng cách phân biệt giai cấp, chủng tộc, màu da mở rộng tình người và thiết lập mối quan hệ cha, mẹ và con giữa công dân các nước Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thể hiện ý chí chung của tất cả các quốc gia trên thế giới trong việc hướng đến sự phát triển toàn diện của trẻ em phù hợp với các điều ước quốc tế Sự quan tâm này xuất phát từ mục đích nhân đạo của cộng đồng
xã hội bản chất xã hội của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có giá trị đích thực khi nó xuất phát từ mục đích nhân đạo vì quyền lợi chung của trẻ em
Bản chất pháp lý
Bản chất pháp lý của việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trước hết
là sự ghi nhận về các quan hệ phát sinh giữa cha, mẹ và con trước cơ quan có thẩm quyền hay nói cách khác là sự ghi nhận của pháp luật về ý chí của các chủ thể phát sinh trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Cơ quan có thẩm quyền chỉ
có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi các bên đương sự thể hiện rõ ràng ý chí của
Trang 14GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 8 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
mình đồng thời đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần thiết của việc nuôi con nuôi Nói cách khác cơ quan nhà nước có thẩm quyền chỉ có thể công nhận việc nuôi con nuôi khi các sự kiện cấu thành đã hội tụ đầy đủ và được liên kết lại với nhau tại thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật về nuôi con nuôi
Việc nhận nuôi con nuôi có bản chất pháp lý là sự thể hiện ý chí của các bên trong việc xác lập quan hệ cha, mẹ nuôi – con nuôi, là sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ của người được nhận làm con nuôi Việc cho con mình làm con nuôi người khác thường là việc làm bất đắc dĩ trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định Do đó, cha mẹ đẻ luôn cân nhắc, suy nghĩ kĩ trước khi quyết định cho con mình làm con nuôi với mong muốn đứa trẻ sẽ có môi trường, điều kiện sống tốt hơn, khi bản thân họ không thể có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cho trẻ Việc cho con làm con nuôi phải xuất phát từ sự tự nguyện thật sự của cha mẹ đẻ trên cơ sở lợi ích của đứa trẻ Sự tự nguyện thật sự là sự tự nguyện được hình thành trên cơ sở nhận thức được đầy đủ ý nghĩa và hậu quả pháp lí của việc cho con làm con nuôi, phù hợp với mong muốn và tình cảm của cha mẹ đẻ, phù hợp với lợi ích của người con nuôi Mọi sự đồng ý cho con làm con nuôi vì mục đích trục lợi đều không phù hợp với bản chất của việc nuôi con nuôi và không phải tự nguyện thật sự Ngược lại, mọi sự tác động, dụ dỗ, lừa dối, cưỡng ép… để có được
sự đồng ý của cha mẹ đẻ trong việc cho con mình làm con nuôi cũng đều không hợp pháp và về nguyên tắc không có giá trị pháp lí Sự đồng ý cho con mình làm con nuôi người khác phải xuất phát từ tự nguyện và ý chí độc lập của cha mẹ đẻ
Đứa trẻ có quyền quyết định một cách độc lập có đồng ý làm con nuôi người khác hay không trên cơ sở tự nguyện thật sự, phù hợp với nhận thức, tình cảm của đứa trẻ đối với việc được nhận làm con nuôi Do đó, bản chất của việc nhận nuôi con nuôi nói riêng và việc nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói chung phải thể hiện ý chí của người được nhận làm con nuôi Chỉ trên cơ sở đó thì sự đồng ý của đứa trẻ mới có giá trị pháp lí vì nó minh bạch, rõ ràng Sự đồng ý của đứa trẻ có được do dụ dỗ, mua chuộc hay bị lừa dối, cưỡng ép, khống chế… dù từ bất cứ ai đều làm cho việc nuôi con nuôi không có giá trị pháp lí Vì vậy, sự đồng ý của bản thân người được nhận làm con nuôi được coi là hành vi pháp lí đơn phương, phát sinh một cách độc lập, vào bất cứ thời điểm nào mà không phụ thuộc vào ý chí của cha mẹ đẻ, người giám hộ
Bởi quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một nhóm trong mối quan
hệ dân sự theo nghĩa rộng nên hệ thống pháp luật và bản chât pháp lý của vấn đề này chịu sự điều chỉnh của ngành luật tư pháp quốc tế Từ đó cho thấy các hiện tượng về xung đột pháp luật, xung đột về thẩm quyền xét xử, các vấn đề áp dụng
Trang 15GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 9 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
pháp luật giải quyết sẽ được giải quyết theo các nguyên tắc cơ bản của luật tư pháp quốc tế Sự điều chỉnh này có tác dụng quan trọng trong việc đưa vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài vào khuôn khổ của hệ thống pháp luật quốc tế về các nguyên tắc, phương pháp giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục quốc tế Và theo đó bảo đảm bình đằng quyền giữa các quốc gia về quyền lợi của chủ thể tham gia quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trên các nguyên tắc giải quyết của các quốc gia với nhau
1.3 Đặc trưng của quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.3.1 Đối tượng điều chỉnh
1.3.1.1 Yếu tố chủ thể
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một nhóm trong quan hệ pháp luật dân
sự có yếu tố nước ngoài, vậy nên yếu tố chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài cũng chính là yếu tố chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng hay quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài
Yếu tố chủ thể của pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài là đối tượng quan trọng trong tư pháp quốc tế, khi xem xét vấn đề chủ thể thông thường các quốc gia trên thế giới điều dựa vào các vấn đề như: Quốc tịch nơi cư trú của đương sự năng lực hành vi dân sự của đương sự … Pháp luật Việt Nam về vấn đề chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng được xác định dựa trên những dấu hiệu sau:
- Dấu hiệu quốc tịch, “Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài” trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có các chủ thể là người Việt Nam và chủ thể là người nước ngoài do đó các chủ thể có quốc tịch khác nhau
Vấn đề đặt ra theo dấu hiệu quốc tịch là việc phải xác định quốc tịch của một
cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì về nguyên tắc việc xác định một người là công dân của một nước thì phải dựa trên căn cứ quốc tịch nơi mà người đó được hưởng Tức là nơi mà người đó chịu sự điều chỉnh của pháp luật và phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với pháp luật của quốc gia đó Việc xác định quốc tịch của một cá nhân trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đòi hỏi các bên tham gia phải có năng lực chủ thể nhất định theo quy định của pháp luật tức là có năng lực pháp luật và năng lực hành vi đây là hai thuộc tính pháp lý bắt buộc khôn thể thiếu khi chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật
- Dấu hiệu nơi cư trú, “Giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam” dấu hiệu này phát sinh quan hệ nuôi con nuôi giữa hai người có quốc tịch nước ngoài không đồng thời có quốc tịch Việt Nam; hoặc quan hệ pháp sinh giữa người nước ngoài và người không có quốc tịch thường trú trên lãnh thổ Việt Nam
Trang 16GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 10 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
hoặc giữa người không có quốc tịch với nhau thường trú trên lãnh thổ Việt Nam được xem là quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài “Giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài”, điều này làm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi giữa cả hai đồng thời đều có quốc tịch Việt Nam hoặc bên định cư ở nước ngoài mang hai quốc tịch (một quốc tịch Việt Nam, một quốc tịch của nước nơi người đó định cư) với một bên mang quốc tịch Việt Nam và đang thường trú Việt Nam
Thực tiễn, vấn đề xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ chủ thể nuôi con nuôi ở Việt Nam và các nước cũng thường phát sinh từ yếu tố cư trú của đương sự
và quốc tịch của chủ thể
1.3.1.2 Yếu tố khách thể
Những phát sinh khi xảy ra khi tranh chấp trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là những quan hệ về quyền nhân thân và quyền tài sản nó cũng chính là yếu tố khách thể trong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Đối với quyền tài sản, theo Bộ luật dân sự năm 2005 thì: “Tài sản bao gồm vật tiền giấy tờ có giá và các quyền về tài sản”.5 Pháp luật Việt Nam quy định tài sản bao gồm động sản và bất động sản.6 Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề quy định về tài sản trên thế giới có những đểm khác nhau có quốc gia loại đó được xem là tài sản nhưng cũng có quốc gia không xem là tài sản có quốc gia xem đó là bất động sản nhưng cũng có quốc gia xem đó là động sản Đây là hiện tượng thường gặp trong các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đặc biệt là vấn đề thừa kế trong quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản…Khi đó vấn đề lựa chọn áp dụng luật để giải quyết xung đột pháp luật xung đột thẩm quyền xét xử và các vấn đề có liên quan thuộc chuyên nghành tư pháp quốc tế được đề cặp đến để giải quyết Về nguyên tắc áp dụng theo hệ thuộc luật tài sản của nước có tài sản, đối với bất động sản theo hệ thuộc luật quốc tịch luật cư trú đối với tài sản là bất động sản
- Quyền nhân thân: Trong pháp luật Việt Nam và các nước trên thế giới quyền nhân thân phát sinh trong quan hệ nuôi có yếu tố nước ngoài được giải quyết theo nguyên tắc luật nhân thân của đương sự Theo quy định của pháp luật Việt Nam tùy theo quan hệ cụ thể mà pháp luật Việt Nam cho phép áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch hay luật cư trú của chủ thể để giải quyết Vấn đề lựa chọn luật áp dụng để điều chỉnh xung đột pháp luật về quyền của nhân thân giữa các thành viên trong gia đình
5 Điều 163 Bộ Luật dân sự 2005
6 Điều 174 Bộ Luật dân sự 2005
Trang 17GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 11 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
có yếu tố nước ngoài liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài xuất phát từ thực tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình
Sự kiện pháp lý làm thay đổi quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là những sự kiện làm thay đổi quyền và nghĩa vụ được xác lập trước đó giữa các chủ thể trong quan hệ này Sự kiện này có thể xảy ra do ý chí của hai bên chủ thể hay do
ý chí của một bên hoặc của bên thứ ba theo quy định của pháp luật
Sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là
sự kiện xảy ra làm chấm dứt mối quan hệ đã được xác lập Trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài sự kiện pháp lý làm chấm dứt mối quan hệ là sự kiện làm chấm dứt mối quan hệ cha mẹ nuôi-con nuôi
1.3.1.4 Yếu tố nơi cư trú
Khoảng 01 Điều 52 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định “Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống” Việc xác định nơi cư trú rất quan trọng trong mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nhằm mục đích giải quyết trong vấn đề phát sinh trong quan hệ như việc lựa chọn áp dụng luật các quy định về quyền nghĩa vụ liên quan đến nơi cư trú của đương sự
Trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài yếu tố nơi cư trú được pháp luật quy định như:
Yếu tố nơi cư trú của chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam bao gồm: giữa công dân Viêt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài
- Người nước ngoài cư trú trên ngoài lãnh thổ Việt Nam: Quan hệ giữa các chủ thể gồm: Giữa người nước ngoài với nhau thường trú trên lãnh thổ Việt Nam; Giữa người nước ngoài với người Việt Nam định cư trên lãnh thổ Việt Nam Đây là chủ thể phát sinh ngày càng tăng theo chiều hướng hội nhập và mở rộng quan hệ kinh tế của đất nước ta trong đó vấn đề hôn nhân và gia đình ngày một gia tăng đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trang 18GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 12 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
- Người Việt Nam cư trú ở nước ngoài: Chủ thể ở đây gồm: Giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với công dân Việt Nam định cư trên lãnh thổ Việt Nam; Giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau Các chủ thể ở đây chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Việc xác định dấu hiệu yếu tố nơi cư trú trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó đặc biệt là quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là nền tảng
cơ sở cho việc thiết lập và áp dụng luật trong vấn đề giải quyết phát sinh trong quan
và nghĩa vụ của các bên
Khoảng 04 Điều 759 Bộ Luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định : “Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Khoảng 01 Điều 29 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nơi người đó thường trú và quy định tại Điều
14 của Luật này” Như vậy, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong phương pháp xung đột được pháp luật điều chỉnh trước hết là từ nguồn pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và gia nhập cụ thể là trong những hiệp định về nuôi con nuôi mà Việt Nam đã ký kết với các quốc gia trên thế giới
1.3.2.2 Phương pháp thực chất
Đây là phương pháp dụng các quy phạm pháp luật thực chất nhằm giải quyết nội dung của quan hệ pháp luật (quyền và nghĩa vụ của các bên) theo một hệ thống pháp luật nhất định Phương pháp điều chỉnh này còn gọi là phương pháp điều
Trang 19GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 13 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
chỉnh trực tiếp dựa vào các quy phạm pháp luật thực chất giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong từng pháp luật của từng quốc gia trên thế giới quy định rõ quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể trong quan hệ này dưới dạng định
ra các quy phạm thực chất thống nhất
Các quy phạm thực chất điều chỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế về cơ bản được các quốc gia thỏa thuận xây dựng nên qua các điều ước quốc tế hoặc qua việc thừa nhận các tập quán quốc tế theo quy ước các quy phạm này gọi là các quy phạm thực chất thống nhất
Quy phạm xung đột được áp dụng trong hai trường hợp:
Thứ nhất, áp dụng một cách trực tiếp vào quan hệ pháp luật nhất định
Ví dụ: Theo Khoản 2 Điều 100 Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam quy định:
“Trong quan hệ hôn nhân gia đình với công dân Việt Nam người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam” Điều này
có nghĩa là người nước ngoài trong quan hệ hôn nhân gia đình sẽ cũng được áp dụng tương tự như các quyền và nghĩa vụ mà công dân Việt Nam được hưởng
Thứ hai, là khi có vi phạm xung đột dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật
của một nước mà thông thường áp dụng chủ yếu là các quy phạm xung đột thực chất của quốc gia đó trừ trường hợp việc dẫn chiếu từ quy phạm xung đột đến một quy phạm xung đột quy định dẫn chiếu đến một nước thứ ba
Ví dụ: Trẻ em được nhận là con nuôi phải đáp ứng điều kiện theo quy định của Nước gốc và một số điều kiện khác theo quy định tại Hiệp định.7 Như vậy, trong trường hợp người nước Đan Mạch nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi nếu áp dụng quy phạm xung đột này dẫn chiếu đến pháp luật của Việt Nam về điều kiện của trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi, sẽ được áp dụng với các quy định cụ thể Đây được xem là trường hợp quy phạm xung đột dẫn chiếu đến việc áp dụng quy phạm thực chất
1.3.3 Nguồn điều chỉnh
1.3.3.1 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế, với một định nghĩa tương đối thống nhất, được hiểu là
“một hiệp định quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.8
Trang 20GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 14 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế thể hiện sự thỏa thuận của các chủ thể pháp luật quốc tế trước hết là các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện nhằm quy định, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết trong quan hệ quốc tế phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
Điều ước quốc tế về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là nguồn pháp luật quan trọng trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và trở thành cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quy định các nguyên tắc áp dụng pháp luật chung cho các quốc gia ký kết Do sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội, quy định riêng biệt của pháp luật từng nước nên xung đột pháp luật trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là điều không thể tránh khỏi Để khắc phục điều đó trong quá trình hợp tác và phát triển, đã có khá nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương nhằm điều chỉnh kịp thời các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế Bên cạnh đó,để điều chỉnh tốt quan hệ nuôi con nuôi giữa nước ta với các nước, Việt Nam đã ký kết một số Hiệp định song phương về nuôi con nuôi với một số nước Ngoài ra, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được điều chỉnh qua các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý, Hiệp định lãnh sự giữa nước ta với các nước Việc áp dụng điều ước quốc tế sẽ được thực hiện theo nguyên tắc được ưu tiên, theo nguyên tắc điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
1.3.3.2 Pháp luật quốc gia
Pháp luật quốc gia là một trong những nguồn pháp luật cơ bản và phồ biến được áp dụng bên cạnh các điều ước quốc tế, được xây dựng trên cơ sở các quy phạm pháp luật như : Hiến pháp, Luật, Nghị định, Thông tư để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được pháp luật quốc gia điều chỉnh quy định trong các văn bản pháp luật như: Bộ luật dân sự năm 2005; Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Luật Nuôi con nuôi năm 2010, và một số văn bản hướng dẫn chi tiết Đây là cơ sở quan trọng trong việc điều chỉnh phù hợp các vấn đề phát sinh trong quan hệ này
Hoạt động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một hoạt mang lại nhiều lợi ích thiết thực vì quyền lợi trẻ em Để hoạt động này ngày càng được tăng cường và phát triển, việc hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước cần phải được quan tâm nhằm hướng đến gia nhập các điều ước quốc tế về nuôi con nuôi là vấn đề quan trọng của Việt Nam và các quốc gia
Trang 21GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 15 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
1.3.4 Nguyên tắc điều chỉnh
1.3.4.1 Nguyên tắc luật quốc tịch của đương sự
Đây là nguyên tắc cơ bản điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó đặc biệt là quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm phân biệt cá nhân là người Việt Nam hay người nước ngoài từ đó lựa chọn áp dụng các chế độ pháp lý của pháp luật một cách phù hợp Theo nguyên tắc này thì quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài phát sinh giữa công dân nước nào thì áp dụng pháp luật của quốc gia đó điều chỉnh.9 Trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đây được xem là nguyên tắc quan trọng thường được các quốc gia trong
đó có Việt Nam áp dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến chủ thể tham gia vào qua hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trong pháp luật Việt Nam nguyên tắc luật quốc tịch được ghi nhận trong nhiều văn bản luật như: Bộ Luật dân sự 2005, Luật Hôn nhân và gia đình 2000, Luật Nuôi con nuôi 2010 và các Nghị định Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước nguyên tắc này đã trở thành nguyên tắc quan trọng như trong Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và nước Cộng hòa Pháp qui định: “Việc quyết định cho trẻ em làm con nuôi thuộc thẩm quyền cơ quan nhà nước của nước ký kết mà trẻ em đó là công dân”10 Vấn đề
áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
là vấn đề hết sức cần thiết nhằm thiết lập mối quan hệ pháp luật giữa các chủ thể xác định pháp luật áp dụng để giải quyết các vấn đề phát sinh trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài một cách khách quan và chính xác
1.3.4.2 Nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự
Luật nơi cư trú được hiểu là luật của quốc gia, mà ở đó đương sự có nơi cư trú ổn định (cư trú ổn định là nơi thường trú).11 Theo nguyên tắc này, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài sẽ được điều chỉnh theo pháp luật của nước nơi đương sự có nơi cư trú Nguyên tắc luật nơi cư trú của đương sự được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới Pháp luật Việt Nam quy định nguyên tắc này được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và được ghi nhận không chỉ trong nguồn pháp luật quốc gia mà còn trong các điều ước quốc tế giữa Việt Nam và các
Trang 22GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 16 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
nước Theo Khoản 1 Điều 29 Luật Nuôi con nuôi 2010 nguyên tắc luật nơi cư trú được áp dụng trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nơi người đó thường trú ”
Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự cũng như về vấn
đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, nguyên tắc nơi cư trú của đương sự cũng thường được áp dụng Như trong Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn
đề dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và Liên Ban Nga đã quy định: “Các vấn đề về công nhận việc nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật của Bên ký kết mà người nuôi là công dân vào thời điểm xin nhận con nuôi Nếu người nuôi là công dân của Bên ký kết này, nhưng thường trú trên lãnh thổ của Bên ký kết kia, thì
áp dụng pháp luật của Bên ký kết nơi người ấy thường trú”.12
1.3.4.3 Nguyên tắc luật của nước có tòa án
Luật tòa án được hiểu là pháp luật của nước có tòa án thẩm quyền Hiện nay trong khoa học pháp lý nói chung và Việt Nam nói riêng thì Luật tòa án thường được hiểu theo hai nghĩa.Theo nghĩa rộng gồm có luật nội dung và luật tố tụng
Theo nghĩa hẹp thường hay áp dụng trong lĩnh vực tố tụng khi xét xử các vụ
án có yếu tố nước ngoài đặc biệt là các vụ án trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài về nguyên tắc thì tòa chỉ áp dụng pháp luật của nước mình Trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới điều ghi nhận các nguyên tắc này đây là nguyên tắc áp dụng phổ biến nhất trong việc giải quyết các vấn đề tố tụng trong tư pháp quốc tế
Tuy vậy, cũng có những trường hợp ngoại lệ không áp dụng luật của tòa án là: Khi các hiệp định quốc tế và luật trong nước có quy định rằng có thể áp dụng hình thức tố tụng nước ngoài; Khi luật trong nước có quy định năng lực hành vi tố tụng của những người trong các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài hoặc có thể được xác định theo luật của tòa án hoặc có thể được xác định theo luật nhân thân
Theo pháp luật Việt Nam, áp dụng nguyên tắc luật của tòa án khi giải quyết quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền giải quyết sẽ là
Ủy ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương hoặc Ủy ban nhân dân cấp
xã, nếu ở khu vực bên giới, hoặc cơ quan đại diện ngoại giao cơ quan lãnh sự Việt Nam, thực hiện các thẩm quyền về việc đăng ký giải quyết và pháp luật áp dụng là
12 Điều 30, Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về các vấn đề dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và Liên Ban Nga, năm 1999
Trang 23GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 17 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
pháp luật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ liên quan vấn đề này Đối với việc giải quyết tranh chấp trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc này theo pháp luật Việt Nam thì tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa Án nhân dân cấp tỉnh hoặc tòa án nhân dân cấp huyện khu vực biên giới nơi cư trú của đương sự
Nguyên tắc luật của nước nơi có Tòa Án là một trong những nguyên tắc quan trọng được áp dụng nhiều trong các quan hệ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong đó đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài việc áp dụng nguyên tắc này đòi hỏi phải chính xác và phải tuân thủ hoàn toàn theo các quy định pháp luật của quốc gia Nguyên tắc Luật của nước có tòa án còn được áp dụng để điều chỉnh các vấn đề công nhận tại Việt Nam, các quyết định nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài Việc công nhận thực hiện theo pháp luật Việt Nam và được ghi nhận trong sổ quản lý hộ tịch của pháp luật Việt Nam
1.3.4.4 Nguyên tắc luật nơi thực hiện hành vi
Đây là nguyên tắc áp dụng khá phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trong nguyên tắc này thì hành vi được thực hiện ở nước nào thì sẽ chịu sự điều chỉnh theo pháp luật của nước thực hiện hành vi đó Nếu pháp luật của nước nơi thực hiện hành vi không có quy định điều chỉnh hành vi đó thì sẽ áp dụng điều ước quốc tế Nguyên tắc này được áp dụng khi có các quan hệ phát sinh như: xác định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi – con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi
Ví dụ, trong Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi gữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Italia: “Những hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo quy định của Hiệp định này được xác định theo pháp luật của Nước ký kết nơi hoàn tất thủ tục nuôi con nuôi”
Việc áp dụng nguyên tắc này đã mở rộng phạm vi áp dụng pháp luật Việt Nam vì xuất phát từ thực tế chủ yếu trẻ em ở Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết một cách nhanh chóng và thuận tiện
1.4 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan
hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt nam
1.4.1 Thời kỳ từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959
Đây là thời kỳ mang tính chất khai phá trong các qui định về nuôi con nuôi Tuy còn nhiều khó khăn trong công cuộc bảo vệ tổ quốc ở chặng đường phía trước nhưng trên tin thần dân tộc và ý chí kiên cường bảo vệ Tồ quổc của quân và dân ta
Trang 24GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 18 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
Hiến pháp 1946 ra đời như một mốc son lịch sử của dân tộc với nhiều qui định về bảo hộ quyền của công dân Hiến pháp đã đặt cơ sở cho việc qui định bào hộ các quyền của con người trong đó đặc biệt là vấn đề bảo vệ quyền lợi trẻ em và lĩnh vực hôn nhân gia đình Sự quan tâm đến quyền lợi của trẻ em bước đầu được chú trọng Vấn đề nuôi con nuôi bước đầu được ghi nhận trong Thông tư 30-NV/DC năm 1958 thi hành điều lệ đăng ký hộ tịch đơn giản tại vùng dân tộc ít người do Bộ Nội vụ ban hành Thông tư 87-NV/DC năm 1958 ấn định thể thức và hướng dẫn thi hành Nghị định 484-NĐ/LB về việc xét các đơn xin thay đổi họ tên do Bộ Nội Vụ ban hành và Thông tư, Nghị định 764-TTg ngày 8/5/1956 ban hành bảng Điều lệ đăng
ký Hộ tịch và Thông tư 6/NV ngày 25/5/1956 về việc thi hành Điều lệ đăng ký Hộ lịch mới Các văn bản này đã cơ bản đưa ra những nguyên tắc, điều kiện các trường hợp xác lập, chấm dứt quan hệ con nuôi cụ thể, nhưng việc nuôi con nuôi vẫn còn bị giới hạn bởi phạm vi khi đối tượng được quy định nhận nuôi con nuôi chỉ là “ Công dân Việt Nam thường trú trên lãnh thổ Việt Nam” Như vậy, trong giai đoạn này vấn đề nuôi con nuôi chỉ được thừa nhận cho người Việt Nam và trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam Vấn đề “nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” chưa được đề cập trong các qui dịnh pháp luật Tuy nhiên các qui định về vấn đề nuôi con nuôi cùng tạo ra cơ sở pháp lý khá vững chắc cho vấn đề nhận con nuôi trong giai đoạn này Hơn nữa nó là cơ sở cho các qui định về vấn đề nuôi con nuôi trong tương lai đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
1.4.2 Thời kỳ từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp 1980
Đây là thời kỳ đất nước ta vẫn đang chung sức trong công cuộc đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong giai đoạn này đã khẳng định sự phát triển của nền lập pháp nước ta trong đó các chế định về lĩnh vực hôn nhân gia đình ngày càng được quan tâm Cùng với sự ra đời cùa Hiến pháp 1959, Luật Hôn nhân gia đình
1959 ra đời càng khẳng định tính quan trọng trong việc điều chỉnh các vấn đề về hôn nhân gia đình, “Nuôi con nuôi” là một chế định được thừa nhận tại Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình 1959 Tuy nhiên, luật chưa đề cập một cách cụ thể các vấn đề về nguyên tắc và điều kiện cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc nuôi nhận con nuôi mà các qui định này chủ yếu trong các Nghị định như: Nghị định số 4/CP ngày 16/1/1961; Thông tư 05/NV ngày 21/1/1961 của Bộ Nội
Vụ hướng dẫn thi hành Điều lệ đăng ký Hộ tịch mới; Thông tư số 141/11 ngày 15/71977 hướng dẫn thực hiện công tác đăng ký hộ tịch ở các tỉnh Thành phố phía Nam, Nghị định số 04/CP ban hành Điều lệ đăng ký hộ tịch mới và bãi bỏ Điều lệ đăng ký Hộ tịch kèm theo Nghị định 764/ TTg ngày 8/5/1956 Các qui định này đã
cụ thể hoá các qui định và điều kiện nuôi con nuôi so với trước đây Hướng tiếp cận
Trang 25GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 19 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
của chế định nuôi con nuôi chỉ mới có các qui định chính thức cho việc nuôi nhận con nuôi trong nước giữa người Việt Nam với nhau Các văn bản luật và văn bản hướng dẫn chưa đề cập mội cách cụ thể về vần đề "nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài”
1.4.3 Thời kỳ từ Hiến pháp 1980 đến Hiến pháp 1992
Đây là thời kỳ đánh dấu bước phát triển về chất trong công tác làm luật ở nước
ta Hoàn cảnh đất nước giành được độc lập hoàn toàn cũng tác động nhiều đến việc phát triển về lập pháp cũng như việc ban hành các chính sách pháp luật cũng ngày càng thể hiện tính khách quan phù hợp với thực tiễn hơn Vấn đề quyền được bảo
vệ và chăm sóc trẻ em cũng ngày càng được chú trọng Điều này khẳng định Nhà nước ta bắt đầu quan tâm đến quyền lợi của trẻ đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi cũng được qui định một cách cụ thể Hiến pháp 1980 ra đời cùng với đó là Luật Hôn nhân gia đình 1986 cũng được ban hành Hai văn bản quan trọng này đã đưa đến nhừng bước tiến mới trong việc qui định chế định nuôi con nuôi ở nước ta trong thời gian này Những qui định về chế định nuôi con nuôi ngày càng mang tính cụ thể, rõ ràng với quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ Luật Hôn nhân
và gia đình 1986 đã giành hẳn Chương IV để qui định về vấn đề nuôi con nuôi Với qui định này các vấn đề nuôi con nuôi được cụ thể hóa bởi các qui định về điều kiện cũng như các qui định về thủ tục, quyền và nghĩa vụ các bên, vấn đề chấm dứt nuôi con nuôi cũng được thề hiện rõ ràng Các văn bản và Nghị định hướng dẫn vấn đề này cũng được mở rộng với các vấn đề về thừa kế trong quan hệ giữa cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ trong Nghị quyết 02/1/ HĐTP ngày 19/10/1990, Nghị quyết số 01/ HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và một số văn bản khác hướng dẫn thi hành vấn đề hôn nhân gia đình Đặc biệt trong giai đoạn này vấn đề “nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài” đã được luật điều chỉnh trong quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoải Sự ghi nhận này đã khẳng định cho sự phát triển hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài vốn đã trở nên cấp thiết Điều này hoàn hoàn phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước trong hoàn cảnh Đại hội lần IV Ban chấp hành Trung ương Đảng đã mở ra cánh cửa đường lối đối ngoại ở nước ta Quan hệ hợp tác quốc tể giữa Việt Nam với các nước ngày càng sâu rộng Lĩnh vực tư pháp quốc tế ra đời điều chỉnh các quan hệ dân sự
có yếu tố nước ngoài đã không còn xa lạ Nhận thấy vấn đề nuôi con nuôi không còn giới hạn bởi phạm vi trong nước mà tất yếu phải chịu sự điều chỉnh bởi các quan hệ hợp tác quốc tế Đảng và Nhà nước ta không ngừng chú trọng đến việc ban hành các văn bản về điều chỉnh vấn đề này như Hiến pháp 1992, Bộ Luật Dân sự
1995, Luật Hôn nhân gia đình 1986, Luật Chăm sóc và bảo vệ trẻ em 1990 và Nghị
Trang 26GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 20 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
định số 374 của Hội đồng Bộ trưởng ngày 14/1/1991 quy định chi tiết Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Pháp lệnh Hôn nhân gia đình giữa công dân Việt Nam
và người nước ngoài 1993,
Nhìn chung, ở các vấn đề còn khá mới mẽ, nhưng Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt ở cơ chế ban hành các văn bản pháp luật khá hoàn chỉnh Các văn bản
đã qui định khá chi tiết từ các vấn đề về trình tự thù tục, thẩm quyền, thời gian, quyền hạn, nhiệm vụ các cơ quan trong thụ lý và cả các vấn đê vể điều kiện cũng như trách nhiệm về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi có yểu tố nước ngoài Với các qui định tương đối phù hợp với các Công ước và Điều ước quốc tế như Công ước cùa Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em 1989, Công ước Lahaye về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong vấn đề nuôi con nuôi giữa các nước 1993, Tuyên bố của Liên Hiệp Quốc về các nguyên tăc xã hội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ em Với tinh thần hợp tác giao lưu quốc tế, vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tạo ra được mối quan tâm của Đảng và Nhả nước ta trong chính sách hướng đến bảo vệ quyền lợi trẻ em phù hợp với xu hướng chung của quốc tế
1.4.4 Thời kỳ từ Hiến pháp 1992 đến trước năm 2001
Quyền lợi trẻ em ngày càng được quan tâm vả chia sẻ làm cho số lượng trẻ
em được nhận lảm con nuôi có chiều hướng gia tăng Nhà nước cũng bắt đầu quan tâm đến việc ban hành các chính sách pháp luật phù hợp với hoàn cảnh mới Hiến pháp 1992 ra đời có hiệu lực cho đến nay là cơ sở pháp lý vững chắc cho các qui định về vấn đề nuôi con nuôi
Ngày 29/4/1992, Hội Đồng Bộ Trưởng đã ban hành Quyết định số 145/ HĐBT, tuy nó mới chỉ điều chỉnh việc người nước ngoài xin trẻ em Việt Nam làm con nuôi đang sống trong các cơ sở nuôi dưỡng do ngành Lao động thương binh -
QĐ-xã hội quản lý, song có thể thấy đây là văn bản pháp luật trong nước đầu tiên của Việt Nam cụ thể hoá việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài
Trong giai đoạn này Pháp lệnh HN & GĐ (Hôn nhân và Gia đình) giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài (1993) ra đời Sự ra đời của Pháp lệnh đánh dấu sự phát triển quan trọng của Pháp luật Việt Nam trong việc điều chỉnh quan hệ
HN & GĐ có yếu tố nước ngoài Trong giai đoạn này Quốc hội khoá X nước Cộng hoà xả hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ 7 ngày 9/6/2000 đã thông qua Luật Hôn nhân gia đình.Luật HN & GĐ năm 2000 dành một chương (Chương XI) quy định quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, việc nuôi con nuôi có yếu
Trang 27GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 21 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
tố nước ngoài được quy định cụ thể tại Điều 105, cùng với đó là hệ thống các văn bản dưới luật
1.4.5 Thời kỳ từ năm 2001 đến nay
Thời kỳ này đánh dấu bước tiến mới trong sự phát triển của đất nước cũng như các vấn đề xã hội mà luật điều chỉnh, vấn đề nuôi con nuôi đặc biệt là chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không còn mới mẽ mà nó đã trở nên phổ biến trong đời sống xã hội
Sau khi Luật Hôn nhân gia đình 2000 ra đời, hàng loạt các văn bản luật và dưới luật điều chỉnh các vấn đề dân sự cũng lần lượt được Quốc hội và Chính phủ thông qua như: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Tiếp dó là Bộ luật dân sự năm
2005 thay thế cho Bộ luật dân sự 1995 và Nghị định 158/2005/NĐ-CP có hiệu lực ngày 01/4/2006 thay thế cho Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 Các quy định này không chỉ tạo ra cơ sở pháp lý cho vấn đề nuôi con nuôi trong nước mà còn là nguồn quan trọng trong tư pháp quốc tế về điều chỉnh vẩn đề nuôi con nuôi
có yêu tố nước ngoài Mặt khác, trong giai đoạn này chúng ta đã mở rộng tăng cường quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới Điều này tác động nhiều đến các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó nổi bật là các quan hệ về hôn nhân gia đình Quyền trẻ em ngày càng được chú trọng không chỉ trên cơ sở lý luận mà
cả trên vấn đề thực thi Điều này đã tác động đến chính sách chăm sóc bảo vệ quyền lợi trẻ em Việt Nam cũng như các chính sách tác động đến quyền lợi của trẻ, vấn đề này được quan tâm nhiều hơn trong chính sách phát triển nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoải bằng việc Nhà nước ta đã tích cực gia nhập các Công ước và Điều ước quốc tế về quyền trẻ em Mặt khác, việc đẩy mạnh ký kết các Hiệp ước quốc tế đa phương và song phương giữa Việt Nam và các nước cũng được đẩy mạnh Bên cạnh việc tham gia vào lĩnh vực ký kết các thỏa ước quổc tế, chúng ta cũng ngày càng hoàn thiện các qui định về chế định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong các qui định cụ thể như: Nghị định 184/CP năm 1994 qui định thủ tục kết hôn, nhận con ngoải giá thú, nhận đở đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 Qui định chi tiết và huớng dẫn thi hành một
số điều Luật hôn nhân gia đình về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài: Thông tư số 07/2002/BTP-TT ngày 16/12/2002 Hướng dẫn thi hành mội số điều Nghị định 68/2002/ND-CP Qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật hôn nhân gia đình về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoải; Nghị định 69/2006/NĐCP sửa đổi bổ sung một sổ điều Nghị định số 68/2002/NĐ - CP Qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sồ điều Luậl hôn nhân gia đình về quan
hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nuớc ngoài; Thông tư 08/2006/TT -BTP hướng dẫn
Trang 28GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 22 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
thực hiện một số qui định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Các qui định trên đây tuy đã thể hiện sự tiến bộ so với các qui định trước đây Tuy nhiên về phần qui định vẫn còn hạn chế chưa phù hợp với các qui định của thông lệ quốc tế về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Đặc biệt trong thời gian này quốc hội nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật nuôi con nuôi năm 2010, sau đó là Nghị định 19/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi Luật nuôi con nuôi 2010 quy định nguyên tắc điều kiện nuôi con nuôi thẩm quyền trình tự thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi quyền nghĩa vụ của cha mẹ nuôi con nuôi và cha mẹ đẻ trách nhiệm của cơ quan tổ chức trong việc nuôi con nuôi
Sự ra đời của luật nuôi con nuôi đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong vấn đề bảo vệ quyền lợi của trẻ em các chính sách về nuôi con nuôi trong đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phù hợp và cụ thể hơn trong chính sách phát trển xã hội hiện nay
Trang 29GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 23 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ XÁC LẬP QUAN HỆ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI _
THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 2.1 Quy định chung về vấn đề xác lập quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo luật hiện hành
2.1.1 Đối tượng điều chỉnh, quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
2.1.1.1 Đối tượng là người được nhận làm con nuôi
Trước đây, theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định trẻ em làm con nuôi nước ngoài phải là trẻ
em Việt Nam hoặc trẻ em không có quốc tịch.13 Sau đó là Thông tư số 07/2002/BTP-TT quy định ngoại lệ công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, không hạn chế về đối tượng trẻ em như quy định tại khoản 2 Điều 36 của Nghị định 68/2002/NĐ-CP và không phụ thuộc vào việc Việt Nam và nước nơi người đó định cư đã ký kết và gia nhập điều ước quốc tế về nuôi con nuôi hay chưa
Theo Luật Nuôi con nuôi 2010 không quy định đối tượng được nhận làm con nuôi người nước ngoài phải là trẻ em có quốc tịch Việt Nam hay trẻ em không có quốc tịch Việc này đã mở rộng đối tượng trẻ em làm con nuôi nước ngoài, tạo điều kiện kiện thuận lợi hơn cho trẻ được nhận làm con nuôi
2.1.1.2 Đối tượng là người nhận nuôi con nuôi
Việc cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, không phân biệt công dân của nước nào, chỉ được giải quyết trên nguyên tắc nhân đạo, phi lợi nhuận nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất của trẻ em được cho làm con nuôi.14
Theo quy định tại Điều 28 Luật Nuôi con nuôi 2010, đối tượng được nhận con nuôi trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là người nước ngoài và người Việt Nam cụ thể trong những trường hợp sau:
- Người Việt định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng
là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi
13
+ Trẻ em sống tại các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại các tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương
+ Trẻ em đang sống ở gia đình thuộc diện bị mồ côi, bị tàn tật hoặc có quan hệ thân thích với người sinh nhận nuôi
14
Nguyễn Công Khanh , Hỏi đáp về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài , Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 2002, tr72
Trang 30GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 24 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây: Là cha dượng,
mẹ kế của người được nhận làm con nuôi; Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi; Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi; Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm
- Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi
- Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam
2.1.1.3 Quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Theo pháp luật của nhiều nước hiện nay cho thấy, trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi nước ngoài thì được hưởng các quyền và lợi ích trên cơ sở ngang quyền với trẻ em thường trú tại nước đó
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi – con nuôi phát sinh từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi Pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận sự bình đẳng giữa con nuôi và con đẻ cũng như các quyền ưu đãi giành cho trẻ em nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi như trẻ
em Việt Nam “Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xữ giữa các
con, giữa con trai con gái, con đẻ, con nuôi con trong giá thú và con ngoài giá
trẻ với nhau trong quan hệ nuôi con nuôi giữa Việt Nam với các nước và giữa các nước với nhau Các quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa cha mẹ nuôi – con nuôi theo pháp luật Việt Nam sẽ là các quyền về thừa kế, các quyền về nhân thân, tài sản, quyền được đối xử bình đẳng, các nghĩa cụ liên quan
Các quy định này được ghi nhận trong các Bộ Luật và văn bản pháp luật
Chẳng hạn, Điều 681 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định “Con nuôi và cha, mẹ nuôi
được thừa kế di sản của nhau ” Con nuôi cha mẹ nuôi cũng được thừa nhận bình
đẳng với con đẻ trong hàng thừa kế.16
Trong các quy định về quyền nhân thân quyền công nhận cho trẻ em nước ngoài được nhận làm con nuôi có quốc tích Việt
Nam được ghi nhận tại Điều 37 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 tại khoản 2 “Trẻ em
là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch
Trang 31GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 25 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
Việt Nam, kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi” Những quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thiết lập các quyền con
nuôi có yếu tố nước ngoài giữa các chủ thể được thiết lập một các khách quan, công bằng phù hợp với pháp luật quốc tế Pháp luật Việt Nam ghi nhận sự tương đồng với pháp luật các nước về nghĩa vụ của cha mẹ nuôi – con nuôi có yếu tố nước ngoài với nghĩa vụ của cha mẹ đẻ - con đẻ Đó là các nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, đại diện pháp luật cho con nuôi chưa thành niên Vấn đề
về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi – con nuôi không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì mối quan hệ cha me nuôi – con nuôi mà nó còn xác lập mối quan
hệ pháp lý có tính chất quyết định cho việc công nhận quan hệ nuôi con nuôi
2.1.2 Điều kiện nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và các hành vi bị cấm khi nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
2.1.2.1 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi
Để xác lập mối quan hệ cha mẹ nuôi con nuôi các bên chủ thể phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện các quy định của pháp luật về nuôi con nuôi Theo Luật nuôi con nuôi 2010 người được nhận làm con nuôi phải có những điều kiện sau:
Trẻ em dưới 16 tuổi
Với quy định này trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi trong nước hoặc nước ngoài phải là trẻ em dưới 16 tuổi, đây là điểm mới của Luật nuôi con nuôi năm 2010 so với các quy định về điều kiện nuôi con nuôi trước đây của pháp luật Việt Nam Sự thay đổi này hoàn toàn đúng đắn bởi nó phù hợp với quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2005 và Luật Hôn nhân gia đình năm 2000
Có ý kiến cho rằng, quy định trẻ em từ đủ 15 tuổi trở lên đã có năng lực hành
vi dân sự để thực hiện một số quyền và nghĩa vụ, quy định trẻ em từ đủ 15 trở xuống được nhận làm con nuôi cũng không mâu thuẫn với Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2005 Do vậy, trẻ em từ đủ 15 tuổi trở xuống được nhận làm con nuôi sẽ đảm bảo tính thống nhất giữa các luật và phù hợp hơn với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ khi chúng ta tìm một gia đình thay thế cho các em
Việc ấn định độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi, phù hợp với đối tượng được nhận làm con nuôi đặc biệt là người nước ngoài Tuổi của người nuôi phải tương xứng phù hợp với tuổi có thể làm cha mẹ về mặt sinh học Quy định về độ tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó phải phù hợp với quan hệ
có tính chất pháp lý thiêng liêng là xác lập quan hệ cha mẹ - con mà còn đảm bảo các điều kiện thuận lợi nhất trong việc đảm bảo sự chăm sóc và nuôi dưỡng từ cha
mẹ nuôi đối với trẻ
Trang 32GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 26 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi17
Ngoại lệ đối với điều kiện về tuổi của người được nhận làm con nuôi trong quy định của Luật nuôi con nuôi năm 2010 là trẻ em từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng có thể được nhận làm con nuôi Với quy định này các nhà làm luật không bó hẹp độ tuổi của người được nhận nuôi là dưới 16 mà đã mở rộng đối tượng trẻ em được nhận nuôi do có mối quan hệ thân thiết giữa những người trong gia đình với nhau Từ đó, tạo nên sự gắn kết tình cảm trong gia đình bằng một mối quan hệ thiêng liêng được pháp luật công nhận và với quy định này đã đảm bảo hơn sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ nuôi với trẻ cũng như đảm bảo sự an toàn cho trẻ khi được chính những người thân của mình chăm lo cuộc sống hàng ngày
Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng
Quy định này nhằm đảm bảo sự phù hợp với quan hệ cha mẹ nuôi - con nuôi được thiết lập trên cơ sở là duy nhất về mặt pháp lý, phù hợp với bản chất của việc nhận nuôi con nuôi đặc biệt là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Nếu như, quan
hệ nuôi con nuôi cho phép được thiết lập của nhiều người, thì sẽ có trường hợp một người là con nuôi của nhiều người như vậy sẽ gây rất nhiều khó khăn trong việc quản lý các quan hệ nhân thân, tài sản, quyền và nghĩa vụ các bên cũng như việc bảo hộ pháp lý cho người được nhận làm con nuôi của quốc gia tiếp nhận Tuy nhiên, trong quy định trên thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn nhiều rắc rối cần được xem xét
Ví dụ: Tháng 3.2009, ông T đến UBND xã T.D, huyện L.V, tỉnh Đồng Tháp yêu cầu đăng ký làm cha nuôi cháu bé chưa tròn một tuổi Tại thời điểm đăng ký và xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì ông Thành trong tình trạng độc thân, do đó khi đăng ký khai sinh cho con nuôi, bản chính giấy khai sinh chỉ có tên cha, không ghi tên mẹ Sự việc tưởng chừng đơn giản, nhưng đến tháng 5.2010 ông Thành đăng ký kết hôn với bà H Khi có giấy chứng nhận kết hôn, ông Thành đến UBND xã yêu cầu ghi tên người vợ mới cưới của mình vào giấy khai sinh của con nuôi để người con nuôi có cha, mẹ trong hồ sơ, sau này không ảnh hưởng đến tình cảm cha mẹ và thuận lợi trong cuộc sống UBND xã đã tra cứu các quy định pháp luật, nhưng vẫn
17 Khoản 2 Điều 8 Luật nuôi con nuôi 2010: ”Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi
Trang 33GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 27 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
không rõ trường hợp trên có được giải quyết hay không, vì pháp luật hiện hành không quy định về trường hợp này
Rắc rối từ trường hợp trên cho thấy, quy định pháp luật hiện hành chưa rõ, dẫn đến rắc rối cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc đăng ký nuôi con nuôi và gây khó cho công dân Điều này cũng phát sinh nhiều cách hiểu và áp dụng luật khác nhau, dẫn đến giải quyết không thống nhất Có thể, UBND xã áp dụng quy định: người con nuôi chỉ có thể làm con nuôi của một người, hoặc của cả hai người
là vợ chồng tại bất kỳ thời điểm nào nên khi ông T xác lập quan hệ hôn nhân thì vợ của ông T cũng có quyền làm mẹ nuôi Cũng có thể hiểu, quy định một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng tại thời điểm nhận nuôi con nuôi, do đó khi vợ ông T muốn làm mẹ nuôi thì không thể giải quyết
Hầu hết ở các nước trên thế giới đều không cho phép một người có thể làm con nuôi cùng lúc hai lần nhằm mục đích chống lại khả năng lạm dụng việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong đường dây mua bán trẻ em Tuy nhiên, pháp luật một số nước lại quy định các trường hợp ngoại lệ Đó là bố mẹ nuôi hoặc người nhận nuôi chết có thể được nhận làm con nuôi người khác.18 Theo pháp luật Việt Nam quy định này chỉ nhằm tạo điều kiện chăm sóc bảo vệ con nuôi được tốt hơn theo quy định pháp luật quốc gia tiếp nhận ngay cả trong trường hợp trẻ nhận làm con nuôi mà không được sự chăm sóc của người nhận nuôi Một trường hợp có thể xem như là ngoại lệ của nguyên tắc trên, đó là người thành niên làm con nuôi của người già yếu cô đơn thì sẽ không buộc phải tuân thủ theo nguyên tắc này Bởi quan
hệ nuôi con nuôi xuất phát từ lợi ích của người được nhận nuôi, người đã thành niên nhận làm con nuôi của nhiều người già yếu cô đơn hay nói cách khác là phụng dưỡng chăm sóc nhiều cụ già không nơi nương tựa, nó phù hợp với bản chất nhân đạo trong con người và pháp luật Việt Nam
Ngoài ra, cùng với các điều kiện trên về người được nhận nuôi: “Nhà nước ta khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi”.19 Với quy định này các nhà làm luật Việt Nam đã thể hiện
rõ ý chí và sự nhân đạo trong cách hành luật, pháp luật nuôi con nuôi luôn luôn ưu tiên cho những trẻ có những hoàn cảnh khó khăn được tìm đến với mái ấm gia đình trước Bởi các em từ nhỏ đã không được chăm sóc bằng tình yêu thương gia đình, với quy định này phần nào bù đắp lại những thiếu thốn trong cuộc sống tình cảm
Trang 34GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 28 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
của các trẻ thơ, giúp trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi nói chung và những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khác sớm được đến trường tiếp thu tri thức và thực hiện những ước
mơ của mình trong tương lai
2.1.2.2 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi
Trong quan hệ cha mẹ nuôi- con nuôi, vai trò của người nhận nuôi là chủ đạo trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người được nhận nuôi, vì vậy người nhận nuôi cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật nhất là trong mối quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Theo Điều 29 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài, công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp tại Điều 14 của Luật này Đối với người nhận nuôi, người được nhận nuôi là người nước ngoài thì phải tuân thủ theo quy định của pháp luật nước họ thường trú Như vậy, Điều 29 về điều kiện đối với người nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài đã dẫn chiếu đến điều kiện của người nhận nuôi con nuôi theo Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi Việt Nam Theo đó, người nhận nuôi bên cạnh đáp ứng các điều theo quy định của nước mà người đó là công dân còn phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật Việt Nam như:
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc đối với chủ thể là người xin nhận con nuôi, người nhận nuôi phải có trách nhiệm và đảm bào đầy đủ mọi điều kiện bảo vệ, chăm sóc người được nhận nuôi Người nhận nuôi theo pháp luật Việt Nam bao gồm hai chủ thể: Chủ thể là người Việt Nam nhận nuôi người nước ngoài và chủ thể người nhận con nuôi là người nước ngoài
Đối với chủ thể là công dân Việt Nam nhận nuôi người nước ngoài, năng lực hành vi dân sự sẽ xác định theo pháp luật Việt Nam Theo quy định của Bộ Luật dân sự 2005, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người đáp ứng đủ các điều kiện sau:
“Từ đủ 18 tuổi trở lên” (Điều 18 Bộ Luật Dân sự 2005)
“Không phải là người mất năng lực hành vi dân sự, người do bệnh tâm thần
hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan Tòa án ra quyết định tuyên
bố mất năng lực hành vi dân sự trên kết luận của tổ chức giám định Người nghiện
ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến hành vi phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan tổ chức
Trang 35GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 29 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
hữu quan có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
” (Điều 22 Bộ Luật Dân sự Việt Nam 2005)
Đối với người nhận con nuôi là người nước ngoài, thì năng lực hành vi của chủ thể người nước ngoài sẽ được xác định theo pháp luật của nước mà người đó mang quốc tịch do vi phạm xung đột quy định theo pháp luật Việt Nam dẫn chiếu đến “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác” (Điều 762 Bộ Luật dân sự 2005)
Năng lực hành vi dân sự là cơ sở quan trọng để xác định tư cách chủ thể tham gia vào quan hệ cá nhân Việc xác định đúng năng lực hành vi dân sự của người nhận con nuôi là cơ sở quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của người được nhận làm con nuôi
Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên
Quy định này kế thừa từ Luật hôn nhân gia đình 1986, đây là điều kiện cần thiết cho cha mẹ nuôi có thể đảm đương các nghĩa vụ của cha mẹ đối với con Về mặt sinh học, giữa hai thế hệ luôn có một khoảng cách tuổi tác mới đảm bảo được
sự tôn trọng và khả năng nuôi dưỡng, giáo dục con cái Đồng thời quy định này cũng tránh những trường hợp nhận nuôi con nuôi lạm dụng tình dục đối với người con nuôi Tuy nhiên, dư luận cũng có cái nhìn dè dặt đối với người nuôi trong trường hợp này đã quá lớn tuổi mà lại muốn nuôi con nhỏ; người làm luật đã nói như trên không tỏ ra hào hứng lắm trước việc xác lập quan hệ cha mẹ nuôi giữa những người có chênh lệch không bình thường về tuổi tác.20 Ngoài ra có một ngoại
lệ là cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô cậu dì chú bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng điều kiện về khoảng cách tuổi này 21 Ví dụ: bố có con riêng trước khi lấy mẹ, người con riêng này chỉ kém mẹ 17 tuổi Nếu mẹ muốn nhận con riêng của chồng làm con nuôi nhưng bị ràng buộc bởi khoảng cách tuổi, không được nhận trẻ làm con nuôi Như vậy sẽ gây ra thiệt thòi cho trẻ trong gia đình, không được đảm bảo các quyền lợi về nuôi dưỡng chăm sóc, cũng như quyền nhân thân và tài sản phát sinh sau này
Qua nghiên cứu pháp luật của một số nước trên thế giới cho thấy, hầu hết pháp luật của các nước đều quy định yêu cầu về độ tuổi của nguời nhận nuôi Tuy nhiên, độ tuổi tối thiểu để có thể nhận nuôi của các nước rất khác nhau (ví dụ Thuỵ
Trang 36GVHD: Ths Bùi Thị Mỹ Hương 30 SVTH: Dương Nguyệt Thanh
Điển quy định độ tuổi của người có thể nhận con nuôi là từ 25 tuổi trở lên; Pháp quy định độ tuổi này là từ 30 tuổi) Ngoài ra, pháp luật của các nước còn quy định
về độ tuổi chênh lệch giữa người nhận nuôi và con nuôi (ví dụ Pháp quy định người nhận người nhận nuôi phải nhiều hơn con nuôi 15 tuổi…) Sở dĩ pháp luật các nước đưa ra yêu cầu về độ tuổi tối thiểu và mức chênh lệch vì chỉ đến độ tuổi nhất định thì người ta mới có đủ khả năng về tài chính, có đủ kinh nghiệm về tâm lý xã hội…
để gánh vác nghĩa vụ và về mặt sinh học giữa hai thế hệ kế cận nhau là cha mẹ và con thì bao giờ cũng có chênh lệch về tuổi
Có tư cách đạo đức tốt, có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chổ ở, bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nuôi con nuôi
Đây là điều kiện hết sức quan trọng để bảo đảm cho người con nuôi, nhất là người con nuôi chưa thành niên, được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt, được sống trong môi trường lành mạnh, thuận lợi cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ và đạo đức Trên thực tế nhiều người nhận con nuôi đã không thực hiện trách nhiệm làm cha, làm mẹ có sự phân biệt đối xử giữa con nuôi và con đẻ, có hành vi ngược
đã con nuôi tạo không khí nặng nề trong gia đình, có trường hợp kinh tế khó khăn không đảm bảo việc chăm sóc nuôi dưỡng con cái Người nuôi con nuôi đã không
có một mái ấm gia đình thật sự, mục đích nhận nuôi con nuôi không đảm bảo Tuy vậy, điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chổ ở đảm bảo cho việc chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi không áp dụng trong trường hợp người nhận nuôi là cha dượng,
mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột.22 Bởi lẽ, trong trường hợp những người thân nói trên của người được nhận nuôi già yếu, cô đơn, không ai chăm sóc thì ngược lại người được nhận nuôi chính làm người chăm lo cho họ trong lúc này
Nhiều nước trên thế giới cũng quy định điều kiện nhận nuôi con nuôi phải có
đủ năng lực về tài chính, có nhân cách tốt, sức khỏe tốt và quan hệ giữa cha mẹ nuôi phải thích hợp để nuôi dạy con nuôi (ở Thụy Sĩ và Trung Quốc) Một số nước còn quy định rằng, khi xem xét việc công nhận nuôi con nuôi Tòa án có thể lấy ý kiến giám định về các điều kiện nói trên đối với người nhận nuôi con nuôi (ở Thụy Sĩ và Gana), đối với việc nhận nuôi con nuôi nước ngoài, muốn nhận con nuôi phải qua một khóa huấn luyện về nuôi con nuôi người nước ngoài (Hà Lan).23
Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; Đang chấp hành quyết định xữ lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở
22 Khoản 3 Điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010
23 TS Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học về Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Trẻ, TP.HCM 2002, tr370