Phạm vi nghiên cứu Do khuôn khổ thời gian cho phép và do yêu cầu của một đề tài Luận văn tốt nghiệp nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề sau đây: thứ nhất: trình bày những vấn
Trang 1MSSV: 5085970 Lớp: Luật TM2 – K34
Cần Thơ, tháng 4 năm 2012
Trang 2………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4QUY ƯỚC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5Mục lục
Mục lục 1
Lời Nói Đầu 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Phạm vi nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục Luận văn 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP 5
1.1 Khái niệm về môi trường và khu công nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm về môi trường 5
1.1.2 Khái niệm khu công nghiệp 7
1.2 Khái quát về tình hình môi trường tại khu công nghiệp 8
1.3 Sự cần thiết bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp 13
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP 16
2.1 Trách nhiệm của ban quản lý trong việc bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp 16
2.2 Trách nhiệm quản lí nhà nước tại khu công nghiệp của Ủy ban nhân dân các cấp……….………19
2.3 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp 24 2.3.1 Trách nhiệm pháp lý chung của doanh nghiệp 24
Trang 62.3.2 Trách nhiệm của doanh nghiệp trong vấn đề đánh giá tác động môi trường26 2.3.3 Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tuân thủ tiêu chuẩn môi trường29 2.4 Xử lý doanh nghiệp vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường tại khu công
nghiệp 31
2.4.1 Trách nhiệm hành chính 33
2.4.2 Trách nhiệm dân sự Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP HÒA PHÚ – TỈNH VĨNH LONG 41
3.1 Hiện trạng môi trường tại khu công nghiệp Hòa Phú-tỉnh Vĩnh Long 41
3.1.1 Hiện trạng môi trường nước 41
3.1.2 Hiện trạng về môi trường không khí 46
3.1.3 Thực trạng vấn đề chất thải rắn trong khu công nghiệp 48
3.2 Những vấn đề tồn tại và bất cập về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Hòa Phú – Tỉnh Vĩnh Long 51
3.2.1 Những thực trạng đang tồn tại về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Hòa Phú – Tỉnh Vĩnh Long 51
3.2.2 Những bấp cập của pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo vệ môi trường tại Khu công nghiệp Hòa Phú 54
3.2.3 Một số đề xuất của bản thân nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp 55
KẾT LUẬN 59
Trang 7Lời Nói Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, với đường lối đổi mới của Đảng, cùng với quá trình công nghiệp hóa đất nước, mô hình khu công nghiệp đã và đang phát triển nhanh về số lượng với quy mô lớn và rộng khắp Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục mang lại hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế nước nhà
Tuy nhiên, song song với những đóng góp của khu công nghiệp cho nền kinh tế nước ta thì bản thân nó cũng đã và đang gây bao nhức nhối cho công tác bảo vệ môi trường Một trong những vấn đề bức xúc nhất hiện nay là vấn đề xử lý chất thải, đặc biệt là đang diễn ra ở các khu công nghiệp bỡi lẽ khi thực hiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp luôn đặt nặng vấn đề lợi nhuận lên hàng đầu, tất cả mọi kế hoạch đều hướng đến một mục tiêu duy nhất là lợi nhuận Do đó, họ không quan tâm hoặc ít quan tâm đến việc phải bỏ kinh phí của mình ra để đầu tư công nghệ xử lý chất thải để bảo vệ môi trường Vì vậy, họ cứ
vô tư xả thải thẳng ra môi trường, coi môi trường là nơi chứa chịu chất thải khổng lồ và sức chứa vô tận, vẫn đến môi trường ngày càng bị suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng Bên cạnh
đó, khu công nghiệp là nơi tập trung sản xuất nhiều ngành, đa nghề sản sinh ra nhiều loại chất thải (đặc biệt là chất thải nguy hiểm) ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và sẽ rất nguy hiểm nếu công tác bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp không được quan tâm đúng mức thì môi trường sẽ ngày càng bị ô nhiễm, suy thoái Từ đó, cho thấy vấn đề bảo vệ môi trường khu công nghiệp đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường như hiện nay Như vậy, thách thức lớn nhất và cơ bản nhất hiện nay đối với nhà nước là phải làm thế nào để hài hòa giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ môi trường, giữa lợi ích của thế hệ hiện tại và lợi ích của thế hệ tương lai Vì thế, vấn đề bảo vệ môi trường khu công nghiệp đã và đang trở thành một đòi hỏi bức thiết nhất hiện nay Vì vậy, để giúp việc quản lí bảo vệ môi trường khu công nghiệp có thể tốt hơn, giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường do hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp gây
ra Cho nên người viết đã chọn đề tài “Vấn đề bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Thực
tiễn tại khu công nghiệp Hòa Phú-tỉnh Vĩnh Long”
Trang 82 Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ thời gian cho phép và do yêu cầu của một đề tài Luận văn tốt nghiệp nên
người viết chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề sau đây: thứ nhất: trình bày những vấn đề khái quát chung nhất về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp; thứ hai: người viết chỉ đi vào việc phân
tích trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp; riêng đối với Cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, tác giả chỉ phân tích một số trách nhiệm của
Ủy ban nhân dân các cấp; Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp và một số văn bản pháp luật có liên quan; thứ ba: về
thực tiễn bảo vệ môi trường doanh nghiệp tại khu công nghiệp, người viết tìm hiểu thực trạng bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Hòa phú-tỉnh Vĩnh Long
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường của doanh nghiệp trong khu công nghiệp và thực tiễn bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp tại hòa phú, người viết tìm ra những tồn tại, vướng mắc trong vấn đề bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp, từ
đó đề ra những đề xuất nhằm hoàn thiện, hướng đi tốt cho doanh nghiệp trong khu công nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, người viết đã sử dụng phương pháp đi từ chi tiết đến tổng hợp, đồng thời kết hợp nhiều phương pháp khác như phương pháp phân tích, thu nhập, liệt kê, so sánh…nhằm làm rõ nội dung của vấn đề người viết muốn đề cập đến
5 Bố cục Luận văn
Luận văn gồm có 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Chương 2: Pháp luật về bảo vệ môi trường doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Chương 3 Thực tiễn bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Hòa Phú- tỉnh Vĩnh Long
Kết luận
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái niệm về môi trường và khu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm về môi trường
“Môi trường” là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng pháp là “Environner” có nghĩa là “bao quanh hoặc chu trình kép kín” Thuật ngữ này được nhiều Quốc gia sử dụng khá phổ biến trong những năm đầu thập niên 60 thế kỷ XX, cụ thể như: “Umwelt” (German); “Mileu” (Dutch); “Medioambiente” (Spanish); “Okruzhayuchaiia” (Russian); “Kankyo” (Japanese)1 Trong từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary 8th edition, định nghĩa “môi trường”
là “những điều kiện, hoàn cảnh ảnh hưởng, tác động lên cách ứng xử và sự phát triển của một người nào đó, hoặc một thứ gì đó; những điều kiện tự nhiên mà một ai đó, hoặc một thứ gì đó tồn tại trong nó” (nguyên văn: environment- the conditions that affect the behaviour and development of sb/sth; the physical conditions that sb/sth exists in)
Theo từ điển môi trường (Dictioary of environment) của Gurdey Rej (1981) và cuốn (Encycloppedia) of Environment science and Engineering của sybil và các đồng sự thì: “Môi trường là hoàn cảnh vật lý, hóa học, sinh học đó được gọi là môi trường bên ngoài Còn các hoàn cảnh vật lý, hóa học, sinh học trong cơ thể gọi là môi trường bên trong Dịch bào trong tế bào, thì dịch bào là môi trường của tế bào cơ thể
Theo từ điển bách khoa Larouse, thì môi trường được mở rộng hơn “là tất cả những gì bao quanh chúng ta hoặc sinh vật” Nói cụ thể hơn đó là yếu tố tự nhiên và nhân tạo diễn ra trong không gian cụ thể, nơi đó có sự sống hoặc không có sự sống Các yếu tố đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của những định luật vật lý mang tính tổng hợp hoặc chi tiết như luật hấp dẫn vũ trụ, năng lượng phát xạ, bảo tồn vật chất…Trong đó, hiện tượng hóa học, và sinh học là những đặc thù cục bộ Môi trường bao quanh tất cả nhân tố tác động qua lại trực hoặc gián tiếp với sinh vật và quần xã sinh vật
Theo một số tác giả như Joe Whiteney, 1993 thì định nghĩa môi trường một cách đơn giản hơn: “môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể, có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến
sự tồn tại của con người như: đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng Ozon và
sự đa dạng của các loài
1 Ths Kim Oanh Na, Luật môi trường, trường Đại học Cần Thơ-Khoa luật 2010, trang 1
Trang 10Môi trường theo định nghĩa thông thường “là toàn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ con người hay sinh vật ấy2
Môi trường được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người3
Vậy môi trường sẽ được hiểu như thế nào, nhất là dưới góc độ pháp lí thì sao? Theo Khoản
1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (có hiệu lực 01/07/2006) thì môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiện và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” Như vậy môi trường ở đây không phải là thế giới tự nhiện nói chung bất kỳ mà là thế giới tự nhiên đặt trong mối quan hệ mật thiết với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người nói chung Qua đó, nó nêu bật được vai trò của môi trường trong xã hội loài người cũng như mối quan hệ giữa con người đối với môi trường nói chung Khái niệm này mang tính bao quát rất rộng và đầy đủ, bao gồm cả môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường nhân tạo trong đó:
· Môi trường tự nhiên chính là toàn bộ các điều kiện tự nhiên bao quanh con người và cơ thể sống khác, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại gắn bó và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống cũng như sự phát triển kinh tế-xã hội ở trong những điều kiện nhất định Nó bao gồm các yếu tố như: đất, nước, không khí, hệ sinh thái động thực vật và những điều kiện khác ảnh hưởng tới đời sống con người…
· Môi trường xã hội là tổng hợp tất cả các yếu tố về xã hội có liên quan và tác động tới đời sống con người, bao gồm những nhân tố liên quan tới việc hình thành nên nhân cách, lối sống, nếp sống sinh hoạt của mỗi cá nhân, có ảnh hưởng và tác động trực tiếp tới việc hình thành nhân cách và lối sống cá nhân
· Môi trường nhân tạo là toàn bộ các yếu tố nhân tạo (do chính con người tạo nên) bao quanh con người, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của con người và nhiều cơ thể sống khác Nó bao gồm: các công trình thủy lợi, những làng mạc được hình thành từ bao đời lịch sử, hồ nước, hệ thống sông ngòi, vườn hoa, công viên…do chính con người tạo ra
2 Xem từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng, trang 618
3 Tuyên ngôn 1981 của UNESCO
Trang 11Môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường nhân tạo luôn luôn biến đổi dưới tác động của những điều kiện và hoàn cảnh xã hội nhất định Chúng đều có vai trò và ảnh hưởng
to lớn đối với sản xuất, đời sống và có mối quan hệ tác động quan lại lẫn nhau
Tóm lại, môi trường dù được định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau, từ góc độ pháp lý đến góc độ khoa học khác, nhưng bản chất của môi trường vốn không thay đổi Nó là tất cả các yếu
tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, tồn tại, phát triển của con người và sinh vật; là những gì xunh quanh chúng ta, cho ta cơ sở để sống
và phát triển Tìm hiểu về khái niệm môi trường giúp ta có cái nhìn đúng đắn về hiện trạng môi trường hiện nay và quyết tâm ra sức bảo vệ môi trường mà chúng ta sống
1.1.2 Khái niệm khu công nghiệp
Khu công nghiệp là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào
đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường Khu công nghiệp được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật
và pháp lý riêng
Dưới góc độ pháp luật thì khu công nghiệp được định nghĩa là “khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định”4
Đặc điểm pháp lí cơ bản của khu công nghiêp:
— Về không gian: là khu vực có ranh giới địa lý xác định, phân biệt với các vung lãnh thổ khác và thường không có dân cư sinh sống
· Về địa lý: các khu công nghiệp đều được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hành rào khu công nghiệp, phân biệt các vùng còn lại của lãnh thổ quốc gia Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh bên trong hàng rào đó không chỉ được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật hiện hành mà còn tuân thủ quy chế pháp lí riêng và được hưởng các ưu đãi
· Về chức năng hoạt động: khu công nghiệp là khu vực chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho công nghiệp và các tổ chức kinh tế thành lập
· Về thành lập: khu công nghiệp không phải là khu vực thành lập tự phát mà thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được duyệt
Về đầu tư cho xuất khẩu: đây là vấn đề được quan tâm khi đầu tư xây dựng tất cả các khu công nghiệp Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong khu công nghiệp có thể có khu vực
4 Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về quy chế khu công nghiệp, khu chê xuất và khu kinh tế
Trang 12hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu (được gọi là khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất)
1.2 Khái quát về tình hình môi trường tại khu công nghiệp
Tính đến năm 2009, cả nước đã có 249 Khu công nghiệp(KCN) do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập và tổng diện tích đất tự nhiên 63.173ha; tỷ lệ lắp đầy diện tích đất các KCN đạt tỷ lệ 48% Trong 3 năm gần đây, tỷ lệ lắp đầy KCN giảm trung bình khoảng 4%/năm, năm 2008, chỉ đạt 46% , các KCN chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm với 74,9% tổng số KCN 81,8% tổng diện tích đất tự nhiên các KCN trong cả nước; nguồn thải
từ KCN mặc dù tập trung nhưng thải lượng rất lớn, trong khi đó công tác quản lý cũng như xử
lý chất thải KCN còn hạn chế Năm 2009, mới có 43,3% các KCN đã đi vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung, nhiều công trình trong số có thực tế hoạt động rất kém,5… Hiện nay, tình trạng khí thải, nước thải…tại các KCN đang ở mức báo động Theo số liệu điều tra cho thấy, cả nước có trên 200 KCN đã đi vào hoạt động song chỉ có 60% doanh nghiệp vận hành hệ thống xử lý trong KCN và hiệu quả xử lý còn thấp, trong khi tổng lượng nước thải từu các KCN ước khoảng 1 triệu m3 ngày/đêm (chiếm 35% tổng lượng của cả nước) Hầu hết doanh nghiệp như hóa chất, phân bón, bia rượu,nước giải khát, giấy…đều phát sinh ô nhiễm Lượng chất thải rắn phát sinh tại các KCN hiện lên tới 2,3 triệu tấn/năm, trong đó chất thải rắn nguy hại chiếm khoảng 20% Phần lớn các doanh nghiệp chưa quan tâm tới kiểm soát, xử lý các khí độc hại; hệ thống đo đạc, kiểm soát cũng không được đầu tư6
Bên cạnh đó, môi trường xung quanh các KCN đang bị suy thoái nghiêm trọng Khoảng 70% trong số hơn một triệu m3 nước thải/ngày từ các KCN được xả thẳng ra các nguồn tiếp nhận không qua xử lý Có đến 57% số KCN đang hoạt động chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung Không khí ở các KCN, nhất là các khu công nghiệp cũ, đang bị ô nhiễm, do các nhà máy trong KCN sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa đầu tư hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường Lượng chất thải rắn ở khu công nghiệp còn rất nhiều bất cập, nhất
là đối với việc quản lý, vận chuyển và đăng kí nguồn thải đối với chất thải nguy hại
Theo báo cáo hiện trạng khu công nghiệp năm 20097:
Trang 13http://vea.gov.vn/vn/hientrangmoitruong/baocaomtquocgia/Pages/B%C3%A1o-c%C3%A1o-m%C3%B4i-— Hiện trạng môi trường nước
Việt Nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc, trong đó có 13 hệ thống sông lớn có diện tích 10.000 km3 Tài nguyên nước tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thới giới Tổng lượng dòng chảy năm sông Mê Kông bằng khoảng 500m3, chiếm khoảng 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trên cả nước, hệ thống sông Hồng 126,5 km3(14,9%) , hệ thống sông Đồng Nai 36,3 km3 (4,3%), sông Mã, Cả, Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3
(1%), các sông còn lại là 94,5 km3 (11,1%) (Nguồn của Cục quản lí tài nguyên nước)8 Đây là nguồn tài nguyên quý giá, góp phần quan trong vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội đất nước Tuy nhiên nước mặt của Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, trong đó đáng kể nhất là tình trạng suy kiệt và ô nhiễm trên diện rộng
- Ô nhiễm nước mặt do nước thải các KCN
Cùng với nước thải sinh hoạt, nước thải từ các KCN đã góp phần làm cho tình trạng ô nhiễm tại các sông, hồ, kênh, rạch trở nên trầm trọng hơn Những nơi tiếp nhận nước thải của các KCN đã bị ô nhiễm nặng nề, nhiều nơi nguồn nước không thể sử dụng được cho bất kỳ mục đích nào
Tình trạng ô nhiễm không chỉ dừng lại ở hạ lưu các con sông mà lan kên tới cả phần thượng lưu theo sự phát triển của các KCN Kết quả quan trắc chất lượng nước cả 3 lưu vực sông Đồng Nai, Nhuệ - Đáy và Cầu đều cho thấy bên cạnh nguyên nhân do tiếp nhận nước sinh hoạt
từ các đô thị trong lưu vực, những khu vực chịu tác động của nước thải KCN có chất lượng nước sông bị suy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD5, COD, NH4 +, tổng P đều cao hơn quy chuẩn Việt Nam
Nước thải từ hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp và khu côn nghiệp là nguồn gây
áp lực lớn nhất đến môi trường nước mặt lục địa Mỗi ngành sản xuất có đặc trưng nước thải khác nhau Nước thải từ ngành cơ khí, luyện kim chứa nhiều kim loại nặng, dầu mỡ khoáng; nước thải ngành dệt, nhuộm, giấy chứa nhiều chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ khó phân hủy và chất tạo màu; nước thải ngành thực phẩm chứa nhiều chất răn lơ lửng và đặc biệt là chất hữu
cơ dễ phân hủy sinh học (BOD), chất dinh dưỡng như chất nitơ, phốt pho…Nguyên nhân là do nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nước thải sinh hoạt không được xử lý đã và đang thải trực tiếp ra các sông Kết quả quan trắc cho thấy: ô nhiễm nước sông hồ nội thành Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đà Nẵng đang ở mức trầm trọng, các chỉ tiêu quan trắc đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, thậm chí hàng trăm lần Nước ngầm ở một số
8 Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010, Chương IV hiện trạng môi trường nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường, trang 65
Trang 14vùng, đặc biệt là các khu công nghiệp và đô thị có nguy cơ cạn kiệt vào mùa khô và ở một số nơi đã có dấu hiệu ô nhiễm Nguyên nhân là do khai thác bừa bãi
Đa số các KCN đều phát triển sản xuất đa ngành, đa lĩnh vực nên phát thải nhiều loại nước thải khác nhau Việc gom và xử lý chung là khó khăn Mặc dù số lượng các nhà máy xử lý nước thải tập trung đã tăng lên nhưng theo báo cáo của các BQL các KCN, tại khu vực xung quanh KCN ở một số địa phương, một số tiêu chuẩn nước thải vượt quá quy định cho phép Nguyên nhân là do việc vận hành và kiểm tra vận hành nhà máy xử lý nước thải chưa có quy định pháp luật cụ thể, cũng như chưa có chế tài xử phạt có tính răn đe cao cho nên một số KCN không vận hành các trạm xử lý nước thải liên tục
- Ô nhiễm nước mặt do hoạt động công nghiệp
Sự gia tăng nước thải từ các KCN trong những năm gần đây là rất lớn Tốc độ gia tăng này cao hơn nhiều so với sự gia tăng tổng nước thải từ các lĩnh vực trong toàn quốc Lượng nước thải từ các KCN phát sinh lớn nhất ở khu vực Đông Nam Bộ, chiếm 49% tổng lượng nước thải các KCN và thấp nhất ở khu vực Tây Nguyên – 2%
Chất lượng nước thải đầu ra của các KCN phụ thuộc rất nhiều vào việc nước thải có được
xử lý hay không Hiện nay, tỷ lệ các KCN đã đi vào hoạt động có trạm xử lý nước thải tập trung chỉ chiếm khoảng 43%, rất nhiều KCN đã đi vào hoạt động mà hoàn toàn chưa triển khai xây dựng hạng mục này Nhiều KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng tỷ lệ đấu nối của các doanh nghiệp trong KCN còn thấp Nhiều nơi doanh nghiệp xây dựng có hệ thống
xử lý nước thải cục bộ nhưng không vận hành hoặc vận hành không hiệu quả Thực trạng nên
đã dẫn đến việc phần lớn nước thải của cá KCN khi thải ra ngoài môi trường đều có các thông
số ô nhiễm cao hơn nhiều lần so với quy chuẩn Việt Nam
Kết quả kiểm tra công tác bảo vệ môi trườn của Chi cục bảo vệ môi trường khu vực Đông Nam Bộ, Tổng cục Môi trường cho thấy khoảng 6/7 KCN có kết quả kiểm tra nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép, trong đó đáng kể có một số doanh nghiệp trong KCN có nước thải có độ ô nhiễm cao như Công tu TNHH Việt Nam Northem Viking Technologies tại KCN Tân Thới Hiệp (nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải như COD vượt mức cho phép 20 lần, Coliform vượt 18600 lần), Công ty cổ phần Bia Sài Gòn – Bình Tây tại KCN Vĩnh Lộc (xả nước thải có nồng độ BOD5 vượt mức cho phép gần 145 lần, COD vượt 165 lần, Coliform 1000 lần)
— Hiện trạng ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí ở các KCN mang tính cục bộ, tập trung nhiều ở các KCN cũ, do các nhà máy trong KCN sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải,
Trang 15vấn đề ô nhiễm không khí tại các KCN chủ yếu là ô nhiễm bụi, một số KCN có xuất hiện ô nhiễm CO, SO2 và NO2
Ô nhiễm không khí do khí thải công nghiệp
Theo số liệu báo cáo của địa phương và khỏa sát thực tế thì hiện nay nhiều cơ sở sản xuất trong các KCN đã lắp đặt hệ thống xử lý ô nhiễm khí trước khi thải ra môi trường, mặt khác do diện tích xây dựng nhà xưởng tương đối rộng, nằm trong KCN, phần nhiều tách biệt với khu dân cư nên tình trạng khiếu kiện về gây ô nhiễm môi trường do khí thải tại các KCN chưa bức xúc như đối với các vấn đề nước thải và chất thải rắn
Các khí thải ô nhiễm phát sinh từ các nhà máy, xí nghiệp chủ yếu do hai nguồn: quá trình đốt nhiên liệu tạo năng lượng cho hoạt động sản xuất và sự rò rỉ chất ô nhiễm từ quá trình sản xuất Tuy nhiên, hiện nay các cơ sở sản xuất chủ yếu mới chỉ khống chế được các khí thải từ nguồn điểm Ô nhiễm không khí do nguồn diện và tác động gián tiếp từ khí thải, hầu như vẫn không được kiểm soát, lan truyền ra ngoài khu vực sản xuất, có thể gây tác động đến sức khỏe người dân sống gần khu vực bị ảnh hưởng
Theo kết quả quan trắc, chất lượng môi trường không khí xunh quanh của nhiều cơ sở sản xuất trong các KCN về cơ bản là tôt, số liệu quan trắc khí thải các cơ sở đạt quy chuẩn Việt Nam Hiện nay, vấn đề ô nhiễm không khí chủ yếu do hoạt động của các nhà máy thuộc các KCN cũ, vận hành với công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải trước khi thải ra môi trường bên ngoài, vì vậy hầu hết các thông số quan trắc như bụi,
CO và SO2 không đạt quy chuẩn Việt Nam
Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiểm không khí bên trong cơ sở sản xuất của các KCN lại đang là vấn đề cần quan tâm Một số loại hình sản xuất trong các KCN (như chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất,…) đang gây ô nhiễm không khí tại chính các cơ sở sản xuất và tác động không nhỏ đến sức khỏe của người dân lao động bên trong và dân cư gần các cơ sở sản xuất Tuy nhiên, không có số liệu để đánh giá chính xác vấn đề này do hiện nay chưa có đơn vị có thẩm quyền nào tiến hành quan trắc chất lượng môi trường không khí trong khu cực sản xuất của các KCN
Mặc dù các doanh nghiệp đã có ý thức thực hiện nhưng trang thiết bị phục vụ công tác này chủ yếu còn sơ sài, đơn giản, chưa giảm thiểu triệt để ảnh hưởng của khí thải gây ra đối với môi trường xung quanh Chất lượng môi trường không khí tại các KCN, đặt biệt là các KCN được thành lập trên cơ sở các doanh nghiệp cũ có sẵn với công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải đang bị suy giảm Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trong các cơ sở sản xuất của các KCN cũng là vấn đề cần được quan tâm Cụ
Trang 16thể như các đơn vị chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất đang gây ô nhiễm tại chính các cơ sở sản xuất đó và đã tác động không nhỏ đến sức khỏe người lao động
— Hiện trạng môi trường đất
Ô nhiễm đất do các chất ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp, xây dựng và dân sinh
Các hoạt động xât dựng, sản xuất và khai thác mỏ gây ra những tác động về vật lý như xói mòn, nén chặt đất và phá hủy cấu trúc đất Các chất thải gây ô nhiễm đất ở đây được chia làm 4 nhóm: chất thải xây dựng, chất thải km loại, chất thải khí, chất thải hóa học và hữu cơ Bên cạnh đó, rác thải y tế chiếm tỷ trọng thấp trong thành phần chất thải xả ra môi trường đất, nhưng tỷ lệ các chất nguy hại cao, một kh xâm nhập vào đất sẽ rất khó phục hồi và khả năng tái sử dụng loại đất bị ô nhiễm này vào mục đích dân sinh là rất thấp Nước thải từ các khu vực tập trung, các kh công nghiệp, khu dân cư không qua xử lý xả thẳng ra môi trường, theo kênh mương ngấm vào đất, gây ô nhiễm đất và làm thay đổi hàm lượng các chất hóa học trong đất
Về chất thải nguy hại và chất thải rắn
Một số doanh nghiệp trong KCN không thực hiện đăng ký nguồn thải theo quy định, có doanh nghiệp tự lưu giữ chất thải, gây ô nhiễm cục bộ Tại một số địa phương, còn chưa có doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải nguy hại cho doanh nghiệp thứ cấp trong KCN nên chất thải nguy hại không được quản lý, xử lý theo quy định, nảy sinh nguy cơ về ô nhiễm môi trường
Về chất thải rắn, tại một số KCN chưa có nơi tập kết chất thải rắn để đưa đi xử lý, vì vậy, khó khăn trong việc thu gom, xử lý Một số doanh nghiệp trong KCN, KCX tự lưu giữ và xử lý không đảm bảo tiêu chuẩn
Ở một số địa phương, việc thực hiện ủy quyền cho ban quản lý các KCN trong quản lý môi trường chưa triệt để Do vậy, nảy sinh một số vấn đề như: cơ quan này cấp phép về môi trường trong khi cơ quan khác là đơn vị kiểm tra (ví dụ: UBND huyện cấp cam kết bảo vệ môi trường, ban quản lý các KCN kiểm tra việc thực hiện cam kết); việc thanh, kiểm tra về môi trường chồng chéo và không hiệu quả
Ý thức doanh nghiệp trong KCN về bảo vệ môi trường đã được cải thiện Tuy nhiên, việc đầu tư cho công tác môi trường làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận đạt được Do vậy, tại một số nơi, việc bảo vệ môi trường chưa được doanh nghiệp tự giác thực hiện, vẫn cần được tuyên truyền thường xuyên, đồng thời có cơ chế thanh, kiểm tra chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật về môi trường
Trang 17Ô nhiễm môi trường từ các KCN gây tác động xấu tới môi trường sinh thái tự nhiên Nhất là nước thải không qua xử lý từ các khu công nghiệp xả thải trực tiếp vào môi trường gây ra những thiệt hại không nhỏ tới hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại các khu vực lân cận Ngoài ra, ô nhiễm môi trường từ các khu công nghiệp làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính KCN và cộng đồng dân cư sống gần các KCN đó
Nói về vấn đề ô nhiễm môi trường KCN, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên từng nhấn mạnh: “Những thách thức này nếu không được giải quyết tốt sẽ gây ra thiệt hại về môi trường và biến đổi khí hậu, tác động nghiêm trọng đến đời sống, sức khỏe cộng đồng hiện tại và tương lai, phá hỏng những thành tựu công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội nói chung ở Việt Nam”9
Nhìn chung, vấn đề ô nhiễm môi trường ở nước ta đang đặt ra ở mức báo động, đang là một trong những vấn đề bức xúc nhất mà xã hội chúng ta đang phải đối mặt Hậu quả của ô nhiễm môi trường trong những năm qua thực tế đã tác động nguy hại đến sức khỏe con người, tác động rất lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế- xã hội nước ta gây ra những tổn thất nặng nề không thể lường trước được Chính vì thế, toàn xã hội nhất là các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp cần phải tăng cường tham gia và thực hiện một cách có hiệu quả công tác bảo vệ môi trường bởi vì chỉ có gắn kết chặt chẽ sự nghiệp phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc bảo vệ môi trường thì đất nước mới phát triển bền vững
1.3 Sự cần thiết bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp
Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống của con người Con người tồn tại được là nhờ có bầu không khí, nguồn nước, môi trường đất và cảnh quan trong sạch, đẹp đẽ, không bị ô nhiễm Những yếu tố tự nhiên đó phải trong sạch, tươi đẹp, hài hòa thì mới đảm bảo chất lượng không gian sống cho con người Nếu vì nguyên nhân nào đó, chất lượng môi trường sống giảm đi, hay nói cách khác là môi trường bị ô nhiễm, thì không chỉ sức khỏe con người suy yếu mà ngay cả sự sống của con người trong môi trường đó tất yếu cũng bị hủy hoại Hơn thế nữa, môi trường lại có liên quan tới tương lai của đất nước, dân tộc Bảo vệ môi trường chính là để giúp cho sự phát triển kinh tế xã hội được bền vững Kinh tế- xã hội phát triển giúp chúng ta có đủ điều kiện để đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ vững độc lập chủ quyền; khi chính trị được ổn định lại tạo điều kiện tốt để phát triển kinh tế Bảo vệ môi trường là việc làm không chỉ có ý nghĩa hiện tại mà quan trọng hơn, cao cả hơn là nó có ý nghĩa cho tương lai Do
9 Tạp chí môi trường số 10- (120) kỳ 2 tháng 5 năm 2011, phát triển khu, cụm công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường, Mai Loan, trang 28
Trang 18đó, môi trường rất cần được bảo vệ, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ và duy trì sựu sống của con người, bảo vệ môi trường chính là góp phần xây dựng, thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển Thế nhưng, môi trường ngày nay đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Môi trường vẫn từng ngày, từng giờ bị chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của chúng ta làm cho ô nhiễm hơn,
sự phát triển bền vững vẫn đứng trước những thách thức lớn lao Trong đó, các khu công nghiệp là “ những điểm nóng” về tình trạng ô nhiễm môi trường Thực trạng ô nhiễm môi trường cùng với hậu quả ghê gớm của nó gióng lên một hồi chuông báo động cho biết rằng: đã đến lúc vấn đề môi trường cần phải được quan tâm đúng mức và cần phải có những biện pháp tích cực để bảo vệ môi trường, bởi sự ô nhiễm môi trường đối với tất cả các yếu tố của môi trường tự nhiên như không khí, nước, đất…ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe con người và là lực cản đối với sựu phát triển kinh tế- xã hội
Pháp triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường đang là vấn đề đặt ra không chỉ đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp mà còn đối với các ngành, các cấp Trong những năm gần đây, các khu công nghiệp (KCN) có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội ở Việt Nam Các KCN là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, bên những đóng góp tích cực, quá trình phát triển các KCN ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do chất thải, nước thải và khí thải công nghiệp gây ra, tác động đến đời sống, sức khỏe, sinh hoạt của dân cư, làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến phát triển bền vững Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp nói chung và KCN nói riêng đã gây tác động xấu đến các hệ sinh thái tự nhiên Đặc biệt nước thải sản xuất không qua xử lý, xả thải trực tiếp vào môi trường gây ra những thiệt hại đáng kể tới sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại các khu vực lân cận Mặc khác, ô nhiễm môi trường này đã làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính KCN
và cộng đồng dân cư sống gần đó Đáng báo động là tỷ lệ này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây và gây ra những tổn thất kinh tế không nhỏ
Những điều đó đã cho thấy rằng ngành công nghiệp đạng đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng như gia tăng mức độ ô nhiễm tại khu công nghiệp, suy giảm tài nguyên thiên nhiên tới mức báo động Việc tập trung phát triển cơ sở công nghiệp nặng có thể gây ra những vấn đề ô nhiễm về môi trường cho các địa phương và đe dọa môi trường toàn cầu Công nghiệp hóa nhanh có thể gây áp lực lớn tới nguồn tài nguyên khoáng sản, đồng thời gây hại đến sức khỏe con người Chính tình trạng ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân quan trọng làm phát sinh các bệnh hiểm nghèo, đồng thời đẩy tình trạng đối nghèo ngày càng trở nên trầm
Trang 19trọng Hậu quả của ô nhiễm môi trường công nghiệp là vô cùng to lớn Việc khắc phục ô nhiễm môi trường là một vấn đề rất phức tạp, lâu dài và đòi hỏi nguồn chi phí lớn Thực trạng đáng báo động về môi trường như trên đã đặt ra những vấn đề: bảo vệ môi trường sống trở thành một vấn đề toàn cầu cấp bách hiện nay Bởi vì, con người muốn tồn tại trên trái đất có một môi trường trong lành, sạch đẹp thì không còn cách nào khác là phải bảo vệ môi trường, tránh mọi hoạt động làm tổn thương, gây hại đến môi trường Đối với tất cả mọi quốc gia, nhất
là các quốc gia có nền kinh tế đang phát thì việc làm cấp thiết nhất đó là tăng cường công tác bảo vệ môi trường- nhất là môi trường trong khu công nghiệp, tìm mọi biện pháp xử lý khí thải, nước và rác thải Đặc biệt, ở nước ta với nền kinh tế đang trên đà phát triển, đời sống dân
cư còn nghèo nàn lạc hậu, các hoạt động phá hoại môi trường đang diễn ra khá bức xúc thì bên cạnh việc chấp hành luật bảo vệ môi trường thật nghiêm minh, điều quan trọng hơn cả là phải giáo dục ý thức bảo vệ môi trường tới từng cá nhân, hộ gia đình, tập thể dân cư và nhất là đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ở khu công nghiệp…Ngay lúc này, bằng bất cứ giá nào chúng ta cũng phải bảo vệ, giữ gìn một thiên nhiên, môi trường trong lành, sạch đẹp, cân bằng hệ sinh thái, có như vậy mới tránh khỏi tai họa cho thế hệ mai sau
Trang 20CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
2.1 Trách nhiệm của ban quản lý trong việc bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp
Ban Quản lý là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương ; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công
và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu
tư trong khu công nghiệp10
Giai đoạn trước đây, thì Ban quản lí KCN hoạt động theo Nghị định 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ về ban hành quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và Quyết định số 62/2002/QĐ- Bộ Khoa học và Công nghệ môi trường ngày 09/08/2002
về ban hành quy chế bảo vệ môi trường khu công nghiệp Trong giai đoạn này, vấn đề về trách nhiệm bảo vệ môi trường của ban quản lý khu công nghiệp chưa được đề cập đến nhiều trong các văn bản pháp lý, nghĩa là không có cơ sở pháp lý để ban quản lí thực thi trách nhiệm bảo
vệ môi trường của mình Ở một số khu công nghiệp, các ban quản lý khu công nghiệp lập ra phòng quản lý môi trường để thực hiện công tác bảo vệ môi trường hoặc phân công một phòng chức năng theo dõi về bảo vệ môi trường Để có cở sở pháp lý hoạt động, ban quản lý chủ động xây dựng quy chế phối hợp làm việc với sở chức năng quản lý môi trường trình chủ tịch
ủy ban nhân dân thành phố ban hành Nhìn chung, thời kỳ này nhiệm vụ bảo vệ môi trường của ban quản lý khu công nghiệp thường tập trung vào một số nội dung sau:
· Xem xét về góc độ môi trường (thông qua đánh giá trình độ công nghệ, thiết bị, nguyên liệu đầu vào, chất thải và phế liệu đầu ra) khi tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư trước đây và cấp giấy chứng nhận đầu tư hiện nay Nếu dự án có tiềm ẩn khả năng gây ô nhiễm đến môi trường thì trao đổi với công ty phát triển hạ tầng khi đàm phán và yêu cầu chủ đầu tư phải điều chỉnh, có giải pháp khắc phục hoặc thay đổi công nghệ cho đảm bảo
· Tuân thủ quy hoạch chi tiết, phân khu chức năng khi cho dự án vào khu và giám sát khi xây dựng để đảm bảo các dự án hoạt động phát triển bền vững, không tác động xấu đến môi trường và các dự án xunh quanh
· Hướng dẫn các chủ đầu tư, các doanh nghiệp tìm hiểu và tuân thủ luật pháp bảo vệ môi trường
10 Điều 1, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/03/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh
tế
Trang 21· Ra các văn bản nhắc nhở, đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện công tác bảo vệ môi trường, khai báo chủ nguồn thải chất nguy hại hoặc khi có hiện tượng vi phạm
· Quản lý hoạt động dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải công nghiệp; giới thiệu những đơn vị dịch vụ môi trường có chức năng, đủ năng lực cho doanh nghiệp có nhu cầu Các doanh nghiệp khi ký hợp đồng với đơn vị cung cấp dịch vụ môi trường được yêu cầu đăng ký hợp đồng tại ban quản lý để theo dõi Đơn vị cung cấp dịch vụ môi trường đủ thẩm quyền cấp
· Phối hợp với sở chức năng của thành phố, tỉnh trong công tác phổ biến tập huấn chuyên ngành, trong công tác kiểm tra, thanh tra bảo vệ môi trường khi được yêu cầu
· Phối hợp, tạo điều kiện giúp đỡ các đoàn công tác của cán bộ, ngành chức năng, các cơ quan nghiên cứu khoa học vào khu công nghiệp khảo sát, điều tra số liệu để phục vụ nghiên cứu khoa học và ra chính sách về môi trường, đồng thời tích cực tham gia ý kiến trong các hội thảo khoa học về môi trường
· Thường xuyên trao đổi với các công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp để nắm bắt tình hình, cùng công ty và cơ quan chức năng giải quyết các khiếu nại liên quan đến môi trường
Năm 2002, Bộ Khoa học và Công nghệ và Môi trường đã ban hành quy chế Bảo vệ môi trường khu công nghiệp kèm theo Quyết định số 62/2002/QĐ- Bộ khoa học công nghệ môi trường ngày 09/8/2002 về ban hành quy chế bảo vệ môi trường khu công nghiệp Theo quy chế này, ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh có trách nhiệm:
· Lập dự báo các sự cố môi trường khu công nghiệp, xây dựng kế hoạch phòng chống sự
cố và các biện pháp khắc phục sự cố trình ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc địa bàn quản lý;
· Phối hợp với sở khoa học, công nghệ và môi trường xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại cho các khu công nghiệp thuộc địa bàn quản lý;
· Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các khu công nghiệp thuộc quyền quản lý của mình tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường khu công nghiệp11;
11 Điều 35 Quyết định số 62/2002/QĐ – BKHCNMT ngày 09/8/2002 của Bộ Khoa học - Công nghệ - Môi trường quy định về việc ban hành quy chế bảo vệ môi trường khu công nghiệp
Trang 22· Phối hợp với thanh tra môi trường của bộ khoa học, công nghệ và môi trường và/hoặc của sở khoa học, công nghệ và môi trường thực hiện kiểm tra, thanh tra môi trường tại các khu công nghiệp thuộc địa phương mình12;
Đến năm 2009, khi Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp được ban hành thay thế cho Quyết định số 62/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 09 tháng 8 năm 2009 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc ban hành Quy chế bảo
vệ môi trường khu công nghiệp Theo thông tư này, vai trò ban quản lí khu công nghiệp đã được tăng cường hơn trong vấn đề bảo vệ môi trường Cụ thể như sau: ban quản lý khu công nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ủy quyền trong việc thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường của các dự án đầu
tư trong khu công nghiệp; giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường đối với các hoạt động của chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh dịch vụ trong KCN và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN;…Tóm lại, theo quy định của thông tư này và các văn bản có liên quan trong công tác bảo vệ môi tường khu công nghiệp thì ban quan lý có trách nhiệm như sau:
l Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ KCN thuộc thẩm quyền quản lý của mình thực hiện các quy định về việc bảo vệ môi trường khu công nghiệp
l Xây dựng cơ chế phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp huyện để thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao chủ trì trong công tác bảo vệ môi trường KCN
l Thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường của các dự án đầu tư vào KCN theo ủy quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong trường hợp báo cáo đánh giá tác động của dự án xây dựng kết cấu hạ tầng của khu công nghiệp được phê duyệt sau ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận là đã thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung bảo vệ môi trường nêu trong quyết định phê duyệt và báo cáo đánh giá tác động Khi đó, ban quản lý KCN được ủy quyền có trách nhiệm gửi báo cáo kết quả thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường cho Sở Tài nguyên và Môi trường, kết quả xác nhận cam kết bảo vệ môi trường cho Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện nơi có KCN
l Chủ trì hoặc phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan chức năng liên quan kiểm tra, xác nhận kết quả chạy thử nghiệm các công trình xử lý chất thải của dự án đầu
12 Điều 42 Quyết định số 62/2002/QĐ – BKHCNMT ngày 09/8/2002 của Bộ Khoa học - Công nghệ - Môi trường quy định về việc ban hành quy chế bảo vệ môi trường khu công nghiệp
Trang 23tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN và các công trình xử lý chất thải của các dự
án đầu tư xây dựng trong KCN trước khi đi vào hoạt động chính thức theo thẩm quyền
l Phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện việc giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý
vi phạm về bảo vệ môi trường đối với các hoạt động của chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN và các cơ quan sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN
l Chủ trì việc tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho đầu tư chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN; tổ chức phong trào thi đua và khen thưởng các doanh nghiệp trong khu công nghiệp có thành tích trong việc bảo vệ môi trường khu công nghiệp
l Tiếp nhận và giải quyết các tranh chấp, kiến nghị về môi trường giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong KCN; chủ trì và phối hợp với cơ quan chức năng giải quyết các tranh chấp, kiến nghị về môi trường giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trong KCN với bên ngoài; tiếp nhận và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tối cáo về môi trường trong KCN
l Thực hiện các nhiệm vụ khác theo thẩm quyền hoặc được ủy quyền theo quy định của pháp luật
Tóm lại, xét về thực tế thì ban quản lý khu công nghiệp là cơ quan có điều kiện nghiên cứu
về hồ sơ dự án ngay từ khi chủ đầu tư bắt đầu trình và cũng là cơ quan thường xuyên giám sát, quản lý các hoạt động, nhất là các hoạt động về bảo vệ môi trường của dự án trong khu công nghiệp sau này, do đó vấn đề trao một số quyền hạn nhất định cho ban quản lý khu công nghiệp là rất cần thiết để quản lý các doạnh nghiệp tại khu công nghiệp
2.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp của Ủy ban nhân dân các cấp
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người và sự phát triển kinh tế- văn hóa xã hội của đất nước Vì vậy, mỗi người dân cần phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, đồng thời các cơ quan quản lý nhà nước cũng cần đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ môi trường mà trực tiếp là Ủy ban nhân dân các cấp Trong quá trình nghiên cứu trách nhiệm của các chủ thể này trong việc bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp, người viết đã tìm đến Thông tư 08/2009/TT-BTNMT ngày 15/07/2009 quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp và các văn bản liên quan khác để xem xét những quy định của pháp luật về trách nhiệm quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Tuy nhiên với mục tiêu
Trang 24nghiên cứu đã thể hiện rõ ở phần đầu luận văn, người viết xin phân tích, tổng hợp một vài trách nhiệm của các chủ thể là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã; người viết không đi sâu vào từng trách nhiệm cụ thể mà pháp luật quy định Chủ yếu người viết làm sáng tỏ được trách nhiệm quản lý nhà nước của chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp, trong đó có trách nhiệm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp được chú trọng; đồng thời giới thiệu các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân các cấp
Ủy ban nhân dân tỉnh
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất ở địa phương, vì vậy trách nhiệm bảo vệ môi trường của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đặc biệt quan trọng, nó vừa mang lại môi trường trong sạch, vừa đem lại sự phát triển kinh tế- xã hội cho tỉnh nhà
Bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp của ủy ban nhân dân cấp tỉnh là nhiệm hết sức nặng
nề và khó khăn Đòi hỏi phải có sự quyết tâm cao của các cấp lãnh đạo, đặc biệt cơ quan quản
lí nhà nước về môi trường ở địa phương Mỗi ủy ban nhân dân tỉnh phải tập trung giải quyết kịp thời các vấn đề ô nhiễm môi trường hình thành và phát sinh tại khu công nghiệp thông qua nhiệm vụ và quyền hạn của mình Chẳng hạn như, ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm ban hành quy chế phối hợp giữa ban quản lý với cơ quan chuyên môn của ủy ban nhân dân cấp tỉnh
và cấp huyện trong việc quản lý và bảo vệ môi trường KCN trên địa bàn thuộc thẩm quyền quản lý của mình13 Và đây có thể coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đối với công tác bảo vệ môi trường
Trong công tác bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tiến hành thanh tra, kiểm tra việc thực hiện bảo vệ môi trường và các nội dung trong bản báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền phê của các chủ đầu tư
và kinh doanh hạ tầng KCN và các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN theo thẩm quyền Chỉ đạo hoặc phối hợp với ban quản lý khu công nghiệp và các cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm tra, xác nhận kết quả chạy thử nghiệm các công trình xử lý chất thải của các
dự án tại khu công nghiệp và các công trình xử lý chất thải trước khi đi vào hoạt động
Chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường qua các phương tiện thông tin để mọi doanh nghiệp tại khu công nghiệp hiểu được và tuân thủ pháp luật môi trường Từ đó hình thành ý thức bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp, không thải ra môi trường các chất thải chưa qua xử lý Mỗi doanh nghiệp phải có biện pháp xử lý nước thải do hoạt động sản xuất gây ra và hoàn thành hệ thống xử lý nước thải cục bộ theo quy định trước
13 Khoản 1, Điều 26, Thông tư 08/2009/TT-BTNMT ngày 15/07/2009 quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp
Trang 25khi dự án đi vào hoạt động, đấu nối chất thải về tram xử lý chất thải tập trung tại khu công nghiệp để xử lý, sử dụng những công nghệ hiện đại thay thế những thiết bị lạc hậu, sử dụng nguyên nhiên liệu thân thiện với môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại khu công nghiệp Tự giác chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, thực hiện nghĩa
vụ về phí xử lý chất thải theo quy định
Tăng cường chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các chủ đầu tư dự án có hành
vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và các quy định khác của pháp luật có liên quan; phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh; đối với những vấn đề vượt quá thẩm quyền thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ giải quyết hoặc trình Thủ tướng Chính Phủ xem xét, quyết định
Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc bảo vệ môi trường tại địa phương, mỗi Ủy ban nhân dân tỉnh trong cả nước điều phải tiến hành thành lập cơ quan chuyên môn theo quy định của pháp luật môi trường là Sở Tài nguyên và Môi trường, để quản
lý môi trường được chặt chẽ hơn
Ủy ban nhân dân cấp huyện
Ủy ban nhân dân cấp huyện do Hội đồng nhân dân huyện bầu ra, là cơ quan chấp hành các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, cơ quan hành chính địa phương cấp huyện, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trên
Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương cấp huyện, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước Trong công tác bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp Ủy ban nhân dân huyện có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường và nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án tại khu công nghiệp; chỉ đạo kiểm tra, giám sát kế hoạch vận hành thử nghiệm các công trình xử lý chất thải của các dự án đầu tư vào khu công nghiệp trước khi đi vào hoạt động chính thức; Chỉ đạo tổ chức công tác kiểm tra, thanh tra đột xuất, định kỳ, xử
lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; ; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị
về bảo vệ môi trường đối với khu công nghiệp trong địa bàn huyện theo thẩm quyền, đồng thời có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện lân cận để giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường có liên quan, hoặc đối với các vấn đề vượt quá thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện thì báo cáo cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trên trực tiếp giải quyết
Trang 26Cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường là phòng Tài nguyên và môi trường
Ủy ban nhân dân cấp xã
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã, thực hiện quản
lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trong phạm vi xã Chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về môi trường nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường, giúp Ủy ban nhân dân huyện quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường
Trong trách nhiệm bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp thì theo nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chủ động tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các chủ đầu tư dự án tại khu công nghiệp, đồng thời phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tịa khu công nghiệp thuộc địa bàn mình quản lý hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp trên trực tiếp giải quyết Ngoài ra, Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm chỉ đạo cho cán bộ phụ trách về môi trường làm tham mưu trong việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm
vụ bảo vệ môi trường
Mặc dù, pháp luật về bảo vệ môi trường có quy định cụ thể nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã trong việc quản lý bảo vệ môi trường, nhưng trên thực tế hiện nay cho thấy, cán
bộ chuyên trách về môi trường ở cấp xã còn thiếu hoặc kiêm nhiệm nhiều chức năng Cán bộ quản lý chưa được đào tạo một cách đồng bộ, đa số đều có trình độ chuyên môn về môi trường thấp, nên việc làm tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã gặp nhiều khó khăn Từ đó dẫn đến, không chủ động tổ chức được các đợt kiểm tra môi trường mà chỉ tham gia với các đoàn kiểm tra của cấp huyện hoặc cấp tỉnh Do không được trang bị các công cụ chuyên môn trong việc
đo đạt, xác định mức độ ô nhiễm môi trường, nên khi có sự cố môi trường hoặc tranh chấp về môi trường xảy ra thì đều mời cán bộ chuyên trách về môi trường cấp huyện tham gia giải quyết hoặc hòa giải các tranh chấp về môi trường…
Ø Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân các cấp trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường tại khu công nghiệp
Nghiên cứu về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp, người viết nhận thấy cần phải nghiên cứu thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của các Chủ tịch Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân trong công tác bảo vệ môi trường chung, được quy định cụ thể trong Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và một số văn bản pháp luật liên quan Vì môi trường tại khu
Trang 27công nghiệp là một bộ phận của môi trường chung, các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra tại
khu công nghiệp sẽ được xử lý theo các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường chung
+ Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân cấp tỉnh được quy định tại Khoản 3 Điều 40 Nghị định 117/2009/NĐ-CP Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phạt cảnh cáo và phạt tiền lên đến 500.000.000 đồng, cùng với các hình thức phạt khác như: tước quyền sử dụng giấy phép môi trường thuộc thẩm quyền hoặc do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp; tịch thu tang vật phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; buộc đưa
ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất chất thải, phế liệu, hàng hóa, vật phẩm và phương tiện nhập khẩu không đúng quy định về bảo vệ môi trường hoặc gây ô nhiễm môi trường đã đưa vào trong nước; buộc phục hồi môi trường; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra…
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế, chỉ đạo thực hiện quyết định cưỡng chế, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Công an cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các cơ quan có liên quan tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế
Trên thực tế ở nước ta hiện nay cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì tùy từng tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra Trách nhiệm hành chính được áp dụng phổ biến, ngay cả khi không có thiệt hại xảy ra, tức là không có trách nhiệm trách nhiệm dân sự và chưa đến mức chịu trách nhiệm hình sự
+ Đối với Ủy ban nhân dân huyện
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện được quy định tại Khoản 2 Điều 40 Nghị định 117/2009/NĐ-CP Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền phạt cảnh cáo và phạt tiền cao nhất đến 30.000.000 đồng Ngoài ra, cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây
ra, thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường đã đưa vào trong nước
Khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường thì ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện lân cận có liên quan để giải quyết các vấn đề về môi trường liên huyện
Trang 28+ Đối với Ủy ban nhân dân xã
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được quy định tại Khoản 1 Điều 40 Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử
lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là cảnh cáo
và phạt tiền đến 2.000.000 đồng; đồng thời có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện được
sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường có giá trị đến 2.000.000 đồng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy phép môi trường
do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp hay buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; không có thẩm quyền buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường đã đưa vào trong nước Ở một
số địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã còn lõng lẻo trong quản lý môi trường và hầu hết các hành vi vi phạm chưa được xử lý nghiêm, hoặc thậm chí chưa xử lý
Nếu có trường hợp vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường mà theo quy định không thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thì phải trình lên Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cấp tỉnh để giải quyết
2.3 Trách nhiệm bảo vệ môi trường của doanh nghiệp tại khu công nghiệp
2.3.1 Trách nhiệm pháp lý chung của doanh nghiệp
Ở nước ta, trong việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường thì đa số các tổ chức, cá nhân, nhất là các doanh nghiệp đều cảm thấy đây là một gánh nặng trách nhiệm, phải chi ra nhiều khoản kinh phí để thực hiện công tác bảo vệ môi trường mà không được lại lợi nhuận hay lợi ích nào cho họ, vì vậy các doanh nghiệp luôn mang tâm lý tránh né không thực hiện, hoặc thực hiện cho có, chú trọng về hình thức đối phó với cơ quan chức năng có thẩm quyền trong việc thực hiện bảo vệ môi trường tại cơ sở của mình quản lý Chẳng hạn như thiêu đốt hay vứt bỏ, xả thải thẳng xuống sông, hồ để thay thế cho công nghệ xử lý tốn kém, hiện đại
và có chất lượng cao Chính vì thế ý thức bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp còn rất yếu kém và môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng hơn Do đó, để góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường thì điều trước tiên và quan trọng nhất là các doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường Theo Điều 35 luật bảo vệ môi trường
2005 thì các doanh nghiệp tại khu công nghiệp có trách nhiệm sau:
· Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo đúng quy định của pháp luật đối với đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định tại điều 18 luật bảo vệ môi trường 2005
Trang 29· Phải nghiêm chỉnh thực hiện tốt các biện pháp bảo vệ môi trường do các haotj động của chính doanh nghiệp gây ra thông qua việc đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thu gom và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường, trường hợp nước thải được chuyền về hệ thống xử lý nước thải tập trung thì phải tuân thủ các quy định của tổ chức quản lý hệ thống xử
lý nước thải tập trung; hoặc đầu tư cải tiến công nghệ, lắp đặt các phương tiện, thiết bị thu gom, lưu giữ chất thải rắn cũng như các thiết bị giảm thiểu và xử lí bụi, khí thải đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường; đầu tư xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng môi trường…
· Khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động của mình gây ra nhằm ngăn chặn kịp thời những hậu quả xấu do ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường gây ra, đồng thời nhanh chóng tìm ra các giải pháp khôi phục lại tình trạng môi trường trước khi bi ô nhiễm
· Bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có sử dụng hóa chất, chất phóng xạ, chất dễ gây cháy, nổ
· Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người lao động trong doanh nghiệp nhằm năng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường của chính doanh nghiệp
· Chấp hành chế độ kiểm tra, thanh tra bảo vệ môi trường Nghĩa là doanh nghiệp tại khu công nghiệp có trách nhiệm phải tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp đây đủ các thông tin và tài liệu cần thiết cho cơ quan chức năng kiểm tra, thanh tra môi trường làm việc, đồng thời phải nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ các yêu cầu của thanh tra trong thời gian quy định nếu doanh nghiệp có hoạt động vi phạm quy chế bảo vệ môi trường khu công nghiệp
· Phải chịu trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm môi trường Khi đó, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà doanh nghiệp có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, nếu doanh nghiệp gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường, gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân hay doanh nghiệp khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
Bởi vì doanh nghiệp có một vị trí rất quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường nên đòi hỏi các doanh nghiệp bên cạnh việc tuân thủ đúng các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, còn phải thường xuyên tham gia bảo vệ môi trường bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước
Trang 302.3.2 Trách nhiệm của doanh nghiệp trong vấn đề đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự
án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó14 Theo đó, các chủ doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư dự án thì phải có trách nhiệm phân tích, đánh giá,
dự báo các tác động đến môi trường do những hoạt động phát sinh từ dự án gây ra và đồng thời dựa trên những cơ sở phân tích, đánh giá và dự báo các ảnh hưởng tới môi trường đề ra các biện pháp về bảo vệ môi trường nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tác động xấu đến môi trường Do đó, các doanh nghiệp có nghĩa vụ phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo các quy định của Luật bảo vệ môi trường Tuy nhiên không phải mọi chủ thể thực hiện dự án đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, mà chỉ các doanh nghiệp thực hiện dự án có khả năng ảnh hưởng tới môi trường ở mức độ nhất định thì mới phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Những đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định cụ thể tại Điều 18 Luật Bảo vệ môi trường 200515 và phụ lục kèm theo Nghị định số 21/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường 2005 Báo cáo đánh giá tác động môi trường được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án Khi đó, chủ thể có thể tự mình hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Trong trường hợp co thay đổi về quy mô, nôi dung, thời gian triển khai, thực hiện, hoàn thành dự án thì chủ dự án có trách nhiệm giải trình với cơ quan phê duyệt, trong trường hợp cần thiết phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung16
Trình tự thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế thường qua các bước sau17
:
· Lược duyệt các tác động môi trường
· Đánh giá tác động môi trường sơ bộ hay còn gọi là đánh giá nhanh
· Đánh giá tác động môi trường đầy đủ và chi tiết
Tùy thuộc vào mục tiêu và nội dung của từng dự án phát triển khác nhau mà việc thực hiện các bước đánh giá khác nhau Đối với dự án mà các hoạt động phát triển của chúng không gây
ra hoặc gây ra tác động xấu không đáng kể thì chỉ lược duyệt quy rồi trình cấp trên xét và ra quyết định Còn đối với dự án phát triển có quy mô lớn, các hoạt động phát triển của chúng có
14
Khoản 20, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường
15 Điều 18, các đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, Luật Bảo vệ môi trường 2005
16 Điều 19 luật bảo vệ môi trường 2005
17 Lê Xuân Hồng, Cơ sở đánh giá tác động môi trường, nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2006, trang 69
Trang 31khả năng gây ô nhiễm nghiêm trọng cho cộng đồng và tác động rất xấu cho môi trường hoặc nằm trong vùng có quy hoạch đặc biệt thì cần phải đánh giá tác động môi trường
Ä Lược duyệt các tác động môi trường:
Bất kỳ một dự án phát triển kinh tế-xã hội nào cũng phải qua bước lược duyệt các tác động môi trường Nội dung của lược duyệt các tác động môi trường là xem xét mục tiêu, quy mô, nội dung, các hoạt động chính, các nguyên tắc dây chuyền công nghệ, địa điểm thực hiện dự
án, kinh phí của dự án Trên cơ sở đó, xem xét lại các dự án đang được xem xét này trong thực
tế đã bị những tác động gì ảnh hưởng xấu đến môi trường, Những hoạt động nào có khả năng gây ra tác động tiêu cực thì có thể điều chỉnh ngay khi đang hoàn thành dự án Theo đó, các doanh nghiệp sẽ thực hiện các công việc cụ thể như sau:
+ So sánh dự án đang xét với loại dự án đã thực hiện qua một số chỉ tiêu như địa điểm, quy
mô, mục tiêu
+ So sánh dựu án đang xem xét với dự án thường không cần đánh giá tác động môi trường như dự án xây dựng trường học, khu nhà ở tập thể học sinh-sinh viên…
+ Thu thập các thông tin và phân tích các thông tin có sẵn; dự báo các tác động chung của
dự án và so sánh với khả năng chịu đựng của môi trường
+ Đánh giá toàn diện và chi tiết nôi dung của dự án trên cơ sở tài liệu có sẳn; vane bản quyết định lược duyệt
Kết thúc bước luyệt duyệt, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ra kết quả thẩm định có thể là: dự án không có tác động gì đáng kể ảnh hưởng xấu đến môi trường, do đó chỉ dừng lại ở bước lược duyệt và không cần tiếp tục thực hiện đánh giá tác động môi trường tiếp theo hoặc
dự án đang xem xét cần thiết tiến hành bước đnahs giá tác động môi trường sơ bộ
Ä Đánh giá tác động môi trường sơ bộ (đánh giá tác động môi trường nhanh):
Nội dung của bước đánh giá này là nghiêm cứu, phân tích các tác động của các hoạt động phát triển của dự án ở mức cao hơn, sâu sắc hơn, cụ thể là:
+ Xác định các tác động chính của dự án đối với môi trường hiện tại trên địa bàn diễn ra dự án; mô tả chung và phạm vi đánh giá
+ Dự báo sơ bộ các tác động chính của hoạt động phát triển dự án có ảnh hưởng đến tài nguyên và môi trường
+ Trình bày kết quả đánh giá sơ bộ với cơ quan thẩm định ra quyết định
Trang 32Doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá tác động môi trường sơ bộ trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, lồng ghép trong đánh giá luận chứng kinh tế ký thuật của dự án Kết quả đánh giá tác động môi trường sơ bộ được đệ trình lên cơ quan quản lý môi trường cấp trên thẩm định và
ra quyết định Kết quả thẩm định có thể là: không cần thiết phải tiếp tục thực hiện đánh giá tác động môi trường đầy đủ và chi tiết hoặc dự án cần phải tiếp tục thực hiện đánh giá tác động môi trường đầy đủ và chi tiết
Ä Đánh giá tác động môi trường đầy đủ và chi tiết:
Sau khi dự án có quyết định phải đánh giá tác động đầy đủ và chi tiết thì doanh nghiệp phải tiến hành ngay kế hoạch cho công tác đánh giá tác động môi trường đầy đủ và chi tiết sau: + Xác định các tác động đến môi trường: đó là các hoạt động cụ thể sẽ diễn ra trong quá trình thực hiện dự án, sẽ dẫn đến các tác động môi trường
+ Xác định các hành động quan trọng của dự án: trên cơ sở nôi dung luận chứng kinh tế kỹ thuật, doanh nghiệp xác định các hoạt động quan trọng nhất sẽ xảy ra trong quá trình thực hiện
dự án nhằm mục đích là xác định khả năng tác động có thể nảy sinh khi thực thi dự án đến môi trường
+ Xác định các biến đổi môi trường do các hành động đó gây ra: trong mỗi hành động của các hoạt động phát triển có thể gây ta các biến đổi về môi trường vất lý, sinh học, cảnh quan, văn hóa-xã hội tại địa bàn diễn ra hoạt động
+ Xác định các tác động đến tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống của con người
+ Đánh giá tầm quan trọng của các tác động: trong các tác động đã được xây dựng và dự báo cần chỉ rõ những tác động nào là quan trọng nhất và cần thiết phải xử lý Trên cơ sở đó, có thể lập danh mục các tác động theo thứ tự ưu tiên cần xử lý
+ Nghiên cứu, dự báo, đánh giá rủ ro môi trường: mục đích của công việc này là nhằm dự báo cái gì sẽ xảy ra và mức độ của rủ ro có liên quan đến toàn bộ quá trình phát triển của dự
án
+ Xác định các biện pháp xử lý các tác động môi trường: sau khi phân tích và xác định được các tác động môi trường quan trọng, cần căn cứ vào các hiểu biết về khoa học, công nghệ và quản lý môi trường để đề xuất biện pháp phòng tránh, thay thế, khắc phục, xử lý các tác động tiêu cực, cải thiện các yếu tố về tài nguyên và môi trường
Trang 33+ Trình bày và thông báo kết quả đánh giá tác động môi trường: kết quả đánh giá tác động môi trường phải được thông báo kịp thời và trình bày đầy đủ với người ra quyết định Thông báo này phải được thể hiện rõ trong báo cáo đánh giá tác động môi trường
Tóm lại, đánh giá tác động môi trường là quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các hậu quả xấu
về môi trường của một dự án phát triển kinh tế-xã hội hoặc một công trình xây dựng cơ bản quan trọng của đất nước, xem xét việc thực hiện công trình hay dự án đó sẽ gây ra những vấn
đề gì đối với môi trường, đối với đời sống con người tại khu vực thực hiện dự án cũng như xem xét tính hiệu quả của dự án Vì thế, trên cơ sở các quy định của pháp luật về nội dung, trình tự, thủ tục thực hiện đánh giá tác động môi trường đó, các doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện đúng các quy định pháp luật về báo cáo đánh giá tác động môi trường Bất cứ doanh nghiệp nào khi có hành vi vi phạm pháp luật về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
2.3.3 Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tuân thủ tiêu chuẩn môi trường
Hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường là một phần quan trọng của luật pháp của nhà nước Việt Nam về bảo vệ môi trường, bởi hệ thống tiêu chuẩn có vị trí và vai trò rất quan trọng hoạt động kiểm soát môi trường, điều đó được thể hiện ở các khía cạnh sau:
+ Tiêu chuẩn môi trường là cơ sở khoa học để xác định chất lượng môi trường sống của con người, xác định mức độ ô nhiễm của từng thành phần môi trường cụ thể, xác định các biện pháp ngăn chặn và khắc phục tinhd trạng môi trường bị ô nhiễm Nói cách khác thì tiêu chuẩn môi trường là căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường, đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo tình hình môi trường…
+ Tiêu chuẩn môi trường giúp cho các chủ thể khác có nhu cầu khai thác, sử dụng các thành phần môi trường biết được phạm vi giới hạn mà họ được phép tác động đến môi trường cũng như biết được họ đang sống trong môi trường như thế nào Nghĩa là tiêu chuẩn môi trường sẽ giúp cho các tổ chức, cá nhân và các doanh nghiệp biết được quyền và nghĩa vụ của họ trong lĩnh vực môi trường
+ Tiêu chuẩn môi trường là căn cứ pháp lý để các chủ thể có thẩm quyền xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả mà con người gây ra đối với môi trường, từ đó có
cơ sở để áp dụng trách nhiệm pháp tương ứng
Như vậy, để tìm hiểu và thực thi nghiêm chỉnh tiêu chuẩn môi trường, các doanh nghiệp cần phải hiểu “thế nào là hệ thống quan lý môi trường?”
Hệ thống quản lý môi trường là một cơ cấu tổ chức về khía cạnh môi trường của cấu trúc quản lý tổng thể của một tổ chức (doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp, cơ quan, đơn vị sản