Để góp phần nâng cao hiệu quả của việc quản lý thuế, ngày càng hoàn thiện pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng cũng như nhằm để phần nào ngăn chặn các hành vi trốn thuế, gian lận
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT KHÓA 2009-2013
Đề tài : TRỐN THUẾ, GIAN LẬN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA CÁC DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA, THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
MSSV: 5095642 Lớp: Luật thương mại 1-K35
Cần Thơ, Tháng 12 năm 2012
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 5
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Bố cục của đề tài 3
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 4
1.1 Lược sử về sự ra đời và phát triển của thuế TNDN ở nước ta 4
1.2 Đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 9
1.2.1 Đặc điểm của thuế TNDN nước ta 9
1.2.2 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta 10
1.3 Những nội dung cơ bản của thuế thu nhập doanh nghiệp 11
1.3.1 Đối tượng nộp thuế TNDN (Điều 2 Luật thuế TNDN năm 2008) 11
1.3.2 Thu nhập tính thuế TNDN (Khoản 1 Điều 7 Luật thuế TNDN năm 2008).12 1.3.3 Thu nhập chịu thuế TNDN (Khoản 2 Điều 7 Luật thuế TNDN năm 2008) 13 1.3.4 Thu nhập miễn thuế TNDN 14
1.3.5 Doanh thu để tính thuế TNDN (Điều 8 Luật thuế TNDN năm 2008) 15
1.3.6 Các khoản chi phí hợp lý được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế (Điều 9 Luật thuế TNDN năm 2008) 17
1.3.6.1 Các khoản chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế 17
1.3.6.2 Các khoản chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế 17
1.3.6 Phương pháp tính thuế TNDN 19
1.3.7 Những nội dung cơ bản khác 19
1.3.7.1 Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp Error! Bookmark not defined 1.3.7.2 Thuế suất thuế TNDN Error! Bookmark not defined 1.3.7.3 Chuyển lỗ Error! Bookmark not defined
Chương II CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN, THỰC TRẠNG VỀ TRỐN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP, GIAN LẬN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN Error! Bookmark not defined 2.1 Các khái niệm cơ bản Error! Bookmark not defined
2.1.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Error! Bookmark not defined 2.1.2 Trốn thuế thu nhập doanh nghiệp là gì ? Error! Bookmark not defined
Trang 32.1.3 Gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp là gì ? Error! Bookmark not
defined
2.1.4 So sánh giữa hành vi trốn thuế thu nhập doanh nghiệp và gian lận thuế thu
nhập doanh nghiệp Error! Bookmark not defined
2.1.5 Hậu quả của hành vi trốn thuế, gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp của
các doanh nghiệp ở nước ta Error! Bookmark not defined
2.2 Quy định pháp luật về hành vi trốn thuế, gian lận thuế Error! Bookmark not
defined
2.2.1 Quy định về hành vi trốn thuế, gian lận thuế tại Luật quản lý thuế năm
2006 ( Luật này có hiệu lực ngày 01/072007) Error! Bookmark not defined
2.2.2 Quy định của Bộ luật hình sự về Tội trốn thuế (Điều 161 Bộ luật hình sự
hiện hành) Error! Bookmark not defined
2.3 Phân biệt giữa hành vi trốn thuế thu nhập doanh nghiêp, hành vi gian lận thuế thuế thu nhập doanh nghiệp với các hành vi vi phạm pháp luật về thuế khác Error! Bookmark not defined 2.4 Thực trạng trốn thuế TNDN của các doanh nghiệp nước ta và giải pháp Error! Bookmark not defined
2.4.1 Không thực hiện việc đăng ký kinh doanh cho các ngành, dịch vụ mới phát
sinh Error! Bookmark not defined
2.4.2 Chủ doanh nghiệp thực hiện việc trốn thuế thu nhập doanh nghiệp bằng
cách bỏ trốn Error! Bookmark not defined
2.4.3 Khai báo lỗ để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua hình thức
chuyển giá của các doanh nghiệp Error! Bookmark not defined
2.5 Thực trạng gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp ở nước ta và giải pháp Error! Bookmark not defined
2.5.1 Thực trạng chung về tình hình các doanh nghiệp gian lận thuế ở nước ta
Error! Bookmark not defined 2.5.2 Gian lận thuế TNDN thông qua việc ký hợp đồng lao động Error!
Bookmark not defined
2.5.3 Gian lận thuế TNDN thông qua việc hợp thức hóa các khoản chi không được trừ 48
2.5.3.1 Hợp thức hóa các khoản chi không được trừ 48 2.5.3.2 Kê khai số lượng hàng hóa bị hư hỏng do hết hạn sử dụng, bị hư hỏng
do thay đổi quá trình sinh hóa tự nhiên không được bồi thường lớn hơn thực tế 49
Trang 42.5.3.3 Kê khai giá trị hàng hóa, dịch vụ đã bán, cung ứng hoặc mua vào sai
thực tế 52
2.6 Một số nguyên nhân dẫn đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp 53
2.5.1 Về tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế của nước ta 53
2.6.2 Về quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự 53
2.7 Một số giải pháp hoàn thiện 54
2.7.1 Củng cố và tổ chức lại bộ máy thanh tra 54
2.7.2 Tăng cường chất lượng của công chức quản lý thuế 54
2.8 Kiến nghị 55
2.8.1 Kiến nghị với Quốc hội 55
2.8.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 56
KẾT LUẬN 57
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Thuế là nguồn thu chủ yếu của quốc gia, là công cụ hữu hiệu để nhà nước thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội Trong những năm gần đây, Nhà nước đã và đang thực hiện các chính sách miễn thuế, giảm thuế đối với nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh Đồng thời không ngừng hoàn thiện các chủ trương, chính sách cũng như pháp luật về thuế nói chung và luật thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng Theo mục tiêu của Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai
đoạn 2011-2020 là “Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công
bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước Xây dựng ngành thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên
ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bach, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao” Để thực hiện nhiệm vụ đề ra trong nhiều năm qua nước ta
luôn luôn coi trọng công tác quản lý thuế nói chung và công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng Thực tế cho thấy công tác quản lý thuế của nước ta đã
có nhiều bước tiến vượt quan trọng cùng với việc đó Nhà nước ta cũng không ngừng nới lỏng chính sách thuế cho doanh nghiệp như: giảm thuế suất; thuế suất ưu đãi cho một số ngành nghề mà nhà nước khuyến khích đầu tư; cho phép gia hạn thuế; …và cũng tăng cường việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý thuế nói chung Nhưng thực trạng việc trốn thuế và gian lận thuế, nhất là ở lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng ở nước ta mấy năm gần đây có chiều hướng gia tăng và thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn gây nhiều thất thoát cho ngân sách Nhà nước Để hạn chế thất thu thuế thì phải có một chính sách thuế và phương thức quản lý phù hợp với tình hình phát triển của nền kinh tế, đảm bảo hài hoà lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và người nộp thuế Có thể nói nguyên nhân gây thất thu bắt nguồn từ một chính sách thuế và phương thức quản lý chưa phù hợp với
sự phát triển của nền kinh tế Điều quan trọng để đáng nói là hậu quả nghiêm trọng
Trang 6để lại từ những việc trốn thuế, gian lận thuế đó mà đặc biệt là đối với việc trốn thuế, gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp Như chúng ta đã biết trong hệ thống thuế của Việt Nam, thuế TNDN là một trong những loại thuế có vai trò hết sức quan trọng đối với ngân sách Nhà nước, có phạm vi ảnh
hưởng lớn không chỉ tới hoạt động đầu tư, sản xuất của các doanh nghiệp, tiêu dùng của toàn xã hội mà còn dưới góc độ huy động nguồn thu cho NSNN Việc gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp trước tiên là làm giảm thu ngân sách nhà nước Hai là, tạo ra sự bất công bằng giữa các chủ thể phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, từ thực tế đó nó làm giảm đi hiệu quả áp dụng pháp luật về thuế nói chung và pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp trong nhân dân nói riêng và những hệ lụy xấu khác
Vì vậy, việc tìm ra những nguyên nhân để có những giải pháp khắc phục kịp thời là một yêu cầu khẩn thiết được đặt ra đối với ngành thuế nói riêng và Chính
phủ nói chung Để góp phần nâng cao hiệu quả của việc quản lý thuế, ngày càng
hoàn thiện pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng cũng như nhằm để phần nào ngăn chặn các hành vi trốn thuế, gian lận thuế TNDN đã làm thất thu ngân sách
nhà nước người viết đã chọn đề tài: “Trốn thuế, gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp ở Việt Nam - Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện”
để nghiên cứu trong luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Nhằm phân tích được những quy định của pháp luật tìm ra những hạn chế, thiếu sót mà luật chưa quy định cụ thể Làm cho các doanh nghiệp dựa vào đó để “lách luật” trốn thuế, gian lận thuế TNDN Đồng thời, nhằm phát hiện những quan hệ pháp luật nào về thuế TNDN mà Luật thuế TNDN hiện hành đã quy định rõ ràng, những quan hệ nào chưa được quy định rõ ràng Từ đó thông qua thực tiễn người viết sẽ đưa ra những giải pháp đề xuất để hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật để điều chỉnh tốt hơn những mối quan hệ đó trong thực tiễn đời sống, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thuế nói chung cũng như pháp luật về thuế TNDN nói riêng
3 Phạm vi nghiên cứu
Trước tiên, người viết sẽ nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của Luật thuế TNDN nước ta bắt đầu từ Luật thuế lợi tức năm 1990 đến Luật thuế TNDN năm 2008, kế đến người viết sẽ nghiên cứu sơ lược những nội dụng của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành, tiếp theo người viết sẽ phân tích những quy định của pháp luật về hành vi trốn thuế, gian lận thuế nói chung và biện pháp xử lý đối với hai hành vi này, cuối cùng người viết sẽ phân tích tình hình trốn thuế, gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp ở nước ta và nêu ra những ví
Trang 7dụ thực tiễn để phân tích rõ ràng hơn những hạn chế của pháp luật mà thông qua đó doanh nghiệp có thể trốn thuế, gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp và đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn của mình người viết đã sử dụng các phương pháp sau đây: Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở: Nhằm để hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật về thuế TNDN nước ta từ khi Luật thuế lợi tức năm
1990 ra đời cho đến Luật thuế TNDN năm 2008
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp thông tin, số liệu thu thập được Phương pháp phân tích luật viết
Phương pháp phỏng vấn và xử lý các ý kiến phỏng vấn
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của người viết được chia làm 02 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong chương này người viết sẽ tìm hiểu lược sử về quá trình phát triển của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp nước ta, vai trò và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp, những nội dung cơ bản của luật thuế thu nhập doanh nghiệp
Chương 2: Các khái niệm cơ bản, thực trạng về trốn thuế thu nhập doanh nghiệp, gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp và một số giải pháp hoàn thiện
Trong chương này người viết sẽ nêu lên những khái niệm cơ bản, những quy định của pháp luật đối với việc trốn thuế gian lận thuế nói chung được quy định tịa Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành, Luật quản lý thuế và các luật khác có liên quan Thực tiễn từng hành vi trốn thuế thu nhập doanh nghiệp, từng hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp để từ nhận thấy những bất cập trong quy định của pháp luật, nêu ra những giải pháp khắc phục và kiến nghị để hoàn thiện pháp luật
Trang 8Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP (TNDN)
1.1 Lịch sử về sự ra đời và phát triển của thuế TNDN ở nước ta
Thuế TNDN là một loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của các tổ chức, cá nhân kinh doanh Thuế TNDN gần như tồn tại ở tất cả các nước Ở nước ta, dưới thời Pháp thuộc không có thuế TNDN trong hệ thống thuế Nhà nước Pháp đặt ra các loại thuế khác nhau lên các loại hình kinh doanh, hàng hóa, các cá nhân khác nhau Các loại thuế phổ biến lúc bấy giờ là thuế rượu, thuế muối, thuế thân Những loại thế đó áp dụng vào nước ta chủ yếu là để tăng cường vơ vét sức người, sức của của nhân dân ta làm cho đời sống của nhân dân ta ngày càng cùng cực nên việc áp dụng các loại đó đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ từ người dân
Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ đất nước ta bị chia cắt làm hai miền, miền Bắc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Ở miền Nam, chính phủ miền Nam Việt Nam dưới sự giúp đỡ của Mỹ bắt đầu xây dựng nền kinh tế thị trường Theo Taylor, ở miền Nam Việt Nam vào những năm 1960 cá nhân và doanh nghiệp có thu nhập từ kinh doanh đều phải nộp thuế lợi tức ( trừ những khoản thu nhập từ chứng khoán và lợi nhuận từ tài sản) Cơ sở kinh doanh không phải là công
ty thì phải nộp thuế ở mức thuất xuất là 16%, còn cơ sở kinh doanh là công ty thì
cách hệ thống thuế Ngân hàng thế giới và chính phủ Mỹ đã tư vấn, hỗ trợ cho quá trình cải cách này() Luật thuế thu nhập năm 1971 đã được ban hành và có nhiều
cơ hội áp dụng nhiều ở nước ta cho đến ngày 30/4/1975
Ở miền Bắc, không có một loại thuế nào đánh lên lợi nhuận của các doanh nghiệp Bởi vì, giống như ở các nước Đông Âu cũ, doanh nghiệp quốc doanh chiếm
tỉ lệ lớn trong nền kinh tế Doanh nghiệp nhà nước nhận kinh phí hoạt động sản xuất
từ ngân sách nhà nước và lợi nhuận thu được sẽ nộp về cho nhà nước, người lao động trong các doanh nghiệp nhà được hưởng lương như công chức nhà nước Nguồn thu từ doanh nghiệp quốc doanh là nguồn thu chính của ngân sách nội địa Chính phủ cũng đã từng sử dụng thuế như là công cụ để hạn chế là loại trừ doanh nghiệp tư nhân.()
Trang 9Ngày 30/04/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, miền Nam và miền Bắc thống nhất và bắt đầu cây dựng chủ nghĩa xã hội ở cả hai miền Chính sách thuế của miền Bắc cũng được áp dụng cho miền Nam Theo Ngô Đình Quang và Nguyễn Tiến Dũng, hệ thống thuế lúc bấy giờ chỉ có thuế nông nghiệp, thuế đối với doanh
Năm 1990 sự ra đời của thuế TNDN ở nước ta ( sau ngày thống nhất đất nước)
là kết quả của việc cải cách hệ thống thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới
Tháng 07/1990 tại kỳ họp thứ 03 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII đã thông qua Thuế lợi tức, đó là tiền thân của thuế TNDN Loại thuế này có những điều khoản giống như Luật thuế lợi tức của Trung Quốc Theo Luật thuế lợi tức năm 1990 của nước ta, có nhiều loại thuế, mức thuế đánh lên thu nhập của các doanh nghiệp, tùy thuộc vào thành phần kinh tế Doanh nghiệp nhà nước chịu thuế khác doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trong nước chịu thuế suất khác với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Việc sử dụng chính sách thuế như công cụ kêu gọi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài lại dẫn đến sự đối xử không bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Có thời điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ nộp thuế lợi tưc với thuế suất là 25% ( và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài nếu họ chuyển phần lợi nhuận này ra khỏi lãnh thổ Việt Nam) còn doanh nghiệp trong nước phải nộp thuế lên đến 45% và có thể còn phải nộp thêm thuế thu nhập bổ sung Sau đó Thuế lợi tức được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 03, Quốc hội khóa IX, tháng 07/1993 Luật thuế lợi tức năm 1990 là tiền thân của luật thuế TNDN, một mặt phần nào giải quyết được các mục tiêu đề ra, nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định
Để phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngày 10/5/1997, Luật thuế TNDN đươc Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức Luật thuế TNDN năm 1997 về cơ bản đã đạt được những mục tiêu chủ yếu và đạt được một
số yêu cầu đặt ra và có những tiến bộ hơn so với Luật thuế lợi tức năm 1990 là:
- Bao quát được các khoản thu nhập phát sinh trong doanh nghiệp phù hợp với kinh tế thị trường;
- Thống nhất một mức thuế suất, đảm bảo công bằng trong chính sách thuế;
Trang 10- Hình thành một cơ chế nhất quán trong việc ưu đãi thuế TNDN phục vụ công cuộc đổi mới trong nền kinh tế quốc, đảm bảo sự đồng bộ với việc áp dụng thuế giá trị gia tăng
Luật thuế TNDN năm 1997 đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tăng thu cho nhân sách nhà nước Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số mặt hạn chế nhất đinh là:
- Mức thuế suất của luật thuế TNDN năm 1997 vẫn còn khá cao ( thuế suất 32%) so với các nước trong khu vực lúc bấy giờ dẫn đến việc khả năng kích thích các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam chưa cao;
- Vẫn còn tình trạng phân biệt trong chính sách thuế giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
- Có sự không thống nhất, không đồng bộ giữa Luật thuế TNDN năm 1997 với Luật khuyến khích đầu tư trong nước;
- Các thủ tục hành chính trong thủ tục kê khai, nộp thuế còn mang đậm cơ chế
“xin-cho”
Ngày 17/6/2003 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế TNDN sửa đổi, bổ sung năm 2003 Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003 để thay thế cho Luật thuế TNDN năm 1997 đồng thời để khắc phục những hạn chế của Luật thuế TNDN năm 1997 để cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước (Luật thuế TNDN năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2004)
Nhìn chung, Luật thuế TNDN năm 2003 về cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra- khắc phục được những hạn chế của Luật thuế TNDN năm 1997, đánh dấu bước phát triển quan trọng góp phần cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội như:
Thứ nhất: Luật thuế TNDN năm 2003 đã có tác động tích cực trong việc cải
thiện môi trường đầu tư, kinh doanh Luật này đã bỏ thu thuế bổ sung và hạ mức thuế từ 32% xuống 28% đối với doanh nghiệp trong nước; bãi bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (3%, 5%, 7%) đối với nhà đầu tư nước ngoài để chuyển từ mức thuế TNDN 25% sang áp dụng chung mức thuế 28% như các doanh nghiệp trong nước Việc điều chỉnh giảm mức thuế đối với doanh nghiệp trong nước không chỉ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp mới thành lập mà còn tạo thêm tiềm lực tài chính cho các doanh nghiệp đang hoạt động (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước) đổi
Trang 11mới trang thiết bị, bổ sung vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Theo số liệu thống kê năm 2006, chỉ tính riêng 45 Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, vốn kinh doanh đã được tích luỹ, bổ sung thêm gần 5.300
tỷ đồng, quỹ đầu tư phát triển tăng gần 13.000 tỷ đồng và quỹ dự phòng tài chính để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh tăng khoảng 2.000 tỷ đồng Luật thuế TNDN năm 2003 cũng quy định chính sách ưu đãi trên cơ sở chọn mức ưu đãi thuế cao nhất trong Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam để áp dụng chung cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài đã khắc phục sự khác biệt đối xử trong ưu đãi đầu tư, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng phát triển, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế cao trong những năm vừa qua của nước ta trong thời kỳ hội nhập kinh tế.()
Thứ hai: Góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước
(NSNN) Mặc dù đã hạ mức thuế và áp dụng các mức ưu đãi cao nhưng số thu NSNN về thuế TNDN vẫn bảo đảm tăng trưởng do có tác động cải thiện môi trường đầu tư, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều phát triển
về số lượng, quy mô và hiệu quả kinh doanh, mức thuế hợp lý tác động đến việc tự giác sự tuân thủ tốt hơn Trong giai đoạn 2004 – 2007, số thu thuế TNDN (không
kể thu từ dầu khí) đạt mức bình quân trên 30 ngàn tỷ đồng/năm với mức tăng trưởng bình quân hàng năm gần 17% Luật thuế TNDN đã góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của NSNN, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng về đầu tư phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng cố an ninh, quốc phòng của đất nước
Thứ ba: Thúc đẩy cải cách hành chính trong quản lý thuế và ưu đãi đầu tư: Luật
thuế TNDN áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự tính, tự khai, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của số liệu đã kê khai thay cho cơ chế cơ quan thuế tính thuế, thông báo thuế, quyết toán thuế không còn như trước mang đậm cơ chế “xin-cho” Việc ban hành và thực thi Luật thuế TNDN năm 2003 đã đánh dấu một bước tiến về cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thuế và đầu tư khi đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc lựa chọn, xác định điều kiện và mức ưu đãi thuế
mà không cần giấy phép, giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư Nhờ việc chuyển sang cơ chế mới, cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực vào công tác tuyên truyền,
hỗ trợ, kiểm tra, giám sát để giúp cho doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của pháp luật
Trang 12Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trong quá trình thực hiện và trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới, Luật thuế TNDN năm 2003 đã bộc lộ một số hạn chế, tồn tại như sau:
Thứ nhất: Mức thuế suất 28% tuy phù hợp với tình hình thực tế khi ban hành
nhưng đến nay chưa thực sự cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài do các nước trong khu vực đã có sự điều chỉnh giảm mức thuế suất thuế TNDN (ví dụ Trung Quốc đã hạ thuế suất từ 33% xuống 25%);
Thứ hai: Ưu đãi thuế TNDN còn dàn trải, phức tạp, chưa phát huy hiệu quả
phân bổ nguồn lực trong đầu tư để đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế theo vùng
và lãnh thổ, nhất là thu hút đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Tức là luật không quy định cụ thể danh mục ngành nghề được ưu đãi thuế, những địa phương nào ưu đãi thuế TNDN, vì thế chưa thật sự thúc đẩy sự phát triển của các ngành mà nhà nước ưu tiên khuyến khích đầu tư, cũng như những địa bàn còn điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn cần có nguồn vốn đầu tư giúp địa bàn đó phát triển Vấn đề này Luật thuế TNDN năm 2003 chưa thực hiện được
Vì vậy, để phát huy hơn nữa những ưu điểm của thuế TNDN, cần thiết phải sửa đổi Luật thuế TNDN năm 2003 để khắc phục những tồn tại nêu trên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn tới Đồng thời đáp
03/6/ 2008 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung năm 2008 để
Nói chung Luật thuế TNDN năm 2009 là Luật thuế có phần hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay Sau hơn 03 năm thực hiện (từ ngày 01/01/2009 đến nay) Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 đã đạt được những mục tiêu đặt ra trong quá trình tham gia xây dựng Luật Trong đó nổi bật lên những điểm sau:
Một là: Thực hiện thống nhất thuế suất, từng bước giảm thuế suất phổ thông (
từ 32% xuống 28% áp dụng từ 1/1/2004, từ 28% xuống 25% áp dụng từ 1/1/2009 Việc thống nhất và từng bước giảm thuế suất thuế TNDN đã góp phần giúp doanh nghiệp giảm nghĩa vụ nộp thuế, tăng tích lũy cho tái đầu tư mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh cũng như góp phần thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài;
Trang 13Hai là: Thực hiện cam kết quốc tế mà phía Việt Nam đã tham gia, ký kết như:
bãi bỏ ưu đãi thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, xử lý ưu đãi thuế đối với hàng dệt may, gia dày, cùng một số loại hàng hóa khác;
Ba là: Thực hiện ưu đãi thống nhất, không phân biệt doanh nghiệp trong nước,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
Bốn là: Từng bước nới rộng chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế (chi
phí tiếp thị quảng cáo, khuyến mại của doanh nghiệp mới 15 % trong 03 năm), quy định rõ ràng hơn các khoản chi phí không được trừ ( tổng cộng gồm có 31 khoản) so với Luật thuế TNDN năm 2003;
Cuối cùng là: Khuyến khích đổi mới công nghệ thông qua quy định cho trích
lập quỹ phát triển công nghệ trước khi nộp thuế TNDN
Bên cạnh những ưu điểm đạt được, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành vẫn còn bộc lộ một số hạn chế sau:
Thứ nhất: Thuế suất thuế TNDN năm 2008 là 25% hiện đang ở mức trung bình
so với trong khu vực (bằng vớiTrung quốc) nhưng còn cao hơn một số quốc gia, vùng lãnh thổ như Hongkong, Singapore và một số nước khác nên chưa thực sự thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài, chưa tạo cho các doanh nghiệp tích
tụ vốn để tái đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh Xác định mức thuế suất chính là xác định mức độ điều tiết về thuế của Nhà nước đối với thu nhập của doanh nghiệp Mức thuế suất cao sẽ tăng điều tiết tập trung cho NSNN, nhưng việc giảm thuế suất thuế TNDN sẽ có tác động tăng động viên cho NSNN; do giảm thuế suất thuế TNDN chính là tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy tái đầu tư, đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Khi doanh nghiệp phát triển sẽ tạo ra nhiều hàng hóa, của cải vật chất cho xã hội, tạo thêm nhiều lợi nhuận và thuế thu nhập nộp cho NSNN cũng có thể sẽ tăng thêm
Thứ hai: Xác định doanh thu, chi phí được trừ, không được trừ làm cơ sở tính
thuế TNDN chưa cụ thể, chưa đảm bảo tính thực thi như: thời điểm xác định doanh thu, xác định doanh thu trong một số trường hợp cụ thể; Các khoản chi phí được trừ chức được trừ, chưa thực sự rõ ràng, một số khoản chi phí thực tế cần thiết cho sản xuất kinh doanh nhưng không được chấp nhận khi tính thuế Nói chung là các khoản chi phí đó doanh nghiệp phải tự mình chịu
Trang 14Thứ ba: Xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập được ưu đãi chưa hợp lý khi
toàn bộ các khoản thu nhập khác đều không được ưu đãi thuế ( trong đó có nhiều khoản thu nhập khác liên quan đến hoạt động kinh doanh được ưu đãi thuế)
Vì thế để khắc phục nhược điểm của Luật thuế TNDN năm 2008và để phù hợp với thực tế, và đảm bảo tính khả thi Bộ tài chính có thông tư sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể các vấn đề trên Tuy rằng các hướng dẫn của Bộ tài chính là phù hợp và cần thiết nhưng lại chưa được luật hóa
Để góp phần động viên các nguồn lực tài chính đầu tư cho phát triển kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp; đồng thời để bảo đảm tính thống nhất,
đồng bộ trong quá trình cải cách hệ thống pháp luật về thuế Ngày 28 tháng 6 năm
2012 Quốc hội đã thông qua nghị quyêt số 29/2012/QH13 () về ban hành một số
chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân Vừa qua quốc hội
đã quyết định giảm thuế suất nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho một số ngành nhất định
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp
Về khái niệm luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì không có văn bản pháp lý nào nêu lên khái niệm này Nhưng dựa vào đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp thì có một số học giả đưa ra các khái niêm về thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào Ngân sách nhà nước ()
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vàolợi nhuận của tất cả các tổ chức và cá nhân kinh doanh ()
Qua đó ta có thể rút ra khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: “ Thuế
thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, tính trên thu nhập của các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (gọi chung là doanh nghiệp) được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp do nhà nước ban hành, nhằm động viên một phần thu nhập của các doanh nghiệp vào Ngân sách nhà nước”
1.2.2 Trốn thuế thu nhập doanh nghiệp là gì ?
Nhắc đến khái niệm trốn thuế thu nhập doanh nghiệp hay nói chính xác hơn là chúng ta nhắc đến khái niệm về “hành vi trốn thuế thu nhập doanh nghiệp” là gì ?
Trang 15Cho đến hiện nay, vẫn chưa có văn bản pháp luật nào nêu ra và giải thích như
thế nào là hành vi trốn thuế thu nhập doanh nghiệp Nhưng tại khoản 1 điều 7 Nghị
định 100/2004/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
quy định về hành vi trốn thuế như sau: Hành vi trốn thuế là hành vi của cá nhân, tổ
chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm
Sự giải thích như trên vô tình đã đồng nhất giữa “hành vi trốn thuế thu nhập doanh nghiệp” và “hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp” Dẫu biết rằng về bản chất thì hai hành vi này giống nhau, đều là nhằm mục đích trốn thuế TNDN nhưng chỉ ở mức độ nhiều hay ít mà thôi Nhưng xét ở một góc độ nào đó hai hành
vi này có sự khác nhau nhất định Chúng ta sẽ so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa hai khái niệm này để thấy được sự khác biệt của chúng
1.2.3 Gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp là gì ?
Về khái niệm hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp cho đến nay chưa thấy có văn bản pháp luật nào nêu ra và giải thích về khái niệm này Tuy rằng thuật ngữ này đã thấy xuất hiện ở Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 Nhưng
theo chuẩn mực 240 của Kiểm toán có giải thích thuật ngữ gian lận như sau: “ Gian
lận là hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”
Qua đó chúng ta có thể thấy được bản chất của việc “gian lận’ là cố ý làm sai lệch đi một cái gì đó (làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính) và hậu quả của việc
cố ý làm sai lệch đó nó ảnh hưởng đến một cái gì đó (làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính), đồng thời có thể rút ra được khái niệm về hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: “ Gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp là hành vi của một hay nhiều cá nhân cố ý làm sai lệch thông tin liên quan đến nghĩa vụ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm làm ảnh hưởng đến số tiền thuế TNDN phải nộp hoặc giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn hoặc được giảm”
1.2.4 Mục đích của sự phân biệt giữa hai hành vi trốn thuế thu nhập doanh nghiệp và gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp
So sánh giữa hai khái niệm “trốn thuế TNDN” và “gian lận thuế TNDN” ta thấy như sau:
* Giống nhau:
Trang 16- Chủ thể nộp thuế ( cụ thể là chủ doanh nghiệp) không muốn nộp tiền thuế TNDN cho Nhà nước ở một hay nhiều lĩnh vực nào đó hoặc ít hoặc nhiều;
- Đều là hành vi cố ý của các chủ thể nộp thuế nói chung
* Khác nhau:
Chỉ tiêu so sánh
Khái niệm
Hành vi trốn thuế TNDN
Hành vi gian lận thuế TNDN
hay nhiều lĩnh vực kinh doanh nào đó
Nộp thuế ít hơn so với
số tiền thuế phải nộp ở một hay nhiều lĩnh vực nào đóMức độ vi phạm trong
Cao hơn (chủ thể nộp thuế có ý thức nộp thuế một phần)
*Ví dụ cụ thể như sau: Doanh nghiệp A kinh doanh trên nhiều lĩnh vực như: mua bán xe gắn máy, cung cấp dịch vụ tư vấn xây dựng, sản xuất nước uống đóng chai Năm 2011, số tiền thuế TNDN phải nộp của từng lĩnh vực như sau:
Trang 17một đồng tiền thuế TNDN phải nộp nào cho ngân sách nhà nước từ số tiền thuế TNDN phải nộp trong lĩnh vực này (50 triệu đồng) Nhưng nếu nói doanh nghiệp A gian lận thuế TNDN trong lĩnh vực này thì họ có nộp thuế TNDN trong lĩnh vực này cho ngân sách nhà nước nhưng số tiền ít hơn 50 triệu đồng Qua đó cho thấy được về bản chất thì hai khái niệm này nó giống nhau là doanh nghiệp không muốn nộp tiền thuế TNDN phải nộp cho nhà nước Nhưng về mức độ thiệt hại thì hành vi trốn thuế TNDN luôn cao hơn hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp
Nhận xét: Về bản chất thì hai hành vi này giống nhau ở chỗ đều nhằm mục
đích là không nộp thuế ở một hay nhiều lĩnh vực nhất định hoặc ít hoặc nhiều Nhưng xét trong cùng lĩnh vực nộp thuế nếu nói là trốn thuế TNDN thì mức độ và hậu quả của sự vi phạm nó sẽ nặng hơn hành vi gian lận thuếTNDN Về mức độ
“tinh vi” của sự vi phạm thì hành vi trốn thuế TNDN sẽ dễ nhận thấy hơn hành vi kia
Như vậy thông qua khái niệm về hành vi trốn thuế tại nghị định
100/2004/NĐ-CP và sự so sánh trên ta có thể đúc kết được khái niệm về hành vi trốn thuế thu
nhập doanh nghiệp như sau: “Hành vi trốn thuế thu nhập doanh nghiệp là hành vi
của cá nhân hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp vi phạm các quy đinh của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp để không phải nộp số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp ở một hoặc nhiều ngành nghề, lĩnh vực nhất định”
Qua phân tích về hai hành vi trên ta thấy: Nếu xét trong cùng một lĩnh vực, hành vi trốn thuế nói chung và trốn thuế TNDN nói riêng thì mức độ nghiêm trọng của nó luôn cao hơn hơn hành vi gian lận thuế nói chung và hành vi gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng Nhằm giúp cho cơ quan quản lý thuế và cơ quan hữu quan liên quan đến quản lý thuế nói chung có được nhận định đúng về hai hành
vi này, để thiết lập những quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng hơn về hai hành vi này,
có những chế tài phù hợp hơn cho từng hành vi vi phạm chứ không còn quy định chung chung như luật hiện hành nhằm mục đích nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đồng thời cũng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế trong lĩnh vực thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng
1.3 Đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.3.1 Đặc điểm của thuế TNDN nước ta
Thuế thu nhập doanh nghiệp thu vào thu nhập của đối tượng nộp thuế, nên hình thức thu thuế có địa chỉ, đối tượng nộp thuế được quy định rõ ràng, khác hẳn với
Trang 18thuế gián thu Trên lý thuyết, người nộp thuế cũng là người chịu thuế, không có thể
né tránh trách nhiệm của mình sang người khác Do được xây dựng trên cơ sở thừa
kế từ Thuế lợi tức trước đây, nên dù tên gọi của thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng loại thuế này còn áp dụng với cả cá nhân kinh doanh Nhưng trên thực tế thì chủ thể nộp thuế có thể chuyển bớt một phần nghĩa vụ nộp thuế của mình cho người khác
Ví dụ như: các cổ đông trong công ty cổ phần, người tiêu dùng, thậm chí cho cả người lao động nữa
Do đối tượng thu là thu nhập của cơ sở kinh doanh nên số thu thuế chịu tác động trực tiếp từ tình hình kinh doanh của cơ sở Cơ sở kinh doanh tạo ra nhiều thu nhập, nhà nước có cơ sở thu thuế nhiều hơn và ngược lại Điều này cho thấy số thu thuế còn chịu sự tác động từ nhiều chính sách kinh tế- xã hội khác
Thuế thu nhập doanh nghiệp có tính ổn định, nhưng sự ổn định đó chỉ ở mức độ tương đối, nhằm tạo môi trường cho đầu tư Do điều tiết vào thu nhập của cơ sở kinh doanh, vốn là mục đích và là nguồn vốn tái đầu tư của cơ sở nên thuế thu nhập doanh nghiệp được ổn định theo thời gian, đặc biệt là sự ổn định về thuế suất Sự ổn định này có thể tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh có thể xây dựng chiến lược phát triển một cách vững chắc Từ đó phát triển hoạt động kinh doanh, tăng thu nhập và kết quả là số thuế nhà nước thu cũng được gia tăng Nhưng trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay, sự ổn định về thuế suất nói riêng một mặt nào đó cũng tạo ra sự bất lợi cho sự thu hút đầu tư nước ngoài nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của nước ta cao hơn các nước khác trong khu vực hoặc bằng với nước khác nhưng điều kiện kinh tế xã hội của chúng ta không bằng nước khác ( ví dụ như Trung
suất cao sẽ ảnh hưởng đến việc tích lũy vốn để tái đầu tư của doanh nghiệp nói chung Vì vậy chúng ta phải cân nhắc điều tiết mức thuế suất cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước trong quá trình hội nhấp kinh tế quốc tế
Thuế thu nhập doanh nghiệp điều tiết trực tiếp vào thu nhập, do đó ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế, hệ quả là khả năng tái đầu tư cũng bị ảnh hưởng Do đó, khi xây dựng luật thuế phải chú ý đến mức độ điều tiết thu nhập bên cạnh các quy định nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư của người nộp thuế Và dĩ nhiên là sự khuyến khích đó cũng phải nằm trong sự cân nhắc giữa lợi ích của chủ thể nôp thuế với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước đã hoạch định Nguồn của thuế thu nhập doanh nghiệp có thể là luật quốc tê Như chúng ta đã biết việc mở cửa hội nhập đã tạo sự thu hút đầu tư từ nhiều chủ thể kinh doanh ngoài nước Việc cần phân định quốc gia nào có quyền thu thuế trở nên cần thiết vì
Trang 19thế các quốc gia thường có xu hướng hợp tác với nhau trong việc phân định quyền thu thuế đối với đối tượng chịu thuế nhằm khắc phục tình trạng một chủ thể chịu thuế mà lại đóng thuế hai lần hoặc tình trạng trốn thuế thuế thu nhập doanh nghiệp Thông thường nguồn chủ yếu là các hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các quốc gia khác
1.3.2 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta
Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta, tất cả các thành phần kinh tế
đều có quyền tự do kinh doanh và bình đằng trên cơ sở pháp luật Về lý thuyết các
doanh nghiệp với lực lượng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ có ưu thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao thì đóng thuế TNDN nhiều; ngược lại các doanh nghiệp với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập thì đóng thuế ít Ðể hạn chế nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách Nhà nước được công bằng, hợp
lý
Ví dụ: Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới thành lập thì Nhà nước ưu tiên trong một số chính sách như giảm thuế, miễn thuế có thời hạn Nhằm giúp cho các đối tượng này có khả năng tích lũy vốn tái đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các doanh nghiệp lớn
Vai trò này còn đươc thể hiện ở việc doanh nghiệp nào đầu tư vào những ngành, nghề có lợi nhuận cao như: khai thác bạch kim, vàng, bạc, thiếc, … thì nộp thuế TNDN với thuế suất cao hơn ( từ 32% đến 50% tùy dự án đầu tư từng cơ sở kinh doanh) so với các ngành, nghề khác như: chế biến nông sản, chế biến thủy sản,…
Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước:
Phạm vi áp dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ có phát sinh thu nhập chịu thuế Nền kinh tế thị trường nước ta ngày
Trang 20càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng dồi dào Việc cải cách chính sách thuế của nước ta ngày càng có su xu hướng giảm thuế suất cho các doanh nghiệp từ đó giúp cho doanh nghiệp có được sự tích lũy vốn, tháo gỡ khó khăn về tài chính, mở rộng quy
mô sản xuất từ đó có thể tiền thu từ thuế TNDN có thể sẽ tăng lên nhiều hơn
Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược, phát triển toàn diện của Nhà nước
Nhà nước ưu đãi, khuyến khích đối với các chủ thể đầu tư, kinh doanh vào những ngành, nghề, lĩnh vực và những vùng, miền mà Nhà nước có chiến lược ưu
tiên phát triển trong từng giai đoạn nhất định Chẳng hạn như đầu từ vào những địa bàn có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn thì sẽ được miễn thuế, giảm thuế TNDN
và những chính sách ưu đãi thuế khác
1.4 Những nội dung cơ bản của thuế thu nhập doanh nghiệp
Bởi vì không nghiên cứu hết về nội dung của thuế thu nhập doanh nghiệp nên người viết chỉ nghiên cứu phần nội dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp ở các phần như sau: đối tượng nộp thuế; căn cứ tính thuế; phương pháp tính thuế; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
1.4.1 Đối tượng nộp thuế TNDN (Điều 2 Luật thuế TNDN năm 2008)
Tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ( gọi chung là doanh nghiệp) có thu nhập chịu thuế đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Cụ thể đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:
Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại nước ta;
Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh
mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm:
Chi nhánh văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam;
Trang 21Ví dụ: Nơi đặt giàn khoan dầu của công ty khai thác dầu khí petrolimex đó là một cơ sở thường trú
Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;
Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người công hay một số tổ chức, cá nhân khác;
Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài;
Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam;
* Ý nghĩa của việc xác định cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài:
Nhằm xác định nghĩa vụ về thuế đối với doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào nước
ta hoặc thực hiện việc kinh doanh tại Việt Nam Đồng thời xác định thẩm quyền thu thuế đối với doanh nghiệp nước ngoài thực hiện việc kinh doanh tại Việt Nam nhằm hạn chế việc tránh đánh thuế hai lần đối với doanh nghiệp đó Đồng thời thực hiện các hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết với nước có doanh nghiệp đầu tư vào nước ta để thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;
Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập
1.4.2 Căn cứ tính thuế TNDN (Điều 6 Luật thuế TNDN năm 2008)
Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập tính thuế và thuế suất Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 1.4.2.1 Thu nhập tính thuế TNDN (Điều 7 khoản 1 Luật thuế TNDN năm 2008)
Thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản lỗ (nếu có) của năm trước chuyển sang
Trang 22Cơ sở kinh doanh sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì số tiền lỗ được trừ vào thu nhập chịu thuế của những năm sau, việc chuyển lỗ của doanh nghiệp phải được khai báo và đăng ký với cơ quan quản lý thuế Đối với doanh nghiệp vừa có thu nhập được miễn thuế vừa có thu nhập không được miễn thuế thì phải khai báo riêng
và kê khai riêng để được trừ ra khi tính thu nhập tính thuế Sau khi xác định thu nhập chịu thuế thao công thức tính thu nhập chịu thuế thì doanh nghiệp có thể chuyển các khoản lỗ của các kỳ tính thuế trước chuyển sang trước khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp phi nộp cho Ngân sách nhà nước Thời gian chuyển lỗ không quá năm (05) năm kể từ năm tiếp theo năm phát sinh lỗ
1.4.2.2 Thu nhập chịu thuế TNDN (Điều 7 khoản 2 Luật thuế TNDN năm 2008)
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập chịu thế của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài và thu nhập chịu thuế khác
Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế được xác định như sau:
Doanh nghiệp có nhiều hoạt động kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập củ từng hoạt động nhân với thuế suất tương ứng
1.4.2.3 Doanh thu để tính thuế TNDN (Điều 8 Luật thuế TNDN năm 2008) Doanh thu để tính thuế thu nhập doanh nghiệp là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ ( không có thuế giá trị gia tăng) bao gồm cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu đươc tiền
Nếu cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là giá bên mua thực thanh toán
có cả thuế giá trị gia tăng ở trong đó
Trang 23Trong trường hợp doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu bằng ngoại tệ
Một số trường hợp cụ thể, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp là doanh thu của hành hóa bán tính theo giá bán trả một lần, không bao gồm lãi trả chậm
Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi; biếu, tặng, cho; tiêu dùng nội bộ được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dich vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi; biếu, tặng, cho; tiêu dùng nội bộ
Đối với hàng hóa của các đơn vị giao đại lý, ký gửi và nhận đại lý, ký gửi theo hợp đồng địa lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hồng được xác định như sau: Doanh nghiệp giao hàng hóa cho các đại lý, ký gửi ( kể cả bán hàng đa cấp) là tổng
Đối với hoạt động tín dụng, hoạt động cho thuê tài chính là tiền lãi cho vay, doanh thu về cho thuê tài chính phải thu phát sinh trong kỳ tính thuế
Đối với hoạt động vận tải là toàn bộ doanh thu vận chuyển hành khách, hàng hóa, hành lý phát sinh trong kỳ tính thuế
Đối với hoạt động cung cấp điện, nước sạch là số tiền cung cấp điện, nước sạch ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là ngày xác nhận chỉ số công tơ điện và được ghi trên hóa đơn tính tiền điện, nước sạch
* Ví dụ: Hóa đơn ghi tiền điện ghi chỉ số công tơ từ ngày 5/12 đến ngày 5/1 Doanh thu của hóa đơn này được tính vào tháng 01
Đối với hoạt động kinh doanh sân golf là tiền bán thẻ hội viên, bán vé chơi golf
và các khoản thu khác trong kỳ tính thuế
Trang 24Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, giá trị hạng mục công trình hoặc giá trị khối lượng công trình xây dựng, lắp đặt nghiệm thu
Đối với hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng ( casino, trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh giải trí có đặt cược) là số tiền thu từ hoạt động này bao gồm cả thuế tiêu thụ đặt biệt trừ số tiền đã trả thưởng cho khách
Đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán là các khoản thu từ dịch vụ môi giới, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, phát hành chứng chỉ quỹ, dịch vụ tổ chức thị trường và các dịch vụ chứng khoán khác theo quy định của pháp luật
Đối với dịch vụ tài chính phái sinh là số tiền thu được từ việc cung ứng các dịch
vụ tài chính phái sinh thực hiện trong kỳ tính thuế
Trong trường hợp cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có doanh thu bằng ngoại
tệ thì phải qui đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua, bán thực tế bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thu ngoại tệ
1.4.2.4 Các khoản chi phí hợp lý được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế (Điều 9 Luật thuế TNDN năm 2008)
1.4.2.4.1 Các khoản chi phí hợp lý được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Khắc phục hạn chế của Luật thuế TNDN năm 2003 khi xác định chi phí được trừ và chi phí không được Luật thuế TNDN năm 2008 đã liệt kê cụ thể hơn những khoản chi phí không được trừ và quy định rõ ràng điều kiện để xác định khoản chi được trừ khi tính thu nhập chịu thuế phù hợp với thực tế nhằm giúp cho doanh nghiệp thuận tiện trong việc tự kê khai nộp thuế theo quy định của Luật quản lý thuế năm 2006 một cách hiệu quả Không còn trình trạng doanh nghiệp làm đơn
“xin” cơ quan quản lý thuế được trừ một số chi phí nhất định như trước đây nữa Như vậy, theo Luật thuế TNDN hiện hành thì những khoản chi phí nào thỏa được các điều kiện quy định thì sẽ được trừ ra khi tính thu nhập chịu thuế, những khoản chi không được trừ đã được liệt kê thì doanh nghiệp sẽ không được trừ khi tính thu nhập chịu thuế
* Nguyên tắc xác định các khoản chi phí được trừ như sau:
Doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi phí hợp lý nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Trang 25 Khoản chi thực tế liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
Khoản chi có đủ hóa đơn chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật 1.4.2.4.2 Các khoản chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Những khoản chi sau đây doanh nghiệ sẽ không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:
Các khoản chi không đáp ứng đủ điều kiện quy đinh tại khoản 1 điều 9 Luật thuế TNDN hiện hành, trừ phần giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trương hợp bất khả kháng khác không được bồi thường
Chi khấu hao tài sản cố định thuộc một trong các trường hợp sau:
Chi khấu hao đối với tài sản cố định không sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Chi khấu hao đối với tài sản cố định không có giấy tờ chứng minh được thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp ( trừ tài sản cố định thuê mua tài chính)
Chi khấu hao tài sản cố định không được quản lý, theo dõi, hạch toán trong
sổ sách kế toán của doanh nghiệp theo chế độ quản lý tài sản cố định và hạch toán
kế toán hiện hành
Phần trích khấu hao vượt mức quy định hiện hành của Bộ Tài chính về chế
độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định Trường hợp doanh nghiệp có lãi, có nhu cầu về khấu hao nhanh để đổi mới công nghệ đang áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng là phần trích khấu hao vượt quá mức khấu hao nhanh theo quy định
Doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp trích khấu hao tài sản cố định mà doanh nghiệp lựa chọn áo dụng với cơ quan thuế trực tiếp quản lý trước khi bắt đầu thực hiện trích khấu hao
Tài sản cố định góp vốn, tài sản cố định điều chuyển khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình có đánh giá theo quy định thì doanh nghiệp nhận tài sản cố định này được tính khấu hao vào chi phí được trừ theo nguyên giá đánh giá lại
Đối với tài sản cố định tự làm nguyên giá tài sản cố định được trích khấu hao tính vào chi phí được trừ là tổng các chi phí sản xuất để hình thành nên tài sản đó
Trang 26 Phần trích khấu hao tương ứng với phần nguyên vượt trên 1,6 tỷ dồng/xe đối với ô tô chở người từ chín chỗ ngồi trở xuống mới đăng ký sử dụng và hạch toán trích khấu hao tài sản cố định từ ngày 01/01/2009 ( trừ ô tô chuyên kinh doanh vận tải hành khách, du lịch và khách sạn); phần trích khấu hao đối với tài sản cố định là tàu bay dân dụng và du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, khách du lich
Khấu hao đối với tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị
Khấu hao đối với công trình trên đất vừa sử dụng cho sản xuất kinh doanh vừa sử dụng cho mục đích khác thì không được tính khấu hao vào chi phí hợp lý đối với giá trị công trình trên đất tương ứng phần diện tích không sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
- Chi nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa phần vượt mức tiêu hao hợp lý
Mức chi tiêu hao hợp lý nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa
sử dụng vào sản xuất, kinh doanh do nghiệp tự xây dựng
Ngoài ra, còn một số khoản chi không được trừ được quy định cụ thể tại Thông
tư số 123/20/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và hương dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008, Nghị định số 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNDN hướng dẫn thi hành một
1.4.3 Các khoản thu nhập chịu thuế TNDN khác
Thu nhập khác là các khoản thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế mà khoản thu nhập này không thuộc các ngành, nghề lĩnh vực kinh doanh có trong đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp Thu nhập khác bao gồm các khoản thu nhập sau đây:
- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán Đối với khoản thu nhập này, Nhà nước cho phép khấu trừ giá vốn và các chi phỉ liên quan và được qui định cụ thể trong Luật thuế TNDN và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản Giá mua và các chi phí liên quan cũng sẽ được khấu trừ khi tính thuế
- Thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bao gồm cả tiền thu về bản quyền dưới mọi hình thức trả cho quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu về
Trang 27quyền sở hữu trí tuệ; thu nhập từ chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật Cho thuê tài sản dưới mọi hình thức
- Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thanh lý tài sản ( trừ bất động sản), các loại giấy tờ có giá khác Khoản thu nhập này được xác định bằng doanh thu thu được do chuyển nhượng tài sản, thanh lý tài sản trừ (-) giá trị còn lại của tài sản được chuyển nhượng, thanh lý ghi trên sổ sách kế toán tại thời điểm chuyển nhượng, thanh lý và các khoản chi phí được trừ liên quan đến việc chuyển nhượng, thanh lý tài sản
- Thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn bao gồm: lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, lãi cho vay vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật, phí bão lãnh tín dụng và các khoản phí khác trong hợp đồng cho vay vốn;
- Thu nhập từ kinh doanh ngoại tệ;
- Và một số khoản khác được quy định cụ thể tại Thông tư 123/20/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 và hương dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008, Nghị định
số 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật thuế TNDN thông tư này thay thế cho Thông tư số BTC Thông tư số 123/2012/TT-BTC đã hướng dẫn rõ ràng hơn các khoản chi phí được trừ trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp so với thông tư 130/2008/TT-BTC, phần nào giúp cho doanh nghiệp dễ dàng thực hiện việc khai báo thuế thông qua cơ chế tự khai, tự nộp thuế
130/2008/TT-1.4.4 Thu nhập miễn thuế TNDN
Nhằm khuyến khích đầu tư, duy trì phát triển một số ngành nghề nhất định Nước ta thực chế chính sách miễn thuế TNDN cho thu nhập của một số ngành, nghề sau:
- Thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;
- Thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp gồm: thu nhập từ dịch vụ tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng; dịch vụ phòng, trừ sâu bệnh cho cây trồng, vật nuôi; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp;
- Thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Thu nhập từ doanh thu bán sản phẩm trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm và