1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG GIẢI QUYẾT THEO CÔNG ước BIỂN 1982

131 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 29,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi có luật Biển năm 1982, Biển Đông trở thành khu vực chứa đựng tất cả các yếu tố liên quan như quốc gia ven biển, quốc gia quần đảo, quốc gia không có biền hay bất lợi về mặt địa lý

Trang 1

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG

GIẢI QUYẾT THEO CÔNG ƯỚC BIỂN 1982

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Lớp: Luật Thương mại 2 Khóa 33

Cần Thơ, 04/2011

Trang 2

NHẬN XÉT

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG VÀ NHỮNG KHÁI NIỆM 4

CƠ BẢN TRONG CÔNG ƯỚC BIỂN NĂM 1982 1.1 Khái quát về Biển Đông 4

1.1.1 Vị trí địa lý 4

1.1.2 Các nguồn tài nguyên và vị trí chiến lược của Biển Đông 6

1.2 Những khai niệm cơ bản trong Công ước của Liên hợp quốc 11

về Luật biển năm 1982 1.2.1 Đường cơ sở 11

1.2.2 Nội thủy và vùng nước quần đảo 17

1.2.3 Lãnh hải 22

1.2.4 Vùng tiếp giáp lãnh hải 26

1.2.5 Vùng đặc quyền kinh tế 26

1.2.6 Thềm lục địa 28

1.2.7 Biển cả và vùng – di sản chung của loài người 30

1.2.8 Quy chế pháp lý của đảo 32

1.3 Các phương pháp phân định biển tại các vùng biển chồng lấn 34

1.3.1 Khái niệm phân định biển 34

1.3.2 Phân định lãnh hải 34

1.3.3 Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 34

1.3.4 Các phương pháp phân định biển 36

CHƯƠNG 2 NHỮNG TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG 38

2.1 Vì sao có những tranh chấp trên Biển Đông 38

2.1.1 Về chính trị 38

2.1.2 Về kinh tế 39

2.2 Tranh chấp về các vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam với các nước 40

trên Biển Đông 2.2.1 Tuyên bố đường cơ sở của Việt Nam 40

2.2.2 Tranh chấp giữa Việt Nam với Malaisia 42

2.2.3 Giữa Việt Nam với Brunei và Philippin 46

2.2.4 Giữa Việt Nam với Trung Quốc 48

2.2.5 Phân định thềm lục địa Việt Nam - Indonesia 58

2.2.6 Vùng nước lịch sử Việt Nam - Cambodia 60

Trang 4

2.2.7 Phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam - Thái Lan 63

2.3 Các tranh chấp về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 65

2.3.1 Khái quát tình hình tranh chấp trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 65

2.3.2 Lập luận lịch sử, pháp lý của Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan 71

CHƯƠNG 3 GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG 77

3.1 Những trở ngại cho việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông 77

3.1.1 Tranh chấp chủ quyền trên các quần đảo dẫn đến tranh chấp 77

các vùng biển lân cận 3.1.2 Những quan niệm khác nhau về quy chế đảo 79

3.1.3 Chủ nghĩa dân tộc gây khó khăn cho việc giải quyết các tranh chấp 83

3.2 Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) 84

3.3 Các phương pháp giải quyết tranh chấp theo Công ước Biển năm 1982 87

3.3.1 Giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán 88

3.3.2 Giải quyết tranh chấp thông qua hoà giải 89

3.3.3 Giải quyết tranh chấp thông qua Toà án quốc tế 90

3.3.4 Giải quyết tranh chấp thông qua Toà án quốc tế về Luật biển 91

3.3.5 Giải quyết tranh chấp thông qua Toà trọng tài 92

3.4 Quan điểm của người viết về cách giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông 92 KẾT LUẬN 98

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Biển Đông với nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú và vị trí chiến lược của mình đang bị bao phủ bởi nhiều tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia xung quanh Những tuyên bố này đan xen và chồng lấn lên nhau tạo nên nhiều tranh chấp Có thể phân biệt thành hai loại tranh chấp chính là: tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo, quần đảo kéo theo là tranh chấp các vùng biển xung quanh vùng lãnh thổ đó; loại thứ hai là tranh chấp các vùng biển hay thềm lục địa chồng lấn không liên quan đến các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ

Những tranh chấp về các vùng biển hay thềm lục địa chồng lấn không liên quan đến các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ thường chỉ liên quan đến hai hay ba quốc gia trong khu vực Nhiều tranh chấp dạng này đã được giải quyết thông qua đàm phán để

đi đến ký kết các Hiệp định phân định biển như: Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa Việt Nam và Thái Lan vào năm 1997, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc vào năm 2000, Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam – Indonesia vào năm 2003 Những Hiệp định trên cho thấy các quốc gia liên quan có thể sử dụng các nguyên tắc phân định biển để giải quyết hòa bình các tranh chấp thông qua đàm phán Vì vậy, nhìn chung việc giải quyết chúng tuy không phải là dễ dàng nhưng cũng không quá khó khăn và phức tạp

Ngược lại, những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ kéo theo là tranh chấp các vùng biển xung quanh vùng lãnh thổ đó thì đang cho thấy đây là loại tranh chấp rất phức tạp, liên quan đến nhiều bên, hiện đang gặp phải bế tắc trong việc tìm biện pháp giải quyết và tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây xung đột Trong quá khứ, Trung Quốc là một bên trong tranh chấp đã từng bất chấp cả luật pháp quốc tế và dư luận thế giới, sử dụng

vũ lực để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và một phần quần đảo Trường Sa vào năm 1988 Câu hỏi được đặt ra là liệu trong tương lai, vũ lực có còn được sử dụng? Xung đột có còn xảy ra hay không? Xung đột sẽ không còn xảy ra, vũ lực sẽ không bao giờ được sử dụng nữa nếu như tất cả các bên trong tranh chấp tuân thủ các nguyên tắc, các quy định của luật pháp quốc tế và tìm ra được giải pháp mà tất

cả các bên đều có thể chấp nhận để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình

Nếu như các tranh chấp trên Biển Đông càng kéo dài mà không được giải quyết thì chủ nghĩa dân tộc ở mỗi quốc gia sẽ ngày càng tăng lên do sự tích tụ hận thù từ các

va chạm trên biển hay do sự tuyên truyền đôi khi đi quá giới hạn cần thiết của các phương tiện truyền thông Chủ nghĩa dân tộc gia tăng sẽ gây cản trở rất lớn đến các quyết định chính trị, chính phủ khó có thể thỏa hiệp được khi đàm phán đi vào giải pháp hay có thể khiến cho các tuyên bố chủ quyền ngày càng trở nên mạnh mẽ và cứng rắn hơn Để các tuyên bố của mình không trở thành các tuyên bố sáo rỗng, không

Trang 6

có khả năng thực thi, quốc gia tuyên bố sẽ tiến hành tăng cường sức mạnh quốc phòng của mình, điều này gây nên sự lo ngại rất lớn đối với các bên tranh chấp còn lại và rất

có thể sẽ tạo nên một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, hay một số quốc gia buộc phải tìm kiếm thêm sự ủng hộ từ các cường quốc bên ngoài khu vực nhằm đối trọng lại sức mạnh của một hay nhiều bên trong tranh chấp Tất cả những điều nêu trên sẽ làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp, tăng nguy cơ xảy ra xung đột và gây nên rất nhiều khó khăn cho việc tìm giải pháp giải quyết tranh chấp Chính vì vậy mà đã có nhiều công trình nghiên cứu của các chuyên gia về Luật biển, cũng như các cuộc hội thảo về tranh chấp ở Biển Đông đã được tổ chức với mong muốn duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông và nhanh chóng tìm ra giải pháp để giải quyết các tranh chấp Cũng với mong muốn đó mà người viết đã chọn đề tài Tranh chấp trên Biển Đông giải quyết theo Công ước Biển năm 1982 để làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp ở bậc cử nhân ngành Luật của mình Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những tranh chấp giữa Việt Nam với các nước trên Biển Đông

Người viết sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu mà mình thu thập được nhằm tìm hiểu và nghiên cứu về Biển Đông cùng với những tranh chấp ở bên trong nó; vì sao có những tranh chấp đó?; tranh chấp nào đã, đang hay chưa được giải quyết?; trở ngại cho việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là gì? Qua đó, người viết mong muốn mang đến cho người đọc cái nhìn khái quát về tình hình tranh chấp ở Biển Đông hiện nay Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng phương pháp phân tích luật viết để phân tích và nghiên cứu các quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, nhằm tìm ra các phương pháp và giải pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông

Phần nội dung của luận văn bao gồm ba chương như sau:

- Chương 1: ở phần thứ nhất của chương 1, người viết trình bài khái quát về Biển Đông và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng cùng với vị trí chiến lược của nó Chính nguồn tài nguyên thiên nhiên và vị trí chiến lược này cũng là một phần nguyên nhân tạo nên nhiều tranh chấp trên Biển Đông; ở phần thứ hai của chương 1, người viết trình bài những khái niệm cơ bản trong Công ước của Liện hợp quốc về Luật biển năm 1982, những khái niệm này chính là cơ sở để xác định các vùng biển của mỗi quốc gia; ở phần thứ ba của chương 1, người viết trình bài khái quát về những phương pháp phân định biển tại các vùng biển chồng lấn mà nhiều quốc gia hay các cơ quan tài phán quốc tế thường áp dụng để giải quyết các tranh chấp về các vùng biển chồng lấn, những phương pháp này cũng có thể áp dụng cho những tranh chấp ở Biển Đông

- Chương 2: ở phần thứ nhất của chương 2, người viết trình bài một số lý do dẫn đến những tranh chấp trên Biển Đông; ở phần tiếp theo của chương 2, người viết trình

Trang 7

bài khái quát những tranh chấp về các vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam với các nước khác trong khu vực; ở phần thứ ba của chương 2, người viết trình bài về những tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Thông qua chương 2, người viết mong muốn mang đến cho người đọc một cái nhìn khái quát về tình hình tranh chấp trên Biển Đông hiện nay

- Chương 3: ở phần thứ nhất của chương 3, người viết trình bài về những trở ngại cho việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, chính những trở ngại này khiến cho các tranh chấp kéo dài và trở nên khó giải quyết; ở phần thứ hai của chương ba, người viết trình bài và phân tích về bước đi tích cực mà các bên tranh chấp đã đạt được đó là Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); ở phần thứ ba của chương 3, người viết trình bài về các phương pháp giải quyết tranh chấp theo Công ước Biển năm 1982, qua đó lý giải vì sao cho đến nay, đàm phán vẫn

là phương pháp giải quyết tranh chấp duy nhất mà các bên chấp nhận; ở phần cuối cùng của chương 3, người viết trình bài quan điểm của mình về cách giải quyết tranh chấp trên Biển Đông và đưa ra giải pháp giải quyết tranh chấp mà theo quan điểm của người viết thì đó là giải pháp khả thi nhất cho tình hình tranh chấp hiện nay

Thông qua đề tài nghiên cứu này, người viết mong muốn góp thêm một viên gạch nhỏ vào ngôi nhà chung nghiên cứu về những tranh chấp trên Biển Đông nhằm duy trì hòa bình, ổn định và và nhanh chóng tìm ra giải pháp để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông Tuy nhiên, người viết nhận thức được rằng với quỹ thời gian và kiến thức có phần còn hạn chế của mình, nên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện

đề tài có thể sẽ không tránh khỏi những thiếu sót không mong muốn Vì vậy, người viết rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phản hồi về nội dung cũng như hình thức của luận văn từ thầy, cô và những người đọc khác Từ đó, người viết sẽ rút ra được những bài học để bổ sung vào vốn kiến thức và kỷ năng của mình Người viết xin kính gởi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô đã tận tình truyền dạy kiến thức cho mình trong suốt những năm học đại học Vì chính nhờ những kiến thức được thầy

cô truyền dạy mà người viết mới có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp ở bậc cử nhân ngành luật của mình Xin cảm ơn thầy, cô!

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BIỂN ĐÔNG

VÀ NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG CÔNG ƯỚC BIỂN NĂM 1982 1.1 Khái quát về Biển Đông

1.1.1 Vị trí địa lý 1

Biển Đông có tên quốc tế là biển South China Sea, là một biển rìa lục địa, có diện tích vào khoảng 3,5 triệu km2 Đây là một hình thể biển lớn nhất sau năm đại dương Là một biển nữa kín, Biển Đông phía bắc được bao bọc bởi Trung Quốc, phía tây là Việt Nam và bán đảo Melaka, phía nam là đảo Kalimantan, phía đông là quần đảo Philippin và đảo Đài Loan Biển trải rộng trong phạm vi vĩ tuyến 30N - 260N và trong phạm vi kinh tuyến 1000E – 1210E, rộng gấp tám lần biển Đen và gấp 1,2 lần Địa Trung Hải, độ sâu trung bình khoảng 1.140 m, khối lượng nước vào khoảng 3.928 triệu km3 Đường trục dài nhất của Biển Đông kéo dài theo hướng đông bắc – tây nam, tính từ đường ranh giới phía bắc đến dường ranh giới phía nam khoảng 3.520 km Nơi rộng nhất của Biển Đông không quá 600 hải lý (gần 1.200 km) Biển Đông có chín quốc gia và một vùng lãnh thổ bao bọc là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, Cambodia, Singapore và Đài Loan

Đây là biển duy nhất nối liền hai đại dương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Biển Đông thông với Thái Bình Dương qua eo biển Đài Loan rộng khoảng

100 hai lý và eo biển Pasi nằm giữa Philippin và Đài Loan, có độ sâu nhỏ nhất là 1.800

m Về phía tây, Biển Đông thông với Ấn Độ Dương qua eo biển Melaka sâu khoảng

30 m và có nơi hẹp nhất rộng khoảng 17 hải lý, đặc biệt eo biển Melaka là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau eo biển Hormuz) Về phía đông có thể qua eo biển Mondoro để đến biển Sulu Biển Đông nhận nước của các hệ thống sông lớn: sông Châu Giang (Trung Quốc), hệ thống sông Hồng, Cửu Long (Việt Nam), sông Chao Phraya (Thái Lan)

Đây là biển duy nhất trên thế giới có hai quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới là Indonesia và Philippin, hai quần đảo lớn nằm giữa biển là Hoàng Sa và Trường Sa, Biển Đông còn có hai vịnh lớn ăn sâu vào đất liền là vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan

Vịnh Bắc Bộ nằm ở tây bắc Biển Đông, do bờ biển và đảo của hai nước Việt Nam và Trung Quốc bao bọc, có diện tích vào khoảng 124.500 km2, trải rộng trong phạm vi vĩ tuyến 17006’N – 21055’N và kinh tuyến 105036’E Vịnh có chu vi khoảng 1.950 km, chiều dài hướng bắc – nam khoảng 496 km, nơi rộng nhất khoảng 314 km Vịnh Bắc Bộ có hai cửa thông với bên ngoài, cửa phía nam rộng khoảng 211 km, cửa phía đông bắc qua eo biển Quỳnh Châu, nơi hẹp nhất rộng khoảng 18 km Vịnh Bắc

1

Xem thêm: Nguyễn Hồng Thao, Công ước Biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2008, tr.15-20

Trang 9

Bộ tương đối nông, độ sâu trung bình vào khoảng 40 – 50 m Đáy vịnh tương đối bằng phẳng, độ dốc thoải và có một máng sâu trên 70 m chạy vòng quanh sát đảo Hải Nam

Vịnh Thái Lan nằm ở phía tây nam Biển Đông, do bờ biển của Việt Nam, Cambodia, Thái Lan và Malaysia bao bọc, có diện tích khoảng 293.000 km2, chu vi khoảng 2.300 km, chiều dài vịnh khoảng 628 km Vịnh Thái Lan cũng là một vịnh nông, độ sâu lớn nhất ở giữa vịnh vào khoảng 80 m, ở cửa vịnh khoảng 60 m

Theo độ sâu, trong Biển Đông hình thành hai khu vực: khu vực biển sâu nằm ở phần đông bắc, diện tích 1.745 triệu km2, chiếm 49,8% toàn vùng biển; khu vực biển nông là thềm lục địa rộng lớn, chiếm một diện tích 1.755 triệu km2 hay 50,2% diện tích toàn vùng biển Khu vực biển sâu có độ sâu tối đa đến 5.016 m, tách biệt với Palawan và một bình nguyên sâu thẳm có trung tâm tại độ sâu khoảng 4.300 m Thềm lục địa bao gồm rìa lục địa kéo dài từ eo biển Đài Loan qua vịnh Bắc Bộ, thềm Sunda rộng lớn nằm ở phía tây nam Biển Đông, trong đó có vịnh Thái Lan, vùng biển nam bộ

và vùng thềm hẹp ở phía tây các đảo, lần lượt cách bờ Đài Loan 11 km, Philippin 18

km, Palawan 55 km và Borneo 93 km(1) Ở gần bờ biển Đài Loan thềm lục địa không rộng lắm, men theo bờ Nam Trung Quốc đến gần đảo Hải Nam thì mở rộng, chiếm toàn bộ vịnh Bắc Bộ và vùng ngoài khơi cửa vịnh phía nam Trước bờ biển miền Trung nước ta, thềm tiến sát vào bờ, chỉ còn cách Hội An chừng 80 km Càng đi xuống, thềm càng thắt lại, mép ngoài của thềm lục địa chỉ còn cách mũi Nạy 20 km Xuống đến vịnh Thái Lan, thềm lục địa lại mở rộng, ôm lấy toàn bộ vịnh Thái Lan, biển Nam Bộ và biển Sunda Phần phía đông Biển Đông có thềm lục địa hẹp rồi đến dốc lục địa và các hố sâu Vùng trung tâm Biển Đông là các bình nguyên thẳm, bề mặt đáy tương đối bằng phẳng, trừ ở giữa bình nguyên xuất hiện một số đảo ngầm, có thể xưa kia là đỉnh của núi lửa Những bình nguyên này dốc thoai thoải, nằm ở độ sâu từ 3.400 – 4.200 m, kéo dài theo hướng đông bắc – tây nam Chế độ thuỷ văn và khí hậu

ở Biển Đông đặc trưng bởi chế độ gió mùa, về mùa hè là gió mùa tây nam, về mùa đông là gió mùa đông bắc

Từ khi có luật Biển năm 1982, Biển Đông trở thành khu vực chứa đựng tất cả các yếu tố liên quan như quốc gia ven biển, quốc gia quần đảo, quốc gia không có biền hay bất lợi về mặt địa lý, các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, vùng nước lịch

sử, vùng đánh cá, phân định biển, vấn đề biển kín và nữa kín, eo biển quốc tế, hợp tác quản lý tài nguyên sinh vật, khai thách chung, bảo vệ môi trường biển, chống cướp biền, an toàn hàng hải, tìm kiếm, cứu nạn, nghiên cứu khoa học biển… Sự xuất hiện của khái niệm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế khiến cho Biển Đông trở thành một vùng biển hầu hết bị bao phủ bởi các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của các nước xung quanh Biển Đông Biến Biển Đông trở thành khu vực có nhiều tranh chấp biển phức tạp và có nhiều quốc gia liên quan nhất trên thế

Trang 10

giới Trong mười sáu đường biên giới trên biển trong khu vực thì có đến mười đường biên giới còn đang trong tình trạng tranh chấp chưa được giải quyết, chưa kể đến những tranh chấp liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Nhưng tranh chấp trong khu vực Biển Đông không chỉ ảnh hưởng đến các nước trong khu vực mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của các nước khác, ảnh hưởng đến hoà bình, ổn định và sự hợp tác phát triển của khu vực và thế giới

1.1.2 Các nguồn tài nguyên và vị trí chiến lược của Biển Đông

1.1.2.1 Tài nguyên sinh vật

Biển Đông nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khu hệ cá Biển Đông thuộc khu hệ động vật Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương Do vậy, trong Biển Đông, cá không chỉ phong phú, đa dạng về thành phần loại, mà còn có những đặc trưng của cá biển nhiệt đới Nguồn lợi cá Biển Đông mang nhiều nét đặc trưng của một khu hệ động vật giàu có của biển và đại dương thế giới Theo ước tính tổng trữ lượng hải sản của Biển Đông vào khoảng 8 – 12 triệu tấn

Riêng vùng biển thềm lục địa nước ta mới biết được gần 2040 loài cá thuộc 717 giống của 198 họ và 32 bộ, trong đó khoảng 100 loài có giá trị kinh tế cao Theo thống

kê năm 1994 thì trữ lượng khai thác cá của nước ta ở Biển Đông là 2.769.041 tấn, khả năng khai thác là 1.108.717 tấn Sản lượng cá đánh bắt cá của các nước xung quanh Biển Đông năm 1966 là 2 triệu tấn, song đến năm 1984 theo SEAFDC, sản lượng tăng gấp 3 lần, nghĩa là đạt con số gần 6,1 triệu tấn1

Ngoài cá, chỉ riêng vùng biển nước ta còn có khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, 1.647 loài giáp xác, 700 loài giun biển, 350 loài động vật da gai và 150 loài hải miên Vùng biển và đảo nước ta còn là nơi cư trú lý tưởng của trên 50 loài chim di cư, trong đó có loài chim yến cho sản lượng khai thác khoảng 4.000 kg yến sào mỗi năm Hơn 300 loài san hô cứng, 17 loài san hô thân mềm và 20 loài san hô sừng, 37 loài mực thuộc 4 họ và 6 loài bạch tuột cũng được tìm thấy ở vùng biển nước ta Theo số liệu của Bộ Thủy sản năm 2003, trữ lượng hải sản của vùng biển Việt Nam vào khoảng 3 – 4 triệu tấn, cho phép khai thác khoảng 1,6 – 1,7 triệu tấn/năm Việt Nam có tới 225 loài tôm biển, trong đó trữ lượng tôm he và tôm vỗ khoảng 57.330 tấn với khả năng khai thác khoảng 20.000 tấn2 Mười bảy loài thú biển, bao gồm một loài cá voi sừng hàm, 15 loài cá voi có răng và loài bò biển (Dugon) quý hiếm trên thế giới cũng được tìm thấy trên các vùng biển của Việt Nam

Trang 11

1.1.2.2 Tài nguyên thực vật

Trong các vùng biển ven bờ nước ta đã phát hiện được 653 loài rong biển, 24 biến loài, 20 dạng Ngành rong Đỏ thường đa dạng nhất, chiếm ưu thế về số lượng loài (310 loài), sau là rong Lục (151 loài), rong Nâu (124 loài), rong Lam có số lượng loài

ít nhất Trong chúng, 90 loài (gần 14% tổng số) là những đối tượng kinh tế quan trong cho các ngành công nghiệp hóa chất, dược liệu, dùng làm phân bón, bột rong biển có hàm lượng dinh dưỡng cao: 6% đạm, 14% đường, 2% mỡ, 18% chất khoáng nên còn được dùng làm thực phẩm và thức ăn cho chăn nuôi Ngoài giá trị thực phẩm, rong biển còn là nguồn nguyên liệu quý để khai thác các hóa chất như agar, alginat, mannitol Trong nhiều thế kỷ, các loại hóa chất như brôm, iod, kali hầu như chỉ được khai thác từ rong biển

Ngoài những thực vật bậc thấp sống đáy hay sống phụ sinh, trên các bãi triều, các sình lấy, cửa sông còn xuất hiện các dạng thực vật bậc cao như sú, vẹt, trang, đước, mắm, bần… tạo nên cảnh sắc đặc trưng cho vùng bờ biển nhiệt đới Sự quần tụ của các loài cây này tạo thành những cánh rừng ngập mặn giúp chắn sóng, chống lại

sự bào mòn của biển đối với lục địa Rừng ngập măn còn là nơi sinh sống của rất nhiều loài chim, cá, trăn, rắn, thú rừng… tạo nên một hệ sinh thái đặc trưng và phong phú giống loài

1.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản

Biển Đông là một khu vực giàu tài nguyên khoáng sản Theo số liệu đã được chứng minh, trong khu vực Biển Đông ước tính có khoảng 7,5 tỷ thùng dầu với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày1 Một nghiên cứu vào năm 1995 của viện Nghiên cứu địa chất Nga thì tại khu vực quần đảo Trường Sa ước tính có khoảng 6 tỷ thùng dầu Các chuyên gia Trung Quốc cho rằng trong khu vực Biển Đông có khoảng 213 tỷ thùng dầu, trong đó trữ lượng dầu ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là 105 tỷ thùng Còn theo các nghiên cứu của Mỹ thì khu vực Biển Đông có trữ lượng dầu vào khoảng 28 tỷ thùng Khí thiên nhiên có thể là nguồn tài nguyên dầu khí phong phú nhất trong Biển Đông Một nghiên cứu của Mỹ chỉ ra rằng khoảng 60 % đến 70 % nguồn tài nguyên dầu khí trong khu vực là khí thiên nhiên Trung Quốc thì ước tính toàn bộ trữ lượng khí thiên nhiên ở Biển Đông là vào khoảng 609.600 tỷ mét khối2

Chỉ riêng trên toàn thềm lục địa Việt Nam, các nghiên cứu từ phía Việt Nam cho thấy tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn3 dầu quy đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn4 Trữ lượng khí dự báo khoảng 2.100 đến 2.800 tỷ

Trang 12

mét khối Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ mét khối khí Trữ lượng khí đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ mét khối1

Các vùng bãi biển còn chứa lượng nguyên tố đất hiếm lớn lao Đất hiếm có nhiều công dụng trong các ngành luyện kim, quang học, công nghiệp nguyên tử… Hiện nay người ta còn khai thác các kim loại nằm ngay trên đáy biển dưới dạng các hạt “đa kim” Những hạt này có nhiều hình dạng, to nhỏ khác nhau Thành phần cấu tạo nên hạt “đa kim” rất phức tạp, trong đó mangan, sắt là hai chất chủ yếu Ngoài ra

“đa kim” còn có niken, côban, đồng, các nguyên tố phóng xạ (uran, radi) và nhiều nguyên tố khác “Đa kim” có mặt trong đáy các đại dương và các thềm lục địa, song trữ lượng ở mỗi nơi khác nhau Đối với đáy Biển Đông vấn đề này chắc chắn còn đặt

ra nhiều dấu hỏi trong đầu các nhà địa chất hải dương về trữ lượng và khả năng khai thác thứ kim loại có giá trị này Chúng ta chiết xuất muối ăn trực tiếp từ nước biển, sử dụng cát nấu thủy tinh, khai thác các hóa chất hiếm ( iôt, agar, alginat, manitol…) từ các loại rong biển; khai thác các dược liệu từ nhiều loại hải sản như vỏ bào ngư, ngọc điệp, ngọc trai, mai mực…, sử dụng vỏ sò, ốc biển, xương san hô để nung vôi, làm nguyên liệu cho công nghiệp xi măng và trang trí2… Ngoài ra, Biển Đông còn được đánh giá là vùng có tài nguyên băng cháy, một dạng năng lượng mới của tương lai

1.1.2.4 Các nguồn năng lượng sạch

Một kho báu nữa của biển là nguồn năng lượng vô tận của thủy triều, nhiệt biển

và gió biển Các dạng năng lược này rẻ tiền, sạch và trở thành năng lượng của tương lai

Người ta cho rằng, năng lượng thủy triều trên các vùng ven biển rất ổn định so với năng lượng của các dòng sông Ở những nới có mức thủy triều cao, khả năng khai thác càng lớn Những đánh giá gần đây cho thấy, năng lượng thủy triều trên hành tinh vào khoảng 8 x 1012 KW gấp 100.000 lần công suất của các nhà máy thủy điện trên toàn thế giới cộng lại

Nguồn năng lượng khác nữa đang được các nhà khoa học trên thế giới chú ý đến là năng lượng được tạo ra do sự chênh lệch nhiệt độ khá lớn giữa lớp nước trên mặt và lớp nước dưới sâu trong các biển nhiệt đới Năng lượng này được gọi là năng lượng “Mặt trời biển” Theo tính toán của các chuyên gia về năng lượng thì toàn bộ năng lượng “Mặt trời biển” ở các vùng biển nhiệt đới từ vĩ độ 200 Bắc đến 200 Nam có

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển và các hải đảo Việt

Nam đến năm 2010, Hà Nội, tháng 5 năm 1997, tr.23

1

Trang thông tin điện tử Bộ ngoại giao Việt Nam, Dầu khi Việt Nam,

http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/nr041126171753/ns060824151244/view#DQBFc3NaSITV , [truy cập vào lúc 17 giờ 05 phút, ngày 25/4/2011]

2

Vũ Trung Tạng, Biển Đông tài nguyên thiên nhiên và môi trường, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1997,

tr.181-182

Trang 13

thể cung cấp một nguồn năng lượng lớn hơn nhiều lần tổng năng lượng tiêu thụ hiện nay của toàn thế giới

Nguồn năng lượng sạch phát sinh do gió cũng có nguồn gốc từ năng lượng Mặt trời Nguồn năng lượng này rất lớn, ước tính trên toàn thế giới khoảng 10.000 triệu KW/giờ, song có nhược điểm là rất tản mạn và không liên tục Do vậy việc khai thác

nó rất ít Trong tương lai, khi than đá, dầu mỏ và khí đốt trở nên khan hiếm và cạn kiệt, khi môi trường ngày một ô nhiễm do đốt nhiên liệu, nguy cơ rò rỉ hạt nhân của các nhà máy điện hạt nhân… thì chắc chắn những chiếc cánh quạt bằng kim loại của các nhà máy điện dùng sức gió sẽ lại tấp nập mọc lên, đặc biệt là ở các vùng ven biển, trên các hải đảo và các trạm đèn biển của thềm lục địa và đại dương

1.1.2.5 Vị trí chiến lược của Biển Đông

Biển Đông là biển duy nhất nối liền hai đại dương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, là khu vực có các đường biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới Năm trong

số mười tuyến đường biển thông thướng lớn nhất thế giới liên quan đến Biển Đông, bao gồm tuyến đường từ Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Sue, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Ôxtrâylia, Niu Dilân; tuyến đường Bắc Thái Bình Dương

từ Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á; Tuyến đường từ Đông Á và Đông Nam

Á đi qua kênh đào Panama để đến Đông Bắc Mỹ và vùng Caribê; tuyến đường từ Đông Á đến Ôxtrâylia và Niu Dilân; và cuối cùng là tuyến đường từ Đông Á đi Trung Đông Nhiều nước trong khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào các tuyến đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… Khoảng 70% dầu mỏ nhập khẩu của Nhật Bản và Hàn Quốc từ Trung Đông đi qua Biển Đông và một khối lượng hàng hóa lớn tương đương phải quay trở lại để cân bằng cán cân buôn bán Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt đông thương mại hàng hải rất mạnh mẽ Mỗi ngày có khoảng 150 – 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu

có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên1

Vùng biển rộng lớn này nằm bao quanh một trong những khu vực kinh tế năng động nhất thế giới Trung Quốc và một số nước trong khu vực Đông Nam Á với ưu thế giá nhân công rẻ, dân số đông và thị trường rộng lớn đang ngày càng thu hút đầu tư từ các khu vực kinh tế phát triển, dần trở thành công xưởng sản xuất hàng hóa cho thị trường thế giới Phần lớn nguyên liệu thô vận chuyển đến Đông Nam Á và Đông Á, cũng như hàng hóa được sản xuất ra ở hai khu vực này xuất ra thị trường thế giới đều phải đi qua Biển Đông Theo ước tính, Biển Đông đa tạo thuận lợi đối với việc di

1

Xem thêm: Nguyễn Hồng Thao, Công ước Biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2008, tr.16-17

Trang 14

chuyển của hơn một nửa số tàu chở dầu lưu thông trên thế giới và hơn một nửa số tàu buôn trên thế giới (tính theo trọng tải) hàng năm1

Việc Trung Quốc nổi lên như một siêu cường kinh tế và một loạt các quốc gia ở quanh Biển Đông cũng có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao (bình quân trên 7%/năm)

đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động thương mại đường biển và sự phát triển trong lĩnh vực hàng hải ở Biển Đông và các khu vực lân cận Tổng năng lực chuyên chở của các đội tàu của các quốc gia và vùng lãnh thổ quanh Biển Đông như Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan, Singapo, Malaysia, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan vào năm 2008 là 200.121 triệu tấn, chiếm 19,274% tổng năng lực chuyên chở của các đội tàu trên thế giới

Bảng 1: Năng lực chuyên chở của đội tàu buôn Của một số quốc gia ở Biển Đông năm 2008 2

Quốc gia

Tổng năng lực chuyên chở của đội tàu vào năm 2008 Đơn vị tính: triệu tấn

Tỷ lệ phần trăm trên thế giới

1

Nazery Khalid Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Hàng hải Ma-lai-xi-a (MIMA) Biển Đông: nền tảng cho sự

thạnh vượn hay vũ đài cho sự tranh cãi?

2

Nguồn: UNCTAD (2008)

Trang 15

không chỉ là tuyến đường vận chuyển nguyên liệu và hàng hóa mà còn là tuyến đường năng lượng trọng yếu

Vì có vị trí trọng yếu như vậy, nếu xảy ra xung đột trên Biển Đông thì tàu thuyền không thể đi qua Biển Đông mà phải đi vòng qua Indonesia và Thái Bình Dương, gây tốn kém và mất nhiều thời gian hơn Thương mại hàng hải trong khu vực

bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gây xáo trộn sản xuất và tiêu dùng Tác động trực tiếp đến nền kinh tế của các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á Gây mất hòa bình,

ổn định và ảnh hưởng đến sự phát triển trong khu vực và trên thế giới

Hình 1: Những tuyến đường chuyên chở dầu thô của thế giới1

1.2 Những khai niệm cơ bản trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (Công ước 1982)

1.2.1 Đường cơ sở

Công ước 1982 định ra cho các quốc gia ven biển và quốc gia quần đảo các vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia như: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Mỗi vùng biển đều có quy chế pháp

lý riêng và để xác định được các vùng biển này trước tiên ta phải xác định được đường

cơ sở của mỗi quốc gia

1.2.1.1 Đường cơ sở của quốc gia ven biển

Đối với quốc gia ven biển có hai phương pháp để xác định đường cơ sở đó là phương pháp đường cơ sở thông thường và phương pháp đường cơ sở thẳng

* Phương pháp đường cơ sở thông thường là phương pháp dùng để xác định đường cơ sở cho các bờ biển có địa hình bằng phẳng, không khúc khuỷu, lồi lõm, phức tạp Phương pháp này được công nhận vào năm 1930 bởi Hội nghị pháp điển hóa luật

1

Jean-Paul Rodrigue , Straits, Passages and Chokepoints A Maritime Geostrategy of Petroleum Distribution,

http://people.hofstra.edu/jean-paul_rodrigue/downloads/CGQ_strategicoil.pdf , [truy cập vào lúc 17 giờ ngày 25/4/2011].

Trang 16

quốc tế tại La Hay, sau đó được ghi nhận trong điều 5 của Công ước Giơnevơ năm

1958 về Lãnh hải và vùng tiếp giáp và trở thành nguyên tắc luật tại điều 5 của Công ước 1982

- Điều 5 Công ước 1982 quy định: “Trừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận.”

- Ngấn nước thủy triều thấp nhất là “đường cắt của bề mặt nước triều khi xuống thấp nhất với bờ biển Đường này chạy dọc theo bờ biển, hoặc phần đất dốc của bờ, tại

đó biển lùi xuống mức triều thấp nhất”1

- Điều 6 Công ước 1982 quy định: “Trong trường hợp những bộ phận đảo cấu tạo bằng san hô hoặc các đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, thì đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất ở bờ phía ngoài cùng của các mỏm đá, như đã được thể hiện trên các hải đồ được quốc gia ven biển chính thức công nhận.”

* Phương pháp đường cơ sở thẳng là phương pháp các định đường cơ sở áp dụng cho một trong ba loại địa hình bờ biển sau:

+ Ở những nơi bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm;

+ Ở những nơi có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển;

+ Ở những nơi có các điều kiện thiên nhiên đặc biệt gây ra sự không ổn định của bờ biển như sự hiện diện của các châu thổ2

- Điều 7 Công ước 1982 quy định:

“1 Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

2 Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và những đặc điểm tự nhiên khác, các điểm thích hợp có thể được lựa chọn dọc theo ngấn nước triều thấp nhất nhô ra xa nhất và ngay cả trường hợp về sau ngấn nước triều thấp nhất có thể dịch chuyển vào phía trong bờ, các đường cơ sở đã được vạch ra vẫn có hiệu lực cho tới khi các quốc gia ven biển sửa đổi đúng theo Công ước

3 Tuyến các đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển, và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức để đặt dưới chế độ nội thủy

4 Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường

Trang 17

xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế

5 Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng được áp dụng theo khoản 1, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng

6 Phương pháp đường cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng không được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế.”

- Điều 13 Công ước 1982 quy định về bãi cạn lúc chìm lúc nổi như sau:

“1 Bãi cạn lúc chìm lúc nổi (haut-fonds découvrants) là những vùng đất nhô cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước Khi toàn bộ hay một phần bãi cạn đó ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên các bãi cạn này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải

2 Khi các bãi cạn lúc chìm lúc nổi hoàn toàn ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì chúng không có lãnh hải riêng.”

Vấn đề đặt ra ở đây là Điều 13 Công ước 1982 là một sự bổ sung cho Khoản 4 Điều 7 Công ước 1982 hay giữa hai điều này của Công ước có sự mâu thuẫn với nhau? Giả sử một quốc gia ven biển có một “bãi cạn lúc chìm lúc nỗi” ở cách lục địa 13 hải

lý thì theo Điều 13 Công ước 1982, quốc gia ven biển không được quyền kẻ đường cơ

sở qua bãi cạn này, nhưng nếu quốc gia ven biển đặt lên bãi cạn đó một đèn biển thì lúc này theo Khoản 4 Điều 7 Công ước 1982, quốc gia ven biển sẽ có quyền kẻ đường

cơ sở qua bãi cạn này Nếu trường hợp này được chấp nhận thì sẽ dẫn đến khả năng các quốc gia ven biển sẽ sử dụng những “bãi cạn lúc chìm lúc nỗi” ở cách xa bờ biển hoặc một đảo trên 12 hải lý để kéo đường cơ sở thẳng lên những bãi cạn đó với mục đích mở rộng các vùng biển của quốc gia mình Hay phải sử dụng tổng hợp cả hai điều khoản trên? Khi đó một quốc gia ven biển nếu có “bãi cạn lúc chìm lúc nỗi” ở cách lục địa hoặc một đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải và trên nó

có đặt đèn biển, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên các bãi cạn này có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải

- Tuy nhiên Công ước 1982 không quy định rõ như thế nào là bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm Theo khuyến cáo của Văn phòng luật pháp của Liên hợp quốc dựa trên thực tiễn quốc gia và các phán quyết của Tòa án Quốc tế, và gợi ý của Mỹ (Limits in the Sea N0 36) định nghĩa hình dạng “bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm” này phải thỏa mãn các đặc tính sau:

Trang 18

+ Những nơi mà bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồi lõm phải có ít nhất từ

ba vùng lõm sâu rõ rệt;

+ Các vùng lõm sâu này phải nằm cạnh nhau, không cách nhau quá xa;

+ Chiều sâu của từng vùng lõm đó tính từ đường cơ sở thẳng được đề nghị đóng cửa đổ ra biển của vùng lõm đó phải lớn hơn một nữa chiều dài của đoạn đường cơ sở

+ Mỗi đảo trong chuỗi cách đảo khác cũng trong chuỗi mà đường cơ sở thẳng

sẽ được vẽ qua một khoảng cách không quá 24 hải lý Tương tự như trên, con số này là chiều rộng lãnh hải lớn nhất của hai đảo cộng lại

+ Chuổi đảo phải chắn ít nhất 50% đường bờ biển liên quan

- Về chiều dài của đoạn cơ sở thẳng và góc lệch của nó so với xu hướng chung của bờ biển thì Văn phòng luật pháp của Liên hợp quốc khuyến cáo các tiêu chuẩn như sau:

+ Chiều dài của đoạn cơ sở thẳng không nên quá 60 hải lý,

+ Góc lệch lớn nhất giữa đoạn cơ sở thẳng với bờ biển không quá 200 1

Tuy nhiên những khuyến cáo trên của Văn phòng luật pháp của Liên hợp quốc không mang tính bắt buộc đối với các quốc gia thành viên của Công ước 1982 vì nó không phải là những quy định nằm trong Công ước 1982 Việc Công ước 1982 không quy định rõ những vấn đề nêu trên đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau của các quốc gia thành viên về việc vạch đường cơ sở thẳng, từ đó nhiều nước sử dụng phương pháp đường cơ sở thẳng theo cách có lợi nhất để mở rộng các vùng biển của quốc gia mình, làm giảm diện tích vùng đáy biển-di sản chung của nhân loại và gây ra nhiều tranh chấp về các vùng biển

1.2.1.2 Đường cơ sở của quốc gia quần đảo

- “Quần đảo (Archipel) là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử.” (Điểm b Điều 46 Công ước 1982)

1

Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về luật biển, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.57-59

Trang 19

- “Quốc gia quần đảo (Etat Archipel) là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần đảo và có khi bởi một số hòn đảo khác nữa.” (Điểm a Điều 46 Công ước 1982)

- Do đặc thù của các quốc gia quần đảo là có địa hình bờ biển khá phức tạp nên

“Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi nổi của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước đó với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ số 1/1 và 9/1.” (Khoản 1 Điều 47 Công ước 1982)

- Điều 47 Công ước 1982 còn quy định:

“2 Chiều dài của các đường cơ sở này không vượt quá 100 hải lý; tuy nhiên có thể tối đa 3% của tổng số các đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài lớn hơn nhưng không quá 125 hải lý

3 Tuyến các đường cơ sở này không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của quần đảo

4 Các đường cơ sở không thể kéo dến hay xuất phát từ các bãi cạn lúc chìm lúc nổi, trừ trường hợp tại đó có xây đặt các đèn biển hay các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt biển hoặc trừ trường hợp toàn bộ hay một phần bãi cạn ở cách hòn đảo gần nhất một khoảng cách không vượt quá chiều rộng lãnh hải

5 Một quốc gia quần đảo không được áp dụng phương pháp kẻ các đường cơ

sở khiến cho các lãnh hải của một quốc gia khác bị tách rời với biển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế

6 Nếu một phần của vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo nằm giữa hai mảnh lãnh thổ của một quốc gia kế cận, thì các thuyền và mọi lợi ích chính đáng

mà quốc gia kế cận này vẫn được hưởng theo truyền thống ở trong các vùng nước nói trên, cũng như tất cả các quyền nảy sinh từ các điều ước được ký kết giữa hai quốc gia, vẫn tồn tại và vẫn được tôn trọng

7 Để tính toán tỷ lệ diện tích các vùng nước so với diện tích phần đất đã nêu ở khoản 1, các vùng nước trên trong các bãi đá ngầm bao quanh các đảo và vành đai san

hô, cũng như mọi phần của một nền đại dương có sườn dốc đất đứng, hoàn toàn hay gần như hoàn toàn do một chuỗi đảo đá vôi hay một chuỗi các mỏm đá lúc chìm lúc nổi bao quanh, có thể được coi như là một bộ phận của đất

8 Các đường cơ sở được vạch ra theo đúng điều này phải được ghi trên hải đồ

có tỷ lệ thích hợp để xác định được vị trí Bản kê tọa độ địa lý của các điểm, có ghi rõ

hệ thống trắc địa được sử dụng có thể thay thế cho các bản đồ này

9 Quốc gia quần đảo công bố theo đúng thủ tục các bản đồ hoặc bảng liệt kê tọa độ địa lý và gửi đến Tổng thư ký Liên hợp quốc một bản để lưu chiểu.”

Trang 20

- Điều 47 Công ước 1982 mở ra khả năng rất lớn cho các quốc gia quần đảo có thể mở rộng các vùng biển của mình một cách không hợp lý do việc không đưa ra tiêu chí nào để xác định một đảo của quốc gia quần đảo được xem là “đảo chủ yếu” và hiểu như thế nào về “tuyến các đường cơ sở của quốc gia quần đảo không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của quần đảo”, cũng như cho phép các quốc gia quần đảo kéo đường cơ sở đến các bãi cạn lúc chìm lúc nổi nếu như trên các bãi cạn này có các đèn biển hay các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt biển Điều này có thể sẽ dẫn đến việc một quốc gia quần đảo có thể sử dụng các đảo có diện tích nhỏ và không

có người sinh sống trên đó, hoặc đặt đèn biển hay các thiết bị tương tự trên các bãi cạn lúc chìm lúc nổi ở cách các “đảo chủ yếu” trên 12 hai lý, để kéo dài đường cơ sở thẳng

ra các đảo đó nhằm mục đích mở rộng các vùng biển của quốc gia mình Trong khi theo khoản 3 Điều 121 Công ước 1982 thì các đảo nhỏ không có người sinh sống cũng như các bãi cạn lúc chìm lúc nổi sẽ không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa, các đảo cũng như các bãi cạn có đèn biển này chỉ nên có lãnh hải 12 hải lý

- Một số chuyên gia cho rằng “các đảo chủ yếu” là các đảo lớn nhất về diện tích hay dân cư Hiện trạng kinh tế, văn hóa, lịch sử của một đảo so với các đảo khác cũng

có một vai trò quan trọng, vì chúng thường là nơi được chọn là trung tâm quản lý hành chính Một số học giả cho rằng “các đảo chủ yếu” nên được hiểu là các đảo nằm ở vị trí trung tâm của quốc gia quần đảo1 Tuy nhiên đây cũng chỉ là ý kiến cá nhân của các chuyên gia về luật biển chứ không phải là quy định trong Công ước 1982 nên không

1

Nguyễn Mạnh, Phân tích một số hoàn cảnh áp dụng đường cơ sở thẳng theo Công ước của Liên hợp quốc về

Luật biển 1982, http://biengioilanhtho.gov.vn/vie/phantichmotsohoancanh-nd-784dc7c3.aspx , [truy cập lúc 0h28’ ngày 12/3/2011]

Trang 21

1.2.2 Nội thủy và vùng nước quần đảo

1.2.2.1 Nội thủy

Khái niệm: nội thủy là các vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, tại đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền1

Tuy nhiên, “Khi một đường cơ sở thẳng được vạch ra theo đúng phương pháp được nói ở Điều 7 gộp vào nội thủy các vùng nước trước đó chưa được coi là nội thủy, thì quyền đi qua không gây hại nói trong Công ước vẫn được áp dụng ở các vùng nước đó.” (Khoản 2 Điều 8 Công ước 1982)

Như vậy ranh giới bên trong của nội thủy chính là đường bờ biển, còn ranh giới bên ngoài chính là đường cơ sở Nội thủy có thể bao gồm nhiều bộ phận khác nhau như: biển nội địa, cảng biển, vũng đậu tàu, vịnh thiên nhiên, vịnh lịch sử, vùng nước lịch sử2

- Biển nội địa: là vùng biển có thể nằm hoàn toàn trong nội địa của một nước

hoặc nhiều nước ven bờ Ví dụ biển Aran thuộc nội địa Uzbekistan; biển Casbi thuộc Turkmenia, Kazakistan, Russia, Azerbaydzhan và Iran3

- Vịnh thiên nhiên: Theo Điều 10 Công ước 1982 thì vịnh là một vùng lõm sâu

rõ rệt vào đất liền (hơn là một sự uốn cong của bờ biển), được bao bọc phần lớn bởi bờ biển Tuy nhiên, một vũng lõm chỉ được coi là một vịnh nếu như diện tích của nó ít nhất cũng bằng diện tích một nửa hình tròn có đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm Diện tích của một vùng lõm được tính giữa ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên Nếu do có các đảo mà một vùng lõm có nhiều cửa vào, thì nửa hình tròn nói trên có đường kính bằng tổng số chiều dài các đoạn thẳng cắt ngang các cửa vào đó Diện tích của các đảo nằm trong một vùng lõm được tính vào diện tích chung của vùng lõm (xem thêm phụ lục 1)

Để vùng nước phía bên trong vịnh được chấp nhận là nội thủy thì khoảng cách giữa các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên một vịnh không được vượt quá 24 hải lý và toàn bộ vịnh này có bờ vịnh thuộc một quốc gia duy nhất Trừ trường hợp vịnh này là vịnh lịch sử hay vùng nước phía bên trong vịnh là vùng nước lịch sử

“Khi khoảng cách giữa các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên của một vịnh vượt quá 24 hải lý, thì được kẻ một đoạn đường cơ sở thẳng dài 24 hải lý ở phía trong vịnh, sao cho phía trong của nó có một diện tích nước tối đa.” (Khoản 5 Điều 10 Công ước 1982)

Trang 22

- Vịnh lịch sử: vịnh lịch sử là một vịnh biển mặc dù bề rộng của cửa vịnh có thể vượt quá 24 hải lý nhưng có vị trí địa lý đặc biệt có liên quan trực tiếp về an ninh, chính trị, kinh tế…đối với quốc gia ven biển Nó gắn liền với các hoạt động của quốc gia trong nhiều lĩnh vực và đã được quốc gia ven bờ chiếm hữu, sử dụng từ lâu (thể hiện tính lịch sử đặc biệt) Trong thực tiễn pháp luật và tập quán các nước cũng như tập quán và thực tiễn pháp luật quốc tế đã thừa nhận vịnh lịch sử là một bộ phận của nội thủy của quốc gia ven biển1

- Vùng nước lịch sử: Vùng nước lịch sử có nghĩa rộng hơn vịnh lịch sử Vùng nước này có thể là các vùng nước thuộc các biển, vịnh, vũng đậu tàu, eo biển Mặc dù

cả vùng nước lịch sử và vịnh lịch sử điều không được quy định rõ trong công ước Tuy nhiên, ý kiến chung cho rằng một vùng nước được coi là vùng nước lịch sử thường căn

cứ vào các yếu tố sau:

+ Quốc gia ven biển thực hiện một cách thực sự chủ quyền của mình trên đó; + Về mặt lịch sử quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng một cách liên tục, hòa bình và lâu dài mà không có quốc gia nào khác phản đối;

+ Có ý nghĩa đặc biệt về chiến lược, về an ninh quốc gia, về kinh tế… đối với nước ven biển;

+ Phải ở cách xa đường hàng hải quốc tế

- Cảng biển: là một khu vực trung gian nối liền biển với đất liền Cảng biển có thể là tự nhiên hay nhân tạo, có thể là cảng dùng cho thương mại, quốc phòng hoặc là cảng chuyên dùng Quy chế Giơnevơ ngày 9/12/1922 về các cảng biển định nghĩa:

“cảng biển là tất cả các cảng thường xuyên có tàu biển ra vào và được sử dụng phục vụ cho mậu dịch đối ngoại” (Điều 1) Trong đề nghị của Liên Xô trước đây đưa ra tại hội nghị Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) ngày 24/12/1974 bàn về địa vị pháp lý của tàu thuyền tại các hải cảng của nước ngoài thì cảng biển gồm: nơi tàu đậu, các vịnh, vũng đậu tàu hoặc những vị trí tương tự khác có cữa thông ra biển nhưng thuộc chủ quyền hoàn toàn và quyền tài phán của một nước, mở cửa cho tàu nước ngoài và phục vụ việc tiếp đoán tàu thuyền bốc dỡ hàng hóa, nhận khách và trả khách, bảo dưỡng và sửa chữa tàu thuyền và những hoạt động cần thiết của tàu thuyền2

- Vũng đậu tàu: nếu nó đóng vai trò là tiền cảng, không tách rời khỏi cảng biển thì mang chế độ pháp lý của cảng biển tức thuộc nội thủy Nếu mang tính độc lập như cho tàu neo, dỡ hàng, bốc hàng hoặc nơi để tàu neo đậu, trú ẩn thì có thể là một bộ phận của nội thủy nếu nằm trong khu vực nội thủy3 Còn nếu vũng đậu tàu mang tính

1

Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật – Trường Đại học Khoa học xã hội và

nhân văn, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr.169

2

Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật – Trường Đại học Khoa học xã hội và

nhân văn, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr.170

3

Kim Oanh Na, Tập bài giảng Luật quốc tế, Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Luật, Cần Thơ, 2006, tr.51

Trang 23

độc lập nhưng lại nằm hoàn toàn hoặc một phần ở ngoài đường ranh giới bên ngoài của lãnh hải cũng được coi như là một bộ phận của lãnh hải (Điều 12 Công ước 1982)

Quy chế pháp lý của nội thủy

Các vùng nước nội thủy coi như lãnh thổ đất liền, tại đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ Chủ quyền này bao trùm lên cả vùng trời bên trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, bên dưới vùng nước nội thủy Quy chế pháp lý của nội thủy do từng quốc gia tự quy định phù hợp với những quy định chung đã được thừa nhận trong Luật quốc tế Đó chính là sự thực hiện chủ quyền của quốc gia ven biển đối với nội thủy Quy chế pháp lý của nội thủy tập trung ở các vấn đề sau:

* Chế độ đi lại của tàu thuyền nước ngoài trong nội thủy: đặc trưng cho tính

chất chủ quyền tuyệt đối của nội thủy là mọi sự ra vào nội thủy của tàu thuyền cũng như phương tiện bay nước ngoài trên vùng trời nội thủy đều phải xin phép Thời gian

và các thủ tục xin phép trước cho từng loại tàu thuyền nước ngoài hoạt động tại nội thủy của mỗi quốc gia do pháp luật của mỗi quốc gia quy định

- Tàu thuyền thương mại vào các cảng biển quốc tế trên cơ sở nguyên tắc tự do thông thương và có đi có lại Các tàu dân sự nước ngoài khi vào nội thủy để đến một cảng của nước ven biển thường phải đến một địa điểm qui định để các lực lượng như biên phòng, y tế, hải quan kiểm tra và làm các thủ tục bắt buộc trước khi vào cảng, đồng thời chờ hoa tiêu đến dẫn đường vào cảng Việc sử dụng hoa tiêu của nước ven biển là một điều kiện bắt buộc đối với tàu thuyền nước ngoài khi vào cảng, nhằm đảm bảo an ninh quốc gia, tăng thu nhập và sự an toàn của phương tiện đó

- Chế độ đi lại của tàu thuyền nhà nước dùng vào mục đích không thương mại

và tàu thuyền quân sự được quy định nghiêm ngặt hơn so với tàu thuyền dân sự Hai loại tàu thuyền này muốn được vào nội thủy của quốc gia ven biển thì phải xin phép trước và chỉ được vào khi được quốc gia ven biển cho phép Số lượng tàu quân sự của một nước hiện diện trong nội thủy của quốc gia ven biển trong cùng một thời điểm cũng được quy định rất chặt chẽ Tàu ngầm quân sự hay dân sự nước ngoài khi được phép đi vào nội thủy của một quốc gia thì bắt buộc phải đi ở tư thế nổi

- Trong trường hợp tàu thuyền nước ngoài bị thiên tai hay tai nạn uy hiếp đến

sự an toàn và tính mạng của những người đi trên tàu thì các quy định về việc phải xin phép hay xin phép trước sẽ không được áp dụng

- Các hoạt động của tàu thuyền nước ngoài, nếu không được phép của nước ven biển như cập mạn, tiếp xúc với các tàu thuyền khác, đưa người, hàng hóa lên hoặc xuống tàu, đo đạc, khảo xác, thăm dò, chụp ảnh, quay phim, vẽ hoặc ghi chép thiết bị

ở cảng, những cơ sở quân sự, kinh tế, cơ sở nghiên cứu khoa học… thậm chí cả việc tự động nhổ neo di chuyển vị trí trong cảng, cũng bị coi là vi phạm pháp luật của nước

Trang 24

ven biển Các loại thuyền máy, ca nô trên tàu thả xuống để làm nhiệm vụ liên lạc cũng chỉ được đi lại ở trong khu vực mà nước ven biển cho phép1

- Tàu thuyền nước ngoài nếu có trang bị vũ khí khi được cho phép vào vùng nội thủy của một quốc gia ven biển thì phải đưa tất cả vũ khí trên tàu về tư thế bảo quản

- Các tàu thuyền nước ngoài không được xả hay vất các chất thải, chất độc hại gây ô nhiễm môi trường vào nội thủy hay đất liền khi đang ở trong nội thủy của quốc gia ven biển Trong trường hợp xảy ra ô nhiễm, quốc gia ven biển có quyền áp dụng mọi biện pháp xử lý để ngăn chặn hậu quả Tàu thuyền gây ô nhiễm và quốc gia mà tàu quân sự hay tàu thuyền của nhà nước không dùng vào mục đích thương mại gây ô nhiễm mang cờ phải chịu trách nhiệm đền bù thiệt hại theo pháp luật của nước sở tại

* Quyền tài phán của nước ven biển đối với tàu thuyền nước ngoài ở nội thủy

- Đối với tàu quân sự và tàu nhà nước dùng vào mục đích không thương mại Những tàu quân sự và tàu nhà nước dùng vào mục đích không thương mại khi đậu hợp pháp ở các cảng và vùng nội thủy của nước ngoài được coi là bất khả xâm phạm và được hưởng quyền miễn trừ về tư pháp

Tuy nhiên, đối với chúng thẩm quyền tài phán hình sự của các tòa án của quốc gia ven biển không mất đi nhưng nó chỉ được thực hiện trong một số trường hợp

+ Trường hợp vi phạm xảy ra trên boong tàu:

• Nếu kẻ thực hiện hành vi phạm tội thuộc thủy thủ đoàn, quốc gia cảng không

có thẩm quyền

• Nếu kẻ thực hiện hành vi phạm tội không thuộc thủy thủ đoàn và nạn nhân là thành viên của tàu thì cả quốc gia mà tàu mang cờ và quốc gia ven biển đều có thẩm quyền

• Nếu cả kẻ thực hiện hành vi phạm tội lẫn nạn nhân đều không thuộc thủy thủ đoàn thì quốc gia cảng có thẩm quyền tuyệt đối

+ Vi phạm xảy ra ngoài tàu: Nếu người thực hiện hành vi phạm tội thuộc thủy thủ đoàn thì quốc gia ven biển có quyền bắt người này nhưng phải trao trả ngay cho thuyền trưởng nếu ông ta yêu cầu

Trường hợp hai loại tàu này vi phạm luật lệ của quốc gia ven biển nhưng do được hưởng quyền miễn trừ nên quốc gia ven biển không thể xủ lý được chúng thì quốc gia đó có quyền ra lệnh cho các tàu vi phạm này rời khỏi nội thủy của mình đồng thời có quyền yêu cầu chính phủ nước mà tàu vi phạm mang cờ trừng trị những nhân viên phạm pháp Nước có tàu vi phạm đó phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất hay thiệt hại do tàu của mình gây ra trong thời gian ở trong nội thủy của nước ven biển

- Đối với tàu dân sự

1

Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật – Trường Đại học Khoa học xã hội và

nhân văn, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr.173

Trang 25

Đối với tàu dân sự, tòa án của nước ven biển có thẩm quyền xét xử một số vụ kiện dân sự như: các vụ kiện giữa các tàu nước ngoài với nhau cùng đậu ở nội thủy của nước ven biển hoặc giữa nhân viên, thủy thủ của tàu với công dân nước sở tại Còn những vụ kiện xảy ra giữa các nhân viên của cùng một tàu thì thông thường tòa án nước ven biển không xét xử mà trao lại cho nước mà tàu mang cờ

Khác với tàu quân sự và tàu nhà nước dùng vào mục đích không thương mại, tàu dân sự khi phạm pháp ở nội thủy của nước ven biển phải chịu sự xét xử của nước

đó Các cơ quan có thẩm quyền của nước ven biển có quyền bắt giữ và đưa ra xét xử những thủy thủ của tàu dân sự nước ngoài phạm tội ở trên bờ Tuy nhiên, trong một số trường hợp cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ven biển có thể chuyển giao vụ án cho cơ quan tư pháp của quốc gia mà tàu mang cờ để xét xử theo yêu cầu của thuyền trưởng hoặc lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ

Tàu dân sự có thể bị tịch thu theo pháp luật của nước ven biển trong trường hợp thuyển trưởng của tàu vi phạm pháp luật hay thủy thủ của tàu có hành động phạm pháp nghiêm trọng Tàu có thể bị giữa lại làm vật bảo đảm đơn kiện dân sự

Về nguyên tắc, quốc gia cảng không quan tâm tới việc trấn áp các hành vi phạm tội hình sự diễn ra trên tàu nước ngoài đang ở trong nội thủy của họ nhưng chính quyền sở tại có thể can thiệp trong ba khả năng sau1:

+ Nếu hành vi phạm tội do một người ngoài thủy thủ đoàn thực hiện;

+ Nếu thuyền trưởng yêu cầu chính quyền sở tại can thiệp;

+ Nếu hậu quả của nó ảnh hưởng đến an ninh trật tự của quốc gia ven biển

1.2.2.2 Vùng nước quần đảo

Khái niệm: Vùng nước quần đảo là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở quần đảo Chủ quyền của quốc gia quần đảo mở rộng ra vùng nước quần đảo, bất kể chiều sâu và khoảng cách xa bờ của chúng thế nào Chủ quyền này được mở rộng đến vùng trời trên vùng nước quần đảo, cũng như đến đáy vùng nước đó và lòng đất tương ứng và đến các tài nguyên ở đó (Điều 49 Công ước)

Quy chế pháp lý của vùng nước quần đảo

Mặc dù chủ quyền của quốc gia quần đảo mở rộng ra vùng nước quần đảo, nhưng khác với nội thủy của quốc gia ven biển, trong vùng nước quần đảo tàu thuyền của tất cả các quốc gia đều được hưởng quyền đi qua không gây hại Tất cả các tàu thuyền và phương tiện bay được hưởng quyền đi qua quần đảo phải đi theo các tuyến đường hàng hải và các đường hàng không mà quốc gia quần đảo đã ấn định Các đường hàng hải và các đường hàng không đi qua các vùng nước quần đảo và lãnh hải tiếp liền hoặc vùng trời phía trên phải bao gồm tất cả các con đường thường dùng cho hàng hải quốc tế trong vùng nước quần đảo và vùng trời phía trên

1

Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về luật biển, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.40

Trang 26

Trong quá trình đi qua các tàu thuyền và phương tiện bay không được đi chệch các đường trục này quá 25 hải lý, tất nhiên, các tàu thuyền và phương tiện bay này không được đi cách bờ một khoảng cách dưới 1/10 khoảng cách giữa những điểm gần nhất của các đảo nằm dọc theo một con đường

Khi đi qua vùng nước quần đảo, các tàu thuyền phải tôn trọng các đường hàng hải và các cách phân chia luồng giao thông được quốc gia quần đảo thiết lập theo đúng Điều 53 Công ước 1982 Nếu quốc gia quần đảo không ấn định các đường hàng hải hay các đường hàng không thì quyền đi qua vùng nước quần đảo có thể thực hiện bằng cách sử dụng các con đường thường dùng cho hàng hải và hàng không quốc tế

Điều 51 Công ước 1982 quy định:

“1 Không phương hại đến Điều 49, các quốc gia quần đảo tôn trọng các điều ước hiện hành đã được ký kết với các quốc gia khác và thừa nhận các quyền đánh bắt hải sản truyền thống và những hoạt động chính đáng của những quốc gia kế cận trong một số khu vực thuộc vùng nước quần đảo và quốc gia quần đảo Các điều kiện và thể thức thực hiện các quyền và các hoạt động này, kể cả tính chất, phạm vi của chúng và

cả khu vực thực hiện các quyền và các hoạt động nói trên, được xác định theo yêu cầu của bất cứ quốc gia nào trong các quốc gia hữu quan qua các điều ước tay đôi được ký kết giữa các quốc gia đó Các quyền này không được chuyển nhượng hay chia sẻ cho quốc gia thứ ba hay cho các công dân của các quốc gia ấy

2 Các quốc gia quần đảo tôn trọng các dây cáp ngầm hiện có của những quốc gia khác đặt và đi quan vùng nước của quốc gia quần đảo mà không đụng đến bờ biển của mình Các quốc gia quần đảo cho phép bảo dưỡng và thay thế các đường dây cáp này sau khi họ đã được thông báo trước về vị trí của chúng và về những công việc bảo dưỡng hay thay thế dự định tiến hành.”

Ngoài những đặc trưng nêu trên khác với nội thủy, vùng nước quần đảo có quy chế pháp lý giống như nội thủy của quốc gia ven biển

Ở phía trong vùng nước quần đảo, quốc gia quần đảo có thể vạch những đường khép kín để hoạch định ranh giới nội thủy của mình theo đúng các Điều 9, 10, và 11 (Điều 50 Công ước 1982)

1.2.3 Lãnh hải

1.2.3.1 Khái niệm Lãnh hải là vùng biển nằm bên ngoài đường cơ sở dùng để

tính chiều rộng lãnh hải, tiếp giáp với một bên là nội thủy và một bên là các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia

Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng một cách hoàn toàn và đầy đủ đến vùng trời trên lãnh hải cũng như đến đáy và vùng đất dưới đáy của vùng biển này Tuy nhiên chủ quyền trên lãnh hải không phải là tuyệt đối như trên các vùng nước nội thủy, do sự thừa nhận quyền qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải

Trang 27

Trong vùng trời bên trên lãnh hải không tồn tại quyền qua lại không gây hại cho các phương tiện bay

“Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước.” (Điều 3 Công ước 1982) Đường ranh giới phía ngoài của lãnh hải là đường mà mỗi điểm của nó cách đều các điểm nằm trên đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng lãnh hải, đường này cũng chính là đường biên giới của quốc gia trên biển (xem thêm phụ lục 2)

1.2.3.2 Quy chế pháp lý của lãnh hải

Việc ấn định quy chế pháp lý của lãnh hải là công việc thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế1 Quy chế pháp lý của lãnh hải bao gồm các nội dung sau đây:

Chế độ qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong vùng nước lãnh hải

“Với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải.” (Điều 17 Công ước 1982)

“Việc đi qua là không gây hại, chừng nào nó không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển Việc đi qua không gây hại cần phải được thực hiện theo đúng với các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế.” (Khoản 1 Điều 19 Công ước 1982) “Việc đi qua phải liên tục và nhanh chóng Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm cả việc dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phải những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn.” (Khoản 2 Điều 18 Công ước 1982)

Việc đi qua của một tàu thuyền nước ngoài bị coi như phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển, nếu như ở trong lãnh hải, tàu thuyền này tiến hành một trong bất kỳ hoạt động nào được nêu ở khoản 2 Điều 19 Công ước 1982

Khi đi qua lãnh hải của một quốc gia tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác buộc phải đi nổi và phải treo cờ quốc tịch

Quốc gia ven biển có thể định ra các luật và quy định liên quan đến việc đi qua không gây hại ở trong lãnh hải của mình về các vấn đề được nêu ở điều 21 Công ước

1982 nhưng phải phù hợp với các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế

Quốc gia ven biển khi cần bảo đảm an toàn hàng hải có thể đòi hỏi tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải của mình phải đi theo các tuyến đường

do mình ấn định và phải tôn trọng các cách bố trí phân chia các luồng giao thông do

1

Kim Oanh Na, Tập bài giảng Luật quốc tế, Trường Đại học Cần Thơ, Khoa Luật, Cần Thơ, 2006, tr.58

Trang 28

mình quy định nhằm điều phối việc qua lại các tàu thuyền Đặc biệt, đối với các tàu chở dầu, các tàu có động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân và các tàu chở các chất hay các nguyên liệu phóng xạ hoặc các chất khác vốn nguy hiểm hay độc hại, có thể bị bắt buộc chỉ được đi theo các tuyến đường này và phải mang đầy đủ các tài liệu, áp dụng những biện pháp phòng ngừa đặc biệt theo quy định của các điều ước quốc tế đối với loại tàu thuyền đó

Quốc gia ven biển không được cản trở quyền đi qua không gây hại của các tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải, ngoài những trường hợp mà Công ước đã trù định Quốc gia ven biển không được áp đặt cho các tàu thuyền nước ngoài những nghĩa vụ dẫn đến việc cản trở hay hạn chế việc thực hiện quyền đi qua không gây hại của các tàu thuyền này; Phân biệt đối xử về mặt pháp lý hay về mặt thực tế đối với các tàu thuyền chở hàng từ một quốc gia nhất định hay đến quốc gia đó hoặc nhân danh một quốc gia nhất định Quốc gia ven biển phải thông báo thích đáng mọi nguy hiểm về hàng hải của mình biết trong lãnh hải của mình (Điều 24 Công ước 1982)

“Không được thu lệ phí đối với tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải, nếu không phải vì lý do trả công cho những dịch vụ riêng đối với những tàu thuyền này Khi thu lệ phí đó không được phân biệt đối xử.” (Điều 26 Công ước 1982)

Đối với các eo biển hoặc các khu vực quan trọng thì quốc gia ven biển có thể quy định về thời gian mà tàu nước ngoài được đi qua

“Quốc gia ven biển có thể tạm thời đình chỉ việc thực hiện quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài tại các khu vực nhất định trong lãnh hải của mình, nếu biện pháp này là cần thiết để bảo đảm an ninh của mình, kể cả để thử vũ khí, nhưng không được phân biệt đối xử về mặt pháp lý hay về mặt thực tế giữa các tàu thuyền nước ngoài Việc đình chỉ này chỉ có hiệu lực sau khi đã được công bố theo đúng thủ tục.” (Khoản 3 Điều 25 Công ước 1982)

Quyền tài phán trong lãnh hải

* Thẩm quyền tài phán hình sự

- Đối với tàu quân sự

Vì các tàu quân sự và tàu nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại được hưởng quyền miễn trừ về tư pháp nên:

+ “Nếu một tàu chiến không tôn trọng các luật và quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và bất chấp yêu cầu phải tuân thủ các luật và quy định đó đã được thông báo cho họ, thì quốc gia ven biển có thể đòi chiếc tàu đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức.” (Điều 30 Công ước 1982)

+ “Quốc gia mà tàu mang cờ chịu trách nhiệm quốc tế về mọi tổn thất hoặc về mọi thiệt hại gây ra cho quốc gia ven biển do một tàu chiến hay bất kỳ tàu thuyền nào khác của Nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại vi phạm các luật và

Trang 29

quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua lãnh hải hay vi phạm các quy định của Công ước hoặc các quy tắc khác của pháp luật quốc tế.” (Điều 31 Công ước 1982)

- Đối với tàu dân sự

Điều 27 Công ước 1982 quy định:

“1 Quốc gia ven biển không được thực hiện quyền tài phán hình sự của mình ở trên một tàu nước ngoài đi qua lãnh hải để tiến hành việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vi phạm hình sự xảy ra trên con tàu trong khi nó đi qua lãnh hải, trừ các trường hợp sau đây:

a) Nếu hậu quả của vụ vi phạm đó mở rộng đến quốc gia ven biển;

b) Nếu vị vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đất nước hay trật tự trong lãnh hải;

c) Nếu thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc một viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các nhà đương cục địa phương hoặc

d) Nếu các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buôn lậu chất ma túy hay các chất kích thích

2 Khoản 1 không đụng chạm gì đến quyền của quốc gia ven biển áp dụng mọi biện pháp mà luật trong nước mình quy định nhằm tiến hành các việc bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm ở trên con tàu nước ngoài đi qua lãnh hải, sau khi rời khỏi nội thủy

3 Trong những trường hợp nêu ở các khoản 1 và 2, nếu thuyền trưởng yêu cầu, quốc gia ven biển phải thông báo trước về mọi biện pháp cho một viên chức ngoại giao hay cho một viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ và phải tạo điều kiện

dễ dàng cho viên chức ngoại giao hay viên chức lãnh sự đó tiếp xúc với đoàn thủy thủ của con tàu Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp, việc thông báo này có thể tiến hành trong khi các biện pháp đang được thi hành

4 Khi xem xét có nên bắt giữ và các thể thức của việc bắt giữ, nhà đương cục địa phương cần phải chú ý thích đáng đến các lợi ích về hàng hải

5 Trừ trường hợp áp dụng phần XII hay trong trường hợp có sự vi phạm các luật và quy định được định ra theo đúng phần V, quốc gia ven biển không được thực hiện một biện pháp nào ở trên một con tàu nước ngoài khi nó đi qua lãnh hải nhằm tiến hành bắt giữ hay tiến hành việc dự thẩm sau một vụ vị phạm hình sự xảy ra trước khi con tàu đi vào lãnh hải mà không đi vào nội thủy.”

* Thẩm quyền tài phán dân sự

Quốc gia ven biển không được bắt một tàu nước ngoài đang đi qua lãnh hải phải dừng lại hay thay đổi hành trình của nó để thực hiện quyền tài phán dân sự của mình đối với một người ở trên con tàu đó Quốc gia ven biển không thể áp dụng các

Trang 30

biện pháp trừng phạt hay biện pháp bảo đảm về mặt dân sự đối với con tàu này, nếu không phải vì những nghĩa vụ đã cam kết hay các trách nhiệm mà con tàu phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển của quốc gia ven biển Tuy nhiên, quốc gia ven biển có quyền áp dụng các biện pháp trừng phạt hay bảo đảm về mặt dân sự do luật trong nước của quốc gia này quy định đối với tàu thuyền nước ngoài đang đậu trong lãnh hải hay đang đi qua lãnh hải, sau khi đã rời nội thủy (Điều

28 Công ước 1982)

1.2.4 Vùng tiếp giáp lãnh hải

1.2.4.1 Khái niệm: Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển đặc thù thuộc vùng đặc

quyền về kinh tế, nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải của quốc gia ven biển, có

bề rộng không quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

1.2.4.2 Quy chế pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải

Đây không phải là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia cũng không phải là vùng biển có quy chế tự do biển cả Vì vậy ở vùng biển này quốc gia ven biển chỉ có một số quyền mang tính chất chủ quyền trên một số lĩnh vực cần thiết được pháp luật quốc tế thừa nhận chung Điều 33 Công ước 1982 quy định các quyền chủ quyền này như sau:

Trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, quốc gia ven biển có thể thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm:

- Ngăn ngừa những phạm vi đối với các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y

tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;

-Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình

Điều 303 Công ước 1982 quy định cho quốc gia ven biển có thẩm quyền đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ nằm trên đáy biển của vùng tiếp giáp lãnh hải Để kiểm soát việc mua bán hiện vật này, quốc gia ven biển có thể coi việc lấy cá hiện vật đó từ đáy biển của vùng tiếp giáp lãnh hải mà không có sự thỏa thuận của mình là sự vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven biển ở trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình1

Vì vùng tiếp giáp lãnh hải là một vùng biển đặc thù của vùng đặc quyền kinh tế nên ngoài những quy chế pháp lý nêu trên, vùng tiếp giáp lãnh hải còn được hưởng những quy chế pháp lý dành cho vùng đặc quyền kinh tế

1.2.5 Vùng đặc quyền kinh tế

1.2.5.1 Khái niệm: Vùng đặc quyền về kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài

lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần V Công ước 1982, theo đó các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các

1

Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.192

Trang 31

quyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ước 1982 điều chỉnh (Điều 55 Công ước 1982)

Điều 57 Công ước 1982 quy định: “Vùng đặc quyền về kinh tế không được mở rộng ra quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.”

1.2.5.2 Quy chế pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế

* Quyền của quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế

Trong vùng đặc quyền kinh tế của mình quốc gia ven biển có các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió

Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình, nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, các quyền và các nghĩa vụ khác do Công ước quy định

Trong giới hạn 200 hải lý của vùng đặc quyền kinh tế bao gộp cả thềm lục địa nên các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nêu trong điều 56

sẽ được thực hiện theo đúng phần VI (phần về thềm lục địa) của Công ước 1982

Trong việc thực hiện các quyền thuộc chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn

và quản lý các tài nguyên sinh vật của vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có thể thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố

tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các luật và quy định mà mình đã ban hành theo đúng Công ước Khi có một sự bảo lãnh hay một bảo đảm đầy đủ khác thì cần thả ngay chiếc tàu bị bắt và trả tự do ngay cho đoàn thủy thủ của chiếc tàu này

* Các quyền và nghĩa vụ của quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế Trong vùng đặc quyền về kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, trong những điều kiện trong những quy định thích hợp của Công ước trù định, được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dây cáp ngầm nêu ở Điều 87, cũng như quyền tự do sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp

về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là những khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm Khi thực hiện các quyền và làm các nghĩa

vụ của mình theo Công ước, các quốc gia phải tính đến các quyền và các nghĩa vụ của quốc gia ven biển và tôn trọng các luật và quy định mà quốc gia ven biển đã ban hành theo đúng các quy định của Công ước và trong chừng mực mà các luật và quy định đó không mâu thuẫn với phần này và với các quy tắc khác của pháp luật quốc tế (Điều 58 Công ước 1982)

Trang 32

Đối với tài nguyên sinh vật, nếu tổng khối lượng cho phép đánh bắt lớn hơn khả năng khai thác của quốc gia ven biển, có nghĩa là tồn tại một số dư cho phép đánh bắt thì quốc gia ven biển có thể cho phép các quốc gia khác, thông qua các điều ước hoặc những thỏa thuận liên quan, khai thác số dư của khối lượng cho phép đánh bắt này mà không phương hại đến đặc quyền bảo tồn tài nguyên sinh vật của mình, có ưu tiên cho các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về mặt địa lý Tuy nhiên, nếu quốc gia ven biển có nền kinh tế lệ thuộc rất nặng nề vào việc khai thác tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền về kinh tế của mình thì có quyền không cho phép quốc gia khác khai thác số

dư của khối lượng cho phép đánh bắt

- Thềm lục địa là phần nền lục địa ngập dưới nước với độ dốc thoai thoải (độ dốc trung bình 0,07-10) thường kéo dài đến độ sâu 200 m

- Dốc lục địa là phần nằm giữa thềm lục địa và bờ lục địa, phân biệt với thềm lục địa bằng một sự thay đổi độ dốc đột ngột, trung bình khoảng 4-50, đôi khi tới 450

- Bờ lục địa là vùng tiếp theo dốc lục địa khi độ dốc thoải trở lại, thường rất nhỏ 0,50 mở rộng từ chân dốc cho đến khi gặp đáy đại dương (xem thêm phụ lục 7)

* Thềm lục địa pháp lý

“Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn.” (Khoản 1 Điều 76 Công ước 1982)

“Rìa lục địa là phần kéo dài ngập dưới nước của lục địa của quốc gia ven biển, cấu thành bởi đáy biển tương ứng với thềm, dốc và bờ, cũng như lòng đất dưới đáy của chúng Rìa lục địa không bao gồm các đáy của đại dương ở độ sâu lớn, với các dải núi đại dương của chúng, cũng không bao gồm lòng đất dưới đáy của chúng.” (Khoản 3 Điều 76 Công ước 1982)

Nếu bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá

200 hải lý thì quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình như sau:

1

Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.196

Trang 33

- Phương pháp xác định theo bề dày trầm tích: đường vạch nối các điểm cố định tận cùng nào mà bề dày lớp đá trầm tích ít nhất cũng bằng một phần trăm khoảng cách

từ điểm được xét cho tới chân dốc lục địa (xem thêm phụ lục 3)

- Phương pháp xác định theo khoảng cách: đường vạch nối các điểm cố định ở cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý

Nối các điểm cố định được xác định theo một trong hai phương pháp trên sao cho thành những đoạn thẳng không dài quá 60 hải lý (xem thêm phụ lục 4)

Chân dốc lục địa là điểm biến đổi độ dốc rõ nét nhất ở nền dốc Đây là điểm nơi dốc lục địa gặp bờ lục địa, hoặc trong trường hợp không có bờ lục địa thì là điểm nơi dốc lục địa gặp đáy lớn đại dương Nói cách khác, chân dốc lục địa nằm gần rìa ngoài của lục địa, tức là gần nơi chuyển từ vỏ lục địa sang vỏ đại dương

Tuy nhiên Công ước 1982 không quy định rõ quốc gia ven biển chỉ được phép chọn sử dụng một trong hai phương pháp trên cho toàn bộ thềm lục địa của mình hay

có thể sử dụng kết hợp cả hai phương pháp nhằm mục đích mở rộng thềm lục địa của mình đến mức tối đa có thể được Điều đó có nghĩa rằng các quốc gia ven biển có thể kết hợp cả hai phương pháp trên sao cho có lợi nhất cho mình Nhưng ranh giới ngoài cùng của thềm lục địa không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải hoặc cách đường đẳng sâu 2500 mét một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý (xem thêm phụ lục 5 và 6)

Khi ranh giới ngoài của thềm lục địa của quốc gia ven biển mở rộng quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì:

- Quốc gia ven biển phải xác định rõ tọa độ, thông báo các thông tin về các ranh giới ngoài của thềm lục địa cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa Quốc gia ven biển thực hiện điều này khi có điều kiên và trong bất cứ hoàn cảnh nào trong một thời hạn 10 năm kể từ khi Công ước có hiệu lực đối với quốc gia này Hội nghị các nước thành viên Công ước đã thỏa thuận thời điểm cuối để thông báo về ranh giới nói trên là vào ngày 13/5/2009

- Quốc gia ven biển phải có nghĩa vụ nộp các khoản đóng góp bằng tiền hay bằng hiện vật về việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không sinh vật của thềm lục địa nằm ngoài 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải

1.2.6.2 Quy chế pháp lý của thềm lục địa

Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình Đây là những quyền có tính chất đặc quyền, nghĩa là các quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa, thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia đó Các quyền

Trang 34

của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thực sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào

Các tài nguyên thiên nhiên ở phần này bao gồm các tài nguyên thiên nhiên khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên không sinh vật khác của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như các sinh vật thuộc loại định cư, nghĩa là những sinh vật nào, ở thời kỳ có thể đánh bắt được, hoặc nằm bất động ở đáy, hoặc lòng đất dưới đáy; hoặc

là không có khả năng di chuyển nếu không có khả năng tiếp xúc với đáy hay lòng đáy dưới đáy biển Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kỳ vào mục đích gì

Quốc gia ven biển còn có các quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, các thiết

bị, công trình trên thềm lục địa, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển, về bảo vệ

và giữ gìn môi trường biển

Tuy nhiên, các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không được đụng chạm đến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trên vùng nước này Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địa không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của các nước khác đã được công ước thừa nhận, cũng không được cản trở việc thực hiện các quyền này một cách không thể biện bạch được (Điều 78 Công ước 1982)

Tất cả các quốc gia có quyền đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa theo đúng điều 79 Công ước 1982 nhưng tuyến ống dẫn đặt ở thềm lục địa cần được sự thỏa thuận của quốc gia ven biển

1.2.7 Biển cả và vùng – di sản chung của loài người

1.2.7.1 Biển cả

* Khái niệm biển cả

Biển cả là tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền về kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo (Điều 86 Công ước 1982)

* Quy chế pháp lý của biển cả

Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển Quyền tự do trên biển cả được thực hiện trong những điều kiện do các quy định của Công ước và những quy tắc khác của pháp luật quốc tế trù định Đối với các quốc gia

dù có biển hay không có biển, quyền tự do này bao gồm:

Trang 35

- Tự do nghiên cứu khoa học

Mỗi quốc gia khi thực hiện các quyền tự do này phải tính đến lợi ích của việc thực hiện tự do trên biển cả của các quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quân đến các hoạt động trong Vùng

“Không một quốc gia nào có thể đòi đặt một cách hợp pháp một bộ phận nào đó của biển cả thuộc vào chủ quyền của mình” (Điều 89 Công ước 1982)

Các tàu thuyền khi hoạt động trên biển cả chỉ thuộc quyền tài phán của quốc gia mình và không được thay đổi cờ trong một chuyến đi hay trong một dịp đậu lại, trừ trường hợp có sự chuyển giao thật sự quyền sở hữu hay có thay đổi đăng ký Cá tàu chiến và tàu nhà nước đượng dùng vào những mục đích không thương mại được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và chỉ thuộc quyền tài phán của quốc gia mình

Công ước còn quy định nghĩa vụ của các quốc gia trấn áp việc buôn bán nô lệ, nạn cướp biển, việc buôn bán các chất ma túy và các chất kích thích, phát sóng không được phép từ biển cả và nghĩa vụ giúp đở bất kỳ ai gặp nạn trên biển

Điều 110 Công ước 1982 quy định một tàu chiến khi gặp một tàu nước ngoài ở trên biển cả không phải là một tàu được hưởng quyền miễn trừ như đã nêu ở các Điều

95 và 96, có thể khám xét chiếc tàu đó nếu có những lý do đúng đắn để nghi ngờ chiếc tàu đó đang: tiến hành các hoạt động cướp biển; hoạt động buôn bán, chuyên chở nô lệ; thực hiện sự phát sóng không được phép; không có quốc tịch hay thật ra là cùng quốc tịch với chiếc tàu chiến, mặc dù chiếc tàu này treo cờ nước ngoài hay từ chối treo

cờ của mình

Nếu quốc gia ven biển có đầy đủ lý do chứng minh được một tàu nước ngoài vi phạm luật lệ của mình thì có quyền truy đuổi ra đến tận biển cả với các điều kiện quy định cụ thể trong Công ước Chỉ khi nào chiếc tàu phạm pháp đi vào vùng biển của một nước ven biển khác thì quyền này mới bị đình chỉ1

1.2.7.2 Vùng – di sản chung của loài người

* Khái niệm

Vùng là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài giới hạn quyền tài phán của quốc gia Hay nói cách khác, vùng là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài đường ranh giới ngoài của thềm lục địa quốc gia

Tài nguyên của vùng là tất cả các tài nguyên khoáng sản ở thể rắn, lỏng hoặc khí in situ (ở ngay tại chỗ) trong Vùng, nằm ở đáy biển hay lòng đất dưới đáy biển, kể

cả các khối đá kim (nodules polymétalliques) Các tài nguyên, một khi đã được khai thác từ Vùng, được gọi là “các khoáng sản” (minéraux)

* Quy chế pháp lý của vùng

1

Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật – Trường Đại học Khoa học xã hội và

nhân văn, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997, tr.204

Trang 36

Vùng và tài nguyên của nó là di sản chung của loài người Không một quốc gia nào có thể đòi hỏi thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc chủ quyền ở một phần nào

đó của Vùng hoặc đối với tài nguyên của Vùng; không một quốc gia nào và không một

tự nhiên nhân hay pháp nhân nào có thể chiếm đoạt bất cứ một phần nào đó của Vùng hoặc tài nguyên của Vùng Không một yêu sách, một việc thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc quyền chủ quyền này cũng như một hành động chiếm đoạt nào được thừa nhận

Vùng được sử dụng vào những mục đích hoàn toàn hòa bình Mọi hoạt động trong vùng được tiến hành vì lợi ích của toàn thể loài người Việc thăm dò, khai thác tài nguyên của vùng được tiến hành thông qua một tổ chức quốc tế được gọi là Cơ quan quyền lực Cơ quan quyền lực quốc tế bảo đảm việc phân chia công bằng, trên cơ

sở không phân biệt đối xử, những lợi ích tài chính và các lợi ích kinh tế khác do những hoạt động tiến hành trong vùng, thông qua bộ máy của mình1

Vùng để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù quốc gia có biển hay không có biển, sử dụng vào những mục đích hoàn toàn hòa bình và không phân biệt đối xử Tất cả các di vật khảo cổ hay lịch sử tìm thấy ở trong Vùng, đều được bảo tồn hay nhượng lại, vì lợi ích của toàn thể loài người, đặc biệt quan tâm đến các quyền ưu tiên của quốc gia nơi xuất xứ của cổ vật đó

1.2.8 Quy chế pháp lý của đảo

Theo khoản 1 điều 121 Công ước 1982 thì một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước

Là “một vùng đất tự nhiên” nên các quốc gia không thể dùng các công trình nhân tạo nhằm mục đích mở rộng các vùng biển của mình, gây cản trở quyền tự do biển cả Vì là “một vùng đất tự nhiên” nên nó phải gắn bó hữu cơ với đáy biển, phải được coi là nền đất và có cùng độ nổi thường xuyên như đất liền

Công ước không nói rõ thủy triều ở đây là gì? Thủy triều cao nhất trong năm hay mức thủy triều cao nhất trung bình trong năm

Chỉ hòn đảo đá nào thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh

tế riêng mới được có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Nếu đáp ứng được điều kiện vừa nêu thì lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước 1982 áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác

Để có được vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Công ước 1982 không đưa

ra điều kiện về diện tích đảo mà chỉ đưa ra điều kiện phải thích hợp cho con người đến

ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng Nhưng Công ước không giải thích rõ như thế nào là “thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng”

1

Giáo trình Luật quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.200

Trang 37

Công ước nói rằng “thích hợp cho con người đến ở” tức là không nhất thiết phải

có người sống trên đó mặc dù nó “thích hợp”, hay bắt buộc phải có người sống trên đó? Để trả lời cho câu hỏi này chúng ta cần phải thấy được ý nghĩa của việc tồn tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Từ xa xưa, cư dân ở các vùng ven biển với những công cụ thô sơ đã tiến ra các vùng biển gần bờ để khai thác tài nguyên từ biển mang vào đất liền để phục vụ cho đời sống con người nên các khai niệm về những vùng biển xa bờ như vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chưa được biết đến Dần dần khoa học kỹ thuật phát triển cùng với việc dân số tăng, con người có thể tiến ra những vùng biển xa bờ hơn với những công cụ ngày càng hiện đại hơn, không chỉ khai thác được các tài nguyên sinh vật mà còn có thể khai thác được các tài nguyên khoáng sản ở trong lòng đất dưới đáy biển với sản lượng ngày càng lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người Từ đó hình thành nên các khai niệm về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với ý nghĩa tạo điều kiện cho cộng đồng dân cư sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia ven biển được hưởng thêm những lợi ích kinh tế từ hai vùng này Với ý nghĩa trên thì một đảo không có người sinh sống không nên có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Nếu như một đảo có người sinh sống nhưng lại phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào nguồn cung cấp nước ngọt, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác từ đất liền thì có được xem là “thích hợp cho con người đến ở” hay không? Với nền khoa học hiện tại việc biến một hòn đảo trước giờ không có người sinh sống thành một hòn đảo có người ở là điều hoàn toàn có thể làm được như trường hợp một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Liệu một hòn đảo chỉ có vài người sinh sống trên đó để thực hiện công việc nghiên cứu khoa học hay canh gác và bảo dưỡng các ngọn đèn hải đăng thì có được xem là “thích hợp cho con người đến ở” hay không?

Nếu một đảo nhỏ trước giờ không có người sinh sống vì các điều kiện về thời tiết, không có nước ngọt hoặc các hạn chế khác nhưng vì mục đích khai thác tài nguyên của đảo và các vùng biển xung quanh hay với mục đích muốn cho đảo có được vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hay vì một lý do nào khác mà một quốc gia đưa người dân của mình lên đó, rồi tạo điều kiện cho những người này sinh sống trên đảo, đánh bắt cá ở những vùng biển xung quanh đảo hay đưa khách du lịch ra đảo… liệu có tạo ra một cuộc sống kinh tế hoặc các điều kiện mới cho con người đến ở không?

Việc giải thích các thuật ngữ trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nước tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong việc tìm một giải pháp hòa bình

để giải quyết tranh chấp

Trang 38

1.3 Các phương pháp phân định biển tại các vùng biển chồng lấn

1.3.1 Khái niệm phân định biển

Phân định là quá trình hoạch định đường ranh giới phân tách hai hay nhiều quốc gia có các vùng biền tiếp giáp nhau và không được phân tách bởi biển cả hoặc đáy biển – Vùng di sản chung của loài người1

1.3.2 Phân định lãnh hải

Điều 15 Công ước 1982 quy định: “Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng

để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác.”

Từ điều 15 Công ước 1982 ta có thể rút ra các nguyên tắc chung cho phân định lãnh hải là:

- Cụm từ “trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại” khẳng định sự thỏa thuận giữa các quốc gia trong vấn đề phân định lãnh hải luôn có hiệu lực cao nhất

- Nếu như các quốc gia không có thỏa thuận thì sẽ áp dụng đường trung tuyến (đường cách đều)

- Tuy nhiên, đường trung tuyến (đường cách đều) chi được áp dụng khi:

+ Không có các danh nghĩa lịch sử;

+ Không có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia theo một cách khác Các hoàn cảnh đặc biệt có thể là hình dạng bất thường của bờ biển; sự hiện diện của các đảo; sự hiện diện của luồn hàng hải

Khi có các hoàn cảnh đặc biệt không thể áp dụng đường trung tuyến (đường cách đều) được thì ta có thể sử dụng đường này như là đường tạm thời quản lý và là đường đầu tiên đưa ra trong đàm phán Đến khi đàm phán, các hoàn cảnh đặc biệt sẽ

có ý nghĩa sửa chữa lại những bất công mà đường cách đều có thể mang lại trong phân định để đạt được một giải pháp công bằng

1.3.3 Phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Điều 74 và 83 Công ước 1982 quy định:

“1 Việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế (thềm lục địa) giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diên nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc tế như đã nêu ở Điều 38 của Quy chế Tòa án quốc

tế để đi đến một giải pháp công bằng

1

Nguyễn Hồng Thao, Những điều cần biết về luật biển, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.262

Trang 39

2 Nếu không đi tới được một thỏa thuận trong một thời gian hợp lý thì các quốc gia hữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV

3 Trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở khoản 1, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và không phương hại hay cản trở việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoán quá độ này Các dàn xếp tạm thời không phương hại đến hoạch định cuối cùng

4 Khi một điều ước đang có hiệu lực giữa các quốc gia hữu quan, các vấn đề liên quan đến việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế được giải quyết theo đúng điều ước đó.”

Cũng giống như việc phân định lãnh hải, trong việc phân định ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế hay thềm lục địa thì thỏa thuận giữa các quốc gia tranh chấp sẽ có giá trị pháp lý cao nhất Những thỏa thuận này phải theo đúng với pháp luật quốc tế được nêu ở điều 38 Quy chế của Tòa án công lý quốc tế Những nguồn pháp luật quốc

Nghĩa vụ của các quốc gia khi tham gia đàm phán là để đi đến một kết quả công bằng, chứ không phải là đàm phán hình thức Các bên tham gia đàm phán phải trù liệu một sự điều chỉnh nào đó chứ không nên khăng khăn giữ lập trường riêng của mình

Thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là hai khái niệm khác nhau trong Công ước 1982, được Công ước 1982 quy định cho mỗi vùng được hưởng quy chế pháp lý riêng Vấn đề đặt ra là khi phân định, các quốc gia tranh chấp sẽ xác định một đường ranh giới chung cho cả hai vùng này hay mỗi vùng sẽ có một đường ranh giới riêng? Vấn đề sẽ trở nên rắc rối nếu như mỗi vùng có một đường ranh giới riêng, khi đó sẽ xảy ra trường hợp vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia này sẽ nằm chồng lên thềm lục địa của quốc gia khác, quốc gia nào có quyền khai thác tài nguyên thuộc vùng thềm lục địa bị chồng lấp đó? Còn hàng loạt vấn đề cần phải giải quyết khác như quốc gia nào có quyền tài phán về việc cho phép xây dựng, lắm đặt các đảo nhân tạo, các công trình thiết bị trên biển, bảo vệ môi trường biển và nghiên cứu khoa học biển trong

Trang 40

vùng mà quy chế pháp lý của hai vùng chồng lên nhau? Vấn đề có thể được giải quyết theo hai cách sau:

- Tài nguyên của vùng thềm lục địa bị chồng lấp sẽ được đặt dưới chế độ quản

lý chung

- Một quốc gia sẽ quản lý tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế bị trùng lắp của mình, quốc gia còn lại quản lý tài nguyên không sinh vật trong vùng thềm lục địa bị chồng lấp của mình

Việc lựa chọn một đường ranh giới chung cho cả hai vùng hay mỗi vùng có một đường ranh giới riêng tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các quốc gia trong tranh chấp

1.3.4 Các phương pháp phân định biển

Có nhiều phương pháp phân định biển mà các quốc gia có thể lựa chọn trong quá trình đàm phán phân định biển nhưng nhìn chung có ba phương pháp chính là phương pháp đường cách đều, phương pháp công bằng và phương pháp đường cách đều có điều chỉnh Tùy thuộc vào các yếu tố đặc trưng của từng vụ tranh chấp mà các quốc gia liên quan có thể thỏa thuận lựa chọn một trong ba phương pháp trên để tiến hành đàm phán phân định lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

1.3.4.1 Phương pháp đường cách đều

Được áp dụng khi hai quốc gia có bờ biển liền kề nhau hoặc đối diện nhau Đường ranh giới phân định biển là đường mà mỗi điểm nằm trên nó đều cách đều các điểm gần nhất của đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quốc gia

Điểm yếu của phương pháp này là khi có các danh nghĩa lịch sử hay một hoàn cảnh đặc biệt như hình dạng bất thường của bờ biển, sự hiện diện của các đảo hay một luồng hàng hải, thì khi áp dụng phương pháp này sẽ không có được một kết quả công bằng Trong nhiều trường hợp công bằng không có nghĩa là phải ngang bằng nhau

Công bằng trong phân định là xem xét và đặt lên bàn cân tất cả các hoàn cảnh hữu quan để tìm ra được một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận, các bên có thể coi kết quả mà nó mang lại là công bằng, chứ không phải sự áp dụng máy móc, khe khắt một loạt các quy tắc, nguyên tắc hình thức Muốn đạt được kết quả công bằng cần

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm