Sự ra đời của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, đã quy định trong phạm vi quyền hạn của mình, ngoài việc cung cấp chính xác về thông tin hàng hóa, dịch vụ cho NTD, bên thứ ba c
Trang 1Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ths Nguyễn Mai Hân Ngô Trung Hiếu
MSSV: 5095609
Lớp: Luật Thương mại 2 Niên khóa: 2009-2013
Cần Thơ, tháng 5 năm 2013
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Với vốn kiến thức tích lũy qua bốn năm học tại trường Đại học Cần Thơ, không những giúp người viết hoàn thành luận văn cho riêng mình mà còn là hành trang quý báu cho người viết bước vào cuộc sống Trong quá trình làm luận văn người viết dù gặp nhiều khó khăn do điều kiện, thời gian, khả năng nghiên cứu, kiến thức, kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên để hoàn thành được luận văn này, người viết nhận được rất nhiều
sự quan tâm giúp đỡ của mọi người, qua đây người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến: gia đình những người luôn yêu thương, chăm sóc người viết trong cuộc sống; quý Thầy Cô khoa Luật-Trường Đại học Cần Thơ là những người trực tiếp truyền đạt, giảng dạy kiến thức cũng như những kinh nghiệm cho người viết; bạn bè những người đã luôn bên cạnh giúp đỡ người viết Đặc biệt người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Cô Nguyễn Mai Hân, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn người viết trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Người viết xin kính chúc quý Thầy Cô sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống và công tác giảng dạy
Người viết xin chân thành cảm ơn!
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA BÊN THỨ BA TRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ HÀNG HÓA, DỊCH VỤ CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG 4
1.1 Khái quát chung về tiêu dùng và người tiêu dùng 4
1.1.1 Khái quát về tiêu dùng 4
1.1.2 Người tiêu dùng 5
1.1.3 Những quyền lợi cơ bản của người tiêu dùng 7
1.1.3.1 Trên thế giới 7
1.1.3.2 Theo pháp luật Việt Nam hiện hành 9
1.2 Khái quát chung về bên thứ ba trong luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 10
1.3 Sự cần thiết của những quy định về trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ 12
1.4 Ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng 15
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO TRÁCH NHIỆM CỦA BÊN THỨ BA TRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ HÀNG HÓA, DỊCH VỤ CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG 17
2.1 Những nguyên tắc cơ bản trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 17
2.1.1 Các nguyên tắc chung của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng 18
2.1.2 Những nguyên tắc về bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam 18
2.2 Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng 20
2.3.1 Bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp 20
2.2.2 Yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp chứng cứ chứng minh tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ 23
2.2.3 Chịu trách nhiệm liên đới về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ 26
2.2.4 Tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về quảng cáo 29
2.2.4.1 Tuân thủ về nội dung quảng cáo thương mại 30
Trang 62.2.4.2 Hình thức quảng cáo thương mại 29 2.2.4.3 Không thực hiện các hành vi quảng cáo thương mại bị cấm 31
2.2.4.4 Tuân thủ các quy định về trình bày sản phẩm thông tin báo chí và phát
hành sản phẩm thông tin báo chí 33
2.4 Xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng 34 CHƯƠNG 3: NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA BÊN THỨ BA TRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ HÀNG HÓA, DỊCH VỤ CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG 36 3.1 Thưc trạng trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng của bên thứ ba 37
3.1.1 Chưa đảm bảo cơ chế để bên thứ ba thực hiện trách nhiệm của mình trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho NTD 37
3.1.2 Bên thứ ba chưa thực hiện tốt công tác kiểm tra chứng cứ chứng minh tính
chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ một cách nghiêm túc 38 3.1.3 Bên thứ ba chưa đưa thông tin chính xác đầy đủ về sản phẩm 40
3.2 Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện việc quy định trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng 40
3.2.1 Các quy định của pháp luật phải rõ ràng nhằm đảm bảo trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng 40 3.2.2 Cần có sự chấp hành nghiêm chỉnh của các chủ thể trong vấn đề quản lý và tuân thủ pháp luật, nhầm kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của thông tin được cung cấp từ nhà quảng cáo 42 3.2.3 Xây dựng cơ chế hợp lý để tạo điều kiện cho từng cá nhân người tiêu dùng 44 3.2.4 Công bố công khai các chủ thể có hành vi vi quyền lợi NTD: 45
KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay thì bảo vệ người tiêu dùng đang được xem là một vấn
đề rất “nóng” Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 ra đời đã tạo ra khung pháp
lý an toàn để bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng (NTD) Văn bản này là sự nỗ lực rất lớn của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ bên yếu thế hơn khi họ tiến hành giao dịch với bên thứ ba và cả tổ chức, cá nhân kinh doanh
Đặc biệt là trong vấn đề đảm bảo tính chính xác của việc cung cấp thông tin của hàng hóa, dịch vụ Thời gian qua, dư luận, công chúng đã lên tiếng nhiều về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quảng cáo trên các đài truyền hình không đúng với tính năng, tác dụng thật sự của sản phẩm Sự ra đời của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, đã quy định trong phạm vi quyền hạn của mình, ngoài việc cung cấp chính xác về thông tin hàng hóa, dịch vụ cho NTD, bên thứ ba có trách nhiệm ngăn chặn tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lừa dối, gây nhầm lẫn, đặc biệt là hành vi quấy rối NTD bằng phương tiện, dịch vụ do mình quản lý Trong mối quan hệ này, bên thứ ba chính là cầu nối đưa người tiêu dùng (NTD) tiếp cận đến những thông tin cần thiết của hàng hóa, dịch vụ thông qua hoạt việc cung cấp dịch vụ quảng cáo Trong khi đó, trên thực tế, trình trạng vi phạm pháp luật về vấn đề này ngày càng diễn
ra nhiều hơn Bởi vì vậy, khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 ra đời đã quy định thêm trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ là thực sự cần thiết
Từ những vấn đề vừa nêu, người viết đã chọn đề tài “Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cử nhân ngành luật cho mình
2 Mục đích nghiên cứu
Việc tìm hiểu đề tài “Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin
về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng” sẽ giúp cho người viết có thêm những hiểu biết liên quan đến NTD, bên thứ ba và trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa dịch vụ cho NTD Qua đó tìm hiểu về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc quy định trách nhiệm của bên thứ ba Đồng thời có cái nhìn tổng quát
về những quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề trên Qua đó, rút ra những mặt tích cực trong quy định của luật cũng như những hạn chế mà nó mang lại trong thực tiễn áp dụng Song song đó là tìm hiểu việc áp dụng những quy định của pháp luật có liên
Trang 8quan trên thực tế Từ đó, phân tích những mặt tích cực và hạn chế trong quy định pháp luật về trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD Trên cơ sở đó, người viết đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc quy định trách nhiệm của bên thứ ba –
một quy định mới trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (BVQLNTD) 2010
3 Phạm vi nghiên cứu
Bên thứ ba là cầu nối giữa bên sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và NTD
Do đó những chủ thể được xem là bên thứ ba trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng rất đa dạng Nhưng do thời gian nghiên cứu có giới hạn nên người viết chỉ tìm hiểu trách nhiệm của bên thứ ba là tổ chức cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo, chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho NTD Trên cơ sở nghiên cứu các quy định trong Luật BVNTD năm 2010, Luật Quảng cáo 2012, Nghị định 19/ND-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và một số văn bản pháp luật hiện hành quy định có liên quan đến hoạt bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, từ việc tham khảo những quy định của pháp luật, các sách bình luận, các tạp chí, giáo trình,…và những thực tế phát sinh, người viết đã dùng các phương pháp phân tích những quy phạm của pháp luật, bình luận những quy định này Qua đó, tổng hợp, đối chiếu những quy phạm có liên quan với nhau và tìm hiểu việc
áp dụng những chế định này trên thực tế Bên cạnh đó, người viết cũng sưu tầm, các số liệu thực tế sau đó đánh giá, phân tích những số liệu đó nhằm có cái nhìn tổng quát nhất về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc quy định trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
5 Kết cấu đề tài
Trong luận văn này, nội dung được bố trí theo thứ tự gồm phần mở đầu, phần nội dung và kết luận Ngoài ra còn có các phần như mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,…Phần nội dung bao gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng: Trong chương này,
nội dung được đề cập là làm rõ một số khái niệm liên quan đến tiêu dùng, người tiêu
dùng, bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu
dùng là những ai Thông qua đó, nêu lên sự cần thiết của việc quy định trách nhiệm
Trang 9của bên thứ ba, cũng như sự hợp lý khi đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trước một chủ thể mới được luật BVQLNTD đã quy định
Chương 2: Quy định của pháp luật trong việc đảm bảo trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng:
Nội dung chương 2 sẽ đề cập đến những quy định của pháp luật hiện hành trong việc
đảm bảo trách nhiệm trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
cung cấp thông tin cho người tiêu dùng thông qua bên thứ ba và thông qua phương tiện truyền thông Trên cơ sở đó, người viết sẽ đề cập đến việc xử lý trách nhiệm hành
chính trong trường hợp bên thứ ba vi phạm quy định của pháp luật
Chương 3: Một số khó khăn, vướng mắc và hướng hoàn thiện trong vấn đề quy định việc đảm bảo trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin
về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng: Trong chương này, sẽ nêu lên những bất
cập xuất phát từ chính những quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong việc quy định trong giới hạn quản lý của các cơ quan chức năng Song song đó là tâm lý của NTD trong việc tự bảo vệ mình Qua đó, đề ra những giải pháp để hoàn thiện Đồng thời, trong nội dung chương này cũng đề cập đến những tồn tại trên thực tế trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến những quyền lợi của người tiêu dùng và đưa ra một số giải pháp phòng ngừa, hoàn thiện vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thời gian sắp tới
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ TRÁCH NHIỆM
CỦA BÊN THỨ BA TRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ HÀNG HÓA, DỊCH VỤ CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG 1.1 Khái quát chung về tiêu dùng và người tiêu dùng
1.1.1 Khái quát về tiêu dùng
Trang 10Theo từ điển tiếng Việt thì tiêu dùng có thể được hiểu là việc con người sử dụng những của cải vật chất (hàng hóa và dịch vụ) được sáng tạo, sản xuất ra trong quá trình sản xuất để thoả mãn các nhu cầu của xã hội.1 Ngoài ra, tiêu dùng được xem
là giai đoạn quan trọng của tái sản xuất và là một động lực của quá trình sản xuất, nó kích thích cho sản xuất phát triển Như vậy, có thể hiểu tiêu dùng là việc chúng ta mua hàng hóa, yêu cầu cung ứng dịch vụ để sử dụng chính hàng hóa, dịch vụ đó nhằm phục
vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của cá nhân, cho gia đình,…Nhờ có tiêu dùng mà nhà sản xuất, người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mới có vốn để tiếp tục đầu tư và
mở rộng sản xuất ra những hàng hóa, dịch vụ để phục vụ cho người mua hàng hóa, yêu cầu cung ứng dịch vụ Đối với một nhà sản xuất tạo ra hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì mục tiêu hướng tới trước tiên của họ đương nhiên là lợi nhuận Nhưng để đạt được điều đó thì hàng hóa, dịch vụ được tạo ra phải có người sử dụng và muốn tiếp tục được
sử dụng Do đó, lợi nhuận của nhà sản xuất sẽ bị ảnh hưởng bởi việc tiêu dùng là diều tất yếu, nó dẫn dến vấn đề phải cải thiện sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu của tiêu dùng
và cạnh tranh với các dối thủ khác Chính vì lẽ đó, tiêu dùng sẽ quyết định đến định hướng trong tương lai của nhà sản xuất, nó góp phần kích thích sản xuất phát triển Nhìn chung, mục đích của tiêu dùng là sử dụng những hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất Đồng thời, tiêu dùng giúp cho quá trình sản xuất phát triển, vì không có tiêu dùng sẽ dẫn đến tình trạng hạn chế sản xuất nói riêng và kiềm chế sự phát triển của nền kinh tế nói chung Kể từ sau năm 2008, nền kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn và suy giảm do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và bản thân nội tại nền kinh tế Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2011 - năm đầu tiên thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2015, nền kinh tế Việt Nam vẫn có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được một số kết quả đáng khích lệ: Tăng trưởng GDP ổn định (năm2011 đạt mức khoảng 120 tỷ USD, và bình quân đầu người đạt 1300 USD); 2
Tóm lại, tiêu dùng là một hành vi của con người sử dụng những của cải vật chất được tạo ra trong quá trình sản xuất để phục vụ, thoả mãn các nhu cầu của xã hội Tiêu dùng là một hoạt động quan trọng của tái sản xuất và tiêu dùng cũng là một động lực của quá trình sản xuất, nó kích thích sản xuất phát triển
1.1.2 Người tiêu dùng
1 Từ điển tiếng Việt - http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ [Truy cập ngày 14/02/2013])
2 Ban quan sát và quản lý cạnh tranh - Tổng quan về hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam giai đoạn (2009 – 2011) – Bản tin cạnh tranh và NTD – Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương, số 35/20012 – Trang 4.
Trang 11Hiện nay, cụm từ NTD đã không còn xa lạ gì với người Việt Nam nhưng không phải ai cũng hiểu và nắm rõ hết vai trò của mình trong quá trình tiêu dùng Có rất nhiều người chỉ hiểu đơn giản mình là người đi mua những sản phẩm, hàng hóa theo nhu cầu và mong muốn của mình Cách hiểu như vậy cũng không sai nhưng nó chưa khái quát được hết các vai trò mà NTD có được Chính vì vậy mà NTD không ý thức được vai trò to lớn của mình, mình có vị trí quan trọng như thế nào trong nền kinh tế nhiều cạnh tranh như hiện nay Do đó, nhiều NTD đã bỏ qua hoặc thiếu quan tâm tới những quyền và lợi ích hợp pháp mà mình có được Bởi vì vậy, việc làm rõ khái niệm NTD là hết sức quan trọng Do sự phát triển kinh tế - xã hội, chế độ chính trị,…ở mỗi quốc gia là không giống nhau Cho nên ở mỗi nước khác nhau, sẽ có những cách hiểu khác nhau về khái niệm NTD Chẳng hạn như theo Bộ Luật bảo vệ quyền lợi NTD của Pháp 1993 quy định “Người tiêu dùng là các cá nhân trực tiếp mua hàng hóa, thụ hưởng các dịch vụ và trực tiếp tiêu thụ, không bao gồm những người mua với mục
đích bán lại” 3 Từ khái niệm trên, cho thấy, pháp luật về NTD theo luật Pháp không bảo vệ cá nhân không trực tiếp mua hàng hóa, thụ hưởng các dịch vụ, cũng như tuy họ trực tiếp mua nhưng không trực tiếp tiêu thụ thì vẫn không được pháp luật về quyền lợi NTD bảo vệ Luật bảo vệ NTD Malaysia năm 1999 cũng đề cập khái niệm NTD NTD theo Luật Malaysia tương đối chi tiết về mục đích sử dụng Theo đó, NTD là người không sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ vào mục đích cung cấp lại vì mục đích thương mại, tiêu dùng vào mục đích sản xuất Cũng theo Luật này, NTD không chỉ là người trực tiếp mua sản phẩm hay thuê dịch vụ mà bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa, dịch vụ không phụ thuộc vào hợp đồng giữa họ với nhà cung cấp4.Từ những
ví dẫn chứng trên, có thể thấy rằng các quốc gia điều có những nét khác biệt trong việc nhận thức về khái niệm NTD Trong đó, có quốc gia chỉ thừa nhận NTD là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích thương mại Có quốc gia chỉ quy định NTD là người trực tiếp mua, thụ hưởng và trực tiếp tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ đó,…Nhưng nhìn chung việc xây dưng khái niệm NTD đều nhằm một mục đích là bảo
vệ quyền lợi chính đáng của NTD trước trước pháp luật, khi mà phần lớn NTD, vẫn nằm ở thế yếu trước nhà kinh doanh khi có tranh chấp phát sinh Cùng với xu hướng chung trong việc xây dựng hành lang pháp lý dể bảo vệ NTD, năm 1999 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số
3 Nguyễn Hữu Nguyên – Kinh nghiệm pháp luật của Pháp và EU về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – Bản tin cạnh tranh và NTD số 8/2009 – Trang 14
4Cục Quản lý cạnh tranh - So sánh luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên thế giới _Bài học kinh nghiệm và
đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam -
Tài liệu phục vụ công tác xây dựng Luật Bảo vệ NTD Việt Nam do Cục Quản lý cạnh tranh - Trang 17
Trang 1213/1999/PL-UBTVQ Nó đã tạo nên một cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Kết quả đạt được có thể thấy trong những cố gắng nhất định như việc chống hàng giả, hàng nhái, vệ sinh an toàn thực phẩm, chống gian lận thương mại Điều 1 Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH xác định: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức”, không bao gồm NTD cho mục đích sản xuất kinh doanh Bên cạnh
đó, Điều 3 Nghị định 69/2001/NĐ-CP ngày 02/11/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ghi nhận: “Đối tượng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 69/2001/NĐ-CP và không được xem là NTD gồm người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh” Như vậy, NTD bao gồm các đối tượng là người mua và là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ
đã mua cho chính bản thân mình; người mua hàng hoá, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng; cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hoá, dịch
vụ do người khác mua hoặc do được cho, tặng
Từ khái niệm này đã giúp chúng ta có một cái nhìn rõ ràng hơn, nó sẽ giúp chúng
ta phân biệt với khái niệm khách hàng Khách hàng (customer) mang nghĩa rộng hơn, dùng để chỉ người mua hàng hóa, dịch vụ để sử dụng cho bản thân hoặc làm nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh Như vậy, không phải mọi khách hàng đều là NTD và được pháp luật về quyền lợi NTD bảo vệ Quyền lợi của những đối tượng này được bảo vệ bởi các văn bản quy phạm pháp luật khác như Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hình sự, Luật thương mại, Luật cạnh tranh,…5Kế thừa Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng quy định
“Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”.6 Nhìn chung, từ những quy định ở trên có một khái niệm chung nhất, NTD là tất cả chúng ta không phân biệt già, trẻ, nam, nữ, tôn giáo…sẽ trở thành NTD nếu họ mua hàng, sử dụng dịch vụ cần thiết để phục vụ cho nhu cầu mặc, ở, ăn, học hành, giải trí, sức khỏe,…(không nhằm mục đích thương mại) của chính bản thân, gia đình và tổ chức
1.1.3 Những quyền lợi cơ bản của người tiêu dùng
1.1.3.1 Trên thế giới
5 T.S Đinh Thị Mỹ Loan: Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi NTD - Cục quản lý cạnh tranh, Bộ thương mại (nay là Bộ
Công Thương - Nhà xuất bản lao động _ xã hội năm 2007), trang 10
6
Khoản 1 - Điều 3 - Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010.
Trang 13Tám quyền cơ bản của NTD đã được Liên Hiệp Quốc, cộng đồng quốc tế và nhiều nước thừa nhận Chính phủ nhiều nước đã đưa nội dung tám quyền của NTD vào pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của nước mình
Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản là quyền đầu tiên mà Liên Hiệp Quốc
đề cập Quyền này có thể hiểu là quyền có được những hàng hóa, dịch vụ, thiết yếu phục vụ cho cuộc sống như ăn, ở, chăm sóc sức khỏe, học hành, đi lại,…những nhu cầu về tinh thần với giá cả hợp lý và có thể chấp nhận được Những nhu cầu ấy nhất thiết ai cũng phải có và không một tổ chức, cá nhân nào có quyền xâm phạm
Quyền được an toàn Quyền này là quyền của NTD được bảo vệ chống lại những loại hàng hóa, dịch vụ, quá trình sản xuất có hại đến sức khỏe, đời sống, và quyền lợi chính đáng của họ Quyền được an toàn không phải chỉ liên quan đến các sản phẩm, hàng hóa an toàn mà còn liên quan đến các dịch vụ và quá trình sản xuất NTD cần không bị đe dọa bởi những nguy cơ trong quá trình sản xuất cũng như không bị thiệt thòi trong quá trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ được cung cấp
Tổ chức, cá nhân nào cũng cần phải có những thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà mình đang sử dụng Chính vì lẽ đó, quyền được thông tin là một trong những quyền đã được Liên Hiệp Quốc đề cập NTD có quyền được cung cấp những thông tin cần thiết về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà họ sử dụng để có thể tự quyết định việc có sử dụng hay không trên cơ sở thông tin được cung cấp Việc không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ, thậm chí cung cấp thông tin sai lệch để cố tình làm cho NTD nhầm lẫn trong việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đều
là vi phạm quyền được thông tin của NTD Nội dung thông tin cho NTD có thể được thực hiện thông qua việc ghi nhãn, qua các hướng dẫn sử dụng hay qua các giới thiệu quảng cáo trên các phương tiện thông tin
Quyền được lựa chọn là quyền của NTD có toàn quyền, tự do quyết định dùng hay không dùng sản phẩm, dịch vụ Các hành vi thông tin không trung thực, tạo ra sự khan hiếm giả tạo để gò ép NTD, việc lựa chọn vị thế thống lĩnh hay độc quyền để khiến NTD bắt buộc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình hoặc việc tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ðều là hành vi vi phạm quyền ðýợc lựa chọn của NTD Và một cách ðýõng nhiên, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu những chế tài nhất ðịnh cho việc xâm phạm quyền ðýợc lựa chọn của NTD
Một quyền nữa cũng không kém phần quan trọng trong tám quyền của NTD mà Liên Hiệp Quốc đề cập đó là quyền được lắng nghe còn gọi là quyền được đại diện hay quyền được bày tỏ ý kiến của NTD Quyền này là quyền của NTD được bày tỏ ý
Trang 14kiến của mình đối với các nhà sản xuất, kinh doanh và với bên thứ ba trong hoạt động cung cấp thông tin về các loại hàng hóa, dịch vụ do họ cung ứng, kể cả quan hệ thái độ giữa người bán và người mua cũng như bày tỏ ý kiến với Nhà nước, với các cơ quan hoạch định chính sách pháp luật về các vấn đề liên quan đến họ NTD có thể trực tiếp góp ý kiến hoặc thông qua đại diện của mình, thông qua các hội NTD các cấp, do đó quyền này còn được gọi là quyền được đại diện Những hành vi không tôn trọng, phớt
lờ hoặc đàn áp NTD đều là vi phạm quyền được lắng nghe của NTD Tôn trọng quyền được lắng nghe của NTD vừa là lợi ích, vừa là nghĩa vụ của nhà sản xuất kinh doanh,
vì thông qua ý kiến NTD, họ có thể cải tiến được hàng hóa, dịch vụ nhằm giành được tín nhiệm của NTD, là điều kiện mấu chốt để doanh nghiệp phát triển
Bên cạnh các quyền trên thì quyền được bồi thường còn được gọi là quyền được khiếu nại và bồi thường của NTD cũng được Liên Hiệp Quốc đề cập Khi gặp những thiệt thòi, những điều không vừa ý trong quan hệ với các nhà sản xuất kinh doanh, NTD có quyền được khiếu nại Khi những khiếu nại là chính xác và đúng đắn, NTD có quyền được bồi thường Nhà sản xuất, kinh doanh phải bồi thường cho NTD nếu sản phẩm, dịch vụ do họ cung ứng không đúng với nội dung đã giới thiệu, quảng cáo, giao kết hợp đồng
Các khiếu nại của NTD có thể được giải quyết bằng cách hòa giải giữa người cung ứng và NTD hoặc thông qua các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan hoặc trong trường hợp không giải quyết được thì có thể thông qua tòa án Bồi thường thỏa đáng cho những khiếu nại chính đáng của NTD sẽ nâng cao được tín nhiệm của doanh nghiệp, cải thiện được hình ảnh của doanh nghiệp trong mắt NTD
Ngoài ra, quyền được giáo dục về tiêu dùng là điều kiện cần thiết để các quyền của NTD được thực hiện Giáo dục về tiêu dùng, về các kiến thức và kỹ năng tiêu dùng sẽ giúp cho NTD có hiểu biết về vị thế của mình trong xã hội, có khả năng tự bảo
vệ mình, bảo vệ các quyền của mình Việc giáo dục NTD có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức như cung cấp thông tin, kiến thức qua các ấn phẩm, báo chí, các hội thảo, hội nghị, triển lãm…Nhiều nước đã đưa giáo dục về tiêu dùng vào các chương trình giáo dục ở các trường học Ở Việt Nam, hiện nay, Cục quản lý cạnh tranh đang phối hợp cùng các Bộ, ngành có liên quan xây dựng chương trình giáo dục cho NTD, trong đó dự kiến đưa giáo dục NTD vào các trường học
Quyền được sống trong môi trường lành mạnh là quyền cuối cùng trong tám quyền của NTD mà Liên Hiệp Quốc đề cập Môi trường ở đây, có thể hiểu, bao gồm môi trường vật chất và xã hội NTD có quyền được sống trong môi trường trong lành, không bị ô nhiễm, tài nguyên và sinh quyển được bảo vệ, bảo đảm bền vững cho thế
Trang 15hệ hôm nay và thế hệ mai sau NTD cũng được quyền sống trong môi trường xã hội lành mạnh, trong đó họ được bảo đảm an toàn về vật chất và tinh thần, được sống hòa hợp và thân ái trong cộng đồng, nhân phẩm được tôn trọng
1.1.3.2 Theo pháp luật Việt Nam hiện hành
Khi xây dựng những quyền cơ bản của NTD, Việt Nam cũng đa phần dựa trên tám quyền cơ bản của NTD đã được cộng đồng thế giới thừa nhận Theo đó, Luật bảo
vệ quyền lợi NTD hiện hành nêu lên các quyền của NTD Thông qua đó, làm cơ sở để bảo vệ quyền lợi NTD trước sự xâm phạm của thương nhân và bên thứ ba khi cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD:
- Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hoá, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp
- Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá; được cung cấp hoá đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng
- Lựa chọn hàng hoá, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thoả thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
- Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hoá, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
- Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết
- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ
Trang 16Như vậy, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam khi xây dựng các quyền của người tiêu dùng phần lớn dựa trên các quyền do Liên Hiệp Quốc quy định
Điều này không những phù hợp với tình hình phát triển của đất nước mà còn phù hợp với xu hướng phát triển chung của toàn thế giới Đồng thời, đấy là một minh chứng mạnh mẽ của Nhà nước Việt Nam trong việc tham gia sân chơi chung, khi mà việc mở rộng thị trường và kéo theo đó là các sản phẩm, dịch vụ ngoài nước đã và đang có xu hướng nhập vào thị trường Việt Nam một cách mạnh mẽ Khi đó, chúng ta
sẽ có một khung pháp lý vững chắc về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhất là vấn đề trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về háng hóa, dịch vụ cho NTD, đảm bảo lòng tin của người tiêu dùng vào tổ chức, cá nhân kinh doanh nói riêng và Nhà nước Việt Nam nói chung
1.2 Khái quát chung về bên thứ ba trong luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Đối với người tiêu dùng, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 ban hành đã mang lại cho họ một sự bảo đảm hơn, quyền lợi rõ ràng hơn, và các vụ tranh chấp diễn ra nếu có cũng sẽ được giải quyết theo hướng có lợi cho người tiêu dùng Luật xác định trách nhiệm của các bên liên quan, đặc biệt là các phương tiện truyền thông trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng - quy định này chưa hề có từ trước đến nay Nhờ quy định này mà từ đó, các phương tiện truyền thông cần phải có trách nhiệm với những thông tin mình đăng tải về sản phẩm, dịch vụ thay vì chỉ dựa vào những thông tin mà đối tác cung cấp
Hơn thế nữa, trong thời gian vừa qua người tiêu dùng đón nhận nhiều thông tin liên quan đến những sai phạm trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ bên cung cấp dịch vụ quảng cáo và bên phát hàng quảng cáo đến người tiêu dùng Trong
đó, điển hình là về chương trình Happy Shopping và quảng cáo Mỳ ăn liền của công ty Massan Câu hỏi đặt ra là bên cạnh trách nhiệm chính thuộc về phía nhà sản xuất, doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ thì bên thứ ba có phải chịu trách nhiệm về những thông tin không chính xác ảnh hưởng đến người tiêu dùng hay không? 7 Do đó việc xác định và làm rõ chủ thể được xem là bên thứ ba trong Luật BVQLNTD là điều hết sức quan trọng
Trang 17Theo Nghị định 19/ND-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì:
“ Bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu
dùng là các tổ chức, cá nhân được tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ yêu cầu thực hiện việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ, bao gồm:
+ Tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện dịch vụ cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ tới người tiêu dùng;
+ Tổ chức, cá nhân kinh doanh tham gia vào việc xây dựng thông tin về hàng hóa, dịch vụ;
+ Chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông;
+ Tổ chức, cá nhân khác được yêu cầu thực hiện việc cung cấp thông tin.” 8
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú về cả kiểu dáng và cả chủng loại Vì vậy, mà NTD đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc phân biệt đánh giá sản phẩm Chính vì thế mà mỗi doanh nghiệp điều cố gắn tạo nên một hình ảnh ấn tượng riêng cho sản của mình để từ đó đi vào tiềm thức của người tiêu dùng Với hy vọng rằng sản phẩm của mình sẽ là sự lựa chọn đầu tiên của NTD trong danh mục các hàng hóa, dịch vụ cùng loại trên thị trường Tuy nhiên, để thương hiệu của mình tiếp cận được đến NTD thì cẩn phải có những phương tiện kỹ thuật quảng bá thương hiệu tốt và hiệu quả cho từng chủng loại sản phẩm Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện về vốn, phương tiện kỹ thuật và cả đội ngũ chuyên nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này Do đó, việc các doanh nghiệp tìm đến bên thứ ba chuyên thực hiện các dịch vụ cũng như phát hành quảng cáo là một điều tất yếu
Như vậy, trên thực tế việc thông qua quảng cáo để cung cấp thông tin về hàng hóa dịch vụ cho người tiêu dùng là biện pháp rất phổ biến hiện nay của các thương nhân
1.3 Sự cần thiết của những quy định về trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ
Hiện nay nhiều quảng cáo ở Việt Nam là không đầy đủ, cắt xén, thậm chí khoa trương, sai sự thật, phản cảm, trong khi đó bên thứ ba là nơi đăng tải, phát sóng quảng cáo chưa chịu trách nhiệm với nội dung quảng cáo nên quảng cáo loại này càng tràn
8 Khoản 2, điều 3 Nghị định 19/ND-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trang 18lan, đó là chia sẻ của ông Đỗ Gia Phan – nguyên Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam với báo Giáo dục Việt Nam.9
Trong hai, ba năm trở lại đây, bảo vệ người tiêu dùng đang là một vấn đề nghiêm trọng; thu hút sự quan tâm không chỉ của các cấp quản lý mà bản thân từng người dân cũng rất lo lắng tới các vấn đề tiêu dùng của mình Sự lo lắng ấy không phải là không có lý khi thực tế cho thấy rất nhiều vấn đề tiêu dùng đang ngày ngày đe dọa tới quyền lợi,sức khỏe thậm chí là tính mạng của người tiêu dùng Thực tế bên thứ ba cũng góp phần tiếp tay cho các công ty bán hàng qua truyền hình lừa đảo người tiêu dùng bằng những quảng cáo khác xa sự thật, lại không phải chịu bất cứ trách nhiệm trực tiếp nào Thậm chí họ vẫn vô tư quảng bá những đoạn quảng cáo quá sự thật về nhiều loại sản phẩm bất chấp phản ứng từ phía người tiêu dùng, hàng loạt kênh của các đài truyền hình vẫn phát các chương trình quảng cáo quá sự thật của những doanh nghiệp chuyên bán hàng qua truyền hình Kênh truyền hình LA34 tiếp tục phát quảng cáo sản phẩm Eve'Love,
áo nâng ngực Wonderful của Công ty Happy Shopping
Trong khi đó, một số kênh truyền hình khác vẫn tiếp tục phát các chương trình quảng cáo bán hàng cho một số doanh nghiệp có kiểu kinh doanh tương tự Happy Shopping Trên các kênh SCTV5, SCTV7, SCTV10, VTV1 Cần Thơ vẫn chạy các chương trình quảng cáo đã được dựng sẵn băng, bán đủ loại hàng hóa từ mỹ phẩm, đồ bếp gia dụng, thực phẩm chức năng, giày dép, đồ trang sức với nhiều từ ngữ tâng bốc sản phẩm
Ở đây, thực tế là một kênh bán hàng của doanh nghiệp, mà theo quy định, doanh nghiệp bán hàng phải thông tin rõ xuất xứ cho người tiêu dùng Cựu nhân viên này cho biết rất nhiều sản phẩm trang sức, thời trang, mỹ phẩm, điện thoại hầu hết có nguồn gốc từ Trung Quốc, giá thành cực rẻ Giá bán cho người tiêu dùng cao gấp nhiều lần vì chi phí doanh nghiệp chi cho quảng cáo qua các kênh truyền hình quá lớn Hơn nữa, chi phí giao hàng cũng không nhỏ vì đối tượng tiêu thụ chủ yếu là người tiêu dùng tỉnh
lẻ dễ dàng tin vào thông tin quảng cáo Hiện tượng các công ty bán hàng qua truyền hình thoải mái đưa ra những thông tin về chất lượng sản phẩm tốt đến mức thần kỳ được cho là có nguyên nhân bởi sự dễ dãi trong hợp tác quảng cáo của nhà đài với các đơn vị này Nếu nhà đài thẩm định kỹ công dụng, chức năng, xuất xứ và các giấy tờ hợp lệ khác của doanh nghiệp mua sóng sẽ không dễ dàng để những đơn vị này lừa gạt người tiêu dùng Hiện quy định về trách nhiệm của đài truyền hình, với tư cách cung
9
Bình An: Quảng cáo "lừa" người tiêu dùng, ai chịu trách nhiệm,
http://giaoduc.net.vn/NTD-thong-thai/Quang-cao-lua-nguoi-tieu-dung-ai-chiu-trach-nhiem/148073.gd, [truy cập ngày 4/2/2013]
Trang 19cấp phương tiện quảng cáo qua truyền thông "không thật sự rõ ràng do có sự chồng chéo trong các quy định về báo chí, thương mại quảng cáo và bảo vệ người tiêu dùng" Đứng ở góc độ bảo vệ người tiêu dùng của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đài truyền hình, nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo sẽ được coi là bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
Luật bảo vệ người tiêu dùng ghi rõ đài truyền hình sẽ phải "chịu trách nhiệm liên đới về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ" Rõ ràng, trường hợp doanh nghiệp cố tình tâng bốc chất lượng sản phẩm lên mây xanh, bán hàng giả, hàng lậu đã được nhà đài bỏ qua hoặc xem nhẹ yêu cầu kiểm chứng này Do đó khi xảy ra sự cố, nhà đài phải chịu trách nhiệm liên đới và vi phạm phải bị xử phạt.10
Trong các vụ việc trên đều có sự góp mặt của bên thứ ba trong vai trò là người cung cấp dịch vụ quảng cáo, chủ phương tiện truyền thông Họ là những người góp phần truyền tải thông tin hàng hóa, dịch vụ đến người tiêu dùng trong khi những sản phẩm này hoàn toàn chưa đảm bảo đủ yêu cầu về chất lượng Do đó việc quy định
trách nhiệm đối với bên thứ ba là hết sức quan trọng
Trách nhiệm của bên thứ ba đối với người tiêu dùng được quy định tại Chương II, điều 13 của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được Quốc hội thông qua ngày 17-11-2010, có hiệu lực ngày 1-7-2011 quy định: “Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng thông qua bên thứ ba thì bên thứ ba có trách nhiệm bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp; yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp chứng cứ chứng minh tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ; chịu trách nhiệm liên đới về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ, trừ trường hợp chứng minh đã thực hiện tất cả biện pháp theo quy định của pháp luật để kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ; tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về quảng cáo”11
Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng thông qua phương tiện truyền thông thì chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông có trách nhiệm bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp; yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp chứng cứ chứng minh tính chính xác, đầy đủ của
Trang 20thông tin về hàng hóa, dịch vụ; chịu trách nhiệm liên đới về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ, trừ trường hợp chứng minh đã thực hiện tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ; tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về quảng cáo Đồng thời chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông còn có trách nhiệm xây dựng, phát triển giải pháp kỹ thuật ngăn chặn việc phương tiện, dịch vụ do mình quản lý bị sử dụng vào mục đích quấy rối người tiêu dùng; từ chối cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng phương tiện, dịch vụ do mình quản lý nếu việc sử dụng có khả năng dẫn đến quấy rối người tiêu dùng; ngừng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng phương tiện, dịch vụ do mình quản lý để thực hiện hành vi quấy rối người tiêu dùng theo yêu cầu của người tiêu dùng hoặc yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.12
Cụ thể, về cung cấp thông tin, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ ghi nhãn hàng hóa theo quy định; niêm yết giá tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ; cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa; cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hoá; cung cấp hướng dẫn sử dụng và thông tin về bảo hành; thông báo về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng thông qua bên thứ ba thì bên thứ ba cũng có trách nhiệm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hoá, dịch vụ được cung cấp Bên thứ ba phải chịu trách nhiệm liên đới với tổ chức, cá nhân kinh doanh
về việc cung cấp thông tin không chính xác hoặc không đầy đủ cho người tiêu dùng (trừ trường hợp chứng minh đã thực hiện tất cả biện pháp theo quy định của pháp luật
để kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ).13
1.4 Ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
Quyền được thông tin là một trong những quyền cơ bản của người tiêu dùng Quảng cáo nhằm cung cấp thông tin cho người tiêu dùng cần phải đầy đủ, trung thực, giúp họ có cơ sở khách quan để lựa chọn đúng đắn Thông tin không đầy đủ, cắt xén, không chính xác khiến người tiêu dùng cả tin hay bị lừa Nhiều người tiêu dùng thực thà quá tin vào quảng cáo nhất là đối với các sản phẩm thuốc, thực phẩm chức
12 Điều 13, Luật BVQLNTD 2010
13 Cục quản lý cạnh tranh: Trách nhiệm của tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh
http://bvntd.vca.gov.vn/businesskb/responsibility.aspx[ truy cập ngày 5/2/2012]
Trang 21năng Khá nhiều quảng cáo, đặc biệt trên tivi chỉ nới đến mặt tốt một cách khoa trương, nhưng lại có ít thông tin là cái mà người tiêu dùng cần Ví dụ quảng cáo một loại sữa, chỉ dùng trong 4 tuần là bệnh loãng xương có chuyển biến, nhưng không hề
có thông tin kiểm chứng, nói rõ chuyển biến đến mức nào Vậy trách nhiệm của bên thứ ba là hết sức quan trọng trong đó có việc: bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp; yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chứng cứ chứng minh tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ Nhờ vậy, NTD cũng có thêm một hành lang bảo vệ trong thế giới quảng cáo muôn màu, muôn vẻ như hiện nay
Gần đây, nhiều người tiêu dùng đã tỉnh táo hơn, thậm chí tới mức cực đoan mà nói rằng họ không bao giờ tin vào quảng cáo Mặt khác không phải tất cả quảng cáo đều là không tin được, nhưng chúng ta cần tỉnh táo trước những quảng cáo khoa trương, và tin rằng dần dần người tiêu dùng sẽ ngày càng cảnh giác hơn và có thái độ quyết liệt hơn.”14 Do đó cần thiết phải có những quy định chặt chẽ về trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin hàng hóa dịch vụ cho cho người tiêu dùng
14 Bình An: Quảng cáo "lừa" người tiêu dùng, ai chịu trách nhiệm,
http://giaoduc.net.vn/NTD-thong-thai/Quang-cao-lua-nguoi-tieu-dung-ai-chiu-trach-nhiem/148073.gd, [truy cập ngày 4/2/2013]
Trang 22CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO TRÁCH NHIỆM CỦA BÊN THỨ BA TRONG VIỆC CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ HÀNG HÓA,
DỊCH VỤ CHO NGƯỜI TIÊU DÙNG
Tổ chức, cá nhân nào cũng cần phải có những thông tin cần thiết liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà mình đang sử dụng Chính vì lẽ đó, quyền được thông tin là một trong những quyền đã được Liên Hiệp Quốc đề cập NTD có quyền được cung cấp những thông tin cần thiết về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà họ sử dụng để có thể tự quyết định việc có sử dụng hay không trên cơ sở thông tin được cung cấp Việc không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ, thậm chí cung cấp thông tin sai lệch để cố tình làm cho NTD nhầm lẫn trong việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đều
là vi phạm quyền được thông tin của NTD Nội dung thông tin cho NTD có thể được thực hiện thông qua việc ghi nhãn, qua các hướng dẫn sử dụng hay qua các giới thiệu quảng cáo trên các phương tiện thông tin.15
2.1 Những nguyên tắc cơ bản trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Nguyên tắc là những quy định mang tính chất chỉ đạo, để thông qua đó triển khai thành những quy định cụ thể cho một ngành, một lĩnh vực cụ thể nhằm hướng tới một mục tiêu nào đó nhưng vẫn đảm bảo được tính pháp lý của Nhà nước, tính thực tế của xã hội Khi xây dựng các quy định liên quan đến lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD thì Nhà nước ta cũng vẫn dựa trên những nguyên tắc không chỉ học hỏi thế giới mà
15 Quyền được cung cấp thông tin trên được quy định tại Mục III - Bản hướng dẫn của Liên Hiệp quốc về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 (Bản dịch: TS Đinh Thị Mỹ Loan - Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi NTD - Cục quản lý cạnh tranh, Bộ thương mại (nay là Bộ Công Thương) - Nhà xuất bản lao động _ xã hội năm 2007 -
Từ trang 257 đến trang 267)
Trang 23còn dựa vào những nguyên tắc của pháp luật Việt Nam Nhưng, để phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trong công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế thì việc xây dựng pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD theo những nguyên tắc của thế giới mà tiêu biểu là những nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ quyền lợi NTD là điều cần thiết nhằm chuẩn hóa pháp luật Việt Nam theo pháp luật quốc tế nhưng không làm mất đi những chuẩn mực, tình hình xã hội, chế độ mà Đảng, Nhà nước và cả xã hội đã và đang xây dựng
2.1.1 Các nguyên tắc chung của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng
Theo hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ NTD thì tùy vào điều kiện hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường của nước mình, với các nhu cầu của người dân mà Chính phủ mỗi quốc gia phải xây dựng các chế định về vấn đề bảo vệ NTD dựa trên những nguyên tắc nhất định Theo đó, các nguyên tắc chung được liệt kê bao gồm: Bảo vệ NTD tránh những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn; Ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của NTD; Thông tin đầy đủ cho NTD để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu của cá nhân; Giáo dục NTD, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của NTD; Thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho NTD; Cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức NTD thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình đưa ra quyết định ảnh hưởng đến họ; Thúc đẩy tiêu dùng bền vững.16
Để hòa mình vào thị trường thế giới thì Việt Nam cần xây dựng các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD, sao cho, vừa phù hợp với các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc, vừa phù hợp với tình hình thực tế của mình
2.1.2 Những nguyên tắc về bảo vệ người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam
Các nguyên tắc như nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận; nguyên tắc bình đẳng; nguyên tắc thiện chí, trung thực; nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự; nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự; nguyên tắc tuân thủ pháp luật đã được BLDS 2005 đề cập Đây là những nguyên tắc chung, xuyên suốt trong quá trình giao
16 Những nguyên tắc trên được quy định tại Mục II - Bản hướng dẫn của Liên Hiệp quốc về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 (Bản dịch: TS Đinh Thị Mỹ Loan - Hỏi đáp về bảo vệ quyền lợi NTD - Cục quản lý cạnh tranh, Bộ thương mại (nay là Bộ Công Thương) - Nhà xuất bản lao động _ xã hội năm 2007 - Trang 254,
255, 256)
Trang 24dịch dân sự để từ đó vận dụng vào từng ngành luật cụ thể Đối với lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD mà cụ thể là việc điều chỉnh mối quan hệ giữa NTD và bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 đưa ra những nguyên tắc chung nhất định trong việc bảo vệ những quyền lợi chính đáng của NTD.17
Bảo vệ quyền lợi NTD là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội Nhà nước ta sẽ đóng vai trò ban hành ra những quy định của pháp luật dựa trên tình hình thực tế của Việt Nam để cho tất cả mọi người phải tuân thủ Do đó, tất cả những chủ thể chịu sự điều chỉnh của ngành luật bảo vệ quyền lợi NTD thì đều phải có trách nhiệm chấp hành để những quy định đó thật sự phát huy hết tính hợp lý, tính khả thi của pháp luật Và nếu như không tuân thủ thì tất nhiên sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý mang lại Bên cạnh đó, việc chấp hành những quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD không chỉ góp phần đưa pháp luật vào trong cuộc sống mà còn bảo vệ chính quyền lợi của mình vì thực tế tất cả chúng ta đều là NTD
Quyền lợi của NTD được tôn trọng và bảo vệ theo quy định của pháp luật Đó là nguyên tắc tiếp theo mà Luật bảo vệ quyền lợi NTD quy định NTD có quyền được tôn trọng và bảo vệ những quyền lợi của mình dựa trên những quy định của pháp luật Do
đó, tất cả chủ thể có liên quan đến quyền lợi NTD đều phải có trách nhiệm tuân thủ những lợi ích chính đáng của họ mà pháp luật bảo vệ và không có quyền xâm phạm những quyền lợi mà đáng lẽ ra NTD được hưởng
Bảo vệ quyền lợi của NTD phải được thực hiện kịp thời, minh bạch, đúng pháp luật Tính kịp thời thể hiện ở chỗ khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền lợi NTD thì với quyền năng được Nhà nước giao, cơ quan có thẩm quyền cần có những biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời Bên cạnh đó, việc xử lý cần minh bạch công khai và đúng với những quy định của pháp luật cho loại hành vi vi phạm đó Hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và tổ chức, cá nhân khác Một nguyên tắc không thể thiếu của pháp luật là tính công bằng Quyền lợi chính đáng của NTD đã được pháp luật bảo vệ và buộc tất cả mọi chủ thể chịu sự điều chỉnh phải tuân thủ thì tất nhiên việc bảo vệ đó phải không xâm phạm đến lợi ích của các chủ thể khác Đây được xem là một nguyên tắc mang tính chủ đạo, xuyên suốt không chỉ cho việc bảo vệ quyền lợi NTD mà cho hầu hết tất cả các ngành
17 Điều 4 - Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010
Trang 25luật Bởi lẽ, khi xây dựng pháp luật thì đều dựa trên lợi ích của các chủ thể liên quan nhưng đồng thời không được xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác Bên cạnh đó, Luật thương mại 2005 cũng quy định nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng:“thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó; thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh” 18
Đây cũng được xem là tiền
đề cho sự ra đời của điều 13 Luật BVQLNTD 2010 quy định về trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
Một nguyên tắc rất đáng lưu ý là nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp, dữ liệu trong hoạt động thương mại tại điều 15 của luật thương mại:”Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản” Nguyên tắc này là cần thiết trong việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hiện nay Nó ràng buộc trách nhiệm của nhà sản xuất kinh doanh và cả bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin đối với NTD
2.2 Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
2.2.1 Bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp
Thông tin phải đầy đủ, chính xác nghĩa là phải phản ánh được tất cả những khía cạnh cần thiết, không để xẩy ra tình trạng chỉ cung cấp một vài hình ảnh phiếm diện, méo mó, lệch lạc về đối tượng đang được quan tâm đến Tính đầy đủ, chính xác của thông tin thể hiện sự bao quát các vấn đề đáp ứng yêu cầu của NTD Khi họ sử dụng một thông tin không đầy đủ có thể dẫn đến các quyết định và hành động không đáp ứng với đòi hỏi và tình hình thực tế
Thông tin cần phản ánh trung thực tình hình khách quan của đối tượng được cung cấp và môi trường xung quanh để có thể trở thành kim chỉ nam tin cậy cho NTD Thông tin có độ chính xác cao thể hiện các mặt về độ xác thực và độ tin cậy Thông tin
ít độ chính xác dĩ nhiên là gây NTD những hậu quả tồi tệ
18 Điều 14 - Luật thương mại 2005
Trang 26Để làm rõ trách nhiệm của việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD của bên kinh doanh dịch vụ quảng cáo và bên phát hành quảng cáo Yêu cầu đối với nội dung quảng cáo: “Nội dung quảng cáo phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh và người tiếp nhận quảng cáo”.19
Đối với NTD, nội dung thông tin được bên thứ ba cung cấp cần phải rõ ràng, chính xác là điều hết sức quan trọng Nếu người bán không cung cấp và giải thích đầy đủ thông tin về sản phẩm thì rất có thể xảy ra một hành vi lừa dối, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Ví dụ, đối với sản phẩm là xe ô tô được quảng cáo trên báo chí, truyền hình được bán ở các cửa hàng không phải là đại lí chính thức của các hãng sản xuất thì khái niệm “xe mới hoàn toàn” có thể được hiểu là xe mới xuất xưởng, mới 100% nhưng cũng có trường hợp xe đã qua sử dụng, nhưng việc sử dụng này không làm ảnh hưởng tới giá trị của xe Đa số người tiêu dùng khi nghe người bán hàng tuyên
bố “xe mới hoàn toàn” thì đều có ý nghĩ kì vọng đây là chiếc xe mới xuất xưởng, mới 100%, chưa qua sử dụng dưới bất kì hình thức nào Chính vì vậy sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của NTD Vì vậy, thông tin mà bên thứ ba cung cấp cho NTD phải đảm bảo tính chính xác, đầy đủ tránh các hành vi lừa dối, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng có thể xảy ra trong quá trình quảng cáo
Quảng cáo bỏ sót thông tin: Các hãng hàng không giá rẻ thường quảng cáo giá vé rất hấp dẫn như bay từ Hà Nội sang Thái Lan hay từ Tp.HCM sang Singapore chỉ tốn
25 Đôla Đúng ra, họ phải ghi rõ giá này chưa bao gồm nhiều loại phí khác và mỗi chuyến bay chỉ có một tỷ lệ nhỏ ghế ngồi bán theo giá này
Trong nhiều trường hợp khác, khi hành vi quảng cáo hoặc cung cấp thông tin của người bán đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau và trong số đó, nếu có một cách hiểu sai theo quan điểm của người tiêu dùng là hợp lí thì phải chịu trách nhiệm về cách hiểu sai này Nói cách khác, cách hiểu của người tiêu dùng có trình độ tư duy và khả năng nhận thức hợp lý có yếu tố quyết định tới việc xem xét bản chất của nội dung thông tin Đồng thời tại khoản 9, điều 8 Luật Quảng cáo 2012 cũng quy định người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người pháp hành quảng cáo bị cấm thực hiện những hành vi:” Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn
19
Khoản 1, điều 19, Luật Quảng cáo 2012
Trang 27hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố.”
Luật Thương mại 2005 cũng quy định trường hợp các quảng cáo thương mại bị cấm Đối với hoạt động của bên thứ ba là người kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo bị cấm trong trường hợp quảng cáo sai sự thật về một trong các nội dung số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, xuất xứ hàng hóa, chủng loại, bao bì, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của hàng hoá, dịch vụ.20
Một lưu ý quan trọng là khi xem xét cách hiểu của người tiêu dùng thì luôn đặt cách hiểu này trong mối liên hệ tổng thể các thông tin mà người bán cung cấp Tuy nhiên, trong một số vụ việc đã xảy ra trường hợp như sau: đầu đề quảng cáo có chứa thông tin gian dối nhưng trong chi tiết bên trong quảng cáo đã sửa chữa nội dung sai sót này Thì đây vẫn bị xem là một hành vi cung cấp thông tin không đầy đủ, chính xác
vì xét tới trường hợp người tiêu dùng hợp ý có thể chỉ đọc mỗi đầu đề quảng cáo và đã hiểu nội dung quảng cáo theo ý nghĩa mà đầu đề mang lại Nếu thông tin không đầy đủ hoặc không chính xác thì sẽ dẫn tới tổn thất cho NTD
Trong quá trình hoạt động, việc cung cấp thông tin không đầy đủ, chính xác đã được chia thành các hành vi có nguyên nhân rõ ràng Đối với một số hành vi, ví dụ như hành vi quảng cáo, việc bỏ xót một vài thông tin quan trọng có thể ảnh hưởng tới nội dung của chính quảng cáo đó Nếu như người kinh doanh dịch vụ, người phát hành quảng cáo biết, hoặc phải biết tính quan trọng của thông tin bị thiếu sót đối với quyết định mua sản phẩm của người tiêu dùng thì hành vi này được coi là nguyên nhân dẫn tới hành vi cung cấp thông tin không đầy đủ, chính xác
Ở đây, việc bên thứ ba có quyền được người quảng cáo cung cấp thông tin trung thực, chính xác về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo và các tài liệu liên quan đến điều kiện quảng cáo là hết sức quan trọng Nó làm cơ sở để bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp đến người tiêu dùng Cũng như việc chịu trách nhiệm về sản phẩm quảng cáo do mình trực tiếp thực hiện và cung cấp tài liệu liên quan đến sản phẩm quảng cáo khi người tiếp
nhận quảng cáo hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu
Khi thực quảng cáo, người phát hành quảng cáo thực hiện trên phương tiện của mình Trong đó phương tiện quảng cáo bao gồm: “Các phương tiện thông tin đại chúng; Các phương tiện truyền tin; Các loại xuất bản phẩm; Các loại bảng, biển, băng, pa-nô, áp-phích, vật thể cố định, các phương tiện giao thông hoặc các vật thể di động
20 Khoản 7, điều 109 luật thương mại 2005