Ví dụ, Điều 126, 127 Luật phá sản Nhật bản quy định lý do tuyên bố phá sản một công ty là việc công ty không thể trả được các khoản nợ và các nghĩa vụ vượt quá giá trị tài sản của công t
Trang 1Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Phạm Mai Phương Võ Thị Liền
MSSV : 5054804 Lớp: Luật Thương mại 2 – K31
Trang 2
Trang 3
Trang 4
trang
Lời nói đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Kết cấu của đề tài 2
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT PHÁ SẢN VÀ KHÁI NIỆM THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN 3
1.1 Đặc điểm và vai trò của Luật phá sản 2004 3
1.1.1 Phá sản và đặc điểm của phá sản 3
1.1.2 Phân loại phá sản 6
1.1.3 Vai trò của pháp luật về phá sản 7
1.2 Khái niệm về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Tính chất đặc thù của thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 9
Chương 2: THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 13
2.1 Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản 13
2.1.1 Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 13
2.1.2 Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản 18
2.1.3 Mở thủ tục phá sản 21
2.1.4 Hội nghị chủ nợ 28
2.2 Phục hồi hoạt động kinh doanh 32
2.2.1 Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh 32
2.2.2 Xem xét, thông qua phương án phục hồi 33
2.2.3 Công nhận nghị quyết về phương án phục hồi và giám sát thực hiện phương án phục hồi 34
2.2.4 Thời hạn thực hiện phương án phục hồi 35
2.2.5 Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và hậu quả pháp lý 35
2.3 Thanh lý tài sản, các khoản nợ 36
2.3.1 Các trường hợp Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 37 2.3.2 Khiếu nại, kháng nghị và giải quyết khiếu nại, kháng nghị
Trang 52.3.2 Tài sản phá sản, thứ tự phân chia tài sản 41
2.3.4 Đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản 41
2.4 Tuyên bố Doanh nghiệp bị phá sản 41
2.4.2 Thông báo quyết định tuyên bố phá sản 43
2.4.3 Khiếu nại, kháng nghị giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố phá sản 43
Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN 45
3.1 Thực trạng thi hành thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 45
3.1.1 Thực trạng chung 45
3.1.2 Nguyên nhân và đánh giá 47
3.2 Giải pháp hoàn thiện về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Doanh nghiệp 49 KẾT LUẬN
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường Hơn hai mươi năm xây dựng đất nước theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa theo xu thế phát triển của thế giới Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu đưa đất nước ta đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay và nền kinh tế thị trường đang phát triển mạnh mẽ, hoạt động chủ yếu của các Doanh nghiệp chủ yếu là lợi nhuận, vấn đề cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp càng trở nên gay gắt và tình trạng một Doanh nghiệp không đủ sức cạnh tranh, làm ăn thua lỗ là điều rất bình thường Nhất là trong thời gian Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức kinh tế thế giới (WTO) cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì vấn đề giải quyết khi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là một vấn đề mà Đảng và Nhà nước
ta rất quan tâm Vì vậy cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để điều chỉnh
về vấn đề phá sản của các Doanh nghiệp
Văn bản pháp lý đầu tiên điều chỉnh về vấn đề này là Luật phá sản Doanh nghiệp
1993, nhằm điều chỉnh quá trình rút khỏi thị trường của các Doanh nghiệp một cách trật tự, đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ và các chủ thể có liên quan làm ổn định nền kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trên thực tế, Luật phá sản Doanh nghiệp 1993 đã không thể hiện hết vai trò của mình, nguyên nhân chủ yếu là do mới ra đời nên có những quy định không sát với thực tế, không có tính khả thi, từ đó không tạo được lòng tin cho các nhà đầu tư trong môi trường kinh doanh mà vấn đề cơ bản nhất là những bất cập về việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đã làm cho các nhà đầu
tư ngần ngại không dám mạnh dạn đầu tư và không thúc đẩy được nền kinh tế Nhất
là trong thời buổi nước ta đang hòa nhập với nền kinh tế thế giới Giống như các Doanh nghiệp và các tập đoàn kinh tế lớn của nước ngoài thì nhiều Doanh nghiệp Việt Nam đã không đủ sức cạnh tranh dẫn đến phá sản Đó là vấn đề phức tạp đòi hỏi phải có những cách giải quyết hết sức hợp lý để mọi chủ nợ bảo đảm cũng như chủ nợ không có bảo đảm, người lao động và cả Doanh nghiệp bị phá sản đều được bảo đảm quyền lợi của mình Trước yêu cầu đó, ngày 15 tháng 6 năm 2004, Quốc Hội ban hành Luật phá sản 2004 nhằm bổ sung những thiếu sót và khắc phục những hạn chế của Luật phá sản 1993 luật có hiệu lực thi hành ngày 15 tháng 10 năm
2004
Trang 7Luật phá sản 2004 tuy có hạn chế được những thiếu sót của Luật phá sản Doanh nghiệp 1993 và đã đạt được nhiều hiệu quả nhất định Thế nhưng, Luật phá sản
2004 vẫn còn nhiều hạn chế về thủ tục phá sản cần phải được hoàn thiện hơn nữa
Chính vì vậy mà người viết chọn đề tài “thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
Doanh nghiệp theo luật Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện” để làm đề
tài nghiên cứu trong luận văn của mình
2 Mục đích của đề tài
Người viết thực hiện đề tài luận văn này nhằm để nghiên cứu về thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản Doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam để bổ sung thêm kiến thức về vấn đề này Trên cơ sở nghiên cứu, người viết tìm ra những bất cập trong những quy định của pháp luật và đề xuất một số biện pháp khắc phục
3 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài, chủ yếu người viết dùng phương pháp phân tích luật viết, so sánh với các quy định của pháp luật các nước và so sánh với luật cũ (Luật phá sản Doanh nghiệp 1993) khi quy định về cùng một vấn đề từ đó đưa ra những điểm phát triển hoặc hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện tại
4 Phạm vi nghiên cứu
Phá sản là đề tài khá rộng nên cần nhiều thời gian hơn nữa cho việc nghiên cứu thì đề tài mới được được hoàn chỉnh Do đó, trong giới hạn về thời gian và và khả năng nghiên cứu, tìm tài liệu của mình, người viết chỉ tìm hiểu về thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp không nghiên cứu về thủ tục phá sản đối với chủ thể là hợp tác xã Đề tài được thực hiện trong phạm vi Luật phá sản 2004 và các văn bản liên quan đến pháp luật phá sản hiện hành Bên cạnh đó, người viết còn tìm hiểu sang pháp luật của một số quốc gia khác quy định về thủ tục phá sản để thực hiện việc đối chiếu, so sánh từ đó tìm ra hướng hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản trong nước
5 Kết cấu của đề tài
Để dễ dàng cho việc tìm hiểu, người viết phân ra kết cấu của luận văn bao gồm:
- Lời nói đầu
- Chương 1: Một số vấn đề chung về luật phá sản và khái niệm về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
- Chương 2: Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
- Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 8Phá sản là gì? Thế nào là một Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản?
Có thể nói, tình trạng phá sản là một khái niệm rất cơ bản trong pháp luật phá sản của hầu hết quốc gia Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là cơ sở để Tòa án xem xét và ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với Doanh nghiệp đó Trong pháp luật của các nước, khái niệm về phá sản được hiểu rất khác nhau Tuy nhiên, qua nghiên cứu pháp luật phá sản của các nước có 2 cách chủ yếu để xác định tình trạng của con nợ như sau:
1 Một Doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản thì không trả được một
số nợ nhất định Chẳng hạn lý do để tuyên bố phá sản theo Luật phá sản của Singapore là việc con nợ không thể trả được khoản nợ từ 2000 đô la Singapore Theo Luật phá sản 1999, Luật Tòa án phá sản và thủ tục phá sản 1999 của Thái Lan thì chủ nợ được xúc tiến phá sản khi con nợ mắc nợ một số tiền không trả được từ một triệu bath trở lên đối với cá nhân, hai triệu bath trở lên đối với công ty và pháp nhân, trong trường hợp món nợ không thanh toán được nhỏ hơn quy định trên thì các chủ nợ có quyền đòi nợ theo thủ tục tố tụng dân sự
2 Doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản nếu tổng số nợ của Doanh nghiệp vượt quá tổng giá trị còn lại của Doanh nghiệp Ví dụ, Điều 126, 127 Luật phá sản Nhật bản quy định lý do tuyên bố phá sản một công ty là việc công ty không thể trả được các khoản nợ và các nghĩa vụ vượt quá giá trị tài sản của công
ty, hay quy định tại Điều 1 Luật phá sản của cộng hòa Liên bang Nga thì “ tình trạng phá sản của Doanh nghiệp được hiểu là việc mất khả năng đáp ứng yêu cầu của chủ nợ về thanh toán hàng hóa (công việc, dịch vụ) kể cả việc mất khả năng đảm bảo các thanh toán phải nộp ngân sách và các quỹ ngoài ngân sách do nghĩa vụ của Doanh nghiệp mắc nợ vượt quá tài sản của mình hoặc mất cân đối trong cán cân thanh toán của Doanh nghiệp mắc nợ”
Ở Việt Nam, trước thời điểm Luật phá sản Doanh nghiệp 1993 ra đời, khái niệm mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn hiểu theo nghĩa tổng số tài sản nợ đến hạn của Doanh nghiệp lớn hơn tổng số tài sản có của Doanh nghiệp Điều này bất hợp lí vì có khi đó chỉ là tình trạng nhất thời của Doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh Vì vậy tại Điều 2 của Luật phá sản Doanh nghiệp 1993 đã
Trang 9hoàn thiện khái niệm trên “DN lâm vào tình trạng phá sản là DN gặp khó khăn
hoặc thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn” thế nhưng, Điều này thì quá
cứng nhắc vì nếu chủ nợ không có yêu cầu thì doanh nghiệp vẫn còn cơ hội phục hồi hoạt động kinh doanh Vì vậy, để tạo điều kiện kinh doanh thoải mái cho doanh nghiệp nên một lần nữa, khái niệm này được hoàn thiện tại Điều 3 Luật phá sản
2004 “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”
1.1.1.2 Sự hình thành và phát triển của pháp luật phá sản
Thực tế các tài liệu lịch sử đã ghi nhận rằng Italia là nước khai sinh ra Luật Phá sản từ thời La Mã ở nước này, lúc đầu Luật Phá sản chỉ áp dụng cho các thương nhân Sở dĩ như vậy là do ở thời La Mã, những thương nhân không trả được nợ thường bị bắt làm nô lệ đem bán lấy tiền khấu trừ vào nợ Nhiều con nợ thấy rằng nếu không trả được nợ thì tốt nhất là bỏ trốn Do vậy, để ổn định trật tự xã hội, Nhà nước La Mã thường phải đứng ra cưỡng chế tài sản của con nợ để trả cho chủ nợ Cách làm như vậy cũng chỉ thích hợp đối với trường hợp con nợ chỉ mắc nợ một người Nhưng khi cùng một lúc con nợ mắc nợ nhiều người thì rất dễ xảy ra tranh chấp, nhất là khi con nợ không đủ tài sản để trả hết nợ Bởi thế, dần dần người ta thấy rằng, để bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ thì toà án địa phương (của con nợ) phải đứng ra quản lý số tài sản của con nợ Sau đó, Toà án sẽ phân chia số tài sản này cho các chủ nợ theo vốn, lãi của mỗi người Giải pháp trên lúc đó được các chủ
nợ đồng tình và đã tỏ ra có hiệu quả Do đó, về sau những quy định trong giải pháp này được cải tiến, hoàn chỉnh và nâng lên thành Luật Phá sản La Mã thời cổ đại Bước sang thời kì Trung cổ, các quốc gia châu Âu cũng ban hành Luật Phá sản Ban đầu, Luật chỉ áp dụng trong lĩnh vực hoạt động thương nghiệp sau đó mới mở rộng sang toàn bộ hoạt động sản xuất - kinh doanh
Cùng với sự phát triển và mở rộng của thương mại quốc tế, việc giải quyết những vấn đề liên quan đến một Doanh nghiệp không còn bó hẹp trong biên giới của một quốc gia Trong bối cảnh đó, sự khác nhau về những quy định trong pháp luật phá sản đã gây không ít khó khăn đối với các nhà kinh doanh Tuy các nước có bàn đến
Trang 10các quy định chung của Luật Phá sản, nhưng cho đến nay, các nền kinh tế lớn như Hội đồng Châu Âu, Mỹ và Canada cũng chưa có khả năng đi đến dự thảo Luật Phá sản chung Đây là hệ quả tất yếu khách quan vì pháp luật nói chung cũng như Luật Phá sản nói riêng còn bị ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, của mỗi nước Vì vậy, để xây dựng được một hệ thống pháp luật phá sản chung thì các quốc gia cần phải nỗ lực hơn nữa
Luật Phá sản đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau ở giai đoạn đầu, phá sản bị coi là tội danh hình sự nên con nợ bị xử phạt rất nặng Chẳng hạn như Luật Phá sản của Anh trước đây cho phép bỏ tù con nợ và khi nhận được đơn yêu cầu tuyên bố phá sản Doanh nghiệp, Toà án sẽ xem xét, nếu đủ bằng chứng thì tuyên bố phá sản ngay
Ở giai đoạn sau, thời kì từ những năm 70 trở lại đây, Luật Phá sản đã có những bước cải tiến và hiện đại hoá Luật Phá sản không nhằm mục đích đẩy các doanh nghiệp “mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn vào tình trạng phá sản” Ngược lại, Luật Phá sản chỉ giải quyết những hậu quả đã xảy ra, giúp các bên liên quan giảm đến mức tối thiểu tác động tiêu cực của việc phá sản đối với họ Đối với các Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Luật Phá sản cũng đề ra những biện pháp cần thiết giúp Doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản, góp phần tổ chức,
cơ cấu lại những Doanh nghiệp quá yếu kém
* Ở Việt Nam:
Pháp luật phá sản đã có từ thời thực dân Pháp đô hộ Luật này chỉ chủ yếu điều chỉnh ở miền Nam, nhưng cũng rất ít khi được áp dụng Cũng như các nước thuộc địa khác, pháp luật Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của hệ thống pháp luật thực dân Những quy định về khánh tận, thanh toán tư pháp phá sản cũng đã có trong Bộ luật thương mại Sài Gòn 1972 Trong thời kì nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Việt Nam không có pháp luật phá sản, Đảng và Nhà nước cũng không giành sự quan tâm cho vấn đề này Pháp luật phá sản chỉ thực sự cần thiết khi chúng ta bắt tay vào công cuộc đổi mới toàn diện xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo
cơ chế thị trường Pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành được ra đời khi chúng ta đang ở giai đoạn đầu của quá trình đổi mới Việc xây dựng pháp luật phá sản còn chịu nhiều ảnh hưởng của pháp luật phá sản các nước Xã hội chủ nghĩa, và mang nhiều dấu ấn của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
1.1.1.3 Những nguyên tắc chung của pháp luật về phá sản Doanh nghiệp
Pháp luật phá sản của bất kể nước nào trên thế giới cũng phải tuân theo các nguyên tắc chung sau đây:
- Quản lý tài sản con nợ một cách khách quan và hiệu quả để phân chia cho các chủ nợ;
Trang 11- Các chủ nợ và con nợ có thể tham gia vào những thủ tục hành chính với chi phí thấp nhất và có ít sự trì hoãn nhất;
- Cung cấp một công cụ tiện lợi nhất để thu hồi tài sản còn lại của con nợ để thanh toán cho các khoản nợ và trách nhiệm của con nợ;
- Bảo vệ lợi ích công cộng bằng cách trừng phạt nghiêm khắc những hành vi lừa đảo và giúp đỡ cho những con nợ không may bị phá sản
1.1.2 Phân loại phá sản
Việc phân loại phá sản một cách khoa học sẽ giúp xác định được phạm vi và mức
độ can thiệp cần thiết bằng pháp luật đối với quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản
1.1.2.1 Căn cứ vào tính chất của sự phá sản
và thị hiếu khách hàng, kết quả của sự mạo hiểm trong kinh doanh…
Nguyên nhân khách quan: gặp thiên tai, địch họa hay gặp phải biến động khách quan trong đời sống chính trị ảnh hưởng đến kinh doanh
Trong thực tế, việc thanh toán được các khoản nợ đến hạn, có khi không phải xuất phát từ kinh doanh thua lỗ mà từ yếu tố bất khả kháng khác, chẳng hạn như: + Mất thị trường đột ngột dẫn đến không có nguồn thu, không có nguồn trả; + Đình công lớn nhiều lần làm sản xuất bị ngưng trệ, kinh doanh bị tê liệt; + Thuế tăng cao;
+ Đảo lộn chính trị ở một đất nước mà Doanh nghiệp có hợp đồng lớn đã cam kết, như vậy làm mất thị trường thậm chí mất cả vốn đã giao hàng hóa…
Cũng có trường hợp phá sản ngân hàng, công ty bảo hiểm…nhiều khi do yếu tố tâm lý của công chúng mất lòng tin nên đổ xô đi rút tiền
- Phá sản gian trá: là hậu quả của những thủ đoạn, hành vi gian dối, được sắp đặt từ trước của chủ Doanh nghiệp lợi dụng cơ chế phá sản để chiếm đoạt tài sản của chủ nợ Chẳng hạn, con nợ gian lận trong việc ký kết các hợp đồng chuyển giao tài sản, báo cáo sai hoặc đưa ra những thông tin không trung thực để qua đó tạo ra
lý do phá sản
1.1.2.2 Căn cứ vào đối tượng nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản
Gồm phá sản tự nguyện và phá sản bắt buộc
Trang 12- Phá sản tự nguyện: là Doanh nghiệp mắc nợ tự nguyện nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản chính mình khi thấy mình mất khả năng thanh toán nợ đến hạn mà không thể khắc phục được tình trạng đó
- Phá sản bắt buộc: là trường hợp phá sản xuất phát từ các chủ nợ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ, bản thân con nợ có thể không muốn bị phá sản
1.1.2.3 Căn cứ vào đối tượng bị tuyên bố phá sản
Pháp luật phá sản của nhiều nước trên thế giới không có sự phân biệt này Bất kể
cá nhân hay pháp nhân, thương gia hoặc cá nhân kinh doanh khi lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì đều thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật phá sản Tuy nhiên, cũng có một số nước trên thế giới chỉ áp dụng chế độ phá sản đối với các chủ thể kinh doanh tồn tại dưới hình thức một Doanh nghiệp, thậm chí như Luật phá sản Trung Quốc trước đây chỉ quy định Luật phá sản áp dụng đối với Doanh nghiệp Nhà nước
1.1.3 Vai trò của pháp luật về phá sản
Sự tồn tại tất yếu của phá sản đòi hỏi phải có sự điều chỉnh của Nhà nước, vì vậy pháp luật phá sản là công cụ quan trọng để Nhà nước điều chỉnh hoạt động kinh
tế Pháp luật về phá sản cùng với các văn bản pháp luật khác đã hình thành nên hệ thống pháp luật kinh tế Pháp luật phá sản có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Vai trò đó được thể hiện ở những nội dung chủ
yếu sau:
1.1.3.1 Bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ nợ
Bảo vệ lợi ích cho chủ nợ trước tiên là bảo vệ về quyền tài sản cho các chủ nợ
Có thể nói sự hình thành của Luật phá sản được đặt trên nền tảng bảo vệ lợi ích của các thương gia là chủ nợ Do vậy, Luật phá sản đầu tiên của nước Anh đã quy định rất nhiều biện pháp nghiêm khắc, kể cả việc bỏ tù con nợ 1 Theo các quy định của Luật phá sản thì khi Doanh nghiệp mắc nợ không trả được nợ cho các chủ nợ thì các chủ nợ có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản Doanh nghiệp để bán toàn bộ tài sản còn lại của Doanh nghiệp trả cho các chủ nợ Rõ ràng luật phá sản nhằm mục đích chủ yếu và trước tiên là bảo vệ lợi ích cho các chủ nợ
1
Giáo trình Luật kinh tế - Đại học luật Hà Nội, NXB công an nhân dân 2001, trang 344
Trang 13Luật phá sản còn đảm bảo bình đẳng giữa các chủ nợ trong việc đòi nợ Không một con nợ nào được đòi nợ một cách riêng lẻ, không một chủ nợ nào được con nợ trả nợ cho mình trong khi các chủ nợ khác chưa được trả nợ Tất cả các chủ nợ đều phải đợi đến khi Tòa án tuyên bố phá sản Doanh nghiệp và cùng nhau chia tài sản của Doanh nghiệp theo tỷ lệ (nếu chủ nợ không nằm trong diện được ưu tiên thanh
toán theo quy định của pháp luật về phá sản)
1.1.3.2 Bảo vệ lợi ích và xác định trách nhiệm của Doanh nghiệp mắc nợ
Doanh nghiệp mắc nợ được bảo vệ quyền lợi và tạo điều kiện để phục hồi hoạt động kinh doanh Thông qua Hội nghị chủ nợ, phương án hòa giải được xây dựng
và ấn định thời gian cho Doanh nghiệp mắc nợ tìm cách tháo gỡ khó khăn để trả các khoản nợ Việc hòa giải tự nguyện giữa các chủ nợ và Doanh nghiệp mắc nợ, nhận bảo lãnh hay mua các khoản nợ được ưu tiên giải quyết Doanh nghiệp mắc nợ có quyền tham gia vào tổ quản lý, thanh lí tài sản Trong trường hợp sau khi tài sản của Doanh nghiệp đã được thanh toán cho các khoản nợ mà còn thừa thì số tài sản đó sẽ thuộc về chủ sở hữu Doanh nghiệp Tuy nhiên, chủ Doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ của mình trước các chủ nợ, người lao động, và tuân thủ mọi quy định của
Tòa án cũng như phương án hòa giải của Hội nghị chủ nợ
1.1.3.3 Luật phá sản góp phần cơ cấu lại nền kinh tế
Thông qua hình thức hòa giải, hoãn nợ, tổ chức lại hoạt động kinh doanh, Luật phá sản đã tạo điều kiện cho Doanh nghiệp phục hồi hoạt động kinh doanh, tìm ra các biện pháp tháo gỡ để trả các món nợ và thoát khỏi nguy cơ bị phá sản Những quy định này là công cụ để cơ cấu lại nền kinh tế bởi vì nó không chỉ tạo ra cơ sở pháp lý để loại bỏ những Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài; hình thành và duy trì những Doanh nghiệp có hiệu quả mà còn tạo ra sức cạnh tranh trong thị trường,
đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế vè tiến bộ đời sống xã hội
1.1.3.4 Bảo vệ quyền lợi của người lao động
Bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các Doanh nghiệp bị phá sản, tạo điều kiện cho người lao động có cuộc sống ổn định sau khi Doanh nghiệp bị phá sản Người lao động trong Doanh nghiệp bị phá sản được chi trả các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội Đây là các khoản nợ được ưu tiên thanh toán Ngoài
ra, Theo Luật phá sản, thông qua tổ chức công đoàn hoặc đại diện tập thể cho người lao động thể hiện những quyền mà pháp luật đã ghi nhận cho người lao động đó là quyền đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản Doanh nghiệp, quyền tham gia Hội nghị chủ
nợ, quyền tham gia tổ quản lý, thanh lí tài sản
1.1.3.5 Bảo đảm trật tự kỉ cương xã hội
Phá sản luôn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội trên phạm vi lớn, làm phát sinh những xáo trộn và mâu thuẫn trong đời sống kinh tế - xã hội Vì vậy, nó đòi hỏi
Trang 14phải có quy phạm pháp luật điều chỉnh Bằng việc giải quyết thỏa đáng lợi ích giữa các chủ nợ và con nợ, giữa các chủ nợ với nhau cũng như xác định trách nhiệm của các bên, pháp luật phá sản đã góp phần hạn chế những mâu thuẫn phát sinh để ổn định xã hội
1.2 Khái niệm về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 1.2.1 Khái niệm
Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là một thủ tục tư pháp, một cách thức chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ khi một Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Tiến hành thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, một mặt, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp Mặt khác, giải quyết các quan hệ vay nợ trong khuôn khổ một Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là công việc phức tạp, đòi hỏi phải có quy định chặt chẽ để giải quyết lợi ích của chủ
nợ và con nợ
Phù hợp với yêu cầu này, pháp luật phá sản Việt Nam quy định giải quyết phá sản thông qua thủ tục tố tụng tư pháp tiến hành tại Toà án Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp bao gồm các nội dung cụ thể về lý do phá sản doanh nghiệp, về thẩm quyền giải quyết, về trình tự giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp được quy định cụ thể trong Luật Phá sản Việt nam 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản một doanh nghiệp có thể được khái quát như sau:
- Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;
- Phục hồi hoạt động kinh doanh;
- Thanh lí tài sản, các khoản nợ;
- Tuyên bố Doanh nghiệp bị phá sản
Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, căn cứ vào quy định cụ thể của Luật phá sản, thẩm phán quyết định áp dụng một trong hai thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc thanh lí tài sản, các khoản nợ hoặc chuyển từ áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh sang áp dụng thủ tục thanh lí tài sản, các khoản nợ hoặc tuyên bố Doanh nghiệp bị phá sản (Điều 5 Luật phá sản 2004)
1.2.2 Tính chất đặc thù của thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 1.2.2.1 Đặc thù trong đối tượng, phạm vi áp dụng
Việc áp dụng thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với loại chủ thể nào phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi nước Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới có 3 xu hướng lựa chọn:
Trang 15- Xu hướng thứ nhất: Tất cả các cá nhân, bất luận là nhà kinh doanh (thương nhân) hay không là nhà kinh doanh nếu không thanh toán được nợ đến hạn đều có thể bị tuyên bố phá sản (Úc, Mỹ, )
- Xu hướng thứ hai: Chỉ có nhà kinh doanh (doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh) mới có thể bị tuyên bố phá sản (Cộng hoà liên bang Nga)
- Xu hướng thứ ba: Chỉ có doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh mới chịu sự chi phối của Luật Phá sản (Việt Nam, Trung Quốc, )
Luật phá sản Doanh nghiệp 1993 quy định đối tượng áp dụng chỉ bao gồm Doanh nghiệp là khác với quy định của nhiều nước trên thế giới, sở dĩ như vậy là trong điều kiện kinh tế xã hội hiện tại, cùng với sự quản lý của Nhà nước chúng ta chưa kiểm soát nổi hoạt động kinh doanh của các cá nhân Vì vậy, rất khó để xác định thua lỗ trong kinh doanh hay thua lỗ do những hành vi tham ô, chiếm đoạt Hơn nữa các đối tượng này phần lớn kinh doanh theo kiểu gia đình chủ nghĩa, không có sổ sách, chứng từ, không tuân thủ chế độ kế toán, thống kê Luật phá sản Doanh nghiệp 1993 cũng không đưa nhóm kinh doanh vào đối tượng áp dụng cũng
vì những lý do tương tự trên Dù cá nhân hay nhóm kinh doanh cũng là trách nhiệm
vô hạn Nếu mở rộng phạm vi áp dụng tới đối tượng này thì luật sẽ không còn hiệu lực hay chỉ còn là hình thức, hoặc sẽ bị lợi dụng và gây không ít khó khăn không thể khắc phục được khi tiến hành tuyên bố phá sản
Thế nhưng không phải tất cả các nhóm kinh doanh đều vướng phải những khó khăn trên Luật phá sản 2004 đã mở rộng phạm vi áp dụng thêm một chủ thể đó là hợp tác xã, bên cạnh đó luật kèm theo quy định: “Chính phủ quy định cụ thể danh mục và việc áp dụng luật này đối với Doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, Doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bao hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, thiết yếu” (khoản 2 Điều 2 Luật phá sản 2004) Thế nhưng, trong
đề tài này người viết chỉ tìm hiểu về thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, không tìm hiểu thủ tục phá sản đối với hợp tác xã
1.2.2.2 Đặc thù về cơ quan tiến hành tố tụng
Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 và Điều 92 Luật phá sản 2004 thì Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với Doanh nghiệp đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của Doanh nghiệp đó có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài đó Trong trường hợp kháng nghị, khiếu nại thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án cấp trên trực tiếp và quyết định của Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định
Trang 16Việc giao cho Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Doanh nghiệp là đặc điểm chung của các nước trên thế giới, nhưng do ở nhiều nước có Tòa đặc thù nên cũng có sự phân công khác nhau Ở nước Cộng hòa Liên bang Nga, thẩm quyền này thuộc về thuộc Toà án trọng tài, nhưng ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa lại thuộc thẩm quyền của Toà dân sự
Ở Việt Nam, Toà án kinh tế nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là
cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (sơ thẩm), trường hợp có khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Toà sơ thẩm thì các Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao sẽ giải quyết (phúc thẩm) Quyết định của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng
Việc trao cho Toà án một vai trò như vậy là một nét đặc thù cơ bản Luật Phá sản nước ta so với Luật Phá sản của các nước trên thế giới Điều này xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế và đặc điểm xã hội nước ta Hiện tượng phá sản đang là một khái niệm, một công việc mới mẽ và phức tạp Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản có nhiệm vụ giải quyết một cách triệt để những đòi hỏi đặt ra Đó là phải bảo vệ lợi ích hợp pháp cho các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ, cho người lao động nhằm đảm bảo trật tự xã hội và góp phần có hiệu quả vào việc cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân Do vậy, việc trao cho Toà án, cơ quan xét xử của Nhà nước quyền đưa ra các phán quyết có ảnh hưởng đến quyền sở hữu, quyền nhân thân và các quyền cơ bản của công dân, của doanh nghiệp khi họ lâm vào tình trạng phá sản là hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá của nước ta
1.2.2.3 Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản là một thủ tục tư pháp đặc biệt
Một trong những dấu hiệu đặc biệt chính là cấu trúc đặc thù của thủ tục phá sản Nếu như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự là một quá trình hoạt động của Tòa án và những người tham gia tố tụng hình thành từ những giai đoạn nối tiếp nhau, giai đoạn trước là nền tảng cho giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra tính hợp pháp, khắc phục những thiếu sót của giai đoạn trước thì thủ tục phá sản là một quá trình hoạt động có cấu trúc hoàn toàn khác Theo Điều 5 Luật phá sản 2004 thủ tục phá sản là một thủ tục lớn bao gồm nhiều thủ tục cấu thành (thủ tục nhỏ) và giữa những thủ tục cấu thành đó có mối liên hệ với nhau theo những nguyên tắc khác nhau Tính thứ tự, nối tiếp nhau không phải là yếu tố bắt buộc giữa các thủ tục cấu thành Đây
là bước phát triển về lý luận của pháp luật phá sản nước ta
Luật phá sản Doanh nghiệp 1993 tuy cũng có những quy định về phục hồi hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp nhưng Luật chưa thừa nhận những nội dung đó là những thủ tục cấu thành độc lập, chưa nhìn nhận được tính
Trang 17đặc thù về mối quan hệ giữa các thủ tục đó Trong Luật phá sản Doanh nghiệp
1993, phục hồi hoạt động kinh doanh gần như là một hoạt động bắt buộc trước hoạt động thanh lý Chỉ sau khi phục hồi không thành công – thực hiện kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh không đem lại kết quả, con nợ vi phạm cam kết hoặc Hội nghị chủ nợ không chấp nhận kế hoạch phục hồi hoặc con nợ không có kế hoạch thì lúc đó Tòa án mới có thể quyết định chuyển sang tuyên bố phá sản với con nợ và thanh lý tài sản của nó Giải quyết mối quan hệ giữa hai thủ tục phục hồi và thanh lý như vậy là cứng nhắc và máy móc Thực tế cho thấy trong nhiều trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản đã có nhiều con nợ ngừng hoạt động, hoàn toàn không còn khả năng phục hồi nhưng do Luật quy định, thẩm phán vẫn phải tuần tự thực hiện các quy định của thủ tục phục hồi Điều này chỉ làm kéo dài thời gian
Trong thủ tục phá sản nhiệm vụ của các thủ tục cấu thành có tính độc lập với nhau rất lớn Thực hiện nhiệm vụ của thủ tục này không phải lúc nào cũng là nhiệm
vụ tiền đề của thủ tục kia Ví dụ như nhiệm vụ của thủ tục phục hồi hoat động kinh doanh của doanh nghiệp khác hẳn với nhiệm vụ của thủ tục thanh lý tài sản và thực hiện nhiệm vụ của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh không phải là tiền đề cho thủ tục thanh lý tài sản mà có thể loại trừ sự cần thiết của chính thủ tục thanh lý tài sản doanh nghiệp…
Điểm tiến bộ được ghi nhận trong Luật phá sản 2004 là những quy định về mối quan hệ đặc thù giữa các thủ tục cấu thành trong thủ tục phá sản Điều này cho phép tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp một cách uyển chuyển tùy thuộc vào những tình huống cụ thể Tòa án có thể quy định tuyên bố phá sản với con nợ ngay mà không cần thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản (khoản 1 Điều 87 Luật phá sản 2004) hoặc sau khi thụ lý (khoản 2 Điều 87 Luật phá sản 2004) hoặc khi đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản Không những thế, khi mà nhiệm vụ của thủ tục này không thể thực hiện được hoặc thực hiện không thành công thì có thể chuyển đổi sang thủ tục thanh lý tài sản ngay (Điều 79, Điều 80 Luật phá sản 2004)
Để làm rõ hơn những khái niệm hay những đặc thù trong thủ tục phá sản thì chúng ta cần phải đi sâu vào thủ tục phá sản và về các văn bản pháp luật liên quan quy định về vấn đề này Từ đây, để tiện cho việc theo dõi đề tài, người viết phân biệt cách dùng hai cụm từ Luật phá sản doanh nghiệp để thay cho Luật phá sản doanh nghiệp 1993 và Luật phá sản để thay cho Luật phá sản 2004
Trang 18CHƯƠNG 2:
THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
Tuy không đồng nhất trong quy định của pháp luật các nước song thủ tục phá sản của hầu hết các nước đều hàm chứa hai thủ tục cơ bản, đó là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và thủ tục thanh lí Doanh nghiệp, trong đó thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh ngày càng được pháp luật phá sản các nước quan tâm, chú trọng Phù hợp với xu hướng chung đó, Luật phá sản được Quốc Hội thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004 đã quy định đa dạng và linh hoạt các thủ tục mà Tòa án có thể áp dụng khi giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, theo đó thủ tục phá sản được
áp dụng đối với Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:
2.1 Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản
2.1.1 Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Cũng như pháp luật của các nước trên thế giới, Luật phá sản của Việt Nam quan tâm trước hết đến quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ nợ, người lao động và của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Kế thừa nội dung quy định của Luật phá sản Doanh nghiệp, Luật phá sản vẫn tiếp tục dành cho các chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, còn chủ Doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Ngoài ra, Luật phá sản còn bổ sung yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ Doanh nghiệp Nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần và thành viên hợp danh của công ty hợp danh
- Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ nợ
Pháp luật phá sản của Việt Nam trước đây cũng như hiện tại chỉ dành quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho các chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần mà không cho phép chủ nợ có bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Quy định này xuất phát từ luận điểm cho rằng quyền đòi nợ của các chủ nợ
có bảo đảm luôn được ưu tiên thanh toán bằng tài sản bảo đảm của Doanh nghiệp hoặc của người thứ ba Vì vậy, quy định cho các chủ nợ quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không cần thiết, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chỉ đặt ra cho các chủ nợ không bảo đảm và các chủ nợ có bảo đảm một phần để giúp
họ có cơ hội lựa chọn một thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Cách tiếp cận này của Luật phá sản Việt Nam phù hợp với xu hướng chung của pháp luật phá sản ở đa số quốc gia trên thế giới Ngược lại với xu hướng này, pháp luật phá sản của một số quốc
Trang 19gia trên thế giới (Nhật Bản, Trung Quốc, Hunggari…) vẫn cho phép cả các chủ nợ
có bảo đảm cũng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ nợ thực hiện nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Luật phá sản đã loại bỏ những quy định về nghĩa vụ của các chủ nợ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải cung cấp các giấy tờ, tài liệu chứng minh Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Các chủ nợ chỉ cần chứng minh các khoản nợ mà chủ nợ có yêu cầu thanh toán nhưng Doanh nghiệp không đáp ứng được Thực tiễn hơn 10 năm thi hành Luật phá sản doanh nghiệp đã cho thấy chủ nợ chỉ biết rằng họ đã gửi giấy đòi nợ đến hạn nhưng không được Doanh nghiệp mắc
nợ thanh toán mà khó có thể cung cấp các giấy tờ, tài liệu chứng minh Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Tuy nhiên, nếu người nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản do không khách quan gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp hoặc có sự gian dối trong yêu cầu mở thủ tục phá sản thì tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc bi truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật Quy định này nhằm mục đích đề cao trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu khi pháp luật ngày càng mở rộng khả năng và điều kiện để các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.2
Đơn yêu cầu phải được gửi cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và phải gồm các nội dung sau:
٭ Ngày, tháng, năm làm đơn;
٭ Tên, địa chỉ của người làm đơn;
٭ Tên, địa chỉ của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản;
٭ Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần khi đến hạn mà không được Doanh nghiệp thanh toán;
٭ Quá trình đòi nợ;
٭ Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 13 Luật phá sản)
- Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động
Luật phá sản có sự tiến bộ khi cho phép người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp Doanh nghiệp không trả được lương, các khoản nợ khác cho người lao động và nhận thấy Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản mà không cần điều kiện “không trả được lương cho người lao động trong ba tháng liên tiếp” như quy định của Luật phá sản Doanh nghiệp 1993 Tuy nhiên, để tránh sự tùy tiện trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, người lao động phải cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với Doanh nghiệp đó
2
Giáo trình Luật thương mại 2 – tập 2, trường Đại học Luật Hà Nội, 2006, Trang 369
Trang 20Đơn yêu cầu phải được gửi cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và phải có các nội dung chủ yếu sau:
٭ Ngày, tháng, năm làm đơn;
٭ Tên, địa chỉ của người làm đơn;
٭ Tên, địa chỉ của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản;
٭ Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền lương và các khoản nợ khác mà Doanh nghiệp không trả được cho người lao động;
٭ Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 14 Luật phá sản)
- Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản
Giống như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, Luật phá sản 2004 của Việt Nam quy định khi nhận thấy Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì chủ Doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với Doanh nghiệp đó
Đơn yêu cầu phải được gửi cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và nội dung chính phải bao gồm:
٭ Ngày, tháng, năm làm đơn;
٭ Tên, địa chỉ của người làm đơn;
٭ Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản
Kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các giấy tờ, tài liệu sau đây: + Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp, trong đó giải trình nguyên nhân và hoàn cảnh liên quan đến tình trạng mất khả năng thanh toán; nếu Doanh nghiệp là công ty cổ phần mà pháp luật yêu cầu phải được kiểm toán thì báo cáo tài chính phải được tố chức kiểm toán độc lập xác nhận; + Báo cáo về các biện pháp mà Doanh nghiệp đã thực hiện vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn;
+ Danh sách các chủ nợ của Doanh nghiệp trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà các chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không bảo đảm;
+ Danh sách những người mắc nợ Doanh nghiệp, trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không bảo đảm;
+ Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên nếu Doanh nghiệp mắc
nợ là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những khoản
nợ của Doanh nghiệp;
Trang 21+ Những tài liệu khác mà tòa án yêu cầu Doanh nghiệp phải cung cấp theo quy định của pháp luật (Điều 15 Luật phá sản)
Bên cạnh việc quy định đầy đủ, rõ ràng về thủ tục nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Luật phá sản còn quy định cụ thể về thời hạn nộp đơn và trách nhiệm củ chủ Doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp nếu không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong thời hạn luật đinh Thời hạn để chủ Doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản là ba tháng kể từ khi nhận thấy Doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản Quá thời hạn nêu trên, nếu chủ Doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Cụ thể, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp vi phạm quy định về thời hạn tại Điều 15 Luật phá sản sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải nộp đơn theo yêu cầu của tòa án có thẩm quyền.3
- Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu Doanh nghiệp
nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh
Ngoài các chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nêu trên, Luật phá sản còn cho phép cả đại diện chủ sở hữu Doanh nghiệp nhà nước (Điều 16 Luật phá sản), cổ đông hoặc nhóm cổ đông của công ty cổ phần (Điều 17 Luật phá sản), thành viên hợp danh của công ty hợp danh (Điều 18 Luật phá sản) cũng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Đây là một trong những điểm mới của Luật phá sản so với Luật phá sản Doanh nghiệp khi quy định về chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Theo Luật phá sản Doanh nghiệp, chỉ các chủ nợ không có bảo đảm cũng như chủ nợ có bảo đảm một phần và đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động (nơi chưa có tổ chức công đoàn) mới có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản Doanh nghiệp Thực tiễn hơn 10 năm thi hành Luật phá sản doanh nghiệp cho thấy không ít Doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản nhưng các chủ nợ và đại diện công đoàn hay đại diện người lao động (nơi chưa có tổ chức công đoàn) không nộp đơn và bản thân Doanh nghiệp mắc nợ cũng không đưa đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nên tòa án không có cơ sở tiến hành thủ tục phá sản đối với những Doanh nghiệp đó Hệ quả là nhiều Doanh nghiệp hoàn toàn mất khả năng thanh toán nợ, tình trạng tài chính kiệt quệ, đã ngừng hoạt động kinh doanh hoặc chỉ hoạt động cầm chừng, thoi thóp nhưng không
có con đường kết thúc hoạt động Doanh nghiệp về mặt pháp lí Vì vậy để mở rộng
3
Xem Điều 9 Nghị định 10/2009/CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản
Trang 22khả năng của tòa án có thể can thiệp trong việc áp dụng thủ tục phá sản đối với Doanh nghiệp khi lâm vào tính trạng phá sản, Luật phá sản dành cho các chủ sở hữu Doanh nghiệp nhà nước, cổ đông hoặc nhóm cổ đông công ty cổ phần, thành viên hợp danh của công ty hợp danh cũng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Tuy nhiên, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ thể này cũng phải được đặt trong những điều kiện nhất định
* Đại diện chủ sở hữu Doanh nghiệp nhà nước có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với Doanh nghiệp nhà nước khi nhận thấy Doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng phá sản mà Doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 16 Luật phá sản)
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn thực hiện như thủ tục nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Như vậy sự can thiệp của chủ sở hữu Doanh nghiệp nhà nước cũng chỉ được thực hiện trong điều kiện nhất định, đó là khi nhận thấy Doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng phá sản nhưng Doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản Nội dung quy định này cho thấy quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu Doanh nghiệp nhà nước phải có hai điều kiện cần và đủ,
đó là:
+ Khi nhận thấy Doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng phá sản;
+ Doanh nghiệp đó không thực hiện nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong thời hạn ba tháng, kể từ khi phát hiện Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
* Các cổ đông của công ty cổ phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu nhận thấy công ty cổ phần lâm vào tình trạng phá sản
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo điều lệ của công ty; nếu điều lệ công ty không quy định thì việc nộp đơn được thực hiện theo nghị quyết của đại hội cổ đông Trường hợp điều lệ công ty không quy định mà không tiến hành được đại hội cổ đông thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty cổ phần đó (Điều 17 Luật phá sản )
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn được thực hiện như thủ tục nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ Doanh nghiệp hoặc của đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, trừ các giấy tờ, tài liệu quy định tại các điểm d, đ và e khoản 4 Điều 15 Luật phá sản
Trang 23* Thành viên hợp danh khi nhận thấy công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với công ty hợp danh đó Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn được thực hiện như thủ tục nộp đơn của chủ Doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản (Điều 18 Luật phá sản)
Tuy nhiên, thành viên hợp danh có quyền (Điều 18 Luật phá sản) hay có nghĩa
vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 15 Luật phá sản) cũng là vấn đề cần được xem xét trong mối liên hệ với các quy định của pháp luật về Doanh nghiệp Theo luật Doanh nghiệp năm 1999, người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh là thành viên của công ty hợp danh Với tư cách là người đại diện theo pháp luật (đại diện hợp pháp của công ty), thành viên hợp danh lại phải có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà không phải đơn thuần là quyền yêu cầu nộp đơn
mở thủ tục phá sản Song vấn đề này lại không còn là trở ngại lớn khi Luật Doanh nghiệp 2005 quy định theo hướng thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật.4 Do đó, chỉ những thành viên nào đang là đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh thì mới có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản Doanh nghiệp, còn thành viên còn lại do không phải đang là đại diện hợp pháp của công ty nên nghĩa
vụ nộp đơn không đặt ra Lúc này, những thành viên này vẫn có quyền nộp đơn để bảo vệ lợi quyền lợi của mình
Bên cạnh việc mở rộng chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Luật phá sản còn bổ sung quy định về trách nhiệm của một số cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc thông báo Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Theo Điều 20 Luật phá sản, trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ nếu nhận thấy Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì toà án, viện kiểm sát, cơ quan thanh tra, cơ quan quản lí vốn, tổ chức kiểm toán hoặc cơ quan quyết định thành lập Doanh nghiệp mà không phải là chủ sở hữu của Doanh nghiệp Nhà nước có nhiệm
vụ thông báo bằng văn bản cho những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản biết để họ xem xét việc yêu cầu mở thủ tục phá sản
2.1.2 Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu thấy cần sửa đổi đơn, bổ sung tài liệu thì tòa án yêu cầu người nộp đơn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của tòa án
Khi nhận đơn yêu cầu, tòa án cần kiểm tra xem Doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản có thuộc danh mục cụ thể do Chính Phủ quy định về Doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh; Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và trong các lĩnh vực khác thường xuyên, trực tiếp
4
Xem: Khoản 1 và các điểm a, d Khoản 4 Điều 137 Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 24cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu hay không Nếu Doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc danh mục cụ thể do Chính Phủ quy định, thì tòa
án chỉ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hội đủ các điều kiện nộp đơn theo quy định của Chính phủ Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, việc tiến hành thủ tục phá sản theo đúng quy định của Chính phủ về thi hành Luật phá sản đối với Doanh nghiệp này.5
Trong các trường hợp sau đây, Tòa án phải ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
+ Người nộp đơn không nộp tiền tạm ứng phí phá sản trong thời hạn do Tòa án
ấn định;
+ Người nộp đơn không có quyền nộp đơn;
+ Có Tòa án khác đã mở thủ tục phá sản đối với Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản;
+ Có căn cứ rõ ràng cho thấy việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản do không khách quan gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản;
+ Doanh nghiệp chứng minh được mình không lâm vào tình trạng phá sản (Điều 24 Luật phá sản)
Trong những trường hợp nêu trên, người nộp đơn có quyền khiếu nại với chánh
án Tòa án đã trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Thời hạn khiếu nại là 10 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại về quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chánh án tòa án phải ra một trong các quyết định sau: + Giữ nguyên quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
+ Hủy quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và thụ lý đơn theo quy định của Luật phá sản (Điều 25 Luật phá sản)
Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản kể từ ngày người nộp đơn xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng phí phá sản Trường hợp người nộp đơn không phải nộp tiền tạm ứng phí phá sản thì ngày thụ lý đơn là ngày Tòa án nhận được đơn Tòa án phải cấp cho ngươi nộp đơn giấy báo đã thụ lý đơn
Tòa án phải thông báo cho Doanh nghiệp biết trong thời hạn 5 ngày (kể từ ngày thụ lý đơn), nếu người nộp đơn không phải là chủ Doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của chủ Doanh nghiệp đó Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, Doanh nghiệp phải xuất trình cho Tòa án các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 4 Điều 15 của Luật phá sản Ngoài ra, nếu Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là người bảo lãnh cho người khác thì phải thông báo việc mình bị
5
Xem Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/04/2005 của Hội đông thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Trang 25yêu cầu mở thủ tục phá sản cho người có liên quan trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án
Nếu sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà nhận thấy việc giải quyết phá sản không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án đã thụ lý đơn áp dụng Điều
26 của Luật phá sản để chuyển việc giải quyết phá sản cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản biết Trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp Huyện trong cùng một Tỉnh do chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết Nếu tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân cấp Huyện thuộc các tỉnh khác nhau hoặc giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh do chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải quyết.6
Khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, vẫn chưa có một thủ tục tư pháp đặc biệt đặt ra đối với Doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như các chủ thể có liên quan Tuy nhiên, từ khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến khi có quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản là một quá trình
mà ở đó có thể có những hành vi được thực hiện sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của Doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản và những người có liên quan Bởi vậy, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, việc giải quyết yêu cầu sau đây đòi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản phải tạm đình chỉ:
+ Thi hành án dân sự về tài sản mà Doanh nghiệp là người phải thi hành án; + Giải quyết vụ án đòi Doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài sản;
+ Xử lý tài sản bảo đảm của Doanh nghiệp đối với các chủ nợ có bảo đảm, trừ trường hợp được Tòa án cho phép (Điều 27 Luật phá sản)
Việc tạm đình chỉ giải quyết các yêu cầu nêu trên nhằm mục đích đợi kết quả xem xét đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án Nếu Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản đối với Doanh nghiệp mà không có khiếu nại nhưng chánh án Tòa án vẫn giữ nguyên quyết định này thì các yêu cầu trên vẫn tiếp tục được giải quyết Ngược lại, nếu Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản thì các yêu cầu trên được giải quyết theo cách thức quy định tại Điều 57, Điều 58 và Điều 36 của Luật phá sản
Thủ tục phá sản có thể được kết thúc ở giai đoạn này nếu Tòa án áp dụng Điều
87 của Luật phá sản để tuyên bố Doanh nghiệp bị phá sản Đây là thủ tục đặc biệt (thủ tục rút gọn) để kết thúc một Doanh nghiệp cũng như quan hệ nợ nần có liên quan khi Doanh nghiệp không còn tài sản hoặc còn nhưng không đủ để nộp tiền tạm ứng phí phá sản hoặc để thanh toán phí phá sản
6
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân quyền chỉ đặt đối với chủ thể kinh doanh phá sản là hợp tác xã
Trang 262.1.3 Mở thủ tục phá sản
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án phải xem xét và ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Nếu thấy không đủ căn cứ thì Tòa án ra quyết định không mở thủ tục phá sản quyết định này phải được gửi cho người làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Trong thời hạn 7 ngày, kể từ nhận được quyết định không mở thủ tục phá sản, người làm đơn yêu cầu có quyền khiếu nại với chánh án Tòa án đó
Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại đối với quyết định không
mở thủ tục phá sản, chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau:
+ Giữ nguyên quyết định không mở thủ tục phá sản;
+ Hủy quyết định không mở thủ tục phá sản và ra quyết định mở thủ tục phá sản
Nếu thấy đủ căn cứ chứng minh Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Tòa
án ra quyết định mở thủ tục phá sản Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của những người có liên quan (người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ Doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản…) để xem xét kiểm tra các căn cứ trước khi
mở thủ tục phá sản
Quyết định mở thủ tục phá sản phải có nội dung chính như quy định tại khoản 3 Điều 28 Luật phá sản và phải được gửi cho Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp Ngoài ra, quyết định mở thủ tục phá sản còn phải đăng báo địa phương (nơi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có địa chỉ chính), báo hàng ngày của trung ương ba số liên tiếp đồng thời phải thông báo cho các chủ nợ, những người mắc nợ Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Thời hạn Tòa án phải gửi quyết định mở thủ tục phá sản, đăng báo và thông báo là 7 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định
Quyết định mở thủ tục phá sản đã đặt ra một thủ tục tư pháp đặc biệt và kéo theo những hệ quả pháp lý nhất định, trong đó cần lưu ý một số vấn đề pháp lý sau đây:
Thứ nhất, đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, thẩm phán ra
quyết định thành lập tổ quản lí, thanh lí tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lí tài sản của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Việc quản lí, thanh lí tài sản của Doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản theo Luật phá sản Doanh nghiệp được thực hiện bởi hai tổ thành lập ở hai giai đoạn khác nhau, đó là tổ quản lý tài sản và tổ thanh toán tài sản với nhiều đại diện tham gia nhưng thực tiễn hoạt động mang tính cưỡng ép, kém hiệu quả Pháp luật của đa số các nước như Pháp, Đức, Úc, Nhật Bản hay Latvia… trao thẩm quyền này cho một
Trang 27nhân viên do Tòa án bổ nhiệm mà hoạt động vẫn đem lại hiệu quả Nhân viên quản
lý tài sản này gọi là quản tài viên hay quản trị viên là những người hành nghề chuyên nghiệp thường từ đội ngũ luật sư, kiểm toán viên hoặc các nhà kinh tế…
Từ những bất cập của Luật phá sản Doanh nghiệp, trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của các nước trên thế giới trong điều kiện hiện tại của Việt Nam Luật phá sản đã quy định thành lập một tổ duy nhất gọi là tổ quản lý, thanh lí tài sản với thành phần tham gia được giảm bớt, bao gồm: một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm tổ trưởng; một cán bộ của Tòa án; một đại diện chủ nợ; đại diện hợp pháp của Doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản Ngoài
ra trường hợp cần thiết có đại diện công đoàn, đại diện người lao động, đại diện các
cơ quan chuyên môn tham gia tổ quản lý, thanh lí tài sản thì thẩm phán xem xét, quyết định.7
Tổ quản lý, thanh lí tài sản thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 10 Luật phá sản 2004 Đối với tổ trưởng tổ quản lý, thanh lí tài sản phải thực thi nhiệm
vụ, quyền hạn quy định tại Điều 11 Luật phá sản Ngoài ra, Luật phá sản còn bổ sung quy định về trách nhiệm của tổ trưởng tổ quản lý, thanh lí tài sản phải thực hiện phải thực hiện ngay việc đăng ký giao dịch bảo đảm nếu Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cho người khác vay tài sản có bảo đảm có bảo đảm phải đăng
ký theo quy định của pháp luật nhưng chưa đăng ký (Điều 54 Luật phá sản).8
Thứ hai, quyền đòi nợ và nghĩa vụ gửi giấy đòi nợ của các chủ nợ
Về nguyên tắc, mọi chủ nợ của Doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản đều có quyền gửi giấy đòi nợ đến Tòa án có thẩm quyền Khi thực hiện quyền đòi nợ, cần lưu ý quyền đòi nợ của chủ nợ trong trường hợp có nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh Trường hợp nhiều Doanh nghiệp có nghĩa vụ liên đới về một khoản nợ mà một hoặc tất cả Doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có quyền đòi bất
cứ Doanh nghiệp nào trong số các Doanh nghiệp đó thực hiện việc trả nợ cho mình theo quy định của pháp luật
Trang 28Trường hợp người bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản thì người được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh
Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo lãnh đều lâm vào tình trạng phá sản thì người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh (Điều 39 Luật phá sản)
Để hưởng quyền đòi nợ của mình, các chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ đến Tòa án trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản các chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Tòa án Giấy đòi nợ phải nêu cụ thể các khoản nợ, số nợ đến hạn và chưa đến hạn, số nợ có bảo đảm và không bảo đảm mà Doanh nghiệp phải trả Kèm theo giấy đòi nợ là các tài liệu chứng minh về các khoản nợ đó Hết thời hạn này các chủ nợ không gửi giấy đòi nợ đến Tòa án thì được coi là từ bỏ quyền đòi nợ Quy định này cho thấy tính chất của quyền đòi nợ trong thủ tục phá sản Khác với thủ tục đòi nợ trong dân sự, kinh tế thông thường, trong thủ tục phá sản, các chủ nợ không được đòi nợ riêng rẽ mà họ phải đồng loạt gửi giấy đòi nợ đến Tòa án trong thời hạn luật định (đòi nợ trong thủ tục phá sản mang tính chất đòi nợ tập thể) Hết thời hạn pháp luật quy định, những chủ nợ không gửi giấy đòi nợ đến Tòa án thì coi như họ đã khước từ quyền đòi nợ của mình Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời gian
có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn 60 ngày nêu trên Tức là, khi có yêu cầu họ sẽ được bổ sung vào danh sách chủ nợ
Thứ ba, hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ
tục phá sản, trách nhiệm kiểm kê tài sản
Mọi hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của thẩm phán và tổ quản lý, thanh lý tài sản Việc tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh bình thường của Doanh nghiệp nhằm mục đích tạo cơ hội tái tổ chức hoạt động kinh doanh để cứu vớt Doanh nghiệp vượt qua khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán
nợ đến hạn Mục tiêu hàng đầu của pháp luật phá sản hiện nay của các nước cũng như của Việt Nam đều hướng đến giải pháp phục hồi hoạt động kinh doanh nhằm cứu vớt Doanh nghiệp trước nguy cơ bị phá sản Bởi vậy, việc tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh bình thường của Doanh nghiệp sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản là điều cần thiết Pháp luật phá sản của một số nước không cho phép người quản lý, điều hành đương nhiệm của Doanh nghiệp tiếp tục quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, công việc này thường được chuyển giao cho chủ thể mới có kỹ năng, có trình độ chuyên môn đảm nhiệm Luật phá sản của Việt Nam không hoàn toàn tiếp cận theo hướng này mà vẫn cho phép người quản lý, điều hành đương nhiệm của Doanh nghiệp được tiếp
Trang 29tục duy trì hoạt động kinh doanh dưới sự giám sát của thẩm phán và tổ quản lý, thanh lí tài sản Tuy nhiên, trong những trường hợp cần thiết, nếu xét thấy người quản lý, điều hành Doanh nghiệp không có khả năng quản lý và điều hành hoặc nếu tiếp tục quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của Doanh nghiệp thì theo đề nghị của hội nghị chủ nợ, thẩm phán ra quyết định cử người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Quy định này là phù hợp với điều kiện Việt Nam, tránh sự xáo trộn không cần thiết khi chưa có những chuyên gia hội đủ năng lực và trình độ chuyên môn để có thể chuyên tâm vào việc tổ chức, quản lý vào điều hành hoạt động kinh doanh nhằm phục hồi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Việc thay thế người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ đặt ra khi xét thấy cần thiết theo đề nghị của hội nghị chủ nợ
Nhằm bảo toàn tài sản của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, bảo vệ tối
đa quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ nợ và các chủ thể có liên quan Luật phá sản nghiêm cấm Doanh nghiệp thực hiện một số hoạt động hoặc trước khi thực hiện phải được sự đồng ý bằng văn bản của thẩm phán (bị hạn chế khi thực hiện)
Các hoạt động của Doanh nghiệp bị cấm thực hiện, kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, bao gồm:
+ Cất giấu, tẩu tán tài sản;
+ Thanh toán nợ không có bảo đảm;
+ Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
+ Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của Doanh nghiệp
Sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt động sau đây của Doanh nghiệp phải được sự đồng ý bằng văn bản của thẩm phán trước khi thực hiện:
+ Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng, cho, cho thuê tài sản;
+ Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;
+ Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
+ Vay tiền;
+ Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản;
+ Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp và trả lương cho người lao động trong Doanh nghiệp (Điều 31 Luật phá sản)
Ngoài việc tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh bình thường, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản còn phải kiểm kê toàn bộ tài sản theo bảng kê chi tiết đã nộp cho
Trang 30Tòa án và xác định trị giá các tài sản đó; nếu thấy cần có thời gian dài hơn thì phải
có văn bản đề nghị thẩm phán gia hạn nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá
30 ngày Bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị phải gửi ngay cho thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản Trong trường hợp xét thấy việc kiểm kê, xác định giá trị tài sản của Doanh nghiệp là không chính xác thì tổ quản lý, thanh lí tài sản tổ chức kiểm kê, xác định lại giá trị một phần hoặc toàn bộ tài sản của Doanh nghiệp Giá trị tài sản được xác định theo giá thị trường tại thời điểm kiểm kê (Điều 50 Luật phá sản) Quy định này giúp cho thẩm phán cũng như tổ quản lý, thanh lí tài sản có thể nhanh chóng nắm bắt được một cách chính xác thực trạng tài sản của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và có những giải pháp hợp lý, cần thiết trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản
Thứ tư, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo toàn tài sản của
Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của tổ quản lý, thanh lý tài sản, thẩm phán phụ trách thủ tục phá sản có quyền quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo toàn tài sản của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Tuy nhiên, theo quy định của Luật phá sản thì quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của thẩm phán cũng chỉ được thực hiện sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời mà thẩm phán có thể quyết định áp dụng, bao gồm:
+ Cho bán những hàng hóa dễ bị hư hỏng, hàng hóa sắp hết thời hạn sử dụng, hàng hóa không bán đúng thời điểm sẽ khó có khả năng tiêu thụ;
+ Kê biên, niêm phong tài sản của Doanh nghiệp;
+ Niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý sổ kế toán, tài liệu liên quan của Doanh nghiệp;
+ Cấm hoặc buộc Doanh nghiệp thực hiện một số hành vi nhất định (Điều 55 Luật phá sản)
Khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, tùy tính chất của vụ việc và yêu cầu của việc áp dụng mà thẩm phán xem xét, đánh giá một cách thận trọng để quyết định áp dụng một hay một số biện pháp khẩn cấp tạm thời Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nhằm mục đích bảo toàn tài sản của Doanh nghiệp nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp Tuy nhiên, các biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên, niêm phong tài sản, niêm phong kho, quỹ, thu giữ và quản lý sổ kế toán, tài liệu có liên quan cũng như phong tỏa tài khoản chỉ được thẩm phán quyết định áp dụng đối với Doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản mà không thể áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức liên quan
Trang 31Người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có quyền khiếu nại với chánh án Tòa án trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án
Trường hợp có khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:
+ Giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
+ Hủy một phần hay toàn bộ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 56 Luật phá sản)
- Theo yêu cầu của chủ nợ không có bảo đảm, tổ quản lí, thanh lí tài sản, tòa
án tuyên bố các giao dịch của doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật phá là sản vô hiệu Trong trường hợp này, tổ trưởng tổ quản lý, thanh lí tài sản có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định của tòa án tuyên bố giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã là vô hiệu để thu hồi lại tài sản cho doanh nghiệp (Điều 44 Luật phá sản)
Theo khoản 1 Điều 43 Luật phá sản, các giao dịch của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Tòa
án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu, bao gồm:
+ Tặng cho động sản và bất động sản cho người khác;
+ Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của Doanh nghiệp rõ ràng là lớn hơn nghĩa vụ của bên kia;
+ Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn;
+ Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ;
+ Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của Doanh nghiệp
- Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện theo yêu cầu của chủ nợ, Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản nếu xét thấy việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đó có lợi hơn cho Doanh nghiệp (Điều 45 Luật phá sản)
Yêu cầu Tòa án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa thực hiện phải được làm thành văn bản với nội dung như quy định tại khoản 1 Điều 46 Luật phá sản Kèm theo văn bản yêu cầu là các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực
là có lợi hơn về mặt tài sản (vật chất) cho Doanh nghiệp Thẩm phán xem xét quyết định trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, nếu chấp thuận thì thẩm phán ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng, nếu không chấp thuận thì thông báo cho người được đề nghị biết
Trang 32Theo nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/04/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì được coi là có lợi hơn cho Doanh nghiệp trong việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật khi: các thiệt hại tài sản tạm tính (với tư cách là hậu quả pháp lý xấu) mà Doanh nghiệp phải gánh chịu nếu đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng nhỏ hơn các thiệt hại tạm tính (các khoản
lỗ, thiệt hại) mà Doanh nghiệp phải gánh chịu nếu phải tiếp tục thực hiện hợp đồng
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên kia quan hệ hợp đồng khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện, việc thanh toán, bồi thường thiệt hại được thực hiện theo nguyên tắc:
+ Tài sản mà Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản nhận được từ hợp đồng vẫn tồn tại trong khối tài sản của Doanh nghiệp đó thì bên kia của hợp đồng có quyền đòi lại; nếu tài sản đó không còn thì bên kia của hợp đồng có quyền như một chủ nợ không có bảo đảm
+ Trong trường hợp hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì bên kia của hợp đồng có quyền như một chủ nợ không có bảo đảm đối với khoản thiệt hại do việc đình chỉ thực hiện hợp đồng gây ra (Điều 47 Luật phá sản)
Thứ năm, đình chỉ thi hành án dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án và giải quyết vụ
án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản
Kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, việc thi hành án dân sự về tài sản mà Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là người phải thi hành cũng như việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà Doanh nghiệp là một bên đương sự trong vụ án đó phải được đình chỉ
Trường hợp việc thi hành án dân sự về tài sản mà Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là người phải thi hành án bị đình chỉ thì người được thi hành án có quyền nộp đơn cho Tòa án yêu cầu được thanh toán trong khối tài sản của Doanh nghiệp như một chủ nợ không có bảo đảm hoặc như một chủ nợ có bảo đảm, nếu có bản án Quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật kê biên tài sản của Doanh nghiệp để bảo đảm thi hành án Quy định này của Luật phá sản thể hiện sự quan tâm, ưu tiên hàng đầu của các nhà lập pháp với thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Việc đình chỉ thi hành án dân
sự về tài sản mà Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là người có nghĩa vụ phải thi hành nhằm bảo đảm duy trì một khối lượng tài sản cần thiết cho Doanh nghiệp
bị mở thủ tục phá sản có khả năng tốt nhất để phục hồi hoạt động kinh doanh Ngoài
ra, quy định này cũng thể hiện sự bình đẳng giữa các chủ nợ trong vụ việc phá sản với người được thi hành án dân sự khi người phải thi hành án dân sự là Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Nội dung pháp lý này không được quy định