Hàng năm có không ít vụ án kiện về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài mà Tòa án nhân dân phải giải quyết, nhưng pháp luật về thừa kế và những quy định pháp luật khác liên quan đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Cần Thơ, 5/2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu, người viết được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy Ths Diệp Ngọc Dũng, cùng với kiến thức đã học và nghiên cứu để hoàn thành luận văn Do thời gian có hạn nên quá trình nghiên cứu đề tài cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm tài liệu nhưng nhờ sự giúp đỡ của thầy Ths Diệp Ngọc Dũng mà người viết hoàn thành tốt luận văn này
Qua đây, người viết xin chân thành cảm ơn đến thầy Ths Diệp Ngọc Dũng đã dành thời gian để hướng dẫn, giúp đỡ người viết trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn Bên cạnh, người viết cũng gởi lời cảm ơn đến tất cả những người bạn thân đã giúp đỡ người viết trong việc tìm nguồn tài liệu cũng như những lời động viên chân thành trong lúc người viết gặp khó khăn Một lần nữa người viết chân thành cảm ơn đến thầy Ths Diệp Ngọc Dũng và những thầy cô đã cho người viết những kiến thức quý báo trong bốn năm đại học để trang bị cho cuộc sống sau này
Qua sự nỗ lực, cố gắng của bản thân người viết cùng với thời gian hạn hẹp cũng như những kiến thức có được còn nhiều hạn chế nên đề tài cũng còn nhiều thiếu sót không thể tránh khỏi Do đó, người viết rất mong được sự ủng hộ đóng góp ý kiến của các thầy cô cũng như sự quan tâm của những độc giả để đề tài được hoàn thiện tốt hơn
Người viết Dương Ngọc Sử
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Trang 4NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG
Cần Thơ, ngày tháng năm 2011
Trang 5MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ 5
1.1 Khái niệm chung 5
1.1.1 Thừa kế 5
1.1.2 Thừa kế theo di chúc 5
1.1.3 Thừa kế theo pháp luật 7
1.1.4 Thừa kế trong Tư pháp quốc tế 8
1.2 Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam 9
1.2.1 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế 9
1.2.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế 10
1.2.2 Nguyên tắc cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế 11
1.2.3 Nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại 12
1.3 Các nguyên tắc chọn luật giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế 12
1.3.1 Nguyên tắc hệ thuộc Luật quốc tịch 12
1.3.2 Nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi cư trú 13
1.3.3 Nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi có vật 14
1.3.4 Nguyên tắc hệ thuộc Luật tòa án 14
1.3.5 Nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi thực hiện hành vi 15
1.4 Nguồn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ thừa kế trong Tư pháp quốc tế Việt Nam 15
1.4.1 Điều ước quốc tế 16
1.4.2 Pháp luật Việt Nam 16
1.4.3 Pháp luật nước ngoài 17
1.4.4 Tập quán quốc tế 17
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM
19
2.1 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký kết 19 2.2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật theo pháp luật Việt
Trang 62.2.1 Di sản là bất động sản 23
2.2.2 Di sản là động sản 27
2.2.3 Di sản không người thừa kế 32
2.2.3.1 Đối với động sản 32
2.2.3.2 Đối với bất động sản 34
2.3 Những tồn tại và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam 35
Kết luận 40
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thừa kế là một chế định quan trọng trong pháp luật của mỗi quốc gia Nó là cơ
sở cho việc duy trì tài sản giữa các thế hệ trong gia đình - xã hội và là hình thức pháp
lý chủ yếu bảo vệ quyền của công dân Chính vì thế, pháp luật thừa kế trên thế giới nói chung và pháp luật thừa kế ở Việt Nam nói riêng đã không ngừng phát triển và hoàn thiện chế định thừa kế để bảo vệ quyền lợi của công dân mình
Trong xã hội ngày nay, quan hệ thừa kế trở nên phức tạp vì nó không chỉ được điều chỉnh bằng pháp luật của một quốc gia mà còn liên quan đến nhiều pháp luật quốc gia khác Đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Chính sự phát triển của
xã hội, giao lưu hợp tác quốc tế giữa các quốc gia với nhau đã làm cho quan hệ thừa kế ngày càng tăng Do đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta về quan hệ thừa
kế có yếu tố nước ngoài là rất quan trọng
Hiện nay, ở nước ta tuy có nhiều văn bản quy định về thừa kế nhưng quan hệ thừa
kế có yếu tố nước ngoài thì chiếm số lượng không nhiều Trong đó, thừa kế theo pháp luật
có yếu tố nước ngoài chỉ được quy định tại Điều 767 Bộ luật dân sự 2005 Bên cạnh, việc
áp dụng những quy định trong thực tiễn cũng như trong việc giải quyết những tranh chấp
về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài vẫn còn tồn tại không ít khó khăn, vướng mắc
Hàng năm có không ít vụ án kiện về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài mà Tòa án nhân dân phải giải quyết, nhưng pháp luật về thừa kế và những quy định pháp luật khác liên quan đến thừa kế có yếu tố nước ngoài chưa thật sự đồng bộ và thống nhất, vì thế nhiều vụ tranh chấp thừa kế đã phải xét xử nhiều lần và kéo dài thời gian giải quyết đến nhiều năm làm ảnh hưởng đến quyền lợi cũng như tài sản của người đi kiện
Chính vì vậy, người viết đã chọn đề tài “Thừa kế theo pháp luật trong Tư
pháp quốc tế Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp cho mình Đây là một đề tài có ý
nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ một số vấn đề liên quan đến khái niệm, tính chất của quan hệ thừa kế, thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, phương pháp điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
Trang 8Phân tích pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ thừa kế theo pháp luật có yếu
tố nước ngoài Qua đó, người viết rút ra những vướng mắc tồn tại khi áp dụng pháp luật về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam Từ đó, người viết đưa
ra những đề xuất, kiến nghị mang tính giải pháp nhằm hoàn thiện hơn trong việc áp dụng pháp luật điều chỉnh về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Thừa kế trong Tư pháp quốc tế Việt Nam là một vấn rộng lớn và phức tạp Trong đó có thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật, trong phần nghiên cứu này, người viết chỉ chọn thừa kế theo pháp luật để làm đề tài nghiên cứu cho mình Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, nội dung, bản chất quy định của pháp luật Việt Nam về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, nhằm làm sáng tỏ những quy định về thừa kế theo pháp luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam Khi nghiên cứu đề tài, người viết đã tham khảo các quy định của nước ta về thừa kế và thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, đồng thời có tham khảo các sách chuyên khảo và những tài liệu có liên quan đến vấn đề này mà người viết đã có
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu bằng và kết hợp các phương pháp chủ yếu như phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp trích dẫn v.v
Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh quan hệ về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài, người viết rút ra những vướng mắc tồn tại trong thi hành pháp luật, từ đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về thừa kế
Trong chương này, người viết chủ yếu nghiên cứu những khái niệm cơ bản nhất
về thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật và những nguyên tắc cơ bản về thừa kế trong pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó, người viết cũng nghiên cứu những đặc trưng cơ bản về thừa kế trong Tư pháp quốc tế như thừa kế trong tư pháp, những phương pháp chọn luật để giải quyết xung đột thừa kế trong Tư pháp quốc tế
Chương 2: Cơ sở pháp lý điều chỉnh xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp
Trang 9luật trong Tư pháp quốc tế Việt Nam.
Trong chương 2 này, người viết nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài và các Hiệp định tư pháp mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết trong việc giải quyết các vấn đề về thừa kế theo pháp luật Qua đó, người viết rút ra những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng những quy định đó và đồng thời đề xuất những giải pháp để hoàn thiện những quy định về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỪA KẾ
1.1 Khái niệm chung
Pháp luật thừa kế có từ xa xưa và gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Tuy có những đặc thù riêng nhưng dân tộc nào, đất nước nào và từng con người
cụ thể đều chịu sự tác động của pháp luật thừa kế Ở Việt Nam, thừa kế đó là một tập quán lâu đời trong nhân dân, được thể chế hóa, khuyến khích công dân làm ra nhiều của cải không những vì lợi ích của bản thân mà còn vì lợi ích của những người thừa kế
1.1.1 Thừa kế
Thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển dịch tài sản
và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế 1 Theo đó, trong quan hệ thừa kế có hai chủ thể đó là chủ thể để lại di
sản và chủ thể được hưởng di sản Chủ thể hưởng thừa kế trở thành chủ sở hữu tài sản thừa kế
Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống, do đó quan hệ thừa kế phát sinh từ thời điểm người để lại di sản chết hoặc đã được tòa án tuyên bố là đã chết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật Bên cạnh đó, việc người thừa kế không nhận phần di sản thừa kế hoặc số tài sản thừa kế không đủ để thanh toán nghĩa vụ của người để lại di sản thì quan hệ thừa kế sẽ không được phát sinh
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật2 Theo đó thừa kế có hai hình thức cơ bản là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
1.1.2 Thừa kế theo di chúc
Khi còn sống chủ sở hữu tài sản có quyền định đoạt tài sản cho người khác qua một giao dịch dân sự Ngoài ra, chủ sở hữu cũng có thể định đoạt tài sản của mình cho người khác mà sau khi chủ sở hữu chết thì vẫn có giá trị pháp lý, hình thức định đoạt này bằng di chúc
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho
1 Phùng Trung Tập: Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay Nxb Tư pháp, Hà
Nội, năm 2004, trang 9.
2 Điều 631 Bộ luật dân sự 2005.
Trang 11người khác sau khi chết3 Theo đó, di chúc để lại có những đặc điểm:
- Di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại di sản, đây là ý chí mang tính đơn phương hay còn gọi là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, vì thế nó phải rõ ràng và chính xác về câu chữ, số lượng tài sản, loại tài sản, vị trí tài sản Ngoài
ra, khi chỉ định người hưởng di sản cần phải xác định rõ họ tên, địa chỉ của người thừa kế
- Về nội dung di chúc thể hiện đúng ý chí của người lập di chúc Nội dung di chúc do chính người lập di chúc xác định như chỉ định người hưởng di sản phần di sản được hưởng
Như vậy, có thể hiểu thừa kế theo di chúc chính là sự bày tỏ ý chí của một
người (người để lại di sản) nhằm định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc một phần tài sản của mình sẽ được chuyển giao cho một hoặc nhiều người sau khi người đó chết Theo quy định của pháp luật thì sự bày tỏ ý chí được thực hiện
thông qua hình thức bằng văn bản (gọi là di chúc bằng văn bản), hoặc bằng lời nói miệng (gọi là di chúc miệng)
Theo pháp luật Việt Nam, người để lại di sản không bị ràng buộc bởi di chúc do chính mình đã lập ra Người đó có thể sửa đổi di chúc hoặc hủy bỏ di chúc đã lập bằng một di chúc khác lập ra sau này; không có sự ràng buộc giữa người lập di chúc và người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc hoặc của bất kỳ người nào khác trong thời gian người lập di chúc còn sống; sau khi người lập di chúc chết, người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc sẽ có quyền bày tỏ ý chí của mình nhận hay không nhận tài sản của người lập di chúc để lại4 Ngoài ra, người được chỉ định thừa
kế trong di chúc không phụ thuộc vào việc người đó có thuộc một trong các mối quan
hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng với người để lại di chúc
Tuy nhiên, nhiên không phải di chúc nào do cá nhân lập ra cũng đều có giá trị
pháp lý Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì người đã thành niên có quyền lập
di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý 5 Do
đó, để di chúc có giá trị pháp luật thì người lập di chúc phải là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và trong trường hợp người lập di chúc từ đủ 15 tuổi đến dưới
3 Điều 646 Bộ luật dân sự 2005.
4 Dương Bạch Long – Nguyễn Xuân Anh: Tìm hiểu các quy định của pháp luật về thừa kế, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, năm 2008, trang 65-66.
5 Điều 647 Bộ luật dân sự 2005.
Trang 1218 tuổi thì phải có sự đồng ý của người giám hộ hoặc cha, mẹ.
Tóm lại, thừa kế theo di chúc là một trong những quy định cơ bản trong quan hệ thừa kế, thể hiện quyền định đoạt tài sản lập ra của công dân (đối với đất đai là quyền
sử dụng đất) trước khi chết và quyền thừa kế của người được chỉ định Song không phải cá nhân nào để lại di sản đều lập di chúc và trong trường hợp đó di sản sẽ được chia theo quy định theo pháp luật
1.1.3 Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa
kế do pháp luật quy định 6 Khác với thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật không
theo ý chí của người để lại di sản mà nó phụ thuộc vào những quy định của pháp luật đặt ra Do đó, thừa kế theo pháp luật Việt Nam chỉ được thực hiện khi thuộc một trong những quy định:
- Không để lại di chúc;
- Di chúc không hợp pháp;
- Những người thừa kế đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản7
Ngoài ra thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
- Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
- Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không
có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế8
Bên cạnh đó, thì người thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân và được pháp luật quy định trong những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản Những người thừa kế theo pháp luật được pháp luật chỉ định hưởng di sản theo thứ tự ưu tiên theo hàng thừa kế:
6 Điều 674 Bộ luật dân sự 2005.
7 Khoản 1 Điều 675 Bộ luật dân sự 2005.
8 Khoản 2 Điều 675 Bộ luật dân sự 2005.
Trang 13- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại9
Theo quy định trên, những người thừa kế theo hàng thừa kế phải tuân theo nguyên tắc pháp luật, hàng trước loại trừ hàng sau trong việc hưởng di sản Có nghĩa hàng thứ nhất sẽ được ưu tiên trong việc hưởng thừa kế, nếu không còn ai để hưởng thừa kế hàng thứ nhất nữa thì mới xét đến hàng thứ hai và cứ như thế cho đến hàng thứ ba Tuy nhiên, người thuộc hàng thừa kế phải là người được hưởng di sản; những người bị loại trừ khỏi hàng thừa kế là người hoặc người đã chết trước người để lại di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản hoặc bị tước quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật
Nhìn chung, thừa kế theo pháp luật vừa đảm bảo quyền đương nhiên của người
có tài sản được để lại tài sản của họ khi họ chết, vừa bảo vệ quyền của những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, gia đình, quan hệ nuôi dưỡng Do đó, hình thức thừa kế theo pháp luật là hình thức truyền thống được bảo tồn suốt chiều dài lịch
sử phát triển của xã hội nhằm củng cố cơ sở vật chất của mối quan hệ huyết thống, gia đình và là nền tảng của xã hội
1.1.4 Thừa kế trong Tư pháp quốc tế
Về nguyên tắc thì tất cả các quan hệ nảy sinh trong lĩnh vực thừa kế trong phạm
vi của một quốc gia nào thì sẽ do pháp luật của quốc gia đó điều chỉnh Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập và giao lưu hợp tác quốc tế ngày càng phát triển như hiện nay thì có rất nhiều quan hệ thừa kế phát sinh vượt ngoài phạm vi điều chỉnh của hệ thống pháp luật trong nước Đó là những quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Như vậy, khác với thừa kế trong dân luật, thừa kế trong Tư pháp quốc tế là thừa
kế có yếu tố nước ngoài.10 Theo pháp luật Việt Nam quy định, một quan hệ dân sự nói
9 Khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự 2005.
10 Diệp Ngọc Dũng - Cao Nhất Linh: Tập bài giảng Tư pháp quốc tế - Khoa Luật - Đại học Cần Thơ, năm
2002, trang 150.
Trang 14chung và quan hệ thừa kế nói riêng được xem là có yếu tố nước ngoài khi thuộc một trong những quy định sau:
- Có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc
- Giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc
- Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài 11
Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật đưa ra khái niệm thế nào về thừa kế có yếu
tố nước ngoài mà chỉ quy định quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là một trong những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Do đó, căn cứ vào quy định tại Điều 758
Bộ luật dân sự năm 2005, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài là quan hệ có một trong các yếu tố sau đây: Có ít nhất một trong các chủ thể để lại thừa kế hay hưởng thừa kế là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa các bên thừa kế là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản thừa kế tồn tại ở nước ngoài
1.2 Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam
Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam được áp dụng chung cho hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật, chúng đã xuất hiện rất sớm trong những văn bản pháp luật nước ta Chính những nguyên tắc pháp luật như thế đã cho thấy được những bản chất và đặc trưng pháp luật về thừa kế ở nước ta Nhìn chung, quan hệ thừa kế ở nước ta có những nguyên tắc sau:
1.2.1 Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người có quyền thừa kế
Người có quyền thừa kế theo pháp luật Việt Nam là công dân, cơ quan, tổ chức Quyền thừa kế thuộc về cá nhân được thể hiện theo hai chủ thể nhất định, đó là chủ thể
để lại di sản và chur thể hưởng di sản Quyền thừa kế thuộc về cơ quan, tổ chức theo một chủ thể nhất định, đó là chủ thể hưởng di sản (chỉ đối với thừa kế theo di chúc)
- Đối với người để lại di sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp tài sản của mình thì người để lại di sản có quyền định đoạt tài sản của mình trước khi chết bằng việc lập di chúc Di chúc là thể hiện ý chí của mình trong việc định đoạt tài sản trước khi chết nên được pháp luật bảo vệ, tôn trọng Tuy nhiên, di chúc để lại cũng phải phù
11 Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005.
Trang 15hợp với những quy định điều kiện của pháp luật đặt ra Tuy ý chí của người lập di chúc được bảo vệ và tôn trọng nhưng quyền định đoạt tài sản của người có di sản không là tuyệt đối (thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc).
Quyền tự do ý chí của người để lại di sản không những thể hiện trong việc lập
di chúc để định đoạt tài sản của mình mà còn có thể không để lại di chúc khi họ chết
và tài sản đó sẽ được chia cho những người có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật
- Đối với người hưởng di sản, pháp luật Việt Nam quy định người thừa kế có quyền nhận hoặc từ chối nhận di sản thừa kế.Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác; Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người
từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia
di sản, cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản; Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế 12 Quyền từ chối nhận di sản
được pháp luật cho phép nhưng phải phù hợp với những quy định trên Nhưng nếu từ chối nhận di sản để trốn tránh nghĩa vụ thì pháp luật không cho phép13
Bên cạnh đó, người thừa kế theo di chúc cũng có thể từ chối nhận di sản thừa
kế Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc đồng thời là người thuộc hàng thừa
kế theo pháp luật thì họ có thể:
+ Chỉ từ chối thừa kế theo di chúc mà không từ chối quyền hưởng thừa kế theo
phấp luật, nếu di sản thừa kế theo pháp luật, người này có quyền nhận phần di sản được thừa kế theo pháp luật
+ Chỉ từ chối hưởng thừa kế theo pháp luật mà không từ chối hưởng thừa kế theo di chúc
+ Từ chối cả thừa kế theo di chúc và theo pháp luật
1.2.2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế
Trong chế độ thực dân phong kiến, người phụ nữ luôn bị hạ thấp hơn so với người đàn ông Họ luôn bị đối xử không công bằng về mọi phương diện của xã hội lẫn những quy định pháp luật khắc khe dành cho họ Theo pháp luật phong kiến thì khuynh hướng trọng nam, khinh nữ là tất yếu, vì người đàn ông luôn giữ một vị trí quan trọng trong gia đình cũng như trong quan hệ xã hội, chính vì thế người phụ nữ
12 Điều 642 Bộ luật dân sự 2005.
13 Phùng Trung Tập: Luật thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, năm 2008, trang 8-9.
Trang 16không được bảo vệ tôn trọng Cũng từ đó quyền thừa kế của người phụ nữ bị nhiều hạn chế và được coi là người ngoại tộc.
Khi chế độ xã hội chủ nghĩa được thành lập, quyền của người phụ nữ luôn được bảo vệ, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc để lại di sản thừa kế theo pháp
luật quy định đã loại bỏ được vai trò gia trưởng của người đàn ông Theo đó, vợ,
chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau 14 Những quy định đó đã bảo đảm quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc để lại di sản thừa kế và nhận thừa kế
Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam quy định các con trong một gia đình không phân biệt nam, nữ, độ tuổi, có hay không có năng lực hàng vi dân sự đều được thừa kế những phần ngang nhau nếu được hưởng thừa kế theo pháp luật Pháp luật còn quy định con nuôi có các quyền và nghĩa vụ như con ruột trong việc nhận di sản thừa kế
Có thể nhận thấy, nguyên tắc bình đẳng giữa các giữa các chủ thể trong việc để lại di sản và nhận di sản thừa kế nhằm bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng của công dân trong quan hệ tài sản, nhằm củng cố tình đoàn kết trong gia đình, dòng họ và loại trừ tư tưởng trọng nam, khinh nữ, phân biệt đối xử giữa các thành viên trong gia đình và xã hội15
1.2.3 Nguyên tắc cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Pháp luật về thừa kế không quy định về độ tuổi cũng như năng lực nhận di sản thừa kế mà chỉ quy định quyền cá nhân được hưởng di sản Như vậy, người có hay không có năng lực hành vi dân sự cũng được hưởng thừa kế nếu họ dược hưởng theo đúng quy định của pháp luật
Pháp luật cũng công nhận quyền thừa kế của người không có năng lực pháp luật như trường hợp người đã thành thai nhưng chưa sinh ra Bởi vì, theo quy định pháp
luật Việt Nam thì “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra
và chấm dứt khi người đó chết” 16 Như vậy, khi phân chia di sản nếu có người thừa kế
cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh
ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng 17
Qua đó, nguyên tắc này loại trừ của những người có quyền thừa kế di sản của nhau nhưng đều chết trước trong cùng một thời điểm hoặc chết trước người để lại di
14 Khoản 1 Điều 31 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
15 Phùng Trung Tập: Luật thừa kế Việt Nam Nxb Hà Nội, năm 2008, trang 12.
16 Khoản 3 Điều 14 Bộ luật dân sự năm 2005.
17 Khoản 1 Điều 685 Bộ luật dân sự năm 2005.
Trang 17sản thừa kế thì họ không được thừa kế di sản Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định những trường hợp bị tước quyền thừa kế, từ chối nhận di sản thừa kế hợp pháp thì cũng không được nhận di sản thừa kế và người thừa kế không được nhường quyền thừa kế cho người khác nhận di sản.
1.2.4 Nguyên tắc người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết
để lại
Người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại “người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”18 Theo quy định này, thì việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại thuộc về người hưởng di sản thừa kế Nghĩa vụ tài sản do người chết để lại mà người hưởng di sản thực hiện được hiểu là người thừa kế kế quyền tài sản, đồng thời phải thực hiện nghĩa
vụ về tài sản của người chết để lại bằng chính tài sản của người chết đó và chỉ thực hiện trong phạm vi giá trị tài sản được nhận Và người thừa kế không phải là người thứ
ba thực hiện nghĩa vụ mà người thừa kế thực hiện nghĩa vụ của người chết để lại bằng chính tài sản của người chết đó Người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại nếu người đó từ chối nhận di sản thừa kế theo đúng quy định của pháp luật Còn người thứ ba thực hiện nghĩa vụ thì phải thực hiện chính bằng tài sản và công sức của mình một cách đầy đủ cho bên có quyền Nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại mà người thừa kế tiến hành chỉ thuộc phạm vi tài sản và quyền về tài sản do người chết để lại19
Trên đây là những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ thừa kế Việt Nam Ngoài những nguyên tắc cơ bản đó thì trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài còn
có các nguyên tắc đặc thù riêng Tuy nhiên các nguyên tắc đặc thù đó cũng phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam trong quan hệ thừa kế
1.3 Các nguyên tắc chọn luật giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế
Như đã đề cập, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài thường được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, do đó, mỗi hệ thống pháp luật có cách chọn luật cũng rất khác nhau Nhưng có thể nhìn nhận rằng trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng thì việc chọn luật chủ yếu vào những nguyên tắc cơ bản sau:
1.3.1 Nguyên tắc hệ thuộc Luật quốc tịch
Hệ thuộc Luật quốc tịch được hiểu là luật của nước mà đương sự là công dân
18 Khoản 1 Điều 637 Bộ luật dân sự năm 2005.
19 Phùng Trung Tập: Luật Thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, năm 2008, trang 15.
Trang 18Nó là một dạng của hệ thuộc Luật nhân thân Trong quan hệ thừa kế thì hệ thuộc Luật quốc tịch chỉ áp dụng trong trường hợp thừa kế tài sản là động sản Theo đó, khi một quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài phát sinh giữa công dân nước nào thì pháp luật của nước đó sẽ được đưa ra áp dụng để điều chỉnh Như vây, đặc điểm của nguyên tắc này phải xác định được quốc tịch của công dân trong quan hệ thừa kế Nguyên tắc hệ thuộc Luật quốc tịch được một số nước áp dụng như Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Cuba và ở Việt Nam nguyên tắc Luật quốc tịch cũng được pháp luật ghi nhận trong một số văn bản, trong đó có quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài như:
“Thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di
sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết 20
Di sản không có người thừa kế là động sản thuộc về Nhà nước mà người để lại
di sản thừa kế có quốc tịch trước khi chết 21
Năng lực lập di chúc, thay đổi và hủy bỏ di chúc phải tuân theo pháp luật của nước mà người lập di chúc là công dân” 22
Tóm lại, nguyên tắc Luật quốc tịch nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của công dân mình không phụ thuộc vào nơi cư trú của công dân
1.3.2 Nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi cư trú
Đây cũng là một dạng của nguyên tắc hệ thuộc Luật nhân thân Theo đó, hệ thuộc Luật nơi cư trú là luật mà đương sự có nơi cư trú Khi xét về mặt nội dung nơi
cư trú trong luật của các nước hoàn toàn không giống nhau, tùy điều kiện từng nước và tùy từng trường hợp cụ thể có thể luật nơi cư trú là luật nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi thường trú cuối cùng của đương sự23
Ở Việt Nam, ngoài việc áp dụng nguyên tắc hệ thuộc Luật quốc tịch thì nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi cư trú cũng được pháp luật quy định trong một số trường hợp
như người để lại tài sản không có quốc tịch hoặc có hai hay nhiều quốc tịch: “ pháp
luật áp dụng đối với người không quốc tịch là pháp luật của nước nơi người đó cư trú; pháp luật áp dụng đối với người nước ngoài có hai hay nhiều quốc tịch nước ngoài là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát
20 Khoản 1 Điều 767 Bộ luật dân sự 2005.
21 Khoản 4 Điều 767 Bộ luật dân sự 2005.
22 Khoản 1 Điều 768 Bộ luật dân sự 2005.
23 Diệp Ngọc Dũng - Cao Nhất Linh: Tập bài giảng Tư pháp quốc tế , Khoa Luật - Đại học Cần Thơ, năm
2002, trang 20.
Trang 19sinh quan hệ dân sự; ” 24
Nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi cư trú được sử dụng trong hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Na Uy, Đan Mạch và một số nước Mỹ latinh như Braxin, Nicaragoa
Tuy nhiên, có một số nước sử dụng cả hai nguyên tắc hệ thuộc Luật quốc tịch
và nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi cư trú để áp dụng như Áo, thụy Sỹ, Chi Lê, Mêhicô, Pêru với mục đích người nước ngoài phụ thuộc vào luật của nước mình, đồng thời buộc tất cả các công dân nước mình sống ở nước ngoài cũng phải phụ thuộc vào nước mình
1.3.3 Nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi có vật
Theo nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi có vật (tài sản) thì vật ở nước nào thì áp dụng pháp luật ở nước đó để giải quyết Trong quan hệ thừa kế thì hệ thuộc Luật nơi
có vật được áp dụng để giải quyết về thừa kế tài sản là bất động sản Như vậy, theo nguyên tắc này thì việc giải quyết thừa kế là bất động sản, phải căn cứ vào luật của
nước nơi có bất động sản đó Pháp luật Việt Nam quy định, quyền thừa kế đối với bất
động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó 25 Bên cạnh đó, hệ
thuộc Luật nơi có vật cũng áp dụng cả trong trường hợp thừa kế bất động sản mà không có người hưởng thừa kế Nhìn chung, trong trường hợp này các nước thường
quy định tài sản đó thuộc sở hữu của nhà nước Theo pháp luật Việt Nam quy định, di
sản không có người thừa kế là bất động sản thuộc về Nhà nước nơi có bất động sản
đó 26 Còn đối với động sản thuộc về Nhà nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc
tịch trước khi chết
Ngoài ra, nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi có vật được áp dụng để định danh tài sản Trong quan hệ thừa kế việc định danh tài sản rất quan trọng, khi xác định được tài sản đó là động sản hay bất động sản thì việc áp dụng pháp luật sẽ được dễ dàng hơn
Do đó, trong trường hợp định danh tài sản pháp luật Việt Nam quy định, việc phân biệt
tài sản là động sản hoặc bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản 27
Tóm lại, nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi có vật áp dụng trong quan hệ thừa kế tài sản là bất động sản bảo vệ được lợi ích của công dân mình và tài sản của đất nước
1.3.4 Nguyên tắc hệ thuộc Luật tòa án
24 Khoản 1, 2 Điều 760 Bộ luật dân sự 2005.
25 Khoản 2 Điều 767 Bộ luật dân sự 2005.
26 Khoản 3 Điều 767 Bộ luật dân sự 2005.
27 Khoản 3 Điều 766 Bộ luật dân sự 2005.
Trang 20Hệ thuộc Luật tòa án là luật của nước nơi có tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc Theo đó, khi tòa án của một nước nào thụ lý giải quyết thì tòa án đó sử dụng chính luật của nước mình để áp dụng Như vậy, nếu tòa án Việt Nam thụ lý thì tòa án
sẽ sử dụng pháp luật của Việt Nam giải quyết Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ không áp dụng nguyên tắc hệ thuộc Luật tòa án:
- Khi các Hiệp định quốc tế và luật trong nước có quy định rằng có thể áp dụng hình thức tố tụng nước ngoài
- Khi luật trong nước có quy định năng lực hành vi tố tụng của những người trong các vụ án dân sự hoặc có thể xác định theo Luật tòa án hoặc có thể xác định theo Luật nhân thân28
Nhìn chung, trong pháp luật các nước đều ghi nhận nguyên tắc này Đây là nguyên tắc được sử dụng phổ biến nhất trong việc giải quyết những vấn đề về tố tụng
1.3.5 Nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi thực hiện hành vi
Nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi thực hiện hành vi được hiểu là hành vi thực hiện
ở nước nào sẽ được điều chỉnh theo pháp luật của nước đó Trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài thì nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi thực hiện hành vi thường được áp dụng để điều chỉnh về thừa kế theo di chúc.Theo pháp luật Việt Nam quy định, hình
thức của di chúc phải tuân theo pháp luật của nước nơi lập di chúc 29 Như vậy, nếu di
chúc lập tại Việt Nam thì phải tuân theo luật Việt Nam về hình thức của di chúc đó Nhìn chung, việc áp dụng hệ thuộc Luật nơi thực hiện hành vi tạo điều kiện cho các nước có di chúc được lập dễ dàng trong việc xác định tính hợp pháp của hình thức di chúc
Trên đây là những nguyên tắc chọn luật điều chỉnh cơ bản trong quan hệ thừa
kế có yếu tố nước ngoài, mỗi nguyên tắc đều có quy định riêng về cách chọn luật nhưng tất cả đều có quan hệ với nhau tạo cơ sở cho việc giải quyết xung đột về thừa kế giữa các quốc gia với nhau Ngoài những nguyên tắc đặc thù trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài thì nguồn luật áp dụng để điều chỉnh các quan hệ thừa kế đó cũng
có vai trò quan trọng
1.4 Nguồn luật áp dụng điều chỉnh quan hệ thừa kế trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
Nguồn của luật là nơi chứa đựng những nguyên tắc và các quy phạm pháp luật
28 Diệp Ngọc Dũng - Cao Nhất Linh: Tập bài giảng Tư pháp quốc tế, Khoa Luật - Đại học Cần Thơ, năm 2002,
trang 22.
29 Khoản 2 Điều 768 Bộ luật dân sự 2005.
Trang 21để điều chỉnh một quan hệ xã hội Trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng thì nguồn luật điều chỉnh quan hệ đó chủ yếu là Điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế Trong đó, Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia được xem là hai nguồn luật cơ bản bản nhất trong quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài.
1.4.1 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế là văn bản pháp luật quốc tế, nó là sự thỏa thuận giữa các quốc gia với nhau để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào Điều ước quốc tế đó Điều ước quốc tế là một nguồn quan trọng của pháp luật quốc gia Khi một quan hệ pháp luật phát sinh giữa các quốc gia với nhau thì Điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng trước pháp luật quốc gia Điều ước quốc tế không chỉ điều chỉnh một quan hệ phát sinh mà có thể điều chỉnh nhiều vấn đề khác nếu được các chủ thể tham gia điều ước thỏa thuận Như vậy, để xác định một Điều ước quốc tế có phải là một nguồn của pháp luật quốc gia thì phải căn cứ vào đối tượng điều chỉnh của Điều ước quốc tế đó khi mà quốc gia đó đã tham gia vào Vì vậy, các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có các quy phạm điều chỉnh về thừa kế được xem là nguồn luật điều chỉnh về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Hiện nay, Việt Nam đã ký kết rất nhiều các Điều ước quốc tế song phương và đa phương với các nước trên thế giới nhằm điều chỉnh nhiều lĩnh vực trong xã hội, bên cạnh đó là những quy định về thừa kế có yếu tố nước ngoài chủ yếu là các Hiệp định tương trợ tư pháp Nội dung của các hiệp định này thường không quy định việc giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên mà chỉ đưa ra những nguyên tắc chọn pháp luật
để áp dụng Các nguyên tắc và quy định trong Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết với các nước là cơ sở pháp lý cho Việt Nam và các nước ký kết thực hiện việc điều chỉnh thừa kế có yếu tố nước ngoài
1.4.2 Pháp luật Việt Nam
Đây là nguồn luật quan trọng bên cạnh những Điều ước quốc tế Pháp luật Việt Nam quy định về thừa kế có yếu tố nước ngoài không ở một văn bản pháp luật cụ thể
mà chủ yếu nằm rãi rác trong các văn bản pháp luật khác nhau Đó là những hệ thống pháp luật thành văn và chủ trong các văn bản sau: Hiến pháp đây được xem là đạo luật
cơ bản và là đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất của pháp luật Việt Nam Qua các thời
kỳ phát triển, đất nước ta đã trãi qua bốn Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980
và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) các Hiến pháp đều thể hiện
Trang 22nguyên tắc Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu và quyền thừa kế của công dân Hiến pháp quy định những nguyên tắc chung về thừa kế và các nguyên tắc đó đã được pháp điển hóa trong một số văn bản quy phạm pháp luật khác, cụ thể trong Bộ luật dân sự mà nhà nước đã ban hành năm 2005 Bộ luật dân sự năm 2005 đã khẳng định quyền thừa
kế tài sản của công dân luôn được bảo hộ và không ngừng được thay đổi với quá trình phát triển của xã hội Trong đó, quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng được chú trọng nhiều hơn Bộ luật dân sự năm 2005 thay thế cho Bộ luật dân sự 1995 cũng đã dành Phần thứ bảy quy định về các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó Điều 767 và Điều 768 quy định về quan hệ thừa kế theo di chúc và pháp luật có yếu tố nước ngoài Và các quan hệ đó đã được Nghị định 138 năm 2006 hướng dẫn chi tiết để làm rõ thêm về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và thừa kế có yếu tố nước ngoài Bên cạnh các văn bản pháp luật nói trên, thì quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài cũng được quy định trong một số văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành như Luật đất đai năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật nhà ở năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
1.4.3 Pháp luật nước ngoài
Khác với Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, pháp luật nước ngoài được xem là nguồn để áp dụng điều chỉnh các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài khi được pháp luật Việt Nam cho phép Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam, pháp luật nước ngoài được áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng nếu được pháp luật Việt Nam quy định hoặc có Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết với các nước dẫn chiếu đến hoặc có sự thỏa thuận giữa các quốc gia với nhau áp dụng pháp luật nước ngoài đó Nhưng việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài đó phải không trái với những nguyên tắc của cơ bản và quy định của pháp luật Việt Nam
1.4.4 Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành trong một thời gian dài, được áp dụng khá liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được sự thừa nhận đông đảo của các quốc gia30 Tập quán quốc tế được xem là nguồn của tư pháp quốc tế Nhưng trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài nói riêng thì không phải tập quán quốc tế nào cũng được xem là nguồn để điều chỉnh Theo pháp luật Việt Nam, khi một quan hệ pháp luật thừa kế phát
30 Bùi Xuân Nhự (chủ biên): Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2004, trang 25.
Trang 23sinh theo tập quán của một nước nào đó sẽ được áp dụng và hậu quả của việc áp dụng
đó không trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì cũng được coi
là một nguồn để điều chỉnh quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài
Qua phân tích, có thể nhận thấy những quy định về thừa kế trong pháp luật Việt Nam luôn bảo vệ quyền thừa kế của công dân mình cũng như công dân các nước khác khi tham gia vào quan hệ thừa kế, đó là cơ sở để công dân yên tâm tạo ra nhiều của cải cho gia đình và xã hội
Trang 24Ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một cách biệt lập
mà không có quan hệ với các quốc gia khác Nói cách khác quan hệ hợp tác quốc tế không chỉ là nhu cầu nội tại thiết thực của bản thân mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy mạnh
mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước, mà còn là trách nhiệm - nghĩa vụ của các quốc gia xét dưới góc độ pháp luật quốc tế Tương trợ tư pháp quốc tế là một biểu hiện của nguyên tắc về nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia - một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại Thấy được tầm quan trọng như vậy nên Việt Nam luôn tạo cho mình một quan hệ quốc tế rộng, do đó đã không ngừng ký kết các hiệp định tương trợ với các nước
Tính đến nay, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định tương trợ tư pháp với các nước trong đầy đủ các lĩnh vực dân sự, thương mại, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã ký hiệp định về lãnh sự với nhiều quốc gia khác Các hiệp định tương trợ tư pháp này được ký kết với các nước mà có nhiều công dân Việt Nam sinh sống và các nước có nhiều công dân sinh sống ở Việt Nam Trong
đó, Việt Nam ký kết với một số nước tiêu biểu như Trung Quốc, Ba Lan, Mông Cổ 31
Có thể nói rằng, trong các hiệp định này, vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài
đã được cụ thể hóa thành một hệ thống các quy phạm khá đầy đủ điều chỉnh kịp thời các quan hệ thừa kế nói chung và quan hệ thừa kế theo pháp luật nói riêng phát sinh giữa các nước với nhau
Nguyên tắc chỉ đạo trong vấn đề thừa kế được ghi nhận trong các hiệp định tương trợ tư pháp này là nguyên tắc bình đẳng giữa công dân các bên trong quan hệ thừa kế Nguyên tắc này biểu hiện cụ thể như sau: Công dân của nước ký kết này có quyền thừa kế tài sản trên lãnh thổ của nước ký kết kia như công dân của nước ký kết kia, công dân nước ký kết này bình đẳng với công dân nước ký kết kia trong việc lập hoặc hủy bỏ di chúc đối với tài sản đang có và các quyền cần thực hiện ở nước ký kết kia, cũng như về khả năng được nhận tài sản hoặc các quyền theo cùng những điều
31 Xem Phụ lục 1: Danh mục một số nước Việt Nam ký hiệp định tương trợ tư pháp.
Trang 25kiện mà nước ký kết kia dành cho công dân của nước mình
Nhìn chung, theo các hiệp định tương trợ tư pháp, việc giải quyết các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài được các bên thỏa thuận khá cụ thể và rõ ràng Các quy định về thừa kế trong các hiệp định tương trợ tư pháp không giải quyết trực tiếp quyền thừa kế mà nó chỉ hướng dẫn cho các nước ký kết cần phải áp dụng pháp luật của nước
ký kết nào để điều chỉnh quan hệ thừa kế phát sinh đó Có thể nói nội dung của các hiệp định tương trợ tư pháp về quan hệ thừa kế nói chung chứa các quy phạm xung đột thống nhất
Theo các hiệp định tương trợ tư pháp, di sản thừa kế theo pháp luật cũng được các bên ký kết thỏa thuận trong việc định danh tài sản thừa kế và nó được chia di sản thành động sản và bất động sản Việc định danh di sản đó là động sản hay bất động sản còn phải căn cứ vào quy định pháp luật của quốc gia ký kết mà có tài sản thừa kế nằm trên quốc gia đó
Ví dụ: - Hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự và hình sự giữa Việt Nam và
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, khoản 3 Điều 36 có quy định “Việc phân biệt di sản
là động sản hoặc bất động sản tuân theo pháp luật của Nước ký kết nơi có di sản”
- Hoặc hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Liên bang Nga,
khoản 3 Điều 39 cũng có quy định “Việc phân biệt di sản là động sản hay bất động
sản được xác định theo pháp luật của Bên ký kết nơi có di sản”
Như vậy, có thể thấy các hiệp định tương trợ tư pháp về quan hệ thừa kế mà Việt Nam ký kết với các nước hữu quan trong việc định danh tài sản, các quốc gia đã
chọn nguyên tắc hệ thuộc Luật nơi có vật để điều chỉnh vấn đề đó Tóm lại, việc phân
biệt động sản hay bất động sản các hiệp định tương trợ tư pháp ghi nhận nguyên tắc: Pháp luật của nước ký kết nơi có tài sản thừa kế là pháp luật được áp dụng Như vậy, nếu tài sản thừa kế nằm trên lãnh thổ Việt Nam, pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng
để xác định động sản và bất động sản Nếu tài sản thừa kế nằm ở nước ngoài hữu quan thì áp dụng pháp luật của nước đó
Cùng với các quy định trong các hiệp định lãnh sự, các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký kết đều nhằm mục đích bảo vệ quyền thừa kế và tài sản thừa
kế của công dân của các nước hữu quan Tuy nhiên, điểm quan trọng nhất trong các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự, hôn nhân - gia đình, hình sự là chúng đã ghi nhận các quy phạm xung đột nhằm giải quyết xung đột về pháp luật thừa kế
Căn cứ vào những quy định trong các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam