1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại THUẾ sử DỤNG đất NÔNG NGHIỆP

48 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 351,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp tuy đã phát huy được nhiều hiệu quả tích cực trên các phương diện kinh tế xã hội, song đứng trước xu thế hiện nay nó không còn phù hợp d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Giảng viên hướng Sinh viên thực hiện:

MSSV: 5075230 Lớp: Thương Mại III K33

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Lời nói đầu 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP 5

1.1.Giai đoạn từ năm 1945 đến 1981: 5

1.2.Giai đoạn từ năm 1981 đến 1988 : 6

1.3.Giai đoạn từ năm 1988 đến 2003 : 7

1.4.Giai đoạn đổi mới hiện nay : 9

1.5.Tổng quan về thuế sử dụng đất nông nghiệp : 12

1.5.1.Thuế sử dụng đất nông nghiệp qua các thời kì : 12

1.5.1.1Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954 : 12

1.5.1.2Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975 : 12

1.5.1.3Giai đoạn từ năm 1975 đến 1990 : 13

1.5.1.4 Thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện nay : 13

1.5.2 Kết luận chung : 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 15

2.1 Quy phạm pháp luật về thuế sử dụng đất nông nghiệp : 15

2.1.1Đối tượng nộp thuế : 15

2.1.2Đối tượng chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp : 16

2.1.3Căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp : 17

2.1.3.1 Thứ nhất yếu tố đất : 17

2.1.3.2 Thứ hai yếu tố về vị trí : 18

2.1.3.3 Thứ ba yếu tố về địa hình : 19

Trang 4

2.1.3.4 thứ tư yếu tố điều kiện khí hậu, thời tiết : 19

2.1.3.5 Thứ năm yếu tố điều kiện tưới tiêu : 20

2.1.4 Một số vấn đề về miễn thuế trong thuế sử dụng đất nông nghiệp : 23

2.1.4.1 Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong luật thuế : 23

2.1.4.2 Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp theo nghị quyết 15 : 25

2.2 Chính sách thuế nông nghiệp của nước ta : 25

CHƯƠNG 3: TƯƠNG LAI NÀO CHO THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 29

3.1 Tình hình thu thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện nay : 29

3.1.1 Một số khó khăn và thuận lợi : 29

3.1.2 Thu thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện nay : 31

3.2 Đề nghị miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp : 32

3.2.1 Một số kết quả…… Nghị quyết 15 : 32

3.2.2 Một số vấn đề trong công tác quản lý đất nông nghiệp Và các đề xuất : 34

3.2.3 Đề nghị miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp : 36

KẾT LUẬN 43

Trang 5

Lời Nói Đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Xu thế hội nhập và lên kết kinh tế đồng nghĩa với việc xóa bỏ hàng rào thuế quan,

và như vậy, một số loại thuế mới ra đời nhằm đảm bảo cho nguồn thu ngân sách Nhà nước theo hướng hệ thống thuế cần cơ cấu theo hướng tăng tỉ trọng thuế trực thu như: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp,…

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới và phát triển nên bình quân GDP trên đầu người đang gia tăng, tài sản của Nhà nước, của tổ chức kinh tế xã hội cũng tăng Việc gia tăng tài sản kinh tế xã hội cũng đặt cho chúng ta nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong công tác quản lý Thuế tài sản trong đó có thuế về quyền sử dụng đất là một trong những công cụ tài chính quan trọng, không chỉ đơn thuần là nhiệm vụ thu ngân sách mà còn là công cụ tài chính để điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô điều chỉnh sự vận động của nền kinh tế nói chung và tài sản nói riêng, góp phần thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, điều tiết thu nhập từ khu vực cao sang khu vực có thu nhập thấp hơn hạn chế sự chênh lệnh quá mức trong tầng lớp dân cư, các thành phần kinh tế

So với các loại thuế thu trên thu nhập thì thuế tài sản chưa thật sự phát triển ở nước ta do đặc điểm của tình hình kinh tế xã hội Nhà nước chỉ thực hiện thu thuế đối với quyền sử dụng đất chứ chưa nhắm đến tài sản khác Quyền sử dụng đất thuộc đối tượng thu thuế bao gồm đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp

Trong đó, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp tuy đã phát huy được nhiều hiệu quả tích cực trên các phương diện kinh tế xã hội, song đứng trước

xu thế hiện nay nó không còn phù hợp do đời sống của người nông dân còn nhiều khó khăn mà chi phí đầu tư vào quá trình sản xuất thì quá cao như giá các loại phân bón, thuốc trừ sâu đều tăng ở mức rất cao Mặt khác, quản lý thuế còn cồng kềnh, sự yếu kém của cán bộ thu thuế làm cho việc thu thuế trở nên tốn kém

Trang 6

Nghị Quyết số 15 của Quốc Hội khóa 11 ngày 17 tháng 06 năm 2003 thực hiện miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn từ 2003 đến 2010, ngày 24 tháng 11 năm 2010, Quốc Hội bểu quyết tiếp tục miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp Đây là một chính sách rất hay có giá trị về mặt kinh tế

và cả chính trị Chính sách này vừa giải quyết được một số vấn đề xã hội trong giai đoạn hóa độ sang nền kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa vừa cho phép nhà nước thời gian để điều chỉnh nghiên cứu, xây dựng các chính sách thuế hợp

lý đối với đất nông nghiệp Vì vậy, việc nghiên cứu thuế sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, kể cả trong giai đoạn miễn giảm thuế Từ những suy nghĩ trên em chọn đề tài “ Thuế sử dụng đất nông nghiệp” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là giúp người viết và người đọc hiểu được những quy định phù hợp, không phù hợp của thuế sử dụng đất nông nghiệp cũng như chính sách miễn thuế có tác dụng tích cực gì và từ đó đưa ra những ý kiến cá nhân về thuế sử dụng đất nông nghiệp cũng như chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về những quy định của luật thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với đất nông nghiệp

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu những quy định của pháp luật thuế đối với việc sử dụng đất nông nghiệp, người viết đã lựa chọn, sử dụng nhiều phương thức, thao tác để tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề trong luận văn như phương pháp sưu tầm thông tin, nghiên cứu lý luận dựa trên quy định của luật, nghị định, thông tư, giáo trình, sách, cập nhật các thông tin trên sách, báo, internet liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu

Đồng thời người viết sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, bình luận

về các quy định của luật thuế sử dụng đất nông nghiệp theo hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn đề tài và đưa ra ý kiến cá nhân về một số quy định của luật thuế sử dụng đất nông nghiệp và đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần định hướng tương lai cho thuế sử dụng đất nông nghiệp

5 Kết cấu đề tài

Trang 7

Đề tài được chia thành ba phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận Phần nội dung gồm ba chương:

Chương 1: Trình bày tổng quan về đất nông nghiệp qua các thời kỳ, tìm

hiểu khái quát và từ đó đưa ra thực trạng về đất nông nghiệp hiện nay như quá trình đô thị hóa làm cho diện tích đất ngày càng giảm mà trong khi đó nhu cầu

sử dụng đất ngày càng tăng Trong chương này, người viết tìm hiểu về thuế sử dụng đất nông nghiệp qua các thời kỳ hiểu cơ bản về chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ta

Chương 2: Giới thiệu cụ thể nội dung luật thuế sử dụng đất nông nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu từ chương 1, người viết đi sâu vào nghiên cứu nội dung

cụ thể của luật thuế sử dụng đất nông nghiệp Chương 2 giới thiệu quy định chung nhất của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, về người nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, thuế suất và chính sách miễn thuế, giảm thuế đối với thuế sử dụng đất nông nghiệp Từ đó người viết tìm hiểu, phân tích và chỉ ra những quy định đã không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay cũng như mặt tích cực của chính sách miễn thế sử dụng đất nông nghiệp vừa có lợi về kinh tế và chính trị trong giai đoạn hiện nay

Chương 3: Ở chương 3, người viết sẽ nêu lên sự khó khăn và thuận lợi

của thuế sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá kết quả đạt được của chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cũng như một số giải pháp xoay quanh vấn

đề miễn thuế và công tác quản lý hiện nay

Trang 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.1.Giai đoạn từ năm 1945 đến 1981:

Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề sử dụng đất đai Những mâu thuẫn trong chính sách đất đai (vấn đề tiếp cận đất đai, sở hữu và sử dụng đất đai) đã diễn ra trong suốt thời kì thuộc địa của thực dân Pháp; trong thời kì chiến tranh chống Mỹ và các chính sách của chính phủ ta từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975

Trước ngày khai sinh nước Việt Nam độc lập (ngày 2 tháng 9 năm 1945), đất nông nghiệp được chia thành hai loại chính là: đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Khu vực nông thôn được chia thành hai tầng lớp dựa theo tính chất sở hữu của đất đai: địa chủ và tá điền Tầng lớp địa chủ chiếm khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích đất, trong khi đó 59% hộ nông dân là

tá điền không đất đai và đi làm thuê cho tầng lớp địa chủ.1

Sau năm 1945, Chính phủ ta đề xuất những thay đổi trong chính sách nông nghiệp Trong giai đoạn đầu, vào khoảng năm 1952, Chính phủ ta đã thực hiện phân chia lại ruộng đất và đồng thời, giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và tá điền Sau khi kết thúc chiến tranh Miền Bắc tiến lên xây dụng Chủ Nghĩa Xã Hội (năm 1954), thực hiện chương trình cải cách ruộng đất cơ bản Mục đích nhằm công hữu hóa ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp và tiến hành phân chia lại cho hộ nông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu hiệu

“người cày có ruộng” Và đã đạt được kết quả bước đầu là khoảng ¼ diện tích ruộng đất được phân chia lại cho người nông dân với mục tiêu công bằng dù ít hay nhiều, đem lại lợi ích cho khoảng 73% người dân ở nông thôn

Giai đoạn tiếp theo của cải cách đất đó là Miền Bắc bước sang giai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu (bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao) Đến năm 1960, khoảng 86% hộ nông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp Trong hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất Ở hình thức hợp tác

1 Phát Triển Nông Thôn Và Chính Sách Đất Đai Ở Việt Nam, Sally P, Marsh, T Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng biên tập, Trang 15, sách điện tử, Phạm Văn Hùng, 2007.

Trang 9

xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sản xuất khác như :trâu,

bò gia súc và các công cụ khác vào hợp tác xã dưới sự quản lý chung Từ năm

1961 đến năm 1975 có khoảng 20.000 hợp tác xã bậc cao ra đời với sự tham gia của khoảng 80% hộ nông dân.2

Trong thời kì này, ở Miền Nam Chính Phủ của chính quyền Sài Gòn cũ thực hiện Chương trình cải cách điền địa, thông qua việc quản lý thuê đất; quy định

về mức hạn điền (năm 1956) và chương trình phân chia lại đất đai (năm 1970) Kết quả là khoảng 1,3 triệu hecta đất nông nghiệp phân chia lại cho hơn 1 triệu

hộ nông dân vào năm 1970, và quá trình này được biết đến với khẩu hiệu

“ruộng đất về tay người cày” và hoàn thành vào cuối năm 1974.3

Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, Chính phủ nước CHXHCNVN tiếp tục phát triển xa hơn nữa theo hướng tập thể hóa Ở Miền Bắc các hợp tác xã nông nghiệp mở rộng quy mô từ hợp tác xã toàn thôn đến hợp tác xã toàn xã Ở Miền Nam, nông thôn vẫn được phép hoạt động dưới hình thức thị trường tự do đến tận năm 1977 - 1978 sau đó cũng từng bước theo hướng tập thể hóa

1.2 Giai đoạn từ năm 1981 đến 1988:

Cải cách trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu bằng Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng hay còn gọi là khoán 100 Dưới chính sách khoán 100, các hợp tác xã giao đất nông nghiệp đến nhóm và người lao động Những người này có trách nhiệm trong ba khâu của quá trình sản xuất Sản xuất vẫn dưới sự quản lý của hợp tác xã, cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất ra và ngày công đóng góp trong ba khâu của quá trình sản xuất Đất đai vẫn thuộc sở hữu Nhà nước và dưới sự quản lý của hợp tác xã

Ở Miền Nam một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai điều này hiển nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai

2 3 Phát Triển Nông Thôn Và Chính Sách Đất Đai Ở Việt Nam, Sally P, Marsh, T Gordon MacAulay

và Phạm Văn Hùng biên tập, Trang 16,17.ở website:

http://aciar.gov.au/system/files/node/770/MN123a.pdf Cập nhật[27/09/2010]

3

Trang 10

Để giải quyết vấn đề trên, Chính sách đổi mới trong nông nghiệp đã được thực hiện theo tinh thần của nghị quyết 10 của Bộ Chính trị vào tháng 4 năm 1988 Với sự ra đời của Nghị quyết 10 thường được biết đến với tên khoán 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10 đến 15 năm và lần đầu tiên

hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp.Một khía cạnh của chính sách này đó là người nông dân ở Miền Nam được giao lại đất đã sở hữu trước năm 1975

1.3 Giai đoạn từ năm 1988-2003

Tuy nhiên, cùng với khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một số quyền sử dụng đất như cho hoặc thừa kế chưa được luật pháp hóa và thừa nhận Bên cạnh đó là ruộng đất bị bỏ hoang không có quy hoạch cụ thể cũng gây khó khăn như vấn đề an ninh lương thực Mà trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của hợp tác xã nông nghiệp Để giải quyết vấn đề này Luật đất đai đã ra đời năm 1993

Theo luật đất đai 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền –quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thuế chấp Người có nhu cầu sử dụng đất được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hằng năm và ngư nghiệp, 50 năm đối với cây lâu năm Việc giao đất sẽ được tiến hành lại tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đất vẫn có nhu cầu sử dụng Luật đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thể đối với cây hằng năm là 2 hecta ở miền Bắc và các tỉnh phía Nam đối với cây lâu năm quy định tối đa là 10 hecta đối với các xã vùng đồng bằng và 30 hecta đối với vùng trung du và miền núi.4

Cùng với việc giao đất cho hộ nông dân thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được cơ quan chức năng xem xét và cấp cho các hộ nông dân Đến năm

1998, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2000 con số này là trên 90% Đối với đất rừng ở khu vực trung du và miền núi nơi có rất nhiều phong tuc tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn,

4 Luật Đất Đai Năm 1993.

Trang 11

quá trình cấp giấy chứng nhận diễn ra chậm hơn và quá trình này vẫn đang tiếp tục.5

Vào năm 1998, người nông dân được giao thêm 2 quyền sử dụng nữa đó là quyền cho thuê lại và quyền được góp vốn đầu tư kinh doanh bằng đất đai Năm 2001, những sửa đổi bổ sung Luật Đất đai năm 1993 cho phép người sử dụng đất đai được tặng cho họ hàng và được đền bù nếu bị thu hồi Sự bổ sung này cũng đưa ra một loạt các thay đổi liên quan đến đất đai và thay đổi trong thủ tục đăng ký đất đai Luật đất đai được ban hành vào tháng 12 năm 2003 và

có hiệu lực từ tháng 7 năm 2004 Đối với đất nông nghiệp không có sự thay đổi

về thời hạn sử dụng và diện tích hạn điền so với Luật Đất đai năm 1993 Tuy nhiên, lần đầu tiên đất đai được chính thức xem như là “hàng hóa đặc biệt” có giá trị và chính vì thế có thể chuyển nhượng (thương mại) Luật đất đai mới khẳng định “đất đai là tài sản của Nhà Nước” và cũng cho rằng cần có sự khuyến khích đối với thị trường bất động sản bao gồm thị trường các quyền sử dụng đất đối với khu vực thành thị Cá nhân (người nông dân) và các tổ chức kinh tế được quyền tham gia vào thị trường này

Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm trong suốt giai đoạn 1994-1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000-2003 Việc sử dụng đất nông nghiệp cũng tương đối đi vào quy hoạch diện tích đất bỏ hoang

đã được sử dụng triệt để và có hiệu quả an toàn lương thực quốc gia không còn

là vấn đề quan trọng nữa và nghèo đói đang từng bước bị đẩy lùi.6

Tuy nhiên, nông dân nước ta vẫn còn tương đối nghèo và một tỉ lệ dân

số cao, sống dựa vào nông nghiệp là chủ yếu và họ chỉ tập trung ở nông thôn Liên quan dến đất đai, Nhà nước đã nỗ lực hoàn thành việc giao đất (rừng) và hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

5 Nguồn Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2002 giao đất cho hộ gia đình.

6 Phát Triển Nông Thôn Và Chính Sách Đất Đai Ở Việt Nam, Sally P, Marsh, T Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng biên tập, Trang 18.

http://aciar.gov.au/system/files/node/770/MN123a.pdf [cập nhật 30/09/2010]

Trang 12

Ngoài ra, những vấn đề liên quan đến đền bù đất đai và xu hướng quyền sử dụng đất được giao sở hữu ổn định và lâu dài là áp lực cần được xem xét Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người nông dân để họ yên tâm sản xuất và Nhà nước cũng khuyến khích nông dân tăng gia sản xuất nhằm cải thiện cuộc sống và nâng cao thu nhập cho người dân.

Những chính sách cải cách ruộng đất vào năm 1993 với mục đích giúp người nông dân có được sự bảo đảm trong việc sử dụng đất thông qua việc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định, lâu dài và cung cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất

1.4 Trong giai đoạn đổi mới hiện nay:

Việt Nam là một nước nông nghiệp truyền thống với trên 70% dân số làm nông nghiệp, đất trồng trọt và đất rừng chiếm 60% tổng diện tích lãnh thổ, tổng giá trị nông nghiệp chiếm 20% GDP, nông nghiệp – nông thôn – nông dân chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế xã hội Việt Nam Từ khi đổi mới mở cửa đến nay, Việt Nam đã không ngừng đổi mới chính sách đất đai, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, khiến nông nghiệp nông thôn phát triển mạnh và đã

có ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam Bên cạnh sự phát triển đó vấn đề đô thị hóa nông thôn diễn ra ngày càng nhanh chóng, vấn đề quy hoạch không sát sao dẫn đến hiện tượng “bốc hơi đất nông nghiệp”

Nước ta có các vùng đất nông nghiệp trù phú như đồng bằng sông Hồng rộng gần 800 ngàn ha, đồng bằng sông Cửu Long khoảng 2,5 triệu ha Nhưng hiện chúng đều bị chia nhỏ, manh mún khiến một số công trình thủy nông không còn tác dụng Mặt khác, đất nông nghiệp đang bị chuyển đổi tùy tiện Dự báo năm 2010, đất nông nghiệp giảm hơn 170 ngàn ha

Diện tích đất nông nghiệp bị mất là do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa Kinh nghiệm của các nước châu Á vốn lấy cây lúa nước là cây lương thực chính cho thấy, qua mấy chục năm tiến hành công nghiệp hóa, đô thị hóa thì tỷ

lệ mất đất canh tác từ 0,5%-2%/năm Như tỷ lệ mất đất canh tác hàng năm

Trang 13

trong thập niên 1980-1990 của Trung Quốc là 0,5%, Hàn Quốc 1,4%, Đài Loan 2%, Nhật Bản 1,6% Việt Nam trong thời gian qua mất khoảng 0,4% diện tích đất canh tác, riêng đất trồng lúa có tỷ lệ mất cao hơn khoảng 1% Tuy nhiên với tốc độ công nghiệp hóa ngày càng tăng thì tỷ lệ mất đất sẽ không dừng ở mức

độ trên.7

Trong đó, nan giải nhất là việc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ sân golf Song, có tới 40% đất trong số các dự án triển khai làm sân golf lại được dùng

để kinh doanh bất động sản Trong tổng số hơn 23.000ha của 76 dự án sân golf

đã và đang triển khai trong cả nước, có tới 8.000ha đất (chiếm 40%) để kinh doanh bất động sản, biệt thự, nhà nghỉ, nhà hàng Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực bất động sản cho rằng, thực chất hàng trăm ngôi biệt thự cao cấp “đính kèm” bên cạnh sân golf trong mỗi dự án mới là mục tiêu chính mà các chủ đầu

tư nhắm đến

Ví dụ, trong tổng diện tích 4.200ha đất của 9 dự án sân golf đang triển khai tại Lâm Đồng, chỉ có 20% diện tích được dành cho sân golf, phần còn lại chủ yếu được sử dụng xây nhà nghỉ, biệt thự cao cấp để bán và cho thuê Năm 2003, dự

án sân golf Tam Đảo (Vĩnh Phúc) cấp phép với diện tích 137ha Chủ đầu tư đã dùng tới quá nửa diện tích (90ha) làm biệt thự, chia thành 290 lô đất rao bán ngay sau khi sân golf Tam Đảo đi vào hoạt động Theo quy hoạch sử dụng đất đến 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, diện tích đất nông nghiệp sẽ tăng

từ 8.973.783 ha (năm 2000) lên 9.363.063 ha (năm 2010) Tuy nhiên, dân số nước ta từ hơn 77,6 triệu của năm 2000 sẽ tăng lên khoảng 86,5 triệu vào năm

2010.8

Như vậy, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của cả nước sẽ giảm

từ 0,113 ha (năm 2000) xuống còn 0,108 ha (năm 2010) và trong vòng 10 năm, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người đã giảm 50m², trung bình mỗi năm giảm 5m² Đây là con số mà PGS.TS Lê Thái Bạt (Hội Khoa học đất Việt

7 http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=124108[cập nhật 30/09/2010]

8 Kinh Tế Nông Thôn số ra Thứ Ba, 22/04/2008

Trang 14

Nam) cho rằng rất đáng lo ngại, vì hiện nay khoảng 70% dân số nước ta vẫn sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Theo kết quả kiểm kê đất đai năm

2005 đã được Chính phủ phê duyệt vào tháng 2-2007, thì diện tích đất trồng lúa của cả nước là 4.165.277 ha và 60% của số đó thuộc 24 tỉnh của 2 vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Bắc bộ.9 Với đà này, theo nhận định của các chuyên gia, đến năm 2020 sản lượng lúa của Việt Nam chỉ còn đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước, chứ không còn khả năng xuất khẩu

Trước tình trạng mất đất nông nghiệp vẫn tiếp tục tái diễn, các chuyên gia cho rằng, một trong những vấn đề đảm bảo an ninh lương thực trong nước

là chúng ta phải nghĩ đến quy hoạch đất cho sản xuất nông nghiệp trước khi nghĩ đến đất cho khu công nghiệp và đô thị Dù nông nghiệp đóng góp vào GDP hàng năm không thể so sánh với công nghiệp, song, khoảng 70% dân số nước ta vẫn đang phải sống nhờ vào nông nghiệp và đặc biệt, trong các cuộc suy thoái kinh tế, nông nghiệp luôn tỏ ra là trụ đứng vực nền kinh tế đi lên.10

Tóm lại, Việt Nam là một nước đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường Chuyển đổi không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận hay sửa đổi một vài chính sách hay một vài chương trình

mà là quá trình chuyển đổi phương thức tổ chức kinh tế sang một kiểu mới hoàn thiện hơn.Trong quá trình này sự xem xét trên các khía cạnh lịch sử, địa

lý và văn hóa trở nên quan trọng vì chúng tác động không chỉ đến những cái có thể được thực hiện mà còn tác động đến việc làm thế nào để những thay đổi diễn ra nhanh chóng hơn Sự phát triển lâu dài của nền nông nghiệp Việt Nam phụ thuộc vào hiệu quả và hiệu lực của việc sử dụng diện tích đất đai hạn hẹp

1.5 Tổng quan về thuế sử dụng đất nông nghiệp:

1.5.1 Thuế sử dụng đất nông nghiệp qua các thời kỳ:

1.5.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954:

9 Kinh Tế Nông Thôn số ra Thứ Ba, 22/04/2008

10 Hệ Thống Chính Sách Thuế Việt Nam Hiện Hành, tác giả Nguyễn Thị Kim Tuyển, NXB TPHCM 1998

Trang 15

Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Chính phủ ta chủ trương bãi bỏ hẳn sắc thuế mang tính chất phi nhân đạo ở thời điểm đó như: thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê và một số tạp thuế vô lý; miễn thuế điền thổ cho vùng bị lụt và giảm thuế điền 20% trong toàn quốc; đình chỉ thu thuế ở miền Nam

Sau năm 1946, Nhà nước một mặt bắt đầu cải tiến chế độ thuế, tăng thuế suất nhiều loại thuế; mặc khác, vẫn tiếp tục dựa vào những đóng góp mới như: Qũy "tham gia kháng chiến" năm 1949, Qũy "Công lương" và thuế điền thổ Ðến năm 1951, chính phủ ban hành luật thuế nông nghiệp nhằm để giải quyết vấn đề cấp bách, và tạo nguồn thu cho ngân sách trong giai đoạn rối ren như hiện nay như sự tiến quân ào ạt của thực dân Pháp Thuế nông nghiệp giữ vai trò quan trọng Tuy nhiên loại thuế này vẫn chưa được cấu trúc thành một hệ thống hoàn chỉnh và cũng chưa có tác dụng đáng kể.11

1.5.1.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975:

Ðây là giai đoạn mà nền tài chính đứng trước nhiều thuận lợi và thử thách mới Một mặt, Việt Nam đã đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi một cách vĩnh viễn, nhưng mặc khác, đất nước lại bị chia cắt Sau hiệp định Geneve, Chính phủ chỉ lần lượt ban hành các loại Luật thuế mới trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các chế độ thuế đã ban hành từ năm 1951 ở vùng tự do cũ để áp dụng thống nhất

1.5.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1990

Trong giai đoạn này với một móc son lịch sử là Nước Nhà được thống nhất dưới sự thắng lợi của Chiến Dịch Hồ Chí Minh Đây cũng đánh dấu sự đi lên của nước ta để xây dựng kinh tế sau khi chấm dứt chiến tranh

Trong thời kỳ này cả Nước thực hiện hệ thống nhất pháp luật thuế ban hành

từ trước, có một số sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới

11 Hệ Thống Chính Sách Thuế Việt Nam Hiện Hành, tác giả Nguyễn Thị Kim Tuyển, NXB TPHCM 1998

Trang 16

Trong đó thuế sử dụng đất nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng đóng góp vào ngân sách nhà Nước Bởi vì, trong giai đoạn này chúng ta phát triển chủ yếu là Nông Nghiệp nên Thuế sử Dụng Đất Nông Nghiệp giữ vai trò rất quan trọng.

1.5.1.4 Thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện nay

Từ giữa những năm 1980, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh

tế, hệ thống pháp luật thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một

hệ thống pháp luật thuế mới được hình thành, bao gồm hệ thống chính sách pháp luật thuế và hệ thống quản lý Nhà nước về thuế Pháp lệnh về thuế nông nghiệp đã được Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 30 tháng 1 năm 1989 Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống pháp luật thuế hoàn chỉnh nhất từ trước đến lúc bấy giờ, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam khóa IX, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 10 tháng 7 năm

1993 Luật này gồm 9 chương và 39 điều quy định khá chi tiết về đối tượng chịu thuế, những căn cứ tính thuế và biểu thuế

Ngày 17 tháng 06 năm 2003 Quốc Hội ban hành Nghị Quyết só 15 về việc miễn Thuế sử dụng dụng đất nông nghiệp.Ngày 3/11/2003, Chính phủ đã ban hành nghị định số 129/2003/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành nghị quyết của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp Theo nghị định, đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn mức gồm các trường hợp được Nhà nước giao đất để sản xuất nông nghiệp; các xã viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; các nông trường viên, lâm trường viên; các trường hợp góp ruộng đất của mình để thành lập hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; các hộ nghèo, hộ sản xuất nông nghiệp ở các xã đặc biệt khó khăn…

1.5.2 Kết Luận Chung:

Thuế sử dụng đất nông nghiệp tuy có nhưng tên gọi khác nhau qua các thời kỳ như thuế điền thổ, nhưng đóng góp của nó rất quan trọng trong ngân sách nhà nước và cũng là một loại thế cổ xưa nhất Nó góp phần hình thành nên

Trang 17

nhà nước, nên các giai cấp cầm quyền thời trung cổ, rất coi trọng vì là nguồn thu chủ yếu cho nhà nước thời đó Đồng thời, nó cũng phản ánh lên sự giàu có thịnh vượng của một quốc gia thời đó

Ngày nay theo xu hướng quốc tế hóa kéo theo nhiều nghành kinh tế phát triển, bên cạnh đó có nhiều loại thuế như: thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập

cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp…là những loại thuế có đối tượng điều chỉnh đa dạng, cùng với sự phát triển kinh tế trong giao lưu hàng hóa nên kéo theo nguồn thu từ các loại thuế ấy là rất cao đóng góp vào ngân sách nhà nước

là cực kỳ lớn Thuế sử dụng đất nông nghiệp không còn giữ một vai trò chủ đạo như trước nữa, đa số người chịu thuế là nông dân chiếm gần 70% dân số, họ lao động vất quả mới tạo ra được sản phẩm, đời sống của họ đại đa số là thiếu thốn, khó khăn

Trang 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ THUẾ SỬ DỤNG

ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.1 Quy Phạm Pháp Luật về Thuế Sử Dụng Đất Nông Nghiệp

Chính sách thuế là một chính sách hỗ trợ quan trọng cho sản xuất nông nghiệp

và Nhà Nước có thể sử dụng công cụ này để can thiệp nhằm phân phối lại lợi ích ở tầm vĩ mô Trong nông nghiệp chính sách thuế trực tiếp ảnh hưởng đến lượng thuế mà mỗi người nông dân phải đóng, mức đầu tư, tiêu dùng của họ và

cả lĩnh vực nông nghiệp nói chung

Thuế sử dụng đất nông nghiệp liên quan đến việc quản lý tài nguyên đất, đất đai là tài nguyên quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân Về nguyên tắc, đã sử dụng tài nguyên thì phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà Nước Thuế được tính dựa trên diện tích và loại đất Loại đất phụ thuộc vào 5 yếu tố cơ bản là: độ phì nhiêu của đất, địa điểm, địa hình, khí hậu và điều kiện thủy lợi Thuế này được tính bằng lượng thóc trên đơn vị diện tích đối với mỗi hạng đất và được thu tiền bằng tiền mặt theo giá do Ủy ban Nhân tỉnh quy định dựa trên giá thị trường

Vì Vậy, thuế sử dụng đất nông nghiệp theo đơn vị diện tích là có thể khác nhau giữa các tỉnh

2.1.1 Đối tượng nộp thuế:

Đối tượng nộp thuế sử đụng đất nông nghiệp là rất rộng, bao gồm hầu hết các

tổ chức, cá nhân đang khai thác sử dụng đất nông nghiệp vào sản xuất nông sản Các doanh nghiêp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp cũng thuộc đối tượng này Nhà nước ta cũng tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, qua đó nhằm thúc đẩy phát triển nghành nông nghiệp với các sản phẩm làm ra từ nông nghiệp như: Lúa, gạo, thủy sản, gỗ nhằm tạo thế mạnh cho nghành nông nghiệp, vì hầu hết dân số nước ta tập chung phần lớn vào lĩnh vực nông nghiệp Tăng thu nhập cải thiện đời sống nông dân

Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế

sử dụng đất nông nghiệp (gọi chung là hộ nộp thuế) gồm:

- Các hộ gia đình nông dân, hộ tư nhân và cá nhân;

Trang 19

- Các tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất dành cho nhu cầu công ích xã;

- Các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản bao gồm nông trường, lâm trường, xí nghiệp, trạm trại và các doanh nghiệp khác, cơ quan Nhà Nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức xã hội và các đơn vị khác

sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nuôi trồng thủy sản.12

2.1.2 Đối Tượng Chịu Thuế Sử Dụng Đất Nông Nghiệp:

Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định khá chặt chẽ là phân loại các loại đất trồng tương ứng với các loại cây trồng, tạo thuận lợi cho việc khai thác đất một cách có hệ thống tránh tình trạng bỏ đất hoang

Đất trồng trọt là đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ

Đất trồng cây hàng năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng tức là từ khi trồng đến khi thu hoạch không quá 365 ngày như Lúa ,Ngô, rau, lạc… hoặc là cây trồng một lần cho thu hoạch một vài năm nhưng không trải qua thời kỳ xây dựng cơ bản (là không đầu tư lại từ đầu, ví dụ: chúng ta trồng bắp vụ một khi thu hoạch xong, trồng lại bắp vụ hai thì phải xây dựng cơ bản tức là phải cải tạo đất, mua giống Còn trồng mía thì ở vụ một thu hoạch mía xong, sang vụ hai chúng ta không cần xây dựng cơ bản) như Mía, Chuối, Cói, Gai, Thơm…

Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng trên 365 ngày, trồng một lần nhưng cho thu nhập trong nhiều năm và phải trải qua một thời kỳ xây dựng cơ bản mới cho thu nhập như Cao su, Chè, Cà Phê, Cam, Quýt, Nhãn, Dừa…

Đất trồng cỏ là đất đã có chủ sử dụng vào việc trồng cỏ để chăn nuôi gia súc thường là đất bị bạc màu khi canh tác cho năng suất thấp

Đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản là đất đã có chủ sử dụng chuyên nuôi trồng thủy sản hoặc vừa nuôi trồng thủy sản vừa trồng trọt, nhưng về cơ bản là không sử dụng vào mục đích khác

12 Điều 1 Nghị Định số 74/CP ngày 25 tháng 10 năm 1993 của chính Phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Trang 20

Đất trồng là đất đã được trồng rừng và đã giao cho tổ chức, cá nhân quản lý, chăm sóc và khai thác, ở đây không bao gồm đất đồi núi trọc.

Người sử dụng các loại đất trên mà không sử dụng bỏ hoang hóa vẫn phải chịu thuế sử dụng đất nông nghiệp.13

2.1.3 Căn Cứ Tính Thuế Sử Dụng Đất Nông Nghiệp

Căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp là diện tích, hạng đất và định suất thuế tính bằng kilogram thóc trên một đơn vị diện tích của từng hạng đất

Diện tích được quy định như sau:

Diện tích tính thuế của từng hộ nộp thuế là diện tích đất thực tế được ghi trong sổ địa chính Nhà nước hoặc kết quả đo đạc gần nhất được cơ quan quản

lý ruộng đất có thẩm quyền xác nhận Trường hợp địa phương chưa lập sổ địa chính và số liệu đo đạc chưa chính xác, chưa có xác nhận của cơ quan quản lý ruộng đất có thẩm quyền, thì diện tích tính thuế là diện tích đất ghi trong tờ khai hộ nộp thuế

Diện tích tính thuế của từng thửa ruộng là diện tích thực sử dụng, được giao cho từng hộ nộp thuế phù hợp với diện tích ghi trong sổ địa chính hoặc trong tờ khai của chủ hộ

Việc phân hạng đất tính thuế thực hiện theo quy định như sau:

Dựa vào 5 yếu tố

2.1.3.1 Thứ nhất, yếu tố đất:

Chất đất và độ phì của đất (loại đất, độ dày canh tác hoặc độ dày tầng đất, hàm lượng mùn trong đất) thích hợp với từng loại cây trồng; đối với đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản còn bao gồm độ muối và nguồn dinh dưỡng của nước.Yếu tố chất đất của cây trồng chính cụ thể như sau:

Đối với đất trồng lúa:

- Đất có độ phì cao (10 điểm) gồm đất phù sa thuộc hệ thống sông Hồng, hệ thống sông Cửu Long, hệ thống sông Thái Bình, hạ lưu sông Thu Bồn, hạ lưu sông Ba

13 Điều 2 Nghị Định số 74/CP ngày 25 tháng 10 năm 1993 của chính Phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Thông Tư số 89-TC/TCT ngày 9 tháng 11 năm 1993 hướng dẫn thi hành nghị định 74.

Trang 21

- Đất có độ phì trung bình (7 điểm) gồm đất phù sa của các con sông khác; đất phèn ít và trung bình của đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.

- Đất có độ phì thấp (5 điểm) gồm đất phù sa bị úng nước, đất xám, đất dốc tụ, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước, đất phèn ít và phèn trung bình, đất mặn

ít và mặn trung bình không thuộc đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long

- Đất có độ phì quá thấp (2 điểm) gồm đất phèn nhiều, đất mặn nhiều, đất trũng lầy, đất cát biển, đất bạc màu các loại đất này phải qua cải tạo mới sản xuất được

Đối với đất có mực nước lợ nuôi trồng thủy sản:

- Đất có độ phì cao (10 điểm) gồm đất phù sa, đất cát bùn giàu nguồn dinh dưỡng

- Đất có độ phì trung bình (7 điểm) là đất phèn ít, có hàm lượng dinh dưỡng thấp

- Đất có độ phì thấp (5 điểm) là đất có độ phèn trung bình phải qua cải tạo mới nuôi trồng được

- Đất có độ phì quá thấp (2 điểm) gồm đất phèn nhiều, đất lầy, đất cát rất nghèo dinh dưỡng phải cải tạo lâu mới nuôi trồng được

Đối với đất trồng cây công nghiệp lâu năm và đất trồng cây ăn quả lâu năm:

- Đất có độ phì cao (10 điểm) là các loại đất phù hợp với từng loại cây trồng ở từng địa phương, có tầng dày trên 100 cm, có hàm lượng mùn trên 2,5%

- Đất có độ phì trung bình (8 điểm) là các loại đất tương đối phù hợp với từng loại cây trồng ở từng địa phương, có taanggf dầy từ 70 cm đến 100 cm, có hàm lượng mùn từ 1% đến 2,5%

- Đất có độ phì quá thấp (6 điểm) là đất có tầng dầy dưới 70 cm có lẫn cát, đá sỏi nhiều, có hàm lượng mùn dưới 1%, muốn trồng cây lâu năm phải đầu tư cải tạo nhiều mới sản xuất được

2.1.3.2 Thứ hai, yếu tố về vị trí:

Đối với đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ, đất rừng trồng: Yếu tố vị trí được xác định từ nơi sản xuất tới nơi cư trú của hộ sử dụng đất Nơi cư trú của

Trang 22

hộ sử dụng đất được xác định là trung tâm của thôn (xóm), ấp, bản nơi có đất,

có thang điểm: 7, 5, 3, 1

Đối với đất trồng cây, lâu năm (trừ đất rừng trồng) và đất có mực nước nuôi trồng thủy sản: yếu tố vị trí được xác định từ trung tâm thôn (xóm), ấp, bản, nơi có đất tới Thị xã, thành phố gần nhất Riêng đối với các doanh nghiệp được tính từ trụ sở doanh nghiệp tới xã, thành phố gần nhất, có thang điểm: 6,

4, 2 đối với đất trồng cây lâu năm và thang điểm: 7, 5, 3, 1 đối với đất có mực nước nuôi trồng thủy sản

2.1.3.3 Thứ ba, yếu tố địa hình của đất là độ bằng phẳng, độ dốc, độ trũng hoặc

2.1.3.4 Thứ tư, yếu tố điều kiện khí hậu, thời tiết:

Bao gồm các điều kiện nhiệt độ trung bình hàng năm; lượng mưa trung bình hàng năm; lượng gió, bão, lũ trong năm; số tháng khô hạn, số tháng nóng (gió Lào); lượng sương muối Những yếu tố này được đánh giá ở hai mức độ hạn chế hoặc không hạn chế đến việc sinh trưởng của cây trồng Những yếu tố này được tổng hợp đánh giá theo tiêu chuẩn theo từng loại cây trồng trên đất như sau:

Đối với đất trồng Lúa:

Thuận lợi cho việc trồng lúa, không có hạn chế (10 điểm) tức là không có yếu

tố nào xấu ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây lúa

Tương đối thuận lợi cho việc trồng lúa trong đó co một điều kiện hạn chế (7 điêm), điều kiện đó xấu ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây lúa

Tương đối thuận lợi cho việc trồng lúa có hai điều kiện xấu nhất (5 điểm).Không thuận lợi cho việc trồng lúa có ít nhất bốn điều kiện hạn chế (2 điểm) như bão, lũ, sương muối, gió Lào

Đối với đất có mực nước mặn lợ nuôi trồng thủy sản được xác định tương tự như đất trồng lúa

Trang 23

Đối với đất trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả lâu năm, đất rừng trồng được phân chia làm ba mức phù hợp với từng loại cây trồng: thuận lợi (10 điểm), tương đối thuận lợi (8 điểm) và ít thuận lợi (6 điểm).

2.2.3.5 Thứ năm, yếu tố điều kiện tưới tiêu (chế độ nước):

Bao gồm cả phần nhà nước đầu tư và tưới tiêu tự nhiên

Đối với diện tích đất trồng lúa và đất có mực nước nuôi trồng thủy sản được chia làm bốn mức theo bảng tiêu chuẩn của từng yếu tố để phân hạng đất tính thuế kèm theo Nghị định số 73/CP ngày 25 tháng 10 năm 1993 của chính phủ Bốn mức tương ứng thang điểm: 10, 7, 5, 2

Đối với đất trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả lâu năm được chia làm ba mức: thuận lợi (10 điểm), tương đối thuận lợi (8 điểm), ít thuận lợi (6 điểm) phù hợp với từng loại cây trồng ở địa phương

- Phân hạng đất tính thuế đối với cây trồng chính:

+ Đối với cây trồng hàng năm: thực hiện phân hạng đất trông lúa trước; trên cơ sở đó phân hạng đất trồng các loại cây khác

Khi phân hạng đất đối với đất trồng lúa phải dựa vào tiêu chuẩn của năm yếu tố vừa phân tích ở trên và kết hợp với việc tham khảo năng suất bình quân đạt được trong điều kiện canh tác bình thường Năng suất đạt được là yếu tố kiểm tra lại việc phân hạng đất theo năm yếu tố như sau:

Ruộng đất được xếp vào cùng một hạng đất tính thuế phải có cùng tiêu chuẩn của năm yếu tố; trường hợp cùng đạt tiêu chuẩn hạng đất của năm yếu tố, nhưng năng suất đạt được khác nhau, thì cũng cùng một hạng đất tính thuế.Ruộng đất cùng đạt được năng suất như nhau nhưng khác nhau về tiêu chuẩn hạng đất theo năm yếu tố, thì ruộng có thang điểm của năm yếu tố đạt cao sẽ xếp vào hạng đất tính thuế cao, ruộng có thang điểm của năm yếu tố đạt thấp sẽ xếp vào hạng tính thuế thấp

Năng suất dùng để tham khảo, kiểm tra việc phân hạng đất tính thuế là năng suất đạt được trong điều kiện thời tiết bình thường với trình độ canh tác và thâm canh trung bình ở địa phương

Khi phân hạng đất đối với đất trồng các loại cây hàng năm, phải dựa trên tiêu chuẩn hạng đất của năm yếu tố và kết quả phân hạng đất lúa, so với năm yếu tố

Trang 24

của hạng đất trồng lúa ở nơi liền cạnh hoặc nhất với năm yếu tố của đất trồng cây hàng năm khác.

+ Đối với đất có diện tích nuôi trồng thủy sản:

Đất có mực nước vừa nuôi trồng thủy sản vừa trồng cây hàng năm, thì thực hiện phân hạng đất tính thuế như đất trồng cây hàng năm

Ao, hồ, đầm dung vào nuôi trồng thủy sản, thực hiện phân hạng đất theo cây hàng năm liền cạnh hoặc nơi gần nhất

Đất có mực nước lợ chuyên dùng vào nuôi trồng phải căn cứ vào chất đất, chất nước, vị trí, khí hậu thời tiết, địa hình và điều kiện cấp thoát nước là chủ yếu và kết hợp với việc tham khảo năng suất bình quân đạt được trong điều kiện canh tác bình thường của các năm gần nhất

+ Đất đồng cỏ dung vào chăn nuôi phân hạng đất theo đất trồng cây hàng năm

+ Đối với đất trồng cây lâu năm (trừ đất trồng cây lấy gỗ và các loại cây lâu năm khác thu hoạch một lần) việc phân hạng đất được thực hiện như sau:Đất trồng cây lâu năm ở những nơi trồng chuyên canh hoặc trồng phổ biến hoặc đất vườn nằm trong đất khu dân cư, thì dựa vào tiêu chuẩn năm yếu tố xác định hạng đất tính thuế cho đất trồng các loại cây lâu năm: cao su, chè, cây ăn quả (cam quýt), dừa và điều

Đất trồng cây lâu năm nằm xen kẽ đất trồng cây hàng năm thì phân hạng đất như trồng cây hàng năm liền cạnh

Đất vườn hoặc đất trồng nhiều cây lâu năm khác nhau, thì phân hạng đất như đất chuyên trồng cây lâu năm liền cạnh; trường hợp không có các loại đất chuyên trồng cây lâu năm liền cạnh, thì phần hạng đất như đất trồng cây hàng năm liền cạnh

Đất trồng cây lấy gỗ và các loại cây lâu năm thu hoạch một lần gồm: gỗ, tre, nứa, mai,… và các loại cây khác mà than cây hoặc không còn khả năng cho sản phẩm sau lần thu hoạch lần đầu tiên Đất trồng các loại cây này không phân hạng, mà thu thuế theo sản lượng khai thác 4% giá trị sản lượng khai thác (theo

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w