Trong từng trường hợp cụ thể Thẩm phán sẽ ra quyết định về việc tham gia của đại diện công đoàn hoặc đại diện của người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn, đại diện cơ quan chuyên mô
Trang 1MSSV: 5095626
Lớp Luật Thương Mại 2_K35
Cần Thơ, tháng 05/2013
Trang 2Để có thể hoàn thành tốt đề tài, em xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Phạm Mai Phương đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình viết khóa luận văn tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Luật - Trường Đại Học Cần Thơ đã chỉ dẫn, truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận văn
mà còn là hành trang quí báu để em bước vào cuộc sống
Cuối cùng, em xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý của mình
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN KHI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN 4
1.1 Khái niệm về phá sản trong Luật Phá sản Việt Nam 4
1.2 Khái niệm về thanh lý tài sản trong Luật Phá sản 5
1.3 Lịch sử phát triển của quy định về thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản Việt Nam 7
1.4 Sự cần thiết của những quy định về thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản 9
1.5 Đặc trưng của thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản 2004 10
1.6 Mục đích của thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 12
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN KHI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN 15
2.1 Các cơ sở để tiến hành thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản 15
2.1.1 Tiến hành mở thủ tục thanh lý tài sản trong trường hợp đặc biệt 15
2.1.2 Tiến hành mở thủ tục thanh lý tài sản trong trường hợp khi Hội nghị chủ nợ không thành 16
2.1.3 Tiến hành mở thủ tục thanh lý sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất 17
2.2 Nội dung quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản 18
Trang 62.3 Trình tự, thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản 20
2.3.1 Thành lập và hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản 20
2.3.1.1 Thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản 20
2.3.1.2 Thành phần của Tổ quản lý, thanh lý tài sản 21
2.3.1.3 Nguyên tắc hoạt động và chế độ làm việc của Tổ quản lý, thanh lý tài sản 23
2.3.1.4 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tổ quản lý, thanh lý tài sản 24
2.3.1.5 Giải thể và thành lập lại Tổ quản lý, thanh lý tài sản 26
2.3.2 Khiếu nại, kháng nghị và giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 27
2.3.2.1 Khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 27
2.3.2.2 Giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 28
2.3.3 Xác định tài sản và nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản 29
2.3.3.1 Xác định tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản 30 2.3.3.2 Xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản 31
2.3.4 Các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản 34
2.3.5 Nghĩa vụ của Ngân hàng nơi doanh nghiệp có tài khoản và của nhân viên, người lao động làm việc ở doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý 40
2.3.6 Lập danh sách chủ nợ, người mắc nợ và tổng số nợ phải trả, phải đòi của doanh nghiệp 40
2.3.7 Thu hồi và quản lý tài sản, tài liệu, sổ sách kế toán và con dấu của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý tài sản 42
2.3.8 Bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp khi bị áp dụng thủ tục thanh lý 43 2.3.9 Phương án phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi lâm vào tình trạng phá sản 45
2.4 Đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý 51
Trang 7CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH THANH LÝ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP KHI LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN 54 3.1 Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp 54
3.1.1 Khó khăn, vướng mắc trong hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp 54
3.1.2 Quy định về trách nhiệm tiếp tục trả nợ sau khi tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh còn quá khắt khe 56
3.1.3 Khó khăn, vướng mắc trong việc xử lý tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản………57
3.2 Hướng hoàn thiện pháp Luật Phá sản Việt Nam hiện hành về thủ tục thanh
lý tài sản 60
3.2.1 Xây dựng những quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của chủ nợ phát sinh trong quá trình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản 60
3.2.2 Hoàn thiện pháp luật phá sản đưa quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản 61
3.2.3 Cần phải có những quy định đầy đủ và hợp lý hơn về việc giải phóng nghĩa vụ trả nợ cho chủ doanh nghiệp tư nhân và các thành viên hợp danh của công ty hợp danh 62
3.3 Một số kiến nghị về thi hành thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản Việt Nam hiện hành 63
3.3.1 Giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp 63
3.3.2 Tăng cường cơ chế giám sát của chủ nợ trong quá trình tiến hành giải quyết việc phá sản 63
KẾT LUẬN 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường quyền tự chủ trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Nội hàm của quyền này bao gồm: Quyền được lựa chọn lĩnh vực ngành nghề, quy mô và phạm vi kinh doanh; quyền được lựa chọn sản phẩm hàng hoá và dịch vụ để sản xuất, cung ứng; quyền lựa chọn phương thức huy động vốn, lựa chọn đối tác trong kinh doanh…Tuy nhiên, đi kèm với quyền tự chủ rộng rãi trong kinh doanh là nghĩa
vụ tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và độc lập thực hiện các nghĩa vụ tài sản phát sinh như nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ thanh toán nợ Quyền tự chủ trong kinh doanh một mặt tạo ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp phát triển, mặt khác cũng là một thách thức lớn Sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường làm cho không ít doanh nghiệp phải điêu đứng, thua lỗ triền miên dẫn đến nguy cơ đối diện với phá sản Như vậy, phá sản là một hệ quả tất yếu của một doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả kéo dài, là quá trình sàng lọc tự nhiên mang tính quy luật trong nền kinh tế thị trường Qua đó, loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, làm ăn không hiệu quả góp phần làm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh, cơ cấu lại nền kinh tế.1
Chính vì vậy, phá sản là giải pháp hữu hiệu nhất mà Nhà nước lựa chọn trên
cơ sở cân nhắc đầy đủ và thận trọng các hệ quả về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp rút lui có trật tự Cho nên, phá sản là một vấn đề cần được tìm hiểu và nghiên cứu bởi khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế và đặc biệt là quyền lợi của người lao động ít nhiều sẽ bị xáo trộn như tiền lương, các chế độ, việc làm và các vấn đề tiêu cực phát sinh và các khoản nợ của doanh nghiệp và hợp tác xã Khi một doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản làm nảy sinh nhiều mối quan hệ phức tạp cần được giải quyết Chẳng những quan hệ nợ nần giữa các chủ nợ với doanh nghiệp mắc nợ, quan hệ giữa doanh nghiệp mắc nợ với người lao động do tình trạng mất khả năng thanh toán nợ gây ra Vì vậy, việc giải quyết kịp thời các vấn đề trên có ý
nghĩa rất quan trọng nhằm thiết lập một trật tự cần thiết để thúc đẩy sự phát triển
kinh tế đồng thời đảm bảo quyền chủ thể của các mối quan hệ hay các bên liên quan
(1) Lê Vũ Nam, “Phá sản doanh nghiệp và một số vấn đề nêm yết phá sinh”,có thể truy cập website
http://luatminhkhue.vn/pha-san/pha-san-doanh-nghiep-niem-yet-va-mot-so-van-de-phat-sinh.aspx [truy cập ngày 22/12/2012]
Trang 9Đối với nước ta việc giải quyết yêu cầu phá sản vẫn là một vấn đề cần thiết và cấp bách, tuy nhiên trên thực tiễn giải quyết việc phá sản cũng gặp không ít những khó khăn, vướng mắc nhất là trong vấn đề thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản Chính vì những lý do trên mà người viết quyết định chọn đề tài: “Thủ
tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản” để nghiên cứu,
nhằm tìm hiểu thêm một phần nào đó về thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản trong pháp luật về phá sản ở nước ta hiện nay
2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài “Thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình
trạng phá sản” người viết tập trung nghiên cứu những quy định về trình tự, thủ tục
thanh lý tài sản trong Luật Phá sản 2004 Dựa trên cơ sở đó, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để có cách nhìn tổng quát hơn về quá trình thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, từ đó đưa ra những xu hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục thanh lý tài sản
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu nền kinh tế nước nhà phát triển trong thời kỳ hội nhập
và phát triển, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp cho nên phá sản trở thành quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường Đồng thời phá sản là giải pháp cuối cùng mà Nhà nước đã đặt ra cho các doanh nghiệp Chính vì vậy, mục đích của việc nghiên cứu theo những hướng sau:
Thứ nhất, tìm hiểu những quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Thứ hai, phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp
Thứ ba, đưa ra những kiến nghị của bản thân nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả thanh lý tài sản của doanh nghiệp, góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản 2004 làm cho quá trình thanh lý tài sản diễn ra nhanh chóng kịp thời
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản” người viết chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập tài
Trang 10liệu; phân tích, tổng hợp tài liệu và so sánh với những quy định của pháp luật có liên quan đến trình tự, thủ tục thanh lý tài sản
5 Kết cấu đề tài
Đề tài “Thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá
sản” được xây dựng gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Chương 3: Một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và hướng hoàn thiện pháp Luật Phá sản về thủ tục thanh lý tài sản
Do thời gian nghiên cứu có hạn và kiến thức của Sinh vên còn hạn chế nên
trong quá trình nghiên cứu đề tài “Thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản” không thể tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót Kính mong
sự góp ý của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN KHI
DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
Phá sản là hiện tượng khách quan của nền kinh tế thị trường, là hậu quả tất yếu của quy luật cạnh tranh, do đó, ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì chế định Luật Phá sản là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật về kinh doanh Như vậy, phá sản có thể xảy ra ở bất kỳ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ tìm lực kinh tế thế nào nhưng khi kinh doanh không hiệu quả, không thanh toán được các khoản nợ khi chủ nợ có yêu cầu hoặc một vì lý do nào đó mà doanh nghiệp không muốn tiếp tục kinh doanh nữa thì có thể dẫn đến phá sản Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì vấn đề thanh toán nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã là một vấn đề quan trọng không thể coi nhẹ, để có cách nhìn chung về thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản ta tìm hiểu những nội dung cơ bản sau:
1.1 Khái niệm về phá sản trong Luật Phá sản Việt Nam
Thuật ngữ “Phá sản” thường được sử dụng để chỉ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, gặp khó khăn về mặt tài chính không còn đủ vốn và tài sản để trả nợ khi chủ
nợ có yêu cầu thì coi như là đã lâm vào tình trạng phá sản
Luật Phá sản nước ta không định nghĩa một cách trực tiếp như thế nào là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, mà chỉ đưa ra một số trường hợp cụ thể để xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Theo quy định điều 2 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 và được cụ thể hóa tại điều 3 khoản 1 Nghị định 189/CP ngày 23 tháng 12 năm 1994 hướng dẫn Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 đưa
ra tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như sau:
Thứ nhất, là kinh doanh thua lỗ trong hai năm liên tiếp đến mức không trả
được các khoản nợ đến hạn
Thứ hai, là không trả đủ lương cho người lao động theo thỏa ước lao động và
hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp
Đối với Luật Phá sản 2004 thì không xem tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là do kinh doanh thua lỗ, bởi vì, việc kinh doanh thua lỗ không được xem là yếu tố cần thiết để xác định doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản Có nhiều trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản như: sử dụng vốn sai
Trang 12mục đích, khả năng làm việc của nhân viên doanh nghiệp kém hiệu quả, …mà Luật Phá sản 2004 đưa ra cách xác định một doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản như sau: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản” Như vậy, có thể thấy rằng Luật Phá sản 2004 xem yếu tố không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu là coi lâm vào tình trạng phá sản
là hoàn toàn hợp lý
1.2 Khái niệm về thanh lý tài sản trong Luật Phá sản
Theo cách hiểu thông thường thì thanh lý tài sản là việc bán hoặc hủy bỏ một tài sản nào đó, mà cũng có thể được hiểu là sự hoàn tất việc thực hiện một công việc được ghi nhận trong hợp đồng Với cách trình bày trên thì khái niệm về thanh lý tài
sản trong Luật Phá sản có thể hiểu như sau: “Thanh lý tài sản là việc cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền tiến hành xác định tài sản, thu hồi tài sản, bán đấu giá tài sản
và các phương pháp khác nhằm bảo toàn khối tài sản của doanh nghiệp khi bị coi là lâm vào tình trạng phá sản và sau đó tiến hành phân chia tài sản đó theo quy định của pháp luật” Từ đó có thể thấy, thủ tục thanh lý tài sản là việc tiến hành các bước
theo trình tự, thủ tục luật định Ngoài ra, thì khái niệm thanh lý tài sản cũng có thể được hiểu là việc dùng một khối tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản để thanh toán cho các chủ nợ mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản
Theo Luật Phá sản doanh nghiệp 1993, thanh toán là một khâu trong quá trình thanh lý tài sản Luật Phá sản 1993 đã phân chia thành hai tổ là Tổ quản lý và
Tổ thanh toán tài sản, hai tổ được thành lập ở hai thời điểm khác nhau; Tổ quản lý tài sản được Chánh án Tòa án ra quyết định thành lập cùng với quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp do một cán bộ Tòa án làm tổ trưởng; Tổ thanh lý tài sản do cơ quan thi hành án dân sự thành lập và phân công một chấp hành viên làm tổ trưởng Thành phần tham gia vào hai tổ này gồm có: đại diện các cơ quan tài chính, Ngân hàng cùng cấp, đại diện chủ nợ, đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn, đại diện doanh nghiệp
bị phá sản.2 Tổ quản lý và thanh toán tài sản thực hiện nhiệm vụ trong hai thời điểm khác nhau Nhiệm vụ của Tổ quản lý là lập bản kê khai toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, giám sát, kiểm tra việc quản lý tài sản của doanh nghiệp, tập hợp danh sách
(2) Điều 15, Điều 42 Luật Phá sản 1993
Trang 13chủ nợ và số nợ phải trả cho các chủ nợ Trên cơ sở nhận bàn giao tài sản và các giấy tờ, tài liệu có liên quan từ Tổ quản lý tài sản, Tổ thanh toán tài sản sẽ ra quyết định thu hồi và bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, ra quyết định phong tỏa tài khoản của doanh nghiệp tại các Ngân hàng, mở tài khoản mới để gửi các khoản tiền có được từ việc thu hồi và bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp
và sau đó thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Thẩm phán
Như vậy, từ những quy định Luật Phá sản 1993 về tổ chức cũng như hoạt động của hai tổ này đã thể hiện sự kém hiệu quả trên thực tế Cho nên, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và xử lý tài sản doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Luật Phá sản 2004 đã quy định về trình tự, thủ tục thanh lý tài sản với sự tham gia hoạt động thống nhất của Tổ quản lý và thanh lý tài sản Tổ quản lý và thanh lý tài sản do Thẩm phán thành lập đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản
do một chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp làm Tổ trưởng Thành phần Tổ quản lý và thanh lý tài sản bao gồm: một chấp hành viên cơ quan thi hành
án cùng cấp, một đại diện chủ nợ, một đại diện hợp pháp của doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản Trong từng trường hợp cụ thể Thẩm phán sẽ ra quyết định về việc tham gia của đại diện công đoàn hoặc đại diện của người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn, đại diện cơ quan chuyên môn.3
Trong quá trình tiến hành các thủ tục thanh lý tài sản có sự tham gia xuyên suốt của Tổ quản lý, thanh lý tài sản thể hiện sự đồng bộ trong công tác quản lý tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản giải quyết một cách công bằng điều hòa quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ theo một trình tự thống nhất Ngoài ra, Tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản cũng bị giải thể khi Thẩm phán ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã Trong khi được Thẩm phán thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Thẩm phán phải ra quyết định thành lập lại Tổ quản lý, thanh lý tài sản để thực hiện việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật
(3) Khoản 1, khoản 2 Điều 9 Luật Phá sản 2004
Trang 141.3 Lịch sử phát triển của quy định về thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản Việt Nam
Ở Việt Nam, pháp Luật Phá sản đã có từ thời kỳ Thực dân Pháp đô hộ, nhưng Luật này phần lớn được áp dụng ở miền Nam và trên thực tế dường như rất ít được
áp dụng Cũng như các nước thuộc địa khác, pháp Luật Việt Nam chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp Luật thực dân Những quy định về, thanh toán tư pháp phá sản cũng đã có trong Bộ luật Thương mại Sài Gòn.4
Hai đạo luật điều chỉnh phá sản đã được ban hành là Luật Phá sản trong Luật Thương mại Trung phần tại miền Trung Việt Nam ngày 02/06/1942 và Luật Phá sản trong Luật Thương mại miền Nam Việt Nam năm 1973 Từ sau giải phóng miền Nam cho đến trước Đại hội Đảng lần VI, chúng ta đi theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không khuyến khích cạnh tranh nên khái niệm phá sản hầu như không có Chính trong nền kinh tế bao cấp đó, dưới sự “bảo hộ” của Nhà nước, Luật Phá sản chưa được hướng tới
Sau Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 15 đến ngày 18/12/1986), nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường thì các loại hình doanh nghiệp khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập và được Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện hoạt động một cách bình đẳng và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Nhưng cũng chính trong nền kinh tế đó bắt đầu xuất hiện, hiện tượng cạnh tranh, đào thải, chọn lọc tự nhiên những doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân khác nhau kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ, không thể thanh toán được các khoản
nợ đến hạn bên cạnh những doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và ngày một phát triển Một vấn đề đặt ra trong giai đoạn này là chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì cũng có nghĩa là phải chấp nhận các thuộc tính vốn có của nó, trong đó có phá sản và giải quyết phá sản Trước yêu cầu thực tiễn đó, pháp luật về phá sản Việt Nam được hình thành là một xu hướng tất yếu Đánh dấu mốc quan trọng cho sự hình thành pháp luật phá sản ở Việt Nam là Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 Đây là văn bản đầu tiên có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh toàn diện, đầy đủ các vấn đề về phá sản trong đó có những quy về trình tự, thủ tục thanh lý tài sản, thứ tự phân chia tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng được điều chỉnh bởi Luật Phá sản
(4) Dương Đăng Huệ, Nguyễn Thanh Tịnh và nhóm biên soạn vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế Bộ Tư pháp, Đề
tài “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại ViệtNam”; tháng
11 năm 2008; trang 3
Trang 15Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 được Quốc hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30/12/1993, có hiệu lực từ ngày 01/07/1994 Cùng với việc ra đời của Luật Phá sản 1993 thì hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này cũng được ban hành khá đầy đủ, đồng bộ như: Nghị định số 189/CP ngày 23/12/1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993; Công văn số 457/KHXX ngày 21/07/1994 của Toà án nhân dân tối cao về việc áp dụng một số quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp; Quyết định số 426/QĐ ngày 01/07/1994 của Toà án nhân dân tối cao về quy chế làm việc của tập thể Thẩm phán phụ trách việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp; Nghị định số 92/CP ngày 19/12/1995 của Chính phủ về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản; Quyết định số 528/QĐBT ngày 13/06/1995 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành quy chế làm việc của Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản; Nghị định 86/CP ngày19/12/1996 về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản
Pháp Luật Phá sản ở nước ta tuy được hình thành muộn so với các nước trên thế giới và trong khu vực, nhưng đã góp phần quan trọng vào việc hình thành một cơ chế pháp lý đồng bộ cho hoạt động xử lý nợ của các doanh nghiệp, bảo đảm trật tự,
kỷ cương trong lĩnh vực tài chính, làm cho môi trường kinh doanh trở nên lành mạnh hơn, đồng thời cũng góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế thời kỳ đổi mới của nước ta Luật Phá sản năm 1993
đã phát huy được vai trò nhất định trong việc thúc đẩy hoạt động kinh doanh có hiệu quả và bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 1993 được xây dựng trong điều kiện nước ta mới chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới, việc phá sản và giải quyết phá sản còn hạn chế, do đó, nhiều quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã bộc lộ những điểm yếu, bất cập làm cản trở việc giải quyết phá sản, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn giải quyết phá sản đặt ra,
do đó cần phải được sửa đổi, bổ sung Nguyên nhân là do Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 được xây dựng từ đầu những năm 90, là những năm đầu của tiến trình đổi mới, hiểu biết của chúng ta về nền kinh tế thị trường còn ít, điều kiện tham khảo các quy định của pháp luật nước ngoài về phá sản còn bị hạn chế, chúng ta còn thiếu kinh nghiệm cho nên chưa lường trước được nhiều vấn đề cần quy định trong Luật Phá sản Chính vì vậy, ngày 15 tháng 06 năm 2004 Quốc hội đã ban hành Luật Phá sản năm 2004, thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, có hiệu lực thi
Trang 16hành từ ngày 15/10/2004 Phạm vi điều chỉnh của Luật Phá sản năm 2004 quy định điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản
và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh…Ngoài những quy định trên Luật Phá sản còn quy định cụ thể hơn về thủ tục thanh lý tài sản, nội dung quyết định mở thủ tục thanh lý, quyền khiếu nại, kháng nghị và giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Ngay sau, Luật Phá sản 2004 đựợc ban hành và có hiệu lực thì các văn bản như: Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/04/2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản; Nghị định số 94/2005/NĐ-CP ngày 15/07/2005 về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp và hợp tác xã bị phá sản; Quyết định của Chánh án TANDTC số 01/2005/QĐ – TANDTC ngày 27/04/2005 về quy chế làm việc của Tổ thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản; Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11/07/2006 hướng dẫn việc áp dụng Luật phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của tổ quản lý, thanh lý tài sản; Thông tư liên tịch số 19/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 19/02/2008 hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và Tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản; Nghị định số 114/2008/NĐ-CP ngày 03/11/2008 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác; Nghị định số 10/2009/NĐ-CP ngày 06/02/2009 quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản; Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ngày 18/01/2010 quy định việc áp dụng Luật phá sản đối với các tổ chức tín dụng Cũng được Chính Phủ và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và các phương pháp xử lý tài sản của doanh nghiệp cũng như việc quản lý, thanh
lý tài sản khi doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý
1.4 Sự cần thiết của những quy định về thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản
Trong nền kinh tế cạnh tranh, nguy cơ phá sản vẫn có thể treo lơ lửng trên đầu bất kì doanh nghiệp nào và diễn ra vào bất cứ thời điểm nào Do năng lực quản
lý yếu kém hay bị chèn ép điều có thể dẫn đến nguy cơ phá sản, ngoài ra, doanh
Trang 17nghiệp còn có thể đối mặt với phá sản bởi nội bộ bất ổn, dư thừa nhân công hoặc không kịp thời tổ chức lại chiến lược kinh doanh mới thích hợp với hoàn cảnh mới Như vậy, doanh nghiệp nào cũng có lúc đối mặt với tình trạng khủng hoảng tài chính dù lớn hay nhỏ, có người phải đối mặt với tình trạng phá sản vào hoàn cảnh đó
đa số buông tay chấp nhận số phận Khi xảy ra hiện tượng phá sản thì vấn đề xử lý
nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án áp dụng thủ tục thanh lý tài sản là rất khó khăn đối với Thẩm phán và Tổ quản lý, thanh lý tài sản Để tránh sự xung đột giữa các chủ nợ, đảm bảo quyền được ưu tiên thanh toán… Luật Phá sản đã có những quy định cho phép các con nợ được quyền thanh toán nợ mang tính tập thể Các con
nợ không được đòi các doanh nghiệp thanh toán nợ cho mình một cách tùy tiện mà phải tuân theo một trình tự pháp luật nhất định Chính vì vậy, những quy định của pháp Luật Phá sản về trình tự, thủ tục thanh lý tài sản và việc phân chia tài sản cho các chủ nợ thông qua Tổ quản lý, thanh lý tài sản đảm bảo cho việc giải quyết quyền lợi của chủ nợ và con nợ khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là cần thiết, tránh tình trạng tranh chấp giữa các chủ nợ với nhau và giữa chủ nợ với con nợ gây mất trật tự xã hội
1.5 Đặc trƣng của thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản 2004
Thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản hiện hành không giống như việc thanh lý tài sản thông thường, mà pháp Luật Phá sản đã có những quy định riêng để điều chỉnh vấn đề này, các đặc trưng của thủ tục thanh lý tài sản thể hiện ở những điểm sau:
+ Hoạt động thanh lý tài sản là hoạt động tố tụng đặc biệt có mối quan hệ với luật thi hành án dân sự: thủ tục phá sản là một thủ tục tố tụng đặc biệt trong đó
hoạt động quản lý, thanh lý tài sản là một quá trình của thủ tục tố tụng này Hoạt động này có tính chất như hoạt động thi hành án dân sự, bởi trong quá trình làm việc của Tổ quản lý và thanh lý tài sản của doanh nghiệp phải thực hiện rất nhiều thủ tục: hòa giải giữa chủ nợ và con nợ; xác định tài sản của con nợ; ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản, gây thất thoát tài sản của con nợ; tổ chức bán đấu giá tài sản, phân chia tài sản của con nợ theo quyết định của Thẩm phán…Ngoài ra, giữa hoạt động của
Tổ quản lý, thanh lý tài sản và hoạt động thi hành án dân sự có một điểm tương đồng là điều hướng tới mục đích là thu hồi các giá trị vật chất, đảm bảo lợi ích chính đáng cho người có quyền và lợi ích hợp pháp Chính vì vậy, hoạt động quản lý và thanh lý tài sản có mối quan hệ với hoạt động thi hành án dân sự và sự tham gia của
Trang 18cán bộ làm công tác thi hành án với vai trò là nòng cốt của Tổ quản lý và thanh lý tài sản sẽ làm cho hoạt động của thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá có tính hiệu quả hơn
+ Thủ tục thanh lý tài sản chỉ được thực hiện khi có quyết định mở thủ tục
thanh lý của Tòa án: nếu như thủ tục đòi nợ thông thường (thông qua việc khiếu
kiện ra Tòa án) có thể tiến hành bất cứ lúc nào thì thủ tục phá sản chỉ được áp dụng khi doanh nghiệp mắc nợ đã lâm vào tình trạng tài chính bi đát, dường như không có lối thoát mà người ta thường gọi là tình trạng phá sản Nói cách khác thủ tục phá sản
là thủ tục pháp lý không dễ được xảy ra, nó chỉ xuất hiện như một giải pháp cuối cùng mà các chủ nợ phải sử dụng để đòi nợ khi mà các phương thức đòi nợ thông thường khác trở nên bất lực Ngoài ra, thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản chỉ được áp dụng khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và có quyết định mở thủ tục thanh lý của Tòa án Chỉ khi nào rơi vào các trường hợp tiến hành thủ tục thanh
lý mà pháp Luật Phá sản 2004 quy định tại điều 78 (quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản trong trường hợp đặc biệt); điều 79 (quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản khi Hội nghị chủ nợ không thành); điều 80 (quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất) Chính vì vậy, thủ tục thanh
lý tài sản trong Luật Phá sản là một thủ tục đặc biệt chỉ xảy ra doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và phải theo một trình tự mà pháp Luật Phá sản quy định
+ Thủ tục thanh lý tài sản là một thủ tục đòi nợ tập thể: doanh nghiệp với tư
cách là một chủ thể pháp luật có thể tham gia vào rất nhiều quan hệ xã hội khác nhau, và do đó, có thể trở thành chủ thể của nhiều quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau Ví dụ: doanh nghiệp A ký kết hợp đồng mua bán với doanh nghiệp B và bị doanh nghiệp B vi phạm hợp đồng thì doanh nghiệp A có quyền khởi kiện ra Tòa án một cách độc lập, riêng lẻ để nhờ Tòa án can thiệp Như vậy có thể thấy rằng, đặc điểm nổi bật của tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế là ở chổ, trong tố tụng này các chủ
nợ thực hiện việc đòi nợ một cách độc lập, riêng lẽ hay nói cách khác nợ của ai thì người đó đòi Khác với thủ tục đòi nợ thông thường này, thủ tục phá sản là thủ tục
mà ở đó việc đòi nợ cũng như thanh toán nợ được tiến hành một cách tập thể Trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, các chủ nợ không được tự ý xé lẻ để đòi nợ riêng cho mình mà tất cả họ được tập hợp lại thành một chủ thể pháp lý duy nhất và được gọi là “Hội nghị chủ nợ” Hội nghị chủ nợ đại diện cho tất cả các chủ nợ để tham gia vào việc giải quyết phá sản Khi bị Tòa án áp dụng thủ tục thanh lý thì toàn
Trang 19bộ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (con nợ) được đưa vào một quỹ chung để chi trả cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định đã được Luật Phá sản quy định trước Nếu giá trị tài sản của doanh nghiệp (con nợ) không đủ để thanh toán các khoản nợ thì các chủ nợ sẽ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng
+ Hậu quả pháp lý của thủ tục thanh lý tài sản là sự chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: trong tố tụng dân sự hoặc kinh tế, sau khi con nợ trả nợ
xong thì con nợ vẫn hoạt động bình thường không có sự hạn chế về hoạt kinh doanh của con nợ Thế nhưng, trong tố tụng phá sản thì kể từ ngày nhận được quyết định của Toà án áp dụng thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, thì mọi hoạt động của doanh nghiệp bị hạn chế Trừ trường hợp Thẩm phán ra quyết định cho phép doanh nghiệp thực hiện một số hoạt động cần thiết làm tăng thêm khối tài sản của doanh nghiệp.5
Hay nói cách khác, mọi hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình tiến hành thủ tục thanh lý điều được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của Tòa án và Tổ quản lý, thanh lý tài sản Và khi thanh toán tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã chấm dứt
1.6 Mục đích của thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Thứ nhất, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ nợ: trong bất cứ nghành nghề
kinh doanh nào, việc nợ lẫn nhau là hiện tượng bình thường, ít doanh nghiệp nào có thể tránh khỏi Khi có nợ thì chủ nợ đương nhiên có quyền đòi nợ thông qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp khởi kiện ra Toà án Tính ưu việt của cơ chế đòi nợ thông qua thủ tục phá sản là ở chỗ, việc đòi nợ được bảo đảm bằng việc Toà án có thể tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, hợp tác xã
và đồng thời qua đó toàn bộ tài sản của doanh nghiệp mắc nợ được bán để trả cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên thanh toán nhất định Vì vậy, mà quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ được đảm bảo
Thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích cho chủ doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ:
trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán tất cả các khoản nợ của mình cho các chủ nợ thì sau khi tuyên bố phá sản, hoạt động kinh
(5) Điều 82 Luật Phá sản 2004
Trang 20doanh của chủ doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ chấm dứt tồn tại, tất cả các khoản nợ chưa được thanh toán do tài sản của doanh nghiệp không đủ để thanh toán cho các chủ nợ thì cũng được coi là đã thanh toán khi đó, nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã cũng được miễn trừ Pháp Luật Phá sản không chỉ bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cả doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ và đặc biệt là đã không coi phá sản là một tội phạm như quan niệm của một số nước trên thế giới Điều này có thể thấy qua việc pháp luật quy định nhiều quyền cho doanh nghiệp mắc nợ trong quá trình giải quyết phá sản Chẳng hạn, kể từ thời điểm Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, tất cả quyền đòi nợ đều được đình chỉ và giải quyết theo một thủ tục chung duy nhất do Toà án tiến hành, không một cá nhân, tổ chức nào được tiến hành đồng thời nghiêm cấm các hành vi đòi nợ một cách riêng lẻ Từ đó có thể thấy, quyền và lợi ích của doanh nghiệp, hợp tác xã được Tòa án bảo vệ một cách tuyệt đối
Thứ ba, việc thanh lý tài sản nhằm để tránh sự xung đột giữa các chủ nợ:
thông thường khi doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ quá nhiều nhưng lại có ít tài sản
để thanh toán nợ thì việc các chủ nợ tranh giành nhau tài sản của con nợ là điều rất
có thể xảy ra Căn cứ vào pháp Luật Phá sản Tòa án thay mặt Nhà nước đưa ra một cách giải quyết công bằng khách quan mọi xung đột giữa các chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ trong quá trình thanh toán điều được giải quyết theo đúng pháp luật
Ngoài những mục đích trên thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản còn có ý nghĩa là một thủ tục nhằm chuyển hóa toàn bộ tài sản của doanh nghiệp thành tiền để thanh toán cho các chủ nợ và chấm dứt hoạt động của chủ doanh nghiệp, thủ tục này chỉ bắt đầu sau khi Tòa án ra quyết định thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
Tóm lại, qua các vấn đề được tìm hiểu ở trên về lịch sử hình thành của thủ tục
thanh lý tài sản trong Luật Phá sản Việt Nam qua các thời kỳ phát triển cũng như việc đưa ra một số khái niệm, vai trò và mục đích, ý nghĩa…của thủ tục thanh lý tài sản trong Luật Phá sản 2004 Để hiểu rõ hơn về thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi lâm vào tình trạng phá sản được tiến hành trên cơ sở nào, khi nào thì Tòa án áp dụng thủ tục thanh lý tài sản đối với doanh nghiệp, việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp được phân chia theo thứ tự ưu tiên thanh toán nào và một số vấn đề khác liên quan đến thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
Trang 21xã…Chúng ta tìm hiểu chương tiếp theo của vấn đề này thông qua quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Trang 22CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN KHI DOANH NGHIỆP LÂM VÀO TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
Thủ tục thanh lý tài sản là một thủ tục mới được xây dựng trong Luật Phá sản
2004, trước khi ban hành Luật Phá sản 2004, vấn đề về thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản trong Luật Phá sản 1993 thì chưa được
đề cập đến Chính vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Luật Phá sản 2004 đã dành một mục riêng để quy định trình tự, thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Quy định về thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
2.1 Các cơ sở để tiến hành thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản
Thủ tục thanh lý tài sản được tiến hành bằng quyết định mở thủ tục thanh lý, khi có quyết định mở thủ tục thanh lý thì Toà án sẽ tiến hành thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản để “giải phóng nợ” cho doanh nghiệp Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản là người có thẩm quyền ban hành quyết định mở thủ tục thanh lý Khi có quyết định mở thủ tục thanh lý, các khoản nợ của doanh nghiệp mắc nợ sẽ được phân chia theo nguyên tắc và trật tự luật định, không chịu sự chi phối của bản thân của người mắc nợ và các chủ nợ.6
Theo quy định Luật Phá sản 2004, quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản được Thẩm phán phụ trách tiến hành trong ba trường hợp sau: trong trường hợp đặc biệt; trong trường hợp khi Hội nghị chủ nợ không thành; trong trường hợp sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất Ngoài ra, tuỳ vào tình hình cụ thể mà Thẩm phán quyết định chuyển từ việc áp dụng thủ tục phục hồi sản xuất kinh doanh sang thủ tục thanh
lý
2.1.1 Tiến hành mở thủ tục thanh lý tài sản trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp đặc biệt để áp dụng thủ tục thanh lý là khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bị thua lỗ đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt để phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn không phục hồi được và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì Toà án ra quyết định mở thủ
(6) Trích chuyên đề khoa học xét xử: “Tìm hiểu pháp Luật Phá sản tập 1”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội
tháng 04 năm 2010, trang 73
Trang 23tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp mà không cần phải triệu tập Hội nghị chủ nợ
để xem xét việc áp dụng thủ tục phục hồi.7
Các biện pháp đặc biệt được Nhà nước
áp dụng để phục hồi sản xuất kinh doanh có thể là hỗ trợ về mặt tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực và cũng có thể là tái cơ cấu lại doanh nghiệp… Nhằm giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản nhưng không thành công và vẫn tiếp tục rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Khi đó, Toà án sẽ ra ngay quyết định
mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp để tránh tình trạng doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài đến lúc không còn tài sản để thanh toán các khoản nợ mà doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản cho chủ nợ Quyết định mở thủ tục thanh lý trên là hoàn toàn hợp lý với thực tiễn kinh doanh thua lỗ của doanh nghiệp nhằm để bảo toàn khối tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không
có khả năng phục hồi và cũng có thể là đảm bảo quyền được thanh toán của chủ nợ
trên phần giá trị tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
2.1.2 Tiến hành mở thủ tục thanh lý tài sản trong trường hợp khi Hội nghị chủ nợ không thành
Khi có đủ căn cứ để chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Toà án sẽ tiến hành mở thủ tục phá sản Từ khi có quyết định mở thủ tục phá sản, mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán và Tổ quản lý, thanh lý tài sản Như vậy, ngay sau khi có quyết định
mở thủ tục phá sản, Tổ quản lý, thanh lý tài sản sẽ được thành lập Tuy nhiên, lúc này nhiệm vụ của Tổ quản lý, thanh lý tài sản mới chỉ là giám sát các hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ và tiến hành các hoạt động để lập danh sách chủ
nợ và tổ chức Hội nghị chủ nợ Nếu Hội nghị chủ nợ không thành thì Thẩm phán phụ trách việc phá sản sẽ ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản Cụ thể theo quy định tại điều 79 Luật Phá sản năm 2004, Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh
lý tài sản khi Hội nghị chủ nợ không thành trong những trường hợp sau đây:
+ Chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không tham gia Hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng hoặc sau khi Hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc trường hợp quy định tại điều 13 và điều 14 của Luật Phá sản 2004.8
(7) Điều 78 Luật Phá sản 2004
(8) Khoản 1 điều 79 Luật Phá sản 2004
Trang 24+ Không đủ số chủ nợ quy định tại khoản 1 điều 65 của Luật Phá sản tham gia Hội nghị chủ nợ sau khi Hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần nếu người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thuộc trường hợp quy định tại các điều 15, 16, 17 và
18 của Luật Phá sản 2004.9
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 điều 79 Luật Phá sản trên thì chủ doanh
nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản có nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ do Thẩm phán phụ trách thủ tục phá sản triệu tập Việc chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không tham gia Hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng đồng nghĩa với việc bản thân chủ doanh nghiệp từ chối cơ hội được phục hồi hoạt động kinh doanh Khi đó Toà án sẽ tiến hành việc thanh lý tài sản, các khoản nợ để chấm dứt
nợ cho doanh nghiệp và tuyên bố doanh nghiệp phá sản Ngoài ra, thủ tục thanh lý cũng được tiến hành sau khi Hội nghị chủ nợ đã được hoãn một lần đối với trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là các chủ nợ không có bảo đảm, có bảo đảm một phần hoặc người lao động
Thứ hai, sau khi Hội nghị chủ nợ được hoãn một lần, trong thời hạn 30 ngày,
Thẩm phán phải triệu tập lại Hội nghị chủ nợ Nếu vẫn không đủ số chủ nợ hợp lệ tham gia Hội nghị chủ nợ đối với trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chính doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, các cổ đông công ty cổ phần và các thành viên của công ty hợp danh thì Thẩm phán sẽ ra quyết định thanh lý tài sản hoặc các chủ nợ không muốn áp dụng việc phục hồi cho doanh nghiệp hoặc điều kiện để áp dụng thủ tục phục hồi không được thỏa mãn, khi đó Toà
án cũng áp dụng thủ tục thanh lý tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ
2.1.3 Tiến hành mở thủ tục thanh lý sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ
nợ lần thứ nhất
Sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết đồng ý với dự kiến các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ và yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau đây Toà án sẽ ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã:
+ Doanh nghiệp, hợp tác xã không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
(9) Khoản 2 điều 79 Luật Phá sản 2004
Trang 25+ Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã
+ Doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, trừ trường hợp các bên liên quan có thoả thuận khác.10
Sau khi Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ
và yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua Nghị quyết doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của mình và nộp cho Toà án Nếu thấy cần phải có thời gian dài hơn thì phải có văn bản đề nghị Thẩm phán gia hạn
thời hạn gia hạn không quá ba mươi ngày.11 Nếu hết thời hạn trên doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản không xây dựng được phương án phục hồi sản xuất kinh doanh thì Thẩm phán sẽ ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản đối với doanh nghiệp Từ đó có thể thấy được để cho doanh nghiệp có khả năng phục hồi trở lại tình trạng ban đầu không lâm vào tình trạng phá sản thì phải xây dựng được phương
án phục hồi sản xuất kinh doanh và phải được Hội nghị chủ nợ chấp thuận với phương án đó thì Tòa án mới không áp dụng thủ tục thanh lý Ngược lại, nếu Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp thực hiện không đúng, không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì đây cũng là cở sở để tiến hành áp dụng thủ tục thanh lý của Tòa án
2.2 Nội dung quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản trong trường hợp đặc biệt; trong trường hợp khi Hội nghị chủ nợ không thành; trong trường hợp sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất theo quy định tại điều 81 Luật Phá sản 2004 phải có các nội dung chủ yếu sau:
+ Ngày, tháng, năm ra quyết định;
+ Tên của Toà án; họ và tên Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản;
Trang 26+ Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý tài sản;
+ Căn cứ của việc áp dụng thủ tục thanh lý tài sản;
+ Phương án phân chia tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
+ Quyền khiếu nại, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kháng nghị
Nội dung quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản rất quan trọng bởi nó phản ánh lên tất cả các vấn đề liên quan việc đến việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp Nội dung quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản là cơ sở để xem xét việc Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản có phù hợp với quy định của pháp luật không Việc Tòa án ra quyết định thanh lý cũng đồng nghĩa là doanh nghiệp không có khả năng phục hồi sản xuất kinh doanh nếu ra quyết định một cách tùy tiện không có căn
cứ pháp lý rõ ràng, cụ thể thì quyền lợi của chủ doanh nghiệp không được đảm bảo Ngoài ra, nội dung quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản còn rất quan trọng nhằm
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, cho các chủ nợ để họ biết được quyền được ưu tiên thanh toán của mình, quyền được khiếu nại khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Cũng theo quy định tại khoản 2 điều 81 Luật Phá sản 2004 thì quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải được Toà án gửi cho doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản; Viện kiểm sát cùng cấp và đăng trên báo địa phương nơi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trong ba số liên tiếp Đồng thời, với quyết định trên quyết định của Toà án về mở thủ tục phá sản phải được thông báo cho các chủ nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Thời hạn gửi và thông báo quyết định mở thủ tục phá sản là bảy ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.12 Các quyết định mà Tòa án gửi và thông báo về quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản phải được gửi đến cho các chủ nợ, những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Viện kiểm sát cùng cấp biết để thực hiện các quyền như : khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản hoặc quyền được ưu tiên thanh toán theo quyết định của Tòa án
(12) Điều 29 Luâ ̣t Phá sản 2004
Trang 272.3 Trình tự, thủ tục thanh lý tài sản khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
2.3.1 Thành lập và hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
2.3.1.1 Thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Theo quy định điều 9 Luật Phá sản 2004: đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Tổ quản lý, thanh lý tài sản chịu trách nhiệm trước Thẩm phán về hoạt động của mình Khi ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản Thẩm phán gửi văn bản đề nghị cử người tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản tới cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan theo quy định tại điều 15 nghị định 67/2006/NĐ-
CP trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Thẩm phán, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Một người có thể được đồng thời tham gia tối đa 03 (ba) Tổ quản
lý, thanh lý tài sản Người được chỉ định tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền từ chối sự chỉ định đó, nếu có lý do chính đáng Trong trường hợp đặc biệt, một chấp hành viên có thể đồng thời tham gia 06 (sáu) tổ quản lý, thanh lý tài sản nhưng phải được Thẩm phán chấp thuận Quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải ghi rõ họ, tên, nghề nghiệp, chức vụ, cơ quan công tác của Tổ trưởng và các thành viên khác Quyết định này phải được thông báo ngay cho Chánh án Toà án nhân dân có thẩm quyền thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và được niêm yết công khai tại trụ sở Toà án nhân dân.13
Trường hợp người được chỉ định từ chối tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản hoặc có căn cứ cho rằng người được chỉ định tham gia thành viên Tổ quản lý, thanh
lý tài sản là không khách quan hoặc không đủ năng lực thi hành nhiệm vụ, thì Thẩm phán có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức liên quan cử người thay thế Chậm nhất là
05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Thẩm phán yêu cầu, các cơ quan, tổ chức liên quan phải cử người khác thay thế Trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản, nếu
(13)
Điều 16 Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11 tháng 07 năm 2006 hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Trang 28người đại diện cho các chủ nợ trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản không có khả năng thực hiện các công việc của tổ thì Thẩm phán có quyền đề nghị Hội nghị chủ nợ chọn một đại diện khác để thay thế Các chủ nợ phải tổ chức họp để chọn người thay thế trong thời hạn chậm nhất là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Thẩm phán đề nghị Thành viên Tổ quản lý, thanh lý tài sản bị thay đổi có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án nhân dân cấp có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản về việc thay đổi đó Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Toà án nhân dân phải xem xét, giải quyết Quyết định của Chánh án Toà
án nhân dân là quyết định cuối cùng
2.3.1.2 Thành phần của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Thành phần tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản gồm có: một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng; một cán bộ của Toà án; một đại diện chủ nợ; một đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản
Theo quy định trên thì tham gia vào thành phần Tổ quản lý, thanh lý tài sản thì phải có ít nhất 4 thành viên tham gia Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết Thẩm phán xem xét, quyết định bổ sung về thành phần đại diện tham gia Tổ quản lý, thanh
lý tài sản:14
+ Đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động (nơi không có tổ chức công đoàn) đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có nợ lương hoặc các khoản nợ khác đối với người lao động
+ Đại diện Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ban Cơ yếu Chính phủ đối với doanh nghiệp đặc biệt trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh, Ban cơ yếu thuộc lĩnh vực do các cơ quan này quản lý
+ Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng, tài chính, bảo hiểm phải có một đại diện của cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành Ngân hàng, tài chính, bảo hiểm tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia bảo hiểm tiền gửi thì phải có một đại diện của tổ chức bảo hiểm tiền gửi tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản
+ Đại diện của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản lý ngành, lĩnh vực về sản phẩm, dịch vụ công ích mà doanh nghiệp, hợp tác xã thường
(14)
Điều 15 Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11 tháng 07 năm 2006 hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Trang 29xuyên, trực tiếp cung ứng; đại diện của Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh mà doanh nghiệp, hợp tác xã thường xuyên, trực tiếp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích tại địa bàn tỉnh đó
Các cơ quan, tổ chức trên có trách nhiệm cử đại diện tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản theo yêu cầu của Thẩm phán phụ trách giải quyết việc phá sản Khi những vụ việc phát sinh nhiều vấn đề phức tạp hơn vượt quá khả năng của những thành viên tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản thì Thẩm phán có thể bổ sung thêm vào thành phần tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản như: các chuyên viên giám định, chuyên gia kế toán, các chuyên gia bán đấu giá để làm tăng hiệu quả giải quyết công việc Luật Phá sản doanh nghiêp 1993 quy định Tổ quản lý và Tổ thanh
lý tài sản thành hai tổ độc lập Thành phần tham gia vào hai tổ này gồm có rất nhiều thành viên: cán bộ của Toà kinh tế cấp tỉnh, chấp hành viên của Phòng thi hành án thuộc Sở Tư pháp, đại diện chủ nợ, đại diện doanh nghiệp mắc nợ, đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn, chuyên viên các
cơ quan tài chính, Ngân hàng cấp tỉnh và các ngành chuyên môn khác Tổ quản lý tài sản do một cán bộ của Toà kinh tế tỉnh làm tổ trưởng.15 So với Luật Phá sản
2004 thì Tổ quản lý và Tổ thanh lý tài sản được hợp thành một tổ duy nhất là Tổ quản lý, thanh lý tài sản Luật Phá sản 1993 quy định thành viên tham gia vào hai tổ này khá đa dạng và phức tạp sẽ gây khó khăn cho việc thành lập và hoạt động ngay
từ bước triệu tập đã gây khó khăn, hai tổ này được thành lập ở hai thời điểm khác nhau Tổ quản lý được thành lập ở giai đoạn Chánh án Tòa án ra quyết định thành lập cùng với quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản và Tổ quản lý tài do cơ quan thi hành án dân sự thành lập Nhiệm vụ của hai tổ này cũng không giống nhau chính vì vậy, việc thanh lý và quản lý tài sản cũng như chuyển giao hồ
sơ giữa hai Tổ này diễn không thuận tiện khiến cho việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn Trong khi đó Luật Phá sản 2004 quy định thông thường thì chỉ có 4 thành viên tham gia vào Tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ trong trường hợp cần thiết Thẩm phán xem xét thì mới bổ sung thành viên mới Từ đó có thể thấy Luật Phá sản 2004 quy định như vậy là hoàn toàn hợp lý phù hợp với thực tiễn khách quan ít thành viên tham gia khi triệu tập cũng diễn ra thuận lợi, việc quản lý và thanh lý tài sản của doanh nghiệp được thống nhất
(15) Điều 15 Luật Phá sản doanh nghiệp 1993
Trang 302.3.1.3 Nguyên tắc hoạt động và chế độ làm việc của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Tổ quản lý, thanh lý tài sản được thành lập theo quyết định của Thẩm phán phụ trách giải quyết yêu cầu phá sản, về nguyên tắc thì Tổ quản lý, thanh lý tài sản chịu trách nhiệm trước Thẩm phán về hoạt động của mình Để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động quản lý và thanh lý tài sản Tổ quản lý, thanh lý tài sản làm việc theo những nguyên tắc và chế độ được quy định tại điều 20 Nghị định số 67/2006/NĐ-CP ngày 11 tháng 07 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản bao gồm các nguyên tắc sau:
+ Tổ quản lý, thanh lý tài sản làm việc dưới sự điều hành của Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản và chịu sự giám sát của Thẩm phán Thành viên của Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Ngay sau khi có quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản, Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải tổ chức phiên họp thứ nhất để phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên
và thông báo địa điểm, kế hoạch làm việc của tổ
+ Phiên họp của Tổ quản lý, thanh lý tài sản chỉ được tiến hành khi có sự tham gia của ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số thành viên Các quyết định của Tổ quản lý, thanh lý tài sản chỉ được thông qua khi có sự đồng ý của đa số thành viên
có mặt tại cuộc họp, trường hợp có số phiếu ngang nhau thì ý kiến của Tổ trưởng có tính quyết định
+ Trong quá trình hoạt động Tổ quản lý, thanh lý tài sản được quyền sử dụng
cơ sở vật chất của cơ quan thi hành án dân sự và Toà án nhân dân Các cơ quan Nhà nước, tổ chức có liên quan trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình có nghĩa
vụ hỗ trợ Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện nhiệm vụ được giao
+ Sổ sách và giấy tờ có liên quan đến hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản được lưu giữ tại cơ quan thi hành án, Toà án và do Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh
lý tài sản quản lý Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản và Tổ quản lý, thanh lý tài sản giải thể thì hồ sơ liên quan đến hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản được lưu giữ tại Toà án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Mọi giấy tờ giao dịch liên quan tới hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải được Thẩm phán hoặc Chấp hành viên có thẩm quyền ký tên và đóng dấu
Trang 31+ Tổ quản lý, thanh lý tài sản mở tài khoản riêng để phục vụ cho việc quản
lý, thanh lý tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
+ Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền sử dụng con dấu của Toà
án hoặc cơ quan thi hành án
+ Tổ trưởng và thành viên Tổ quản lý, thanh lý tài sản được hưởng lương tại
cơ quan, tổ chức cử mình tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản; được hưởng thù lao theo quy định của Bộ Tài chính
+ Chi phí liên quan đến hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản được lấy
từ nguồn thu của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản Tổ quản lý, thanh lý tài sản được quyền tạm ứng chi phí từ cơ quan thi hành án Việc hạch toán chi phí phải tuân theo chế độ kế toán hiện hành
2.3.1.4 Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Tổ quản lý, thanh lý tài sản có nhiệm vụ giám sát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp từ khi mở thủ tục phá sản cho đến khi tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã khi lâm vào tình trạng phá sản: lập bảng kê toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, hợp tác xã kể cả các khoản tiền mặt, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ
có giá và các quyền về tài sản Đây là nhiệm vụ có thể nói nằm ngoài khả năng kiểm soát của Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực chất Tổ quản lý, thanh lý tài sản chỉ lập bản kê khai tài sản trên cơ sở những thông tin mà doanh nghiệp Đồng thời, chịu trách nhiệm trước Thẩm phán về việc thực hiện nhiệm vụ của mình Tổ quản lý, thanh lý tài sản có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
Thứ nhất, quản lý tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã cung cấp: trong trường
hợp doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có tài sản ở nhiều nơi khác nhau hoặc ở nước ngoài thì công việc của Tổ quản lý, thanh lý trở nên khó khăn hơn Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, Tổ quản lý, thanh lý tài sản phân công thành viên thực hiện nhiệm vụ giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; thu hồi và quản lý tài sản, tài liệu, sổ kế toán và con dấu của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý.16
Thứ hai, bảo quản tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi lâm vào tình trạng phá sản: đề nghị Thẩm phán quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp cần thiết;
(16)
Khoản 1 điều 27 Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11 tháng 07 năm 2006 hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
Trang 32phát hiện và đề nghị Thẩm phán ra quyết định thu hồi lại tài sản, giá trị tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh
lý đã bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp trong những trường hợp quy định tại khoản
1 điều 43 của Luật Phá sản 2004; đề nghị Thẩm phán ra quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải thực hiện hoặc không được thực hiện một số hành vi nhằm bảo toàn tài sản hoặc phục vụ cho việc thanh lý tài sản hoặc làm tăng thêm khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; thi hành quyết định của Thẩm phán về việc bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý theo đúng quy định của pháp luật về bán đấu giá; mở tài khoản ở Ngân hàng để gửi các khoản tiền thu được từ những người mắc nợ và từ việc bán đấu giá các tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý tài sản trong trường hợp cần thiết; làm chủ tài khoản mở tại Ngân hàng; gửi các khoản tiền thu được từ những người mắc nợ và từ việc bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã vào tài khoản mở tại Ngân hàng; đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực khi xét thấy cần thiết; đăng ký giao dịch bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác
lý, thanh lý tài sản vắng mặt thì phải uỷ quyền cho một thành viên trong tổ điều hành công việc của Tổ quản lý, thanh lý tài sản; Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài
Trang 33sản chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
2.3.1.5 Giải thể và thành lập lại Tổ quản lý, thanh lý tài sản
• Giải thể Tổ quản lý, thanh lý tài sản: đồng thời với quyết định mở thủ
tục phá sản Thẩm phán sẽ ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản Tổ quản lý, thanh lý tài sản sẽ thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật về phá sản Tuy nhiên, Tổ quản lý, thanh lý tài sản cũng bị giải thể trong các trường hợp sau:
+ Thẩm phán ra quyết định công nhận Nghị quyết Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản theo quy định tại điều 72 của Luật Phá sản 2004
+ Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản theo quy định tại điều 85 của Luật Phá sản 2004 Tại Hội nghị chủ nợ phương án phục hồi sản xuất kinh doanh được thông qua bằng Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ Khi Thẩm phán
ra quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về phương án phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì Tổ quản lý, thanh lý tài sản sẽ bị giải thể hoặc Tổ quản lý, thanh lý tài cũng bị giải thể trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý
• Thành lập lại Tổ quản lý, thanh lý tài sản: phương án phục hồi sản
xuất kinh doanh được công nhận bằng Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ là cơ hội để doanh nghiệp, hợp tác xã thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán Khi kết thúc giai đoạn phục hồi, Tòa án sẽ ra một trong hai quyết định: đình chỉ phục hồi hoặc
mở thủ tục thanh lý tài sản Trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã thì vai trò của Tổ quản lý, thanh lý tài sản rất quan trọng Chính vì vậy, điều
19 Nghị 67/2006/NĐ-CP ngày 11 tháng 07 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn việc
áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản quy định trường hợp thành lập lại Tổ quản lý, thanh lý tài sản doanh nghiệp như sau: trường hợp Tổ quản lý, thanh lý tài sản đã bị giải thể theo quy định tại khoản 1 điều 18 của Nghị định 67/2006/NĐ-CP ngày 11 tháng 07 năm
2006 để doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện Nghị quyết Hội nghị chủ nợ về phương
án phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện không đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì
Trang 34Thẩm phán phải ra quyết định thành lập lại Tổ quản lý, thanh lý tài sản để thực hiện việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Phá sản
2.3.2 Khiếu nại, kháng nghị và giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định
mở thủ tục thanh lý tài sản
2.3.2.1 Khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản
Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản thể hiện phán quyết của Toà án về việc giải quyết các khoản nợ của Toà án đối với người mắc nợ và các chủ nợ nên nó có liên quan đến quyền lợi không chỉ của các chủ nợ mà còn liên quan đến quyền lợi của chính những người mắc nợ Quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản phải được gửi cho các bên có liên quan và có thể bị khiếu nại hoặc kháng nghị Theo quy định tại điều 83 Luật Phá sản 2004 thì các chủ thể sau có quyền khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản:
+ Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, các chủ nợ có quyền khiếu nại;
+ Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện thông qua kiểm tra tính hợp pháp của căn cứ ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản, nội dung mở thủ tục thanh lý tài sản và phương án phân chia tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng mở thủ tục thanh lý tài sản
+ Những người mắc nợ doanh nghiệp, hợp tác xã có quyền khiếu nại phần quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã liên quan đến nghĩa vụ trả nợ của mình
Thời hạn khiếu nại, kháng nghị là hai mươi ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kháng nghị Toà án đã ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phải gửi hồ sơ về phá sản kèm theo đơn khiếu nại, quyết định kháng nghị cho Toà án cấp trên trực tiếp để xem xét, giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản
Luật Phá sản 1993 quy định Viện kiểm sát nhân dân có quyền giám sát hoạt động giải quyết phá sản doanh nghiệp và thực hiện quyền kháng nghị tuyên bố phá sản doanh nghiệp Luật Phá sản 1993 hoạt động thanh toán tài sản của doanh nghiệp chỉ được tiến hành sau khi có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp Chính vì vậy, thủ tục thanh lý tài sản không phải là một thủ tục độc lập như Luật Phá sản
Trang 352004 Tuy nhiên, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát về quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp đã có từ Luật Phá sản 1993 nhưng ở mức độ chung nhất không quy định riêng như Luật Phá sản 2004 Để phát huy vai trò của mình trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Tòa án trong việc tiến hành thanh lý tài sản của doanh nghiệp Luật Phá sản 2004 đã quy định cụ thể rõ ràng hơn về quyền kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản
2.3.2.2 Giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản
Ngay sau khi nhận được hồ sơ về phá sản kèm theo đơn khiếu nại, quyết định kháng nghị, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp chỉ định một tổ gồm ba Thẩm phán xem xét, giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản Theo quy định tại tiểu mục 3.2 Mục V Nghị quyết 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 04 năm 2005 thì trong trường hợp có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản hoặc quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản thì Toà án cấp trên trực tiếp phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp biết Trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp thấy cần tham gia phiên họp xem xét, giải quyết kháng nghị, thì phải thông báo bằng văn bản cho Toà án biết Sau khi Toà án đã có văn bản thông báo về ngày, giờ, địa điểm mở phiên họp mà đại diện Viện kiểm sát vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xem xét, giải quyết kháng nghị theo thủ tục chung Trong thời hạn sáu mươi ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ về phá sản tổ Thẩm phán phải xem xét, giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản Tổ Thẩm phán có quyền ra một trong các quyết định sau đây:
+ Không chấp nhận khiếu nại, kháng nghị và giữ nguyên quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của Toà án cấp dưới
+ Sửa quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của Toà án cấp dưới
+ Huỷ quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản của Toà án cấp dưới và giao hồ
sơ về phá sản cho Toà án cấp dưới tiếp tục thủ tục phục hồi
Theo quy định tại khoản 3 điều 84 và khoản 3 điều 92 của Luật Phá sản 2004 thì quyết định giải quyết khiếu nại, kháng nghị của Toà án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định Do đó, khi giải quyết khiếu nại, kháng nghị, Tổ Thẩm phán cần phải xem xét thận trọng các quyết định của Toà án cấp dưới, đơn của người khiếu nại hoặc kháng nghị của Viện kiểm
Trang 36sát nhân dân để ra quyết định đúng pháp luật Trong trường hợp cần thiết thì quyết định giải quyết khiếu nại, kháng nghị phải được Uỷ ban Thẩm phán (đối với Toà án nhân dân cấp tỉnh) hoặc tập thể lãnh đạo (đối với các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao) thảo luận cho ý kiến.17
2.3.3 Xác định tài sản và nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản
Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và nghĩa vụ
về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là những thuật ngữ pháp lý quan trọng của Luật Phá sản năm 2004 Thuật ngữ “tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản” thường được gọi tắt là tài sản có của doanh nghiệp, hợp tác xã Thuật ngữ “nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác
xã lâm vào tình trạng phá sản” là tài sản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Hai thuật ngữ này thường được gọi chung là tài sản phá sản (hay gọi chung là sản nghiệp) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Như vậy, tài sản phá sản bao gồm cả tài sản có và tài sản nợ, thông thường khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì tài sản có của doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản thường ít hơn tổng số tài sản nợ và tài sản này thường được xác định tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Luật Phá sản năm 2004 tuy không có điều luật quy định riêng về khái niệm tài sản và khái niệm nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Nhưng căn cứ vào những quy định khác nhau của Luật Phá sản năm
2004 chúng ta có thể xác định như sau:18
+ Tài sản (tài sản có) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
là toàn bộ số tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật có hoặc sẽ có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
+ Nghĩa vụ về tài sản (tài sản nợ) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là toàn bộ các khoản nợ theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp,
Trang 37c%E1%BB%A7a-lu%E1%BA%ADt-ph-s%E1%BA%A3n-nam-2004-v%E1%BB%81-ti-s%E1%BA%A3n-hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có nghĩa vụ phải thực hiện Luật Phá sản năm
2004 chỉ chấp nhận xem xét những khoản nợ được hình thành hợp pháp trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và chỉ là những khoản nợ không có bảo đảm Những khoản nợ có bảo đảm được bảo đảm thanh toán bằng chính những tài sản bảo đảm như cầm cố, thế chấp theo phương thức do các bên thoả thuận và theo đúng quy định pháp luật
2.3.3.1 Xác định tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản
Theo quy định tại điều 19 Luật Phá sản 1993 về việc xác định tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản bao gồm toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp Nhà nước), trong
đó gồm: tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp đang có ở doanh nghiệp; tiền hoặc tài sản góp vốn, liên doanh, liên kết với cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức khác; tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức doanh nghiệp khác đang nợ hoặc chiếm đoạt; tài sản mà doanh nghiệp đang cho thuê hoặc cho mượn; các quyền về tài sản; tài sản của doanh nghiệp tư nhân còn bao gồm cả tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh Với cách liệt kê và phân loại tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản ở Luật Phá sản 1993 đã chưa bao quát hết các loại tài sản có của doanh nghiêp khi lâm vào tình trạng phá sản Chính vì vậy, để có cách nhìn tổng quát hơn
về các loại tài sản có của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản Luật Phá sản
2004 ra đời để hoàn thiện hơn về cách xác định tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản Theo quy định tại điều 49 của Luật Phá sản năm 2004 thì tài sản (tài sản có) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản là những tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã khi đã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản bao gồm:
+ Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
+ Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
+ Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm,
Trang 38nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
+ Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về Đất đai Ngoài các loại tài sản trên còn bao gồm cả tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh
Nhìn chung, các loại tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản được Luật phá sản 2004 quy định một cách tương đối và đầy đủ hơn Luật Phá sản
1993 Nhưng thực tế cho thấy việc liệt kê các loại tài sản của doanh nghiệp trong Luật Phá sản 2004 chưa phản ánh hết các loại tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã một cách toàn diện Ngoài những loại tài sản được liệt kê tại điều 49 Luật Phá sản 2004
có bao gồm những loại tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện giao dịch trong vòng ba tháng trước ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu như: tặng cho động sản và bất động sản cho người khác; thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia; thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn; thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ; các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã thì những tài sản thu hồi được phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.19
Ngoài
ra, Luật Phá sản 2004 còn quy định về việc phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản khi phương án phục hồi kinh doanh được thông qua tại Hội nghị chủ nợ thì doanh nghiệp, hợp tác xã được tiếp tục kinh doanh việc kinh doanh có hiệu quả của doanh nghiệp sẽ làm tăng khối tài sản của doanh nghiệp Chính vì vậy, ngoài tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được xác định tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, cần
có những quy định bổ sung thêm tài sản thu được từ việc thực hiện phương án phục hồi kinh doanh vào chung với khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
2.3.3.2 Xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản
Điểm mới và tiến bộ hơn Luật Phá sản 1993 là Luật Phá sản 2004 đã có những quy định riêng về cách thức xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp
(19) Khoản 1, khoản 2 Điều 43 Luật Phá sản 2004
Trang 39khi lâm vào tình trạng phá sản trong khi đó Luật Phá sản 1993 không có những quy định trực tiếp về việc xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp khi lâm vào tình trạng phá sản Để cho việc xử lý tài sản của doanh nghiệp diễn ra một cách nhanh chóng, kịp thời Luật Phá sản năm 2004 đã xây dựng những nguyên tắc chung để xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản tại điều 33 Luật Phá sản năm 2004 Theo đó, nghĩa vụ về tài sản (tài sản nợ) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực chất là nghĩa vụ về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ phải thanh toán, là lý do đưa doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản Tài sản để làm căn cứ xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được xác định theo quy định tại điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được xác định căn cứ theo quy định tại điều 33 của Luật Phá sản
năm 2004 bao gồm: các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về
tài sản được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà nghĩa vụ này không có bảo đảm; các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có bảo đảm được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ
Xác định nghĩa vụ về tài sản (tài sản nợ) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực chất là xác định tổng các khoản nợ (cả nợ chưa đến hạn
và nợ đã đến hạn) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đối với các chủ nợ tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và số lượng các chủ nợ được quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thanh toán Về việc xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Mục 1 Phần III Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28 tháng 04 năm 2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Phá sản năm 2004 về phần nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản đã xác định như sau:
+ Tổng các yêu cầu của các chủ nợ đòi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản không có bảo đảm (kể cả đến hạn và chưa đến hạn), mà các nghĩa vụ này được xác lập, được phát sinh trước thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trang 40+ Tổng các yêu cầu của các chủ nợ có bảo đảm đòi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thực hiện nghĩa vụ về tài sản có bảo đảm (kể cả đến hạn
và chưa đến hạn), mà các nghĩa vụ này được xác lập, được phát sinh trước thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị huỷ bỏ
Như vậy, Luật Phá sản năm 2004 chỉ xem xét những khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã được hình thành hợp pháp trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản và những khoản nợ đó là khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị hủy bỏ Đối với những khoản nợ có bảo đảm dưới các hình thức như cầm cố, thế chấp… thì nghĩa vụ về tài sản được xác lập theo các giao dịch bảo đảm không được xác định là nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã Bên cạnh việc quy định nguyên tắc chung để xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Luật Phá sản năm 2004 còn quy định việc xác định nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp khoản nợ không phải là tiền (điều 38) và nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa
vụ liên đới hoặc bảo lãnh (điều 39) của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Theo đó, trường hợp đối tượng nghĩa vụ không phải là tiền thì theo yêu cầu của người có quyền hoặc của doanh nghiệp, hợp tác xã, Toà án xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản để đưa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã (điều 38 Luật Phá sản năm 2004) Giá trị của nghĩa vụ không phải là tiền có thể là các quyền về sở hữu trí tuệ, mẫu mã, kiểu dáng công nghiệp, giá trị thương hiệu của sản phẩm, dịch vụ… các quyền tài sản này đều
có thể trị giá ra thành tiền và được coi là tài sản Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác
xã có nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh thì việc xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định như sau:
+ Trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về một khoản nợ mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã đó lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có quyền đòi bất cứ doanh nghiệp, hợp tác xã nào trong số các doanh nghiệp, hợp tác xã đó thực hiện việc trả nợ cho mình theo quy định của pháp luật
+ Trường hợp người bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản thì người được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh