Pháp luật các nước trong đó có Việt Nam đã quy định khá chi tiết về những trường hợp được miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh... Khái niệm về thủ tục miễn tr
Trang 1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP LUẬT
KHÓA 34 (2008 – 2012)
Đề Tài THỦ TỤC MIỄN TRỪ THEO PHÁP LUẬT
CẠNH TRANH VIỆT NAM
Bộ Môn: Luật Kinh Doanh – Thương Mại MSSV: 5086059
Lớp: Luật Thương Mại 2
CẦN THƠ Tháng 05/2012
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Chương 1 Khái quát chung về vấn đề miễn trừ trong luật
cạnh tranh 4
1.1 Khái niệm về cạnh tranh 4
1.1.1.Theo quan niệm của một số nước trên thế giới 4
1.1.2 Theo luật cạnh tranh Việt Nam 5
1.2 Khái niệm về miễn trừ trong luật cạnh tranh 5
1.2.1 Miễn trừ là gì 5
1.2.2 Khái niệm về thủ tục miễn trừ theo pháp luật việt nam 6
1.2.3 Đặc điểm của thủ tục miễn trừ trong luật cạnh tranh việt nam 7
1.3 Những hành vi hạn chế cạnh tranh được miễn trừ 7
1.3.1 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 8
1.3.2 Tập trung kinh tế 17
1.4 Sự cần thiết phải có những quy dịnh miễn trừ trong luật canh tranh 19
1.5 Ưu nhược điểm của việc áp dụng hoạt động miễn trừ 20
1.5.1 Ưu điểm miễn trừ trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế 20
1.5.2 Nhược điểm miễn trừ trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế 21
Chương 2 Thủ tục thực hiện miễn trừ trong luật cạnh tranh thực tiễn và một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về miễn trừ trong luật cạnh tranh 23
2.1.Điều kiện đề được hưởng miễn trừ 23
2.1.1 Đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 23
2.1.2 Đối với hành vi tập trung kinh tế 25
2.2 Đối tượng được miễn trừ 26
2.2.1 Đối tượng được hưởng miễn trừ đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 27
2.2.2 Đối tượng được hưởng miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế 27
2.3 Cơ quan tiến hành miễn trừ 27
2.4 Trình tự thủ tục miễn trừ 29
Trang 52.4.4 Ra quyết định miễn trừ 33
2.5 Khiếu nại về miễn trừ và giải quyết khiếu nại về miễn trừ 33
2.6.Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về miễn trừ35 2.6.1 Thực trạng về miễn trừ ở Việt Nam 35
2.6.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về miễn trừ ở Việt Nam 36
KẾT LUẬN 39
PHỤ LỤC 41
Danh sách tài liệu tham khảo 60
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay các quốc gia đều mong muốn xây dựng một nền kinh tế vững chắc
và cạnh tranh theo hướng tích cực Tuy nhiên xu hướng quốc tế hóa đã làm cho môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt Kết quả cạnh tranh sẽ làm thay đổi vị thế của các doanh nghiệp trên thị trường Vì vậy mỗi doanh nghiệp phải tìm hướng
đi riêng để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh đầy khó khăn Dưới sức ép của cạnh tranh các nhà kinh doanh luôn tìm cách nâng cao năng lực kinh doanh để tồn tại và phát triển để tìm kiếm một năng lực kinh doanh mới Vì vậy thỏa thuận cạnh tranh và tập trung kinh tế đã được các doanh nghiệp biết đến từ rất lâu Ngày nay hình thức tập trung kinh tế và thỏa thuận cạnh tranh đã được các doanh nghiệp khai thác một cách triệt để, tuy nhiên mức độ tập trung kinh tế hay thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì đều có giới hạn nhất định, không vì lợi ích của một số doanh nghiệp mà ảnh hưởng đến lợi ích của của doanh nghiệp khác, ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia Từ đó những quy định về pháp luật cạnh tranh được đặt ra nhằm điều tiết chi phối những hành vi hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế Trên thực tế cho ta thấy không phải bất kỳ một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nào cũng ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, ở Việt Nam nhìn nhận vấn đề tập trung kinh tế và thỏa thuận canh tranh ở nhiều góc độ khác nhau Các hành vi tập trung kinh tế hay thỏa thuận hạn chế cạnh tranh luôn có tính chất hai mặt Một mặt các hành vi hạn chế cạnh tranh gây bất lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội, mặt khác lại có những hành vi giúp cho quốc gia phát triển theo hướng có lợi cho nền kinh tế Vì vậy pháp luật đã đặt ra những quy định về miễn trừ cho những hành vi tập trung kinh tế hay thỏa thuận hạn chế canh tranh có lợi cho sự phát triển kinh tế của quốc gia, hoặc không gây thiệt hại đến người tiêu dùng làm cho nền kinh tế quốc gia phát triển Những quy định về miễn trừ ra đời có góp phần đáng kể vào việc điều tiết nền kinh tế, ổn định cạnh tranh, và tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế một cách cân bằng theo hướng có lợi nhất cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Mặc dầu quy định về miễn trừ trong luật cạnh tranh ra đời từ năm
2005, nhưng cho đến nay vẫn chưa có trường hợp nào áp dụng để miễn trừ Vì vậy
đề tài sẽ làm rõ hơn về pháp luật miễn trừ theo luật cạnh tranh Việt Nam Chính vì
các lý do đó nên em chọn đề tài “Thủ tục miễn trừ trong pháp luật về cạnh tranh
tại Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp cho chính mình
Trang 72 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn làm rõ một số vấn đề lí luận về thủ tục miễn trừ trong cạnh tranh như: Khái niệm về thủ tục miễn trừ, mục đích áp dụng thủ tục miễn trừ, cách thức
áp dụng, và ý nghĩa của việc áp dụng, căn cứ và điều kiện áp dụng thủ tục miễn trừ trên cơ sở luật cạnh tranh việt nam hiện hành Đánh giá lại việc thực hiện các qui định về thủ tục miễn trừ trong luật cạnh tranh, từ khi luật canh tranh có hiệu lực từ năm 2005 Trên cơ sở đó rút ra những mặt tích cực, kết quả đạt được, những mặt tồn tại và bất cập cần khắc phục
Từ đó, người viết đề xuất một số ý kiến sửa đổi bổ sung một số quy định về thủ miễn tục miễn trừ trong pháp luật cạnh tranh, đồng thời đóng góp ý kiến để nâng cao tính hiệu quả trong pháp luật về thủ tục tiến hành miễn trừ trong cạnh tranh
3 Phạm vi nghiên cứu
Thủ tục miễn trừ trong pháp luật canh tranh là một vấn đề hết sức phức tạp
Vì vậy phạm vi của luận văn không thể xem xét hết các vấn đề, luận văn chỉ nghiên cứu những nội dung cơ bản nhất về thủ tục miễn trừ trong pháp luật canh tranh, mà chưa được làm rõ về mặt lý luận, trên tinh thần đó luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả, và hướng dẫn cách áp dụng thủ tục miễn trừ trong pháp luật canh tranh ở nước ta hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu người viết đã sử dụng một số phương pháp: nghiên cứu tài liệu, sách vở, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp sưu tầm lại liệu, phương pháp tổng hợp thông tin qua các bài viết, các văn bản pháp luật có liên quan, các công trình nghiên cứu chuyên ngành
5 Kết cấu luận văn
Phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm 2 chương: Chương 1: Khái quát chung về vấn đề miễn trừ trong luật cạnh tranh
Chương 2: Thủ tục thực hiện miễn trừ trong luật cạnh tranh, thực tiễn và một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề miễn trừ trong luật cạnh tranh
Đề tài “Thủ tục miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam” là vấn đề phức tạp nó đòi hỏi người nghiên cứu có kiến thức sâu về lí luận và thực tiễn, ngoài ra
Trang 8người viết còn phải nắm bắt những vấn đề cốt lỗi và những tồn tại vướng mắc gặp phải, thông qua đó đề xuất giải pháp giải quyết Là một sinh viên lần đầu tiên làm quen với đề tài nghiên cứu khoa học, thời gian nghiên cứu khá ngắn vốn kiến thức
có giới hạn Vì vậy sai lầm thiếu sót là không thể tránh khỏi rất mong sự đóng góp ý kiến của bạn đọc và sự phê bình của thầy cô
Để hoàn thành được luận văn này ngoài sự nỗ lực hết mình từ bản thân cá nhân em, và sự hướng dẫn, chỉ đạo tận tình của cô Nguyễn Mai Hân, đã giúp em nhận thức đúng đắn về đề tài nghiên cứu và hướng phát triển để hoàn thành đề tài một cánh tốt nhất Tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến cô, và gởi lời chân thành đến quí thầy cô khác đã hướng dẫn tận tình để em có thể hoàn thành tốt nhất luận văn của mình
Trang 9CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ MIỄN TRỪ
TRONG LUẬT CẠNH TRANH
1.1 Khái niệm về cạnh tranh
1.1.1.Theo quan niệm của một số nước trên thế giới
Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội, con người luôn tìm hiểu các hình thái phát triển kinh tế và thuật ngữ cạnh tranh được ra đời Cạnh tranh đã đem lại cho thị trường và cho đời sống xã hội một diện mạo mới, linh hoạt, đa dạng, phong phú và ngày càng phát triển, đồng thời cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội Do
đó việc có một khái niệm đúng đắn về cạnh tranh là điều cần thiết, tuy nhiên cho đến nay các nhà khoa học dường như chưa thể thoả mãn với bất cứ khái niệm nào
về cạnh tranh Bởi lẽ với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào đang hoạt động trên thị trường Chính vì lý
do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học Sau đây là một số học thuyết và khái niệm về cạnh tranh trên thế giới
Theo K Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa
để thu được lợi nhuận siêu ngạch1
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình2”
Các tác giả trong cuốn "Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh, thuộc sự án VIE/97/016 thì cho: Cạnh tranh
có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt đựơc một mục tiêu kinh doanh cụ thể Theo các nhà kinh tế học ở Mỹ thì cho rằng cạnh tranh có 2 trường hợp là cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế
1
http://www.doanhnhan.net/khai-niem-canh-tranh-va-cac-loai-hinh-ca
2
Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam NXB chính trị quốc gia, 2004, tr 19
Trang 10học (xuất bản lần thứ 12) cho Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường3
Theo từ điển Việt nam thì cạnh tranh được định nghĩa là sự tranh đua giữa những các nhân, tổ chức hoạt động cùng lĩnh vực như nhau 4
Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất5
1.1.2 Theo luật cạnh tranh Việt Nam
Việt nam bước chân vào nền kinh tế thị trường đã rất lâu, nên cạnh tranh không còn mới mẽ trong đời sống kinh tế xã hội và khoa học pháp lý của Việt Nam, tuy nhiên công tác lập pháp, và ban hành pháp luật của nước chúng ta còn quá ít kinh nghiệm vì thế xây dựng một khái niệm cạnh tranh cho pháp luật Việt Nam là cần thiết, tuy nhiên cho đến nay các nhà lập pháp Việt Nam chưa tìm ra được một khác niệm cạnh tranh nào hợp lý cho pháp luật Việt Nam Mà chỉ nêu ra một số quy định cụ thể về cạnh tranh như Các quy định về hạn chế cạnh tranh6, cạnh tranh không lành mạnh7, tập trung kinh tế8, hay lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền9
1.2 Khái niệm về miễn trừ trong luật cạnh tranh
Bản chất miễn trừ trong cạnh tranh được đặt ra khi phân tích hết tất cả các khía cạnh của nền kinh tế, của các doanh nghiệp, đã cấu thành đủ các dấu hiệu và kết luận vi phạm luật cạnh tranh, song lại có nhiều tích cực cho sự phát triển kinh tế
xã hội Pháp luật các nước trong đó có Việt Nam đã quy định khá chi tiết về những trường hợp được miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh
Trang 11Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm nào cụ thể về miễn trừ Chẳng hạn theo
từ điển bách khoa toàn thư thì miễn trừ được khái niệm như sau: “ Quyền cho các thành viên tổ chức thương mại thế giới (WTO) dành cho một thanh viên khác không
áp dụng một điều khoản nào đó trong lĩnh vực xác định trong thương mại quốc tế
đó Chẳng hạn pháp luật của WTO, miễn trừ phải được ¾ số thành viên của WTO chấp thuận, các miễn trừ sao khi được đưa ra sẽ được định kỳ xem xét lại, ngoài pháp luật quốc tế miễn trừ còn được áp dụng trong pháp luật của quốc gia Chẳng hạn như vụ nhà nước Hoa Kỳ ngừng hạn chế nhu cầu cạnh tranh với nước kém phát triễn10
”
Đa số pháp luật của một số nước không quy định miễn trừ là gì, chỉ liệt kê những hành vi nào là những hành vi được miễn trừ và những điều kiện để miễn trừ một cách rất cụ thể theo luật Quy tắc hợp lý cho phép loại bỏ việc áp dụng các quy định cấm đối với những thõa thuận vừa có hệ quả tích cực đối với cạnh tranh, vừa
có hậu quả phản cạnh tranh, nếu như hệ quả tích cực nhiều hơn hệ quả phản cạnh tranh11
Theo tự điển Việt Nam thì miễn trừ là một hoạt động của cơ quan có thẩm quyền khi có sự vi phạm vào một số điều nhất định, nhưng thỏa mãn một số điều kiện đã được quy định thì sẽ được hưởng miễn trừ Miễn trừ, là cho khỏi chấp hành một việc gì mà mà phải chấp hành12
Pháp luật Việt nam cũng không có khái niệm chi tiết về miễn trừ là gì nhưng pháp luật Việt Nam qui định rất rõ những hành vi hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế nào nào bị cấm, và những điều kiện miễn trừ rất cụ thể13
1.2.2 Khái niệm về thủ tục miễn trừ theo pháp luật Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường việc xem xét các hành vi thỏa thuận han chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế của các doanh nghiệp là rất quan trọng và thiết thực, việc phát hiện ra những hành vi thỏa thuận vi phạm pháp luật là cần thiết, tuy nhiên các hành vi hạn chế cạnh tranh luôn có hai mặt luôn tồn tại song song, vì lý
do đó các cơ quan nhà nước phải xem xét thận trọng các hành vi hạn chế cạnh tranh, cùng với các quy định xữ lý về hành vi vi phạm Miễn trừ trong cạnh tranh phải tiến
10
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=20D3aWQ9MTY0MjEmZ3JvdXBpZD0ma2 luZD1leGFjdCZrZXl3b3JkPU1JJWUxJWJiJTg0TitUUiVlMSViYiVhYQ=&page=l
Trang 12hành theo thủ tục do pháp luật quy định Toàn bộ quá trình tiến hành các thủ tục đó,
là một quy trình về thủ tục miễn trừ trong cạnh tranh
1.2.3 Đặc điểm của thủ tục miễn trừ trong luật cạnh tranh Việt nam
Thủ tục miễn trừ là toàn bộ những hoạt động của cơ quan thụ lý hồ sơ miễn trừ14
, người tiến hành miễn trừ15, người được hưởng miễn trừ16, cơ quan nhà nước tổ chức xã hội có liên quan nhằm giải quyết đúng đắn khách quan vụ việc hạn chế cạnh tranh
Thủ tục miễn trừ mang bản chất của thủ tục hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh Do quyết định miễn trừ được ban hành bằng văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần với một hoặc một
số đối tượng cụ thể17 Nhưng sở để áp dụng các điều kiện miễn trừ phải tuân thủ theo luật cạnh tranh
Quyết định cho hưởng miễn trừ không có giá trị vĩnh viễn, chúng luôn có giá trị trong một thời hạn nhất định hoặc có thể được xem xét lại và có thể bị bãi bỏ theo quy định của pháp luật Theo điều 37 luật cạnh tranh được thực hiện trong những trường hợp sau thì quyết định miễn trừ có thể bị bãi bỏ
Phát hiện gian dối trong việc đề nghị miễn trừ
Doanh nghiệp được hưởng miễn trừ không thực hiện các điều kiện, nghĩa vụ trong thời hạn được ghi trong quyết định miễn trừ
Điều kiện miễn trừ không còn
1.3 Những hành vi hạn chế cạnh tranh được miễn trừ
Hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp là làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế 18
Tuy nhiên do sự thúc đẩy của lợi nhuận, đã xuất hiện những tiêu cực trong cạnh tranh, xâm phạm đến trật tự kinh doanh, đe dọa xâm hại trực tiếp đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh hoặc của người tiêu dùng Bên cạnh đó sẽ có những hành vi hạn chế
Điều 26 luật cạnh tranh
17 Khoản 1 điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
Trang 13cạnh tranh hay tập trung kinh tế giúp ích cho sự phát triển kinh tế xã hội những
hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đó sẽ được xem xét và cho hưởng miễn trừ 1.3.1 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong nền kinh tế có nhiều cạnh tranh Các doanh nghiệp đã biết hợp tác với nhau, để tồn tại và phát triển nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh từ những khả năng hoạt động một cách độc lập của các đối thủ Cho nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là hành vi của các doanh nghiệp làm giảm, sai lệnh, cản trở cạnh tranh trên thị trường
Trong kinh tế học hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (cartel) được nhìn nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhẳm giảm bớt hoặc loại
bỏ sức ép cạnh tranh hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh Từ điển Chính sách thương mại quốc tế định nghĩa (Cartel) là một thỏa thuận chính thức hoặc không chính thức để đạt được kết quả có lợi cho các hàng có liên quan, nhưng có thể có hại cho các bên khác 19
Luật Việt Nam không đưa ra khái niệm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà chỉ liệt kê những thỏa thuận bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm: Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Thỏa thuận phân chia nguồn tiêu thụ nguồn cung ứng hàng hóa, dịch vụ Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư Thỏa thuận áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ 20
Theo đó những hành vi được liệt
kê ở điều 8 luật cạnh tranh mới được coi là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 21
Chính vì nên luật cạnh tranh sẽ không bao hàm hết các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, vì trên thực tế hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh diễn ra ở nhiều công đoạn khác nhau, trong quá trình sản xuất và phân phối hàng hóa Thỏa thuận
Trang 14hạn chế cạnh tranh trong luật cạnh tranh Việt Nam gồm có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được miễn trừ và thỏa thuận hạn chế canh tranh không được miễn trừ
* Các thỏa thuận bị cấm và không được miễn trừ
Luật cạnh tranh Việt Nam quy định rõ những trường hợp nào, khi tham gia thỏa thuận sẽ bị cấm tuyệt đối bao gồm một số thỏa thuận như sau:
Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường liên quan
Thảo thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận
Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ
Theo quy định tại điều 19, nghị định 116/2006/NĐ-CP, thỏa thuận ngăn cản, kìm hảm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh được quy định như sau:
Thỏa thuận ngăn cản, kìm hảm, không cho các doanh nghiệp khác tham gia thị trường: là việc thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham
gia thỏa thuận hoặc cùng nhau hành động với một trong các hình thức sau đây
- Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ khách hàng của mình không mua, bán hàng hóa, không
sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận
- Mua bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá vừa đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể tham gia thị trường liên quan
- Yêu cầu, kêu gọi, dụ dổ các nhà phân phối, các nhà bán lẻ đang giao dịch với mình phân biệt đối xữ khi mua, bán hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận theo hướng gây khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận
- Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá vừa đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể mở rộng qui mô kinh doanh
Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận Được quy định tại điều 20 nghị định 116 là việc các doanh
nghiệp thực hiện các hành động
Trang 15- Yêu cầu, kêu gọi, dụ dỗ khách hàng của mình không mua, bán hàng hóa, không
sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận
- Yêu cầu, kêu gọi, dụ dổ các nhà phân phối, các nhà bán lẻ đang giao dịch với mình phân biệt đối xữ khi mua, bán hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận theo hướng gây khó khăn cho việc tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận
- Mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá vừa đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận không thể mở rộng qui mô kinh doanh, hoặc mua bán hàng hóa với mức giá vừa đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận phải rút lui khỏi thị trường liên quan22
số doanh nghiệp thắng thầu Do đó bản chất của bên tham gia thỏa thuận thông đồng đấu thầu, là loại bỏ sự cạnh tranh giữa những bên tham gia thỏa thuận với những doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận Để tạo cho doanh nghiệp chỉ định
sẽ trúng thầu Các loại thông đồng đấu thầu trong luật cạnh tranh Việt Nam: Là việc các bên cùng thống nhất hành động trong dấu thầu dưới một trong các hình thức
- Một hoặc nhiều bên tham gia thỏa thuận rút khỏi việc dự thầu hoặc rút đơn dự thầu được nộp trước đó để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu
- Một hoặc nhiều bên tham gia thỏa thuận gây khó khăn cho các bên không tham gia thỏa thuận khi dự thầu, bằng cách từ chối cung cấp nhiên liệu, không ký kết hợp đồng phụ hoặc các hình thức gây khó khăn khác
22
Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận là việc thống nhất không giao dịch với doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận và cùng hành động dưới hình thức quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 19 của Nghị định này hoặc mua, bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá
đủ để doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận phải rút lui khỏi thị trường liên quan
23
Khoản 8 điều 8 luật cạnh tranh
Trang 16- Các bên tham gia thỏa thuận thống nhất đưa ra những mức giá không có tính cạnh tranh hoặc đặt mức giá cạnh tranh nhưng kèm theo những điều kiện mà bên mời thầu không thể chấp nhận để xác định trước một hoặc nhiều bên sẽ thắng thầu
- Các bên tham gia thỏa thuận xác định trước số lần mỗi bên được thắng thầu trong một khoảng thời gian nhất định
- Những hành vi khác bị pháp luật cấm24
* Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và được hưởng miễn trừ
Trong nền kinh tế sự cạnh tranh diễn ra hết sức phức tạp giữa các doanh nghiệp, do đó việc quy định những hành vi nào bị hạn chế cạnh tranh bị cấm tuyệt đối và những hành vi nào hạn chế cạnh tranh nhưng được hưởng miễn trừ là rất quan trọng Theo luật cạnh tranh Việt Nam, thì những hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhưng được hưởng miễn trừ, bao gồm năm hành vi thỏa thuận của các doanh nghiệp:
- Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
- Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ
- Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa , dịch vụ
- Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư
- Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp: là việc các doanh nghiệp thống nhất áp dụng một mức giá cho toàn bộ các
doanh nghiệp tham gia thỏa thuận, hoặc áp dụng một công thức tính giá chung với khách hàng, về mua bán hàng hóa dịch vụ hoặc trao đổi thông tin về giá để tạo những phản ứng thống nhất về giá hàng hóa dịch vụ với khách hàng Thỏa thuận ấn định giá hàng, dịch vụ là thỏa thuận thống nhất bao gồm các hành động
- Áp dụng mức giá thống nhất đối với một hoặc một số khách hàng hay tất cả các khách hàng
24 Điều 21 nghị định 116/2005/NĐ-CP
Trang 17- Tăng hoặc giảm giá ở mức cụ thể
- Áp dụng công thức tính giá chung
- Duy trì tỉ lệ cố định về giá của sản phẩm liên quan
- Không chiết khấu hoặc áp dụng mức chiết khấu thống nhất
- Dành hạn mức tín dụng cho khách hàng
- Không giảm giá nếu không thông báo cho các thành viên khác trong thỏa thuận
- Sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các cuộc đàm phán về giá bắt đầu25
Áp dụng mức giá thống nhất đối với một hoặc một số khách hàng hay tất cả các khách hàng: là việc các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ ở một mức cụ thể (mức giá chung) đối với một hoặc một số khách hàng hay toàn bộ khách hàng Tăng hoặc giảm giá ở mức cụ thể là hình thức thỏa thuận của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận quy định sẳn một mức giá cụ thể Áp dụng công thức tính giá chung là hình thức các doanh nghiệp không thỏa thuận giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp, mà quy định công thức tính giá chung cho toàn bộ các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận
Các hình thức thỏa thuận này các doanh nghiệp tham gia thỏa là thỏa thuận trực tiếp ảnh hưởng đến giá hàng hóa dịch vụ, sẻ tạo mặt bằng chung về giá bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường từ đó giá mua, bán sẽ không tuân theo nguyên tắc thị trường mà sẽ tuân theo nguyên tắc do các doanh nghiệp thỏa thuận nên
Duy trì tỉ lệ cố định về giá sản phẩm liên quan Không chiết khấu hoặc áp dụng mức chiết khấu thống nhất Dành hạn tín dụng cho khách hàng Không giảm giá nếu không thông báo cho các thành viên trong thỏa thuận Sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các cuộc đàm phán về giá bắt đầu Các hình thức thỏa thuận này tuy không trực tiếp tạo mặt bằng chung về giá nhưng những hình thức này lại có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp tham gia, thực hiện việc định giá theo những chuẩn mực có sẳn, thay vì định giá tự do, dù mức giá mua bán của doanh nghiệp không như nhau, nhưng hành vi định giá hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp không diễn ra theo qui luật của thị trường, mà chịu sự chi phối bởi các thỏa thuận26
Trang 18Trên thị trường Việt Nam đã tồn tại những hành vi thỏa thuận của các doanh nghiệp liên quan đến giá hàng hóa dịch vụ như vụ hiệp hội taxi trong hiệp hội taxi vào năm 2000, 2001 Vụ các doanh nghiệp tăng mức phí tối thiểu với dịch vụ bảo hiểm vật chất xe ôtô vào năm 2008
Ngày 25/3/2000 Hợp tác xã Sao Việt đã gây chấn động mạnh tới Hiệp hội Taxi thành phố Hồ Chí Minh với 14 doanh nghiệp bởi việc công bố giá cước taxi là 10.000 đồng/2 km đầu và 5.000 đồng/km tiếp theo, thấp hơn 2.000 đồng so với giá 12.000 đồng/2 km đầu của Hiệp hội Chưa hết, tới giữa tháng 4/2000 Sao Việt đã họp xã viên và một lần nữa gây chấn động Hiệp hội khi biểu quyết thông qua giá cước mới 8.000 đồng/2 km đầu và 4.500 đồng/km tiếp theo Sự thành công và sự ủng hộ của khách hàng đối với Sao Việt thể hiện cụ thể bằng sự phát triển từ vài chục xe ban đầu lên đến 216 xe Điều kỳ lạ là thành công đó lại gặp sự chống đối quyết liệt của chính Hiệp hội Taxi thành phố Hồ Chí Minh Bằng sự độc quyền của mình, 14 doanh nghiệp taxi thành phố Hồ Chí Minh ngay sau khi thành lập Hiệp hội năm 1997 đã thống nhất đồng loạt tăng giá cước từ 6.000 đồng/km đầu tiên lên 12.000 đồng/2 km đầu và 5.000 đồng/km tiếp theo Nay với sự tham gia của Sao Việt, một yếu tố cạnh tranh lành mạnh xuất hiện, thế độc quyền kìm hãm sự phát triển đã bị phá vỡ và người được lợi là khách hàng 27
Tháng 10/2008, 20 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm đã cùng nhau ký bản thỏa thuận về mức phí bảo hiểm tiêu chuẩn ôtô Theo đó, mức phí bảo hiểm tăng từ 1,3% lên 1,56%/năm Những doanh nghiệp tham gia ký thỏa thuận mà không thu đúng sẽ bị hiệp hội bảo hiểm phạt 10% số phí bảo hiểm thu được của hợp đồng vi phạm nhưng tối thiểu 10 triệu đồng đối với bảo hiểm tàu biển và 5 triệu đồng với bảo hiểm hàng hóa Trong bản thỏa thuận đã khẳng định việc thống nhất tăng phí bảo hiểm nhằm giảm những thiệt hại do cạnh tranh gây ra cho các doanh nghiệp và đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp 28
Trang 19nhất mỗi bên tham gia thỏa thuận chỉ được mua bán hàng hóa từ một hoặc một số nguồn cung cấp, một số khách hàng nhất định29
Như vậy các bên trong thỏa thuận sẽ phân chia thị trường, các khu vực khác nhau và giao cho một số doanh nghiệp mua bán hàng hóa với số lượng nhất định và nhóm khách hàng nhất định như đã thỏa thuận không xâm phạm đến khu vực khác nhóm khách hàng khác trong phạm vi thỏa thuận
Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ: Theo điều 16 nghị định 116/2005/NĐ-CP phân chia thỏa
thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ thành 2 loại sau:
- Thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa dịch vụ là việc thống nhất cắt giảm số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường liên quan so với trước đó
Với quy định này cơ quan có thẩm quyền không cần phải xem xét chứng minh mục đích hay hậu quả của thỏa thuận, mà chỉ cần có bằng chứng về việc các doanh nghiệp đã thống nhất số lượng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường là có thể quyết định các doanh nghiệp đó vi phạm pháp luật cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế
số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ Pháp luật chưa định lượng tỷ lệ hoặc mức cắt giảm nguồn cung hoặc nguồn cầu của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường để cấu thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Do vậy nên việc vi phạm pháp luật cạnh tranh về thỏa thuận hạn chế số lượng khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ cơ quan có thẩm quyền cần xem xét hai vấn đề Một là:
có sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia Hai là: các doanh nghiệp đồng ý cùng nhau cắt giảm số lượng, khối lượng hàng hóa, dịch vụ mà họ sản xuất, mua bán, hoặc cung ứng dịch vụ so với trước đó
- Thoả thuận kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là việc thống nhất ấn định số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ ở mức đủ để tạo sự khan hiếm trên thị trường30
Như vậy việc cấu thành hành vi, vi phạm này cần phải xem xét ba yếu tố Một là: có sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia Hai là: các doanh nghiệp ấn định lượng hàng hóa, dịch vụ mà mỗi doanh nghiệp được sản xuất, mua,
Trang 20bán hoặc cung ứng dịch vụ Ba là: Lượng hàng hóa dịch vụ ấn định đủ để tạo mức khan hiếm trên thị trường31
Trong hành vi thỏa thuận này cơ quan có thẩm quyền cần xem xét tác động hay khả năng tác động của thỏa thuận đến thị trường Theo đó
cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét lượng hàng hóa, dịch vụ, được sản xuất mua, bán thấp hơn nhu cầu thị trường và đang ở mức khan hiếm “Nhưng pháp luật chưa giải thích thế nào là đủ để tạo khan hiếm trên thị trường32” Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng sẽ làm cho trị trường khan hiếm hàng hóa, dịch vụ một cách giả tạo Từ đó các doanh nghiệp sẽ tăng giá hàng hóa, dịch vụ gây bất lợi cho người tiêu dùng về giá hàng hóa, dịch vụ khi tăng lên
Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghê, hạn chế đầu tư:
Theo điều 17 nghị định 116/2005/NĐ-CP thì thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư được chia làm hai loại như sau:
- Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ là việt thống nhất mua các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp để tiêu hủy hoặc không sử dụng
- Thỏa thuận hạn chế đầu tư là việc thống nhất không đưa thêm vốn để mở rộng sản xuất, cải tiến chất lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc để mở rộng phát triển khác
Hình thức thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ là việc các doanh nghiệp mua các phát minh, sáng chế, các giải pháp hữu ích, kiễu dáng công nghiệp để thiêu hủy hoặc không cho sử dụng Làm cho thị trường không thể thụ hưỡng những thành quả sáng tạo của con người, làm cho khoa học công nghệ khó phát triển ở những bước tiếp theo nhằm loại trừ khả năng cạnh tranh về khoa học công nghệ
Hình thức thỏa thuận hạn chế đầu tư, được các doanh nghiệp áp dụng bằng cách không không đưa thêm vốn để mở rộng qui mô sản xuất, cải tiến chất lượng hàng hóa, dịch vụ để nghiên cứu phát triển trên thị trường liên quan Kìm hảm năng lực cạnh tranh và mở rộng qui mô từ thỏa thuận, có tính chiến lược của các doanh nghiệp33
Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ, hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các
Trang 21nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng: Theo điều 18
nghị định 116/2005/NĐ-CP đã chia thỏa thuận này thành hai thỏa thuận cụ thể:
- Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ là việc thống nhất đặt một hoặc một số điều kiện tiên quyết sau đây trước khi ký kết hợp đồng:
+ Hạn chế về sản xuất, phân phối hàng hoá khác; mua, cung ứng dịch vụ khác không liên quan trực tiếp đến cam kết của bên nhận đại lý theo quy định của pháp luật về đại lý
+ Hạn chế về địa điểm bán lại hàng hóa, trừ những hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật
+ Hạn chế về khách hàng mua hàng hóa để bán lại, trừ những hàng hóa thuộc danh mục mặt hàng kinh doanh có điều kiện, mặt hàng hạn chế kinh doanh theo quy định của pháp luật
+ Hạn chế về hình thức, số lượng hàng hoá được cung cấp34
Hình thức vi phạm này chỉ áp dụng với các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận, với các hợp đồng mua bán giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận với khách hàng là doanh nghiệp khác35
, hoặc những thỏa thuận này chỉ được áp dụng khi chúng có tính phản cạnh tranh được quy định tại khoản 1 điều 18 nghị định 116/2005/NĐ-CP
Nội dung của các điều kiện trên cho thấy mục đích của thỏa thuận nhằm hạn chế khả năng phân phối của các doanh nghiệp không tham gia thỏa thuận hoặc hạn chế năng lực sản xuất kinh doanh của khách hàng Làm cho các doanh nghiệp khác không thể mua bán với khách hàng của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận
- Thoả thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng là việc thống nhất ràng buộc doanh nghiệp khác khi mua, bán hàng hoá, dịch vụ với bất kỳ doanh nghiệp nào tham gia thoả thuận phải mua hàng hoá, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước
Trang 22hoặc thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng36
Hình thức thỏa thuận này khách hàng phải là các tổ chức cá nhân kinh doanh
mà không phải là người tiêu dùng Các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng bao gồm khách hàng buộc phải chấp nhận mua thêm hàng hóa, dịch vụ khác từ nhà cung cấp hoặc người được chỉ định trước hoặc phải thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết để thực hiện hợp đồng Như vậy hình thức thỏa thuận này sẽ có hai đối tượng mua, bán hàng hóa, dịch vụ Một là: đối tượng của thỏa thuận mà khách hàng mong muốn có được (đối tượng chính) Hai là: đối tượng của thỏa thuận mà khách hàng phải mua thêm (đối tượng phụ) Trong đó đối tượng của hợp đồng phụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng chính Luật cạnh tranh Việt Nam không có quy định nào về đối tượng phụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng chính Thông thường cách xác định tính liên quan của đối tượng hợp dồng chính và hợp đồng phụ là hai đối không liên quan nhau, Không có đối tượng phụ thì khách hàng vẫn có thể khai thác triệt để tính năng của đối tượng chính trong hợp đồng “Hai đối tượng trên không liên quan trực tiếp đến nhau nếu không có đối tượng phụ thì khách hàng vẫn
có thể khai thác triệt để chức năng của đối tượng chính trong hợp đồng mua, bán37”
1.3.2 Tập trung kinh tế
Tập trung kinh tế là làm giảm số lượng doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường thông qua các hình thức sát nhập (theo nghĩa rộng) hoặc tăng qua cơ sở nội sinh của doanh nghiệp trên cở sở mở rộng năng lực sản xuất 38
Luật Công ty năm 1990 ghi nhận quyền quyết định việc sáp nhập công ty trách nhiệm hữu hạn của các thành viên, quyền chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng
cổ phần của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; Điều 20 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995 quy định việc sáp nhập là một trong những giải pháp tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước Điều 44 Luật Hợp tác xã năm
1997 ghi nhận quyền hợp nhất các hợp tác xã với nhau Tuy nhiên, các quy định kể trên có nội dung khá nghèo nàn và đơn giản là việc ghi nhận các quyền cơ bản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc thành viên của công ty Ngay cả thủ tục để thực hiện
Trang 23việc sáp nhập, hợp nhất chưa được quy định cụ thể Luật Doanh nghiệp năm 1999 thay thế Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty năm 1990 ghi nhận khá đầy đủ
về các giải pháp tổ chức lại công ty, trong đó có hai giải pháp liên quan trực tiếp đến tập trung kinh tế là sáp nhập và hợp nhất công ty, ngoài ra các quy định về chuyển nhượng vốn, mua bán cổ phần, phát hành cổ phần, cổ phiếu được quy định chi tiết và chặt chẽ hơn Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định và xây dựng lộ trình, thủ tục thực hiện các biện pháp
tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu đối với công ty nhà nước gắn liền với tập trung kinh
tế như sáp nhập, hợp nhất, khoán, cho thuê, bán toàn bộ hoặc một phần công ty Nhà nước39 Trong giai đoạn này luật chưa nhìn nhận các hình thức tập trung kinh tế với góc độ cạnh tranh Sau khi Luật canh tranh quốc hội khóa X kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 09/11/2004 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2005 quy định cụ thể về các hình thức tập trung kinh tế và các biện pháp kiểm soát và nguyên tắc xử lý tập trung kinh tế trên thị trường Việt Nam Luật cạnh tranh quy định những hành vi tập trung kinh tế bao gồm các hành vi sau:
- Sáp nhập doanh nghiệp: là hình thức một hoặc một số doanh nghiệp chuyễn toàn
bộ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác Đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập
- Hợp nhất doanh nghiệp: là việc hai hay nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình thành lập một doanh nghiệp mới Đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị hợp nhất
- Mua lại doanh nghiệp: là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ ngành nghề của doanh nghiệp
bị mua lại
- Liên doanh giữa các doanh nghiệp: là hình thức hai hay nhiều doanh nghiệp góp một phần tài sản, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới sự tồn tại của các doanh nghiệp củ vẫn còn.40
Luật cạnh tranh dựa trên tiêu chí thị phần để làm cơ sở phân loại nhóm tập trung kinh tế và là tiêu chí duy nhất để xác định cách thức xử lý Những trường hợp tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan luôn làm hạn chế cạnh tranh Theo đó, việc tập trung
Trang 24kinh tế đã hình thành một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp nắm giữ đa số thị phần trên thị trường liên quan và làm cho các doanh nghiệp còn lại chỉ là thiểu số trên thị trường Điều này cho thấy sự thay đổi cơ bản, đột ngột trong tương quan cạnh tranh và cấu trúc cạnh tranh trên thị trường Do đó, những trường hợp trên luôn bị coi là làm giảm, làm cản trở và sai lệch cạnh tranh một cách đáng kể Đối với những trường hợp này, doanh nghiệp bị cấm thực hiện tập trung kinh tế, trừ khi nếu doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật và có thể được xem xét miễn trừ41
Luật cạnh tranh chủ yếu dựa vào thị phần kết hợp làm căn cứ kiểm soát tập trung kinh tế, cho ta thấy được luật canh tranh Việt Nam chỉ kiểm soát hành vi tập trung kinh tế theo chiều ngang Vì vậy các doanh nghiệp tập trung không cùng thị trường liên quan sẽ không bị chi phối bởi luật cạnh tranh
1.4 Sự cần thiết phải có những qui định miễn trừ trong luật canh tranh
Pháp luật Việt Nam luôn công nhận quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm quyền tự do khế ước và quyền lập hội Các chủ thể trên thị trường hoàn toàn có quyền chủ động trong việc liên kết, thiết lập và thực hiện các chiến lược kinh doanh một cách hiệu quả Pháp luật không được can thiệp vào mà còn phải xây dựng cơ chế bảo hộ các hoạt động trên, nhà nước chỉ có thể can thiệp vào
sự tự do khi hành vi của một số nhóm người này là đe dọa sự tự do và quyền lợi chính đáng của người khác
Dưới góc độ luật cạnh tranh các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế luôn có tính hai mặt Ngoài những thỏa thuận hay hành vi tập trung kinh tế
có khả năng gây hại cho cạnh tranh Vẫn có nhiều thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế không có khả năng gây hại, ngược lại nó còn mang tác dụng tích cực cho sự phát triển của thị trường Do vậy khi xem xét các hành vi thỏa thuận cần xem xét sự cân xứng lợi ích trong các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế, để ra được quyết định cuối cùng
Những thỏa thuận của các doanh nghiệp khi áp dụng vào thực tế sẽ giúp ích cho sự pháp triển kinh tế xã hội Từ những nguyên tắc hợp lý khi áp dụng trên thực
tế cho phép loại bỏ việc áp dụng các quy định cấm đối với những thỏa thuận hay hành vi tập trung kinh tế vừa có những hệ quả tích cực đối với cạnh tranh, vừa có hậu quả phản cạnh tranh nếu như hệ quả tích cực nhiều hơn hệ quả phản cạnh tranh
41
Báo cáo chuyên đề tập trung kinh tế tại việt nam tr 22
Trang 25Chính vì vậy các thỏa thỏa thuận tập hạn chế cạnh tranh hay các hành vi tập trung kinh tế phải được xem xét kỹ ở nhiều góc độ khác nhau Bên cạnh các quy định về
xữ phạt, những quy định cấm đoán, trừng phạt với những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi tập trung kinh tế có khả năng gây hại cho thị trường Pháp luật còn quy định một số trường hợp được miễn trừ trong cạnh tranh nhằm bảo vệ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có ích cho sự phát triển của thị trường, và xem các thỏa thuận này là hợp pháp
Ở Việt Nam hầu như các doanh nghiệp đều thuộc doanh nghiệp vừa và nhỏ,
vì vậy vị thế của các doanh nghiệp trên thị trường sẽ rất yếu dể bị các doanh nghiệp lớn trong nước hoặc ngoài nước loại bỏ Cho nên những doanh nghiệp sẽ thỏa thuận lại với nhau hoặc tập trung lại với nhau, để tăng cường sức mạnh canh tranh của họ trên thị trường trong và ngoài nước Do đó pháp luật việt nam với tư cách là bảo vệ cho thị trường cạnh tranh diễn ra lành mạnh và có lợi ích cho sự phát triển kinh tế nước nhà, nên các quy định về miễn trừ trong pháp luật cạnh tranh cũng làm cho các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ có cơ hội được phát triển, vì các quy định này sẽ loại trừ những quy định bị cấm Cho phép các doanh nghiệp thỏa thuận và tập trung kinh tế lại với nhau để nâng cao năng lực canh tranh mà không ảnh hưởng đến lợi ích của các doanh nghiệp khác
1.5 Ưu nhược điểm của việc áp dụng hoạt động miễn trừ
1.5.1 Ưu điểm của việc áp dụng miễn trừ trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế
Việc áp dụng các hình thức miễn trừ trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp được phát triển, vì các quy định miễn trừ này loại trừ những quy định bị cấm Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển để năng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
Áp dụng miễn trừ còn giúp cơ quan quản lý nhà nước nắm rõ tình hình cạnh tranh trên thị trường từ đó có những chính sách phù hợp đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế trên thị trường một cách khái quát và chính xác hơn
Ngoài việc mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, việc thực hiện miễn trừ còn mang lại lợi ích cho quốc gia vì các hành vi thỏa thuận này mặt lợi ích mang lại cho nền kinh tế nhiều hơn hậu quả mà nó mang lại “Ngoài những khả năng gây hại cho cạnh tranh, nhiều thỏa thuận không có khả năng gây hại, hoặc bên cạnh khả năng
Trang 26gây ra nhiều tác hại làm giảm cạnh tranh, nhiều thoả thuận còn đem lại nhiều tác
dụng tích cực cho sự phát triển của thị trường42
” Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội phục hồi và phát triển kinh doanh khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng giải thể hay phá sản Từ đó sẽ chống lại được tình trạng độc quyền về kinh tế
ở một số ngành, lĩnh vực tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội
Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay hành vi tập trung kinh tế được miễn trừ còn mang lại lợi ích cho người tiêu dùng, vì những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế được miễn trừ đều phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định Những điều kiện này được luật cạnh tranh Việt Nam quy định rất rõ và có lợi ích cho cộng đồng cho xã hội và người tiêu dùng cũng được hưởng lợi ích đó, từ việc cho miễn trừ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế của cơ quan nhà nhà nước có thẩm quyền
1.5.2 Nhược điểm của việc áp dụng miễn trừ trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường ý tưởng kinh doanh của các doanh nghiệp cần phải thực hiện và triển khai ngay để đạt được hiệu quả tốt nhất Nhưng thời gian từ lúc bắt đầu nộp hồ sơ xin miễn trừ đến lúc nhận được quyết định miễn trừ là quá dài
“Bảy ngày để cơ quan quản lý cạnh tranh xem xét tính đầy đủ của hồ sơ kể từ ngày nhận được hồ sơ miễn trừ43 Sáu mươi ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ miễn trừ bộ trưởng phải ra quyết định đối với trường hợp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế thuộc thẩm quyền của bộ trưởng bộ thương mại và có thể gia hạn hai lần mỗi lần là 30 ngày Đối với trường hợp thuộc thẩm quyền của thủ tướng chính phủ là 90 ngày để ra quyết định và trường hợp phức tạp là 180 ngày44”, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong tình trạng xin miễn trừ trong thỏa hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế
Không có một cơ thẩm định hồ sơ miễn trừ một cách độc lập, hoàn toàn phụ thuộc nhiều vào cơ quan quản lý cạnh tranh Từ đó sẽ ra những quyết định miễn trừ không khách quan Vì cơ quan quản lý cạnh tranh vừa là cơ quan thụ lý hồ sơ miễn trừ vừa là cơ quan thẩm định hồ sơ miễn trừ, lại trực thuộc vào bộ thương mại mà
bộ trưởng bộ thương mại lại là người ra quyết định miễn trừ đối với tất cả hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi tập trung kinh tế, (trừ hành vi tập trung
Trang 27kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của thủ tướng chính phủ) Có thể ảnh hưởng đến quyết định miễn trừ khi đưa ra Trách nhiệm chứng minh về vị trí thị trường liên quan, các điều kiện được hưỡng miễn trừ hoàn toàn thuộc về doanh nghiệp Do vậy sẽ tạo ra việc miễn trừ sai đối tượng, từ đó gây khó khăn cho việc cạnh tranh trên thị trường Vì từ khi tiếp nhận hồ sơ đến lúc thẩm định hồ sơ của cơ quan quản
để trình lên bộ trưởng bộ thương mại hoặc thủ tướng chính phủ, cho ta thấy được trách nhiệm của cơ quan quản lý cạnh tranh nặng nề Nên khó tránh khỏi sai lầm thiếu sót
Trong nền kinh tế thị trường ý tưởng kinh doanh của các doanh nghiệp cần phải thực hiện và triển khai ngay để đạt được hiệu quả tốt nhất Nhưng thời gian từ lúc bắt đầu nộp hồ sơ xin miễn trừ đến lúc nhận được quyết định miễn trừ là quá dài Gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong tình trạng xin miễn trừ trong thỏa hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế
Các quy định miễn trừ không bao hàm hết tập trung kinh tế theo chiều dọc, hoặc tập trung kinh tế hỗn hợp, trong các hình thức tập trung kinh tế vẫn chưa đề cập đến hình thức tập trung kinh tế có chung đội ngũ lãnh đạo, quản lý Những dạng tập trung kinh tế này, có khả năng xảy ra trong tương lai cùng với sự đa dạng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên thị trường, và vẫn có thể gây hạn chế cạnh tranh ở mức độ nhất định trong những điều kiện nhất định45
45
Báo cáo chuyên đề tập trung kinh tế tại việt nam Trang 31
Trang 28CHƯƠNG II: THỦ TỤC THỰC HIỆN MIỄN TRỪ TRONG LUẬT CẠNH TRANH THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRỪ
TRONG LUẬT CẠNH TRANH 2.1.Điều kiện đề được hưởng miễn trừ
Khi Việt Nam khi gia nhập vào thị trường kinh tế thế giới thì nền kinh tế nước ta có nhiều biến động trước ngưỡng cửa hội nhập Các hình thức thỏa thuận cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng nhiều và vô cùng đa dạng Có một số hình thức thỏa thuận vi phạm vào điều cấm của luật cạnh tranh Nhưng không phải những vụ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế nào khi vi phạm vào những điều cấm thì được xử lý Có một số trường hợp khi vi phạm vào các điều cấm của luật canh tranh nhưng thỏa mãn một số quy định miễn trừ theo quy định, thì sẽ được áp dụng những điều kiện miễn trừ Luật Việt Nam quy định rõ ràng những điều kiện để được hưỡng miễn trừ Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thỏa mãn khoản 2 điều 9 của luật canh tranh, cho dù thị phần kết hợp của các thỏa thuận này đạt mức thị phần 30% hay vượt mức thị phần thì vẫn được hưởng miễn trừ, nếu thỏa mãn một số điều kiện được luật quy định Riêng đối với hành vi tập trung kinh
tế luật việt nam có thái độ thoáng hơn các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi thị phần kết hợp của các hành vi tập trung kinh tế đạt mức thị phần 50% trở lên thì mới được xem xét và xữ lý, tuy nhiên nếu các hành vi thỏa thuận này thỏa mãn những điều kiện áp dụng miễn trừ được quy định theo điều 19 của luật cạnh tranh thì sẽ được miễn trừ Đối với từng hành vi từng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế sẽ có những điều kiện miễn trừ khác nhau
2.1.1 Đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Xu hướng gia nhập vào nền kinh tế bắt buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để thích nghi được với sự phát triển của kinh tế Cho nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế là đều tất yếu phải diễn ra Luật cạnh tranh Việt Nam
ra đời các vụ việc xử lý về cạnh tranh đã khẳng định được tầm quan trọng của pháp luật nước ta Nhưng thủ đoạn thực hiện các hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng tinh vi và khó kiểm soát Vì vậy để có những quyết định miễn trừ đúng đắn, đúng hành vi, đúng đối tượng cơ quan có thẩm quyền cần phải xem xét một cách kỹ lưỡng, chặc chẽ, để ra những quyết định phù hợp với pháp luật cạnh tranh về miễn trừ Điều kiện để được miễn trừ đối với hành vi thỏa thuận hạn chế
Trang 29cạnh tranh đối với các doanh nghiệp rơi vào các trường hợp bị cấm và có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên khi tham gia các thỏa thuận: Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng Được xem xét miễn trừ nếu thỏa mãn các điều kiện nhất định, nhằm hạ giá thành có lợi cho người tiêu dùng Một số điều kiện nhất định mà các doanh nghiệp phải cần phải thỏa mãn khi tham gia thỏa thuận để được hưởng miễn trừ bao gồm các điều kiện
Hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh: Là hình thức các doanh nghiệp liên kết để đem lại hiệu quả cho sự hoạt
động của doanh nghiệp được tốt hơn và đem lại lợi ích cho người tiêu dùng có thể hưởng được những sản phẩm tốt hơn có chất lượng và đảm bảo yêu cầu vd: hai doanh nghiệp cùng nhau cạnh tranh trên thị trường, trong đó có doanh nghiệp có chất lượng sản phẩm tốt nhưng mạng lưới phân phối kém hiệu quả, và doanh nghiệp còn lại có mạng lưới phân phối tốt nhưng chất lượng sản phẩm trung bình Từ đó hai doanh nghiệp này hợp tác với nhau sẽ tạo được sản phẩm chất lượng và mạng lưới phân phối tốt tạo cho người tiêu dùng được hưởng những sản phẩm tốt có chất lượng
Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ:
là hình thức các doanh nghiệp hợp tác lại với nhau thực hiện các công trình nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mà nếu như việt thực hiện đó một doanh nghiệp thực hiện thì sẽ không đạt được kết quả như mong muốn
Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm: Dưới góc độ nền kinh tế các thỏa thuận đặc ra các
tiêu chuẩn về chất lượng là thật sự có lợi cho người tiêu dùng và làm cho thị trường hoạt động một cách hiệu quả nếu như những tiêu chuẩn đặc ra là tiến bộ Vì những tiêu chuẩn đặc ra sẽ tạo mặt bằng về sản phẩm và chất lượng sản phẩm cho các doanh nghiệp hướng tới đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng
Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá Hình thức thỏa thuận này giúp người tiêu dùng
Trang 30có thêm thông tin để đưa ra các quyết định chính xác hơn về sản phẩm họ sẽ mua, ngoài ra các tiêu chuẩn về sản phẩm sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận áp dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm Dựa vào tiêu chí điều kiện kinh doanh, giao hàng hay thanh toán sẽ tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ nâng cao trình độ quản lý kinh doanh Vd: hình thức thanh toán tiền qua thẻ ATM hoặc hình thức giao hàng tận nơi
Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa “Doanh nghiệp nhỏ
và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)46” Hiện nay doanh nghiệp ở nước ta điều thuộc doanh nghiệp vừa và nhỏ nên sức cạnh tranh trên thị trường của những doanh nghiệp này còn hạn chế Do đó việc nâng cao năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của quốc gia
Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc
tế Sự nổ lực của các doanh nghiệp trong việc nâng cao việc sản xuất kinh doanh,
khả năng cạnh tranh là cần thiết, khi đất nước ta đang gia nhập vào thị trường thế giới ASEAN, APEC và WTO cần được pháp luật thừa nhận “Theo cuốn Từ điển chính sách thương mại quốc tế, cartel công cộng là một loại thỏa thuận trong đó Chính phủ tạo điều kiện cho việc thiết lập và điều tiết các quy tắc thị trường vì các
lý do chính sách rộng lớn hơn, bao gồm việc chấp nhận các cartel xuất khẩu nhằm tăng cường sức cạnh tranh cho các hãng trong nước47 Từ đó có thể cho thấy được rằng việc thừa nhận các thỏa thuận nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế đã được pháp luật các nước thừa nhận
Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận chỉ cần đáp ứng được một trong số những điều kiện miễn trừ thì có thể nộp đơn xin miễn trừ.48
2.1.2 Đối với hành vi tập trung kinh tế
Khi các doanh nghiệp thỏa thuận tập trung kinh tế vi phạm những điều cấm theo pháp luật cạnh tranh có mức thị phần kết hợp lớn hơn 50% thị phần trên thị trường liên quan thì vẫn có thể được hưởng miễn trừ nếu thỏa mãn những điều kiện
Trang 31theo quy định về hành vi tập trung kinh tế, là doanh nghiệp phải đang trong tình trạng giải thể hoặc phá sản hoặc việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu góp phần phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ kỹ thuật công nghệ
Doanh nghiệp bị giải thể: là doanh nghiệp đã kết thúc thời hạn hoạt động
ghi trong điều lệ công ty mà chưa có quyết định gia hạn hoặc Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, Của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, Của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, Của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần, Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật doanh nghiệp trong thời hạn sáu tháng liên tục, Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác 49 Như vậy doanh nghiệp đang có nguy cơ giải thể là doanh nghiệp
là những doanh nghiệp trong những tình trạng theo điều 157 luật doanh nghiệp nhưng chưa tiến hành giải thể doanh nghiệp hoặc đang tiến hành thủ tục giải thể nhưng chưa có quyết định của cơ quan có thẩm quyền theo quy định
Doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản: là doanh nghiệp không còn
khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản.50
Mở rộng xuất khẩu: là hình thức đưa hàng hóa của một quốc gia sang các
quốc gia khác, các thị trường mới hoặc các thị trường đã có sẳn nhằm tiềm kiếm lợi nhuận tạo ra nguồn thu cho quốc gia51
, nhất là trong giai đoạn nước ta đang gia nhập thị trường kinh tế của thế giới thì việc mở rộng thị trường là rất cần thiết
Góp phần phát triển khoa học công nghệ: Trong một quốc gia là phải tuân
thủ theo luật khoa học công nghệ “Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm52
”
2.2 Đối tượng được miễn trừ
Thủ tục miễn trừ sẽ không được áp dụng khi các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận nhưng không có nộp đơn xin miễn trừ Thủ tục miễn trừ chỉ áp dụng khi các bên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế thỏa mãn các điều
Trang 32kiện miễn trừ theo quy định của luật cạnh tranh thì mới được hưởng miễn trừ, đối với từng hành vi thỏa thuận khác nhau thì đối tượng được hưỡng miễn trừ cũng khác nhau
2.2.1 Những hành vi được hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Khi các bên tham gia thỏa thuận không thuộc vào những trường hợp bị cấm tuyệt đối Và thị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận từ 30% trở lên thì
sẽ bị cấm, nhưng vẫn được xem xét miễn trừ nếu thỏa mãn những điều kiện miễn trừ do luật định, bao gồm các thỏa thuận: Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.53
2.2.2 Những hành vi được hưởng miễn trừ đối với tập trung kinh tế
Trên thực tế không phải lúc nào các doanh nghiệp củng làm ăn một cách thuận lợi, đôi khi các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh Vì vậy
xu hướng tập trung kinh tế của các doanh nghiệp là không thể tránh khỏi Luật cạnh tranh Việt Nam thấy được điều đó nên quy định cho các doanh nghiệp trong trường hợp này được miễn trừ khi tham gia tập trung kinh tế cho dù thị phần kết hợp có vượt qua mức 50% trên thị trường liên quan thì vẫn được tham gia thỏa thuận Các thỏa thuận tập trung kinh tế này sẽ được miễn trừ khi có một hoặc một số bên tham gia tập trung kinh tế có nguy cơ phá sản hoặc giải thể54
Hoặc các doanh nghiệp tập trung kinh tế nhưng có tác dụng mở rộng xuất khẩu, hoặc góp phần phát triển kinh
tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật công nghệ.55
2.3 Cơ quan tiến hành thủ tục miễn trừ
Khi các doanh nghiệp tham gia tập trung thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay tập trung kinh tế, thuộc các trường hợp được miễn trừ theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam thì phải nộp hồ sơ xin miễn trừ cho cục quản lý cạnh tranh
Trang 33Cục quản lý cạnh tranh khi nhận hồ sơ đề nghị miễn trừ của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hoặc người đại diện đem đến nộp, thì phải kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ xin miễn trừ Nếu hồ sơ xin miễn trừ không đầy đủ thì cục quản lý cạnh tranh phải yêu cầu bằng văn bản đề nghị các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế bổ sung thông tin Và giải thích những vấn
đề chưa rõ ràng trong hồ sơ miễn trừ56
Cục quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thẩm định hồ sơ xin hưỡng miễn trừ
và phải lập văn bản thẩm định hồ sơ xin miễn trừ, trình cho bộ trưởng bộ thương mại (ngày nay là bộ công thương) để ra quyết định miễn trừ
Bộ trưởng bộ thương mại (ngày nay là bộ công thương) có thẩm quyền xem xét và ra quyết định miễn trừ đối với tất cả các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được miễn trừ theo quy định của pháp luật và hành vi tập trung kinh tế của doanh nghiệp trong nguy cơ giải thể hoặc trong tình trạng phá sản
Đối với trường hợp miễn trừ thuộc thẩm quyền của thủ tướng chính phủ thì cục quản lý cạnh tranh phải lập văn bản thẩm định, và gởi kiến nghị bộ trưởng bộ thương mại gởi văn bản ý kiến xin các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, và các cơ quan tổ chức khác có liên quan về trường hợp đề nghị miễn trừ57
Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền xem xét quyết định miễn trừ đối với hành vi tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ kỹ thuật công nghệ
Sau khi nhận đầy đủ hồ sơ xin miễn trừ Thủ tướng chính phủ hay bộ trưởng
bộ thương mại (ngày nay là bộ công thương) xem xét hồ sơ xin miễn trừ và ra các quyết định miễn trừ58
Sao khi có quyết định miễn trừ cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thông báo quyết định miễn trừ trên thông tin đại chúng, và niêm yết tại trụ sở của cơ quan quản lý cạnh tranh59
lý cạnh tranh có trách nhiệm chỉ rõ những nội dung cần bổ sung
57
Điều 41 nghị định 116/2005/NĐ-CP
58
Bộ trưởng Bộ Thương mại xem xét, quyết định việc miễn trừ bằng văn bản quy định tại Điều 10 và khoản
1 Điều 19 của Luật cạnh tranh Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc miễn trừ bằng văn bản quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật cạnh tranh
59
quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm công khai quyết định cho hưởng miễn trừ