Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp Mặc dù hoạt động về đăng ký doanh nghiệp đã tồn tại khá lâu và lặp lại trong nhiều văn bản điều chỉnh củapháp luật nước ta qua nhiều giai đoạn chỉnh sửa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH - THƯƠNG MẠI
Trang 2LỚP : Luật thương mại 3 - k 33 MSSV : 5075254
Trang 41.1 Khái quát về đăng ký doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam 4
1.1.1 Lịch sử phát triển của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp nước ta 4
1.1.2 Khái quát về đăng ký doanh nghiệp 6
1.1.2.1 Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp 6
1.1.2.2 Đặc điểm của đăng ký doanh nghiệp 7
1.1.2.3 Ý nghĩa của việc đăng ký doanh nghiệp 8
1.1.3 Một số thuật ngữ về văn bản chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp 9
1.1.3.1 Giấy phép kinh doanh 9
1.1.3.2 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 11
1.1.3.3 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp 12
1.1.3.4 Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh 13
1.2 Những qui định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp 15
1.2.1 Điều kiện về chủ thể đăng ký doanh nghiệp 15
1.2.2.3 Các ngành nghề kinh doanh phải có điều kiện trước khi đăng ký kinh doanh 19
1.2.3 Những qui định về tên doanh nghiệp 21
1.2.3.2 Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt của doanh nghiệp 22
1.2.3.3 Những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp 22
2.1.1 Đăng ký truyền thống (Đăng ký trực tiếp) 26
Trang 52.1.1.1 Hồ sơ cho các doanh nghiệp khi đăng ký doanh nghiệp 26
2.1.1.2 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các công ty được thành lập trên cơ sở chia, tách, hợp nhất
và đối với công ty nhận sáp nhập 27
2.1.1.3 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp: 28
2.1.1.4 Các giấy tờ chứng thực cá nhân trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp: 30
2.1.1.5 Quy trình thực hiện đăng ký doanh nghiệp 30
2.1.1.6 Quy định của pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp 36
2.1.2 Đăng ký trực tuyến (hay đăng ký qua mạng điện tử ) 36
2.1.2.1 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trực tuyến: 37
2.1.2.2 Cách thức thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử: 37
2.1.2.3 Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử 38
2.1.2.4 Giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận đăng ký điện tử 40
2.1.3 Một số vấn đề liên quan đến đăng ký doanh nghiệp 43
2.1.3.1 Mã số thuế của doanh nghiệp 43
2.1.3.3 Lệ phí đăng ký doanh nghiệp: 45
2.1.3 Đăng ký thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp :
46
2.1.3.1 Thủ tục lập hồ sơ đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện: 46
2.1.3.2 Thông báo lập địa điểm kinh doanh : 47
2.1.3.3 Quá trình tiếp nhận hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp khiđăng ký thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh 48
2.2 Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp 48
2.2.1 Đăng ký bổ sung, thay đổi ngành nghề kinh doanh: 49
2.2.2 Đăng ký thay đổi trụ sở chính của doanh nghiệp: 50
2.2.3 Đăng ký đổi tên doanh nghiệp 52
2.2.4 Đăng ký thay đổi thành viên của doanh nghiệp: 52
2.2.4.1 Đăng ký thay đổi thành viên hợp danh 52
2.2.4.2 Đăng ký thay đổi thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: 53
2.2.4.3 Đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập công ty cổ phần: 55
2.2.5 Đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp 57
2.2.6 Đăng ký thay đổi vốn của doanh nghiệp 58
2.2.6.1 Đăng ký thay đổi vốn điều lệ, thay đổi tỷ lệ vốn góp 58
2.2.6.2 Đăng ký thay đổi vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân 60
Trang 62.2.7 Đăng ký thay đổi chủ sở hữu của doanh nghiệp: 60
2.2.7.1 Đăng ký thay đổi chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: 60
2.2.7.2 Đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân trong trường hợp bán, tặng cho doanh nghiệp, chủdoanh nghiệp chết, mất tích: 61
2.2.8 Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký thuế : 61
2.2.9 Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hoạt động theo quyết định của tòa án
62
2.2.10 Đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện địa điểm kinh doanh, thông báo chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh 62
2.3 Các thủ tục khác sau khi đăng ký doanh nghiệp 63
2.3.1 Công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp 63
2.3.2 Xin cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: 63
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH HIỆN NAY VÀ HƯỚNG HOÀN
3.1 Thực tiễn về vấn đề đăng ký doanh nghiệp hiện nay 65
3.2 Những bất cập trong quá trình đăng ký doanh nghiệp 68
3.3 Những đề xuất hoàn thiện về vấn đề đăng ký doanh nghiệp 72
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
· Tính cần thiết của đề tài:
Nền kinh tế Việt Nam đang tiến dần đến hoàn thiện theo cơ chế thị trường sau khi Việt Nam trở thànhthành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO và hội nhập sâu vào khu vực ASEAN, khu vực Châu
Á Thái Bình Dương Tình hình phát triển kinh tế nước ta hiện nay là khá ấn tượng, có bước đột phá và pháttriển trên nhiều mặt Rất nhiều doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh trong thị trường đầy tiềm năng này làmcho nền kinh tế Việt Nam trở nên sôi động Tính chung đến hết năm 2010, cả nước có 544.394 doanh nghiệpđăng ký kinh doanh, vượt mục tiêu được Chính phủ đề ra là 500.000 doanh nghiệp vào thời điểm này trong đólượng thành lập mới riêng trong năm 2010 đã đạt gần 90.000 doanh nghiệp, tăng 5,5% so với 2009 Việc bùng
nổ các nhà đầu tư mới trong thời buổi hội nhập cũng đã và đang thúc đẩy cơ quan lập pháp là Quốc Hội vàChính Phủ nước ta phải tăng cường trong hoạt động soạn thảo, ban hành các văn bản điều chỉnh, hướng dẫndưới luật để phù hợp với thực tiễn thị trường, cơ bản là phù hợp với bối cảnh xã hội và nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần như hiện nay, nhu cầu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật trong nước và yêu cầu phù hợp vớicác Hiệp định thương mại với các nước, các qui định của WTO và cả tập quán thương mại quốc tế là rất cầnthiết Vấn đề quan trọng nhất của nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường kinh doanh ở Việt Nam là phải thựchiện đăng ký doanh nghiệp theo một quy trình nhất định, chảy qua nhiều giai đoạn thủ tục Pháp lý phức tạp tuyhiện nay được chuyển khai thực hiện khá phổ biến nhưng còn nhiều điểm chưa thật sự tốt gây không ích khókhăn, phiền hà cho các nhà đầu tư Do đó, ta cần làm rõ một cách cụ thể và minh bạch hơn các thủ tục mà phápluật quy định là việc hết sức cần thiết cho các nhà đầu tư thuận lợi và sẵn sàng gia nhập vào thị trường kinh tếcủa Việt Nam một cách nhanh chóng và hoạt động thật hiệu quả dưới sự quản lý của nhà nước theo định hướngphát triển của xã hội, góp phần tăng trưởng kinh tế kinh tế cho đất nước đó là lý do mà người viết chọn đề tài "
Thủ tục đăng ký doanh nghiệp - Lý luận và thực tiễn " này.
· Mục đích nghiên cứu:
Pháp luật luôn là rào cảng cho các nhà đầu tư muốn thành lập một doanh nghiệp trong nền kinh tế ViệtNam Cho thấy sự quản lý nền kinh tế nước ta là khá chặt chẽ phù hợp với xu thế phát triển hiện nay nhằm đảmbảo cho môi trường kinh doanh trong nước được ổn định, an toàn và bền vững đồng thời thu hút các nhà đầu tưtrong và ngoài nước kinh doanh trong thị trường đầy tìm năng này là hết sức quan trọng Để được như vậy thìcần phải thực hiện một thủ tục đăng ký doanh nghiệp khá phức tạp làm cho các nhà đầu tư hoang mang khóhiểu, hiểu chưa đúng về thủ tục đăng ký doanh nghiệp Chính vì thế người viết mong muốn sau khi nghiên cứu
về đề tài này sẽ giúp cho các nhà đầu tư hiểu một cách minh bạch và sâu sắc hơn về đăng ký doanh nghiệp, để
áp dụng nó một cách hiệu quả Đồng thời đưa ra những điểm nổi bậc và thiếu sót của quy định pháp luật tiến tớihoàn thiện khung pháp lý của nước ta ngày một tốt hơn
Trang 9· Phạm vi nghiên cứu:
Người viết chỉ nghiên cứu các thủ tục trong quá trình đăng ký doanh nghiệp và một số vấn đề liên quanmật thiết đến đăng ký doanh nghiệp hiện nay được quy định trong luật doanh nghiệp 2005 và một số văn bảnhướng dẫn về vấn đề này
· Phương pháp nghiên cứu:
Để cho bài viết đạt được hiệu quả tốt nhất, phù hợp với kiến thức và năng lực nghiên cứu đề tài nàyngười viết đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
· Phương pháp liệt kê, phân tích để tìm ra các quy định của pháp luật về vấn đề đăng ký doanh nghiệp hiệnnay và làm rõ những thiếu sót và chưa hoàn thiện của pháp luật nước ta hiện nay
· Phương pháp đối chiếu và so sánh giữa những quy định cũ và mới của các văn bản pháp luật sau đó chỉ
ra những quy định nào là phù hợp tình hình phát triển của những vấn của xã hội hiện nay mà pháp luật nên điềuchỉnh
· Phương pháp tìm kiếm, tra cứu những thông tin trên mạng và các tài liệu trong các thư viện của Khoahay của Trường để được những thông tin chính xác nhất, mang tính thời sự và được cập nhật gần đây nhất
· Bố cục của đề tài:
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung của đề tài được người viết trình bàytrong ba chương
Chương1: Khái quát chung về đăng ký doanh nghiệp
Chương 2: Pháp luật về thủ tục đăng ký doanh nghiệp
Chương 3: Thực trạng về vấn đề đăng ký doanh nghiệp hiện nay và hướng hoàn thiện
Do kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên nội dung của đề tài sẽ không tránhkhỏi những thiếu sót, rất mong quý Thầy Cô, các bạn tận tình đóng góp, bổ sung kiến thức cho bài luận văn củangười viết được hoàn thiện hơn Qua đó thì người viết muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể quýThầy Cô trong khoa Luật đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện cho người viết thực hiện đề tài, đặt biệt là CôĐoàn Nguyễn Minh Thuận đã tận tình hướng dẫn người viết hoàn thành tốt bài nghiên cứu này
Trang 11CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ
DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về đăng ký doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam
1.1.1 Lịch sử phát triển của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp nước ta
Ngày nay xã hội luôn vận động và phát không ngừng dẫn đến tất cả các vấn đề trong xã hội cũng thayđổi theo, trong lĩnh vực pháp luật nước ta cũng có nhiều sự thay đổi riêng về pháp luật về đăng ký doanh nghiệpvới sự vận động đó có thêm nhiều vấn đề cần phải được kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với tình hình phát triểnkinh tế hiện nay, qua đó người viết chia ra làm hai thời kỳ lịch sử phát triển
· Từ trước 1986
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công đó là thắng lợi của chính năm kháng chiến chống thực dânPháp, Chính phủ nước ta lúc bấy giờ ban hành Sắc lệnh xóa bỏ mọi sự hạn chế của chế độ thực dân Pháp đốivới chế độ đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng để khuyến khích kinh tế phát triển thìChính phủ đồng ý để các công ty nước ngoài được tiến hành các hoạt động kinh doanh lúc bấy giờ thì nướcViệt Nam độc lập xuất hiện loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên ở thời kỳ này cũngkhông có nhiều vấn đề để nói, lúc này nước ta chưa thực sự có một văn bản nào hoàn chỉnh để điều chỉnh vềvấn đề đăng ký doanh nghiệp này Sau năm 1979 đến 1986 thời kỳ này ở nước Việt Nam tồn tại thống nhất chỉ
có các doanh nghiệp quốc doanh và các cơ sở sản xuất sở hữu tập thể và của hợp tác xã
· Sau năm 1986 đến nay
Năm 1986 Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới thừa nhận nền kinh tế nước ta là nền kinh
tế nhiều thành phần, Đảng ta đã khẳng định sự tồn tại của các doanh nghiệp tư nhân và thành phần kinh doanh
cá thể trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân bên cạnh nền kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã
Đến ngày 21-12-1990, Quốc hội khóa VIII của nước ta đã thông qua hai đạo Luật quan trọng là Luậtcông ty và Luật doanh nghiệp tư nhân Hai đạo Luật này đã tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho sự phát triển củakhu vực kinh tế tư nhân ở nước ta, đây là bước đột phá đánh dấu sự thay đổi trong tư duy kinh tế của Đảng vàNhà nước ta, là mốc quan trọng có ý nghĩa quyết định trong quá trình đổi mới kinh tế từ kinh tế kế hoạch hóatập trung nhà nước quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây cũng được coi là bước đột phá của pháp luật điềuchỉnh hầu hết các vấn đề của doanh nghiệp từ chủ thể thành lập doanh nghiệp, ngành, nghề kinh doanh, đăng kýkinh doanh, cấp giấy giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giải thể, phá sản doanh nghiêp Đây là lần đầu tiênvấn đề về đăng ký kinh doanh được quy định khá cụ thể và rõ ràng từ trước tới nay được quy định tại điều11-12 Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 và điều 17-18 Luật công ty 1990 Tuy thủ tục đăng ký kinh doanh khárườm rà, qua nhiều giai đoạn nhưng cũng thể hiện điểm tiến bộ vượt bậc trong pháp luật Việt Nam lúc bấy giờ
Trang 12Sự phát triển của nền kinh tế làm cho các quy định trong Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhânkhông còn thích hợp với một số Luật khác có liên quan Đòi hỏi phải có sự tương ứng giữa các Luật trong cùngmột vấn đề điều chỉnh, đó là một vấn đề cần thiết nhất nhằm đi đến một đạo Luật chung thống nhất để điềuchỉnh tất cả các loại hình doanh nghiệp và công ty theo hướng mở rộng và đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinhdoanh của các doanh nghiệp
Ngày 12-6-1999 Quốc hội khóa X, kỳ hợp thứ 5 đã thông qua toàn văn Luật doanh nghiệp tạo nên khuônkhổ pháp lí bảo đảm quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp Bước đầu tiên Luật doanh nghiệptạo ra cơ sở pháp lý chuyển các chủ kinh doanh ở Việt Nam sang hoạt động theo một Luật chung, tiến tới xâydựng một Luật mới, một Luật duy nhất và thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp, cải cách pháp luật vềdoanh nghiệp ở nước ta cho cộng đồng doanh nghiệp trong nước và là tín hiệu cho các doanh nghiệp nướcngoài, tổ chức quốc tế vào đầu tư tại Việt Nam
Vấn đề cải cách thủ tục hành chính chủ yếu là về vấn đề thủ tục đăng ký kinh doanh có phần đơn giảnhơn một bước Quy định lúc trước của các văn bản điều chỉnh về vấn đề này là tiến hành thủ tục xin phép thànhlập doanh nghiệp rồi mới tiến hành đi đăng ký kinh doanh, nhưng Luật doanh nghiệp rút gọn chỉ còn một bước,muốn có một doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật, thì người muốn thànhlập doanh nghiệp chỉ cần tiến hành một bước đi đến cơ quan nhà nước quản lý về đăng ký kinh doanh tiến hànhthủ tục đăng ký kinh doanh là được Sau đó với sự cần thiết làm rõ hơn trong quy định của Luật doanh nghiệp
1999 Chính phủ ta đã ban hành hàng loạt các Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp
1999, trong đó quy định cụ thể hơn về vấn đề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp như Nghị định
03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành của một số điều của Luật doanh nghiệp 1999, và sau đó
lại tiếp tục điều chỉnh bằng Nghị định 125/2004/NĐ-CP ngày 19/05/2004 về sửa đổi, bổ sung một số điều củaNghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp, Nghịđịnh số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh và một số văn bản liên quankhác
Luật doanh nghiệp 1999 nhiều năm thực hiện đã đạt được những thành tựu về nhiều mặt, cho thấy sựphát triển pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và đi sâu vào trong nhân dân Không dừng ở đây với sự
kế thừa những thành tựu của Luật doanh nghiệp 1999 ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội nước cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật doanh nghiệp 2005 thay thế Luật doanhnghiệp ban hành năm 1999 Ở Luật này thủ tục đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp quy định khác biệt so vớiLuật doanh nghiệp 1999 nhưng cũng không có gì đáng nói Bên cạnh đó Bộ kế hoạch và Đầu tư đã ban hànhhàng loạt Nghị định liên quan đến đăng ký kinh doanh, về đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký giấy chứng nhậnđầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đặc biệt là Bộ kế hoạch và đầu tư đã ban hành văn bảnquy định cụ thể về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh như Nghị định 88/2006/NĐ-CP về đăng ký kinhdoanh sau đó là Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
Trang 13doanh nghiệp 2005 tiếp tục là Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 về đăng ký doanh nghiệp thay thế choNghị định 88/2006/NĐ-CP ở trên và Thông tư 14/2010/TT- BKH ngày 04/06/2010 hướng dẫn một số nội dung
về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp sau đó Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 về việc hướngdẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp được ban hành thay thế Nghị định 139/2007NĐ-CP vànhiều văn bản liên quan khác
1.1.2 Khái quát về đăng ký doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm về đăng ký doanh nghiệp
Mặc dù hoạt động về đăng ký doanh nghiệp đã tồn tại khá lâu và lặp lại trong nhiều văn bản điều chỉnh củapháp luật nước ta qua nhiều giai đoạn chỉnh sửa, bổ sung những thiếu sót, nhưng cho đến nay thuật ngữ kháiniệm về đăng ký doanh nghiệp còn khá mới mẻ và vẫn chưa thấy một điều luật nào quy định cụ thể về kháiniệm này, trong quá trình nghiên cứu đứng trên lập trường quan điểm của mình người viết nói lên khái niệm về
đăng ký doanh nghiệp sau đây " Đăng ký doanh nghiệp là quy trình tiến hành một thủ tục hành chính của chủ
đầu tư với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm khai sinh ra một doanh nghiệp để hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế Việt Nam dưới khuôn khổ của pháp luật " bên cạnh đó thì chủ doanh nghiệp hoặc người đại
diện hợp pháp của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác các thông tin trong quátrình tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp
1.1.2.2 Đặc điểm của đăng ký doanh nghiệp
Đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục hành chính được tiến hành giữa chủ thể đăng ký doanh nghiệp với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Do đây là một thủ tục hành chính nên việc đăng ký doanh nghiệp là một quyđịnh mà bắt buộc phải thực hiện để được tiến hành hoạt động kinh doanh, sau khi tiến hành xong thủ tục thànhlập doanh nghiệp để doanh nghiệp đó đi vào hoạt động kinh doanh thì cần phải đến cơ quan đăng ký kinh doanhtiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp, nên chủ thể đi đăng ký doanh nghiệp phải chuẩn bị hồ sơ tới cơ quanđăng ký kinh doanh để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình tức là thực hiện việc đăng ký kinh doanh chodoanh nghiệp, và ngày nay tiến bộ hơn đó là lên mạng vào trang website cổng thống thông tin đăng ký doanhnghiệp quốc gia để điền đầy đủ thông tin thì chủ thể sẽ có được một bộ hồ sơ hoàn chỉnh như hồ sơ bản giấy,sau đó cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và cấp cho doanh nghiệp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,trong quá trình kê khai của chủ thể có nếu có sai phạm thì chủ thể phải tự chịu trách nhiệm và chịu xử phạt viphạm hành chính Đây được coi là đặc điểm đặc trưng của đăng ký doanh nghiệp
Thuật ngữ “đăng ký doanh nghiệp” được thay thế từ thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” đây là điểm nổi bậccủa Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký doanh nghiệp sau đây được gọi (Nghị định43/2010/NĐ-CP) thay thế cho Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006 về đăng ký kinh doanh (Nghị định88/2010/NĐ-CP) Thể hiện quyền tự chủ của doanh nghiệp, đăng ký doanh nghiệp thường gắn liền với mã sốdoanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, mã số thuế, mỗi một doanh nghiệp đều có mã số doanh
Trang 14nghiệp riêng đồng thời đó là mã số thuế Như lúc trước về hồ sơ đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là hai naychỉ còn một bộ hồ sơ cho ba giai đoạn đăg ký doanh nghiệp, đăng ký thuế và đăng ký con dấu.
Đăng ký doanh nghiệp là việc xác lập sự tồn tại của doanh nghiệp dưới sự quản lý của các cơ quan nhànước Việt Nam và được pháp luật Việt Nam công nhận với địa vị là một pháp nhân trong xã hội trừ doanhnghiệp tư nhân Do đó mọi hoạt động của doanh nghiệp điều chịu sự giám sát của cơ quan có thẩm quyền đảmbảo về tính an toàn, trật tự của xã hội Như vậy một khi có vấn đề khó khăn đối với doanh nghiệp thì nhà nước
sẽ tham gia vào để điều chỉnh theo hướng có lợi nhất và phù hợp nhất cho doanh nghiệp tạo ra tính công bằng,công khai, minh bạch trong môi trường kinh doanh dưới sự quản lý của nhà nước theo đường lối của Đảng cộngsản Việt Nam
1.1.2.3 Ý nghĩa của việc đăng ký doanh nghiệp
Năm 1986 Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới thừa nhận nền kinh tế nước ta là nền kinh
tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, với nền kinh tế càng phát triển đa dạng phức tạp sẽ làm cho quan hệ của doanh nghiệp với nhà nước trởnên rườm rà khó quản lý, từ đó lợi dụng từ điểm sơ hở của pháp luật, một số doanh nghiệp tiến hành kinhdoanh tràn lan, nhằm tư lợi cho riêng mình mà bất chấp hậu quả xấu xảy ra, sẽ làm thất thoát ngân sách nhànước và trật tự quản lý xã hội, làm cho môi trường kinh doanh bị suy thói, kinh tế sẽ xuống dốc Vì vậy cần cómột chính sách quản lý chặt chẽ, thông suốt để đảm bảo cho các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế cả nướcnói chung phát triển một cách hệ thống và thống nhất trong cả nước Do đó cơ quan quản lý về doanh nghiệpbắt buộc tất cả doanh nghiệp trên cả nước điều phải tiến hành đăng ký doanh nghiệp với nhiều ý nghĩa quantrọng
Thứ nhất, đối với doanh nghiệp do đó như là một thủ tục khai sinh cho doanh nghiệp trong hệ thống nềnkinh tế Việt Nam nên đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện đầy đủ tất cả các quyền và nghĩa vụ của doanhnghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình, xác nhận địa vị pháp lý của doanh nghiệp trong xã hội qua đóthiết lập nên các mối quan hệ hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp khác để cùng phát triển và tiến bộ bảođảm cho doanh nghiệp hoạt động, bền vững và an toàn dưới hệ thống pháp luật Việt Nam
Thứ hai, đối với đối tượng hợp tác của doanh nghiệp để giúp cho họ hiểu đầy đủ về thông tin của doanhnghiệp thông qua việc đăng ký doanh nghiệp, tạo lòng tin trong hợp tác làm ăn với doanh nghiệp và dễ dànggiải quyết các vấn đề tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh của họ với doanh nghiệp dưới sự quản lý của phápluật
Thứ ba, đối với cơ quan quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp là để xây dựng, quản lý hệ thốngthông tin doanh nghiệp, trực tiếp hay gián tiếp kiểm tra đôn đốc hoạt động của doanh nghiệp theo định hướngphát triển của xã hội, tạo ra nền kinh tế thị trường thông thoáng đi cùng với nền khoa học hiện đại ngày nay,đồng thời đảm bảo cho các doanh nghiệp kinh doanh đúng ngành nghề quy định để tránh tình trạng cạnh tranhkhông lành mạnh giữa các doanh nghiệp với nhau trong nền kinh tế Việt Nam, nhằm giải quyết tranh chấp trong
Trang 15kinh doanh một cách khoa học theo đường lối Pháp luật của Đảng cho doanh nghiệp, hạn chế các doanh nghiệpkinh doanh tràn lan làm mất trật tự công cộng Đảm bảo tính an toàn cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt độngkinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam.
1.1.3 Một số thuật ngữ về văn bản chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3.1 Giấy phép kinh doanh
Theo Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thì giấy phép kinh doanh được hiểu là sự chấp thuậnbằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới mọi hình thức mà một cá nhân, tổ chức phải có để tiến
hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh nhất định, bản thân giấy phép mang hình thức của sự cho phép và
xin phép của cơ chế xin - cho, theo điều 7 Luật doanh nghiệp, Giấy phép kinh doanh chỉ là một loại biện phápquản lý điều kiện kinh doanh của cơ quan quản lý nhà nước
Theo quan điểm của người viết đưa ra định nghĩa về giấy phép kinh doanh như sau " giấy phép kinh
doanh là một văn bản do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền cấp cho các doanh nghiệp kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật quy định, là cơ sở pháp lý cho doanh nghiệp chứng nhận thực hiện hoạt động kinh doanh" Do vậy Giấy phép kinh doanh chỉ là một trong những hình thức của điều kiện kinh doanh Ở Việt Nam
hiện có rất nhiều loại giấy phép, các giấy phép lại được ban hành từ nhiều loại văn bản khác nhau
Theo Ban nghiên cứu của Thủ tướng, năm 2006 có tới 300 loại giấy phép về điều kiện kinh doanh, quản
lý hoạt động của doanh nghiệp, tồn tại dưới các dạng như chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn,giấy chứng nhận đăng ký, giấy phép, văn bản chấp thuận, thẻ và nhiều tên gọi khác Cho đến tận bây giờ, chưatồn tại một thống kê và cập nhật chính xác các loại giấy phép và điều kiện kinh doanh đang có hiệu lực màngười kinh doanh phải thường xuyên xin các cơ quan có thẩm quyền Mặc dù đã có Quyết định19/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ 84 loại giấy phép không cần thiết và trái với Luật Doanhnghiệp nhưng vẫn còn nhiều Đây là một sự kiện lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp thời điểm đó Và cuốicùng, Nghị định 59/2002/NĐ-CP loại bỏ thêm 4 giấy phép và thay thế 10 loại giấy phép bằng các điều kiệnkinh doanh Một điểm yếu của hệ thống giấy phép kinh doanh ở nước ta là chất lượng, điều này đã được nhiềuchuyên gia và các doanh nghiệp gọi là tình trạng " 5 không 1 kém" của giấy phép kinh doanh là "không đầy đủ,không cụ thể và rõ ràng, không minh bạch, không thống nhất, không tiên liệu trước được, và kém khả thi"
Gần đây nghị định về quản lý nhà nước đối với hệ thống giấy phép kinh doanh chuẩn bị trình lên Chínhphủ đã đề cập tới việc thành lập Hội đồng quốc gia về giấy phép kinh doanh, khái niệm thống nhất về giấy phépkinh doanh sẽ được xác định và những ngành nghề hạn chế phải sử dụng giấy phép cũng được xác định Hộiđồng này sẽ chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát, đánh giá việc ban hành và thực hiện các quy định về giấy phépkinh doanh nhằm đảm bảo việc ban hành giấy phép được thống nhất, minh bạch, hợp lý và khi đưa thực thi đảmbảo tính hiệu quả Qua đó cho thấy tình trạng các loại giấy phép nước ta hiện nay có nhiều bất cập trong việcquản lý của các cơ quan nhà nước, hệ thống giấy phép chưa minh bạch, thiếu nhất quán, không tiên liệu được.Nhiều giấy phép kinh doanh rất mơ hồ về tính hợp pháp, hợp lý cũng như hiệu quả và hiệu lực thực hiện, không
Trang 16hướng tới bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, thiên về lợi ích của ngành hơn là dành thuận lợi cho doanhnghiệp, góp phần làm tăng chi phí giao dịch, giảm sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của môi trường kinhdoanh quốc gia, hạn chế quyền tự do kinh doanh của người dân, gây tốn kém, phiền hà khó khăn cho doanhnghiệp.
1.1.3.2 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Về nguyên tắc, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không được vượt khỏi phạm vi ngành, nghề đãđăng ký Do vậy, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là tài liệu rất quan trọng nhằm xác định năng lực pháp lýcủa doanh nghiệp, điểm thiếu soát của luật và các văn bản liên quan đến vấn đề về đăng ký kinh doanh củadoanh nghiệp là không định nghĩa về giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Theo như Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân trước đây, mỗi doanh nghiệp được cấp một giấychứng nhận đăng ký kinh doanh dưới dạng một cuốn sổ, mỗi lần thay đổi thông tin doanh nghiệp sẽ được cậpnhật vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và như vậy, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sẽ thể hiện toàn
bộ thông tin của doanh nghiệp từ khi thành lập đến thời điểm gần nhất Hệ thống đăng ký kinh doanh hiện hànhđược bắt đầu từ Luật doanh nghiệp 1999 cho phép doanh nghiệp có đến hai loại giấy là giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh được cấp cho doanh nghiệp đăng ký lần đầu khi đăng ký thành lập và giấy chứng nhận thay đổiđăng ký kinh doanh được cấp cho những lần thay đổi tiếp theo, và hai giấy này tồn tại đồng hành trong mộtdoanh nghiệp Điều đó giúp cho những bên liên quan có đầy đủ thông tin của doanh nghiệp từ khi thành lập(thông qua giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) và những biến đổi trong quá trình hoạt động (thông qua giấychứng nhận thay đổi đăng ký kinh doanh)
Đến điều 27 của Luật doanh nghiệp 2005 vẫn kế thừa tư tưởng cấp cho doanh nghiệp cùng lúc hai loạigiấy như Luật doanh nghiệp 1999, nhưng một lần nữa, Luật doanh nghiệp 2005 không quy định khi nào sử dụngGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và khi nào sử dụng Giấy chứng nhận thay đổi đăng ký kinh doanh Cũng
có thể vì lý do này, Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2007 về đăng ký kinh doanh yêu cầu doanh nghiệpkhi đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp phải nộp lại bản gốc Giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh cũ để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới
Doanh nghiệp hiện nay khi thành lập được cấp một Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và mỗi khiđăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải hoàn trả lại bản chính Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh cũ trước khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sửa đổi Vì thế, tại một thời điểmnhất định, doanh nghiệp chỉ lưu giữ một Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, vừa đảm nhận vai trò “Giấy khaisinh” (ghi nhận ngày đăng ký kinh doanh lần đầu) vừa là “Giấy chứng minh nhân dân” để chứng minh cho tưcách pháp lý của mình, và như thế mỗi lần thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp được cấp mộtGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mới và sau vài lần thay đổi như thế, sẽ rất khó nhận ra doanh nghiệp ban
Trang 17đầu nữa vì tên tuổi, ngành nghề, địa chỉ, người đại diện theo pháp luật, và các nội dung khác đã thay đổi, giấychứng nhận đăng ký kinh doanh hiện nay không ghi nhận đời sống doanh nghiệp qua thời gian.
Điểm đáng chú ý ở đây là điều 20 Luật doanh nghiệp và điều 50 Luật đầu tư hiện hành có quy định rằng,nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam được cấp giấy chứng nhận đầu tư, đồng thời là Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh So sánh giữa Giấy chứng nhận đăng ký kinh và giấy chứng nhận đầu tư thìGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, trong khi Giấy chứng nhận đầu
tư chỉ xác lập tính hợp pháp cho một hành vi kinh doanh của doanh nghiệp, hiểu một cách đơn giản thì Giấychứng nhận đầu tư gắn với một dự án, còn Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh gắn với một doanh nghiệp, màdoanh nghiệp có thể có nhiều dự án
Ở một số trường hợp khác doanh nghiệp muốn được hoạt động thì sẽ được cơ quan có thẩm quyền cấpcho một loại văn bản khác gọi là Giấy phép thành lập đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Nhưtrong Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung 2010 thì Giấy phép thành lập công ty chứng khoán là do Ủy ban chứngkhoán cấp và được xem như là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Sở kế hoặch và đầu tư cấp, như trongtrường hợp để thành lập doanh nghiệp bảo hiểm thì phải xin giấy phép thành lập do Bộ tài chính cấp đồng thời
là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, như vậy trong một số trường hợp giấy phép kinh doanh của doanhnghiệp không phải do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp mà là do cơ quan quản lý trực tiếp đến đối tượng kinhdoanh ngành nghề đó của doanh nghiệp cấp
1.1.3.3 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Thay thế cho Nghị định 88/2006/NĐ-CP theo khoản 2 điều 3 của Nghị định 43/2010/NĐ-CP khái niệmGiấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà cơ quan đăng ký kinh doanh cấp chodoanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế do doanh nghiệp đăng ký Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng
ký thuế của doanh nghiệp, mỗi một doanh nghiệp sẽ được cấp mã số riêng mã số này đồng thời là mã số doanhnghiệp và cũng chính là mã số thuế Về mặt pháp lý giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng giống nhưgiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp cho các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanhnghiệp 2005 Mẫu Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp và mẫu Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Bộ
kế hoạch và đầu tư ban hành và được áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc, Nghị định 43/2010/NĐ-CPThông tư 14/2010/TT-BKH hướng dẫn thi hành Nghị định 43/2010/NĐ-CP không quy định về việc thu lại Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh nay là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi đăng ký thay đổi nội dungđăng ký kinh doanh Đây có thể được xem là một chuyển biến mới trong nhận thức về quản lý doanh nghiệpbằng giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thay thế cho Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh về nội dungthì Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có phần rộng hơn với Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ngoài
Trang 18nội dung được quy định tại điều 25 của Luật doanh nghiệp 2005 thì, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
còn bổ sung thêm điều 26 của Luật quản lý thuế là cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế của Luật quản lý thuế
2006 do sau khi Nghị định 43/2010/ND-CP ra đời quy định cùng một bộ hồ sơ gồm ba nội dung đăng ký doanhnghiệp, đăng ký thuế và đăng ký mẫu dấu cho nên trong nội dung của giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
có quy định thêm điều 26 của Luật quản lý thuế là hoàn toàn hợp lý
1.1.3.4 Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh
Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh là một thủ tục đăng ký thực hiện kinh doanh dưới sự cho phépcủa cơ quan nhà nước quản lý trực tiếp đối tượng kinh doanh mà chủ doanh nghiệp phải có khi thực hiện hoạtđộng kinh doanh của mình Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chỉ là một trong những hình thức củađiều kiện kinh doanh, theo quy định của pháp luật, khi doanh nghiệp có đủ điều kiện thì được đăng ký kinhdoanh ngành nghề đó với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được nhà nước cấp cho Giấy chứng nhận đủ điềukiện kinh doanh So về thủ tục trình tự cấp thì có nhiều điểm khác biệt với Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh do là thủ tục đăng ký với cơ quan quản lý trực tiếp nên sẽ có nhiều cơ quan cấp phép do đó sẽ gây ranhiều vấn đề khó khăn trong quản lý giấy phép, như trong một số trường hợp cùng một ngành, nghề sẽ có nhiềuvăn bản của nhiều cơ quan điều chỉnh khi đó vấn đề được điều chỉnh sẽ không trùng khớp thậm chí đối lập lẫnnhau, lợi dụng điểm yếu của pháp luật thì một số doanh nghiệp sẽ hoạt động kinh doanh ngoài vòng pháp luậtlàm thiếu tính công bằng trong môi trường kinh doanh, thất thoát ngân sách nhà nước, gây mất trật tự trong xãhội, giảm hiệu quả trong việc quản lý của nhà nước đối với giấy phép
Giấy phép kinh doanh là hình thức của sự cho phép của cơ quan nhà nước và xin phép của chủ thể đăng
ký kinh doanh là một cơ chế xin - cho, nhưng đối với Giấy chúng nhận đủ điều kiện kinh doanh thì chủ thể kinhdoanh khi có đủ điều kiện theo pháp luật quy định thì chỉ đến đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyềnquản lý trực tiếp đến đối tượng kinh doanh của doanh nghiệp là có thể tiến hành hoạt động kinh doanh Vấn đề
là nếu không có Giấy phép đăng ký kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ không hoạt động được nhưng đối với Giấychứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thì khác Trong một số trường hợp pháp luật đòi hỏi chủ thể muốn thựchiện hoạt động kinh doanh phải đăng ký trước với cơ quan quản lý nhà nước và khi được sự chấp nhận của cơquan đó mới được phép hoạt động Chẳng hạn như trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bảo vệ thì chỉ có nhữngdoanh nghiệp được thành lập, đăng ký kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và có Giấy xác nhận đủđiều kiện về an ninh, trật tự để kinh doanh dịch vụ bảo vệ thì mới được tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụbảo vệ hoặc trong lĩnh vực sản xuất phim thì Luật điện ảnh năm 2006 quy định tại điều 14 khá rõ ràng đối vớidoanh nghiệp sản xuất phim, ngoài việc phải có điều kiện thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp cònphải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh do Bộ văn hóa, thể thao và du lịch cấp Cũng có những trườnghợp khi doanh nghiệp đã đi vào hoạt động thì mới đến cơ quan nhà nước để đăng ký điều kiện kinh doanh củamình như việc đăng ký về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thủy sảntươi sống và đã qua chế biến Và doanh nghiệp thì gắn liền với giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng
Trang 19trong một số trường hợp đặc thù thì một số cơ sở sản xuất nhỏ và lẻ không cần đến giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh vẫn hoạt động được nhưng phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an toàn trật tự hay an toàn vệsinh thực phẩm.
Khi có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh doanhphải thông báo trước khi bắt đầu hoạt động kinh doanh, người đứng đầu doanh nghiệp phải thông báo bằng vănbản cho Công an cấp tỉnh biết nơi đặt trụ sở, địa bàn và thời gian bắt đầu hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, không giống như Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi chủ doanh nghiệp nhận được cấp giấy là cóthể tiến hành hoạt động kinh doanh của mình mà không cần phải thông báo trước
1.2 Những qui định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
1.2.1 Điều kiện về chủ thể đăng ký doanh nghiệp
Theo quy định hiện hành tại điều 5 của Nghị định 43/2010/NĐ-CP thì người thành lập doanh nghiệp cónghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp và theo đó thì chủ đăng ký doanh nghiệp có nhiều chủ thể Do không có mộtquy định nào rõ ràng hơn nên chủ thể đăng ký kinh doanh có thể là người thành lập doanh nghiệp, người đạidiện, người được ủy quyền, nhân viên tư vấn, môi giới thủ tục thành lập doanh nghiệp và một số chủ thể khác,nhưng những chủ thể trên phải thỏa điều kiện được quy định giống như chủ thể thành lập doanh nghiệp Trongđiều 13 của Luật doanh nghiệp 2005 có quy định khá cụ thể là tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhânnước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật doanh nghiệp
2005 Qua đó thì chủ thể của đăng ký doanh nghiệp bao gồm cá nhân và tổ chức
1.2.1.1 Chủ thể là cá nhân
Cá nhân phải từ đủ 18 tuổi trở lên, phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tức là không bị mất năng lựchành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không thuộc người đang chấp hành hình phạt tù hoặcđang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh, không phải là cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán
bộ, công chức, đồng thời cũng không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốcphòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trongcác cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanhnghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốngóp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản Luậtdoanh nghiệp 1999 quy định người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có quyền thành lập và quản lýdoanh nghiệp Theo phân tích của tiến sĩ Nguyễn Kỳ Việt Phó Chủ tịch trung tâm trọng tài thương mại Cần Thơ
ở đây thì "Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự" thì không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp,nhưng một người chỉ bị cứu trách nhiệm hình sự chưa thể kết luận là có tội Nếu Viện kiểm sát truy tố, Tòa ánxét xử lại tuyên không phạm tội thì cũng không có tội Theo điều 9 của Bộ luật tố tụng hình sự thì "Không ai bịcoi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật" Vì thế quyđịnh người bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp là đã xâm phạm
Trang 20đến quyền công dân của họ Cho nên Luật doanh nghiệp 2005 quy định người đang bị tạm giam (mất tự do dù
là tạm thời) thì không thể thành lập và quản lý doanh nghiệp cũng như đăng ký doanh nghiệp được là một sữađổi phù hợp và tiến bộ
1.2.1.2 Chủ thể là tổ chức
Tổ chức phải có tư cách pháp nhân bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư ngoài nước và không phân biệtnơi đăng ký trụ sở chính, phải có năng lực pháp lực và năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tức là tổ chức đó phảiđược thành lập hợp pháp, phải tồn tại trên thực tế và có tài sản riêng Các tổ chức không được phép thành lậpdoanh nghiệp hay đăng ký doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2005 là cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng
vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho
cơ quan, đơn vị mình Luật doanh nghiệp 2005 thì được chỉnh sửa một chút thay từ pháp nhân thành tổ chức.Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì không phải tổ chức nào cũng có tư cách pháp nhân nhưng về phươngdiện pháp luật thì tổ chức được khái niệm rộng hơn pháp nhân Một điểm đáng nói ở đây là sự điều chỉnh củaLuật doanh nghiệp 2005 đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài không cần thỏa mãn về điều kiện cư trú vẫn cóquyền thành lập và đăng ký doanh nghiệp, so với quy định Luật doanh nghiệp 1999 tổ chức, cá nhân nướcngoài phải thường trú tại Việt Nam thì mới có quyền thành lập và đăng ký doanh nghiệp, điều đó cho thấy điểmtiến bộ của Luật doanh nghiệp 2005 đủ để chứng minh pháp luật nước ta ngày càng phát triển hoàn thiện hơn
1.2.2 Điều kiện về ngành nghề kinh doanh
Xác định được ngành, nghề kinh doanh cho doanh nghiệp là một vấn đề rất quan trọng vì ngoài thủ tụcđăng ký kinh doanh thông thường, ở một số loại ngành, nghề khác các nhà đầu tư còn phải xin thêm giấy phépkinh doanh, phải có chứng chỉ hành nghề, hoặc phải đáp ứng thêm một số điều kiện đặc thù của ngành nghề đó
mà pháp luật quy định cũng như phải thực hiện đúng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động kinhdoanh Hiện nay, theo quy định của pháp luật nước ta có thể chia ra làm ba loại hình của ngành nghề kinhdoanh chính mà đòi hỏi nhà đầu tư phải thỏa mãn thêm một số yêu cầu đối với việc đăng ký kinh doanh Đó là,các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, các ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định, và các ngành,nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề
Đối với ngành, nghề mà pháp luật quy đinh phải có điều kiện thì doanh nghiệp chỉ được kinh doanhngành, nghề đó khi có đủ điều kiện theo quy định, doanh nghiệp có quyền chủ động đăng ký và thực hiện kinhdoanh mà không cần phải xin phép, xin chấp thuận, hỏi ý kiến bất cứ cơ quan nhà nước có thẩm nào nếu ngành,nghề kinh doanh đó không thuộc ngành, nghề cấm kinh doanh hoặc không thuộc ngành, nghề kinh doanh cóđiều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành Trên cơ sở đó cơ quan đăng ký doanh nghiệp thực hiệnviệc đăng ký ngành, nghề theo mã số quy định và ghi vào giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Trường hợp doanh nghiệp đăng ký ngành, nghề kinh doanh mới, chưa có trong danh mục trên thì cơquan đăng ký doang nghiệp thực hiện việc đăng ký cho doanh nghiệp bình thường đồng thời phải thông báobằng văn bản với liên Bộ kế hoạch và đầu tư và Tổng cục thống kê để có văn bản hướng dẫn nếu ngành nghề
Trang 21kinh doanh mới đó là ngành nghề cấp I còn nếu là ngành, nghề mới đó là cấp II, III, IV theo Quyết định số10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007của Thủ tướng Chính phủ thì cơ quan đăng ký doanh nghiệp báocáo với Bộ kế hoạch và đầu tư để Bộ thống nhất mã số mới cho ngành, nghề đó.
Cơ quan đăng ký doanh nghiệp không được từ chối việc đăng ký các ngành, nghề kinh doanh khôngthuộc diện pháp luật cấm kinh doanh, kể cả những ngành, nghề chưa có trong danh mục ngành, nghề kinhdoanh sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp Sau đây là một số quy định của pháp luật về điều kiện ngành, nghềtrong đăng ký doanh nghiệp
Ngày 30/12/2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản số 369/TB-VPCP yêu cầu không được tổ chức
và thực hiện việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước dưới mọi hình thức, mọi hoạt động liên quan đếnkinh doanh sàn giao dịch vàng phải chấm dứt hoạt động trước ngày 30/3/2010, đồng thời Thủ tướng cũng yêucầu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bãi bỏ ngay quy định về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ởnước ngoài theo Quyết định số 3/2006/QĐ-NHNN ngày 18/1/2006 Kinh doanh vàng trên tài khoản là hoạtđộng đầu tư tài chính ở cấp cao và chuyên nghiệp chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro rất cao, hoạt động này hoàntoàn tương đồng với hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và ở mức độ nhất định và có nhiềuđiểm tương đồng với hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán, các nhà kinh doanh mua vàng trên tàikhoản với giá thỏa thuận vào thời điểm hiện tại, nhưng mới phải nộp tiền ký quỹ bằng một phần giá trị hợpđồng, và sẽ chỉ thanh toán và nhận vàng vào thời điểm ấn định trong tương lai Lý do kinh doanh vàng trêntài khoản bị cấm là thiếu quy chế pháp lý cho hoạt động cụ thể, mang tính rủi ro cao và ảnh hưởng trực tiếp đếnnền kinh tế Nhưng cũng phải nhìn nhận nhiều ưu điểm của nó, kinh doanh vàng trên tài khoản đem lại chonhiều nhà đầu tư khoản lợi lớn làm cho nhà đầu tư bớt tập trung vào vàng vật chất, vàng kinh doanh là ảo sẽkhông dẫn tới tình trạng nhập khẩu vàng ồ ạt, hoạt động giao dịch mua - bán là thông qua sàn nên hoàn toàn cóthể kiểm soát được khối lượng mua - bán vàng, đồng thời giá giao dịch là khách quan và có sự liên thông mậtthiết với giá vàng quốc tế và đây là một nhu cầu kinh doanh của nhiều nhà đầu tư do đó, ta nên đưa kinh doanhvàng trên tài khoản vào diện kinh doanh có điều kiện, chúng ta nên tạo ra sân chơi an toàn để thu hút các nhàđầu tư với một luật chơi chặt chẽ, công bằng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể tham gia vì
Trang 22trên thực tế thị trường vàng rất phát triển thay vì chạy theo nhu cầu xã hội để cấm, luật pháp nên cho phép cáchoạt động này được tiến hành và quy định rõ điều kiện thực hiện, chúng ta cần xây dựng một quy chế cụ thể vàmột hệ thống pháp luật để cho phép kinh doanh sàn vàng.
1.2.2.2 Các ngành nghề hạn chế kinh doanh
Các ngành nghề hạn chế kinh doanh là các ngành nghề có thể gây mất trật tự công cộng, gây nhiều bấtlợi cho xã hội thất thoát nhiều ngân sách nhà nước và người dân
1.2.2.3 Các ngành nghề kinh doanh phải có điều kiện trước khi đăng ký kinh doanh
· Các ngành nghề kinh doanh cần phải có chứng chỉ hành nghề
Chứng chỉ hành nghề là văn bản mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc hiệp hội nghềnghiệp được Nhà nước ủy quyền cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp vềmột ngành, nghề nhất định Người có chứng chỉ hành nghề được đăng ký trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp vàphải chịu trách nhiệm về việc tuân thủ đúng các quy định về chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp trong hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp mình Chứng chỉ hành nghề chỉ cấp cho cá nhân không cấp cho tổ chức
· Các ngành nghề kinh doanh cần phải có vốn pháp định
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu mà doanh nghiệp phải có theo quy định của pháp luật để thành lậpdoanh nghiệp và trong suốt quá trình kinh doanh, vốn sở hữu của doanh nghiệp không được thấp hơn số vốnpháp định hay có thể hiểu vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lậpdoanh nghiệp hoặc bổ sung hoạt động kinh doanh Mức vốn pháp định được cụ thể do cơ quan có thẩm quyềnquản lý nhà nước về vốn pháp định, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định
Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc (Tổng giám đốc) đối với công ty tráchnhiệm hữu hạn, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) đối với công ty cổ phần, tất cả cácthành viên hợp danh đối với công ty hợp danh và chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tưnhân phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và chính xác của vốn được xác nhận là vốn pháp định khi thànhlập doanh nghiệp Doanh nghiệp có nghĩa vụ bảo đảm mức vốn điều lệ thực tế không thấp hơn mức vốn phápđịnh đã được xác nhận trong cả quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với đăng ký thành lập doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề phải có vốn pháp định, trong hồ sơđăng ký doanh nghiệp phải có thêm xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định.Người trực tiếp xác nhận vốn pháp định cùng liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của số vốntại thời điểm xác nhận
Đối với doanh nghiệp đăng ký bổ sung ngành, nghề phải có vốn pháp định thì không yêu cầu phải cóthêm xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định nếu vốn chủ sở hữu được ghi trongbảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm không quá 03 tháng, kể từ ngày nộp hồ sơ, lớn hơn hoặcbằng mức vốn pháp định theo quy định
Trang 23Việc một số ngành nghề quy định mức vốn pháp định là nhằm bảo vệ lợi ích cho người tiêu dùng
và chủ nợ của các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề đó Cơ quan xác nhận mức vốn pháp định phảiluôn giám sát số vốn sở hữu của doanh nghiệp để cảnh báo cho người tiêu dùng và chủ nợ khi vốn chủ sở hữucủa doanh nghiệp có nguy cơ bị giảm sút dưới mức vốn pháp định và kịp thời có biện pháp quản lý cần thiết khi
số vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm dưới mức vốn pháp định
· Các ngành nghề kinh doanh cần phải có điều kiện về an ninh, trật tự
Để tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quyền kinh doanh củacác tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh doanh góp phấn phát triển kinh tế xã hội, chính phủ quy định về anninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh mà trong quá trình hoạt động có liên quan nhiều đến anninh, trật tự an toàn xã hội
Mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi kinhdoanh tại việt Nam trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự thì không phân biệtthành phần kinh tế điều phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam
Các ngành, nghề kinh doanh cần phải có điều kiện về an ninh, trật tự được quy định tại điều 1 Nghị định72/2009/NĐ-CP ngày 03/09/2009 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh
có điều kiện Riêng đối với các hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ, chính phủ có văn bản quy định riêng điềukiện về an ninh, trật tự
1.2.3 Những qui định về tên doanh nghiệp
1.2.3.1 Tên doanh nghiệp
Việc đặt tên doanh nghiệp trong Nghị định 43/2010/NĐ-CP được mở rộng hơn so với trước đây, phầntên của doanh nghiệp phải viết được bằng các chữ cái trong Bảng chữ cái tiếng Việt, chữ số và ký hiệu, phát âm
được và bao gồm hai thành tố Đầu tiên là loại hình doanh nghiệp, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, cụm
từ trách nhiệm hữu hạn có thể viết tắt là TNHH; công ty cổ phần, cụm từ cổ phần có thể viết tắt là CP; công ty
hợp danh, cụm từ hợp danh có thể viết tắt là HD; doanh nghiệp tư nhân, cụm từ tư nhân có thể viết tắt là TN.
Sau đó là tên riêng của doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ được sử dụng ngành, nghề kinh doanh, hình thức đầu tư
để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có đăng ký ngành, nghề đó hoặc thực hiện đầu tưtheo hình thức đó Tên tập đoàn kinh tế nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định, đây là điểm mới củaNghị định 43/2010/NĐ-CP Bên cạnh đó Nghị định 88/2006/NĐ-CP quy định riêng doanh nghiệp có vốn đầu tưnước nước ngoài có thể sử dụng tên riêng bằng tiếng nước ngoài đã đăng ký để cấu thành một phần hoặc toàn
bộ tên riêng của doanh nghiệp, nhưng Nghị định 43/2010/NĐ-CP thì lại không có quy định về vấn đề này Mộtđiểm mới trong Nghị định 43/2010/NĐ-CP này là hết sức cần thiết mà từ trước tới nay chưa thấy có một điềuluật nào quy định điều chỉnh về tên của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, ngoài những quyđịnh trên về tên của doanh nghiệp thì tên của chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh còn phải
Trang 24mang tên doanh nghiệp đồng thời kèm theo cụm từ "Chi nhánh" đối với đăng ký thành lập chi nhánh, cụm từ
"Văn phòng đại diện" đối với đăng ký thành lập văn phòng đại diện, hình thức tổ chức của địa điểm kinh doanh
Tên doanh nghiệp phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanhnghiệp và phải được in hoặc viết trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệp pháthành
Các doanh nghiệp đã đăng ký tên phù hợp với quy định tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP nhưng khôngphù hợp với quy định tại Nghị định 43/2010/ NĐ-CP này thì không bắt buộc phải đăng ký đổi tên Khuyếnkhích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có tên trùng và tên gây nhầm lẫn tự thương lượng vớinhau để đăng ký đổi tên doanh nghiệp hoặc bổ sung tên địa danh để làm yếu tố phân biệt tên doanh nghiệp, cácdoanh nghiệp có thể bổ sung tên địa danh nơi mà doanh nghiệp đặt trụ sở chính để làm yếu tố phân biệt têndoanh nghiệp
Trước khi đăng ký đặt tên doanh nghiệp, doanh nghiệp tham khảo tên các doanh nghiệp đang hoạt độnglưu giữ tại cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Cơ quan đăng ký kinh doanh có quyền chấp thuậnhoặc từ chối tên dự kiến đăng ký của doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật và quyết định của cơ quanđăng ký kinh doanh là quyết định cuối cùng
1.2.3.2 Tên doanh nghiệp viết bằng tiếng nước ngoài và tên viết tắt của doanh nghiệp
Tên doanh nghiệp có thể được đặt bằng tiếng nước ngoài nhưng phải dịch được sang tiếng Việt, tên bằngtiếng nước ngoài của doanh nghiệp được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên bằng tiếng Việt của doanhnghiệp tại cơ sở của doanh nghiệp hoặc trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu và ấn phẩm do doanh nghiệpphát hành Tên viết tắt của doanh nghiệp được viết tắt từ tên bằng tiếng Việt hoặc tên viết bằng tiếng nướcngoài
1.2.3.3 Những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp
Nghị định 88/2006/NĐ-CP quy định không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanhnghiệp khác đã đăng ký chỉ trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đây là quy định khá rộng chocác nhà doanh nghiệp qua nhiều năm áp dụng đã thấy nhiều bất cập cần phải chỉnh sửa, nay Nghị định43/2010/NĐ-CP ra đời đã thu hẹp phạm vi về việc đặt tên cho doanh nghiệp có tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫnvới tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã bị thu hồi Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã giải thể Đây chính là điểm mới của Nghị định43/2010/NĐ-CP Đồng thời doanh nghiệp không được sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trangnhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanhnghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó Không được sử dụng từ ngữ, kýhiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc, tên danh nhân để đặttên riêng cho doanh nghiệp
Trang 25Từ những vấn đề pháp lý trên là những vấn đề cần thiết làm hành trang cho các nhà đầu tư bước vàothương trường Việt Nam mà cần phải tìm hiểu trước khi muốn thành lập được một doanh nghiệp trong khuônkhổ của pháp luật Việt Nam, không dừng lại ở đó để có được một doanh nghiệp hoạt động thật sự thì các nhàđầu tư cần phải tiến hành nhiều thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật, đó là quá trình đăng ký doanhnghiệp mà người viết sẽ trình bày giúp các nhà đầu tư hiểu rõ vấn đề hơn trong phần tiếp theo.
Trang 27CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ
DOANH NGHIỆP
Một điểm mới khác của luật Doanh nghiệp năm 2005 theo hướng là luật chung cho các loại hình doanhnghiệp, là gắn thủ tục đăng ký kinh doanh với thủ tục đăng ký đầu tư Điều này xuất phát từ quan điểm đổi mới,đơn giản hoá tối đa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp gia nhập thị trường vàthực hiện các hoạt động đầu tư Rút ngắn hơn thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Ngoài ra về hồ
sơ, trình tự, thủ tục, điều kiện và nội dung đăng ký kinh doanh, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiênđầu tư vào Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 và pháp luật về đầu tư.Trên thực tế nước ta ngày càng phát triển đặt biệt là sự kiện gia nhập WTO đã đưa nước ta phát triển khôngngừng, thu hút các nhà đầu tư trong và ngòai nước tham gia vào thị trường kinh tế Việt Nam Trước tình hình
đó thì cần phải có một quy chế cụ thể và chính sách thích hợp để điều chỉnh cho các doanh nghiệp đầu tư vàoViệt Nam mà đầu mối thứ nhất là vấn đề về đăng ký doanh nghiệp đây là thủ tục pháp lý đầu tiên cần phải tìmhiểu trước khi các nhà đầu tư muốn thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
2.1 Đăng ký thành lập doanh nghiệp
Một số lưu ý chung khi đăng ký doanh nghiệp là cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ hướng dẫn thủ tục đăng
ký doanh nghiệp, các vấn đề khác đề nghị liên hệ với cơ quan quản lý chuyên ngành hoặc cơ quan pháp chế Cơquan đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, không chịu tráchnhiệm về những vi phạm pháp luật của doanh nghiệp xảy ra trước và sau đăng ký doanh nghiệp Cơ quan đăng
ký kinh doanh không giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, cổ đông của công ty với nhau hoặc với tổ chức,
cá nhân khác trong quá trình hoạt động Doanh nghiệp cần nghiên cứu các quy định của Luật doanh nghiệp vàcác Luật khác có liên quan để thực hiện trong suốt quá trình hoạt động Người thành lập doanh nghiệp tự kêkhai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính đầy đủ, hợp pháp, trung thực
và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và phải nộp lệ phí đăng ký doanhnghiệp tại thời điểm nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp sẽ không được hoàn trả chodoanh nghiệp trong cả trường hợp doanh nghiệp không được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc
hồ sơ phải bổ sung Người đại diện theo pháp luật có thể ủy quyền cho người khác đến nhận Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện đăng ký thay đổinội dung đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp tự dò tên trên website www.dangkykinhdoanh.gov.vn hoặcwww.businessregistration.gov.vn của Bộ kế hoạch và đầu tư để tìm kiếm thông tin chi tiết cho doanh nghiệp
Đối với ngành, nghề mà pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan quy định phải có điều kiện thìdoanh nghiệp chỉ được kinh doanh ngành, nghề đó khi có đủ điều kiện theo quy định Riêng đối với ngành,nghề yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề hoặc vốn pháp định thì doanh nghiệp phải chứng minh trong hồ sơđăng ký doanh Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có giá trị pháp lý kể từ khi được chấp thuận trên hệ
Trang 28thống thông tin của cơ quan đăng ký kinh doanh, kể cả trường hợp doanh nghiệp chưa đến nhận tại Phòng đăng
ký kinh doanh Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không có giá trị công nhận quyền sở hữu hoặc quyền sửdụng hợp pháp đối với trụ sở của doanh nghiệp, không phải là giấy chứng nhận đủ điều kiện hoặc giấy phéphoạt động đối với ngành kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành Bản sao các giấy
tờ chứng thực cá nhân hoặc pháp nhân đề nghị sao y không quá 03 tháng, trường hợp nếu sao y quá 3 tháng, đềnghị xuất trình bản chính để đối chiếu
Địa chỉ trụ sở chính doanh nghiệp cần có đầy đủ số nhà, đường phố- xóm- ấp-thôn/ xã- phường, thị trấn/quận- huyện/ tỉnh- thành phố và điện thoại, fax, email, website (nếu có) Nếu không đủ các phần quy định trênthì không thể sử dụng làm trụ sở doanh nghiệp, đơn vị phụ thuộc Theo nghiên cứu và đối chiếu thì theo điềuchỉnh tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP, cơ quan đăng ký kinh doanh không có thẩm quyền xem xét các trườnghợp không đúng quy định Cơ quan có thẩm quyền tiến hành thủ tục đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệpđược tổ chức ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (được gọi chung là cấp tỉnh) như Phòng đăng ký kinhdoanh Sở kế hoạch và đầu tư và ở huyện, quận thị xã trực thuộc tỉnh (được gọi chung là cấp huyện) như Phòngđăng ký kinh doanh tại các quận huyện thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoặc cơ quan đăng ký kinh doanh cấphuyện
2.1.1 Đăng ký truyền thống (Đăng ký trực tiếp)
Thay cho việc có Đơn đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp năm
2005 đã quy định về Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh, Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng có những quy định
cụ thể về hồ sơ đăng ký kinh doanh của từng loại hình doanh nghiệp bao gồm hồ sơ đăng ký kinh doanh đối vớidoanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
2.1.1.1 Hồ sơ cho các doanh nghiệp khi đăng ký doanh nghiệp
Nhìn chung thì toàn bộ hồ sơ đều giống nhau về nội dung bao gồm:
· Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp theo mẫu thống nhất tại Thông tư 14/2010/TT-BKH
· Dự thảo Điều lệ công ty Dự thảo điều lệ công ty phải có đầy đủ chữ ký của các thành viên hợp danh đối vớicông ty hợp danh, của người đại diện theo pháp luật, của các thành viên hoặc người đại diện theo uỷ quyền đốivới công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, của người đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sánglập hoặc người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần Các thành viên, cổ đôngsáng lập phải cùng nhau chịu trách nhiệm về sự phù hợp pháp luật của điều lệ công ty
· Danh sách thành viên của doanh nghiệp theo mẫu do Bộ kế hoạch và đầu tư quy định Kèm theo danh sáchthành viên hoặc danh sách cổ đông sáng lập phải có:
· Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại điều 24 Nghị định 43/2010/NĐ-CP đối với trường hợp thành viên sáng lập hoặc cổ đông sáng lập là cá nhân
Trang 29· Bản sao hợp lệ Quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác, bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quyđịnh tại điều 24 Nghị định 43/2010/NĐ-CP thì người đại diện theo uỷ quyền và quyết định uỷ quyền tương ứngđối với trường hợp thành viên sáng lập hoặc cổ đông sáng lập là pháp nhân
· Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công ty kinh doanh ngành,nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định
· Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của một hoặcmột số cá nhân đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần nếu công ty kinh doanh ngành, nghề màtheo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề
Riêng đối với doanh nghiệp tư nhân thì hố sơ có phần đơn giản hơn các loại hình doanh nghiệp kháckhông cần đến danh sách thành viên của công ty và bản dự thảo điều lệ công ty Ngoài ra dành riêng cho công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có chủ sỡ hữu là tổ chức có thêm phần văn bản ủy quyền của chủ sỡ hữucông ty cho người được ủy quyền
2.1.1.2 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các công ty được thành lập trên cơ sở chia, tách, hợp nhất vàđối với công ty nhận sáp nhập
Trường hợp chia công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thành một số công ty cùng loại, ngoàigiấy tờ như đăng ký thành lập mới còn phải có quyết định chia công ty theo quy định tại điều 150 của Luậtdoanh nghiệp 2005, biên bản họp Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trởlên, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần về việc chia công ty và Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác của công ty
Trường hợp tách công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần để thành lập một hoặc một số công tymới cùng loại, ngoài giấy tờ như đăng ký thành lập mới còn phải có quyết định tách công ty theo quy định tạiđiều 151 của Luật doanh nghiệp 2005, biên bản họp Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạnhai thành viên trở lên, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần về việc tách công ty và bảnsao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờtương đương khác của công ty
Trường hợp hợp nhất một số công ty cùng loại thành một công ty mới, ngoài giấy tờ quy định nhưđăng ký thành lập mới còn phải có hợp đồng hợp nhất công ty theo quy định tại điều 152 của Luật doanhnghiệp 2005, biên bản họp và quyết định của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn haithành viên trở lên, biên bản họp và quyết định của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần về việc hợpnhất và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tươngđương khác của các công ty bị hợp nhất
Trường hợp sáp nhập một hoặc một số công ty vào một công ty khác cùng loại, ngoài giấy tờ quy địnhtại Chương V Nghị định 43/2010/NĐ-CP, trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của công ty nhận sáp nhập phải có
Trang 30thêm hợp đồng sáp nhập theo quy định tại điều 153 của Luật doanh nghiệp, biên bản họp và quyết định của Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, biên bản họp Đại hội đồng cổđông đối với công ty cổ phần về việc sáp nhập và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp của công ty nhận sáp nhập và các công ty bị sáp nhập.
Việc đăng bố cáo thành lập doanh nghiệp mới thực hiện đồng thời với việc bố cáo chấm dứt hoạt độngdoanh nghiệp cũ cũng như việc giải quyết các quyền và nghĩa vụ có liên quan
2.1.1.3 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với các trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp
· Trường hợp chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thành công ty trách nhiệm hữu
hạn hai thành viên trở lên, hồ sơ đăng ký chuyển đổi
· Giấy đề nghị chuyển đổi doanh nghiệp
· Điều lệ công ty chuyển đổi theo quy định tại điều 22 Luật doanh nghiệp 2005
· Danh sách thành viên theo mẫu do Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành và bản sao hợp lệ một trong cácgiấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại điều 24 Nghị định 43/2010/NĐ-CP của các thành viên công ty đối vớitrường hợp thành viên là cá nhân và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp đối với trường hợp thành viên công ty là tổ chức;
· Hợp đồng chuyển nhượng hoặc giấy tờ xác nhận việc tặng cho một phần quyền sở hữu của công tyđối với trường hợp chủ sở hữu công ty chuyển nhượng, tặng cho một phần sở hữu của mình tại công ty cho mộthoặc một số cá nhân khác, Quyết định của chủ sở hữu công ty về việc huy động thêm vốn góp đối với trườnghợp công ty huy động thêm vốn góp từ một hoặc một số cá nhân khác
· Trường hợp chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên, hồ sơ đăng ký chuyển đổi bao gồm:
· Giấy đề nghị chuyển đổi doanh nghiệp
· Điều lệ công ty chuyển đổi theo quy định tại điều 22 Luật doanh nghiệp 2005
· Bản sao hợp lệ quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tươngđương đối với trường hợp chủ sở hữu là tổ chức hoặc bản sao một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân khácquy định tại điều 24 Nghị định 43/2010/NĐ-CP đối với trường hợp chủ sở hữu là cá nhân
· Danh sách người đại diện theo ủy quyền đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được
tổ chức theo quy định tại khoản 3 điều 67 Luật doanh nghiệp 2005, bản sao một trong các giấy tờ chứng thực cánhân quy định tại điều 24 Nghị định 43/2010/NĐ-CP của người đại diện theo ủy quyền đối với trường hợp công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được tổ chức theo quy định tại khoản 4 điều 67 Luật doanh nghiệp43/2010/NĐ-CP
· Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty
· Quyết định bằng văn bản và bản sao biên bản họp của Hội đồng thành viên về việc chuyển đổi loạihình công ty
Trang 31· Trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn, hồ sơ đăng ký
chuyển đổi bao gồm:
· Giấy đề nghị chuyển đổi doanh nghiệp;
· Điều lệ công ty;
· Danh sách chủ nợ và số nợ chưa thanh toán, cả nợ thuế, thời hạn thanh toán; danh sách người laođộng hiện có; danh sách các hợp đồng chưa thanh lý;
· Danh sách thành viên theo quy định tại điều 23 của Luật doanh nghiệp đối với trường hợp chuyển đổithành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cánhân quy định tại điều 24 Nghị định này của các thành viên công ty đối với trường hợp thành viên là cá nhân vàbản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợpthành viên công ty là tổ chức;
· Văn bản cam kết của chủ doanh nghiệp tư nhân về việc chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sảncủa mình đối với tất cả các khoản nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp tư nhân và cam kết thanh toán đủ số nợkhi đến hạn;
· Văn bản thỏa thuận với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty trách nhiệm hữu hạnđược chuyển đổi tiếp nhận và thực hiện các hợp đồng đó;
· Văn bản cam kết của chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thỏa thuận giữa chủ doanh nghiệp tư nhân vàcác thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân
· Trường hợp chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần và ngược lại, hồ sơ đăng
ký chuyển đổi bao gồm:
· Giấy đề nghị chuyển đổi doanh nghiệp;
· Quyết định của chủ sở hữu công ty hoặc Quyết định và Biên bản họp của Hội đồng thành viên hoặcĐại hội đồng cổ đông về việc chuyển đổi công ty
· Điều lệ công ty sau khi chuyển đổi;
· Danh sách thành viên hoặc danh sách cổ đông sáng lập hoặc cổ đông phổ thông và các giấy tờ theoquy định tại khoản 3 điều 19 của Luật doanh nghiệp 2005
· Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp hoặc thoả thuận góp vốn đầu tư
2.1.1.4 Các giấy tờ chứng thực cá nhân trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
Giấy chứng minh nhân dân còn hiệu lực hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực đối với công dân Việt Nam;
Một trong số các giấy tờ còn hiệu lực đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài sau đây:
· Hộ chiếu Việt Nam;
· Hộ chiếu nước ngoài (hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài) và một trong các giấy tờchứng minh người gốc Việt Nam ở nước ngoài
Trang 32· Giấy đăng ký tạm trú do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và Hộ chiếu còn hiệu lực đối vớingười nước ngoài thường trú tại Việt Nam.
· Hộ chiếu còn hiệu lực đối với người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam
2.1.1.5 Quy trình thực hiện đăng ký doanh nghiệp
· Nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tại Sở kế hoạch và đầu tư Thành Phố Cần Thơ
Sau khi chủ thể đăng ký doanh nghiệp chuẩn bị xong hồ sơ thì tiến hành hoạt động đăng ký tại Sở kếhoạch và đầu tư Thành Phố, và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đăng kýkinh doanh Chủ thể đăng ký doanh nghiệp sau khi nộp hồ sơ tại nơi tiếp nhận hồ sơ của Sở thì sẽ được sắp xếptheo thứ tự từ dưới lên trên nếu có nhiều hồ sơ, sau đó theo dõi số thứ tự của mình tại nơi nhận hồ sơ, khi đến
số thứ tự của mình thì cán bộ tiếp nhận hồ sơ gọi tên của chủ thể đăng ký doanh nghiệp nộp hồ sơ để được cán
bộ tiếp nhận và hướng dẫn những nội dung cần thiết trong hồ sơ Hồ sơ được tiếp nhận khi có đầy đủ giấy tờtheo quy định như tên doanh nghiệp, tờ khai thông tin người nộp hồ sơ đã điền đầy đủ thông tin, đã nộp lệ phíđầy đủ Tiếp đó cán bộ tiếp nhận ghi phiếu đề nghị đóng lệ phí đăng ký doanh nghiệp Sau khi nộp lệ phí,doanh nghiệp xuất trình phiếu đề nghị đóng lệ phí cho cán bộ đã nộp hồ sơ và nhận giấy biên nhận Nếu ngườithành lập doanh nghiệp ủy quyền cho người đại diện của mình nộp hồ sơ thì người được ủy quyền phải xuấttrình giấy chứng minh nhân dân (hoặc hộ chiếu) và nộp kèm theo văn bản ủy quyền, hợp đồng ủy quyền hoặcgiấy ủy quyền theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực (hợp đồng có công chứng hoặc giấy ủy
quyền có chứng thực chữ ký của cấp có thẩm quyền) Theo như quy định của luật thì mọi sự hướng dẫn, yêu
cầu bổ sung hồ sơ được thực hiện bằng văn bản của Phòng đăng ký kinh doanh nhưng trên thực tế có ít trườnghợp thực hiện đúng theo quy định của pháp luật chỉ có một số ít trướng hợp do doanh nghiệp ở xa mới thựchiện yêu cầu bổ sung hồ sơ bằng văn bản còn lại là chủ thể đăng ký doanh nghiệp lại trực tiếp gặp cán bộ phòngđăng ký kinh doanh để được hướng dẫn cụ thể hơn Theo như nhận biết của người viết thì quy định này củapháp luật không phù hợp và không theo sát nhu cầu thực tế, ta nên cho chủ thể đăng ký doanh nghiệp tự lựachọn hình thức hướng dẫn phù hợp nhất là gặp trực tiếp hay hướng dẫn bằng văn bản, qua điện thoại… mà họghi trên hồ sơ để có một cơ chế làm việc linh động đối với cơ quan đăng ký kinh doanh
Sau khi tiếp nhận hồ sơ xong cán bộ tiếp nhận có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng kýdoanh nghiệp để cấp hoặc từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Hồ sơ hợp lệ của chủ thể đăng
ký doanh nghiệp sẽ được cán bộ tiếp nhận và hẹn ngày để nhận giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Trongthời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì Sở kế hoạch và đầu tư Thành Phố sẽ cấpGiấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp Nếu quá thời hạn trên mà không được cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng kýdoanh nghiệp thì người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu nại theo quy định của luật về khiếu nại, tố cáo
Sau khi nhận hồ sơ hợp lệ thì cán bộ tiếp nhận sẽ chuyển hồ sơ cho trưởng, phó Phòng đăng ký kinhdoanh kiểm tra lại và ký xác nhận Thực tế cơ chế làm việc của Sở hiện nay là phối hợp liên thông một cửa nên
Trang 33Cục thuế và Công an Thành Phố cử cán bộ trực tiếp đến văn phòng làm việc tại Sở kế hoạch và đầu tư ThànhPhố Do đó, trong thời hạn 2 ngày làm việc Sở kế hoạch và đầu tư Thành Phố gửi bản sao Giấy đề nghị đăng kýdoanh nghiệp tới cán bộ thuế và cán bộ Công an đang làm việc ở đó Sau khi nhận được bản sao Giấy đề nghịđăng ký doanh nghiệp họ mới chuyển hồ sơ tói Cục thuế Thành Phố và cơ quan Công an thành Phố, sau 2 ngàylàm việc Cục thuế và Công an Thành Phố gửi lại mã số thuế và giấy đăng ký mẫu dấu cho Sở kế hoạch và đầu
tư Thành Phố Sau đó Sở kế hoạch và đầu tư Thành Phố mới cấp cho chủ thể đăng ký kinh doanh giấy chứngnhận đăng ký doanh nghiệp
· Quy trình phối hợp giải quyết các thủ tục về đăng ký doanh nghiệp
Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ của doanh nghiệp, Sở kế hoạch
và đầu tư gửi tới Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Cục thuế cấp tỉnh) bản saoGiấy đề nghị đăng ký kinh doanh Sau đó trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin vềdoanh nghiệp, Cục thuế cấp tỉnh thông báo kết quả mã số doanh nghiệp cho Sở kế hoạch và đầu tư để ghi vàoGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế của doanh nghiệp Việc gửi và nhận thông tin giữa cơquan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế có thể tiến hành theo các phương thức như nhận và gửi bằng bảngiấy, nhận và gửi thông qua máy Fax, nhận và gửi thông qua mạng điện tử
Đối với những tỉnh, thành phố trực thuộc trưng ương có số lượng hồ sơ doanh nghiệp đăng ký thành lậpmới trung bình hàng tháng từ 50 hồ sơ trở lên, thời hạn giải quyết hồ sơ tại cơ quan đăng ký kinh doanh và cơquan thuế do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định có thể tại quy chế phối hợp liênngành, đảm bảo thời gian trả kết quả cho doanh nghiệp là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng kýkinh doanh và đăng ký thuế hợp lệ
Trong thời hạn 2 ngày làm việc sau khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế chodoanh nghiệp, Sở kế hoạch và đầu tư gửi bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế này choCục thuế, cơ quan công an cấp tỉnh và các cơ quan liên quan
· Hướng dẫn nhận giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Kể từ ngày 1/6/2010, thay vì được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế, các doanhnghiệp mới thành lập sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Những doanh nghiệp đã được cấpGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế trước đây sẽkhông bắt buộc phải thực hiện thủ tục đổi sang Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Phòng đăng ký kinhdoanh sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi doanh nghiệp đăng ký thay đổi nội dung đăng kýdoanh nghiệp hoặc theo yêu cầu của doanh nghiệp
Điểm mới của luật doanh nghiệp 2005 so với luật doanh nghiệp 1999 là thời hạn cấp Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp rút ngắn thời gian hơn từ 15 ngày còn lại 10 ngày, sau khi Nghị định 88/2006/NĐ-CPđược ban hành cũng không điều chỉnh gì nhưng Nghị định 43/2010/ NĐ-CP thì tiến bộ hơn quy định điều chỉnhrút ngắn thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp xuống còn lại 5 ngày Sau đó là sự phối hợp giữa
Trang 34các cơ quan nhà nước rút gọn các thủ tục hành chính thông qua cơ chế một cửa đây là điểm tiến bộ đáng nóicủa pháp luật nước ta.
Cũng giống như nộp hồ sơ chủ thể đăng ký kinh doanh nộp biên nhận tại quầy để được phát số thứ tựsau đó theo dõi số thứ tự trên bảng điện tử tại quầy trả hồ sơ mà doanh nghiệp được phát số thứ tự đó Khi đến
số thứ tự, người đến nhận kết quả nộp lại số thứ tự đã được phát và xuất trình bản chính Giấy chứng minh nhândân (hoặc Hộ chiếu), trường hợp người đến nhận kết quả không phải là người đại diện pháp luật thì xuất trìnhhợp đồng ủy quyền hoặc Giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực (hợp đồng cócông chứng hoặc giấy ủy quyền có chứng thực chữ ký của cấp có thẩm quyền) cho cán bộ trả hồ sơ Kết quảgiải quyết đăng ký doanh nghiệp có 2 trường hợp cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc thông báo
Sau khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp cần kiểm tra lại các thông tin.Trường hợp phát hiện sai sót nếu do Phòng đăng ký kinh doanh cấp không đúng với thông tin doanh nghiệp kêkhai trong hồ sơ đã đăng ký thì doanh nghiệp làm thủ tục hiệu đính thông tin trên Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp và nộp lại cho Phòng đăng ký kinh doanh, nếu do doanh nghiệp kê khai sai trong hồ sơ đăng kýdoanh nghiệp thì doanh nghiệp làm thủ tục thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và nộp lại cho Phòng đăng
ký kinh doanh
· Nội dung của giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:
Theo điều 25 của Luật doanh nghiệp 2005 thì nội dung của giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp baogồm đầu tiên là địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, kế tiếp là họ, tên, địa chỉthường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác củangười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, sau đó là họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứngminh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của thành viên hoặc cổ đông sáng lập là cánhân; số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của chủ sở hữu công ty, của thành viên hoặc cổ đôngsáng lập là tổ chức đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần; họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc
Trang 35tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của thành viên hợp danhđối với công ty hợp danh; họ, tên, địa chỉ thường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực
cá nhân hợp pháp khác của chủ sở hữu công ty là cá nhân hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân, tiếp đó là vốn điều lệđối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, số cổ phần và giá trị vốn cổ phần đã góp và số cổphần được quyền chào bán đối với công ty cổ phần; vốn đầu tư ban đầu đối với doanh nghiệp tư nhân, vốn phápđịnh đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề đòi hỏi phải có vốn pháp định, và cuối cùng là ngành, nghềkinh doanh
Nhưng theo quy định hiện nay ngoài nội dung trên còn có thêm điều 26 của Luật Quản lý thuế gồm tênngười nộp thuế, mã số thuế và số, ngày, tháng, năm của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phépthành lập và hoạt động hoặc giấy chứng nhận đầu tư đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh, sau đó là số, ngày,tháng, năm của quyết định thành lập đối với tổ chức không kinh doanh hoặc giấy chứng minh nhân dân hoặc hộchiếu đối với cá nhân không kinh doanh tiếp đó là tên cơ quan thuế quản lý trực tiếp và và cuối cùng là ngàycấp giấy chứng nhận đăng ký thuế
2.1.1.6 Quy định của pháp luật về cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
· Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh cấptỉnh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanhnghiệp, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đạidiện, thông báo lập địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp Nếu quá thời hạn trên mà không được cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng kýdoanh nghiệp thì người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tốcáo
· Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:
Doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh khi có đủ các điều kiện trước tiên là ngành, nghềđăng ký kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh và điều đáng quan tâm nhất là tên của doanh nghiệpđược đặt theo đúng quy định tại các điều 31, 32, 33 và 34 của Luật doanh nghiệp 2005 và Nghị định43/2010NĐ-CP Sau đó là phải có trụ sở chính tức là địa điểm liên lạc, giao dịch của doanh nghiệp, phải ở trênlãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ được xác định gồm số nhà, tên phố (ngõ phố) hoặc tên xã, phường, thị trấn,huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số điện thoại, số fax và thưđiện tử (nếu có) và cuối cùng là hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ theo quy định của pháp luật, nộp đủ lệ phíđăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, Nghị định 43/2010/NĐ-CP còn có một số điểm mới quy định về tên doanh nghiệp đăng kýtrùng tên với doanh nghiệp trước đó sẽ không phải đổi tên, mỗi doanh nghiệp sẽ được cấp một mã số duy nhấtgọi là mã số doanh nghiệp, mã số này đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp, thống nhất lệ phí đăng ký trên
Trang 36toàn quốc, thống nhất một bộ hồ sơ đăng ký kinh doanh duy nhất và một đầu mối tiếp nhận hồ sơ và trả kếtquả đăng ký doanh nghiệp là cơ quan đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và đầu tư.
2.1.2 Đăng ký trực tuyến (hay đăng ký qua mạng điện tử )
Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử là việc người thành lập doanh nghiệp thực hiện việc đăng kýdoanh nghiệp thông qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia qua hai địa chỉ website
www.dangkykinhdoanh.gov.vn hoặc www.businessregistration.gov.vn của Bộ kế hoạch và đầu tư.
Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia là hệ thống thông tin nghiệp vụ chuyên môn về đăng kýdoanh nghiệp do Bộ kế hoạch và đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và vận hành đểgửi, nhận, lưu trữ, hiển thị hoặc thực hiện các xử lý khác đối với dữ liệu phục vụ công tác đăng ký doanhnghiệp Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia bao gồm cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốcgia và cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Hệ thống đăng ký kinh doanh quốc gia có ưu điểm nổibật là, với cơ sở dữ liệu trung tâm, bất cứ một phòng kinh doanh cấp tỉnh nào cũng có thể truy cập vào để lưuthông tin đăng ký doanh nghiệp của tỉnh đó Từ đó, tất cả các Phòng đăng ký kinh doanh các tỉnh khác có thểtruy cập và tra cứu thông tin của một doanh nghiệp trên phạm vi cả nước Điểm nổi bật của cơ sở dữ liệu làgiảm thiểu sự can thiệp của con người vào xử lý nghiệp vụ nhằm hạn chế tiêu cực, có tính tập trung cao, dễ sửdụng, hệ thống máy chủ và máy dự phòng sao lưu mạnh, tính bảo mật cao Từ đó sẽ giúp các doanh nghiệp tiếtkiệm được thời gian đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế (từ 10 ngày xuống còn 5 ngày), giảm chi phí, mở rộngkhả năng tiếp cận thông tin, giá trị pháp lý của các đối tác Cụ thể quy định việc đăng ký doanh nghiệp quamạng điện tử là Phòng đăng ký kinh doanh tiếp nhận hồ sơ, xem xét, hướng dẫn sửa đổi, bổ sung hồ sơ vàthông báo kết quả giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốcgia Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp nộp qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia có giá trị pháp lý như
hồ sơ nộp bằng bản giấy
Đây là một bước tiến bộ quan trọng về công nghệ thông tin trong pháp luật nước ta được quy định kháđầy đủ trong Nghị định 43/2010/NĐ-CP Với sự nổ lực vượt bậc các nhà làm luật lần đầu tiên đưa công nghệthông tin vào thực hiện pháp luật cho thấy sự đầu tư sâu sắc trong Nghị định 43/2010/NĐ-CP thật sự là điểmđáng chú trọng Tuy có nhiều vấn đề chỉnh sửa và quy định mới nhưng đây là điểm đáng nói và quan trọng hàngđầu trong bài viết này Là một quy định hoàn toàn mới so với các quy định của pháp luật từ trước tới nay
Mặc dù trong thời gian qua, một số tỉnh thành đã thí điểm áp dụng đăng ký kinh doanh qua mạng điện tửnhưng trên thực tế vẫn chưa thực sự hiệu quả Điển hình tại một số Sở kế hoạch và đầu tư, sau khi doanh nghiệp
đã nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng, người thành lập doanh nghiệp hoặc người đăng ký kinh doanh vẫnphải trực tiếp nộp hồ sơ gốc tại Sở và chờ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế nhưnhững doanh nghiệp đăng ký trực tiếp Nói cách khác, dịch vụ đăng ký kinh doanh qua mạng giống như mộtdịch vụ kiểm tra hồ sơ trực tuyến trước khi nộp Nay, theo Nghị định 43/2010/NĐ-CP toàn bộ quy trình đăng
ký kinh doanh có thể thực hiện qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, sau khi hồ sơ đăng ký doanh
Trang 37nghiệp được chấp thuận trên hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, người thành lập doanh nghiệpchỉ cần in Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và lấy chữ ký của Người đại diện theo pháp luật, gửiđến Phòng đăng ký kinh doanh để xem xét và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Với những thủ tụcđơn giản và thuận lợi hy vọng sẽ thực sự mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh.
2.1.2.1 Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
Trước tiên ta đi tìm hiểu về "Hồ sơ đăng ký điện tử" là hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được nộp qua cổng
thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, bao gồm đầy đủ các giấy tờ theo quy định như hồ sơ giấy và đượcchuyển sang dạng văn bản điện tử Hồ sơ đăng ký điện tử có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy
2.1.2.2 Cách thức thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử
Sau khi chủ thể đăng ký doanh nghiệp chuẩn bị xong hồ sơ thì sẽ thưc hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệpqua mạng điện tử, người thành lập doanh nghiệp hoặc người đại diện theo ủy quyền (sau đây gọi chung là ngườithành lập doanh nghiệp) truy cập vào cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, điền đầy đủ và chính xáccác thông tin theo yêu cầu Thông qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, hệ thống thông tin đăng
ký doanh nghiệp quốc gia tiếp nhận hồ sơ đăng ký điện tử và Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh sẽ xử lý hồ sơđăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử trên hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia
Hồ sơ đăng ký điện tử được gửi qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia được coi là đã gửithành công khi máy chủ của hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia nhận được Thời gian gửi, nhậncác văn bản điện tử trong hồ sơ đăng ký điện tử được xác định căn cứ theo thời gian ghi lại trên máy chủ của hệthống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia Sau khi Phòng đăng ký kinh doanh tiếp nhận hồ sơ, xem xét hồ
sơ, hướng dẫn sửa đổi, bổ sung hồ sơ và thông báo kết quả giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp qua hệthống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia
Trường hợp người thành lập doanh nghiệp chưa có chữ ký điện tử, việc đăng ký doanh nghiệp qua mạngđiện tử có thể được thực hiện theo quy trình như sau khi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được chấp thuận trên hệthống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, doanh nghiệp sẽ in Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanhnghiệp qua mạng điện tử từ hệ thống này Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên vào Giấy xácnhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử và gửi đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơidoanh nghiệp đặt trụ sở chính Sau khi nhận được Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạngđiện tử của doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp cho doanh nghiệp Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp nộp qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia
có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy
2.1.2.3 Quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử
Trước khi ta đi vào vấn đề thì các nhà đầu tư cần phải tìm hiểu về chữ ký điện tử là như thế nào, theo
như quy định của pháp luật Việt Nam tại khoản 3 điều 3 Thông tư 14/2010/TT-BKH thì " chữ ký điện tử "
được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số ký hiệu hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết
Trang 38hợp một cách logic với hồ sơ điện tử, có khả năng xác nhận của người ký văn bản điện tử và xác nhận sự chấpthuận của người đó đối với nội dung hồ sơ đăng ký điện tử đã được ký.
· Trường hợp người thành lập doanh nghiệp có chữ ký điện tử thì việc đăng ký doanh nghiệp qua mạng
điện tử được thực hiện như sau
Người thành lập doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký điện tử qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốcgia và nộp lệ phí đăng ký doanh nghiệp cho Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sởchính
Khi hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử của doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu theo quy định, thông quacổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ và ngườithành lập doanh nghiệp nhận được Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử
Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và thông báo cho doanh nghiệp vềviệc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc yêu cầu người thành lập doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung
hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia và gửi đến địa chỉ thư điện tửcủa người thành lập doanh nghiệp đã đăng ký với hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia
Trên cơ sở hồ sơ hợp lệ của doanh nghiệp và xác nhận về việc người thành lập doanh nghiệp đã nộp đủ
lệ phí đăng ký doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp
· Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử trong trường hợp người thành lập doanh nghiệp chưa có chữ
ký điện tử
Người thành lập doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký điện tử qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốcgia và nộp lệ phí đăng ký doanh nghiệp cho Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sởchính
Phòng đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trên hệ thống và thôngbáo cho doanh nghiệp về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc yêu cầu người thành lập doanhnghiệp sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia và gửiđến địa chỉ thư điện tử của người thành lập doanh nghiệp đã đăng ký với Hệ thống thông tin đăng ký doanhnghiệp quốc gia Khi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ và được chấp thuận trên hệ thống thông tin đăng kýdoanh nghiệp quốc gia, Phòng đăng ký kinh doanh gửi thông tin sang cơ quan Thuế đề nghị tạo mã số chodoanh nghiệp và gửi qua hệ thống cho người thành lập doanh nghiệp Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanhnghiệp qua mạng điện tử theo mẫu quy định tại Phụ lục VI-4 ban hành kèm theo Thông tư 14/2010/TT-BKH.Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên vào Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp quamạng điện tử
Người thành lập doanh nghiệp gửi Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử vàcác giấy tờ trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ
Trang 39sở chính Nếu quá thời hạn mười lăm ngày làm việc kể từ ngày nhận được Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng kýqua mạng điện tử mà cơ quan đăng ký kinh doanh chưa nhận được hồ sơ do doanh nghiệp gửi đến thì hồ sơđăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử không còn hiệu lực và cơ quan đăng ký kinh doanh xóa tên doanhnghiệp trong hệ thống.
Khi nhận được hồ sơ bằng bản giấy do doanh nghiệp gửi đến, thì Phòng đăng ký kinh doanh sẽ đối chiếuvới thông tin doanh nghiệp đã khai trên hệ thống thông tin và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chodoanh nghiệp nếu nội dung thông tin thống nhất
2.1.2.4 Giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận đăng ký điện tử
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đạidiện được lưu dưới dạng bản điện tử trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (sau đây gọi tắt làGiấy chứng nhận đăng ký điện tử) và nó có giá trị pháp lý như Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấychứng nhận đăng ký hoạt động bằng văn bản do Phòng đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp
Giấy chứng nhận đăng ký điện tử được cơ quan đăng ký kinh doanh sử dụng để xác định tình trạng vànội dung đã đăng ký của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện Trường hợp Giấy chứng nhận đăng kýđiện tử lưu trữ trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp tại cùng thời điểm có nội dung khác biệt
so với Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đạidiện bằng văn bản, Giấy chứng nhận có giá trị pháp lý là Giấy chứng nhận có nội dung được ghi đúng theo nộidung trong hồ sơ đăng ký của doanh nghiệp
So với đăng ký doanh nghiệp trực tiếp thì đăng ký doanh nghiệp trực tuyến có nhiều điểm tiến bộ hơn.Một trong những nội dung mới trong Nghị định 43/2010/NĐ-CP là thay vì phải trực tiếp đến cơ quan hànhchính nhà nước thực hiện nhiều thủ tục đăng ký rườm rà, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp chỉ cần đăng kýthông qua cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia Trong thời gian không xa, thời gian hao phí để thựchiện đăng ký kinh doanh sẽ giảm, không thua kém các nước tiên tiến trong khu vực
Về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trực tuyến đơn giản hơn chỉ bằng những thao tác nhấp chuột và điền đầy
đủ những thông tin cần thiết sẽ có được bộ hồ sơ hòan chỉnh và hợp lệ về giá trị pháp lý thì tương đương với hồ
sơ làm bằng bản giấy
Quy trình tiến hành đăng ký doanh nghiệp cũng đơn giản hơn chủ thể đăng ký doanh nghiệp ở nhà vẫn
có thể đăng ký doanh nghiệp được qua mạng mà không phải mất thời gian như đi đăng ký doanh nghiệp trựctiếp mà phải mất nhiều thời gian với nhiều giai đoạn sau khi tới cơ quan đăng ký kinh doanh chủ thể doanhnghiệp phải đứng xếp hàng để bốc số thứ tự nộp hồ sơ sau khi có số thứ tự người đi đăng ký doanh nghiệp phảichờ tới số thứ tự của mình để nộp hồ sơ quá trình này có thể kéo dài vài giờ thậm chí có thể dài ngày mới nộpxong được bộ hồ sơ của mình Điểm đáng nói ở đây là mang tính thống nhất trên toàn quốc cùng một bộ hồ sơcho ba giai đoạn đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký mẫu dấu chỉ một đầu mối giải quyết
Trang 40·