Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT và cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng ...32 CHƯƠNG 3: ĐÁNH G
Trang 1KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2005 - 2009
ĐỀ TÀI :
TÌM HIỂU NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG NĂM 2008
MSSV: 5054824
LỚP: Luật Thương Mại 2-K31
Cần Thơ, 4/2009
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Trang 4
LỜI NÓI ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Phạm vi nghiên cứu 6
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Kết cấu luận văn: luận văn được kết cấu như sau: 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ L LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG (GTGT) 7
1.1 Sơ lược nguồn gốc ra đời của Thuế và pháp luật thuế 7
1.2 Lược sử ra đời của Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) 8
1.3.Mục đích, quá trình áp dụng Luật thuế GTGT tại Việt Nam 8
1.3.1.Mục đích của việc ban hành Luật thuế GTGT ở Việt Nam 8
1.3.2 Quá trình áp dụng Luật thuế GTGT ở Việt Nam 9
1.4 Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng 12
1.4.1 Khái niệm 12
1.4.2 Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 12
1.5 Cơ cấu của Luật thuế GTGT 2008 13
Chương 2: NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG NĂM 2008 16
2.1 Những quy định mới về đối tượng không chịu thuế 16
2.1.1 Chuyển một số hàng hóa, dịch vụ từ không chịu thuế sang chịu thuế giá trị gia tăng 21
2.1.2 Bổ sung một số hàng hóa, dịch vụ vào diện không chịu thuế GTGT 21
2.1.3 Sửa đổi một số nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế 22
2.2 Những quy định mới về thuế suất thuế giá trị gia tăng 2008 22
1.2.1.Thuế suất 0% 23
1.2.2 Thuế suất 5% 24
1.2.3.Thuế suất 10% 26
2.3 Những điểm mới về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng 27
2.3.1 Những quy định mới liên quan đến khấu trừ thuế giá tri gia tăng 27
2.3.2 Những quy định về hoàn thuế GTGT theo Luật thuế GTGT 2008 29
2.4 Những điểm đổi mới liên quan đến hóa đơn, chứng từ mua bán hàng hóa, dịch vụ theo Luật thuế GTGT 2008 31
2.4.1 Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ phải sử dụng hoá đơn GTGT 32
2.4.2 Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT và cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng .32
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 2008 VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN
36 3.1 Một số tồn tại khi áp dụng Luật thuế GTGT vào cuộc sống 36
3.1.1.Yêu cầu đối với pháp luật thuế giá trị gia tăng 36
3.1.2.Một số vấn đề bất cập của thuế GTGT 2003 và được khắc phục bởi thuế GTGT 2008 36
3.2.Những phương hướng góp phần hoàn thiện Luật thuế GTGT 39
3.2.1 Một số đề suất hoàn thiện chung 39
3.2.2 Một số đề xuất cụ thể góp phần hoàn thiện Luật thuế GTGT 40
KẾT LUẬN
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều chuyên gia cho rằng hệ thống thuế và phí ở nước ta hiện nay vẫn có sự khác biệt rất lớn so với quốc tế, chúng ta còn quá lệ thuộc vào nguồn thuế gián thu Thật vậy, thu ngân sách từ thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,…) luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước1 Trong đó, số thu từ thuế giá trị gia tăng thường chiếm khoảng 30% trong tổng số thu từ thuế, phí2 Đó là một sắc thuế có diện đánh thuế rộng bao trùm tất cả các hàng hóa, dịch vụ (trừ các loại hàng hóa dịch vụ miễn thuế), chỉ đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, nên cho dù qua nhiều hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng thì tổng số thuế phải nộp cho hàng hóa, dịch vụ là như nhau
Luật thuế GTGT được nghiên cứu và bắt đầu áp dụng tại Việt Nam từ ngày 01/01/1999, và thuế GTGT đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc khuyến khích phát triển kinh tế đem lại nguồn thu cao và ổn định cho ngân sách nhà nước Đặc biệt với những tính ưu việt nổi bật của thuế GTGT đem lại như: cơ chế hoàn thuế là một trong những giải pháp tích cực trong quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của quốc gia, về thuế suất cũng được thay đổi để ngày càng phù hợp với tình hình chung của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những đặc tính ưu việt của một sắc thuế tiên tiến được áp dụng khá thành công ở nhiều quốc gia thì việc áp dụng thuế GTGT ở nước ta vẫn còn gặp khá nhiều vấn đề bất cập nảy sinh Do đó, Đảng và Nhà nước ta không ngừng cải cách thuế sao cho đảm bảo sự phát triển kinh tế quốc gia và phù hợp với thông lệ quốc tế trong từng giai đoạn Sự ra đời của Luật thuế GTGT 2008 là kết quả sự đổi mới hệ thống pháp luật thuế của nước ta Việc sửa đổi lần này nhằm làm cho Luật thuế GTGT đạt tới những chuẩn mực tiên tiến, đảm bảo sự rõ ràng, đơn giản và minh bạch, đồng thời đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả và tính khả thi của sắc thuế này Việc tìm hiểu Luật thuế GTGT 2008 đóng vai trò quan trọng, bởi vì qua việc tìm hiểu đó chúng ta có thể nhận thấy được những ưu – nhược điểm mà nó mang lại đồng thời có những đề xuất góp phần hoàn thiện hơn
Vì các lý do trên, người viết chọn đề tài “Tìm hiểu những điểm mới của Luật
thuế giá trị gia tăng năm 2008” để nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề đổi mới của
1
http://www.vovnews.vn/?page=lo9&nid=38258
2 http://www.doanhnghiep24g.com.vn/cms/detail.php?d=9802
Trang 6Luật thuế GTGT mới ban hành vào ngày 03 tháng 06 năm 2008 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2009
2 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu về thuế giá trị gia tăng là một vấn đề rộng bao gồm nhiều khía cạnh Trong phạm vi của luận văn, người viết sẽ tập trung xem xét, phân tích những điểm mới mang tính cơ bản của Luật thuế GTGT 2008 so với Luật thuế GTGT 2003
3 Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề đổi mới của Luật thuế GTGT
2008 so với Luật thuế GTGT 2003, chúng ta sẽ đánh giá được những thành tựu mà thuế GTGT 2008 mang lại từ đó tìm ra những vấn đề còn bất cập, khó khăn, những tồn tại chủ yếu trong quá trình thực hiện áp dụng nó vào thực tiễn Đồng thời đưa ra một số phương hướng nhằm hoàn thiện và góp phần đưa Luật thuế GTGT vào cuộc sống, ổn định xã hội, tránh tình trạng thất thu cho ngân sách nhà nước, tạo tiền đề bền vững, đảm bảo cho sự phát triển kinh tế quốc gia, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu người viết đã sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp so sánh: so sánh những ưu điểm và nhược điểm của Luật thuế
giá trị gia tăng 2008 so với Luật thuế giá trị gia tăng 2003
- Phương pháp phân tích tổng hợp: phân tích tổng hợp các điều, khoản của Luật thuế giá trị gia tăng 2008
5 Kết cấu luận văn: luận văn được kết cấu như sau:
- Mục lục;
- Lời mở đầu;
- Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thuế giá trị gia tăng;
Chương 2: Những điểm mới của Luật thuế giá trị gia tăng 2008;
Chương 3: Đánh giá Luật thuế giá trị gia tăng 2008 và một số đề xuất
nhằm hoàn thiện
- Kết luận;
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 7Do đề tài còn khá mới nên trong quá trình thực hiện đề tài, không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô
và người đọc Em chân thành cảm ơn cô Lê Thị Nguyệt Châu đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài, đồng thời em xin cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa đã tạo điều kiện để em hoàn thành khóa học Em chân thành cảm ơn!
Người viết Phan Thị Chánh Lý
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG (GTGT)
1.1 Sơ lược nguồn gốc ra đời của thuế và pháp luật thuế
Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử3 Lịch sử loài người đã chứng minh thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của Nhà nước Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, Nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những tiêu chí có tính chất
xã hội, bằng quyền lực chính trị, Nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế Thu thuế được thực hiện từ hình thức thu bằng hiện vật chuyển dần sang thu bằng hình thức giá trị Điều đó cũng có nghĩa thuế xuất hiện ban đầu có hình thức đơn giản Đến khi tiền tệ ra đời, hình thức thu bằng tiền làm giảm nhẹ sự nghiệt ngã của các hình thức cống nộp4 Ở phương Tây hình thức thuế xuất hiện sớm nhất là ở Ai Cập cổ đại dưới dạng thuế ruộng đất Cùng với sự phát triển những loại thuế phức tạp hơn được hình thành Những hình thức thuế “thập phân” đã xuất hiện ở Anh vào thế kỷ thứ X Theo đó một phần mười giá trị sản phẩm phải được trích nộp cho tổ chức quyền lực công cộng bằng các quan hệ pháp luật Hoặc vào thời kỳ này, tại Italia, 10% giá trị của tất cả hàng hóa, nông sản phải nộp cho Nhà nước Ở Trung Quốc hình thức thuế xuất hiện sớm nhất là “cống” vào thời Hạ Thuật ngữ thuế xuất hiện sớm nhất ở quốc gia này là năm 594 trước Công nguyên5
Đối với Việt Nam, “thuế má” cũng bắt đầu xuất hiện từ thời kỳ đầu của chế độ Phong kiến dưới dạng cống vật6 Cho đến năm 1013, vào thời Lý Thái Tổ việc đánh thuế mới được hình thành một cách có tổ chức, có hệ thống Đến thế kỷ XVI, ngoài các loại thuế đã được thu ổn định, các triều đại còn đặt thêm những loại thuế mới Bên cạnh đó một số triều đại có chính sách thuế hợp lòng dân như thời Lý, Trần, Lê Sơ,… Tuy nhiên hệ thống thuế khóa thời Phong kiến có điểm chung là thiếu chuẩn mực về đạo lý và pháp lý; chưa đáp ứng được yêu cầu của nhân dân
Đến thời kỳ Pháp thuộc, Chính phủ thuộc địa Pháp đặt ra rất nhiều thứ thuế, tiêu biểu là thuế rượu, thuế muối, thuế môn bài, thuế thổ trạch… Hệ thống thuế thời
kì này mang nặng tính vơ vét và bóc lột Sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
ra đời, song song với việc xóa bỏ hệ thống thuế phi nhân đạo (thuế thân, thuế muối, thuế thổ trạch….), Nhà nước dần dần hình thành hệ thống thuế mới Cùng với sự
Đại từ điển kinh tế thị trường, Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa, Hà Nội, 1998, Tr 669
6 Đại Việt sử ký toàn thư, tập1, phần Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư, tái bản lần 2, NXB Văn hóa-thông tin
Trang 9phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu đặt ra trong từng giai đoạn cụ thể, hệ thống thuế Việt Nam ngày càng đi đến ổn định và hoàn thiện hơn
1.2 Lược sử ra đời của Luật thuế giá trị gia tăng
Nếu như thuế đã xuất hiện từ lâu đời thì thuế GTGT có thể coi là loại thuế hiện đại, thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế GTGT - vào năm 1954 Thuế GTGT theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắt là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Tính đến nay đã có khoảng 130/210 quốc gia áp dụng thuế GTGT chủ yếu là các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á7
Ở châu Á, Hàn Quốc là nước đầu tiên áp dụng thuế GTGT (1977), sau đó đến các nước Indonesia (1985), Đài Loan (1986), Philippines (1988), Thái Lan (1991)… Sau một thời gian áp dụng thí điểm, Trung Quốc đã áp dụng loại thuế này trên cả nước từ ngày 01/01/1994 Năm 1997 Việt Nam chính thức ban hành Luật thuế GTGT thay thế cho thuế doanh thu và có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/01/1999
1.3 Mục đích, quá trình áp dụng Luật thuế GTGT tại Việt Nam
1.3.1 Mục đích của việc ban hành Luật thuế GTGT ở Việt Nam
Luật thuế GTGT được Quốc hội khóa IX, kỳ hợp thứ 11 (tháng 5 – 1997) thông qua và có hiệu lực thi hành từ 01/01/1999 thay thế cho thuế doanh thu, sắc thuế này lần đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam, nhằm các mục đích sau:
- Góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng lưu thông hàng hóa, đẩy mạnh xuất khẩu, do thuế GTGT khắc phục được việc thu trùng lắp của thuế doanh thu, đối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế GTGT mà còn được khấu trừ hoặc hoàn trả lại khoản thuế đầu vào, tạo nên điều kiện thuận lợi để hạ giá bán, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu
- Đảm bảo động viên số thu quan trọng và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước, thuế GTGT được thu tập trung ngay từ đầu và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được tính thuế, nộp thuế ở khâu trước nên hạn chế được việc thất thu thuế
- Tăng cường công tác thanh toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hóa
có hóa đơn, chứng từ việc tính thuế ở đầu ra được khấu trừ ở số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả người mua và người bán hàng cùng thực hiện tốt hơn chế độ hóa đơn, chứng từ
- Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta phù hợp với sự vận động và phát triển của kinh tế thị trường, tạo điều kiện mở rộng kinh tế với các nước
7 http://www.saga.vn/view.aspx?id=164
Trang 10trong khu vực và thế giới Việc Nhà nước ta quyết định thay Luật thuế GTGT là hoàn toàn phù hợp với xu thuế cải cách thuế ở các nước trên thế giới Nhìn chung, trong các sắc thuế gián thu, thuế GTGT được coi là phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay, được đánh giá cao do đạt được mục tiêu lớn của chính sách thuế cũng như tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, đơn giản, trung lập…
1.3.2 Quá trình áp dụng Luật thuế GTGT ở Việt Nam
Tại Việt Nam thuế giá trị gia tăng được áp dụng từ năm 1999 vì những lý do cơ bản sau:
Việc chuyển sang áp dụng có rất nhiều nguyên nhân và mục tiêu khác nhưng tổng quát là làm cho hệ thống thuế khóa thích ứng cho việc chuyển từ một nền kinh
tế hàng hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội Chủ nghĩa
Từ năm 1998 trở về trước nước ta áp dụng thuế doanh thu Thuế doanh thu là loại thuế đánh trên doanh thu bán hàng
Thuế doanh thu = thuế suất x Giá bán hàng hóa, dịch vụ
Nhìn chung, các nước áp dụng thuế GTGT vì thấy rõ nhược điểm của hệ thống thuế doanh thu ở nước họ trên nhiều mặt sau:
- Tồn tại tình trạng thuế chồng lên thuế, không đáp ứng được yêu cầu chính sách động viên hợp lý về thuế;
- Thuế quan đối với hàng nhập khẩu có trường hợp phải được miễn giảm để phục vụ các quan hệ hợp tác trong khu vực hoặc trên thế giới;
- Sự phát triển của hệ thống thuế không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế;
- Đánh thuế ngay cả khi phải bán hàng hóa dịch vụ dưới giá vốn;
- Tồn tại quá nhiều thuế suất, tạo nên sự phức tạp trong thực hiện và quản lý…
Chúng ta có thể so sánh cơ chế của thuế doanh thu và thuế giá trị gia tăng qua
ví dụ sau:
Công ty dệt X sản xuất ra một mét vải, bán với giá 20.000 đồng/mét, thuế suất thuế doanh thu là 6% Công ty Y mua về may thành áo bán cho Công ty thương nghiệp với giá 30.000 đồng/áo, thuế suất thuế doanh thu là 4% Công ty thương nghiệp bán cho người tiêu dùng với giá là 35.000 đồng/áo, thuế suất thuế doanh thu 2% Thuế doanh thu mà các đơn vị phải nộp như sau:
Công ty dệt X: 20.000 x 6%= 1.200 đồng;
Công ty may Y: 30.000 x 4%= 1.200 đồng;
Công ty thương nghiệp: 35.000 x 2% = 700 đồng;
Đặc điểm của thuế doanh thu là nó nằm trong giá bán và thuế lại đánh trên chính giá bán đã có thuế doanh thu Do đó, 1.200 đồng thuế của Công ty X nằm trong 20.000 đồng, như vậy Công ty X là người nộp thuế còn công ty Y là người chịu thuế; tiếp theo là 1.200 đồng thuế của công ty Y nằm trong 30.000 đồng, do
Trang 11Công ty Y nộp còn Công ty thương nghiệp là người chịu; 700 đồng thuế của Công ty thương nghiệp nằm trong 35.000 đồng, do người tiêu dùng chịu Số tiền thuế 1.200 đồng của khâu may đánh lên cả 1.200 đồng thuế của khâu dệt
Với cách tính thuế như vậy, thuế ở khâu sau đã đánh chồng lên thuế ở khâu trước, làm phát sinh hiện tượng thuế chồng thuế
Nhược điểm của thuế doanh thu sẽ được khắc phục bởi thuế GTGT, vì thuế GTGT không đánh trên toàn bộ giá bán của hàng hóa mà chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm (phần trị giá chưa từng bị đánh thuế) của hàng hóa, dịch vụ
Thuế GTGT = Giá tính thuế x thuế suất
Trong ví dụ trên, 20.000 đồng/mét vải do Công ty dệt tạo ra đã nộp thuế, nên khi chuyển sang khâu may 20.000 đồng này không phải chịu thuế lần nữa, chỉ có nộp phần giá trị tăng thêm (10.000 đồng) do Công ty may tạo ra là chưa có thuế Nếu đánh thuế vào Công ty may, thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm
mà thôi Giả sử thuế suất thuế GTGT áp dụng thống nhất cho tất cả các khâu là 10% như vậy số thuế GTGT mà công ty may phải nộp khi bán 1 cái áo là:
Thuế giá trị gia tăng = 10.000 x 10% = 1.000 đồng, như vậy phần thuế này do Công ty thương nghiệp chịu và Công ty Y là người nộp thuế
Tương tự thuế GTGT của Công ty thương nghiệp là:
(35.000 – 30.000) x 10% = 500 đồng, do người tiêu dùng chịu
Như vậy Thuế GTGT chỉ đánh trên phần giá trị sản phẩm do đơn vị sản xuất kinh doanh mới tạo ra chưa bị đánh thuế Đây là điểm khác biệt cơ bản của thuế GTGT và thuế doanh thu được áp dụng ở Việt Nam trước đây
Khai sinh từ nước Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước nhằm đáp ứng các mục tiêu quan trọng: bảo đảm số thu kịp thời, thường xuyên cho ngân sách nhà nước và khắc phục được sự thu thuế trùng lắp của thuế doanh thu… Những ưu điểm được xem là nổi bật nhất của thuế GTGT là:
- Thuế GTGT là loại thuế tiên tiến, khắc phục được tình trạng thuế chồng thuế của thuế doanh thu;
- Phản ánh chính xác hơn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp;
- Là nhân tố quan trọng trong việc khuyến khích việc sử dụng hóa đơn trong việc mua bán hàng hóa dịch vụ;
- Ngoài ra, quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc và toàn diện của nền kinh tế nước ta đòi hỏi phải áp dụng thuế GTGT8
Tuy vậy, sau 4 năm ban hành và áp dụng Luật thuế GTGT, chúng ta đã gặp không ít khó khăn, bất cập bên cạnh những ưu điểm mà sắc thuế này mang lại, bởi
8 TS Phan Hiển Minh, Hướng dẫn thực hiện 3 Luật thuế và kế toán mới, NXB Tài Chính, 2004
Trang 12những quy định về thuế GTGT của nước ta còn chưa chặt chẽ, còn nhiều kẻ hở dễ bị
kẻ xấu lợi dụng gây phương hại cho ngân sách nhà nước và nền kinh tế quốc gia Bởi vì, đây là một loại thuế còn khá mới mẻ, nên đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế
đã gặp không ít khó khăn trong giai đoạn đầu áp dụng
Chính vì những lý do trên, nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống những quy định của pháp luật về thuế và đưa thuế GTGT thực sự đi vào cuộc sống, đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước Tai kỳ họp thứ 3, Quốc Hội khóa XI, đã thông qua Luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung năm 2003 và Chính phủ đã ban hành Nghi định số158/2003/NĐ-CP, quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT Điểm mới cơ bản của Luật thuế GTGT sửa đổi thể hiện ở một số nội dung cơ bản: về đối tượng chịu thuế, đối tượng không nộp thuế, giá tính thuế, thuế suất; những quy định
về khấu trừ và hoàn thuế, hóa đơn, chứng từ; thẩm quyền sửa đổi danh mục hàng hóa không thuộc diện chịu thuế hoặc thuộc diện chịu thuế với mức thuế suất nhất định… Mặc dù, đã có những đổi mới nhất định cho phù hợp với tình hình phát triển nhưng Luật thuế GTGT 2003 vẫn bộc lộ những hạn chế của mình như: quy định về phạm vi áp dụng còn quá rộng, vẫn còn chỗ đứng cho hành vi gian lận tiền thuế tồn tại thông qua những quy định về khấu trừ, hoàn thuế GTGT phổ biến như: thực hiện các giao dịch ảo để rút tiền Nhà nước, gian lận trong bán thầu để hưởng chênh lệch, thành lập các doanh nghiệp “ma”… Về phạm vi áp dụng thuế suất thuế GTGT thì chưa điều chỉnh bao quát tất cả các hàng hóa, dịch vụ mới phát sinh
Trước những hạn chế của Luật thuế GTGT 2003, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập của Việt Nam trong thời gian tới, cũng như để đảm bảo chính sách đơn giản rõ ràng, minh bạch góp phần thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, tính tuân thủ pháp luật về thuế và đồng bộ với Luật quản lý thuế, đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước, tăng cường tài chính quốc gia, từng bước hoàn thành mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và củng cố quốc phòng an ninh9 Vì vậy, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII ngày 03/06/2008 đã thông qua Luật thuế GTGT 2008 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 với nhiều ưu việt được thể hiện rõ Bên cạnh đó, vào ngày 08/12/2008 Chính phủ còn ban hành Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT 2008 và tiếp sau là Thông tư 129/2009/TT-BTC ngày 26/12/2008, Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng 2008 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-
CP ngày 08 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng 2008
9 Tờ trình Chính Phủ về dự án Luật thuế giá trị gia tăng (sửa đổi)
Trang 13Như vậy, các văn bản pháp luật làm căn cứ pháp lý điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế GTGT có hệ thống bao gồm văn bản Luật đến các văn bản hướng dẫn của
cơ quan có thẩm quyền Mặc dù vậy, hệ thống các văn bản điều chỉnh các quan hệ pháp luật thuế GTGT không thật sự ổn định Điều này cũng là phù hợp với nền kinh
tế trong giai đoạn chuyển đổi, nhưng trong chừng mực nhất định, cũng gây khó khăn cho đối tượng áp dụng
1.4 Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng
1.4.1 Khái niệm
Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng 10
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, được cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ
và do người tiêu dùng cuối cùng chịu Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng thì tổng số thuế phải nộp là như nhau Thuế GTGT không phải do người tiêu dùng trực tiếp nộp mà do người bán hàng hóa, dịch vụ nộp thay vào kho bạc Nhà nước
Thuế GTGT là thuế đánh trên hành vi tiêu dùng nhưng suy cho cùng thì mục đích của loại thuế này cũng nhằm vào thu nhập của người dân Xem xét hành vi tiêu
dùng với thu nhập và tài sản có thể giúp để phân định được ai là người giàu, người
nghèo trong xã hội Đánh thuế lên cả ba lĩnh vực này sẽ giúp cho Nhà nước thu được ngân sách đồng thời điều tiết được thu nhập từ người giàu sang người nghèo
1.4.2 Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng 11
Thuế GTGT có nhiều điểm tương đồng với các loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ khác như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu… Nhưng có thể phân biệt thuế GTGT với các loại thuế khác thông qua đặc điểm của nó là:
- Thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rộng Theo đó mọi đối tượng tồn tại
trong xã hội, cho dù là tổ chức hay cá nhân, là người giàu hay người nghèo đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất, kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế xã hội Vì vậy mà việc xác định đối tượng chịu thuế, thuế suất luôn là vấn đề cần được quan tâm khi xây dựng Luật thuế GTGT nhằm thực hiện công bằng xã hội, hướng dẫn tiêu dùng và khuyến khích sản xuất phát triển
- Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ Việc chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm nhằm làm giảm bớt gánh nặng về thuế đối với người sản xuất, người cung cấp, người lưu thông và người tiêu dùng hàng hóa, dịch
Trang 14vụ Tuy nhiên việc xác định chính xác giá trị gia tăng là rất quan trọng và trong thực
tế là rất khó xác định
- Nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa, dịch vụ, số thuế phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ nhưng chỉ đánh trên giá trị tăng thêm của khâu sau so với khâu trước Tổng số thuế nộp ở các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu thuế Và vì người tiêu dùng là người chịu gánh nặng
về thuế nên cũng giảm tình trạng trốn thuế, tránh thuế
1.5 Cơ cấu của Luật thuế GTGT 2008
Luật thuế GTGT 2008, Gồm 4 chương, 16 Điều, được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008, bắt đầu có hiệu lực 01/01/2009
Luật thuế GTGT 2008 thay thế các Luật sau:
- Luật thuế GTGT 1997;
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT số 7/2003/QH11;
- Bãi bỏ Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT số 57/2005/QH11
So với Luật thuế GTGT 2003 thì Luật thuế GTGT 2008 có nhiều thay đổi nhất định như các Điều, khoản được rút ngắn hơn nhưng vẫn đảm bảo được bản chất của một loại thuế tiên tiến, cũng như những yêu cầu đặt ra của Nhà nước khi ban hành
và theo chiều hướng hoàn thiện hơn so với các Luật đã ban hành trước đây Sau đây
là bảng đối chiếu giữa Luật thuế GTGT 2003 và Luật thuế GTGT 2008:
Luật thuế GTGT 2003
Chương I Những quy định chung
Điều 1: Thuế gia trị gia tăng
Điều 2: Đối tượng chịu thuế
Điều 3 : Đối tượng nộp thuế
Điều 4: Đối tượng không thuộc diện
chịu thuế GTGT
Điều 5: Nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện
Luật thuế giá trị gia tăng
Luật thuế GTGT 2008
Chương I Những quy định chung
Điều 1: Phạm vi điều chỉnh Điều 2: Thuế giá trị gia tăng Điều 3: Đối tượng chịu thuế Điều 4: Người nộp thuế Điều 5: Đối tượng không chịu thuế
Trang 15Chương II Căn cứ và phương pháp tính thuế
Điều 6: Căn cứ tính thuế
Điều 7: Giá tính thuế
Điều 8: Thuế suất
Điều 9: Phương pháp tính thuế
Điều 10: Khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Điều 11: Hóa đơn, chứng từ
Chương II Căn cứ và phương pháp tính thuế
Điều 6: Căn cứ tính thuế Điều 7: Giá tính thuế Điều 8: Thuế suất Điều 9: Phương pháp tính thuế Điều 10: Phương pháp khấu trừ thuế Điều 11: Phương pháp tính trực tiếp trên
giá trị gia tăng
Chương III Đăng ký, kê khai, nộp thuế,
quyết toán thuế
Điều 12: Đăng ký nộp thuế
Điều 13: Kê khai thuế
Điều 14: Nộp thuế
Điều 15: Quyết toán thuế
Điều 16: Hoàn thuế
Điều 17: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách
nhiệm của cơ quan thuế
Điều 18: Quyền ấn định thuế
Chương III Khấu trừ, hoàn thuế
Điều 12: Khấu trừ thuế giá trị gia tăng
đầu vào
Điều 13: Các trường hợp hoàn thuế Điều 14: Hóa đơn, chứng từ
Chương IV
Xử lý vi phạm về thuế đối với
đối tượng nộp thuế
Điều 19: Xử lý vi phạm về thuế đối với
đối tượng nộp thuế
Điều 20: Thẩm quyền của cơ quan thuế
trong việc xử lý vi phạm về thuế
Điều 21: Xử lý vi phạm đối với cán bộ
thuế và cá nhân khác
Điều 22: Khen thưởng
Chương IV Điều khoản thi hành
Điều 15: Hiệu lực thi hành
Điều 16: Hướng dẫn thi hành
Trang 16Chương V Khiếu nại và thời hiệu
Điều 23: Quyền và trách nhiệm của đối
tượng nộp thuế trong việc khiếu nại về
thuế
Điều 24: Trách nhiệm và quyền hạn của
cơ quan thuế trong việc giải quyết khiếu
Điều 28, Điều 29, Điều 30
Trang 172.1 Những quy định mới về đối tượng không chịu thuế
Luật thuế GTGT 2008 có những quy định mới về đối tượng không chịu thuế để phù hợp với hệ thống chính sách thuế, đáp ứng tình hình thực tế của nền kinh tế nước ta hiện nay
Luật thuế GTGT 2008 đã thu hẹp diện không chịu thuế GTGT từ 28 nhóm hàng hóa, dịch vụ còn lại 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể như sau:
Điều 4 Luật thuế GTGT năm 2003 Điều 5 Luật thuế GTGT năm 2008
1 Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ
sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến
sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu
2 Sản phẩm là giống vật nuôi, giống
cây trồng
2 Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống, cây giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền
3 Sản phẩm muối 4 Sản phẩm muối được sản xuất từ
nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối iốt
Trang 184 Thiết bị, máy móc, phương tiện vận
tải chuyên dùng trong dây chuyền công
nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong
nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu
để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp;
máy móc, vật tư, phương tiện vận tải
thuộc loại trong nước chưa sản xuất
được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp
vào hoạt động nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ; máy bay, dàn
khoan, tàu thủy thuê của nước ngoài
thuộc loại trong nước chưa sản xuất
được dùng cho sản xuất, kinh doanh;
máy móc, phụ tùng thay thế, phương
tiện vận tải chuyên dùng, vật tư thuộc
loại trong nước chưa sản xuất được cần
nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm
kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí
17 Máy móc, thiết bị, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu, khí đốt; tàu bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu tạo tài sản cố định của doanh nghiệp, thuê của nước ngoài sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và để cho thuê
5 Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do Nhà
nước bán cho người đang thuê
5 Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê
6 Chuyển quyền sử dụng đất 6 Chuyển quyền sử dụng đất
7 Dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư, hoạt
động kinh doanh chứng khoán
8 Dịch vụ cấp tín dụng; kinh doanh chứng khoán; chuyển nhượng vốn; dịch
vụ tài chính phái sinh, bao gồm hoán đổi lãi suất, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn mua, bán ngoại
tệ và các dịch vụ tài chính phái sinh khác theo quy định của pháp luật
8 Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học
sinh, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây
trồng và các loại bảo hiểm không nhằm
mục đích kinh doanh
7 Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng và tái bảo hiểm
Trang 199 Dịch vụ y tế 9 Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi
10.Hoạt động văn hóa, triển lãm và thể
dục, thể thao không nhằm mục đích kinh
doanh; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất
phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu
phim nhựa, phim video tài liệu
11 Dạy học, dạy nghề 13 Dạy học, dạy nghề theo quy định của
pháp luật
12 Phát sóng truyền thanh, truyền hình
bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
14 Phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
13 Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo,
tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách
chính trị, giáo khoa, giáo trình, văn bản
pháp luật, sách khoa học kỹ thuật, sách
in bằng chữ dân tộc thiểu số và tranh,
ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, kể
cả dưới dạng băng hoặc đĩa ghi tiếng,
ghi hình, dữ liệu điện tử; in tiền
15.Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị, giáo khoa, giáo trình, văn bản pháp luật, khoa học kỹ thuật, sách in bằng chữ dân tộc thiểu số, tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, kể cả dưới dạng băng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình,dữ liệu điện tử; in tiền
14 Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ
sinh, thoát nước đường phố và khu dân
cư; duy trì vườn thú, vườn hoa, công
viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng
công cộng; dịch vụ tang lễ
11 Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư; duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng; dịch vụ tang lễ
15 Duy tu, sửa chữa, xây dựng các
công trình văn hóa, nghệ thuật, công
trình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng
và nhà tình nghĩa bằng nguồn vốn góp
của nhân dân và vốn viện trợ nhân đạo
12 Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng
nguồn vốn đóng góp của nhân dân, vốn
viện trợ nhân đạo đối với các công trình
văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội
Trang 2016 Vận chuyển hành khách công cộng
bằng xe buýt, xe điện
16 Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện
17 Điều tra, thăm dò địa chất; đo đạc,
lập bản đồ thuộc loại điều tra cơ bản
của Nhà nước
18 Tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất
nông nghiệp; nước sạch do tổ chức, cá
nhân tự khai thác để phục vụ cho sinh
hoạt ở nông thôn, miềm núi, hải đảo,
vùng sâu, vùng xa
3 Tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp
19 Vũ khí, khí tài chuyên dùng phục
vụ quốc phòng, an ninh
18 Vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh
20 Hàng hóa nhập khẩu trong trường
hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không
hoàn lại; quà tặng cho cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã
hội-nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân;
quà biếu, tặng cho cá nhân tại Việt
Nam theo quy định của Chính phủ; đồ
dùng tổ chức, cá nhân nước ngoài theo
tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng
mang theo người trong tiêu chuẩn hành
lý miễn thuế Hàng hoá, dịch vụ bán
cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ
chức quốc tế để viện trợ nhân đạo, viện
trợ không hoàn lại cho Việt Nam
19 Hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại; quà tặng cho cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; quà biếu, tặng cho cá nhân tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ; đồ dùng tổ chức, cá nhân nước ngoài theo tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng mang theo người trong tiêu chuẩn hành lý miễn thuế Hàng hoá, dịch vụ bán cho tổ chức,
cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam
Trang 2121 Hàng hoá chuyển khẩu, quá cảnh
qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạm nhập
khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu,
tái nhập khẩu
20 Hàng hoá chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạm nhập, tái
xuất khẩu; tạm xuất, tái nhập khẩu;
nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công theo hợp đồng sản xuất, gia công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài; hàng hoá, dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan và giữa các khu phi thuế quan với nhau
22 Vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ
cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế
và dịch vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài
23.Chuyển giao công nghệ, phần mềm
máy vi tính
21 Chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ; chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ; phần mềm máy tính
24 Dịch vụ bưu chính, viễn thông công
ích và Internet phổ cập theo chương
trình của Chính phủ
10 Dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và Internet phổ cập theo chương trình của Chính phủ
25 Vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng
chưa được chế tác thành sản phẩm mỹ
nghệ, đồ trang sức hay sản phẩm khác
22 Vàng nhập khẩu dạng thỏi, miếng chưa được chế tác thành sản phẩm mỹ nghệ, đồ trang sức hay sản phẩm khác
26 Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên,
khoáng sản khai thác chưa chế biến theo
quy định của Chính phủ
23 Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến theo quy định của Chính phủ
khác cho người tàn tật
28 Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh
doanh có mức thu nhập thấp Mức thu
nhập do Chính Phủ quy định
25 Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với tổ chức, doanh nghiệp trong nước
Trang 22Luật thuế GTGT 2003 quy định đến 28 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT là quá rộng và gây ra những bất cập như: các doanh nghiệp kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ này không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, từ
đó làm tăng chi phí kinh doanh, làm mất đi tính liên hoàn của thuế GTGT, với tính chất là một loại thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi công đoạn của sản xuất, kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ Ngoài ra, trong khoản 28 Điều 4 Luật thuế GTGT 2003 lại xác định trên cơ sở thu nhập của các cá nhân kinh doanh để làm
cơ sở xác định mức chịu thuế là chưa hợp lý
Tuy nhiên việc giảm 3 nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT của Luật thuế GTGT 2008 là phù hợp với một trong những nội dung quan trọng đã được xây dựng trong chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, là giảm các hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT để bảo đảm bình đẳng, tính liên hoàn của sắc thuế GTGT Trong 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật thuế GTGT
2008 có những thay đổi như sau:
2.1.1 Chuyển một số nhóm hàng hóa, dịch vụ từ không chịu thuế sang chịu thuế
- Chuyển hoạt động “Điều tra, thăm dò địa chất, đo đạc, lập bản đồ thuộc loại
điều tra cơ bản của Nhà nước” sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 10%12
- Chuyển “Hoạt động văn hóa, triển lãm và thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ
thuật; sản xuất phim, nhập khẩu, phát hành và chiếu phim” sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 5% Ngoài ra còn có “Nước sạch do tổ chức, cá nhân tự khai thác để phục vụ sinh hoạt ở nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa” sang nhóm chịu thuế GTGT áp dụng thuế suất 5% như các đối tượng khác và không còn phân biệt địa bàn sử dụng như trước13
- Chuyển “Vận tải quốc tế” sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 0%;
hàng hoá, dịch vụ cung cấp trực tiếp cho vận tải quốc tế sang đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất tương ứng của từng hàng hoá, dịch vụ
Bên cạnh đó nhóm hàng hoá là thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp cũng được chuyển sang đối tượng chịu thuế GTGT
Chuyển các nhóm hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế sang chịu thuế GTGT là cần thiết, nó mang lại thuận lợi cho doanh nghiệp trong khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy phát triển sản xuất trong nước, phù hợp với tiến trình xã hội hóa một số hoạt động sự nghiệp công lập hiện nay
12
http://www.sggp.org.vn/nhipcaubandoc/2008/10/169296/
13 http://tintuc.timnhanh.com/kinh_te/20080630/35A7C6B8/
Trang 232.1.2 Bổ sung một số nhóm hàng hóa, dịch vụ vào diện không chịu thuế
Để phù hợp với thông lệ quốc tế và tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam, một số dịch vụ tài chính hiện nay đã được đưa vào danh mục không chịu thuế GTGT, đó là dịch vụ tài chính phái sinh (hoán đổi lãi suất, quyền chọn mua, quyền chọn bán ngoại tệ ) và dịch vụ chuyển nhượng vốn thuộc nhóm “Dịch vụ tín dụng
và quỹ đầu tư” thuộc diện không chịu thuế GTGT để đảm bảo bao quát được các dịch vụ mới phát sinh, phù hợp với thông lệ quốc tế
- Bổ sung dịch vụ “Cày, bừa đất, nạo vét kênh, mương nội đồng, dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp” vào nhóm “Tưới, tiêu nước, cày bừa…14” thuộc diện không chịu thuế GTGT
- Bổ sung “Chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ” vào nhóm “Chuyển giao công nghệ 15” thuộc diện không chịu thuế GTGT
2.1.3 Sửa đổi một số nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế 16
- Sửa nhóm “Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi, cây
trồng và các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh” thành “Bảo hiểm
nhân thọ, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng và tái bảo hiểm”17
- Sửa nhóm “Tưới, tiêu nước phục vụ sản xuất nông nghiệp; nước sinh hoạt
do tổ chức, cá nhân tự khai thác để phục vụ sinh hoạt ở nông thôn, miền núi, hải đảo,
vùng sâu, vùng xa” thành “Tưới, tiêu nước; cày bừa đất; nạo vét kênh, mương nội
đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp”18
Như vậy, nước sạch do tổ chức, cá nhân tự khai thác để phục vụ sinh hoạt ở nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa đã chuyển sang nhóm chịu thuế GTGT áp dụng thuế suất 5% như các đối tượng khác và không còn phân biệt địa bàn
sử dụng
- Sửa nhóm “Duy tu, sửa chữa, xây dựng các công trình văn hóa, nghệ thuật,
công trình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà tình nghĩa bằng nguồn vốn góp
của nhân dân và vốn viện trợ nhân đạo” thành “Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân, vốn viện trợ nhân đạo đối với các công trình văn
hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã” nhằm bao quát tất cả các trường hợp19
Khoản 3 Điều 5, Luật thuế GTGT 2008
19 Khoản 12, Điều 5, Luật thuế GTGT 2008
Trang 24Trong 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT theo Luật thuế GTGT 2008, thì khó có thể đưa thêm nhóm hàng hóa, dịch vụ nào vào diện chịu thuế, vì đều là những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu hoặc cần thiết phải được khuyến khích phát triển nhằm đảm bảo sự ổn định của sản xuất cũng như tiêu dùng trong dân cư Bên cạnh đó việc thu hẹp đối tượng không chịu thuế GTGT như hiện nay để đảm bảo công bằng, công minh cho các đối tượng trong bối cảnh Việt Nam phải thực hiện các cam kết về thuế khi gia nhập WTO
2.2 Những quy định mới về thuế suất thuế giá trị gia tăng 2008
Hiện nay các nước áp dụng thuế GTGT có sự khác nhau trong việc thiết kế mức thuế suất và số lượng thuế suất trong đạo Luật thuế giá trị gia tăng Một số nước thực hiện cơ cấu một mức thuế suất như Ðan Mạch (22%), Nhật Bản, Singapore (3%), Italia (38%) Một số nước khác thực hiện cơ cấu nhiều thuế suất như: Bỉ, Colombia (6 mức thuế suất), Pháp (5 mức thuế suất)20 Theo thông lệ chung, Luật thuế GTGT của các nước thường áp dụng thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu và một số hàng hoá thiết yếu đối với đời sống của dân cư
Thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam thời kỳ đầu có đến bốn mức thuế suất (0%, 5%, 10% và 20%)21, theo Luật thuế GTGT 2008 quy định 3 mức thuế suất (0 %, 5%, 10%), giữ nguyên các mức thuế suất so với Luật thuế GTGT 2003, nhưng có sự thay đổi trong từng mức thuế suất như sau:
1.2.1 Thuế suất 0% 22
1.2.1.1 Các trường hợp được áp dụng
- Đối với hàng hóa xuất khẩu bao gồm hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài, bán
vào khu phi thuế quan và các trường hợp khác được coi như xuất khẩu theo quy định của pháp luật về thương mại
- Đối với dịch vụ xuất khẩu bao gồm dịch vụ cung ứng trực tiếp cho tổ chức,
cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan
+ Tổ chức ở nước ngoài là tổ chức không có cơ sở thường trú tại Việt Nam,
không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam
+ Cá nhân ở nước ngoài là người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài và ở ngoài Việt Nam trong thời gian diễn ra việc cung ứng dịch vụ
+ Tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan là tổ chức, cá nhân có đăng ký
kinh doanh và các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
20
WebKeToan_vn- NEWS.htm
21
Thông tư 89/1998/TT- BTC ngày 27/6/1998
22 Khoản 1,Điều 8, Luật thuế GTGT 2008