Trên khía cạnh pháp lý thì “Những hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Cần Thơ, 5/2012
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày…tháng…năm…
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần thơ, ngày…tháng…năm…
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chon đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 1
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 2
5 Thực tiễn đóng góp của luận văn 2
6 Bố cục luân văn 2
CHƯƠNG 1 3
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 3
1.1 Khái quát chung về hộ gia đình 3
1.1.1 Khái niệm về hộ gia đình 3
1.1.2 Đặc điểm hộ gia đình 5
1.1.3 Thành viên của hộ gia đình 6
1.1.4 Năng lực chủ thể của hộ gia đình 7
1.1.5 Hoạt động và trách nhiệm dân sự của hộ gia đình 8
1.1.5.1 Hoạt động của hộ gia đình 8
1.1.5.2 Trách nhiệm dân sự của hộ gia đình 8
1.2 Khái quát chung về tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 9
1.2.1 Khái niệm về tài sản chung của hộ gia đình 9
1.2.2 Khái niệm về quyền sử dụng đất 10
1.2.3 Khái niệm về quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình 12
1.2.4 Đặc điểm quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình 14
1.2.5 Lược sử phát triển về tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 14
CHƯƠNG 2 17
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 17
2.1 Cơ sở xác lập quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình 17
2.2 Ghi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình 19
2.2.1 Cơ sở pháp lý việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình 19
2.2.2 Đứng tên đăng ký quyền sử dụng đất 20
Trang 52.3.Quyền của hộ gia đình sử dụng đất 21
2.3.1 Quyền chung của người sử dụng đất 21
2.3.2 Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 23
2.3.2.1 Tư cách chủ thể của hộ gia đình trong giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 24
2.3.2.2 Hình thức chuyển quyền sử dụng đất 25
2.3.2.3 Định đoạt tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 28
2.3.3 Thừa kế quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình 30
2.4 Nghĩa vụ của hộ gia đình sử dụng đất 31
2.4.1 Nghĩa vụ tài chính của hộ gia đình khi sử dụng đất 31
2.4.1.1 Lệ phí địa chính 32
2.4.1.2 Lệ phí trước bạ 33
2.4.1.3 Thuế sử dụng đất 33
2.4.1.4 Tiền sử dụng đất 34
2.4.1.5 Thuế thu nhập cá nhân từ việc chuyển quyền sử dụng đất 35
2.4.2 Nghĩa vụ dân sự khác, kê biên thi hành án đối với tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 36
2.4.2.1 Nghĩa vụ dân sự khác 36
2.4.2.2 Kê biên thi hành án đối với tài sản chung của hộ gia đình là quyền sư dụng đất 37
2.5 Chia tách tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 39
2.6 Giải pháp hoàn thiện đối với tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 40
2.6.1 Bất cập về xác định tư cách chủ thể, xác định thành viên của hộ gia đình sử dụng đất 40
2.6.2 Bất cập về việc xác định phần quyền sử dụng đất của các thành viên hộ gia đình sử dụng đất 41
2.6.3 Bất cập về việc định đoạt tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 42
2.6.4 Bất cập về trách nhiệm dân sự của hộ gia đình 42
KẾT LUẬN 44 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của kinh tế hộ gia đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là tế bào của xã hội, là đơn vị sản xuất và đảm bảo cuộc sống cho tất cả các thành viên trong hộ gia đình mà còn là chủ thể trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai Nghị quyết 10 ngày 5/4/1988 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở cho hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong đời sống xã hội Việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ,
tự quản tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế của hộ gia đình nói chung và kinh tế của nước ta nói riêng Trước xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay đòi hỏi Nhà nước cần có thêm những chính sách nhằm tạo động lực mới thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ gia đình phát triển Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã khẳng định tại Điều 21 là kinh tế hộ gia đình cần được khuyến khích phát triển Vì thế thừa nhận tư cách chủ thể đầy đủ của hộ gia đình là cần thiết và phù hợp với truyền thống của dân tộc, nó không chỉ là một sự thành công về mặt lập pháp, mà còn tạo ra sức bật mới cho kinh tế hộ gia đình phát triển Thừa nhận tư cách pháp lý của hộ gia đình sẽ góp phần thực hiện đường lối kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong việc khuyến khích phát huy mọi nguồn lực của xã hội để phát triển đất nước Và pháp luật cũng có quy định về hộ gia đình nói chung và tài sản chung của hộ gia đình nói riêng Tuy nhiên, các quy định này còn
ít, nhiều bất cập bên cạnh đó là những thiếu sót mà pháp luật chưa dự liệu được dẫn đến việc áp dụng luật vào thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là chưa quy định cụ thể về tư cách chủ thể của hộ gia đình sử dụng đất để các bên tham gia vào các giao dịch về quyền sử dụng đất
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với kiến thức đã học,
người viết chọn đề tài: “Tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất” để
làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình
2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vấn đề quyền sử dụng đất của hộ gia đình của nước
ta hiện nay cụ thể là quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình sử dụng đất, các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ, mối quan hệ giữa Luật Đất đai và Bộ luật dân sự
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 7Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm giúp bản thân hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình Bên cạnh
đó là phân tích các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình nhằm chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật Việt Nam cùng với những khó khăn trong quá trình thực hiện các quy định đó, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hộ gia đình nói chung và tài sản của hộ gia đình là quyền sử dụng đất nói riêng Mục đích cuối cùng là đóng góp một phần nhỏ trong việc xây dựng hoàn thiện khung pháp lý hiệu quả hơn, khả thi hơn
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình thực hiện luận văn người viết đã sử dụng các phương pháp như phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, tổng hợp và diễn giải suy luận logic để hoàn thành đề tài nghiên cứu Cụ thể là quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình rất ít, không bao quát hết thực tế hiện nay, vì vậy người viết đi phân tích từ quy định chung sau đó suy luận ra các nội dung mà người viết trình bày ở các chương bên dưới, ngoài ra người viết tự nhận xét vấn đề và nêu lên nội dung của vấn đề đó trên cơ sở lý luận
và thực tiễn Cuối cùng, người viết tổng hợp các vấn đề trong một mối liên hệ thống nhất, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát và nhìn nhận đúng bản chất của vấn đề
5 Thực tiễn đóng góp của luận văn
Qua quá trình thực hiện luận văn người viết đã chỉ ra được các quy định còn bất cập của pháp luật về tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất và cũng
đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất
Trang 8CỦA HỘ GIA ĐÌNH LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Khái quát chung về hộ gia đình
1.1.1 Khái niệm hộ gia đình
Cùng với cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác là những chủ thể của quan hệ dân
sự, Bộ luật dân sự còn quy định hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự Việc xác định tư cách chủ thể của hộ gia đình trong giao lưu dân sự xuất phát từ đặc thù của
sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta Hộ gia đình đang tồn tại với tư cách là cơ sở kinh tế tự chủ trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Theo từ điển luật học, thì hộ gia đình là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng”1 Như vậy, hộ gia đình bao gồm những người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng và hôn nhân, sinh sống bằng nghề nông, lâm, ngư nghiệp…, là đơn vị sản xuất cơ bản, ổn định, là điều kiện quan trọng để tăng trưởng
và phát triển kinh tế nông nghiệp Do đó, hộ gia đình có đặc trưng riêng biệt, không giống như những đơn vị kinh tế khác, cũng vì thế mà hộ gia đình là đơn vị kinh tế
xã hội khá đặc biệt Gần đây, để phát triển kinh tế nông thôn, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chính sách lớn nhằm nông nghiệp, nông thôn phát triển2
Trên khía cạnh pháp lý thì “Những hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó”3
Theo khái niệm này thì hộ gia đình có thể được hình thành bằng một nhóm người nếu thỏa mãn hai tiêu chí: có tài sản chung và làm kinh tế chung trong các lĩnh vực được liệt kê Nếu như vậy, bất kỳ những ai có chung tài sản và làm kinh tế chung trong các lĩnh vực mà luật quy định cũng đều có thể được coi là hộ gia đình, cho dù giữa họ không có quan hệ hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng
“Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức
để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất khác, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia
3
Điều 116 BLDS năm 1995
Trang 9quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”4 Như vậy, không phải tất cả mọi hộ gia đình đều là chủ thể của quan hệ dân sự Chỉ những hộ gia đình thỏa mãn điều kiện sau mới trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự: các thành viên trong hộ gia đình có tài sản chung và tài sản chung này dùng để hoạt động kinh tế chung trong các quan hệ pháp luật dân sự, mà pháp luật cho phép hộ gia đình được tham gia Với quy định sửa đổi của Bộ Luật dân sự năm 2005 về khái niệm hộ gia đình cho thấy hộ gia đình với tư cách là chủ thể của quan hệ dân sự khác với quy định về hộ gia đình theo quy định về quản lý hộ khẩu Theo quy định của điều 4 Nghị định 51/CP ngày 10-5-1997 của chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ khẩu: những người có quan hệ về gia đình, cùng ở chung một nhà thì đăng ký thành một hộ gia đình Mỗi hộ gia đình phải có một người đứng tên chủ hộ Chủ hộ có trách nhiệm chính trong việc thực hiện các quy định về đăng ký, quản lý hộ khẩu trong hộ của mình Việc đăng ký và quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác định việc cư trú của công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Các thành viên của hộ gia đình được quy định trong văn bản về đăng ký hộ khẩu chủ yếu dựa vào quan hệ huyết thống, quan
hệ nuôi dưỡng, quan hệ hôn nhân mà không cần phải xác định việc các chủ thể này
có tài sản chung hay không, có thực hiện kinh tế chung hay không Cho đến nay nội dung đăng ký hộ khẩu đã sửa đổi, bổ sung để thực hiện công tác quản lý hành chính nhà nước theo quy định tại luật cư trú năm 2006, Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25-6-2007 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều Luật cư trú, Thông tư số 06/2007/TT-BCA-C11 ngày 1-7-2007 của Bộ Công an về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật cư trú
Khi áp dụng quy định về hộ gia đình với tư cách là chủ thể của quan hệ dân
sự theo quy định của Bộ Luật dân sự cần lưu ý các điểm sau đây:
Thứ nhất, không phải tất cả các thành viên của hộ gia đình đăng ký theo hộ
khẩu đều là thành viên của hộ gia đình – chủ thể quan hệ dân sự (vì thành viên đăng
ký theo hộ khẩu có thể không đóng góp tài sản và hoạt động kinh tế chung)
Thứ hai, đối với thành viên hộ gia đình trong quan hệ dân sự không phải
trường hợp nào các thành viên cũng phải đóng góp tài sản để hoạt động kinh tế chung ngay từ đầu Có thể trong quá trình sản xuất, kinh doanh chung, hoạt động của các thành viên này mới phát sinh tài sản đó được sử dụng làm tài sản chung của
hộ gia đình để phục vụ kinh tế chung.Việc tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng cần lưu ý khi sử dụng lao động vị thành niên Theo Bộ luật lao động, người từ
4
Điều 106 Bộ Luật dân sự năm 2005
Trang 10đủ mười lăm tuổi trở lên có quyền lao động, nhưng phải chú ý tới các quy định về điều kiện lao động có hại cấm sử dụng lao động chưa thành niên Đối với việc sử dụng trẻ em dưới mười lăm tuổi chỉ được thực hiện trong một số lĩnh vực nhất định
1.1.2 Đặc điểm của hộ gia đình
Một là, chủ hộ của hộ gia đình trong Bộ Luật dân sự khác với chủ hộ trong
sổ hộ khẩu được quy định trong Luật cư trú Chủ hộ của hộ gia đình có thể đồng thời hoặc không đồng thời là chủ hộ trong sổ hộ khẩu Chủ hộ gia đình trong bộ luật dân sự là người có vai trò quan trọng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ, nhân danh cho tất cả các thành viên để xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ, còn chủ hộ trong sổ hộ khẩu có trách nhiệm chính trong việc thực hiện các quy định về đăng ký và quản lý hộ khẩu trong hộ gia đình
Hai là, phạm vi những loại việc dân sự mà hộ gia đình tham gia với tư cách
chủ thể được quy định tại Điều 106 Bộ luật dân sự Đó là các lĩnh vực sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác Đây cũng là những lĩnh vực mà hộ gia đình có thể cùng nhau đóng góp tài sản chung, đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung là phát triển kinh tế gia đình với tư cách là một chủ thể độc lập Mục tiêu phát triển kinh tế chung cũng là nguyên nhân hình thành chủ thể hộ gia đình mà thiếu nó, hoạt động của các thành viên trong gia đình trở thanh hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân Đây cũng là đặc điểm phân biệt hộ gia đình với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật dân sự Ví dụ cá nhân, pháp nhân
có thể trở thành chủ thể của bất kỳ quan hệ pháp luật nào, nếu thỏa mãn các quy định của pháp luật mà không bị giới hạn lĩnh vực tham gia Nếu những thành viên của hộ gia đình tham gia những lĩnh vực mà pháp luật không quy định, họ sẽ không tham gia với tư cách chủ thể hộ gia đình mà với tư cách cá nhân của từng thành viên Ví dụ gia đình muốn bán tài sản chung là một căn nhà thì đây không phải là
“việc đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung ” như Điều 106 quy định mà
là quan hệ dân sự mua bán bình thường Khi đó bên bán không phải là “hộ gia đình”
mà phải ghi tất cả các thành viên trong gia đình có tài sản đó với tư cách các cá nhân Như vậy, lĩnh vực thực hiện giao dịch dân sự cũng giúp nhận diện chính xác hơn về chủ thể là hộ gia đình
Ba là, sở hữu của hộ gia đình là cộng đồng sở hữu, tức nhiều người cùng
thực hiện quyền làm chủ của mình trên khối tài sản chung của hộ trong khi sở hữu của pháp nhân là loại sở hữu một chủ, tức pháp nhân là chủ sở hữu duy nhất đối với tài sản của pháp nhân, các thành viên không phải là đồng sở hữu đối với tài sản của pháp nhân mà chỉ là đồng sở hữu đối với phần vốn góp vào pháp nhân tương ứng
Trang 11với phần vốn góp của mỗi người Hệ quả của việc thực hiện quyền sở hữu trên tài sản chung của hộ là tài sản chung của hộ gia đình không có sự tách bạch riêng của từng thành viên trong hộ; trong khi đó tài sản của pháp nhân hoàn toàn tách bạch, độc lập với phần tài sản riêng còn lại trong sản nghiệp của từng thành viên Hộ gia đình và từng thành viên hộ gia đình phải chịu trách nhiệm vô hạn về nghĩa vụ tài sản của hộ gia đình, trong khi pháp nhân và thành viên của pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp của mình
1.1.3 Thành viên của hộ gia đình
Hộ gia đình theo Điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005 tức là một đơn vị kinh
tế, chứ không phải là tập hợp những người được ghi tên trong sổ hộ khẩu Pháp luật chỉ quy định các thành viên trong hộ gia đình có tài sản chung để hoạt động kinh tế chung mà không quy định về điều kiện thành viên của hộ gia đình và các mối liên
hệ cần thiết để tạo lập nên hộ gia đình đó Nhưng xuất phát từ pháp luật về hôn nhân
và gia đình, những quy định của Bộ luật dân sự và phong tục tập quán thì thành viên
hộ gia đình là những người trong gia đình có các quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng
và hôn nhân5 Có thể tất cả các thành viên của hộ gia đình đều là thành viên của gia đình nhưng không phải thành viên nào của gia đình cũng là thành viên của hộ gia đình Có trường hợp thành viên của gia đình chưa thành niên và chưa tham gia lao động cùng các thành viên khác trong hoạt động kinh tế chung của hộ gia đình, những người này vẫn là chủ thể của các quyền của một thành viên đối với các tài sản của hộ gia đình nhưng với điều kiện phải tham gia lao động cùng với các thành viên khác một khi có khả năng và có điều kiện lao động Có trường hợp thành viên của gia đình đã thành niên, nhưng hoạt động trong một lĩnh vực kinh tế, nghề nghiệp khác với lĩnh vực kinh tế, nghề nghiệp của hộ gia đình Những người này cũng trở thành người có quyền của một thành viên đối với các tài sản thuộc hộ gia
đình, một khi trở về tham gia hoạt động kinh tế chung của hộ
Một cách tổng quát, thành viên của gia đình nếu không phải là thành viên sáng lập
ra hộ gia đình (như là một đơn vị kinh tế), là người có quyền của một thành viên đối với khối tài sản sản thuộc hộ gia đình với điều kiện phải tham gia vào hoạt động kinh tế chung của hộ Khi đã tham gia vào hoạt động kinh tế chung, thì thành viên được coi là người có quyền của một thành viên đối với tài sản của hộ từ khi mới được sinh ra (hoặc từ khi gia nhập vào gia đình nếu thành viên đi vào con vào gia đình bằng con đường hôn nhân hoặc nuôi con nuôi); nếu điều kiện trên không xảy
ra, thì thành viên được coi không bao giờ là người có quyền đó Bởi vậy, thành viên
5
Giáo trình luật dân sự tập 1 Đại học Luật Hà Nội trang 125
Trang 12của gia đình mà lao động ổn định trong các lĩnh vực khác hoặc thực biện các hoạt động ngề nghiệp khác không thuộc lĩnh vực, nghề nghiệp của hộ gia đình, thì không
có quyền của một thành viên đối với tài sản của hộ gia đình, dù cha, mẹ của thành viên này đã từng lao động trong khuôn khổ hộ gia đình và có quyền của một thành viên đối với tài sản ấy
Có những người không có quan hệ thân thuộc với chủ hộ, lao động trong đơn
vị kinh tế gia đình một thời gian và sau đó trở thành thành viên của gia đình do xác lập hôn nhân với một thành viên khác Những người này cũng trở thành người có quyền của một thành viên đối với tài sản thuộc hộ gia đình Nhưng có lẽ quyền này được xác lập từ thời điểm xác lập hôn nhân chứ không phải từ thời điểm bắt đầu tham gia lao động trong đơn vị kinh tế hộ gia đình, lý do: giữa thời điểm bắt đầu tham gia lao động và thời điểm bắt đầu quan hệ hôn nhân, người này đã được trả thù lao dành cho người làm công
1.1.4 Năng lực chủ thể của hộ gia đình
Để tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự hộ gia đình phải có năng lực chủ thể Năng lực chủ thể của hộ gia đình cũng bao gồm hai yếu tố là năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi của hộ gia đình
Năng lực pháp luật và năng luật hành vi của hộ gia đình phát sinh đồng thời với việc hình thành hộ gia đình với tư cách chủ thể
Năng lực chủ thể của hộ gia đình do pháp luật quy định đó là các quan hệ liên quan đến “ hoạt động kinh tế chung trong trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
và trong một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định”6
Việc phát sinh hay chấm dứt một hộ gia đình hoặc thay đổi vai trò chủ hộ (với tư cách là đại diện) trong hộ gia đình nhiều khi không thể xác định được bằng các quy tắc pháp lý Vì vậy, tuy quy định hộ gia đình với tư cách là chủ thể - nhưng pháp luật không quy định cách thức phát sinh, trình tự phát sinh hay chấm dứt một
hộ gia đình mà phải căn cứ vào điều kiện thực tế tồn tại trong gia đình đó để xác nhận một hộ gia đình với tư cách chủ thể Có thể tồn tại trong một ngôi nhà có nhiều hộ gia đình với tư cách chủ thể nhưng cũng có thể có hộ gia đình mà các thành viên sống ở nhiều ngôi nhà khác nhau, thậm chí thành viên của hộ gia đình có nơi cư trú khác nhau Nhưng nếu thỏa mãn điều kiện “có điều kiện chung để hoạt
6
Điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005
Trang 13động kinh tế chung” thì có thể hình thành một hộ gia đình với tư cách là chủ thể tham gia vào các quan hệ do pháp luật quy định
1.1.5 Hoạt động và trách nhiệm dân sự của hộ gia đình
1.1.5.1 Hoạt động của hộ gia đình
Hộ gia đình hoạt động với tư cách chủ thể trong quan hệ dân sự thông qua đại diện của hộ gia đình mà pháp luật gọi là “chủ hộ”
Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Các thành viên trong hộ gia đình có thể cùng nhau thỏa thuận để xác định chủ hộ (chuyển quyền sử dụng đất, mua bán vật tư sản phẩm…) Khi tham gia vào giao dịch dân sự, chủ hộ đại diện cho hộ gia đình không cần có sự đồng ý của các thành viên nếu mục đích của giao dịch phục vụ lợi ích chung của cả hộ Ngoài việc chủ hộ trực tiếp tham gia quan hệ dân sự vì lợi ích của hộ gia đình thì chủ hộ có thể
ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện cho hộ trong quan hệ dân
sự, nhưng sự ủy quyền đó có tính tạm thời trong một thời gian hoặc trong từng quan
hệ dân sự cụ thể Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cả hộ gia đình Tuy nhiên cần lưu ý:
- Việc ủy quyền cho các thành viên khác thay mặt cho chủ hộ xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải tuân theo pháp luật về ủy quyền;
- Mặc dù “Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của hộ gia đình”7 nhưng các thành viên của hộ gia đình có quyền thỏa thuận chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản chung của hộ gia đình và “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý”8
1.1.5.2 Trách nhiệm dân sự của hộ gia đình
Cũng như các chủ thể khác khi tham gia các quan hệ dân sự theo quy định của pháp luật mà hộ gia đình được phép tham gia, hộ gia đình phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quan hệ đó Nếu hộ gia đình vi phạm nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự của mình
Trên cơ sở xác định hộ gia đình là chủ thể của một số quan hệ pháp luật dân
sự được pháp luật thừa nhận nên hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực
Trang 14hiện nhân danh hộ gia đình “Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình”9 Việc chịu trách nhiệm dân sự của hộ gia đình được thực hiện theo trình tự: Tài sản chung của hộ dùng để chiụ trách nhiệm dân sự; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêng của mình Như vậy theo quy định của pháp luật thì trách nhiệm dân sự của hộ gia đình là loại trách nhiệm dân sự vô hạn
1.2 Khái quát chung về tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất 1.2.1 Khái niệm tài sản chung của hộ gia đình
Tài sản chung của hộ gia đình là tài sản thuộc sở hữu chung của các thành viên Khối tài sản chung phải là một thể thống nhất được tạo dựng bởi các thành viên.“Tài sản chung của hộ gia đình bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ”10 Xuất phát từ việc hộ gia đình là chủ thể của pháp luật dân sự trong sản xuất nông, lâm, ngư nhiệp nên Điều 108 BLDS năm 2005 đã khẳng định tài sản chung của hộ gia đình bao gồm:
Thứ nhất, quyền sử dụng đất được giao cho hộ gia đình theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004
Thứ hai, tài sản của các thành viên đóng góp để tham gia hoạt động kinh tế chung
Thứ ba, các tài sản do các thành viên của hộ gia đình tạo lập trong hoạt động kinh tế chung
Thứ tư, các tài sản được thừa kế chung và các tài sản mặc dù thuộc sở hữu cá nhân nhưng đã có thỏa thuận là tài sản chung của hộ gia đình
Hoạt động kinh tế chung có thể được hiểu là việc cùng nhau canh tác trên một thửa ruộng, cùng làm một nghề thủ công, làm giấy, đồ mộc, đồ sành,….mà mỗi thành viên phụ trách một công đoạn trong quá trình sản xuất hoặc cùng tạo ra một
Trang 15nhóm sản phẩm và tiến hành phân phối bán, cho thuê,…trong một tổng thể…và cùng hưởng lợi từ các hoạt động kinh tế chung nêu trên
Việc hưởng lợi có thể là trực tiếp (nhận tiền, tài sản chia cho từng người hoặc thông qua việc thụ hưởng chung các lợi ích như: nhà ở, ăn uống, đi lại bằng tài sản chung
Như vậy, các hoạt động đơn lẻ của thành viên hộ gia đình như mua bán, phục
vụ tiêu dùng cá nhân, không được coi là quan hệ của hộ gia đình và hộ gia đình không phải chịu trách nhiệm với hành vi của cá nhân đó ( trong trường hợp cá nhân
đã thành niên và có đủ năng lực pháp luật dân sự)
Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu, sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thỏa thuận việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi đồng ý; đối với các tài sản chung khác phải được đa số các thành viên từ đủ mười lăm tuổi đồng
ý
1.2.2 Khái niệm về quyền sử dụng đất
Đất đai là tài nguyên quốc gia nó vô cùng quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, là điều kiện sống của con người , là địa bàn phân bố dân cư sinh sống, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng Do tầm quan trọng của đất đai nên đất đai của nước ta là thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện chủ sở hữu là Nhà nước, Điều 17 Hiến pháp 1992 quy định “Đất dai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời…là của Nhà nước, thuộc quyền sở hữu của toàn dân” với tư cách là chủ sở hữu cảu đất đai, Nhà nước thực hiện quyền làm chủ của đất đai thông qua ba quyền năng đó là quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng đối với đất Tuy nhiên, trên thực tế Nhà nước không trực tiếp sản xuất mà giao cho tổ chức, cá nhân sử dụng, đồng thời quy định về quyền và nghĩa vụ của những người sử dụng đất, theo đó, các
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chỉ được sử dụng đất trong phạm vi Nhà nước cho phép
Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chúng ta xét quyền sử dụng đất trên hai khía cạnh:
Xét về khía cạnh kinh tế, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó làm thỏa mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng trong quá trình sử dụng đất
Xét về tư cách đại diện chủ sở hữu đất đai, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài
Trang 16nhưng Nhà nước không mất đi quyền sử dụng đất đai của mình Bởi vì nhà nước thực hiện quyền sử dụng đất bằng các hình thức chủ yếu sau: Thông qua việc xây dựng, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phân định mục đích sử dụng cho từng loại đất cụ thể; Thông qua việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất buộc các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải thực hiện trong quá trình sử dụng đất Điều này có nghĩa là thông qua quá trình sử dụng đất của người sử dụng mà các ý tưởng sử dụng đất của Nhà nước sẽ trở thành thực hiện đồng thời, người sử dụng đất trong quá trình sử dụng phải đóng góp một phần lợi ích của họ thu được từ việc sử dụng đất đai dưới dạng những nghĩa vụ vật chất cho Nhà nước thông qua hình thức như nộp thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, nộp lệ phí địa chính, lệ phí trước bạ, nộp tiền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất của người sử dụng đất kể từ khi Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 được ban hành đã bao hàm cả quyền chuyển đổi; tặng cho; chuyển nhượng; cho thuê; cho thuê lại; thế chấp; thừa kế, bảo lãnh và góp vốn quyền sử đất thì chúng ta cũng không nên đồng nhất giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất, bởi lẽ, giữa chúng có sự khác nhau cả về nội dung và ý nghĩa, cụ thể như sau:
- Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu (có trước), còn quyền sử dụng đất là quyền phái sinh (có sau) xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho phép nhận chuyển nhượng đất hay công nhận quyền sử dụng đất
- Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn quyền sử dụng đất lại là một quyền không chon vẹn, không đầy đủ Tính không đầy đủ của quyền sử dụng đất được thể hiện ở các khía cạnh cơ bản sau đây:
Thứ nhất, người sử dụng đất không có đủ các quyền năng như Nhà nước với
tư cách là chủ sở hữu;
Thứ hai, không phải bất cứ người nào có quyền sử dụng đất hợp pháp cũng
có quyền chuyển đổi; tặng cho; chuyển nhượng; cho thuê; cho thuê lại; thế chấp; bảo lãnh; thừa kế; góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà pháp luật quy định (bao gồm chín quyền năng của chuyển quyền sử dụng đất) Còn các chủ thể sử dụng đất khác không được pháp luật cho hưởng quyền năng này (Điều 113 Luật Đất đai năm 2003) Hoặc tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm chỉ có quyền bán, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê mà không được thực hiện các quyền chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê (Điều 111 Luật Đất đai năm 2003)…Như vậy, phạm vi chủ thể có đầy đủ các quyền này bị hạn chế
Trang 17Thứ ba, không phải đối với bất cứ đất nào người sử dụng cũng có đầy đủ chín quyền năng trên đây Về cơ bản, chỉ những người sử dụng đất theo hình thức giao đất trả tiền sử dụng đất và thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đấtt một lần cho
cả thời gian thuê hoặc đã trả tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là năm năm mới được pháp luật cho hưởng đầy đủ chín quyền năng về chuyển quyền sử dụng đất
Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền tồn tại độc lập, còn quyền sử dụng đất là một loại quyền phụ thuộc Tính chất phụ thuộc của quyền sử dụng đất thể hiện ở chỗ người sử dụng đất không được tự mình quyết định mọi vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các quyền năng của mình mà được quyết định một số vấn
đề còn cơ bản, vẫn phải hành động theo ý chí của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất được giao Hơn nữa về mặt lý luận thì giữa quyền sử dụng đất của Nhà nước với quyền sử dụng đất của người sử dụng đất cũng có sự khác nhau Sự khác nhau này được biểu hiện trên những khía cạnh cơ bản sau đây:
- Quyền sử dụng đất đai của Nhà nước phát sinh trên cơ sở Nhà nước là chủ
sở hữu đất đai Nên quyền sử dụng đất này là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế Còn quyền sử dụng đất của người sử dụng đất xuất hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất…và phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Vì vậy quyền sử dụng đất của họ bị Nhà nước hạn chế bởi diện tích, thời hạn và mục đích sử dụng v.v
- Nếu như quyền sử dụng đất của Nhà nước mang tính gián tiếp và trừu tượng thì ngược lại, quyền sử dụng đất của người sử dụng lại mang tính trực tiếp và
cụ thể
1.2.3 Khái niệm quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình
Trong xã hội, các hình thức sở hữu, sử dụng đất rất đa dạng và luôn gắn với hoạt động của nhiều loại chủ thể, vì vậy việc giải quyết các mối quan hệ đó một cách đúng đắn, hợp quy luật, hợp lòng người được xem là biện pháp quyết định trong tổng thể các biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai, xử lý tốt những vấn đề tồn tại và thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Việc xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế đã chi phối đời sống pháp luật của chủ thể này Điều này dẫn đến việc quan niệm về hộ gia đình không chỉ hiểu theo nghĩa quan hệ gia đình và nơi cư trú, bao gồm những cá nhân có quan hệ với nhau như ông, bà, cha, mẹ, vợ chồng, con, anh chị em ruột cùng sống và sinh hoạt chung trong một gia đình Hoặc, hộ gia đình là những người được ghi tên trong hộ khẩu Có thể thấy rằng tất cả các thành viên của hộ gia đình đều là thành viên của gia đình nhưng không phải thành viên của gia đình là thành viên của hộ gia đình,
Trang 18bởi vì chỉ những thành viên nào hội đủ những yếu tố mà pháp luật quy định mới trở thành thành viên của hộ gia đình, loại trừ cách nhìn về hộ gia đình chỉ dựa vào hình thái bên ngoài như: các thành viên phải có chung hộ khẩu Có những người vì những lý do nhất định vẫn có chung hộ khẩu với gia đình nhưng không có quyền lợi kinh tế gắn bó với gia đình hoặc quan niệm hộ gia đình theo nghĩa truyền thống của một gia đình
Sau khi có Luật đất đai ngày 14/7/1993 và nhất là có Bộ luật dân sự 1995, việc coi quyền sử dụng đất là một tài sản không còn là một kết luận gây tranh cãi.”Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ gia đình là tài sản chung của hộ”11 “ tài sản chung của hộ gia đình bao gồm: quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng …” Điều
43 khoản 3 mục b của Nghị định 181 ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai chỉ qui định: “Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất là tài sản chung của cả hộ gia đình thì giấy chứng nhận chỉ ghi tên chủ hộ”
Ta thấy, khi Nhà nước giao đất cho hộ gia đình thì các thành viên trong hộ là đồng quyền sử dụng đối với tài sản chung đó Từng thành viên không trực tiếp thực hiện trách nhiệm của người sử dụng đất đối với nhà nước hoặc thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất mà phải thông qua người đại diện hợp pháp của hộ gia đình gọi là chủ hộ
Về định đoạt tài sản là quyền sử dụng đất của hộ gia đình: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền
sử dụng đất thuộc quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự”12 Như vậy, quyền sử dụng đất của hộ gia đình thuộc sử dụng chung của tất cả mọi thành viên trong hộ gia đình Việc định đoạt quyền sử dụng đất của hộ gia đình phải được các thành viên trong hộ gia đình đồng ý (bao gồm cả những thành viên dưới mười lăm tuổi (nếu có))
Như vậy, hộ gia đình là một chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai, gồm những thành viên có hoạt động kinh tế chung và tài sản chung là quyền sử dụng đất
1.2.4 Đặc điểm quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình
Từ khái niệm trên ta có các đặc điểm sau đối với tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất:
Trang 19- Hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự nói chung và quan hệ đất đai nói riêng khi các thành viên của một gia đình có tài sản chung là quyền sử dụng đấtđể hoạt động kinh tế chung, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một
số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định
- Quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình do các thành viên của hộ gia đình cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung và tài sản riêng của các thành
viên nhưng được thoả thuận gộp vào khối tài sản chung
- Quyền sử dụng đất của hộ gia đình thuộc sử dụng chung của tất cả mọi thành viên trong hộ gia đình Các thành viên của hộ gia đình sử dụng tài sản chung này theo phương thức thoả thuận, việc định đoạt quyền sử dụng đất của hộ gia đình phải được các thành viên trong hộ gia đình đồng ý (bao gồm cả những thành viên dưới mười lăm tuổi (nếu có))
- Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự liên quan đến quyền
sử dụng đất vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành
niên có thể là chủ hộ Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên
làm đại diện trong quan hệ dân sự, cụ thể là quan hệ đất đai Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình
1.2.5 Lược sử phát triển về tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất
Thời kỳ Phong kiến: thời kỳ phong kiến tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế, vua là người đứng đầu đất nước và mọi quyền lực điều tập trung vào tay vua Pháp luật thời kỳ này do vua ban hành nhằm bảo vệ quyền, lợi của Vua và các Quan lại phục vụ cho Vua Trong giai đoạn này có những bộ luật cổ như: Bộ luật Hồng Đức (năm 1483), Bộ luật Gia Long (năm 1815) cả hai bộ luật này điều không có quy định riêng về quyền sử dụng đất Lúc này quyền sử dụng đất cũng chưa được quy định rõ, chưa có văn bản nào điều chỉnh về quyền sử dụng đất chỉ có điều chỉnh về đất nói chung, không phân biệt quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đất
Thời kỳ Pháp thuộc: chế độ sở hữu ruộng đất ở nước ta trong thời kỳ pháp thuộc về cơ cấu hình thức sở hữu vẫn là sự tiếp nối quá trình phát triển hình thức tư nhân đối với ruộng đất đã hình thành ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong thời kỳ phong kiến Thực dân pháp thi hành những chính sách đất đai tương đối linh hoạt tùy thuộc vào đặc điểm tình hình của từng vùng và mục đích cai trị Điều này dẫn đến
sự phân hóa sâu sắc trong các tầng lớp dân cư và giữa các vùng miền
Nước ta bị thực dân Pháp đô hộ từ năm 1858 đến 1945, trong giai đoạn này đất nước bị chia cắt thành ba miền với ba chế độ khác nhau và được ba bộ Luật
Trang 20khác nhau điều chỉnh như: Bộ Luật Giản Yếu Nam Kỳ( năm 1883), Dân Luật Bắc
Kỳ ( năm 1931) và Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ Luật (năm 1936) Cả ba Bộ Luật này đều dựa trên những quy định của nước Pháp nên rất giống với luật của Pháp do Pháp muốn biến nước ta thành thuộc địa của chúng, tuy nhiên do ban hành ba Bộ Luật này không dựa trên hoàn cảnh của đất nước ta nên không phát huy được hiệu quả, không đi vào thực tiễn đời sống của nhân dân ta Quyền sử dụng đất chưa được ghi nhận trong giai đoạn này
Giai đoạn từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1986: Hiến pháp năm
1980 đã chính thức ghi nhận quyền sử dụng đất lâu dài và ổn định cho người dân được thể hiện thông qua quan hệ giao đất và thu đất giữa Nhà nước và người sử dụng đất Tuy nhiên quyền sử dụng đất của hộ gia đình vẫn chưa được ghi nhận
Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1995: Bắt đầu từ Luật Đất đai năm 1987, khái niệm” người sử dụng đất” được chính thức ghi nhận nhằm xác định những đối tượng được Nhà nước giao đất để sử dụng ổn định lâu dài và mối quan hệ giữa những chủ thể này đối với Nhà nước Đó là các nông trường, lâm trường, hợp tác
xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân Đến Luật đất đai năm 1993, pháp luật quy định thêm một số loại quyền hết sức quan trọng, trả lại cho người sử dụng đất vai trò là người làm chủ thực sự, người quyết định chất lượng, hiệu quả của quá trình sử dụng đất, làm cho họ gắn bó với đất đai hơn, đó là quyền chuyển quyền sử dụng đất thông qua 5 hình thức: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Bắt đầu từ Nghị quyết số 10/NQ-TW của bộ chính trị ngày 05/04/1988 về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp, hộ gia đình được xem là một đơn vị kinh tế tự chủ Nhà nước chủ trương giao đất cho người dân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thể chế hóa chính sách đó, Bộ Luật dân sự năm 1995, Luật đất đai năm
1993 đã đặt nền tảng cho việc xác lập địa vị pháp lý của hộ gia đình Với tư cách là một đơn vị kinh tế chủ yếu, trực tiếp sản xuất nông nghiệp, hộ gia đình trở thành chủ thể độc lập trong quan hệ đất đai
Giai đoạn từ sau năm 1995 đến nay: Bộ Luật dân sự năm 2005, Luật đất đai năm 2003 tiếp tục ghi nhận hộ gia đình là chủ thể của pháp luật dân sự mặc dù có
ý kiến cho rằng việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình là hạn chế và rất ít khi xãy ra tranh chấp Luật đất đai năm 2003 đã thể hiện một bước tiến xa hơn khi mở rộng phạm vi và nội hàm của khái niệm người sử dụng đất, những chủ thể được phép tham gia vào quan hệ đất đai với tên gọi là quyền sử dụng đất ngày càng đa dạng hơn, đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất hết sức phong phú, phù hợp với những
Trang 21yêu cầu của nền kinh tế thị trường Có thể thấy rằng cùng với quá trình hoàn thiện khái niệm người sử dụng đất là quá trình pháp luật hướng tới sự đảm bảo một cách sâu rộng những lợi ích thiết thực cho người sử dụng đất đặc biệt là hộ gia đình, vì cùng với cá nhân đây là chủ thể chủ yếu đang trực tiếp sư dụng đất
Trong chương đầu tiên này, người viết đã nêu khái quát về tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất Cụ thể là làm rõ các khái niệm, đặc điểm của hộ gia đình, quyền sử dụng đất của hộ gia đình, hoạt động của hộ gia đình cũng như trách nhiệm của hộ gia đình Các quy định pháp luật về tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất, cũng như những tồn tại và giải pháp hoàn thiện trong các quy định đó sẽ được người viết nếu ở chương tiếp theo
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN CHUNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Chương tiếp theo này, người viết sẽ tiếp tục phân tích sâu hơn thực trạng quy định pháp luật về cơ sở xác lập quyền sử dụng đất của hộ gia đình, quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình khi sử dụng đất, chia tách tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất Đồng thời từ việc phân tích thực trạng pháp luật người viết đưa ra những bất cập về tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất trên cơ sở đó người viết có đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất Đó là nội dung người viết sẽ trình bày trong chương 2 này
2.1 Cơ sở xác lập quyền sử dụng đất là tài sản chung của hộ gia đình
Trang 22Quyền sử dụng đất được hình thành bởi những sự kiện pháp lý nhất định Hiến pháp 1992, Pháp luật đất đai năm 2003 và Pháp luật dân sự năm 2005 quy định căn cứ xác lập quyền sử dụng đất Đây là cơ sở pháp lý để đánh giá tính hợp pháp của người có quyền sử dụng đất
Việc quy định các căn cứ xác lập quyền sử dụng đất tạo tiền đề cho tổ chức,
cá nhân thực hiện tám quyền năng của người sử dụng đất và là căn cứ pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp về đất đai
Căn cứ xác lập quyền sử dụng đất là những sự kiện pháp lý mà trên cơ sở đó các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có được quyền sử dụng đất
Cơ sở pháp lý cho việc thiết lập quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 37 Luật đất đai năm 2003 về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, không được ủy quyền trong việc quyết định giao đất, cho thuê đất
Để cụ thể hơn và rõ ràng thêm những quy định trên trong luật đất đai, theo quy định tại Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của người sử dụng đất được quy định như sau:
Thứ nhất, đất đai thuộc hình thức sở hữu của Nhà nước, do Chính phủ thống nhất
quản lý
Thứ hai, quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được
xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất
Thứ ba, quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được
xác lập do người khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với Bộ luật dân sự và pháp luật đất đai
Hình thức sở hữu đất đai của Nhà nước là hình thức sở hữu đầy đủ ý nghĩa nhất, bao gồm cả ba quyền năng: quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, tuy nhiên Nhà nước không sử dụng một cách trực tiếp các quyền năng này mà thông qua người sử dụng đất bằng cách Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền
sử dụng đất của cá nhân, tổ chức, hộ gia đình và chủ thể khác Để cụ thể hóa hoặc theo quy định của Nghị định Chính phủ số 181/2004/NĐ-CP tại Điều 99 thì căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của hộ gia đình được quy định như sau:
+ Hộ gia đình được nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp thông qua chuyển đổi quyền sử dụng đất
+ Hộ gia đình được quyền sử dụng đất thông qua nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất trừ trường hợp quy định tại Điều 103 Nghị định 181/2004/NĐ-CP Cụ thể là: hộ gia đình không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho
Trang 23quyền sử dụng đất; Hộ gia đình không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước; Hộ gia đình không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng; trong khu vực rừng phòng hộ nếu không sinh sống trong khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đó
+ Hộ gia đình được nhận chuyển quyền sử dụng đất thông qua nhận tặng cho quyền sử dụng đất
+ Hộ gia đình được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thông qua nhận thưa kế quyền sử dụng đất;
+ Hộ gia đình được nhận quyền sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giao đất;
+ Hộ gia đình được nhận quyền sử dụng đất thông qua việc Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang được sử dụng ổn định;
+ Hộ gia đình được nhận quyền sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp, bảo lãnh để xử lý nợ; quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai; quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất cho phù hợp với pháp luật; văn bản về việc chia tách quyền sử dụng đất phù hợp với pháp luật đối với hộ gia đình có quyền sử dụng đất chung
Việc quy định căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của hộ gia đình rất quan trọng, nó là cơ sở pháp lý khẳng định quyền của hộ gia đình đối với mảnh đất của mình, từ đó việc khai thác, sử dụng thửa đất hợp pháp sẽ được pháp luật bảo vệ Dựa vào căn cứ xác lập quyền sử dụng đất với những sự kiện pháp lý mà trên cơ sở
đó hộ gia đình có được quyền sử dụng đất Khi có quyền sử dụng đất hợp pháp, hộ gia đình có thể khai thác, sử dụng thửa đất đó cũng như tham gia vào các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất với tư cách là chủ thể trong quan hệ đất đai Việc tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất phải tuân thủ các quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật đất đai
2.2 Ghi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất
Trang 242.2.1 Cơ sở pháp lý của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình sử dụng đất
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Giấy chứng nhận) là chứng thư Nhà nước cấp cho người sử dụng đất
để họ được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp về đất đai và được Nhà nước bảo hộ khi
quyền của họ bị xâm hại “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”13
chính vì vậy mà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có giá trị như là một đảm bảo quan trọng của Nhà nước cho người sử dụng đất, để từ đó người sử dụng đất thực hiện các quyền và lợi ích của mình một cách hợp pháp, cũng như là điều kiện để người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường thiệt hại về đất và tài sản khi Nhà nước thu hồi đất Hơn nữa, nó còn là cơ sở pháp lý khi có tranh chấp về quyền sử dụng đất sẽ được Tòa án nhân dân giải quyết theo quy đinh tại khoản 1 Điều 136 Luật đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 200914
Đối với hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi hộ gia đình đó sử dụng đất ổn định được
ủy ban nhân dân xã xác nhận là không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy
tờ sau:
- Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm
1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
13
Khoản 20 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2009
14
Đ i ề u 1 3 6. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:
1 Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50
của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;
Trang 25- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
- Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
- Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất
ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
- Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;
- Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất
- Giấy tờ về chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ kí của các bên cộng với một trong các loại giấy tờ trên;
- Có hộ khẩu tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, tại vùng núi hải đảo;
- Giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã là đã sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993 đến nay không có tranh chấp phù hợp với quy hoạch
2.2.2 Đứng tên đăng ký quyền sử dụng đất
Theo quy định tại khoản 3, Điều 43 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thực hiện Luật Đất đai năm 2003 thì việc ghi tên người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện như sau:
- Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất là tài sản chung của cả vợ và chồng thì ghi cả họ tên vợ và họ tên chồng; trường hợp hộ gia đình đề nghị chỉ ghi
họ, tên vợ hoặc họ, tên chồng thì phải có văn bản thoả thuận của vợ và chồng có chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
- Trường hợp hộ gia đình sử dụng đất là tài sản chung của cả hộ gia đình không thuộc trường hợp trên thì ghi họ, tên chủ hộ
Để cụ thể hơn quy định trên, tại Điểm c Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, phần thể hiện thông tin ghi trên trang một của Giấy chứng