Mặt khác, cùng với quá trình xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đồng bộ, từ năm 1994, một số luật mới lần lược ban hành, trong đó, môi trường đầu tư, kinh doanh được quy định chặt
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
KHOA LUẬT
BỘ MÔN THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NIÊN KHOÁ 2004 – 2008
Đề tài:
SO SÁNH NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC THEO LUẬT ĐẦU TƯ 2005 VÀ LUẬT KHUYẾN KHÍCH ĐẦU
TƯ TRONG NƯỚC 1998 VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI
TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC
GVHD: TS Dư Ngọc Bích SV Thực Hiện: Lê Thị Lĩnh
MSSV: 5044043
Khóa 30
Ngành Luật Thương Mại
Năm học 2007 - 2008
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
NHẬN XÉT CỦA GV HƯỚNG DẪN
Giáo Viên Hướng Dẫn
TS Dư Ngọc Bích
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
MỤC LỤC
trang
LỜI NÓI ĐẦU 4
1 Giới thiệu về đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Cấu trúc của luận văn 5
Chương I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM 6
1.1 Pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 6
1.2 Pháp luật về đầu tư trong nước 9
1.3 Ban hành luật đầu tư áp dụng cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài là đòi hỏi tất yếu, khách quan 11
1.4 Quan điểm chỉ đạo về việc ban hành Luật đầu tư 13
1.5 Một số nội dung cơ bản của luật đầu tư 14
1.5.1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng 14
1.5.2 Chính sách cơ bản về đầu tư 15
1.5.3 Bảo đảm đầu tư 16
1.5.4 Giải quyết tranh chấp và áp dụng pháp luật nước ngoài 17
1.5.5 Quyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư 18
1.5.6 Hình thức đầu tư 19
1.5.7 Lĩnh vực, địa bàn đầu tư 20
1.5.8 Ưu đãi, hổ trợ đầu tư 22
1.5.8.1 Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư 22
1.5.8.2 Thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư 23
1.5.9 Thủ tục đầu tư 23
1.5.10 Điều chỉnh dự án đầu tư .27
1.5.11 Triển khai thực hiện dự án đầu tư 27
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.5.12 Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước 29
1.5.13 Đầu tư ra nước ngoài 30
1.5.14 Quản lý nhà nước về đầu tư 32
Chương II: SO SÁNH NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC THEO LUẬT ĐẦU TƯ 2005 VÀ LUẬT KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC 1998 VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC .33
2.1 Ưu đãi đầu tư 33
2.1.1 Lĩnh vực, địa bàn, đối tượng và điều kiện ưu đãi đầu tư 33
2.1.1.1 Lĩnh vực ưu đãi đầu tư 33
2.1.1.2 Địa bàn ưu đãi đầu tư 37
2.1.1.3 Đối tượng và điều kiện ưu đãi đầu tư 38
2.1.2 Các ưu đãi về thuế 39
2.1.2.1.Thuế thu nhập doanh nghiệp 39
2.1.2.2.Thuế xuất nhập khẩu 42
2.1.3 Ưu đãi sử dụng đất 43
2.1.4.Thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư .47
2.2 Bảo đảm đầu tư 50
2.2.1 Bảo đảm về tài sản 50
2.2.2 Bảo đảm về giá 51
2.2.3 Đảm bảo đầu tư trong việc thay đổi pháp luật chính sách 51
2.3 Hỗ trợ đầu tư 52
2.3.1 Hỗ trợ về chuyển giao công nghệ 52
2.3.2 Hỗ trợ và khuyến khích phát triển đầu tư 53
2.3.3 Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng cho nhà đầu tư 54
2.4 Thực trạng áp dụng pháp luật đối với các dự án đang thực hiện đầu tư trước khi Luật đầu tư có hiệu lực 56
KẾT LUẬN 58
Tài liệu tham khảo 60
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI NÓI ĐẦU
1 Giới thiệu đề tài
Luật đầu tư năm 2005 là một vấn đề hoàn toàn mới thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các chuyên gia về kinh
tế, các nhà Luật học
Khi đánh giá những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo, phát triển khu vực kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong hai thập kỷ vừa qua không thể không kể đến sự đóng góp quan trọng của nguồn vốn đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài Để có được kết quả này, Việt Nam đã cải cách nhằm cải thiện môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh nhằm thu hút sự đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài Một trong những bước cải cách pháp lý quan trọng trong quá trình cải cách cơ chế, bảo đảm sự phát triển bền vững và lâu dài của Việt Nam là tiến hành xây dựng Luật đầu tư áp dụng chung cho cả lĩnh vực đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Luật đầu tư mới được ban hành sẽ tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, củng cố niềm tin của các nhà đầu tư, phát huy nguồn nội lực và thu hút vốn đầu tư nước ngoài đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích những điểm giống và khác nhau giữa những quy định về đầu tư trong nước trong Luật đầu tư năm 2005 và Luật khuyến khích đầu
tư trong nước năm 1998 là muốn tìm hiểu sâu hơn về Luật đầu tư 2005 đồng thời tìm ra những điểm mới và những điểm thục lùi của luật đầu tư hiện hành so với Luật cũ
3 Phạm vi nghiên cứu
So sánh những quy định về đầu tư trong nước theo Luật đầu tư 2005
và Luật khuyến khích đầu tư trong nước 1998 và những văn bản hướng dẫn thi hành và những ảnh hưởng đối với tình hình đầu tư trong nước
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu đề tài này, em đã dùng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp
5 Cấu trúc của luận văn
Chương I: Quá trình hình thành và phát triển chính sách pháp luật
về đầu tư trong nước và khuyến khích đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài của Việt Nam
Chương II: So sánh những quy định về đầu tư trong nước theo Luật đầu tư 2005 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước 1998 và những ảnh hưởng đối với tình hình đầu tư trong nước
Do đề tài còn khá mới nên vấn đề về tài liệu, kiến thức, thông tin bản thân còn chưa đầy đủ, do đó không thể tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong quý thầy cô thông cảm
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô Dư Ngọc Bích đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tốt đề tài này
Trang 7Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Chương I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Điều lệ đầu tư ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18 tháng 04 năm 1977 là văn bản pháp lý riêng biệt đầu tiên được ban hành nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Theo quy định tại Điều 1 Điều lệ, Chính phủ Việt Nam
“chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các bên cùng có lợi” Điều lệ đầu tư đã tạo ra một khung pháp lý ban đầu cho hoạt động đầu tư nước ngoài, làm tiền đề cho những ý tưởng và là cơ sở cho những bước cải cách sau này Tuy nhiên, do Điều lệ đầu tư năm
1977 đã thể chế hoá chính sách quản lý kinh tế bao cấp nên còn thiếu các quy định cụ thể cho việc thi hành như các quy định về ngân hàng, quản
lý ngoại hối, đất đai, lao động, tài nguyên…Do đó, chưa tạo được cơ sở pháp lý đầy đủ, môi trường pháp lý đồng bộ, có hiệu lực cao và hấp dẫn
các nhà đầu tư nước ngoài cũng như cho hoạt động đầu tư nói chung
Tháng 12 năm 1987, trong điều kiện Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trong thời kỳ này, đầu tư nước ngoài được coi là biện pháp quan trọng để mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới nhằm phát triển nền kinh tế quốc dân, đồng thời, là biện pháp được
sử dụng nhằm khai thác có hiệu quả tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước để đẩy mạnh xuất khẩu Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được soạn thảo dựa trên nguyên tắc rút kinh nghiệm Điều lệ đầu tư năm 1977, xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam, có
1 Xem những nội dung cơ bản của Luật đầu tư - NXB tư pháp Hà Nội, 2006, trang 9
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tham khảo và chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới Các quy định của Luật đã thể hiện vai trò, vị trí, tác dụng
của việc đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế quốc dân Ngay sau khi ra đời, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã có ảnh hưởng mạnh tới việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh tế mới với nhiều thành phần kinh tế
Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót trong việc thi hành cũng như trong bản thân nội dung Luật Cụ thể là, với các đối tác trong nước Luật dường như chỉ áp dụng cho các tổ chức kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, hạn chế về kinh tế tư nhân Các văn bản dưới luật chưa được ban hành kịp thời Mặt khác, Luật ra đời vào thời điểm chúng
ta chưa có đạo luật cơ bản về kinh tế, do đó, môi trường pháp lý cho đầu
tư nước ngoài nói chung còn biểu hiện tiềm ẩn của sự thiếu ổn định
Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, ngày 30 tháng 6 năm
1990, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam theo hướng khuyến khích và tạo thêm điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư nước ngoài Với những sửa đổi lần này, các quy định của Luật không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam mà còn cho các đối tác trong nước được hưởng những điều kiện tương tự để mở rộng hợp tác với nước ngoài Vấn đề về mọi thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế tư nhân lần đầu được quy định một cách rõ nét: “các tổ chức
kinh tế tư nhân Việt Nam được hợp tác kinh doanh với các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong lĩnh vực và điều kiện do Hội đồng Bộ trưởng quy định” Luật cũng khẳng định chính sách của Nhà nước Việt Nam nhằm
đáp ứng lợi ích của các bên: Nhà nước Việt Nam không những bảo đảm
an toàn cho vốn đầu tư mà còn giảm thuế để bảo đảm lợi nhuận cho các nhà đầu tư khi tỷ suất của họ thấp hơn so với các xí nghiệp khác trong ngành; khuyến khích các nhà đầu tư chuyển giao công nghệ tiên tiến và đầu tư số vốn lớn vào Việt Nam; khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu hoặc sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu Đến năm 1992, sau hai năm
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
triển khai thực hiện Luật, nhiều vấn đề pháp lý đã phát sinh, phần nào làm cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài, vì vậy, để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra, chúng ta cần phải tiếp tục sửa đổi và hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài
Thực hiện chủ trương nêu trên, ngày 23 tháng 12 năm 1992, Quốc
hội dã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm mở rộng cho mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư Trong lần sửa đổi này, vấn đề tư nhân tham gia hoạt động đầu tư với nước ngoài được nêu một cách cụ thể hơn, rõ ràng hơn và có tính khả thi hơn Bên Việt Nam là
“một bên gồm một hoặc nhiều doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế”, gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, các doanh nghiệp được thành lập theo Luật công ty, doanh nghiệp tư nhân được thành lập theo Luật doanh nghiệp tư nhân
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 đã bổ sung một số hình thức đầu tư nước ngoài mới, hình thức khu chế xuất và hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao Đồng thời, Luật cũng khẳng định rằng, trong trường hợp do thay đổi quy điịnh của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi ích của
các bên tham gia hợp tác đầu tư thì Nhà nước Việt Nam sẽ “có biện pháp giải quyết thỏa đáng đối với quyền lợi của nhà đầu tư”
Năm 1996, khi nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài đã bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục Mặt khác, cùng với quá trình xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật đồng bộ, từ năm 1994, một số luật mới lần lược ban hành, trong đó, môi trường đầu tư, kinh doanh được quy định chặt chẽ hơn và đi cùng với hệ thống này, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng cần được sửa đổi,
bổ sung trên cơ sở quán triệt đường lối nhất quán, nhằm khuyến khích
các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước Việt Nam: “bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi hợp pháp khác của nhà đầu tư nước
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ngoài; tạo điều kiện thuận lợi và quy định thủ tục đơn giản, nhanh chóng cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam”
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày
12 tháng 11 năm 1996 thể hiện chủ trương của Nhà nước đối với việc cải cách các thủ tục hành chính Luật lần này được sửa đổi theo hướng giảm một số ưu đãi những sửa đổi này, cùng với những quy định chặt chẽ hơn một số luật kinh tế khác đã góp phần làm giảm sút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, đồng thời góp phần tăng cường tính hấp dẫn và cạnh tranh của môi trường đầu tư, chặn đà giảm sút của đầu tư nước ngoài, thực hiện tốt các dự án đã được cấp phép đầu
tư và thu hút thêm đâù tư mới, tạo điều kiện để nước ta tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, ngày 09 tháng 6 năm 2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trên cơ sở kế thừa, bổ sung, đổi mới và hoàn thiện quy định của các luật đã ban hành, các nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật đã đem lại cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam sự ổn định và thông thoáng hơn so với nhiều quy định trước đây Các quy định này có tác dụng khuyến khích hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các đối tác trong nước tham gia đầu tư
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 sửa đổi được ban hành được tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kinh doanh, mở rộng tự chủ trong
tổ chức quản lý của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; bổ sung một số ưu đãi về thuế đối với dự án đầu tư nước ngoài
Trước khi Luật khuyến khích đầu tư trong nước ra đời, chính sách
về đầu tư vào các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn cần được khuyến khích
và ưu đãi đầu tư tuy đã được quy định trong một số vă bản của Nhà
2 Xem những nội dung cơ bản của Luật đầu tư - NXB tư pháp Hà Nội, 2006, trang 16
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nước, nhưng chưa đầy đủ, còn bị phân tán, chưa thành hệ thống chặt chẽ, đồng bộ nên chưa tạo điều kiện để nhân dân yên tâm, mạnh dạn bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế Đồng thời cho đến khi Luật khuyến khích đầu tư trong nước được ban hành, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã ban hành được hơn 6 năm (vào năm 1987) và đã được sửa đổi, bổ sung hai lần (vào năm 1990 và 1992) có quy định về ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, nên trong chừng mực nhất định đã tạo ra tình trạng kinh doanh không bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
Luật khuyến khích đầu tư trong nước được Quốc hội thông qua ngày 22 tháng 6 năm 1994 là văn bản có tính pháp lý đầu tiên điều chỉnh toàn diện các quan hệ chủ yếu về khuyến khích đầu tư trong nước ở Việt Nam Văn bản này ra đời khẳng định về mặt pháp lý ở tầm văn bản có hiệu lực cao, tư tưởng độc lâp, tự chủ, tự lực, tự cường của Đảng và Nhà nước ta trong phát triển kinh tế Vốn đầu tư nước ngoài tuy quan trọng nhưng đối với toàn bộ quá trình phát triển, vốn đầu tư trong nước vẫn là yếu tố quyết định Việc huy động vốn đầu tư trong nước không chỉ nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn làm tăng thêm sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài vào chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta Khuyến khích đầu tư trong nước có hiệu quả cùng là gián tiếp thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Khuyến khích đầu tư trong nước ra đời có tác dụng động viên mọi nguồn vốn tiềm tàng của nhân dân đầu tư phát triển kinh doanh, đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành và vùng theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống của nhân dân
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, Luật bộc lộ một số hạn chế, như môi trường đầu tư chưa thông thoáng, thủ tục còn nhiều phiền hà, mức
độ khuyến khích và ưu đãi đầu tư chưa thật hấp dẫn, các nhà đầu tư chưa thật yên tâm nên chưa mạnh dạn bỏ vốn vào những lĩnh vực, ngành, nghề
và địa bàn, nhất là ở những vùng còn nhiều khó khăn cũng như đối với các dự án đầu tư chiều sâu, mở rộng quy mô sản xuất, chế biến nông sản,
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thực phẩm… Điều này đã hạn chế việc phát huy nội lực để phát triển kinh tế - xã hội, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước,đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đị hoá theo tinh thần các văn kiện, nghị quyết của Đảng
Từ đòi hỏi của thực tiễn, nhằm tiếp tục tạo môi trường pháp lý thuận lợi, khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ doanh nghiệp và nhân dân phát huy nội lực, đẩy mạnh đầu tư có hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; bảo đảm thực hiện bình đẳng, đồng bộ các chính sách, biện pháp khuyến khích, ưu đãi đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tạo động lực mới thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc huy động các nguồn vốn trong nước, góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, đổi mới công nghệ và tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngày 20 tháng 5 năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi)
Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 (sửa đổi) khẳng định: “Nhà nước bảo hộ, khuyến khích, đối xử bình đẳng và tạo điều kiện
thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo pháp luật Việt nam ”
Luật đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là huy động
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh
Trong lần sửa đổi này, Luật bổ sung cam kết của Nhà nước Việt Nam đối với tài sản và vốn hợp pháp của nhà đầu tư không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính, quy định lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư được “bảo lưu” trong trường hợp thay đổi quy định của pháp luật không
có lợi cho nhà đầu tư; sửa đổi bổ sung quy định về hỗ trợ đất đai cho các nhà đầu tư, hỗ trợ tín dụng, một số hình thức hỗ trợ khác…; bổ sung hình thức đầu tư trong nước thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh, bổ sung quy định quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ và dịch vụ - kỹ thuật là tài sản để góp vốn đầu tư; đầu tư chiều sâu được mở
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
rộng và cụ thể hoá thêm bằng việc bổ sung đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất, cải thiện môi trường sinh thái, di chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi
đô thị, đa dạng hoá các ngành nghề, sản phẩm…
1.3 BAN HÀNH LUẬT ĐẦU TƯ ÁP DỤNG CHO CẢ ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI LÀ ĐÒI HỎI TẤT
Thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với việc ban hành và sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư như: Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật hợp tác xã, Luật dầu khí, Luật xây dựng, Luật đất đai, Luật ngân sách nhà nước… Các đạo luật này đã tạo nên một khung pháp lý quan trọng điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến hoạt động đầu tư phù hợp với đường lối, quan điểm của Đảng và thực tiễn phát triển kinh
tế - xã hội nước ta, cũng như phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; góp phần tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế
Tuy nhiên, do văn bản quy định về đầu tư được ban hành một cách riêng rẽ, có nhiều vấn đề còn thiếu nhất quán, trong các quy định còn có
sự phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư và các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nên đã hạn chế việc huy động và phát huy các nguồn lực, kể cả nguồn lực trong nước và ngoài nước Bên cạnh đó, thời gian vừa qua, Việt Nam đã ký kết và triển khai thực hiện nhiều hiệp định song phương và đa phương liên quan đến hoạt động đầu tư, trong đó đòi hỏi Việt Nam phải từng bước mở cửa thị trường, xoá bỏ các rào cản thuế quan, phi thuế quan hoặc các trợ cấp không phù hợp với cam kết quốc tế Do đó yêu cầu khách quan đặt ra là Việt Nam phải tiếp tục hoàn
3 Xem những nội dung cơ bản của Luật đầu tư - NXB tư pháp Hà Nội, 2006, trang 21
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đơn giản, minh bạch , nhất quán, xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; xây dựng trình, tự thủ tục đơn giản thuận lợi không chỉ cho nhà đầu tư mà cho cả cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm chính sách đến được nhà đầu tư, tạo lòng tin cho nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh
tế hăng hái tự tin sử dụng mọi nguồn lực cho đầu tư kinh doanh
Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài mà trụ cột là xây dựng một Luật đầu tư thống nhất quy định cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài là một đòi hỏi tất yếu, khách quan của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Đáp ứng yêu cầu đó, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI vừa qua,
Quốc hội đã xem xét, thông qua Luật đầu tư Luật đầu tư được ban hành
sẽ thay thế cho Luật đầu tư tại Việt Nam và Luật khuyến khích đầu tư trong nước
1.4 QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA VIỆC BAN HÀNH LUẬT ĐẦU
đó, các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy tối đa nội lực
4 Xem những nội dung cơ bản của Luật đầu tư - NXB tư pháp Hà Nội, 2006, trang 23
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; đẩy mạnh cổ phần hoá, sắp xếp đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước, xoá bỏ sự phân biệt đối xử bất hợp
lý giữa các nhà đầu tư
Kế thừa và phát huy những tư duy mới, kinh nghiệm tốt từ những nhân tố mới trong đời sống kinh tế - xã hội; nội dung của Luật không xoá
bỏ hoặc đi ngược lại mà phát triển, làm sâu sắc thêm những cải cách, đổi mới và tiến bộ đã đạt được trong thời gian qua
Mở rộng và phát triển quyền tự do kinh doanh, bảo đảm quyền chủ động, tự quyết định của nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư Các nhà đầu
tư và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều có quyền đầu tư và kinh doanh trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm; có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh; được lựa chọn hoặc thay đổi hình thức đầu tư, phương thức tổ chức quản lý nội bộ thích ứng yêu cầu kinh doanh và được pháp luật bảo hộ Nhà nước tôn trọng quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân
Tiếp tục đổi mới phương thức quản lý của nhà nước, nhất là thủ tục hành chính, đối với hoạt động đầu tư Cơ quan quản lý nhà nước phải coi việc khuyến khích, hướng dẫn, trợ giúpdoanh nghiệp là chức năng chính, coi nhà đầu tư và doanh nghiệp là đối tượng phục vụ, áp dụng phổ biến chế độ đăng ký “thay cho cấp phép”, giảm hơn nữa những quy định mang tính “xin - cho” hoặc “phê duyệt” hoặc “chấp thuận” bất hợp lý, không cần thiết, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho các nhà đầu tư Nhà nước có các biện pháp bảo đảm và hỗ trợ để các nhà đầu tư yên tâm, phấn khởi đầu tư và tạo điều kiện để các hoạt động đầu
tư có hiệu quả, đúng pháp luật Cần quy định rõ và đủ chi tiết về trách nhiệm, về quan hệ giữa cơ quan nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp, cũng như các chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của nhà đầu tư hoặc của cơ quan, công chức nhà nước
Phù hợp với đặc điểm, trình độ nền kinh tế chuyển đổi của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; phù hợp với lộ trình cam kết trong các thoả thuận đa phương và song
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
phương mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia và tối huệ quốc; đồng thời góp phần vào việc hình thành môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, bình đẳng, đủ sức hấp dẫn và có tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực và thế giới
1.5.1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Kế thừa các quy định của pháp luật về đầu tư, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, thể hiện sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế , Luật đầu tư mở rộng phạm vi điều chỉnh, bao gồm tất cả các hoạt động đầu tư ở Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, trong đó điều chỉnh cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp; đầu tư từ nguồn vốn nhà nước và của tư nhân; đầu tư của nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể: Luật đầu tư quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư ; khuyến khích
và ưu đãi đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài (Điều 1 Luật đầu tư)
Đối tượng áp dụng của Luật đầu tư là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài; tổ chức, cá nhân liên hoan đến hoạt động đầu tư
1.5.2 Chính sách cơ bản về đầu tư
Luật đầu tư quy định các chính sách cơ bản về đầu tư tại Điều 4 Trong đó chính sách đầu tư được quy định là: nhà đầu tư được đầu tư trong lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được tự chủ và
5 Xem những nội dung cơ bản của Luật đầu tư - NXB tư pháp Hà Nội, 2006, trang 30
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
quyết định hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam Đây
là nguyên tắc rất quan trọng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khi tiến hành quá trình đổi mới doanh nghiệp và đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh mới Cùng với việc tiếp tục khẳng định nguyên tắc “Nhà nước Việt Nam công nhận và bảo hộ quyền sở hữu đối với tài sản,vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư, thừa nhận
sự tồn tại và phát triển lâu dài của các hoạt động đầu tư”; tạo điều kiện thuận lợi và quy định thủ tục đơn giản, nhanh chống đối với hoạt động đầu tư Luật khẳng định nguyên tắc “nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu
tư trong nước và đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư” Nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn vốn đầu tư và công nghệ nước ngoài, đồng thời loại hạn chế đối với sự tham gia của các bên nước ngoài vào doanh nghiệp trong nước, chính sách này sẽ tạo các cơ hội cho cả nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Bên cạnh các nguyên tắc, chính sách khuyến khích đầu tư nêu trên, Luật cũng khẳng định “nhà nước cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu
tư mà Việt Nam là thành viên Nhà nước khuyến khích và có chính sách
ưu đãi đối với đầu tư vào lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư”
1.5.3 Bảo đảm đầu tư
Mục đích cơ bản của một cơ chế bảo đảm đầu tư là nhằm tạo lòng tin cho các nhà đầu tư, để nhà đầu tư yên tâm khi bỏ vốn đầu tư Luật khẳng định sự tuân thủ nguyên tắc của Hiến pháp là “vốn đầu tư và tài sản hợp pháp của nhà đầu tư không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính” Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh và lợi ích quốc gia nhà nước trưng mua, trưng dụng thì nhà đầu tư được thanh toán và được bồi thường theo giá thị trường và
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
phải bảo đảm lợi ích hợp pháp cũng như không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư Đối với nhà đầu tư nước ngoài việc thanh toán hoặc bồi thường còn được thực hiện bằng đồng tiền tự do chuyển đổi và được quyền chuyển ra nước ngoài (được quy định tai Điều 6 của Luật đầu tư) Đáp ứng yêu cầu của quá trình đàm phán gia nhập WTO và phù hợp với quy định trong các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Luật quy định cam kết của Nhà nước Việt Nam về việc mở cửa thị trường đầu tư phù hợp với lộ trình đã cam kết Đồng thời, Nhà nước Việt Nam không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu ưu tiên mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước; xuất khẩu hàng hoá hoặc xuất khẩu dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng, giá trị loại hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước; nhập khẩu hàng hoá với số lượng và giá trị hàng hoá xuất khẩu hoặc phải tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu; đạt được tỷ lệ nội địa hoá nhất định trong hàng hoá sản xuất; đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trị nhất định trong hoạtđộng nghiên cứu và phát triển ở trong nước; cung cấp hàng hoá, dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài; đặt trụ sở chính ở một địa điểm cụ thể (Điều 8) Đây là điểm rất quan trọng mà các nước đối tác đàm phán WTO rất quan tâm, quy định này thể hiện sự nổ lực của Nhà nước trong việc tạo ra sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xoá bỏ dần những bảo hộ theo yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế
Trước đây khi đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài nói riêng và các tổ chức, cá nhân nước ngoài nói chung thường bị áp dụng giá, phí khi sử dụng hàng hoá, dịch vụ trong nước cao hơn so với tổ chức, cá nhân là người Việt Nam Điều này tạo sự bất bình đẳng, phân biệt đối xử giữa tổ chức, cá nhân là nước ngoài và Việt Nam, gây ra sự cảng trở đối với hoạt động đầu tư vì vậy, Luật đầu tư đã quy định “trong quá trình hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nhà đầu tư được áp dụng thống nhất giá, phí, lệ phí đối với hàng hoá, dịch vụ do nhà nước kiểm soát” (Điều 10 Luật đầu tư)
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Một nội dung quan trọng được quy định tại Điều 11 Luật đầu tư là
“vấn đề bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách” Theo đó, trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư
đã được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu đãi theo quy định mới Trường hợp pháp luật, chính sách mới đó làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước
đó thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi như quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một hoặc một số các biên pháp như tiếp tục được hưởng các quyền lợi, ưu đãi; được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế, được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án…
1.5.4 Giải quyết tranh chấp và áp dụng pháp luật nước ngoài
Trong Luật khuyến khích đầu tư trong nước cũng như Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa có quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư Đáp ứng yêu cầu thực tiễn tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư, Luật đầu
tư đã bổ sung quy định về vấn đề này nhằm xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập, minh bạch, không thiên vị Theo đó, tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Toà án theo quy định của pháp luật Luật làm rõ cơ chế giải quyết các tranh chấp giữa các nhà đầu tư có hoặc không có yếu tố nước ngoài; tranh chấp giữa các nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam, cụ thể:
- Tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau hoặc với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua Trọng tài hoặc Toà án Việt Nam
- Tranh chấp mà một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với nhau được giải quyết thông qua Toà án Việt Nam, Trọng tài Việt Nam, Trọng tài nước ngoài, Trọng tài quốc tế hoặc Trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam được giải quyết thông qua trọng tài hoặc toà án Việt Nam, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng được ký giữa đại diện cơ quan nhà nước
có thẩm quyền với nhà đầu tư nước ngoài hoặc trong điều ước quốc tế
mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Luật đầu tư cũng quy định và làm rõ hơn việc áp dụng pháp luật đầu
tư, điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế, theo đó:
- Hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Hoạt động đầu tư đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó
- Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên có quy định khác với quy định của Luật đầu tư thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó
- Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, trong trường hợp pháp luật Việt Nam chưa có quy định, các bên có thể thoả thuận trong hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế nếu việc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
1.5.5 Quyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư
Một điểm mới trong quy định của Luật đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài là nhà đầu tư có quyền lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư. Với quy định này, các nhà đầu tư nước ngoài có quyền tự chủ cao hơn trong thực hiện kinh doanh, trong cơ cấu lại, mở rộng và đa dạng hoá ngành, nghề kinh doanh Bảo đảm tính minh bạch, công khai của chính sách pháp luật, Luật khẳng định nhà đầu tư có quyền tiếp cận các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến đầu tư; các dữ liệu của nền
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
kinh tế quốc dân, của từng khu vực kinh tế và các thông tin kinh tế - xã hội khác có liên quan đến hoạt động đầu tư; góp ý kiến về pháp luật,
chính sách liên quan đến đầu tư
Bên cạnh các quyền về đầu tư đã được khẳng định trong Luật, trong hoạt động đầu tư, nhà đầu tư còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về thủ tục đầu tư; thực hiện hoạt động đầu tư theo đúng nội dung đăng ký đầu tư, nội dung quy định tai Giấy chứng nhận đầu tư và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung đăng ký đầu tư, hồ sơ
dự án đầu tư và tính hợp pháp của các văn bản xác nhận Nhà đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; thực hiện quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán và thống kê; thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm, lao động; tôn trọng danh dự, nhân phẩm, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của người lao động; tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động thành lập, tham gia tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật (Điều 20 Luật đầu tư)
1.5.6 Hình thức đầu tư
Theo quy định của Luật đầu tư, nhà đầu tư có thể đầu tư dưới hình thức đầu tư trực tiếp - nhà đầu tư tham gia trực tiếp vào hoạt động và quản lý hoạt động đầu tư - và hình thức đầu tư gián tiếp - nhà đầu tư không trực tiếp tham gia điều hành quản lý quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư - trong đó:
- Theo quy định tại Điều 21, hoạt động đầu tư trực tiếp có thể được thực hiện thông qua các hình thức sau đây: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
xây dựng - chuyển giao (BT); Đầu tư phát triển kinh doanh; Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia hoạt động quản lý đầu tư; đầu tư thực hiện sáp nhập và mua lại doanh nghiệp; Các hình thức đầu tư trực tiếp khác
- Theo quy định tại Điều 26, hoạt động đầu tư gián tiếp có thể được thực hiện thông qua các hình thức sau đây: Đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các chứng khoán khác theo quy định của pháp luật; Đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; Đầu
tư thông qua các định chế tài chính trung gian khác
Với quy định này có thể thấy, Luật đầu tư mở rộng hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, theo đó, bên cạnh các hình thức đầu tư hiện hành (hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài), nhà đầu tư nước ngoài được thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần công ty hợp danh theo Luật doanh nghiệp, đầu tư gián tiếp, góp vốn trực tiếp vào các tổ chức kinh tế, sáp nhập và mua lại công ty, chi nhánh…Đây là hướng mở rộng nhằm đạt tới mục tiêu không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
1.5.7 Lĩnh vực, địa bàn đầu tư
Lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư được xây dựng căn cứ vào mục tiêu chiến lược, các ưu tiên phát triển của nền kinh tế, tập trung vào các lĩnh vực: sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin; cơ khí chế tạo; nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; làm muối; sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng, giống vật nuôi mới; sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái; nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao; sử dụng nhiều lao động; xây dựng và phát triển kết cấu
hạ tầng, các dự án quan trọng, có quy mô lớn; phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao và văn hoá dân tộc; phát triển ngành nghề truyền thống…(Điều 27)
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nhà nước khuyến khích đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế (Điều 28) Bên cạnh các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi, khuyến khích đầu tư, Luật đầu tư quy định về lĩnh vực đầu tư có điều kiện gồm một số lĩnh vực sản xuất dịch vụ tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội; lĩnh vực tài chính ngân hàng, lĩnh vực tác động đến sức khoẻ cộng đồng; văn hoá thông tin, báo chí, xuất bản, dịch vụ giải trí, kinh doanh bất động sản; khảo sát tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái; phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo (Điều 29) Đồng thời, Luật đầu tư quy định cấm các dự án đầu tư gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, lợi ích công cộng, di tích lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam; gây tổn hại đến sức khoẻ nhân dân, làm huỷ hoại tài nguyên, phá huỷ môi trường; về xử
lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hoá chất độc hại hoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế (Điều 30)
Để cụ thể hoá lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư, lĩnh vực đầu tư có điều kiện, lĩnh vực cấm đầu tư và có những thay đổi hợp lý, phù hợp với thực tế, cuộc sống, Luật đầu tư giao Chính phủ căn cứ vào quy hoạch, định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và cam kết trong các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư, Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện, Danh mục lĩnh vực cấm đầu tư, Danh mục địa bàn ưu đãi đầu tư Để bảo đảm cho các quy định về ưu đãi đầu tư được áp dụng thống nhất trong cả nước, tránh việc hạn chế hoặc quy định các điều kiện, lĩnh vực ưu đãi tuỳ tiện ở mỗi ngành, mỗi địa phương, Luật quy định các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) không được ban hành quy định lĩnh vực cấm đầu tư , lĩnh vực đầu
tư có điều kiện và các ưu đãi đầu tư vượt khung quy định của pháp luật (Điều 31)
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.5.8 Ưu đãi, hổ trợ đầu tư
1.5.8.1 Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là một trong những nội dung cơ bản của các đạo luật về đầu tư,là công cụ, chính sách nhằm thu hút đầu tư hoặc định hướng đầu tư theo những mục tiêu phát triển nhất định Ưu đãi đầu tư không chỉ có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư mà ưu đãi đầu tư
có thể tác động đến cơ cấu đầu tư Trong thực tế có rất nhiều ưu đãi đầu
tư dành cho các nhà đầu tư, trong đó phổ biến nhất là ưu đãi liên quan đến thuế doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và được thể hiện thông qua hình thức thuế suất ưu đãi, miễn thuế Đồng thời có một số ưu đãi khác xung quanh vấn đề lao động, việc làm, ưu đãi về đào tạo, ưu đãi theo vùng… Thực tế cho thấy, sự đơn giản, minh bạch của hệ thống chính sách ưu đãi có ý nghĩa thực sự quan trọng; ngược lại, một hệ thống chính sách ưu đãi không rõ ràng, phức tạp sẽ làm giảm mục đích của hoạt động ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Xây dựng một hệ thống chính sách ưu đãi đơn giản, minh bạch và
áp dụng thống nhất cho cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, đồng thời bảo đảm sự phù hợp trong các quy định của pháp luật hiện hành không tạo ra sự chồng chéo, mâu thuẩn giữa các văn bản pháp luật là mục tiêu mà Luật đầu tư hướng tới Theo đó, Luật đầu tư quy định các
ưu đãi liên quan đến thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, nhập khẩu), chuyển lổ, khấu hao tài sản cố định, sử dụng đất (các điều từ Điều 33 đến Điều 36); giao Chính phủ quy định ưu đãi cho các nhà đầu
tư đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế (Điều 37) Trong đó, ưu đãi về thuế, về sử dụng đất được dẫn chiếu đến các luật chuyên ngành Cụ thể: thuế suất ưu đãi, thời hạn hưởng thuế suất ưu đãi, thời gian miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế; nhà đầu tư được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, vật tư, phương tiện vận tải và hàng hoá khác để thực hiện dự án đầu tư tại Việt
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nam theo quy định của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thời hạn sử dụng đất, miễn giảm tiền thuê đất, sử dụng đất, thuế sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai… Đồng thời, Luật đầu
tư quy định về hỗ trợ đầu tư trong chuyển giao công nghệ và đào tạo
1.5.8.2 Thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư
Bảo đảm tự chủ trong hoạt động của nhà đầu tư và nhằm thực hiện cải cách hành chính trong việc cấp ưu đãi, bảo đảm tính đồng bộ giữa các quy định của Luật đầu tư với các Luật khác có liên quan, tránh tình trạng cấp ưu đãi không xác với thực tế triển khai dự án đầu tư, Điều 38 Luật đầu tư quy định về thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư như sau:
- Đối với dự án đầu tư trong nước thuộc diện không phải đăng ký đầu tư
và dự án thuộc diện đăng ký đầu tư, nhà đầu tư căn cứ vào các ưu đãi và điều kiện ưu đãi đầu tư theo
quy định của pháp luật để tự xác định ưu đãi và làm thủ tục hưởng ưu đãi đầu tư tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trường hợp nhà đầu tư
có yêu cầu xác nhận ưu đãi đầu tư thì làm thủ tục đăng ký đầu tư để cơ quan nhà nước quản lý đầu tư ghi ưu đãi đầu tư vào Giấy chứng nhận đầu tư
- Đối với dự án đầu tư trong nước thuộc diện thẩm tra đầu tư đáp ứng điều kiện được hưởng ưu đãi, cơ quan nhà nước quản lý đầu tư ghi ưu đãi đầu tư vào Giấy chứng nhận đầu tư
- Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện được hưởng
ưu đãi, cơ quan nhà nước quản lý đầu tư ghi ưu đãi đầu tư vào Giấy chứng nhận đầu tư
1.5.9.Thủ tục đầu tư
Một trong những giải pháp mà Việt Nam áp dụng nhằm tăng cường thu hút đầu tư là đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo môi trường thông thoáng, thuận tiện cho các nhà đầu tư từ khâu cấp phép đến quản lý hoạt
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
động của các nhà đầu tư, bảo đảm tính hiệu quả và thống nhất Nhiều dự
án trước đây thuộc diện phải lập dự án đầu tư để thẩm định cấp phép đầu
tư, nay được chuyển sang diện đăng ký đầu tư theo mẫu và đăng ký để được cấp Giấy chấp thuận đầu tư Với quy định mới về thủ tục cấp phép đầu tư sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng gia nhập thị trường, đơn giản hoá thủ tục đầu tư, các nhà đầu tư có thể thực hiện nhiều dự án khác nhau
Theo Luât đầu tư, thì căn cứ vào tính chất, tầm quan trọng, quy mô
và nguồn vốn đầu tư, dự án đầu tư được chia thành: dự án thuộc diện không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư và dự án thuộc diện thẩm tra đầu
tư Thủ tục đầu tư cụ thể như sau:
Đối với dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu tư dưới mười lăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư không phải
làm thủ tục đăng ký đầu tư (khoản 1 Điều 45)
Đối với dự án đầu tư trong nước có quy mô vốn đầu tư từ mười lăm
tỷ đồng Việt Nam đến dưới ba trăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư chỉ cần làm thủ tục đăng ký đầu tư theo mẩu trước khi thực hiện dự án đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh Trường hợp nhà đầu tư có yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư (khoản 2 Điều 45)
Nội dung đăng ký đầu tư bao gồm: tư cách pháp lý của nhà đầu tư; mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư; vốn đầu tư; nhu cấu sử dụng đất và cam kết về bảo vệ môi trường; kiến nghị ưu đãi đầu
tư (nếu có)
Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vốn đầu tư dưới
ba trăm tỷ đồng Việt Nam và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư chỉ cần làm thủ tục đăng ký đầu tư theo mẫu để được cấp Giấy chứng nhận trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký đầu tư hợp lệ tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp (Điều 46)
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Hồ sơ đăng ký đầu tư gồm: văn bản về các nội dung như tư cách pháp lý của nhà đầu tư, mục tiêu quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu
tư, vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, nhu cầu sử dụng đất và cam kết
về bảo vệ môi trường, kiến nghị ưu đãi đầu tư (nếu có); báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư ; hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, Điều lệ doanh nghiệp (nếu có)
Đối với dự án đầu tư trong nước,dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vồn đầu tư từ ba trăm tỷ đồng Việt Nam trở lên và dự án thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì phải thực hiện thủ tục thẩm tra
để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư Thời hạn thẩm tra đầu tư không quá ba mươi ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp cần thiết, thời hạn thẩm tra có thể kéo dài nhưng không quá bốn mươi lăm ngày (các điều 47, 48, 49) Các loại dự án phải thực hiện thủ tục thẩm tra để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư được chia làm ba loại:
Dự án có quy mô vốn đầu tư từ ba trăm tỷ đồng Việt Nam trở lên và thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện; Dự án có quy mô vốn đầu
tư từ ba trăm tỷ đồng Việt Nam trở lên và không thuộcDanh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện; Dự án có quy mô vốn đầu tư dưới ba trăm tỷ đồng Việt Nam và thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện
Thủ tục thẩm tra đầu tư đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ ba trăm tỷ đồng Việt Nam trở lên và thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện như sau:
Hồ sơ gồm: Giải trình điều kiện mà dự án đầu tư phải đáp ứng; văn bản đề nghị cấp Giấy chứng nhận đầu tư; văn bản xác nhận tư cách pháp
lý của nhà đầu tư; báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư; giải trình kinh tế - kỹ thuật với các nội dung về mục tiêu, địa điểm đầu tư, nhu cầu
sử dụng đất, quy mô đầu tư, vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, giải pháp công nghệ, giải pháp về môi trường
Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hồ sơ còn bao gồm hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, Điều lệ doanh nghiệp (nếu có)
Nội dung thẩm tra bao gồm: các điều kiện mà dự án đầu tư phải đáp ứng; các nội dung về: sự phù hợp với quy hoạch kết cấu hạ tầng - kỹ
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thuật, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng khoán sản và các nguồn tài nguyên khác; nhu cầu sử dụng đất; tiến độ thực hiện dự án; giải pháp về môi trường
Đối với dự án có quy mô vốn đầu tư từ ba trăm tỷ đồng Việt Nam trở lên và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện cũng phải làm thủ tục thẩm tra để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với hồ sơ dự
án và nội dung thẩm tra tương tự trường hợp dự án có quy mô vốn đầu tư
từ ba trăm tỷ đồng Việt Nam trở lên và thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư
có điều kiện (như đã trình bày ở trên) Tuy nhiên, trong hồ sơ dự án và nội dung thẩm tra đối với trường hợp này không có nội dung về điều kiện
mà dự án phải đáp ứng
Thủ tục thẩm tra đối với dự án có quy mô vốn đầu tư dưới ba trăm
tỷ đồng Việt Nam và thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện như sau:
Hồ sơ dự án gồm: Giải trình điều kiện mà dự án đầu tư phải đáp ứng; tư cách pháp lý của nhà đầu tư; mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư; vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án; nhu cầu sử dụng đất và cam kết về bảo vệ môi trường; kiến nghị ưu đãi đầu tư (nếu có) Đối với nhà đầu tư nước ngoài, hồ sơ còn bao gồm báo cáo năng lực tài chính của nhà đầu tư; hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh, Điều lệ doanh nghiệp (nếu có)
Nội dung thẩm tra bao gồm: các điều kiện mà dự án đầu tư phải đáp ứng
Dự án có vốn đầu tư nước ngoài có quy mô vón đầu tư dưới ba trăm tỷ đồng Việt Nam và thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện,
cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đăng ký đầu tư hợp lệ
Đối với dự án quan trọng quốc gia thì quốc hội quyết định chủ chương đầu tư và quy định trình tự, thủ tục thẩm tra và cấp Giấy chứng nhận đầu
tư (Điều 47)
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có
dự án đầu tư và làm thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý về đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận kinh doanh Trường hợp thành lập tổ chức kinh tế mà có nhu cầu thực hiện dự án đầu
tư tiếp theo thì không phải thành lập tổ chức kinh tế mới Đối với dự án đầu tư trong nước thì khi thành lập tổ chức kinh tế không cần phải có dự
án (Điều 50)
1.5.10 Điều chỉnh dự án đầu tư
Để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư có thể điều chỉnh dự án đầu tư phù hợp với từng giai đoạn và phục vụ cho công tác quản lý của nhà nước đối với các dự án đầu tư, Điều 51 Luật đầu tư quy định về việc điều chỉnh dự án đầu tư Theo đó, khi có nhu cầu điều chỉnh dự án đầu tư liên quan đến mục tiêu, quy mô, địa điểm, hình thức, vốn, thời hạn dự án thì nhà đầu tư thực hiện thủ tục sau đây:
- Đối với dự án đăng ký đầu tư, nhà đầu tư tự quyết định và đăng ký nội dung điều chỉnh cho cơ quan nhà nước quản lý đầu tư cấp tỉnh trong thời hạn mười ngày kể từ ngày quyết định điều chỉnh;
- Đối với dự án thuộc diện thẩm tra đầu tư, nhà đầu tư nộp văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư cho cơ quan nhà nước quản lý đầu tư theo thẩm quyền để xem xét điều chỉnh
Văn bản đề nghị điều chỉnh dự án đầu tư bao gồm các nội dung về tình hình thực hiện dự án, lý do điều chỉnh, những thay đổi so với nội dung đã thẩm tra
Cơ quan nhà nước quản lý đầu tư thông báo cho nhà đầu tư việc điều chỉnh chứng nhận đầu tư trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận
đủ hồ sơ hợp lệ Việc điều chỉnh dự án đầu tư được thực hiện dưới hình thức điều chỉnh, bổ sung nội dung vào Giấy chứng nhận đầu tư
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.5.11 Triển khai thực hiện dự án đầu tư
Triển khai thực hiện dự án đầu tư là khâu quan trọng trong quá trình đầu tư Để hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai dự án nhanh chóng, Luật đầu
tư quy định như sau:
- Đối với nhà đầu tư có yêu cầu sử dụng đất, nhà đầu tư liên hệ với cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền nơi thực hiện dự án để thực hiện thủ tục giao đất hoặc thuê đất Trình
tự thủ tục giao đất, thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai
- Đối với trường hợp nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật
về đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng trước khi giao đất hặc cho nhà đầu
Trường hợp nhà đầu tư đã có thoả thuận với người sử dụng đất về việc bồi thường, giải phóng mặt bằng mà người sử dụng đất không thực hiện các nghĩa vụ như đã thoả thuận thì Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền nơi có dự án đầu tư có trách nhiệm tổ chức thực hiện giải phòng mặt bằng trước khi bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư theo quy định của pháp luật
- Đối với dự án đầu tư phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật về đất đai mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất
Để bảo đảm hoạt động đầu tư hiệu quả, phục vụ công tác quản lý của nhà nước, Luật đầu tư quy định nhà đầu tư khi tạm ngừng dự án đầu
tư phải thông báo với cơ quan nhà nước quản lý đầu tư để được xác nhận
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
làm cơ sở cho việc xem xét miễn, giảm tiền thuê đất trong thời hạn tạm ngừng dự án Đối với dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư sau mười hai tháng mà nhà đầu tư không triển khai hoặc không có khả năng thực hiện theo tiến độ đã cam kết và không có lý do chính đáng thì bị thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư
Một dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động khi có một trong các trường hợp sau đây: hết thời hạn hoạt động ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư; Theo các điều kiện chấm dứt hoạt động được quy định trong hợp đồng, Điều lệ doanh nghiệp hoặc thoả thuận, cam kết của các nhà đầu tư về tiến
độ thực hiện dự án; Nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động của dự án; Chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan nhà nước quản lý đầu tư hoặc theo bản án, quyết định của Toà án, Trọng tài do vi phạm pháp luật
1.5.12 Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước
Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước là một hoạt động quan trọng trong đầu tư Vốn nhà nước bao gồm vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển
của Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước Nhằm bảo đảm hiệu
quả của hoạt động đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, chống thất thoát, đầu
tư dàn trải và chống khép kín, tăng hiệu quả đầu tư sử dụng vốn nhà nước, Luật đầu tư quy định việc đầu tư kinh doanh vốn nhà nước phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
- Đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ;
- Đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước phải đúng mục tiêu và có hiệu quả, bảo đảm có phương thức quản lý phù hợp đối với từng nguồn vốn, từng loại dự án đầu tư, quá trình đầu tư phải được thực hiện công khai, minh bạch;
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Việc sử dụng vốn nhà nước để đầu tư hoặc liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư thẩm định và chấp thuận;
- Phân định rõ trách nhiệm, quyền của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong từng khâu của quá trình đầu tư; thực hiện phân công, phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư, kinh doanh sử dụng vốn nhà nước;
- Thực hiện đầu tư đúng pháp luật, đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát, khép kín
Luật đầu tư quy định việc sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước vào tổ chức kinh tế được thực hiện thông qua Tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước để thống nhất đầu mối và có thể quản lý chặt chẽ việc sử dụng và kinh doanh vốn nhà nước Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên, công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty nhà nước độc lập hoặc thành lập mới Luật đầu tư giao Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
1.5.13 Đầu tư ra nước ngoài
Khắc phục những hạn chế về hình thức, phạm vi, đối tượng và nâng cao hiệu lực pháp lý của quy định hiện hành về việc đầu tư ra nước ngoài, Luật đầu tư có một chương quy định về vấn đề đầu tư ra nước ngoài Theo đó, nhà đầu tư được đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước tiếp nhận đầu tư; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài và bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư Việt Nam ở nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư được tiếp cận nguồn vốn tín dụng trên cơ
sở bình đẳng, không phân biệt, đối xử giữa các thành phần kinh tế; bảo