Việc nghiên cứu đề tài này trước hết là giúp cho người đọc và ngân hàng thương mại trong nước hiểu rõ hơn về những quy định của pháp luật liên quan đến các tỉ lệ đảm bảo an toàn do Ngân
Trang 1Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
MÃ KIM LỢI MSSV: 5075042 Lớp: Luật thương mại 1-K33
Cần thơ, tháng 4 năm 2011
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈ LỆ ĐẢM BẢO AN TOÀN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC 4
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 4
1.2 Khái niệm về tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại .6
1.3 Mục đích của việc quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại 7
1.3.1 Đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng vốn mang nhiều rủi ro 7
1.3.2 Đảm bảo an toàn cho những người sử dụng các dịch vụ của ngân hàng thương mại 9
1.4 Quy định về tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại qua các thời kỳ .11
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỈ LỆ ĐẢM BẢO AN TOÀN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC .12
2.1 Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng thương mại 12
2.1.1 Quy định của pháp luật về tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng thương mại .12
2.1.2 Những yếu tố cấu thành nên tỉ lệ đảm bảo an toàn vốn tối thiểu 12
2.1.3 So sánh tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại trong nước; Ngân hàng Chính sách xã hội; Ngân hàng Phát triển Việt Nam; quỹ tín dụng nhân dân cơ sở .22
2.2 Giới hạn góp vốn mua cổ phần của ngân hàng thương mại trong nước 24
2.3 Giới hạn tín dụng đối với ngân hàng thương mại trong nước 28
2.3.1 Giới hạn bảo lãnh .28
2.3.2 Xác định một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan và giới hạn cho vay 33
2.3.3 Giới hạn chiết khấu 35
2.4 Tỉ lệ về khả năng chi trã của ngân hàng thương mại trong nước .34
2.4.1 Tỉ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn 37
2.4.2 Tỉ lệ tối thiểu giữa giá trị tài sản có thể thanh toán ngay 38
Trang 3“Nợ”có thể thanh toán ngay trong thời hạn bảy (07)
ngày làm việc tiếp theo 39
2.5 Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại trong nước .41
CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỈ LỆ ĐẢM BẢO AN TOÀN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONGNƯỚC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 42
3.1 Nhận xét quy định của pháp luật về tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại trong nước .42
3.2 Giải pháp đề xuất 49
3.2.1 Đối với các Ngân hàng thương mại 51
3.2.2 Đối với Ngân hàng nhà nước 52
KẾT LUẬN 53
Trang 4GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 4 SVTH:Mã Kim Lợi
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ rất sớm, Ủy ban Basel1 đã xây dựng chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả trong hoạt động ngân hàng nhằm chuẩn mực hoá hoạt động ngân hàng trong trào lưu toàn cầu hoá Tiêu chí đầu tiên đánh giá khả năng tham gia vào thị trường vốn quốc tế hiện nay là mức độ tuân thủ chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu Theo Hiệp ước Basel 22
Mặc khác, Theo lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2010, về cơ bản Việt Nam sẽ mở cửa kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng, các hạn chế đối với các ngân hàng nước ngoài dần được tháo dỡ, thị trường tài chính của Việt Nam trở thành một phần thị trường tài chính của khu vực và thế giới3 Hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại dịch vụ tài chính làm cho “sân chơi” của các ngân hàng thương mại rộng hơn và “luật chơi” mới công bằng hơn vì thế một phần nào đó sự khác biệt trong chuẩn mực kiểm soát hoặc mức độ đáp ứng thấp hơn theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ dẫn tới
sự thiếu đồng bộ và ngăn cản quá trình hội nhập củng như là giảm sức cạnh tranh của
hệ thống ngân hàng Việt Nam
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)4, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng thương mại trong nước nói riêng đã có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về tiền
tệ và hoạt động ngân hàng cũng như nâng cao năng lực quản trị điều hành, đặc biệt là năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại tiến dần từng bước đến các thông lệ và chuẩn mực quốc tế Theo đó, việc từng bước áp dụng các chuẩn mực của Basel 2 được đặc biệt chú trọng, nhất là sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu thời gian qua5 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã có nhiều qui định nhằm nâng cao mức độ an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng trên cơ sở
1 Basel là Ủy ban Giám sát ngân hàng do các Ngân hàng Trung ương các nước G10 thành lập năm 1975 dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Thanh toán quốc tế Các thành viên của Ủy ban này gồm Anh, Hoa kỳ, Canada, Úc, Bỉ, Luxemembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy sỹ và Ý
2
Sau một thời gian hoạt động, Ủy ban Basel đã nghiên cứu và đưa ra các yêu cầu về an toàn vốn, được ban hành lần đầu vào năm 1988 và gọi là Hiệp ước Basel 1 Năm 1999, Ủy ban đã đề ra 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hữu hiệu, đây là những nguyên tắc tối thiểu và được xem là tài liệu để các cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng và các nhà quản lý tài chính tham khảo Do những hạn chế của Basel 1, một Hiệp ước mới
đã được thông qua vào năm 2001 và gọi là Hiệp ước Basel 2 đây là chuẩn mực mà các ngân hàng trên thế giới hướng đến
3 Trong cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO- World Trade Oganization), đến năm 2010 Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn các dịch vụ cho ngân hàng nước ngoài
Trang 5GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 5 SVTH:Mã Kim Lợi
quán triệt quan điểm “tổ chức tín dụng là doanh nghiệp đặc biệt, cần được quản lý một cách đặc biệt và tiếp cận sát với thông lệ quốc tế về các yêu cầu bảo đảm an toàn trong
hoạt động ngân hàng” Cùng với việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành quy định mới về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng (Thông tư
số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 19/2010/TT-NHNH ngày 27/09/2010 Quy định về tỉ lệ đảm bảo an toàn của tổ chức tín dụng thay thế cho Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng ) Điểm quan trọng trong Thông tư 13 này là: Nâng tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro từ 8% (theo Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN) lên 9%6 Thông tư này có vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường tính an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung, triệt để thực hiện các qui định Basel 2.
Việc quy định tỉ lệ đảm bảo an toàn mới đã góp phần nâng cao nâng lực hội nhập quốc tế và củng cố an toàn cho hệ thống ngân hàng nhưng cũng đặc ra cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trước nhiều thách thức như:
- Thay đổi chiến lược kinh doanh để thực hiện chính sách mới;
- Phải tạo được sự căn bằng trong việc nâng cao hiệu quản kinh doanh và đảm bảo được tỉ lệ an toàn
Vì những lý do trên mà tác giả quyết định chọn đề tài “Quy định của pháp luật Việt Nam về tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại trong nước” để làm đề tài luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này trước hết là giúp cho người đọc và ngân hàng thương mại trong nước hiểu rõ hơn về những quy định của pháp luật liên quan đến các tỉ lệ đảm bảo an toàn do Ngân hàng Nhà nước đưa ra mà các tổ chức tín dụng nói chung và ngân hàng thương mại trong nước nói riêng cần phải đảm bảo Hơn nữa, tác giả cũng cho họ thấy được những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng các tỉ lệ đảm bảo an toàn, qua đó đề xuất một số giải pháp khắc phục những khó khăn trên nhằm thúc đẩy sự phát triển an toàn cho các hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng nhằm mở rộng kiến thức chuyên môn và xã hội cho bản thân tác giả
3 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
6 Khoản 1 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
Trang 6GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 6 SVTH:Mã Kim Lợi
Do những hạn chế nhất định về nguồn tài liệu tham khảo, thời gian cũng như kiến thức nên trong đề tài luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại trong nước Từ đó nhận
xét và đề xuất một số chủ trương, chính sách, pháp luật mà Ngân hàng Nhà nước cần phải thực hiện trong thời gian tới với mục đích nâng cao tính an toàn cho hệ thống ngân hàng thương mại trong nước
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt luận văn này, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp phân tích , so sánh, tổng hợp tài liệu từ sách, báo, tập chí, tra cứu dữ liệu từ internet bên cạnh việc tham khảo những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Thêm vào đó, tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích câu chữ từ những quy định của pháp luật để cho bài viết được rõ ràng hơn
5 Kết cấu đề tài “Quy định của pháp luật Việt Nam về tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại trong nước” gồm có:
Tài liệu tham khảo
Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc xây dựng bài viết nhưng do thời gian nghiên cứu cũng như khả năng tiếp cận nguồn thông tin còn hạn chế nên bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô thông cảm và đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn thiện hơn Nhân đây em xin chân thành cảm ơn đơn vị Khoa luật trường Đại học Cần thơ đã tạo điều kiên thuận lợi cho em hoàn thành luận văn này Đồng thời, em cũng xin cảm ơn cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã giúp đỡ em trong thời gian qua để em có thể hoàn thành tốt luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn thầy cô
Trang 7GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 7 SVTH:Mã Kim Lợi
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỈ LỆ ĐẢM BẢO AN TOÀN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC 1.2 Khái quát về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại
đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Về khái niệm
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại :
Ở Mỹ ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính Đạo luật ngân hàng của Pháp năm 1941 cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” Ở Việt Nam, tại Khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã xác định:"Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Các hoạt động mang tính nghiệp vụ của ngân hàng thương mại Việt Nam Các hoạt động mang tính nghiệp vụ của ngân hàng thương mại bao gồm tất cả các hoạt động kinh doanh mà nó thực hiện trong khuôn khổ luật định Các hoạt động này
có quan hệ chặc chẽ, hổ trợ lẫn nhau để hình thành hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Khi ngân hàng thương mại đi vào hoạt động ổn định, các nghiệp vụ được xen kẽ lẫn nhau trong suốt quá trình hoạt động, tạo thành một chỉnh thể thống nhất Các hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam được quy định từ Điều 98 đến Điều 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 Dựa vào tính chất của các hoạt động này ta có thể phân chia theo các nhóm sau:
Trang 8GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 8 SVTH:Mã Kim Lợi
- Nhóm 1: Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại: Là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội Trong nghiệp
vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay bao gồm:
o Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các
loại tiền gửi khác;
o Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài;
o Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước;
o Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính
- Nhóm 2: Nghiệp vụ sử dụng vốn của ngân hàng thương mại: Nghiệp vụ cho vay
và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm:
o Cấp tín dụng bao gồm: Cho vay, Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;
o Bảo lãnh ngân hàng;
o Góp vốn, mua cổ phần
- Nhóm 3: Một số công cụ và nghiệp vụ trung gian mang tính dịch vụ của ngân hàng thương mại: Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát triển hiện nay của ngân hàng thương mại Các hoạt động này gồm:
o Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng;
o Cung ứng các phương tiện thanh toán;
o Cung ứng các dịch vụ thanh toán bao gồm: Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận;
o Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế;
o Mở tài khoản;
o Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh
Trang 9GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 9 SVTH:Mã Kim Lợi
Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ ngân hàng theo đó cũng phát triển theo để
đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công chúng Thực hiện nghiệp vụ trung gian
mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho các ngân hang thương mại những khoản thu nhập
khá quan trọng Ở các nước phát triển, các ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau
trên con đường “phi giá”, tức là luôn có những dịch vụ mới cung cấp cho khách hàng,
không ngừng tìm tòi các hình thức dịch vụ mới , tạo sự phong phú, đa dạng Đặc biệt,
đây là lĩnh vục ít rủi ro.Tuy nhiên, dịch vụ ngân hàng của các ngân hàng thương mại
Việt Nam còn đơn điệu, nghèo nàn, tính tiện ích chưa cao, chưa tạo thuận lợi và bình
đẳng cho khách hàng thuộc các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận và sử dụng dịch
vụ khách hàng Tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu tạo thu nhập cho các
ngân hàng, các nghiệp vụ như môi giới, thanh toán dịch vụ qua ngân hàng, môi giới
kinh doanh, tư vấn dự án chưa phát triển
Về hình thức tổ chức của ngân hàng thương mại trong nước
Ngân hàng thương mại trong nước được tổ chức dưới các hình thức sau7:
- Ngân hàng thương mại cổ phần (joint Stock Commercial bank): Là ngân hàng
thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần Trong đó một cá nhân hay
pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo qui định của ngân hàng Nhà
nước Việt nam
- Ngân hàng thương mại Quốc doanh (ngân hàng thương mại Nhà nước): Là
ngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% vốn ngân sách Nhà nước, được tổ
chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
1.2 Khái niệm về tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại trong nước
Tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại là mức giới hạn được tín theo
tỉ lệ % (phần trăm) dựa trên các hoạt động mang tính nghiệp vụ của các ngân hàng
thương mại (được nêu ở trên) do các Ngân hàng Trung ương, với tư cách là cơ quan
quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng buộc các
ngân hàng thương mại phải thực hiện nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân
hàng vốn mang nhiều rủi ro và đồng thời bảo vệ người ký thác
Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư
13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về các tỷ lệ
bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng được sửa đổi bổ sung một
số Điều bởi Thông tư 19/2010/TT-NHNN ngày 27/09/2010, thay thế cho Quyết định
457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
7 Điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010
Trang 10GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 10 SVTH:Mã Kim Lợi
Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, Quyết định 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/01/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN, Quyết định
số 34/2008/QĐ-NHNN ngày 05/12/ 2008 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 Nhằm cụ thể hóa Luật Các tổ chức tín dụng năm 20108 và điều tiết hoạt động nội bộ của các tổ chức tín dụng để nâng cao hơn nữa khả năng bảo đảm an toàn cho hệ thống ngân hàng; phù hợp với các khuyến nghị cơ bản của Basel 2 và thông lệ quốc tế Theo đó ngân hàng thương mại phải duy
trì các tỷ lệ bảo đảm an toàn sau đây9 :
-Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu;
1.3 Mục đích của việc quy định các tỷ lệ đảm bảo an toàn
1.3.1 Đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng vốn mang nhiều rủi ro
Trong nền kinh tế tập trung trước đây, không có sự cạnh tranh nên rủi ro trong kinh doanh không được đề cập đến Do vậy, nhiều yếu tố then chốt trong hoạt động quản lý rủi ro không được chú ý thích đáng, các hoạt động của mỗi ngân hàng được thực hiện theo các chỉ thị nghiệp vụ chính xác nhằm bảo đảm sự hoạt động thống nhất
và nhất quán từ trên xuống tận cơ sở Ngoài ra hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế
kế hoạch đặc ra những khái niệm, những nguyên tắc chuẩn mực còn ít ỏi, hay khác đi nhiều so với hệ thống ngân hàng các nước trên thế giới nên có sự cách biệt quá xa so với thế giới
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro được xem như là một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động của các doanh nghiệp và hơn mội doanh nghiệp khác, ngân hàng phải đối phó với các loại rủi ro từ mọi nguồn gốc Do vậy, tỷ lệ đảm bảo an toàn
có mục tiêu:
8
Điều 130 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn của tổ chức tín dụng
9 Khoản 1 Điều 1 Thông tư 19/2010/TT-NHNN
Trang 11GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 11 SVTH:Mã Kim Lợi
Đảm bảo khắc phục rủi ro tín dụng
Là rủi ro không thu được nợ khi đến hạn, nó liên quan đến quy mô các khoản mục cho vay, các kỳ hạn thích hợp và các hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như: Các hoạt động bảo lãnh, cam kết, chấp thuận, tài trợ thương mại, tín dụng thuê mua… 10 Ngày nay, dù có rất nhiều hình thức kinh doanh mới trong hoạt động của các ngân hàng thương mại ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng tín dụng vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng này Ở nước ta, thu nhập từ hoạt động tín dụng hiện vẫn chiếm trên/dưới 90%11 tổng thu nhập của từng ngân hàng thương mại Vì thế ở tất cả các nước rủi ro tín dụng là vấn đề đặc biệt quan tâm không chỉ trong phạm vi các ngân hàng thương mại, mà cả trong toàn nền kinh tế các ngân
hàng luôn tìm kiếm cực đại lợi nhuận qua việc tìm kiếm những khoản lợi tức cao nhất
có thể có từ việc cho vay Đồng thời cố gắng giảm thiểu rủi ro Nhưng dẫu sao, không một ngân hàng nào có thể nghĩ được hết mọi sự bất ngờ khi nó viết ra những quy định hạn chế vào một hợp đồng cho vay; sẻ luôn luôn có những hoạt động rủi ro của người vay tiền
Rủi ro tín dụng thường xãy ra thường tạo cho ngân hàng những tổn thất về tài chính Thực ra, các giới hạn do Luật tín dụng thành văn và các quy định hành chính đều không đem lại câu trả lời cho nhiều câu hỏi liên quan đến quy mô các khoản mục cho vay của một ngân hàng Các câu hỏi liên quan đến quy mô các khoản mục cho vay, các kỳ hạn thích hợp và các hình thức cho vay chưa có lời giải vì thế các ngân hàng cần phải duy trì quỹ dự trữ cho các khoản tín dụng tổn thất Vì khoản dự trữ này góp phần bảo vệ người ký thác, nên đã hình thành “vốn tự có” và được xem là nguồn vốn quan trọng của ngân hàng
Đảm bảo khắc phục rủi ro thanh toán
Mặc dầu khó nhận ra một cách chính xác các nguyên nhân của những vụ phá sản của các ngân hàng thương mại, lịch sử của các vụ phá sản rõ ràng cho thấy các điều kiện mất khả năng thanh toán cũng là một nguyên nhân góp phần quan trọng Và hậu quả là có thể kéo theo toàn bộ hệ thống sụp đổ vì hoạt động ngân hàng có liên quan mật thiết đối với nền kinh tế
Một ngân hàng đều có khã năng thanh toán càng nhiều khi có tỉ lệ dự trữ bắt buộc cao tại Ngân hàng Trung ương12, cùng với khả năng tăng vốn nhanh từ các nguồn
10 Gs.Ts Lê Văn Tư , Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb Tài chính, 2005, tr 636
11
http://www1.tvsi.com.vn/faq.asp?channelid=8&newsid=165
12
Điều 14 Luật Ngân hàng Nhà nước quy định:
-Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Trang 12GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 12 SVTH:Mã Kim Lợi
khác nhau khiến nó có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ chi trả Nên giữ bao nhiêu thanh khoản, giữ nó dưới hình thức nào là mối quan tâm thường xuyên của các Ngân hàng Trung ương với tư cách là cơ quan quản lý tiền tệ và hoạt động của tổ chức tín dụng để đưa ra chính sách hợp lý đảm bảo khả năng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Các ngân hàng thương mại phải tuân theo các yêu cầu về dự trữ pháp định (dự trữ bắt buộc) chẳng hạn như: Dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND của các tổ chức tín dụng (Quyết định 379/QĐ-NHNN ngày 24/2/2009 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc điều chỉnh tỉ lệ dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng); các hệ số an toàn
do Ngân hàng Trung ương quy định (Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010
quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng )… Ngân hàng thương mại có khả năng thanh khoản tốt, hay nói cách khác là ngân hàng không
gặp rủi ro thanh khoản khi luôn có được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần vì vậy việc yêu cầu về mức “vốn tự có” tối thiểu đủ
để sẵn sàng bù đắp những rủi ro tiềm ẩn trong quá trình hoạt động kinh doanh trong điều kiện thông thường là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo hoạt động bình thường cho
hệ thống ngân hàng
Hơn hai thập kỷ qua, kể từ khi hệ thống ngân hàng Việt Nam thực hiện quá trình cải cách, các ngân hàng thương mại đã có bước phát triển mới cả về lượng và chất, nhưng vấn đề rủi ro thanh khoản dường như chưa được quan tâm đúng mức Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Ngân hàng Nhà nước cần thực hiện là đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng
1.3.2 Đảm bảo an toàn cho những người sử dụng các dịch vụ của ngân hàng thương mại
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Các
tổ chức tín dụng có trách nhiệm tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền, bảo đảm thanh toán đủ, đúng hạn góc và lãi của các khoản tiền đó” Tuy nhiên, với sức ép cạnh tranh và cơ chế khoán trong kinh doanh dẫn tới nhiều trường hợp nới lỏng điều kiện vay vốn để giành giật khách hàng, cho vay không đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn Công tác thẩm định dự án đầu tư cho vay không tốt, qua loa và có nhiều trường hợp có hành vi gian lận, móc ngoặc Hoạt động ngân hàng chủ yếu là đi vay để cho vay dùng tiền vay của người gửi tiền để đầu tư sinh lợi Nhiều ngân hàng chạy theo lợi nhuận họ chọn những danh mục đầu tư rủi ro cao nhưng đem lại tỷ suất sinh lời cao và nếu hoạt động đầu tư đó thua lổ hoặc mắt trắng thì dẫn đến mất khả năng thanh khoản
-Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Trang 13GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 13 SVTH:Mã Kim Lợi
không thể đáp ứng nhu cầu rút tiền hoặc trã lãi cho người gửi tiền, lúc đó người gửi tiền sẽ bị thiệt thòi Để trách tình trạng trên, Ngân hàng Trung ương buộc các tổ chức tín dụng phải hạn chế đầu tư vào những lĩnh vục chứa nhiều rủi ro như đầu tư chứng khoán hay kinh doanh bất động sản bằng cách nâng “hệ sổ rủi ro” trong các lĩnh vực này
1.4 Quy định về tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại qua các thời kỳ
Kể từ khi thống nhất đất nước, Việt Nam bắt đầu tiến trình tự do hóa tài chính kể
từ khi công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 198613 Ban đầu, hệ thống tài chính trong nước dường như được tự do hóa hoàn toàn, kể từ khi hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI năm 1987 cho phép “thực hiện mạnh mẽ chính sách huy động vốn trong dân, trong các tổ chức kinh tế bằng nhiều hình thức, nhiều kênh bảo đảm lợi ích của người gửi” Ở thời điểm này, các tổ chức tín dụng được huy
động vốn hoàn toàn tự do mà không có bất kỳ một quy định nào về đảm bảo an toàn Hậu quả tất yếu là cả hệ thống sụp đổ do không quan tâm đến kỳ hạn thanh toán của các khoản nợ vì nó hoạt động theo kiểu “tiền của người gửi sau được sử dụng để trả lãi cho người gửi tiền trước”
Những quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam đầu tiên được thể hiện trong Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 Một số quy định cơ bản đã có nhưng còn khá thô sơ như “tổ chức tín dụng không được huy động vốn quá 20 lần tổng số vốn tự có
và quỹ dự trữ”14 thay vì sử dụng hệ số đủ vốn theo quy định của Basel 1 được ban hành năm 198815
Do những quy định về đảm bảo an toàn theo Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã và công ty tài chính năm 1990 phần vì còn thô sơ, phần không có được chế tài một cách nghiêm minh cộng với những yếu tố khác làm cho Việt Nam gặp rắc rối với hệ thống ngân hàng lần thứ hai cùng thời điểm với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997-199816 trong khu vực Mặc khác, do quy định về sở hữu không rõ ràng nên một
số ngân hàng bị biến thành đơn vị trực thuộc hay “sân sau” của các doanh nghiệp Kết quả vốn huy động được của ngân hàng lại cho chính chủ sở hữu ngân hàng vay đầu tư
và tiến hành những hoạt động kinh doanh rủi ro Một số ngân hàng mất khả năng chi
Trang 14GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 14 SVTH:Mã Kim Lợi
trả nên Chính phủ phải giao các Ngân hàng thương mại Nhà nước đứng ra xử lý Rất may là quy mô các ngân hàng gặp vấn đề còn tương đối nhỏ và cách xử lý được đưa ra kịp thời nên không gây ra hiệu ứng lây lan dẫn đến sụp đổ cả hệ thống như đã xãy ra ở nhiều nơi trên thế giới
Những chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng khá chi tiết vào Việt Nam kể từ khi Quốc hội ban hành Luật Các tổ chức tín dụng 1997 được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 20/2004/QH11 ngày 15/06/2004, những chỉ tiêu về đảm bảo an toàn theo Basel 1 và một số chuẩn mực khác đã được đưa vào Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định 296/1999/QĐ-NHNN ngày 25/8/1999 về giới hạn cho vay đối với một khách hàng và Quyết định 297/1999/QĐ-NHNN ngày 25/8/1999 ban hành Quy định về tỉ lệ bảo đảm
an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng sau đó được sửa đổi bởi Quyết định 381/2003/QĐ-NHNN ngày 23/4/2003; Quyết định 492/2000/QĐ-NHNN ngày
28/11/2000 ban hành Quy định về việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng Các Quyết định trên đã được thay thế bởi Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 ban hành Quy định về tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007 và Quyết định 43/2008/QĐ-NHNN ngày 05/12/2008 Các tỉ lệ bảo đảm an toàn yêu cầu tồ chức tín dụng phải tuân thủ theo Quyết định này bao gồm17:
- Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu;
- Giới hạn tín dụng đối với khách hàng;
đã làm cho các tổ chức tín dụng hầu như chưa đáp ứng được tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu Chính vì vậy đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải có những giải pháp kinh doanh hợp lí
và hiệu quả, cũng như phải thực hiện việc huy động vốn sở hữu nhằm đảm bảo tỉ lệ an
17
Khoản 1 Điều 1 Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN
18 Khoản 1 Điều 4 Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN
Trang 15GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 15 SVTH:Mã Kim Lợi
toàn vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật Từ khi Luật Các tổ chức tín dụng năm
2010 có hiệu lực thay thế cho Luật Các tổ chức tín dụng 1997 thì việc quản lý rủi ro trong hoạt động của các tổ chức tín dụng ngày càng được hoàn thiện hơn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 quy định
về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng được sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 19/2010/TT-NHNN ngày 27/09/2010 thay thế cho Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN So với Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, Thông tư này có chỉnh sửa bổ sung các quy định về tỷ lệ an toàn và một số quy định về hệ số rủi ro của tài sản “Có” của các tổ chức tín dụng Theo đó về tỷ lệ an toàn vốn được điều chỉnh lên 9% thay vì 8% như quy định tại Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, nhằm phù hơp với tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng hiện nay và tiến thêm một bước nữa trong việc tuân thủ chuẩn mực quốc tế (Basel 2)
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỈ LỆ ĐẢM BẢO AN TOÀN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC 2.1 Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng thương mại trong nước
2.1.1 Quy định của pháp luật về tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn tối thiểu
Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng thương mại ((CAR- capital adequacy ratio)) là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng thương mại.Tỉ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng thương mại và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả trong hoạt động của hệ thống tài chính Bằng tỉ lệ này người ta có thể xác định được khả năng của các ngân hàng thương mại khi thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán… Nó được tính theo tỉ lệ % (phần trăm) của tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2 so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng thương mại và được tính bởi công thức: CAR = [(Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] 19
Hiện nay, hệ số này là 9%20 tăng 1% so với Quyết Định 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng thương mại Từ công thức trên ta có thể suy luận,
19
Khoản 1 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
20 Khoản 1 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
Trang 16GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 16 SVTH:Mã Kim Lợi
nếu Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng hệ số CAR tức là Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng vốn tự có (vốn cấp 1+vốn cấp 2) hoặc là yêu cầu ngân hàng thương mại hạn chế tăng tổng tài sản
Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam yêu cầu các ngân hàng thương mại tăng vốn tối thiểu lên 3.000 tỷ đồng theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 về việc ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng- vì vốn điều lệ là một phần của vốn tự có của ngân hàng thương mại- nên việc làm này của Ngân hàng Nhà nước có thể coi là một vế của kế hoạch tăng hệ số an toàn cho toàn hệ thống Nhưng chỉ yêu cầu tăng vốn điều lệ là không đủ.Vì theo công thức trên ta thấy, nếu các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ đồng thời tăng tổng tài sản thì hệ số an toàn vốn có thể không tăng Vì vậy cần phải tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
2.1.2 Những yếu tố cấu thành nên tỉ lệ đảm bảo an toàn vốn tối thiểu
Theo công thức trên thì vốn tự có (vốn cấp 1+ vốn cấp 2) và tài sản “Có” được điều chỉnh theo hệ số rủi ro là những yếu tố cấu thành nên tỉ lệ đảm bảo an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng thương mại
2.1.2.1 Vốn tự có
Theo Khoản 10 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, vốn tự có được định nghĩa bao gồm: “Giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản “Nợ” khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước” Mặc dù vậy, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 không có bất kỳ quy định cụ thể nào về các tài sản “Nợ” khác Thông tư 13/2010/TT-NHNN kế thừa Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, cho phép các ngân hàng thương mại xác định vốn tự có của mình theo hai cấp Trong đó, về cơ bản vốn cấp 2 có độ an toàn thấp hơn so với vốn cấp 1
Vốn cấp 1 của ngân hàng thương mại về cơ bản gồm21 :
-Vốn điều lệ: Theo quy định tại khoản 6 Điều 4 Luật Doanh nghiệp nă m
2005 thì:“Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty” Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh với mức vốn pháp định do Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền ban hành Ngân hàng thương mại chỉ được cấp giấy phép khi có vốn điều lệ , vốn được cấp (đối với ngân hàng thương mại Nhà nước) tối thiểu bằng mức vốn pháp định22
Trang 17GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 17 SVTH:Mã Kim Lợi
-Lợi nhuận không chia: Lợi nhuận không chia được hiểu là phần lợi nhuận được xác định qua kiểm toán của tổ chức kiểm toán độc lập sau khi đã nộp thuế và trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật, được giữ lại để bổ sung vốn cho tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật Lợi nhuận không chia của ngân hàng thương mại cổ phần phải được Đại hội cổ đông thông qua23
- Các quỹ dự trữ: Được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của các ngân hàng thương mại như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển24
* Vốn cấp 1 được dùng để xác định giới hạn mua, đầu tư vào tài sản cố định của ngân hàng thương mại nhưng không được vượt quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ25
Vốn cấp 2 của ngân hàng thương mại về cơ bản bao gồm26:
-Phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của các ngân hàng thương mại (bao gồm 50% giá trị tăng thêm đối với tài sản cố định và 40% giá trị tăng thêm đối với các loại chứng khoán đầu tư);
-Nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (bao gồm trái phiếu chuyển đổi,
cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ thứ cấp nhất định);
- Quỹ dự phòng tài chính (tối đa bằng 1,25% tổng tài sản “Có” rủi ro): Quỹ dự phòng này được dùng để bù đấp các giá trị tổn thất sau khi đã bù đắp bằng tiền bồi thường của cá nhân, tập thể, của tổ chức bảo hiểm và sử dụng các dự phòng trích lập trong chi phí như: Dự phòng tổn thất các khoản đầu tư dài hạn (bao gồm cả giảm giá chứng khoán); dự phòng phải thu khó đòi; dự phòng trợ cấp mất việc làm (các khoản
dự phòng này được quy định tại Nghị định 146/2005/NĐ-CP ngày 23/11/2005 về chế
độ tài chính đối với các tổ chức tín dụng) nếu thiếu được bù đắp bằng quỹ dự phòng tài chính của ngân hàng thương mại27 Hàng năm ngân hàng thương mại phải trích từ lợi nhuận sau thuế để duy trì quỹ dự phòng tài chính28 với tỉ lệ là 10% lợi nhuận sau
- Các quỹ dự trữ khác theo quy định của pháp luật
- Ngân hàng thương mại không được dùng các quỹ trên để trã cổ tức cho cổ đông hoặc phân chia lợi nhuận cho chủ sở hữu, thành viên góp vốn
Điều 24 Nghị định 146/2005/NĐ-CP ngày 23/11/2005 về chế độ tài chính đối với các tổ chức tín dụng
28 Điều 139 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010
Trang 18GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 18 SVTH:Mã Kim Lợi
thuế nhưng số dư tối đa của qũy này không vượt quá 25% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại29
Một số hạn chế về vốn tự có:
-Tổng giá trị vốn cấp 2 tối đa bằng 100% tổng giá trị vốn cấp 1 và tổng giá trị trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và các công cụ nợ khác tối đa bằng 50% vốn cấp 130
- Theo quy định tại khoản 2.2 và Khoản 4 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN, ngân hàng thương mại phải trừ khỏi vốn tự có của mình :
o Toàn bộ phần giá trị giảm đi của các tài sản cố định hay chứng khoán đầu tư do định giá lại;
o Tổng số vốn góp hoặc cổ phần trong tổ chức tín dụng khác;
o Các khoản góp vốn, mua cổ phần của công ty con;
o Phần góp vốn, liên doanh, mua cổ phần của quỹ đầu tư, doanh nghiệp vượt mức 10% vốn tự có;
o Lỗ kinh doanh bao gồm các khoản lỗ lũy kế;
o Lợi thế thương mại: Là phần chênh lệch lớn hơn giữa số tiền mua một tài sản
tài chính và giá trị sổ sách kế toán của tài sản tài chính đó mà ngân hàng thương mại phải trả phát sinh từ việc sáp nhập doanh nghiệp có tính chất mua lại do ngân hàng thương mại thực hiện Tài sản tài chính này được phản ánh đầy đủ trên bảng cân đối của ngân hàng thương mại31
“Vốn tự có” của ngân hàng thương mại là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng Việc xác định vốn tự có theo hai cấp theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN sẽ cho phép các ngân hàng thương mại trong nước tính toán cụ thể
và nâng cao được mức vốn tự có của mình vốn dĩ trước đây phần lớn chỉ được tính trên cơ sở vốn cấp 1 Do vậy, hiện nay các ngân hàng thương mại cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc tuân thủ các tỷ lệ an toàn tính trên cơ sở vốn tự có Tuy nhiên, theo nhận định của TS Lê Xuân Nghĩa Phó Chủ tịch Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia thì vốn cấp 2 của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện còn hạn chế Theo ông, việc
Điểm 3.2 khoản 3 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
31 Khoản 14 Điều 2 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
Trang 19GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 19 SVTH:Mã Kim Lợi
đánh giá lại tài sản cố định của các ngân hàng thương mại Việt Nam hàng năm để tính lại vốn tự có là chưa thực hiện32
2.1.2.2 Tổng tài sản “Có” được điều chỉnh theo hệ số rủi ro
Tài sản “Có”: Là phần sử dụng nguồn vốn đưa vào kinh doanh và duy trì khả năng thanh toán của một ngân hàng thương mại 33;
Tài sản “Có” rủi ro: Là những khoản mục tài sản được phản ánh trong và ngay bảng tổng kết tài sản34 có thể tổn thất trong quá trình kinh doanh như cho vay không thu hồi được nợ, ngân hàng thương mại phải trã tiền cho khách hàng được bảo lãnh, giá trị chứng khoán giảm….35
Tài sản “Có” được điều chỉnh theo hệ số rủi ro: Được tính bằng tích số (x) giữa giá trị tài sản “Có” rủi ro và hệ số rủi ro tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định36.Theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN thì các hệ số này lần lượt là 0%,20%, 50%, 100%,150%, 250%
Căn cứ ban hành hệ số rủi ro của tài sản “Có”
- Mức độ rủi ro của tài sản “Có”
Tài sản của ngân hàng thương mại tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ, tiền mặt gửi tại Ngân hàng
Trung ương, các khoản đầu tư…Tuy nhiên, không phải tài sản nào của ngân hàng thương mại cũng có giá trị thanh khoản gióng nhau: Chẳng hạn như ngân hàng thương mại cho một nhà đầu tư vay để đầu tư kinh doanh chứng khoán khoản cho vay là tài sản của ngân hàng thương mại Tuy nhiên mức độ thanh khoản của tài sản này thấp hơn tài sản mà ngân hàng thương mại dùng để mua trái phiếu Chính phủ (Hiện nay các khoản đầu tư kinh doanh chứng khoán của ngân hàng thương mại có hệ số rủi ro là 250%, tài sản dùng để mua trái phiếu Chính phủ Việt Nam có hệ số rủi ro là 0%)
- Lĩnh vực hay khu vực mà Ngân hàng Nhà nước khuyến khích hoặc không khuyến khích các ngân hàng thương mại đầu tư
Để thực hiện chiến lượt phát triển kinh tế xã hội Ngân hàng Nhà nước khuyến khích các tổ chức tín dụng đầu tư vào lĩnh vực nào đó bằng cách quy định hệ số rủi ro cho các khoản đầu tư vào lĩnh vực này thấp và ngược lại Như vậy các ngân hàng thương
32
cua-basel.htm
Http://vneconomy.vn/20100919041453603p0c6/he-so-car-cac-ngan-hang-viet-nam-dam-bao-yeu-cau-moi-33
Gs.ts Lê Văn Tư, Ngân hàng thương mại ,Nxb Thống Kê, năm2000, tr518
34 Bảng tổng kết tài sản của ngân hàng thương mại là báo cáo tài chính tổng hợp, được trình bài dưới dạng cân đối, phản ánh tổng quát tình hình hoạt động của ngân hàng thương mại (Gs.Ts Lê Văn Tư, Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nxb Tài chính, 2005, tr 589)
35
Gs.ts.Lê Văn Tư, Ngân hàng thương mại, Nxb Thống Kê, 2000, tr519
36 Khoản 5 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
Trang 20GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 20 SVTH:Mã Kim Lợi
mại muốn đảm bảo đủ hệ số CAR thì họ phải chọn những khoản đầu tư có hệ số rủi ro thấp do Ngân hàng Nhà nước quy định để mẩu số (tổng tài sản có rủi ro) giảm
Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước thường thiên về căn cứ thứ nhất khi xếp loại tài sản “Có” rủi ro vì như thế mới đảm bảo được tính khách quan Vì mục đích ban hành
hệ số rủi ro của tài sản “Có” là nhằm nâng cao độ an toàn cho hệ thống ngân hàng
Phân loại tài sản “Có”
Dựa vào tính chất của tài sản, tài sản “Có” rủi ro được phân thành:
- Các khoản tín dụng bị rủi ro: Là khoản rủi ro khi các ngân hàng thương mại thực hiện việc cấp tín dụng theo quy định của pháp luât
- Các khoản đầu tư bị rủi ro: Là khoản rủi ro khi các ngân hàng thương mại thực hiện việc đầu tư ra bên ngoài theo quy định của pháp luật
Dựa vào hình thức quản lý tài sản, tài sản “Có” rủi ro bao gồm:
- Tài sản “Có” rủi ro nội bảng: Hoạt động nội bảng được ghi lại trên bảng tổng kết tài sản của ngân hàng thương mại
- Tài sản “Có” tương ứng của cam kết ngoại bảng: Hoạt động ngoại bảng được ghi trên bảng tổng kết tài sản ngoại bảng
Theo quy định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN thì hiện nay chúng ta đang áp dụng cách phân loại thứ 2
2.1.2.2.1 Tài sản “Có” rủi ro nội bảng của ngân hàng thương mại
-Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam được bảo đảm bằng giấy tờ có giá
do chính ngân hàng thương mại phát hành; các khoản phải đòi được bảo đảm hoàn
Trang 21GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 21 SVTH:Mã Kim Lợi
toàn bằng tiền mặt, sổ tiết kiệm, tiền ký quỹ, giấy tờ có giá do Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước phát hành;
-Các khoản phải đòi đối với Chính phủ Trung ương, Ngân hàng Trung ương các nước thuộc OECD39;
- Các khoản phải đòi được bảo đảm bằng chứng khoán của Chính phủ Trung ương các nước thuộc OECD hoặc được bảo lãnh thanh toán bởi Chính phủ Trung ương các nước thuộc OECD
Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 20%
Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 20% của ngân hàng thương mại gồm40:
-Các khoản phải đòi đối với tổ chức tín dụng khác ở trong nước và nước ngoài, bao gồm các khoản phải đòi bằng ngoại tệ;
-Các khoản phải đòi đối với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các khoản phải đòi bằng ngoại tệ đối với Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước;
-Các khoản phải đòi bằng ngoại tệ được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do chính ngân hàng thương mại phát hành Các khoản phải đòi được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do ngân hàng thương mại khác thành lập tại Việt Nam phát hành;
-Các khoản phải đòi đối với tổ chức tài chính Nhà nước; các khoản phải đòi được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do các tổ chức tài chính Nhà nước phát hành;
-Kim loại quý (trừ vàng), đá quý;
-Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập ở các nước thuộc OECD và các khoản phải đòi được bảo lãnh thanh toán bởi các ngân hàng này;
-Các khoản phải đòi đối với các tổ chức tài chính quốc tế và các khoản phải đòi được các tổ chức này bảo lãnh thanh toán hoặc được bảo đảm bằng chứng khoán do các tổ chức này phát hành;
-Các khoản phải đòi đối với các công ty chứng khoán được thành lập ở các nước thuộc OECD có tuân thủ những thỏa thuận quản lý và giám sát về vốn trên cơ sở rủi ro và những khoản phải đòi được các công ty này bảo lãnh thanh toán;
40 Điểm 5.2 Khoản 5 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
Trang 22GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 22 SVTH:Mã Kim Lợi
-Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập ngoài các nước thuộc OECD, có thời hạn còn lại dưới một (01) năm và các khoản phải đòi có thời hạn còn lại dưới một năm được các ngân hàng này bảo lãnh thanh toán
Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 50%
Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 50% của ngân hàng thương mại gồm41: Các khoản phải đòi có bảo đảm toàn bộ bằng nhà ở, quyền sử dụng đất, nhà ở gắn với quyền sử dụng đất của bên vay hoặc những tài sản này được bên vay cho thuê nhưng bên thuê đồng ý cho bên cho thuê dùng làm tài sản thế chấp trong thời gian thuê
Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 100%
Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 100% của ngân hàng thương mại gồm42:
-Các khoản góp vốn, mua cổ phần, trừ các khoản góp vốn, mua cổ phần vào công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết;
-Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập ở các nước không thuộc OECD, có thời hạn còn lại từ một năm trở lên, và các khoản phải đòi có thời hạn còn lại từ một năm trở lên được các ngân hàng này bảo lãnh thanh toán;
-Các khoản phải đòi đối với Chính quyền Trung ương của các nước không thuộc OECD, trừ trường hợp cho vay bằng đồng bản tệ và nguồn cho vay cũng bằng đồng bản tệ của các nước đó;
-Các khoản đầu tư máy móc, thiết bị, tài sản cố định và bất động sản khác theo quy định của pháp luật
Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 150%
tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 150% của ngân hàng thương mại gồm43: Các khoản cho vay các công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết của ngân hàng thương mại
Theo quy định trên thì hệ số rủi ro của những khoản vay đối với các khoản cho vay các công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết của ngân hàng thương mại đã được nâng lên 150% thay vì 100% như Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN, việc Ngân hàng Nhà nước tăng hệ số rủi ro này nhằm hạn chế các ngân hàng thương mại sử dụng vốn huy động để tài trợ cho các doanh nghiệp có “quan hệ” với mình Đây là một biện pháp cần thiết để phòng ngừa các ngân hàng thương mại lạm dụng vốn huy động cho vay một cách thiếu kiểm soát Mặc dù vậy, quy định này sẽ gây sức ép lên việc tái
41
Điểm 5.3 Khoản 5 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
42
Điểm 5.4 Khoản Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
43 Điểm 5.5 Khoản 5 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
Trang 23GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 23 SVTH:Mã Kim Lợi
cơ cấu các khoản vay cho nên các ngân hàng thương mại cần thời gian và lộ trình để thực hiện
Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 250%
Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 250% của ngân hàng thương mại gồm44:
-Các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán;
-Các khoản cho vay các công ty chứng khoán;
-Các khoản cho vay nhằm mục đích kinh doanh bất động sản
Về quy định nhóm tài sản “Có” có hệ số rủi ro 250% đối với cho vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán, theo TS Nguyễn Đại Lai, Trung tâm thông tin tín dụng,
có thể làm các Ngân hàng thương mại bớt lãi: “Hệ số rủi ro tài sản “Có” quá lớn, sẽ làm tài sản “Có” sinh lời nhỏ đi và lợi nhuận nhỏ đi Tức ngân hàng thương mại phải
sử dụng nhiều vốn để phòng ngừa rủi ro, và vốn này không sinh lời Theo ông Lai việc quy định như trên thực chất là động thái nhằm kiểm soát hoạt động cho vay hai lĩnh vực nhạy cảm là chứng khoán và bất động sản45
Mặc khác, trong phần định nghĩa thuật ngữ tại Điều 2 Thông tư NHNN không định nghĩa rõ thế nào là cho vay đầu tư chứng khoán vì vậy khi các ngân hàng thương mại khi áp dụng quy định này phải xem xét hai văn bản hiện hành
13/2010/TT-đó là: Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 01/02/2008 về việc cho vay chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán và Luật Chứng khoán năm 2006 ngày 29/06/2006 được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 62/2010/QH12 ngày 24/11/2010 Thực tế, hệ số rủi ro tài sản có 250% đã được quy định tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN (Điều này hiện nay đã hết hiệu lực) Trong đó kinh doanh chứng khoán được định nghĩa khá rõ trong tại Điều
3 của Quyết định này Điểm đáng lưu ý là “chứng khoán” theo định nghĩa tại Khoản 1 Điều 25 Luật Chứng khoán năm 2006 bao gồm “trái phiếu của công ty đại chúng”46
Như vậy, nếu điều khoản này được thực thi một cách chặt chẽ sẽ ảnh hưởng đến việc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp Trong khi đó về bản chất trái phiếu ít rủi ro, nó tương tự như một khoản vay tín dụng
Ngoài ra, theo Khoản 9 Điều 2 của Thông tư 13/2010/TT-NHNN thì “kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư, tạo lập, mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua nhằm mục
44 Điểm 5.6 Khoản 5 Điều 5 Thông tư 13/2010/TT-NHNN
Trang 24GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 24 SVTH:Mã Kim Lợi
đích sinh lợi”, nếu theo quy định trên thì hệ số rủi ro là 250% đối với tất cả các khoản vay kinh doanh bất động sản Bất động sản ở đây không phân biệt là bất động sản đã hình thành hay là tài sản hình thành trong tương lai, cho vay bất động sản đã hình thành và cho vay bất động sản sẽ hình thành trong tương lai như vậy sẽ không phù hợp với mức độ rủi ro đối với từng loại tài sản khác nhau Ngân hàng Nhà nước nên quy định cụ thể hơn từng khoản mục kinh doanh chứng khoán hay bất động sản thì sẽ hợp
lý hơn Mặt khác điều này sẽ gây không ít khó khăn cho các ngân hàng thương mại vì hiện nay dưnợ cho vay kinh doanh bất động sản của các ngân hàng thương mại chiếm một tỷ lệ khá lớn trong danh mục cho vay (Theo ước tính từ Ngân hàng Nhà nước, đến hết ngày 31/12/2010, dư nợ cho vay để đầu tư kinh doanh bất động sản đạt khoảng 228.000 tỷ đồng Trong 10 tháng đầu năm 2010, tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản ở mức xấp xỉ tỷ lệ tăng trưởng tín dụng chung của toàn ngành ngân hàng)47
2.1.2.2.2 Tài sản “Có” tương ứng của cam kết ngoại bảng
Rủi ro ngoại bảng phát sinh khi ngân hàng thương mại nhận cam kết thực hiện các nghiệp vụ ngoại bảng Bởi vì khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng thương mại thực hiện cam kết ngay tại thời điểm ngân hàng gặp khó khăn về vốn hoặc tình trạng của khách hàng có thể xấu đi trong giai đoạn từ khi ngân hàng ký cam kết đến khi thực hiện cam kết
Hệ số chuyển đổi tín dụng cho từng giao dịch ngoại bảng là khác nhau Chúng được rút ra từ việc ước tính khả năng rủi ro tín dụng có thể xảy ra đối với từng giao dịch ngoại bảng Do đó hệ số chuyển đổi tín dụng có thể được xem là hệ số rủi ro của tài sản ngoại bảng
Tất cả các cam kết ngoại bảng phải được chuyển thành lượng tín dụng tương đương bằng cách nhân (x) lượng vốn góc danh nghĩa với hệ số chuyển đổi tín dụng Lượng vốn góc danh nghĩa này trước tiên phải được chuyển đổi từ giá trị ngoại bảng sang nội bảng theo các hệ số chuyển đổi 250%, 100%, 50%, 20% và 0% trước khi nhân (x) với các hệ số rủi ro (gồm 3 nhóm là 100%, 50% và 0%)48 Ví dụ, một khoản
bảo lãnh dự thầu có giá trị 1.000.000 Đồng có hệ số chuyển đổi là 50% và hệ số rủi ro
là 100% thì giá trị tài sản “Có” rủi ro tương ứng sẽ là (1.000.000 Đồng x 50% x 100%
Trang 25GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 25 SVTH:Mã Kim Lợi
- Cam kết ngoại bảng có hệ số chuyển đổi 100% của ngân hàng thương mại gồm các cam kết không thể hủy ngang, thay thế hình thức cấp tín dụng trực tiếp, nhưng có mức độ rủi ro như cấp tín dụng trực tiếp, gồm49:
o Bảo lãnh vay;
o Bảo lãnh thanh toán;
o Các khoản xác nhận thư tín dụng; thư tín dụng dự phòng bảo lãnh tài chính cho các khoản cho vay, phát hành chứng khoán; các khoản chấp nhận thanh toán bao gồm các khoản chấp nhận thanh toán dưới hình thức ký hậu, trừ các khoản chấp nhận thanh toán hối phiếu thương mại ngắn hạn, có đảm bảo bằng hàng hóa
- Cam kết ngoại bảng có hệ số chuyển đổi 50% gồm các cam kết không thể hủy ngang đối với trách nhiệm trả thay của tổ chức tín dụng, gồm50:
o Các cam kết khác có thời hạn ban đầu từ một (01) năm trở lên
- Cam kết ngoại bảng có hệ số chuyển đổi 20% của ngân hàng thương mại gồm các cam kết liên quan đến thương mại, gồm51:
o Thư tín dụng không hủy ngang;
o Chấp nhận thanh toán hối phiếu thương mại ngắn hạn, có bảo đảm bằng hàng hóa;
o Bảo lãnh giao hàng;
o Các cam kết khác liên quan đến thương mại
- Các cam kết ngoại bảng có hệ số chuyển đổi 0% của ngân hàng thương mại gồm52:
o Thư tín dụng có thể hủy ngang;
o Các cam kết có thể hủy ngang vô điều kiện khác
+ Hệ số chuyển đổi của các hợp đồng giao dịch lãi suất:
o Có kỳ hạn ban đầu dưới một (01) năm: 0,5%
o Có kỳ hạn ban đầu từ hai (02) năm đến dưới hai (02) năm: 1,0%
o Có kỳ hạn ban đầu từ hai (02) năm trở lên: 1,0% cho phần kỳ hạn dưới hai (02)
Điểm c Khoản 6.3 Mục 6 Điều 5
52 Điểm d Khoản 6.3 Mục 6 Điều 5
Trang 26GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 26 SVTH:Mã Kim Lợi
năm cộng thêm (+) 1,0% cho mỗi năm tiếp theo
+ Hệ số chuyển đổi của các hợp đồng giao dịch ngoại tệ:
o Có kỳ hạn ban đầu dưới một (01) năm: 2,0%
o Có kỳ hạn ban đầu từ một (01) năm đến dưới hai (02) năm: 5,0%
o Có kỳ hạn ban đầu từ hai (02) năm trở lên: 5,0% cho phần kỳ hạn dưới hai (02) năm cộng thêm (+) 3,0% cho mỗi năm tiếp theo
- Hệ số rủi ro của giá trị tài sản “Có” tương ứng của từng cam kết ngoại bảng của ngân hàng thương mại như sau53:
o Cam kết ngoại bảng được Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước bảo lãnh thanh toán hoặc được bảo đảm hoàn toàn bằng tiền mặt, sổ tiết kiệm, tiền ký quỹ, giấy
tờ có giá do Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước phát hành: Hệ số rủi ro là 0%;
o Cam kết ngoại bảng được bảo đảm bằng bất động sản: Hệ số rủi ro là 50%;
o Các hợp đồng giao dịch lãi suất, hợp đồng giao dịch ngoại tệ và cam kết ngoại bảng khác: Hệ số rủi ro là 100%
2.1.3 So sánh tỉ lệ đảm bảo an toàn của ngân hàng thương mại trong nước; Ngân hàng Chính sách xã hội; Ngân hàng Phát triển Việt Nam; quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Theo Khoản 1 Điều 1 Thông tư 13/2010/TT-NHNN thì “tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam, trừ Ngân hàng Chính sách xã hội; Ngân hàng phát triển Việt Nam
và qũy tín dụng nhân dân cơ sở, phải thường xuyên duy trì các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động quy định tại Thông tư này”
Ngân hàng Chính sách xã hội đã được thành lập theo Quyết định TTg ngày 4/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục
131/2002/QĐ-vụ người nghèo Việc thành lập ngân hàng chính sách xã hội là điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ là hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách cần vay vốn để giải quyết việc làm, đi lao động có thời hạn
ở nước ngoài và các tổ chức kinh tế, cá nhân hộ sản xuất, kinh doanh thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa54
Do hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; nguồn vốn do Chính phủ cấp và nhận nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi; hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân; các tổ chức kinh tế; tổ chức tài chính tín dụng; và các tổ chức chính trị - xã hội; các hiệp hội, các tổ chức phi Chính phủ trong nước và nước ngoài Ngoài ra, Hội đồng quản trị ngân hàng này là lãnh đạo các Bộ và cơ quan ngang Bộ nên hoạt động của
53
Điểm 6.4 Khoản 6 Điều 5
54 Điều 17 Luật Các tổ chức tín dụng 2010
Trang 27GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 27 SVTH:Mã Kim Lợi
Ngân hàng Chính sách xã hội khác biệt so với các ngân hàng thương mại khác Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán cho Ngân hàng Chính sách xã hội, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng này bằng 0% (không phần trăm), Ngân hàng Chính sách xã hội không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước Hiện nay, các Ngân hàng Chính sách xã hội được tổ chức và hoạt động theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ55 mà không chịu sự điều chỉnh của Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước vì tính chất trên nên Ngân hàng Chính sách xã hội không phải đảm bảo tỉ lệ an toàn như các ngân hàng thương mại khác
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) thành lập ngày 19/5/2006, Theo Quyết định số 108/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ với Vốn điều lệ là 5.000 tỷ đồng (năm nghìn tỷ đồng) từ nguồn vốn điều lệ hiện có của Quỹ Hỗ trợ phát triển Ngân hàng Phát triển Việt Nam có chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau56:
o Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu Cho vay xuất khẩu; bảo lãnh tín dụng xuất khẩu; bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định của Chính phủ;
o Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển: Cho vay đầu tư phát triển; hỗ trợ sau đầu tư; bảo lãnh tín dụng đầu tư
o Nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn ODA57 được Chính phủ cho vay lại; nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận uỷ thác giữa Ngân hàng Phát triển với các tổ chức uỷ thác
o Uỷ thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng Phát triển
o Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của Ngân hàng Phát triển theo qui định của pháp luật
o Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu
o Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao
Trang 28GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 28 SVTH:Mã Kim Lợi
Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoạt động không vì mục đích lợi nhuận; tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm); không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; được
Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật và cũng không cần phải đảm bảo tỉ lệ an toàn
“Qũy tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân, hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống58” Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Quyết định số 1328/2005/QĐ-NHNN ngày 06/09/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thì quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản "Có" rủi ro
2.4 Giới hạn góp vốn mua cổ phần của ngân hàng thương mại trong nước
Góp vốn: Là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hửu chung của công
ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp và tạo thành vốn của công ty.”59 Trong phần định nghĩa các thuật ngữ tại Khoản 24 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và khoản 8 Điều 2 Thông tư 13/2010/TT-NHNN thì việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng được định nghĩa “là việc các tổ chức tín dụng góp vốn cấu thành vốn điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả việc cấp vốn, góp vốn vào công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng, góp vốn vào qũy đầu tư và ủy thác vốn cho các tổ chức khác góp vốn, mua cổ phần theo hình thức trên”
Việc góp vốn mua cổ phần của tổ chức tín dụng không quy định rõ tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 20/2004/QH11 ngày 15/06/200460 sau một thời gian dài quy định này vẫn bỏ ngỏ cho đến khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết Định 492/2000/QĐ-NHNN ngày 28/11/2000 quy định về việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng thì vấn đề này mới được
Trang 29GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 29 SVTH:Mã Kim Lợi
cụ thể hóa Hiện nay văn bản này đã hết hiệu lực thi hành và được thay thế bởi Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về
tỉ lệ đảm bảo an toàn của tổ chức tín dụng, nhưng vấn đề này chỉ được quy định gói
gọn tại Khoản 1 và 2 Điều 1761 của Quyết định này và không quy định thế nào là “góp vốn mua cổ phần” cũng như các thuật ngữ có liên quan Vì quy định này còn khá chung chung nên việc góp vốn mua cổ phần của các ngân hàng thương mại trong khoản thời gian dài là không kiểm soát được Cho đến khi, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 34/2008/QĐ-NHNN ngày 05/12/2008 về việc sửa đổi bổ sung một số Điều của Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN thì các thuật ngữ này mới được đưa vào và việc góp vốn mua cổ phần của tổ chức tín dụng được sửa đổi bổ sung chi tiết hơn62 và đã khắc phục những hạn chế trên (Các Quyết Định này hiện nay không còn hiệu lực và được thay thế bởi Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày ngày 20/05/2010 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi bổ sung một số Điều bởi Thông tư 19/2010/TT-NHNN ngày 27/09/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng) Đến năm 2010 thì việc góp vốn mua cổ phần của tổ chức tín dụng được quy định hẳn trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và sau đó được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN
Các lĩnh vực mà ngân hàng thương mại được quyền góp vốn mua cổ phần được quy định tại Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn mua cổ phần theo luật định63 Quy định này nhằm bảo vệ người ký thác Tránh trường hợp ngân hàng thương mại sử dụng tiền gửi của người ký thác để thực hiện việc đầu tư vào những dự án không hiệu quả
Theo quy định tại Khoản 24 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì việc góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại có thể phân thành ba nhóm lớn: Góp vốn, mua cổ phần dưới hình thức công ty con; góp vốn, mua cổ phần dưới hình thức công ty liên kết; và các hình thức góp vốn, mua cổ phần như một khoản đầu tư thương mại
Trang 30GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 30 SVTH:Mã Kim Lợi
So sánh công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết, công ty trực thuộc của ngân hàng thương mại
Sự khác nhau của các công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết, công ty trực thuộc của ngân hàng thương mại được quy định dựa trên tỉ lệ vốn góp mà ngân hàng thương mại góp vào; và quan hệ quản trị điều hành đối với các công ty trên Căn
cứ vào quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư 13/2010/TT- NHNN tác giả đã xây dựng sơ đồ so sánh sự khác nhau giữa công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết, công ty trực thuộc của ngân hàng thương mại
Công ty liên doanh:Không bắt buộc
Công ty con: Có tư cách pháp nhân Công ty liên kết: Có tư cách pháp nhân Công ty liên doanh: Có tư cách pháp nhân Công ty trực thuộc: Có tư cách pháp nhân
Công ty con: Hoặc có thể bổ nhiệm đa số hoặc tất cả các thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), Hội đồng thành viên (HĐTV), Tổng giám đốc(Giám đốc)/ hoặc có thể sửa đổi,
bổ sung điều lệ của công ty con/ hoặc có thể kiểm soát thông qua nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, HĐQT,HĐTV
Công ty liên kết: Quyền tham gia vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp, nhưng không kiểm soát các chính sách đó
Công ty liên doanh: Kiểm soát hợp đồng liên doanh mà
Trang 31GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Trang 31 SVTH:Mã Kim Lợi