Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi luận văn này, người viết tập trung nghiên cứu về các quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo hiểm khách du lịch trong nước cụ thể trong đó là nhữ
Trang 1
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ĐOÀN NGUYỄN MINH THUẬN TRẦN THỊ ÁNH THU
MSSV: 5085923 Luật Thương mại 2 - K34
Cần Thơ, 5/2012
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ BẢO HIỂM DU LỊCH 4
1.1 Giới thiệu chung về bảo hiểm du lịch 4
1.1.1 Khái niệm du lịch 4
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm du lịch 5
1.1.3 Thị trường bảo hiểm du lịch trong tương lai 7
1.2 Bảo hiểm thương mại 8
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm thương mại 8
1.2.2 Đặc điểm của bảo hiểm thương mại 10
1.2.3 Vai trò của bảo hiểm thương mại 11
1.3 Sự cần thiết khách quan và vai trò của bảo hiểm du lịch 13
1.3.1 Đối với cá nhân và xã hội 14
1.3.2 Đối với ngành bảo hiểm 15
1.3.3 Đối với ngành du lịch 16
1.3.4 Đối với nền kinh tế 16
1.4 Pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm khách du lịch trong nước 17
1.5 Hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước 18
1.5.1 Hình thức hợp đồng 18
1.5.2 Chủ thể hợp đồng 18
1.5.3 Đối tượng hợp đồng 19
1.5.4 Nội dung hợp đồng 19
CHƯƠNG 2:QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM KHÁCH DU LỊCH TRONG NƯỚC 22
2.1 Đối tượng và phạm vi được bảo hiểm 22
2.1.1 Đối tượng bảo hiểm 22
2.1.2 Phạm vi bảo hiểm 23
2.2 Phương thức bảo hiểm 26
2.3 Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm 27
2.3.1 Số tiền bảo hiểm 27
2.3.2 Phí bảo hiểm 27
2.4 Giám định tổn thất và giải quyết bồi thường 29
Trang 52.4.1 Giám định tổn thất 29
2.4.2 Bồi thường tổn thất 32
2.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước 34
2.5.1 Quyền và nghĩa vụ của người được bảo hiểm 34
2.5.1.1 Quyền lợi của người được bảo hiểm 34
2.5.1.2 Nghĩa vụ của người được bảo hiểm 36
2.5.2 Quyền và nghĩa vụ của công ty bảo hiểm 36
2.5.2.1 Quyền lợi của công ty bảo hiểm 36
2.5.2.2 Nghĩa vụ của công ty bảo hiểm 39
2.5.3 Quyền và nghĩa vụ của công ty du lịch 40
2.5.3.1 Quyền lợi của công ty du lịch 41
2.5.3.2 Nghĩa vụ của công ty du lịch 42
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA BẢO HIỂM KHÁCH DU LỊCH TRONG NƯỚC 46
3.1 Thực trạng về bảo hiểm khách du lịch trong nước ở Việt Nam 46
3.1.1 Tình hình thị trường Việt Nam về bảo hiểm khách du lịch trong nước 46
3.1.2 Về giám định tổn thất 47
3.1.3 Về bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm 48
3.1.4 Về phòng chống trục lợi bảo hiểm 48
3.2 Một số ý kiến đề xuất về bảo hiểm khách du lịch trong nước 53
3.2.1 Đối với nhà nước 54
3.2.1.1 Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm khách du lịch trong nước 54
3.2.1.2 Kiện toàn khung pháp lý 54
3.2.1.3 Đổi mới cơ chế quản lý nhà nước đối với thị trường bảo hiểm 54
3.2.1.4 Tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động của thị trường bảo hiểm 55
3.2.2 Đối với ngành du lịch 56
3.2.3 Một số ý kiến đề xuất 57
KẾT LUẬN 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Trong xu hướng một nền kinh tế thế giới đang lớn mạnh hàng ngày, mở rộng
và phát triển chính là xu hướng tất yếu, là điều kiện không thể thiếu được để mọi
tổ chức, doanh nghiệp, lĩnh vực, ngành nghề… có thể đứng vững và tự khẳng định mình Bảo hiểm Việt Nam cũng như ngành bảo hiểm trên toàn thế giới cũng không nằm ngoài xu hướng đó
Sự phát triển của đất nước và tốc độ tăng trưởng ngoạn mục của nền kinh tế trong những năm gần đây làm cho đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, thu nhập tăng làm nảy sinh các nhu cầu nghỉ ngơi, khám phá, giải trí, thư giãn Chính vì vậy, ngành du lịch ngày càng phát triển mạnh kéo theo cơ hội phát triển cho các dịch vụ đi kèm trong hoạt động du lịch, trong đó có bảo hiểm du lịch Với bản chất gắn liền với sự tồn tại và phát triển của hoạt động du lịch, một hoạt động đang phát triển hết sức mạnh mẽ trong nền kinh tế hiện đại, bảo hiểm du lịch nói chung và bảo hiểm khách du lịch trong nước nói riêng đang đứng trước một tiềm năng và cơ hội vô cùng to lớn cho sự mở rộng và phát triển của mình
Bảo hiểm khách du lịch trong nước chỉ được biết đến dưới góc độ là một dịch
vụ kèm theo trong các hợp đồng du lịch Vì vậy, đa số mọi người chưa nhận thức được hết tác dụng của loại hình bảo hiểm này trong chuyến hành trình của mình Còn tại các công ty bảo hiểm, nghiệp vụ bảo hiểm khách du lịch trong nước còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu phí và cũng chưa được quan tâm phát triển đúng mức Một phần là do những quy định của pháp luật về loại hình bảo hiểm này chưa thực sự hoàn chỉnh, còn nhiều hạn chế
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với kiến thức đã học,
người viết chọn đề tài: “Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước
theo pháp luật Việt Nam” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình
2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn này, người viết tập trung nghiên cứu về các quy định
của pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo hiểm khách du lịch trong nước cụ thể trong đó
là những quy định về đối tượng, phạm vi bảo hiểm, vấn đề giám định và bồi thường tổn thất cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia bảo hiểm khách du lịch trong nước Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về loại hình bảo hiểm khách du lịch trong nước tại các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt
Trang 7động tại Việt Nam Từ đó, đề ra giải pháp để giúp cho hoạt động bảo hiểm khách
du lịch trong nước ngày càng phát triển hơn
3 Mục đích nghiên cứu
Trước hết, nghiên cứu này nhằm làm rõ các quy định của pháp luật điều chỉnh
về các vấn đề của bảo hiểm khách du lịch trong nước, thông qua đó bảo vệ quyền lợi của các bên khi tham bảo hiểm, xem xét tính chính xác, đúng đắn và hiệu quả của các quy định đó trên cơ sở khoa học và thực tế Từ đó, người viết ghi nhận những điểm chưa phù hợp, những thiếu sót và cuối cùng đưa ra những kiến nghị giải pháp đối với những vấn đề đang tồn tại Mục đích cuối cùng và lớn nhất của việc nghiên cứu này là, đóng góp một phần nhỏ trong việc xây dựng hoàn thiện khung pháp lý hiệu quả và khả thi hơn để bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm, khách du lịch và cả những công ty du lịch một cách tốt nhất
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình thực hiện luận văn người viết sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp thu thập tổng hợp và xử lý thông tin, phương pháp nghiên cứu tài liệu để thực hiện việc nghiên cứu đề tài Cụ thể, người viết tiến hành phân tích làm rõ các kiến thức chuyên môn, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề mình đang nghiên cứu Tiến hành trình bày các quy định của pháp luật, giải thích
và chỉ ra các mặt tích cực và những điểm tồn tại trong các quy định này Sau đó,
so sánh đánh giá giữa cơ sở lý luận và pháp lý có mâu thuẫn hay không thống nhất nhau Bên cạnh đó, người viết thu thập những sự kiện và thống kê các số liệu thực
tế để chứng minh cho các vấn đề đã nêu Cuối cùng người viết tổng hợp các vấn
đề trong một mối liên hệ thống nhất, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát và nhìn nhận đúng bản chất của vấn đề
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đóng góp của luận văn
Loại hình bảo hiểm khách du lịch trong nước chưa phát triển mạnh và còn khá mới mẻ, vì vậy kết quả nghiên cứu luận văn góp phần vào việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm khách du lịch trong nước Đồng thời chỉ ra những điểm chưa phù hợp giữa quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, góp phần tạo môi trường pháp lý chuẩn mực hơn cho hoạt động bảo hiểm khách du lịch trong nước, thúc đẩy hoạt động du lịch và bảo hiểm ngày càng phát triển hơn phục vụ đời sống kinh tế, xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay
Trang 86 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về bảo hiểm và bảo hiểm du lịch
Chương 2: Quy chế pháp lý về bảo hiểm khách du lịch trong nước theo pháp luật Việt Nam
Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo hiểm khách du lịch trong nước
Qua quá trình làm luận văn em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô
Và đặc biệt là cô Đoàn Nguyễn Minh Thuận đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn Đây là bài viết đầu tiên, nên không thể tránh khỏi những sai sót, mong sự đóng góp ý kiến của các quý thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn Đồng thời, em cũng xin cảm ơn các bạn của em
đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình làm luận văn để em hoàn thành được bài viết
Trang 9CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM
và đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu Có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch Theo từ điển bách khoa quốc tế về du lịch do Viện hàn lâm quốc tế về du lịch xuất bản thì định nghĩa: “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình là một công nghiệp liên kết nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch… Du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã được chọn trước và một bên là những công cụ thoả mãn nhu cầu của họ” Nhìn chung định nghĩa này không được nhiều nước chấp nhận vì nó chỉ xem xét chung hiện tượng du lịch mà ít phân tích nó như một hiện tương kinh tế xã hội Theo Liên Hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union Of Official Travel Oragnization: IUOTO) thì du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi, khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…Các chuyên gia Hội nghị Liên Hiệp Quốc về
du lịch họp tại Roma – Italia (21/8- 5/9/1963) thì cho rằng du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình
và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ Còn đối với L.L Pirogionic thì du lịch là một dạng hoạt động của dân
cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tin thần nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiện, kinh tế và văn hóa
Theo Luật Du lịch số 44/2006/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua thì định nghĩa: “Du lịch là hoạt động có liên quan
Trang 10đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Du lịch là một sản phẩm tất yếu của sự phát triển kinh tế và xã hội, của loài người đến một giai đoạn phát triển nhất định, chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng thời gian rỗi do tiến
bộ khoa học công nghệ, phương tiện giao thông và thông tin ngày càng phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch của con người Bản chất đích thực của du lịch là du ngoạn để cảm nhận những giá trị vật chất và tin thần có tính văn hóa cao Có thể thấy rằng du lịch là một hoạt động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa có
đặc điểm của một ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá – xã hội
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm du lịch
Ở Việt Nam hiện tượng du lịch xuất hiện rõ nét từ thời kỳ phong kiến Đó là chuyến du lịch của vua chúa đi thắng cảnh lễ hội, các chuyến đi du ngoạn của các thi sĩ đã được ghi lại trong sử sách thơ ca Sang tới kỳ cận đại do Việt Nam vẫn là một nước thuộc địa của thực dân Pháp nên du lịch chỉ thuộc về một bộ phận nhỏ,
đó là những người có địa vị tiền bạc
Sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bởi mốc lịch sử: Ngày 09/07/1960 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Công ty Du lich Việt Nam trực thuộc bộ ngoại thương và đây chính là mốc đánh dấu sự ra đời của Ngành Du lịch Việt Nam
Sau 47 năm (1960- 2007), ngành du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Lực lượng kinh doanh du lịch phát triển mạnh và bước đầu làm ăn có hiệu quả Tính đến nay,
cả nước đã có khoảng 6.000 cơ sở kinh doanh lưu trú, 400 doanh nghiệp lữ hành quốc tế Từ năm 1990 đến nay, lượng khách du lịch luôn duy trì ở mức tăng trưởng 2 con số (trung bình trên 20%/năm) Khách quốc tế tăng 17 lần từ 250.000 lượt khách (năm 1990) và đón vị khách thứ 4 triệu vào ngày 6/12/2007 và khách
du lịch nội địa tăng 20 lần từ 1 triệu lượt khách (1994) lên tới 20 triệu lượt khách trong năm 2007 Tính riêng trong năm 2007 thu nhập từ du lịch đạt 56.000 tỷ
đồng Theo kế hoạch, năm 2008 ngành du lịch Việt Nam sẽ đón từ 25,5 triệu đến
26,2 triệu lượt khách du lịch (trong đó ước khoảng 5 triệu lượt khách quốc tế và trên 20 triệu lượt khách du lịch nội địa) Thu nhập xã hội về du lịch đạt khoảng 62
Trang 11đến 64 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 10,7% đến 14,3% so với thực hiện năm 2007 1
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước ngành du lịch đã khởi sắc, vươn lên đổi mới quản lý và phát triển, đạt được những thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất luợng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình Chỉ thị 46/CT-TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII tháng 10 năm 1994 đã
khẳng định: “Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường
lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nuớc” Cơ chế chính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành,
thể chế hoá bằng văn bản quy phạm pháp luật, tạo môi trường cho du lịch phát triển, nâng cao hiệu lực quản lý Ngành Du lịch được Đảng và Nhà nước xác định
là: “Một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước” với mục tiêu: “Phát triển mạnh du lịch, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu vực” Quan điểm đó được kiểm
nghiệm trong thực tiễn phát triển du lịch Việt Nam trong suốt nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và đến nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
được nâng lên: “Phát triển nhanh du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi
nhọn” Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (Kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm 2006 - 2010) xác định: “Phát triển du lịch, một ngành kinh tế mũi nhọn”; phấn đấu sau năm 2010, Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành
du lịch phát triển trong khu vực Phát triển nhanh dịch vụ du lịch chất lượng… để góp phần tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ” Nhiều tỉnh, thành
phố, tỉnh uỷ, thành uỷ đã có kế hoạch và nghị quyết về phát triển du lịch, xác định vai trò, vị trí của du lịch trong cơ cấu kinh tế, đề ra giải pháp và chỉ đạo thực hiện
kế hoạch phát triển du lịch trong cơ cấu kinh tế, đề ra giải pháp và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển du lịch của địa phương mình Các địa phương trong cả nước đã có sự chuyển biến nhận thức về vai trò, vị trí và hiệu quả của sự phát triển
du lịch, đã quan tâm, chú trọng đến phát triển du lịch, coi du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn, kinh tế động lực, một hướng quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác của địa phương, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn và phát huy văn hoá, tăng cường giao lưu với các địa phương trong nước và quốc tế, tạo việc làm cho các tầng lớp dân cư, góp phần xoá đói giảm nghèo và là một phương thức làm giàu ngành và toàn xã hội về vai trò, vị trí và hiệu quả nhiều mặt của du lịch và trách nhiệm phát triển du lịch Việc nâng cao nhận thức về du lịch và phát triển du lịch đã chuyển hoá thành
1
http://www.itdr.org.vn/list_solieuthongke-group-1-pvsl-1-nam1-0-nam2-2005-nprovince-0-slct-1.2.3 vdl
Trang 12hành động cụ thể, để huy động ngày càng tăng các nguồn lực khai thác tiềm năng
và lợi thế du lịch của đất nước cho sự nghiệp phát triển du lịch nước nhà theo hướng bền vững.2
Với những kết quả đem lại có ý nghĩa nhiều mặt của du lịch Việt Nam đã khẳng định vị thế của ngành kinh tế đầy triển vọng trong tương lai, cùng với xu hướng phát triển của du lịch toàn cầu, du lịch Việt Nam nhất định sẽ phát triển mạnh mẽ và đem lại nhiều đóng góp cho nền kinh tế quốc dân
Nghiệp vụ bảo hiểm du lịch trong đó có bảo hiểm khách du lịch trong nước tuy không phải là nghiệp vụ ra đời sớm nhất như nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, hàng hải, hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển đường biển… nhưng cũng có thâm niên khá dài và trải qua một quá trình phát triển khá lâu
Khi mới ra đời bảo hiểm du lịch và bảo hiểm khách du lịch trong nước được triển khai cùng với nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác như: bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm toàn diện học sinh, bảo hiểm tai nạn 24/24
1.1.3 Thị trường bảo hiểm du lịch trong tương lai
Du lịch không phải là nhu cầu thiết yếu của con người, nhu cầu đó chỉ nảy sinh
khi các nhu cầu thiết yếu khác được thoả mãn Chính vì vậy, ngành du lịch phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng Tốc độ tăng trưởng bình quân của Việt Nam trong một thập kỷ qua
là 7,3%, ấn tượng nhất đạt tốc độ tăng trưởng kỷ lục 8,5% năm 2007 sau khi Việt
Nam gia nhập WTO tháng 11 năm 2006
Cùng với sự phát triển của đất nước đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể,
thu nhập bình quân đầu người tăng từ 480 USD năm 2003 lên 755 USD vào năm
2007 Theo đó nhu cầu du lịch trong nước cũng tăng cao Cụ thể :
Bảng 01: Số lượng khách du lịch nội địa (1995-2008)
Năm Khách nội địa( người) Mức tăng trưởng(%)
Trang 132007 19.289.000 9,7
2008 21.200.000 9,9
(Nguồn : Tổng cục du lịch Việt Nam)
Có thể thấy rằng lượng khách nội địa tăng gấp 4 lần từ năm 1995 đến năm
2007 và có xu hướng ngày càng tăng qua các năm, tăng mạnh vào năm 2007, 2008 lượng khách du lịch nội địa lên tới 21,2 triệu khách Lượng khách nội địa là lượng khách chủ yếu của thị trường du lịch cũng là bộ phận chính trong số khách mua bảo hiểm du lịch tại các công ty bảo hiểm.3
Từ những số liệu và phân tích trên cho thấy du lịch trong nước là một thị trường tiềm năng và sẽ còn phát triển mạnh hơn nữa Tuy nhiên, việc mua bảo hiểm du lịch cho khách du lịch nội địa lại chưa được quan tâm chú trọng Hiện nhiều công ty du lịch và cả hành khách vẫn chưa nhận thức hết vai trò của bảo hiểm du lịch Bên cạnh đó, luật vẫn chưa có những văn bản hướng dẫn cụ thể cũng như chế tài đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm du lịch Cho nên, việc tìm hiểu rõ về bảo hiểm du lịch sẽ giúp doanh nghiệp kinh doanh du lịch và khách
du lịch biết rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình từ đó, vấn đề an toàn tính mạng
và sức khỏe của hành khách trong mỗi chuyến hành trình sẽ được nâng cao
1.2 Bảo hiểm thương mại
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm thương mại
Mặc dù bảo hiểm đã có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời, nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ này, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm Theo các chuyên gia bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm bao gồm việc thành lập một quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau tạo thành một nhóm tương tác
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm Theo Dennis Kessler thì “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông và sự bất hạnh của số ít” Còn theo Monique Gaullier định nghĩa “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn
để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”
3
http://webtailieu.net/xem-tai-lieu/bao-cao-bao-hiem-du-lich-thuc-trang-va-tiem-nang-phat-trien.3546.html
Trang 14Theo Dr.David Bland - Insurance Principles and Practice, nhà xuất bản Tài chính, 1998 thì cho rằng: “Bảo hiểm là một hợp đồng theo đó một bên (gọi là công
ty bảo hiểm) bằng việc thu một khoản tiền (gọi là phí bảo hiểm) cam kết thanh toán cho bên kia (gọi là người được bảo hiểm), một khoản tiền hoặc hiện vật tương đương với khoản tiền đó khi xảy ra một sự cố đi ngược lại quyền lợi của người được bảo hiểm”
Từ điển thuật ngữ kinh doanh bảo hiểm do Bảo Việt phát hành năm 2002 định nghĩa: “Bảo hiểm (insurance) là cơ chế chuyển giao theo hợp đồng gánh nặng hậu quả của một số rủi ro thuần túy bằng cách chia sẽ rủi ro cho nhiều người cùng gánh chịu” 4
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 của Việt Nam thì “kinh doanh bảo hiểm
là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.5
Trong đó phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải trả theo thỏa thuận trong hợp đồng để nhận được cam kết bồi thường.6
Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định, mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiển bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.7
Sự khác nhau trong các quan niệm xuất phát từ việc nhìn nhận bảo hiểm ở các góc độ và cách thức tiếp cận khác nhau Bảo hiểm là một kỹ thuật nghiệp vụ đặc trưng nên rất khó tìm ra được một định nghĩa hoàn hảo thể hiện được tất cả những khía cạnh đó Trên phương diện lý thuyết cơ bản, bảo hiểm là phương pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.8
Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, khoản 1, điều 3.
6 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, khoản 11, điều3.
Trang 151.2.2 Đặc điểm của bảo hiểm thương mại
Là một trung gian tài chính
Trong nền kinh tế, các trung gian tài chính bảo hiểm là một kênh huy động vốn đầu tư không thể thiếu và đầy tiềm năng Doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ có nhiệm vụ thu chi quỹ tài chính bảo hiểm mà còn phải phát triển quỹ tài chính này Đầu tư tài chính nguồn vốn nhàn rỗi có ý nghĩa quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm
Các công ty bảo hiểm với rất nhiều sản phẩm bảo hiểm hầu như đã đáp ứng được những nhu cầu bảo hiểm phong phú từ khách hàng Hiện các công ty bảo hiểm đang quản lý một lượng lớn nguồn vốn Nguồn vốn này các công ty bảo hiểm có nhu cầu đầu tư dài hạn, đầu tư vào các dự án có mức độ mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận.9 Các doanh nghiệp bảo hiểm tham gia tích cực vào đầu tư, tài trợ dự
án, giải ngân vốn cho các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế vay vốn Và với lợi thế ngành, các doanh nghiệp bảo hiểm còn tư vấn cho các khách hàng vay vốn của mình nên mua bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro và cũng là giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm
Như vậy, sự phát triển của các loại hình tài chính trung gian đã tạo ra một lượng cung vốn dồi dào cho các doanh nghiệp, có tác dụng thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinh tế
Là một ngành dịch vụ đặc biệt
Đặc biệt vì thứ nhất sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, bản chất của nó
là một dịch vụ, một lời hứa, một lời cam kết mà công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng Khách hàng đóng phí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương lai Tâm lý người mua hàng thường không muốn tiêu dùng dịch vụ này Người mua bảo hiểm không muốn có sự kiện bảo hiểm xảy ra để được nhận quyền lợi bảo hiểm dù rằng quyền lợi đó có thể nhiều hơn gấp bội lần so với số phí phải đóng Thứ hai, bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược, tức là doanh nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn ra trước, họ nhận phí bảo hiểm trước của người tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Bảo hiểm vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của ngành bảo hiểm Khi tham gia bảo hiểm, người mua sẽ đóng góp một số tiền (phí bảo hiểm) cho người bảo hiểm, ngược lại người bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền (tiền bảo hiểm) cho người nhận bảo
9
http://camnangvang.com/index.php?webpage=tintuc&cataid=23&viewid=1192
Trang 16hiểm như đã thỏa thuận trước trong hợp đồng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Cá nhân khi tham gia bảo hiểm đã thể hiện được tính tiết kiệm một cách có kế hoạch, hợp lý và hiệu quả Nội dung tham gia bảo hiểm khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ người tham gia bảo hiểm sẽ tích lũy được một số tiền tài chính mà còn bảo vệ cho bản thân và người thân họ hoặc cho tài sản của họ khi có rủi ro xảy ra
Bảo hiểm là sự chia sẽ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm
Đặc điểm của bảo hiểm là sự phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Nói cách khác, bảo hiểm dựa trên quy luật số đông Cơ chế hoạt động của bảo hiểm là tạo ra “sự đóng góp của
số đông vào sự bất hạnh của số ít” trên cơ sở nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phát tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất Như vậy mối quan hệ trong bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa nhà bảo hiểm và người được bảo hiểm mà là tổng thể các mối quan hệ giữa những người được bảo hiểm trong cùng một cộng đồng bảo hiểm.10
Các khoản đóng góp về tài chính của những người tham gia bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm và được thực hiện trước khi rủi ro bảo hiểm xảy ra Như vậy, bảo hiểm phát triển là do tồn tại khách quan của các loại rủi ro và các sự kiện liên quan đến đời sống con người, đến hoạt động sản xuất kinh doanh Đặc điểm của bảo hiểm chính là quá trình phân phối lại sản phẩm trong nước giữa những người tham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi rủi ro, sự kiện bảo hiểm xảy ra liên quan đến người tham gia bảo hiểm Phân phối trong bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa mang tính không bồi hoàn Tính bồi hoàn thể hiện ở chỗ có tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thì mới được phân phối khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Còn tính không bồi hoàn là dù có tham gia đóng góp nhưng tổn thất không xảy ra thì không được phân phối lại từ quỹ bảo hiểm.11
Ngoài điều kiện kinh tế xã hội thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm Môi trường pháp lý ổn định, phù hợp chặt chẽ sẽ giúp cho bảo hiểm ngày càng phát triển
1.2.3 Vai trò của bảo hiểm thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động bảo hiểm có vai trò hết sức to lớn Vai trò đó được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Trang 17 Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất
Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng xuất phát từ nhu cầu này mà bảo hiểm ra đời Nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch vụ đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người Khi có tổn thất xảy đến với đối tượng được bảo hiểm thì nhiệm
vụ cơ bản của bảo hiểm là khắc phục những hậu quả đó, ổn định đời sống và quá trình sản xuất kinh doanh
Việc mua bảo hiểm của các cá nhân, tổ chức cho phép họ chuyển rủi ro sang các công ty bảo hiểm Các cá nhân khắc phục được khó khăn về tài chính, dễ dàng
ổn định cuộc sống hơn, các tổ chức kinh doanh bảo toàn vốn, tài sản, giữ cho chu
kỳ sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn dẫn đến phá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề
Tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần vào giải quyết nội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro Đó là đề phòng và hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế - xã hội cũng được chủ động phòng tránh Dựa trên cơ sở các rủi ro xảy ra hằng năm, các
tổ chức kinh doanh bảo hiểm tiến hành nghiên cứu các rủi ro, thống kê các tai nạn, tổn thất, từ đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thiệt hại Những nghiên cứu này giúp các công ty bảo hiểm có thể đề ra được các biện pháp kiểm soát ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất nhằm giảm đến mức thấp nhất tổn thất có thể xảy ra
Việc các công ty bảo hiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro không chỉ để giảm bớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà quan trọng hơn, nó góp phần giảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất cũng như tin thần khi xảy ra tổn thất Khi xây dựng các điều khoản, quy tắc, biểu phí, cũng như trong quá trình triển khai nghiệp vụ, kể từ khi đánh giá rủi ro, ký kết hợp đồng, quản lý hợp đồng cho đến lúc giám định tổn thất giải quyết bồi thường, các công ty bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết Việc đó không chỉ nhằm bảo vệ đối tượng bảo hiểm mà còn góp phần bảo đảm an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người, của cải vật chất của toàn xã hội
Trang 18Các công ty bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các cá nhân, tổ chức tham gia mua bảo hiểm tăng cường các biện pháp bảo vệ tài sản của chính mình Đồng thời, họ cũng tuyên truyền, giáo dục mọi tầng lớp nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông, an toàn lao động Do bảo hiểm không có nghĩa là đổ hết trách nhiệm cho người bảo hiểm nên các cơ quan, xí nghiệp thường có các quy tắc, quy định cho an toàn lao động, các quy định về phòng cháy, chữa cháy, các thiết bị chống trộm, báo cháy
Tăng thu cho ngân sách nhà nước
Qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm tự thân nó đã trở thành một ngành kinh doanh độc lập, có hạch toán thu chi lỗ lãi rõ ràng Vì vậy, các công ty bảo hiểm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước như mọi doanh nghiệp khác hoạt động trong nền kinh tế Hằng năm, thông qua việc nộp thuế, bảo hiểm đã đóng góp không nhỏ vào ngân sách Nhà nước Bên cạnh đó, bảo hiểm cũng góp phần tiết kiệm cho ngân sách thông qua việc thực hiện tốt khâu phòng ngừa và hạn chế tổn thất, giúp bảo vệ tối đa tài sản công cộng, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại đáng tiếc Điều này giúp Nhà nước giảm bớt chi tiêu những khoản lớn để
bù đắp cho những tổn thất như phải xây dựng lại đường xá, cầu cống, nhà xưởng, công trình Ngoài ra, một thị trường phát triển mạnh mẽ và ổn định sẽ thu hút các
cá nhân và tổ chức mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm trong nước, góp phần tiết kiệm một lượng ngoại tệ lớn cho ngân sách Nhà nước.12
Bảo hiểm góp phần tạo việc làm cho xã hội
Cũng là một khía cạnh đáng kể trong vai trò của bảo hiểm, ngành bảo hiểm đã thu hút một lượng lớn lao động làm việc cho các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, mạng lưới đại lý bảo hiểm và các nghề nghiệp liên quan như giám định tổn thất, định giá tài sản, giám định sức khỏe Trong điều kiện thất nghiệp đang ám ảnh nền kinh tế toàn cầu thì sự phát triển của ngành bảo hiểm vẫn được coi là nhiều tiềm năng ở các quốc gia sẽ góp phần giải quyết việc làm trong
xã hội
1.3 Sự cần thiết khách quan và vai trò của bảo hiểm du lịch
Ngày nay khi mà đời sống của người dân ngày càng được nâng cao thì nhu
cầu của con người cũng ngày một cao hơn, đa dạng phong phú hơn Đặc biệt là nhu cầu được phục vụ, được nghỉ ngơi, đi tham quan, giải trí, du lịch Do việc đáp ứng nhu cầu này của con người mà ngành du lịch đã ra đời và kèm theo đó có các dịch vụ du lịch và các dịch vụ bảo hiểm - bảo hiểm du lịch
12
Giáo trình nguyên lý bảo hiểm, Trường đại học công nghiệp TPHCM
Trang 19Từ việc tìm hiểu khái niệm về du lịch đã nêu ở phần trên, ta nhận thấy rằng hoạt động du lịch luôn gắn liền với việc di chuyển từ nơi này đến nơi khác Tuỳ thuộc vào mục đích của chuyến đi là đi du lịch sinh thái, du lịch thể thao, du lịch nghỉ ngơi giải trí, du lịch tôn giáo các loại hình du lịch khác mà người du lịch có thể lựa chọn hình thức di chuyển khác nhau, có thể là đi bộ, ô tô, xe đạp, máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ và các phương tiện đi lại khác
Do phải di chuyển nhiều nơi như vậy mà rủi ro khách du lịch có thể gặp phải là rất lớn mặc dù có thể đã có những biện pháp tự bảo vệ, tuy nhiên rủi ro thì không thể lường trước xảy ra khi nào và hậu quả ra sao Nói chung khách du lịch thường gặp những rủi ro sau: Thứ nhất là nhóm rủi ro ảnh hưởng tới sinh mạng, sức khoẻ của du khách gây ra chết người hoặc thương tật Thứ hai là nhóm rủi ro gây thiệt hại về tài sản của du khách như : mất mát, hư hỏng tài sản, giấy tờ tuỳ thân Và thứ
ba là nhóm rủi ro liên quan đến trách nhiệm của du khách đối với người thứ ba (cá nhân hoặc địa điểm du lịch )
Khi gặp những rủi ro như trên khách du lịch thường thấy lúng túng, khó khăn cho dù những tổn thất xảy ra là nặng hay nhẹ Nếu tổn thất nhẹ họ có thể tự xoay
xở được nhưng vẫn phải bỏ ra chi phí tiền của và thời gian để khắc phục tổn thất, đặc biệt du khách đều là những người từ nơi khác đến nên họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết những tình huống tưởng chừng đơn giản và đương nhiên với những tổn thất lớn, nặng nề thì sẽ gây thiệt hại rất lớn về tài chính đối với bản thân họ và gia đình mà đôi khi những thiệt hại này họ cũng không thể gánh vác nổi Chính những lúc như vậy họ rất cần được hỗ trợ, được giúp đỡ Và
từ đó bảo hiểm du lịch ra đời
Bảo hiểm khách du lịch trong nước là cần thiết khách quan để đáp ứng nhu cầu bảo vệ của khách du lịch, để đảm bảo cho chuyến hành trình của họ được diễn ra một cách suôn sẻ Bảo hiểm du lịch là nghiệp vụ nằm trong nhóm bảo hiểm con người, tiền thân là bảo hiểm tai nạn khách du lịch Trong quá trình triển khai loại hình bảo hiểm này, một nhu cầu mới đặt ra là tài sản và vật dụng mà du khách mang theo có giá trị ngày càng lớn, do đó cần có thêm sản phẩm bảo hiểm cho những vật dụng cá nhân đó, vì vậy đối tượng bảo hiểm du lịch ngày càng được mở rộng và nghiệp vụ này được gọi chung là bảo hiểm du lịch
1.3.1 Đối với cá nhân và xã hội
Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm du lịch nói riêng góp phần đề phòng hạn chế
tổn thất, giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt
nỗi lo lắng cho cá nhân, gia đình và xã hội
Trang 20Dù ở bất cứ nơi đâu thì con người luôn mong muốn được an toàn, và khách du lịch cũng vậy, họ mong muốn được bảo vệ trong suốt chuyến hành trình của mình
Do vậy bảo hiểm du lịch là cần thiết trong mọi chuyến hành trình, nếu không có bảo hiểm khi xảy ra tổn thất du khách sẽ gặp rất nhiều khó khăn Tham gia bảo hiểm thì nhà bảo hiểm sẽ cùng với người tham gia thực hiện các phương án đề phòng hạn chế tổn thất một cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất Từ đó sẽ hạn chế rủi ro xảy ra và việc khắc phục nếu chẳng may có tổn thất cũng sẽ được thực hiện một cách nhanh chóng và thuận tiện cho du khách
Tạo tâm lý an tâm cho du khách trong suốt chuyến hành trình, để họ có được một chuyến du lịch trọn vẹn niềm vui Du khách sẽ không cảm thấy lo lắng về việc rời nơi ở quen thuộc đến một nơi thay đổi về khí hậu, về thói quen sinh hoạt, về phong tục tập quán, sẽ xảy ra những vấn đề ảnh hưởng đến tâm lý của họ, điều này
đã được đảm bảo từ phiá các nhà bảo hiểm bởi lẽ, để đề phòng hạn chế tổn thất một cách tối đa, và để du khách thực sự hài lòng về tính an toàn của chuyến đi Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thực hiện việc tuyên truyền cho du khách những rủi ro
có thể gặp phải, những việc nên tránh, đồng thời họ sẽ xây dựng những hành lang
an toàn bảo vệ, các đường lánh nạn, các phòng y tế, các dịch vụ y tế cứu hộ thường trực… Sự hỗ trợ giúp đỡ này sẽ là chỗ dựa tinh thần cho du khách khi du lịch ở bất cứ nơi đâu, bất cứ loại hình du lịch Bảo hiểm khách du lịch đặc biệt có
ý nghĩa trong những chuyến du lịch đi xa, hay du lịch mang tính chất nguy hiểm
Bảo hiểm du lịch có tác dụng đề phòng hạn chế tổn thất cho các cá nhân và đồng thời cũng là sự bảo đảm an toàn cho xã hội vì mỗi cá nhân là một đơn vị của
xã hội, từng cá nhân riêng rẽ được bảo vệ tức là cả xã hội được an toàn
1.3.2 Đối với ngành bảo hiểm
Bảo hiểm du lịch nằm trong hệ thống các sản phẩm của công ty bảo hiểm và vì vậy cũng giống như các loại hình bảo hiểm khác đem lại doanh thu cho doanh nghiệp bảo hiểm Đặc biệt, đây là loại hình mang lại tỷ lệ lợi tức khá cao cho các công ty bởi lẽ thông thường khi đi du lịch du khách đều thực hiện những biện pháp
tự bảo đảm an toàn Tuy nhiên, họ vẫn muốn mua bảo hiểm để đảm bảo về mặt tài chính và đặc biệt là về mặt tinh thần để họ có một tâm lý thoải mái nhất trong chuyến hành trình của mình Vì vậy mà tỷ lệ bồi thường đối với nghiệp vụ này là tương đối thấp, và tỷ lệ lợi tức trên doanh thu cao
Thực tế cho thấy ở các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Pháp, Anh, Trung Quốc, Hà Lan… thì bảo hiểm khách du lịch là một nghiệp vụ quan trọng Tại Việt Nam, tuy chưa được các công ty chú trọng nhưng nghiệp vụ này được đánh giá có tiềm năng phát triển vì số lượng khách du lịch trong những năm gần đây tăng
Trang 21nhanh do đời sống của người dân ngày càng cao, và Chính phủ cũng đã chú ý đến việc xây dựng các điểm du lịch hấp dẫn, vì vậy doanh thu phí từ nghiệp vụ này có
xu hướng tăng lên đáng kể trong thời gian tới Các công ty bảo hiểm nói riêng và ngành bảo hiểm nói chung sẽ có thêm một nghiệp vụ chiến lược đóng góp vào sự phát triển của toàn ngành
1.3.3 Đối với ngành du lịch
Bảo hiểm du lịch ra đời góp phần hoàn thiện sản phẩm du lịch Do nhu cầu an toàn trong mỗi chuyến đi, bảo hiểm du lịch đã trở thành đòi hỏi tất yếu của du khách khi đi du lịch Các du khách có nhu cầu đi du lịch, họ tìm hiểu các chương trình du lịch của các công ty bảo hiểm khác nhau và sự có mặt của sản phẩm bảo hiểm cũng là một tiêu chí để họ lựa chọn Do vậy để hấp dẫn khách du lịch, các công ty du lịch ngày càng quan tâm đến các sản phẩm bảo hiểm du lịch Nhờ có sản phẩm bảo hiểm du lịch mà chất lượng phục vụ của các công ty du lịch được tốt hơn, hấp dẫn khách du lịch hơn đồng nghĩa với việc doanh thu của các công ty lữ hành tăng, ngành du lịch phát triển kéo theo sự phát triển của rất nhiều ngành khác
Và một yếu tố nữa cũng rất quan trọng mà nghiệp vụ này đóng góp vào sự phát triển của ngành du lịch thể hiện ở chỗ, đó là sự hỗ trợ của các công ty bảo hiểm trong việc xây dựng mới, cải tạo các khu du lịch, các khách sạn, xây dựng các đường lánh nạn, các trạm cứu hộ, các trung tâm y tế…trên cơ sở sử dụng một phần phí thu được từ nghiệp vụ này Những việc làm này sẽ tạo niềm tin, sức hút đối với khách du lịch, tăng uy tín của ngành du lịch
1.3.4 Đối với nền kinh tế
Tác dụng của bảo hiểm du lịch thể hiện rõ trên nhiều phương tiện Ngoài việc giúp bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào các lĩnh vực khác Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước hàng năm có nguồn đóng góp không nhỏ, mọi người có được tâm lý an tâm trong cuộc sống, công tác đề phòng và hạn chế tổn thất được tăng cường
Hơn nữa, bảo hiểm du lịch cũng thu hút một số lượng đáng kể người lao động, giảm bớt gánh nặng thất nghiệp, góp phần ổn định và phát triển xã hội
Thêm vào đó bảo hiểm du lịch còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh
tế giữa các nước Du lịch là một ngành đa quốc gia lớn nhất và mang lại hiệu quả kinh tế cao Nhờ có bảo hiểm du lịch mà du khách cảm thấy yên tâm hơn, cảm thấy mình luôn được bảo vệ khi tham gia các chương trình du lịch tại quốc gia du lịch từ đó thu được lượng ngoại tệ lớn cho quốc gia sở tại.10
Trang 221.4 Pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm khách du lịch trong nước
Ngày 28/2/1987 quyết định số 69/TC-BH về việc triển khai bảo hiểm khách du
lịch trong nước và quyết định số 65/TC-BH ngày 7/4/1989 về việc ban hành quy tắc nghiệp vụ bảo hiểm người nước ngoài du lịch tại Việt Nam Quy tắc này đã tạo điều kiện cho các công ty bảo hiểm mở rộng đối tượng khách hàng từ đó tăng nguồn thu cho công ty bảo hiểm Tuy nhiên nghiệp vụ bảo hiểm du lịch lúc này vẫn chưa có được sự đồng nhất Phải đến 02/01/1993 Bộ Tài chính ban hành quy tắc thống nhất với đầy đủ các điều khoản qui định về biểu phí cho tất cả các đối tượng khách gồm khách du lịch nội địa, khách nước ngoài du lịch tại Việt Nam và khách Việt Nam du lịch ở nước ngoài Tuy nhiên cho đến lúc này hoạt động kinh doanh bảo hiểm vẫn còn yếu kém, doanh thu thấp và Bảo Việt độc quyền thị trường
Từ khi nghị định 100/NĐ-CP ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm, thị truờng bảo hiểm Việt Nam đã có những bước tiến mới cùng với sự xuất hiện của nhiều công ty bảo hiểm và nhiều nghiệp vụ bảo hiểm mới Và bảo hiểm du lịch cũng đã bắt đầu có những bước tiến đáng kể, lúc này thì bảo hiểm du lịch đã được tách riêng độc lập với bảo hiểm con người, đáp ứng nhu cầu lớn của khách du lịch cũng như tiềm năng phát triển của ngành du lịch trong tương lai
Sau đó, tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XI Luật Du lịch 2005 được thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2006 Tiếp theo đó, chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 92/2007/ND-CP ngày 01/6/2007 quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch Ở văn bản này quyền và nghĩa vụ của công ty kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành và vấn đề mua bảo hiểm
du lịch được đề cập Bên cạnh những văn bản quy định về vấn đề du lịch thì còn
có những văn bản quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia bảo hiểm như Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, Nghị định 45/2007/ NĐ-CP ngày 27 tháng 03 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm kèm theo đó là Thông tư 155/2007TT-BTC ngày 20/7/2007 về hướng dẫn thi hành Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 03 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm và Nghị định 123/2011/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 03 năm 2007 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm
Trang 23Như vậy, có thể nói Chính phủ rất quan tâm đến vấn đề bảo hiểm trong du lịch Từ khi thị trường bảo hiểm Việt Nam ra đời cùng với sự phát triển của du lịch, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh hoạt động du lịch cũng như quy định về các vấn đề liên quan đến bảo hiểm khách du lịch Từ đó có thể thấy, bảo hiểm du lịch không còn là một loại hình bảo hiểm mới và chưa được chú trọng
mà hứa hẹn sẽ là một thị trường tiềm năng
Vấn đề đặt ra là thị trường bảo hiểm và du lịch ở Việt Nam đang phát triển ở tốc độ cao, trong khi đó nghiệp vụ bảo hiểm hành khách khi du lịch còn hạn chế, việc bảo đảm an toàn tính mạng và sức khỏe của hành khách chưa được quan tâm đúng mức Yêu cầu phải có một văn bản mới phù hợp với tình hình hiện tại quy định những vấn đề liên quan đến bảo hiểm trong du lịch không chỉ đối với khách
du lịch trong nước mà còn cả khách quốc tế
1.5 Hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước
Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 và các Nghị định hướng dẫn, Thông tư hướng dẫn thi hành luật đã quy định tương đối hoàn chỉnh về các nội dung của hợp đồng bảo hiểm Cụ thể như sau:
1.5.1 Hình thức hợp đồng
Theo Điều 401 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hình thức hợp đồng dân sự, theo đó một hợp đồng dân sự có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo quy định đó
Hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước phải lập thành văn bản Việc quy định như vậy nhằm ý nghĩa:
Thứ nhất, bảo hiểm khách du lịch trong nước là một hoạt động quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của bên mua bảo hiểm cũng như quyền lợi của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm, nên những nội dung quy định về nghĩa vụ cũng như quyền lợi của hai bên cũng như những điều khoản khác phải được quy định một cách rõ ràng trong hợp đồng
Một ý nghĩa khác, hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước được lập thành văn bản giúp cho các bên làm căn cứ đối chiếu xác định trách nhiệm và quyền lợi của họ khi xảy ra rủi ro hay hành vi vi phạm
1.5.2 Chủ thể hợp đồng
Các bên tham gia trong hợp đồng gọi là chủ thể của hợp đồng Hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước được ký kết trên sự thỏa thuận của hai bên, là
Trang 24doanh nghiệp bảo hiểm và công ty du lịch hay giữa doanh nghiệp bảo hiểm và khách du lịch Các bên ký kết hợp đồng phải tuân thủ những điều kiện nhất định thì hợp đồng mới có giá trị pháp lý
Thứ nhất về doanh nghiệp bảo hiểm, theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam thì doanh nghiệp bảo hiểm là các doanh nghiệp được Bộ Tài Chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động.13 Doanh nghiệp bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước, là bên bảo hiểm có nghĩa vụ bồi thường đối với bên mua bảo hiểm khi có xảy ra sự kiện bảo hiểm Đồng thời, doanh nghiệp bảo hiểm cũng có trách nhiệm với bên mua bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm có các hành vi vi phạm gây ảnh hưởng đến lợi ích của bên mua bảo hiểm Như vậy, doanh nghiệp bảo hiểm là một bên trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước, doanh nghiệp bảo hiểm là một tổ chức
có đầy đủ tư cách pháp nhân được nhà nước cho phép tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Bên còn lại trong hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước là bên mua bảo hiểm, họ là tổ chức cá nhân thỏa các điều kiện của luật định khi muốn tham gia bảo hiểm Bên mua bảo hiểm ở đây có thể là công ty du lịch hoặc khách du lịch Bên mua bảo hiểm sẽ được bảo hiểm trong một số trường hợp thuộc phạm vi bảo hiểm và được hưởng những quyền lợi mà luật có quy định Bên mua bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện đúng những nội dung trong hợp đồng Nếu bên mua bảo hiểm ở đây là công ty du lịch hay khách du lịch có hành vi vi phạm liên quan đến các nội dung được quy định trong hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước, gây thiệt hại đến bên bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
1.5.3 Đối tượng hợp đồng
Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước là tính mạng, sức khỏe của khách du lịch Theo đó, trong quá trình du lịch, khách du lịch gặp tai nạn hay những tổn thương hay ốm đau trong phạm vi được bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bồi thường
1.5.4 Nội dung hợp đồng
Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho
13
Điều 3 khoản 5 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
Trang 25người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.14 Hình thức hợp đồng bảo hiểm phổ biến hiện nay là việc cấp đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
Theo đó, hợp đồng bảo hiểm du lịch là sự thoả thuận giữa khách du lịch hoặc các công ty du lịch với doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó du khách hoặc các công ty
du lịch có trách nhiệm đóng phí và các doanh nghiệp bảo hiểm cam kết sẽ trả tiền bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm đối với những chi phí cần thiết và hợp lý
do hậu quả của tai nạn, ốm đau thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm
Theo quy định chung của Luật kinh doanh bảo hiểm, tại điều 13 thì hợp đồng bảo hiểm phải có các nội dung sau:
Đầu tiên là điều khoản nêu tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hay người thụ hưởng Đây là nội dung đầu tiên và
là một thông tin quan trọng xác định tư cách chủ thể của các bên, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp và được pháp luật bảo vệ
Đối tượng bảo hiểm là nội dung tiếp theo của hợp đồng, đây là nội dung quan trọng và bắt buộc trong hợp đồng Vì một khi xác định rõ đối tượng bảo hiểm sẽ biết được rõ loại hình bảo hiểm, dựa vào đó để xem xét bên tham gia bảo hiểm hay người được bảo hiểm có lợi ích bảo hiểm hay không và sau khi xảy ra rủi ro bảo hiểm, cũng thuận tiện cho việc kiểm tra xác minh tổn thất, quyết định tiền bồi thường
Số tiền bảo hiểm, phạm vi và điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm và điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm cũng là một nội dung cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước Số tiền bảo hiểm là mức trách nhiệm cao nhất của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm
và cũng là cơ sở để tính phí bảo hiểm Còn đối với phạm vi bảo hiểm cũng như điều khoản loại trừ sẽ giúp cho các bên xác định rõ hơn về phạm vi quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng
Một nội dung bắt buộc tiếp theo chính là thời hạn hợp đồng Cũng như các quan hệ dân sự khác, quan hệ bảo hiểm không tồn tại mãi mãi, nó tồn tại có thời hạn và chấm dứt khi xảy ra những sự kiện pháp lý nhất định ở đây là khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Pháp luật không quy định cụ thể hợp đồng là bao lâu, tuy nhiên với đặc thù của thời gian du lịch là rất ngắn nên thời hạn bảo hiểm cũng theo
đó mà không quá dài Chính vì vậy, các bên có thể tự do thỏa thuận thời hạn hợp đồng
14
Điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
Trang 26Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm, thời hạn và phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cũng là một nội dung không thể thiếu trong hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước Các bên có thể tự thỏa thuận với nhau về phương thức đóng phí bảo hiểm là đóng một lần hoặc nhiều lần, việc quy định về thời hạn cũng như phương thức trả tiền bảo hiểm hay bồi thường phù hợp sẽ đảm bảo cho người được bảo hiểm nhận được những bù đắp thiệt hại mang tính kịp thời, nhanh chóng
Nội dung cuối cùng trong hợp đồng bảo hiểm là các quy định về giải quyết tranh chấp Pháp luật bắt buộc hợp đồng bảo hiểm phải có điều khoản về giải quyết tranh chấp nhưng không quy định cụ thể là giải quyết như thế nào Cho nên các bên sẽ thỏa thuận về nguyên tắc giải quyết tranh chấp cũng như cách thức giải quyết tranh chấp mà mình xem là thuận tiện nhất
Việc tìm hiểu các văn bản pháp luật điều chỉnh bảo hiểm khách du lịch trong nước cũng như những vấn đề chung về loại hình bảo hiểm này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về bảo hiểm khách du lịch trong nước Đồng thời trên cơ
sở đó chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về những quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo hiểm khách du lịch trong nước mà người viết sẽ trình bày tại chương 2
Trang 27CHƯƠNG 2: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BẢO HIỂM
KHÁCH DU LỊCH TRONG NƯỚC 2.1 Đối tượng và phạm vi được bảo hiểm
2.1.1 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm nói chung là tài sản, những lợi ích có liên quan tới tài sản,
hoặc trách nhiệm dân sự, hoặc tính mạng, sức khỏe, khả năng lao động và tuổi thọ
con người – những đối tượng có thể gặp rủi ro và vì thế có thể tổn hại đến lợi ích
có thể được bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm được xác định cho từng loại nghiệp vụ bảo hiểm và cụ thể
hơn trong từng loại hợp đồng bảo hiểm bằng điều khoản đối tượng bảo hiểm Việc
xác định rõ đối tượng bảo hiểm sẽ quyết định đến việc vận dụng các nguyên tắc,
biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ thích hợp trong soạn thảo, thỏa thuận và quản lý hợp
đồng bảo hiểm.15
Nghiệp vụ bảo hiểm du lịch được phân làm 3 loại đó là: Bảo hiểm khách du
lịch trong nước, bảo hiểm người nước ngoài du lịch tại Việt Nam, bảo hiểm người
Việt Nam du lịch nước ngoài Tuy nhiên trong khuôn khổ của đề tài chỉ nghiên
cứu về bảo hiểm khách du lịch trong nước Sau đây là nội dung chi tiết:
Theo Tổng cục du lịch Việt Nam định nghĩa: “Khách du lịch trong nước là
công dân nước Việt Nam rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình có sử dụng
dịch vụ lưu trú qua đêm của tổ chức kinh doanh trong phạm vi lãnh thổ Việt
Nam” Còn đối với Luật Du lịch 2005 định nghĩa:“Khách du lịch nội địa là công
dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi
lãnh thổ Việt Nam”
Như vậy theo Luật Du lịch thì khách du lịch nội địa bên cạnh là công dân Việt
Nam thì có thêm người nước ngoài thường trú tại Việt Nam Công dân Việt Nam
là người có quốc tịch Việt Nam16, còn đối với người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam thì theo khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh số 24/1999PL-UBTVQH 10 ngày 28
tháng 4 năm 2000 về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt
Nam có định nghĩa: “Người nước ngoài thường trú là người nước ngoài làm ăn,
sinh sống lâu dài ở Việt Nam” Bảo hiểm khách du lịch trong nước sẽ bảo hiểm
cho những đối tượng trên khi họ đi thăm quan, nghỉ mát, tắm biển, leo núi và các
loại hình du lịch khác hoặc nghỉ khách sạn, nhà khách trong phạm vi lãnh thổ Việt
Nam Trường hợp người được bảo hiểm khảo sát, thám hiểm, biểu diễn nguy
Trang 28hiểm, đua xe, đua ngựa, đua thuyền, thi đấu có tính chất chuyên nghiệp các môn: bóng đá, đấm bóc, leo núi, lướt ván…chỉ được bảo hiểm với điều kiện đã nộp thêm phụ phí bảo hiểm theo quy định tại “Biểu phí và số tiền bảo hiểm” ban hành cùng với quy tắc bảo hiểm khách du lịch trong nước.17 Với quy định như vậy, khi tham gia các trò chơi có tính chất nguy hiểm khả năng rủi ro về tính mạng, sức khỏe cao thì người tham gia bảo hiểm bên cạnh việc đóng bảo hiểm cho chuyến đi của mình còn phải đóng thêm khoản tiền gọi là phụ phí tức chi phí để được bảo hiểm khi có tham gia các trò chơi hay các hoạt động mang tính chất nguy hiểm Ngoài ra, người được bảo hiểm vẫn được tham gia và hưởng quyền lợi của các loại
hình bảo hiểm khác
2.1.2 Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là loại điều khoản cơ bản của hợp đồng bảo hiểm khách du lịch trong nước Sự cần thiết đó xuất phát từ một thực tế là có rất nhiều loại rủi ro, tổn thất, chi phí có thể ảnh hưởng đến sự an toàn của đối tượng bảo hiểm nhưng những yêu cầu về kỹ thuật pháp lý chỉ cho phép các nhà bảo hiểm bảo hiểm được một số trường hợp – những rủi ro có thể được bảo hiểm (insurable risk).18
Đối với khách du lịch trong nước thì phạm vi bảo hiểm sẽ là:
Một là, chết, thương tật thân thể do tai nạn
Hai khái niệm “tai nạn” và “thương tích” thường gắn liền với nhau, cho nên
“Tai nạn” là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do một tác nhân bên
nạn nhân Có hai loại tai nạn đó là tai nạn không chủ định và tai nạn có chủ định Đối với tai nạn không chủ định thường không có nguyên nhân rõ ràng, khó có thể đoán trước được như ngã, bỏng, ngộ độc, chết đuối Còn tai nạn có chủ định như chiến tranh, bạo lực, tự tử, bạo hành thường có nguyên nhân và có thể phòng tránh
mức độ khác nhau gây nên, bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lượng (có thể
là các tác động nhiệt, hóa chất, cơ học, chất phóng xạ ) quá ngưỡng chịu đựng
17
Trước đây Bộ tài chính có ban hành quyết định số 06/ TC-BH ngày 2/1/1993 quy định về Quy tắc bảo hiểm khách du lịch trong nước Tuy nhiên, hiện nay văn bản này đã hết hiệu lực và hiện tại không có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể về vấn đề này, nên mỗi công ty bảo hiểm có khai thác nghiệp vụ bảo hiểm khách du lịch trong nước sẽ tự ban hành một quy tắc để điều chỉnh về vấn đề bảo hiểm khách du lịch trong nước
Trang 29của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống như thiếu ôxy, mất nhiệt Thương tích có thể lý giải được và có thể phòng tránh.20
hiểm, từ bên ngoài tác động lên thân thể người được bảo hiểm và là nguyên nhân duy nhất và trực tiếp làm cho người được bảo hiểm bị chết hoặc thương tật thân thể Theo khái niệm trên “tai nạn” bao gồm các yếu tố:
kiện hoàn toàn mang tính chất ngẫu nhiên, trong những điều kiện nào đó không thể dự báo trước và cũng không thể tránh được Có thể loại trừ hành vi tự tử bởi đây không phải là tai nạn và hoàn toàn không mang tính chất ngẫu nhiên
Thứ hai, tai nạn xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm, từ bên ngoài tác động lên thân thể người được bảo hiểm và là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong hoặc thương tật thân thể người được bảo hiểm Yếu tố này có hàm ý việc xảy
ra sự kiện ngẫu nhiên phải nằm ngoài ý muốn chủ quan của người bị tai nạn
Khi đi du lịch, tai nạn là điều mà không ai mong muốn xảy ra, những tai nạn trong quá trình du lịch là điều hoàn toàn bất ngờ chẳng hạn như bị đuối nước khi
đi tắm biển, ngộ độc thực phẩm, hay khách sạn, nhà nghỉ mà khách du lịch thuê bị cháy hoặc trong quá trình tham gia trò chơi khách du lịch bị thương hoặc nguy hiểm hơn có thể dẫn đến tử vong
Hai là, chết do ốm đau, bệnh tật bất ngờ trong thời hạn bảo hiểm
Bệnh tật là sự biến chất về sức khỏe dù bất kỳ nguyên nhân gì, bao hàm cả nguyên nhân lây truyền Những biến chất về sức khỏe hay đúng hơn là những suy giảm về sức khỏe do bệnh tật khác với những thương tổn thân thể do tai nạn.21
Thời hạn bảo hiểm là thời gian kể từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, tức là thời gian liên tục tồn tại trách nhiệm bảo hiểm Khi tham gia cũng như ký kết hợp đồng bảo hiểm biết rõ thời hạn bảo hiểm là điều rất quan trọng Bởi vì chỉ có sự đảm bảo bằng hình thức bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm ở trong thời hạn bảo hiểm mới được hưởng quyền lợi Chỉ khi nào rủi ro bảo hiểm hay sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời hạn bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm mới nhận trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm.22
Trang 30Như vậy, trong thời hạn bảo hiểm mà khách du lịch bị chết do ốm đau, hoặc chết do bệnh tật bất ngờ thì sẽ được bảo hiểm Đối với những trường hợp chết do những căn bệnh đã điều trị từ trước khi được bảo hiểm nhưng không khỏi bệnh hay những căn bệnh mà khách du lịch đã mắc phải và đang điều trị thì không nằm trong phạm vi bảo hiểm vì bệnh ở đây là những căn bệnh bất ngờ không biết trước
Ba là, ngoài phạm vi bảo hiểm nêu trên khách du lịch trong nước còn được bảo hiểm trong trường hợp chết hoặc thương tật thân thể do người được bảo hiểm có hành động cứu người, cứu tài sản của nhà nước, của nhân dân và tham gia chống các hành động phạm pháp
Đối với khách du lịch nước ngoài du lịch tại Việt Nam hay người Việt Nam đi
du lịch ở nước ngoài thì điều khoản này không nằm trong phạm vi được bảo hiểm, chỉ có khách du lịch trong nước mới được công ty bảo hiểm thanh toán tiền bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật hay chết do những hành động nêu trên Tuy nhiên, khách du lịch trong nước lại không được bảo hiểm trong một số trường hợp mà khách du lịch nước ngoài du lịch tại Việt Nam hay người Việt Nam du lịch ở nước ngoài được bảo hiểm Chẳng hạn như việc mất, thiệt hại hành lý và vật dụng mang theo người do những nguyên nhân cháy, nổ hay phương tiện chuyên chở bị đâm va, chìm, lật đổ, rơi Phạm vi bảo hiểm đối với khách du lịch trong nước chỉ được bảo hiểm về tính mạng sức khỏe còn đối với những thiệt hại về hành lý hay những vật dụng riêng mang theo người thì lại không được bảo hiểm Ngày nay, việc đi lại nhất là đi du lịch trong nước bằng phương tiện máy bay là rất phổ biến nên việc bị hủy chuyến bay có thể xảy ra và những thiệt hại do chuyến bay bị hủy thì không được đề cập trong phạm vi bảo hiểm đối với đối tượng là khách du lịch trong nước
Các trường hợp loại trừ bảo hiểm
Loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là trách nhiệm không thuộc về công ty bảo hiểm
vì tổn thất của đối tượng bảo hiểm không do tai nạn rủi ro trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm gây ra Cũng có thể nói rằng, loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là phạm vi không chịu trách nhiệm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm của công ty bảo hiểm Trong hợp đồng bảo hiểm cũng phải quy định rõ ràng phần loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, nhằm xác định rõ hơn mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa
vụ của hai bên, tránh những tranh cãi không cần thiết Cũng giống như các loại bảo hiểm khác đối với loại hình bảo hiểm khách du lịch trong nước công ty bảo hiểm sẽ không nhận bảo hiểm trong các trường hợp sau: Người được bảo hiểm cố
ý vi phạm pháp luật, nội quy, quy định của cơ quan du lịch, chính quyền địa phương nơi du lịch Hành động cố ý của người được bảo hiểm hoặc người thừa kế
Trang 31hợp pháp (là người được chỉ định nhận tiền bảo hiểm theo giấy chứng nhận bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm hoặc di chúc theo pháp luật) Người được bảo hiểm bị ảnh hưởng bởi rượu, bia, ma tuý hoặc các chất kích thích tương tự khác Điều trị hoặc sử dụng thuốc không theo chỉ dẫn của y, bác sĩ điều trị Ngoài ra đối với trường hợp có chiến tranh hay khủng bố xảy ra trong quá trình du lịch thì khách du lịch cũng sẽ không được bảo hiểm trong trường hợp này.23
Đây là những trường hợp loại trừ cơ bản trong bảo hiểm khách du lịch trong nước, tuy nhiên giữa công ty bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm (ở đây có thể là công ty du lịch hay khách du lịch) có thể thỏa thuận với nhau về những điều khoản loại trừ khác
2.2 Phương thức bảo hiểm
Giống như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, bảo hiểm khách du lịch trong nước hoàn toàn có thể tiến hành được theo phương thức tự nguyện Điều đó có nghĩa là việc tham gia bảo hiểm du lịch hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính của người tham gia du lịch Theo quy định của Luật Du lịch
2005, thì bảo hiểm du lịch không bắt buộc mua đối với khách du lịch nội địa Đối với bảo hiểm khách du lịch trong nước thì có ba phương thức bảo hiểm sau:
Thứ nhất, là bảo hiểm chuyến
Khi đi du lịch tập thể, các tập thể có thể yêu cầu tham gia phương thức bảo hiểm chuyến, công ty bảo hiểm sẽ ký hợp đồng với các tập thể kèm theo danh sách các cá nhân được bảo hiểm Trường hợp tham gia bảo hiểm là cá nhân thì công ty bảo hiểm sẽ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho từng cá nhân Với phương thức bảo hiểm này, thì hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực kể từ thời gian chuyến du lịch tại nơi xuất phát và kết thúc khi chuyến du lịch hoàn thành theo thời gian và tại địa điểm ghi trong hợp đồng
Thứ hai, là bảo hiểm tại khách sạn
Đối với trường hợp phí bảo hiểm thu gộp cùng với tiền phòng ở khách sạn và hóa đơn thu tiền phòng có phần phí bảo hiểm được coi là bằng chứng đã tham gia bảo hiểm Thì bảo hiểm có hiệu lực từ thời điểm người được bảo hiểm hoàn thành thủ tục nhận phòng tại khách sạn cho đến khi người được bảo hiểm làm xong thủ tục trả phòng Nếu cá nhân yêu cầu bảo hiểm tại khách sạn, công ty bảo hiểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho từng cá nhân sau khi đã nộp đủ phí theo quy định, thì bảo hiểm sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm người được bảo hiểm hoàn thành thủ
23
Quy tắc bảo hiểm khách du lịch trong nước của Tổng công ty bảo hiểm BIDV
Trang 32tục nhận phòng tại khách sạn cho đến 12 giờ ngày kết thúc bảo hiểm ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm
Thứ ba, bảo hiểm tại điểm
Đối với trường hợp bảo hiểm tại điểm tức là bảo hiểm tại các khu du lịch thì vé vào cửa có thu phí bảo hiểm sẽ được coi là hợp đồng bảo hiểm Bảo hiểm sẽ có hiệu lực kể từ khi người được bảo hiểm qua cửa kiểm soát vé để vào khu du lịch
và kết thúc ngay khi người được bảo hiểm ra khỏi cửa kiểm soát vé đó để về nơi
cư trú
2.3 Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
2.3.1 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là khoản tiền được xác định trước trong hợp đồng bảo hiểm
theo sự thoả thuận giữa công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Khoản tiền
đó thể hiện dưới trách nhiệm của người được bảo hiểm trong việc chi trả bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm có thể có trong một sự cố bảo hiểm Vì con người là
vô giá do đó số tiền bảo hiểm về con người đối với mỗi rủi ro, tổn thất được xác định là sự thoả thuận giữa công ty bảo hiểm và người tham gia ở một mức độ hợp
lý.24
Theo quy định thì số tiền bảo hiểm tùy thuộc vào sự lựa chọn của người tham gia mà số tiền từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, ngoài ra công ty bảo hiểm có thể nhận số tiền bảo hiểm cao hơn 10.000.000 tùy theo từng khách hàng
cụ thể.25
2.3.2 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp
bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.26 Điều 572 của Bộ luật Dân sự 2005 có quy định “Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho bên bảo hiểm.” Tức là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm Phí bảo hiểm chính là giá cả của dịch vụ bảo hiểm Ngoài ra, trong thực tế, phí bảo hiểm còn có thể được thỏa thuận giữa bên được bảo hiểm và bên bảo hiểm thường được biểu hiện dưới dạng “biểu phí” do bên bảo hiểm soạn thảo trước Thời hạn đóng bảo hiểm tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật và phí bảo hiểm có thể đóng một lần hoặc theo định kỳ Ngoài ra, luật còn quy định, trong
24
http://webtailieu.net/xem-tai-lieu/bao-cao-bao-hiem-du-lich-thuc-trang-va-tiem-nang-phat trien.3546.html
25
Quy tắc bảo hiểm khách du lịch trong nước của công ty bảo hiểm Bảo Việt và Quy tắc bảo hiểm khách
du lịch trong nước của công ty bảo hiểm AAA
26
Khoản 11 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
Trang 33trường hợp bên mua bảo hiểm chậm đóng phí bảo hiểm theo định kỳ thì bên bảo hiểm sẽ ấn định thêm cho bên mua bảo hiểm thêm một khoảng thời gian nữa để đóng phí, nếu hết thời hạn đó mà bên mua bảo hiểm cũng không đóng phí bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên sẽ chấm dứt.
Phí bảo hiểm trong du lịch là khoản tiền mà khách du lịch hoặc các công ty
du lịch phải trả cho các công ty bảo hiểm để đổi lấy sự bồi thường của các công ty bảo hiểm khi có rủi ro bất ngờ gây ra tổn thất Do đó, phí bảo hiểm là khoản tiền của người tham gia bảo hiểm chi ra để đổi lấy trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm Nộp phí bảo hiểm là nghĩa vụ cơ bản của người tham gia bảo hiểm phải thực hiện Khi nhận bảo hiểm cho bất kỳ một đối tượng nào, công ty bảo hiểm phải xác định mức phí hợp lý sao cho:
Thứ nhất, đủ để đảm bảo khả năng chi trả tiền bồi thường của công ty Đây là điều kiện tiên quyết khi xây dựng mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo có tính thanh khoản hợp lý Doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải thanh toán tiền cho người tham gia bảo hiểm bất cứ lúc nào khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra, cho nên việc quy định mức phí bảo hiểm phù hợp để làm sao đủ chi trả tiền bồi thường cho công ty là điều rất quan trọng Nếu việc bồi thường không kịp thời, không đúng lúc hay trầm trọng hơn là công ty bảo hiểm không có khả năng bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm cho khách hàng sẽ dẫn đến việc công ty bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về vi phạm hợp đồng, vi phạm điều khoản chi trả tiền bảo hiểm, chịu trách nhiệm từ những thiệt hại mà người được bảo hiểm phải gánh chịu
do không chi trả hay chi trả không kịp thời, từ đó đẫn đến việc uy tín của công ty suy giảm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
Thứ hai, phải đảm bảo mức lãi hợp lý Trong hoạt động kinh doanh phải đảm bảo tạo ra lợi nhuận Lợi nhuận rất cần thiết để đảm bảo cho doanh nghiệp bảo hiểm tăng cường sức mạnh tài chính, thực hiện các chiến lược của mình như mở rộng phạm vi bảo hiểm Do đó, việc thu phí như thế nào để vừa đảm bảo cho các hoạt động khác của công ty và vừa phải có lợi nhuận là điều mà các doanh nghiệp bảo hiểm rất quan tâm
Thứ ba, có khả năng cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Trên thị trường bảo hiểm hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khai thác nghiệp vụ bảo hiểm
du lịch, nên việc xác định mức phí bảo hiểm sao cho vừa đảm bảo khả năng chi trả bồi thường vừa có lợi nhuận và phải có tính cạnh tranh cao trên thị trường bảo hiểm hiện nay là điều rất khó Nếu như doanh nghiệp đưa ra mức phí bảo hiểm cao hơn so với các doanh nghiệp bảo hiểm khác trên thị trường bên cạnh việc đem lại lợi nhuận cao thì doanh nghiệp bảo hiểm đó sẽ không thể cạnh tranh lại so với các
Trang 34doanh nghiệp bảo hiểm khác khi các doanh nghiệp bảo hiểm khác có mức phí bảo hiểm thấp hơn Và ngược lại nếu như doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra mức phí bảo hiểm thấp, có thể thu hút được nhiều khách hàng tham gia bảo hiểm thì song song
đó là vấn đề về đảm bảo đủ tiền chi trả bồi thường và cao hơn là có lợi nhuận sẽ không được đảm bảo, do đó việc hài hòa giữ các yếu tố trên là điều rất khó
Trong bảo hiểm du lịch phí bảo hiểm bao gồm phí cơ bản và phụ phí :
S là số tiền bảo hiểm
K là số người đi du lịch trong một chuyến du lịch
N là số ngày du lịch
Tỷ lệ phí bảo hiểm theo hình thức tham gia:
Bảo hiểm chuyến hoặc khách sạn, nhà hàng là 0,015%/số tiền bảo hiểm/người/ngày Đối với khách du lịch chỉ tham gia bảo hiểm ở các khu vực du lịch nếu có tắm biển, leo núi hoặc đi thuyền trên sông nước thì phí nộp là 0,010%/số tiền bảo hiểm/lượt người Ngoài trường hợp trên phí nộp là 0,005%/số tiền bảo hiểm/lượt người
Phụ phí chỉ áp dụng cho các đối tượng khảo sát, thám hiểm, biểu diễn nguy hiểm, đua xe, đua ngựa, đua thuyền, thi đấu có tính chất chuyên nghiệp các môn: bóng đá, đấm bóc, leo núi, lướt ván…Phí nộp là 0,1%/số tiền bảo hiểm/người/cuộc thi đấu/ngày
2.4 Giám định tổn thất và giải quyết bồi thường
Giám định và bồi thường là khâu quan trọng quyết định tới uy tín và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Tuy nhiên trong quá trình giám định
và giải quyết bồi thường còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như tính khoa học và tính phù hợp của quy trình giám định bồi thường của công ty, trình độ, kinh nghiệm, đạo đức, thái độ phục vụ của cán bộ giám định giải quyết bồi thường, công tác kiểm tra, giám sát
2.4.1 Giám định tổn thất
Giám định là một khâu trong nghiệp vụ bảo hiểm Đây là cơ sở của bồi thường Việc bồi thường có đầy đủ kịp thời và chính xác hay không phụ thuộc
P = r x S x K x N
Trang 35nhiều vào kết quả giám định Việc giám định là nhằm xác định nguyên nhân, mức
độ thiệt hại thực tế của tổn thất, từ đó xem xét tổn thất có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không Công tác giám định bồi thường tổn thất nếu được thực hiện tốt, nhanh chóng, chính xác sẽ đảm bảo quyền lợi của khách hàng, nâng cao uy tín của công
ty, ngoài ra hạn chế được tình trạng trục lợi, đảm bảo kết quả kinh doanh Chính vì
lẽ đó, công tác giám định có một vai trò hết sức quan trọng nên các công ty bảo hiểm rất quan tâm, chú trọng đến công tác này
Công ty bảo hiểm có trách nhiệm giám định mọi tổn thất mà khách hàng thông báo cho công ty một cách nhanh nhất Giám định tổn thất được thực hiện bởi các chuyên viên giám định và phần lớn chuyên viên giám định là chính nhân viên của các công ty bảo hiểm Chuyên viên giám định bảo hiểm phải công minh, cẩn thận và hiểu biết một cách thấu đáo nghiệp vụ bảo hiểm của mình, phải chấp hành nghiêm chỉnh những chỉ thị, ý kiến của doanh nghiệp bảo hiểm Nếu chuyên viên giám định do công ty bảo hiểm chỉ định, lựa chọn sẽ được ủy nhiệm một số quyền hạn nhất định, song không được nhượng lại sự ủy quyền này cho người khác, lợi ích của họ phải độc lập với lợi ích của người tham gia bảo hiểm Trong quá trình giám định để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám định được nhanh chóng chính xác, giám định viên phải tạo không khí tin cậy hợp tác nhưng tuyệt đối không đưa ra bất kỳ cam kết nào về số tiền chi trả hoặc thông báo cho khách hàng về cách tính toán số tiền chi trả để tránh trường hợp khách hàng đưa ra thông tin sai lệch.27
Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, không quy định cụ thể về trình tự thủ tục giám định tổn thất mà tại Điều 48 chỉ quy định về việc chủ thể nào sẽ chịu chi phí giám định và trong trường hợp các bên không thống nhất về nguyên nhân, mức độ tổn thất cũng như không thống nhất về việc chọn giám định viên Theo đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc người được doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền thực hiện việc giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất và chi phí giám định tổn thất sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm chịu Nếu trong trường hợp các bên không thống nhất về nguyên nhân và mức độ tổn thất thì có thể mời giám định viên độc lập, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được việc trưng cầu giám định viên độc lập thì một trong các bên được yêu cầu Tòa án nơi xảy ra tổn thất hoặc nơi cư trú của người được bảo hiểm chỉ định giám định viên độc lập và kết luận của giám định
27
Nguyễn Văn Định, Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm, NXB Đại học kinh tế quốc dân, 2009