Bằng chứng là công tác quản lý còn chưa đồng bộ, việc xử phạt vi phạm hành chính còn nhiều bất cập, nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mang tính chung chung, tính thống nhất chưa cao d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
MSSV:5062374 Lớp:Thương mại 1 – K32
Cần Thơ, 4/2010
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
–00 00 00—
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
–00 00 00—
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
1.Tính cấp thiết của đề tài: 2
2.Mục đích nghiên cứu đề tài: 3
3.Phạm vi nghiên cứu: 3
4.Phương pháp nghiên cứu: 3
5.Bố cục của luận văn: 3
Chương 1 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 4
1.1.Các khái niệm: 4
1.1.1.Thực phẩm: 4
1.1.2.An toàn thực phẩm: 5
1.1.3.Vệ sinh an toàn thực phẩm: 5
1.2.Vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội:6 1.3.Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm: 8
1.3.1.Phương thức quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ quan, các bộ, ngành liên quan: 8
1.3.2.Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm: 14 1.3.3.Chế tài trong trường hợp có hành vi vi phạm hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm: 20
Chương 2 25
THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở TỈNH KIÊN GIANG 25
2.1.Tổng quan về Kiên Giang và tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm của tỉnh: 25
2.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Kiên Giang: 26
2.3.Thực trạng vi phạm pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm của tỉnh Kiên Giang: 34
2.4.Ưu điểm và hạn chế của công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm của tỉnh Kiên Giang 36
2.4.1.Ưu điểm: 36
2.4.2.Hạn chế: 37
2.5.Hướng hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 38
KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 44
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề hết sức phức tạp, bức xúc, có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, với sự phát triển kinh tế, văn hóa -
xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Đảm bảo vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm luôn là mối quan tâm của toàn cầu Một cuộc sống an toàn, lành mạnh, không có mất vệ sinh an toàn thực phẩm thì điều kiện sống của con người, sự phát triển của toàn xã hội sẽ được đảm bảo Thế nhưng, do ý thức và nhận thức của con người về vệ sinh an toàn thực phẩm chưa cao nên sức khỏe của con người đang bị
đe dọa ngày càng trầm trọng Để khắc phục tình trạng này, bên cạnh công tác truyền thông, giáo dục ý thức về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, ở Việt Nam, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh công tác quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm, cũng như điều chỉnh những hành vi của con người sao cho phù hợp với truyền thống đạo đức, văn hóa của xã hội và cũng để phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới Và pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm thì trong đó có Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 là văn bản pháp lý cao nhất hiện nay điều chỉnh về vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật, Nhà nước ta đã thiết lập những cơ quan chuyên môn về vệ sinh an toàn thực phẩm, tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị về
vệ sinh an toàn thực phẩm, nghiên cứu các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và cách khắc phục hậu quả do những vụ ngộ độc thực phẩm gây ra Tuy nhiên, do những hạn chế về mặt khách quan cũng như chủ quan: nước ta đi lên từ một nền kinh tế lạc hậu, pháp luật điều chỉnh về vệ sinh an toàn thực phẩm nhiều nhưng chưa đồng bộ, không đồng nhất trong công tác quản lý, trình độ dân trí còn thấp, chưa đồng bộ trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật… và những biện pháp quản lý, xử lý trong lĩnh vực này đưa ra vẫn chưa được áp dụng nhiều vào thực tiễn dẫn đến tình trạng không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng gia tăng Từ đó, để giải quyết tốt cho vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong tương lai thì việc nghiên cứu, tìm hiểu những quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm và thực hiện những quy định đó như thế nào cho đúng Vì vậy, tác giả chọn đề tài “ Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm – Lấy thực tiễn ở tỉnh Kiên Giang”
Trang 62.Mục đích nghiên cứu đề tài:
Những quy định của pháp luật về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đã được xây dựng nhưng việc áp dụng nó vào đời sống thực tế chưa có hiệu quả Bằng chứng là công tác quản lý còn chưa đồng bộ, việc xử phạt vi phạm hành chính còn nhiều bất cập, nhiều văn bản quy phạm pháp luật còn mang tính chung chung, tính thống nhất chưa cao dẫn đến tình trạng trong cùng một vấn đề nhưng lại có cách giải thích và giải quyết những quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước và những người có thẩm quyền không giống nhau, tạo kẻ hở trong quy phạm pháp luật dẫn đến hành vi lẫn tránh, luồng lách luật để tạo ra những sản phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Đây là vấn đề nan giải Do đó, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài này để mong rằng
có thể đề xuất ra những hướng giải quyết có hiệu quả cho công tác quản lý nhà
nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
3.Phạm vi nghiên cứu:
Do yêu cầu của một đề tài luận văn tốt nghiệp trong khuôn khổ thời gian cho phép nên tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm và thực trạng của các chính sách pháp luật
về vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam cũng như những ưu nhược trong việc áp dụng những quy định đó vào thực tiễn Từ đó rút ra những nhận định, vạch ra những giải pháp cho pháp luật điều chỉnh về vệ sinh an toàn thực phẩm
4.Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài,bên cạnh việc tổng hợp các quy định của pháp luật, các tài liệu liên quan đến đề tài thì tác giả còn tìm hiểu thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay để kết hợp phân tích làm rõ vấn đề
5.Bố cục của luận văn:
Nội dung của luận văn tốt nghiệp ngoài mục lục, lời nói đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài được trình bày trong hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về vệ sinh an toàn thực phẩm
Chương 2: Thực trạng của công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ở tỉnh Kiên Giang
Hướng hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 7để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được dùng như dược phẩm”1 Khái niệm này có phạm vi rất rộng, gần như đầy đủ, nó bao gồm cả lương thực, thức uống, đồ ngậm, nhai (kẹo cao su),
và đồ hút (thuốc lá),…
Tiếp đó, ngày 29 tháng 12 năm 1999, Bộ Y tế đã ban hành quy định về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm kèm thep quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT, trong đó có định nghĩa: “Thực phẩm là những đồ ăn, uống của con người ở dạng tươi sống, hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm” 2 Trong khái niệm này, phạm vi hẹp hơn so với khái niệm trước đó, bởi đồ hút (thuốc lá) được quản lý ở một mảng riêng Do đó, theo từng thời kỳ khác nhau thì khái niệm này chưa phù hợp lắm Vì trong văn bản quản lý nhà nước, khái niệm này phải dễ hiểu, có tính đại chúng mới có thể tuyên truyền pháp luật đến người dân được Hiện nay, một khái niệm được nhiều người công nhận, đó là tại Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 2003: “Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản”.3 Từ khái niệm trên, ta có thể nhìn nhận một cách khái quát về nội hàm của thực phẩm Nói tới thực phẩm là nói tới nguồn dinh dưỡng cho con người, tới việc chế biến, bảo quản thực phẩm làm sao để đảm bảo
vệ sinh và mục đích chính cũng là hướng tới bảo vệ sức khỏe của con người Đồng thời, nguồn thực phẩm đảm bảo về chất lượng và đảm bảo vệ sinh sẽ giúp cho con người được khỏe mạnh, chống được bệnh tật và tham gia vào các hoạt động xã hội
Trang 8tích cực hơn Giải quyết tốt vấn đề thực phẩm không những là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là vấn đề của toàn xã hội
1.1.3.Vệ sinh an toàn thực phẩm:
Vệ sinh an toàn thực phẩm rất quan trọng trong những bữa ăn hàng ngày và liên quan đến sức khỏe, thể chất của con người và đến nguồn nhân lực để phát triển đất nước, ảnh hưởng đến nòi giống người Việt Nam, đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này: cũng trong quy định về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm kèm theo quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT ban hành ngày 29 tháng 12 năm 1999 có định nghĩa: “Vệ sinh
an toàn thực phẩm là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng”5
“Vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người”6 Với khái
Trang 9niệm trên, ta thấy quy định quá chung, không rõ bao gồm các điều kiện, biện pháp cần thiết gì mà không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người Có thể nói,
nó bao gồm những tiêu chí để bảo đảm tính vệ sinh của thực phẩm từ khâu giống, trồng trọt, chăn nuôi đúng quy trình, thu hái, bảo quản đúng quy cách để có thực phẩm sạch Bên cạnh đó, nó còn là quá trình chế biến, đóng gói bằng chất liệu, bao
bì an toàn, có hạn sử dụng, hàng hóa có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, tránh ngộ độc thực phẩm
Qua những khái niệm vừa nêu, ta thấy dường như vấn đề chỉ gói gọn ở đó Nhưng không, hiện tại vấn đề mất vệ sinh an toàn thực phẩm đang ở mức báo động Khi nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng được cải thiện thì nhu cầu
về ăn uống cũng ngày càng cao không những về số lượng mà cả về chất lượng, không những an no mà còn phải ăn ngon Vì vậy, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm phải có sự quan tâm của mọi người Việc có những sản phẩm thực phẩm vừa đáp ứng được thị hiếu, vừa đáp ứng dinh dưỡng và độ an toàn và các mối nguy cơ đem đến từ vi sinh vật là vấn đề cần thiết Chẳng hạn, đối với sản phẩm nông, thủy sản cần quản lý tốt chất lượng không để nhiễm vi sinh, không chứa hóa chất bị cấm, hóa chất ngoài danh mục cho phép hay bị nhiễm hóa chất quá giới hạn cho phép
Có như thế mới nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Để thực hiện được thì các bộ, ngành phải phối hợp thật chặt chẽ, thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm và chịu trách nhiệm về sự đảm bảo vệ sinh của sản phẩm thực phẩm đối với sức khỏe nhân dân
1.2.Vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội:
Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của cả nước nói chung là vấn đề hết sức phức tạp Việc đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm có tác động trực tiếp, thường xuyên đối với sức khỏe mỗi người dân, ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống của dân tộc Sử dụng thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, thực phẩm có dư lượng hóa chất bảo vệ thực phẩm vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép, trước mắt có thể gây ngộ độc và các bệnh về đường tiêu hóa cho người sử dụng, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến nguy hiểm cho tính mạng, hoặc là về lâu dài sẽ tích lũy các độc
tố trong cơ thể mà về sau mới phát bệnh, gây ra di tật cho các thế hệ tiếp theo Bảo
vệ nòi giống và sức khỏe lâu dài của nhân dân trong cộng đồng các dân tộc là sự nghiệp chung và là trách nhiệm của toàn dân, đặc biệt là của các cấp chính quyền
Vì thế, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là rất quan trọng Nhưng trên thực tế, thói quen về ăn uống, sử dụng thực phẩm không đảm bảo vệ sinh của
Trang 10người dân còn rất nhiều, đây là điều rất đáng lo ngại Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý còn buông lỏng trách nhiệm quản lý về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Nếu khắc phục được vấn đề này sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bởi lẽ, con người là nhân tố rất quan trọng quyết định sự phát triển của đất nước, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội Do đó, khi đảm bảo được vệ sinh an toàn thực phẩm thì nguồn nhân lực và trí lực của đất nước cũng sẽ phát triển Bởi vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm có vai trò rất quan trọng, nó không những là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn là mục tiêu của phát triển kinh tế - xã hội
Nói vệ sinh an toàn thực phẩm là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bởi vì đất nước ta ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại
và được ứng dụng rộng rãi trong các khâu chế biến và bảo quản sản phẩm Việc tạo
ra sản phẩm thực phẩm cũng ngày càng nhanh, thực phẩm vệ sinh an toàn hơn, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Khi đó, người tiêu dùng sẽ có nhiều thời gian chăm lo cho công việc hơn, trao dồi thêm trình độ, kiến thức để góp phần đưa đất nước mình phát triển Đó là nói đến những người sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm làm ăn chân chính, không vì mục đích lợi nhuận mà quan tâm hàng đầu là sức khỏe của người tiêu dùng thì sẽ là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội Nhưng cũng còn một số người chỉ vì lợi nhuận mà làm ăn gian dối, kinh doanh những thực phẩm không đảm bảo chất lượng, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Liệu họ có nghĩ rằng, các thực phẩm mà mình bán ra đơn giản chỉ
để phục vụ cho những người tiêu dùng, mà họ có biết đâu trong số những người tiêu dùng đó có chính những người thân của họ, hay là chỉ nghĩ đến lợi nhuận
Vệ sinh an toàn thực phẩm là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nghĩa là phát triển kinh tế phải hướng vào phát triển và hoàn thiện con người, hướng vào phát triển và hoàn thiện xã hội Sự phát triển của trí tuệ con người, của khoa học-
kỹ thuật dẫn đến tăng trưởng kinh tế, nhưng bên cạnh đó cũng phải chú trọng nâng cao ý thức và đạo đức của người sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm Trong chế độ xã hội có tổ chức, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường, con người cần được chăm lo,đặc biệt là về mặt ăn uống phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, có như thế con người mới có được sức khỏe tốt mà phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bởi lẽ, sức khỏe không chỉ là vốn quý của từng con người mà còn là vốn quý của toàn xã hội Sức khỏe là tiền đề để con người lao động làm giàu cho bản thân mình, làm giàu cho đất nước, góp phần bảo
vệ vững chắc chính quyền và đưa sự phát triển của đất nước ngày càng vươn tới
Trang 11phồn vinh, hạnh phúc Muốn vậy, người sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải có trách nhiệm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh và thực hiện các điều kiện sản xuất, kinh doanh, phải có đủ các tiêu chuẩn sức khỏe
và tiêu chuẩn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm
Có thể thấy rằng, trong những năm qua, công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được Đảng, Quốc hội, Chính phủ và toàn thể xã hội rất quan tâm Mặc
dù vấn đề này còn nhiều bức xúc nhưng đã có nhiều tiến bộ Cụ thể là công tác giáo dục truyền thông được đẩy mạnh, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm được bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm lãnh đạo của các cấp, các ngành và người tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội
1.3.Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm:
1.3.1.Phương thức quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ quan, các bộ, ngành liên quan:
Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước nhằm đảm bảo sức khỏe nhân dân, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước Nhà nước có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hài hòa giữa các cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, cũng như những lợi ích vật chất của họ Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc giải quyết những vụ vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm Xây dựng và phát triển một cuộc sống đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là sự nghiệp không chỉ của mỗi cá nhân mà là của toàn xã hội Nhà nước thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm không có nghĩa là Nhà nước tạo ra được loại thực phẩm đạt chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, mà Nhà nước có vai trò định hướng cho việc làm như thế nào để đảm bảo thực phẩm không gây hại cho tính mạng, sức khỏe của con người Nhà nước thực hiện những hoạt động nhằm hướng cho người dân có ý thức chấp hành tốt các quy định về đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm, tuyên truyền những chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về tăng cường giáo dục, xây dựng lối sống đạo đức lành mạnh, không
để cho các vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm xảy ra
Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đòi hỏi phải tiến hành những hoạt động cụ thể Do đó, trong quản lý nhà nước về lĩnh vực này, Nhà nước không nên xác lập một khuôn mẫu định sẵn cho công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, vì như vậy sẽ tạo ra sự áp đặt từ trên xuống, không phát huy được tính sáng tạo, linh hoạt trong công tác quản lý của các cấp, các ngành
Trang 12Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vai trò của Nhà nước đối với vệ sinh an toàn thực phẩm là phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh
tế Muốn vậy, thì Nhà nước phải tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho sự đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, thiết lập một cơ chế quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm hợp lý để đảm bảo cho sức khỏe của người dân không bị đe dọa, xác định rõ thẩm quyền và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm Đặc biệt, cần phân biệt rõ chức năng của các cơ quan trực tiếp thực hiện việc quản lý công tác này
- Ở Trung ương, cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là Chính phủ và Bộ Y tế Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên phạm vi cả nước, thi hành các biên pháp để đảm bảo vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, Chính phủ có một số quyền hạn cụ thể: trình dự án luật, Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm, quyết định quy hoạch, kế hoạch, chiến lược, ban hành quyết định quản lý nhà nước và các chế độ, chính sách khác về vệ sinh an toàn thực phẩm
Ở nước ta, người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ Thủ tướng Chính phủ ký các nghị quyết, nghị định của Chính phủ, ra quyết định, chỉ thị về vệ sinh an toàn thực phẩm và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với các ngành, địa phương và cơ sở Thủ tướng có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của Bộ trưởng
Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân, chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trái với Hiến Pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên
Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ , trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của
Bộ Bộ trưởng Bộ Y tế xây dựng và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách về vệ sinh
an toàn thực phẩm; phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để xây dựng, ban hành và chứng nhận thực phẩm đạt hoặc phù hợp tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn đối với thực phẩm tiêu dùng nội địa; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan
để thực hiện quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm lưu thông trên thị trường và thực phẩm nhập khẩu, tổ chức thực hiện kiểm soát ô nhiễm vi sinh vật và tồn dư hóa chất trong thực phẩm (bao gồm cả phụ gia thực phẩm); tổ chức việc kiểm tra, thanh tra vệ sinh an toàn thực phẩm; tổ chức thực hiện nghiên cứu khoa học công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, hớp tác quốc tế trong lĩnh vực vệ
Trang 13sinh an toàn thực phẩm, tổ chức thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm
Bên cạnh Bộ Y tế là Bộ chủ quản trong công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm thì Bộ còn phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để quản lý công tác này như : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học- Công nghệ và Thanh tra Chính phủ Qua đó, công tác quản lý nhà nước
về vệ sinh an toàn thực phẩm ở Trung ương được biểu hiện bằng mô hình sau:
Tại Việt Nam, các cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ở Trung ương cơ bản bao gồm các Bộ, ngành như đã nêu ở mô hình trên Tuy nhiên, trên thực tế, các Bộ này đã thành lập các cơ quan trực thuộc để thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác này
Trước tiên, Bộ Y tế đã giao quyền lại cho Cục An toàn vệ sinh thực phẩm quản lý Đây là Cục quản lý chuyên ngành thuộc Bộ Y tế, giúp Bộ trưởng Bộ y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chỉ đạo, điều hành các hoạt động chuyên môn về vệ sinh an toàn thực phẩm trong phạm vi cả nước
Kế đến là bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng có Cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản Cục này có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông, lâm, thủy sản và muối trong quá trình sản xuất từ khi trồng trọt, chăn
Cục ATVSTP Tổng cục
tiêu chuẩn
đo lường chất lượng
Vụ Khoa học & Công nghệ
Cục Quản
lý chất lượng nông lâm sản &
thủy sản Chính phủ
Trang 14nuôi, thu hoạch, đánh bắt, giết mổ động vật, sơ chế, chế biến, bao gói, bào quản, vận chuyển đến khi thực phẩm được đưa ra lưu thông trên thị trường trong nước và xuất khẩu; quản lý vệ sinh thú y đối với thực phẩm có nguồn gốc động vật nhập khẩu vào Việt nam
Vụ Khoa học và Công nghệ thuộc Bộ Công thương, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất của các cơ sở chế biến thuộc phạm vi quản lý của Bộ từ khi nhập nguyên liệu để chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển đến khi sản phẩm được đưa ta thị trường nội địa hoặc xuất khẩu
Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng thuộc Bộ Khoa học Công nghệ ,
có nhiệm vụ thẩm định và công bố tiêu chuẩn quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm, tham gia kiểm nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm
- Ở địa phương: có Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ở địa phương mình theo quy định của pháp luật Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn , Sở Công thương, Sở khoa học- Công nghệ, Phòng Y tế, Phòng Nông nghiệp, Trạm y tế xã là các cơ quan chuyên môn trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ở địa phương
Và công tác quản lý này được phác họa bằng mô hình sau:
Trang 16Nhìn vào sơ đồ trên, ta hình dung được rằng, công tác quản lý nhà nước về vệ sinh
an toàn thực phẩm ở đia phương cũng được phân cấp cụ thể
- Ở cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn theo phân cấp và theo quy định của pháp luật Dưới Ủy ban nhân dân tỉnh có các cơ quan giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm:
Sở Y tế: tham mưu giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về công tác này theo quy định của pháp luật.Dưới Sở Y tế có Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm thuộc Sở Y tế, giúp Giám đốc Sở thực thi pháp luật và thực hiện thanh tra chuyên nghành về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn cấp tỉnh
Kế đến là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn cấp tỉnh về nông, lâm, thủy sản và muối theo phân cấp và theo quy định của pháp luật Dưới sở có Chi cục quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, giúp Giám đốc Sở thực thi pháp luật và thực hiện thanh tra chuyên ngành về vê sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn cấp tỉnh
Sở khoa học-Công nghệ thì giúp UBND cấp tỉnh thực hiện các tiêu chuẩn quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh.Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng thuộc Sở giúp Giám đốc Sở thực hiện các nhiệm vụ về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn cấp tỉnh
- Ờ cấp huyện: Phòng Y tế huyện và Phòng Nông nghiệp huyện có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý và thực hiện các quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn cấp huyện
Còn Trạm Y tế xã là cơ quan chuyên môn kỹ thuật giúp UBND xã và Phòng
Y tế huyện quản lý nhà nước về lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn
xã, phường, thị trấn
Ta nhận thấy, Nhà nước ta đã và đang thực hiện quản lý quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm bằng chính sách, pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm Chính sách đó được hiểu như là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến lược, giai đoạn nhằm giải quyết nhiệm vụ vệ sinh an toàn thực phẩm cụ thể nào đó trong một giai đoạn nhất định Chính sách này đặt ra các nguyên tắc của sự nghiệp xây dựng các dự án, chương trình phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước: Chính sách xã hội hóa hoạt động vệ sinh an toàn thực phẩm, tức là phải đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm là nhiệm vụ của toàn dân để động viên mọi nguồn nhân lực , vật chất của các tầng lớp nhân dân, mọi tổ chức xã hội để xây dựng một cuộc sống an toàn, không còn lo ngại vấn đề mất vệ sinh an toàn thực phẩm; khuyến khích việc
Trang 17kinh doanh những ngành nghề đảm bảo đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng cường nguồn đầu tư cho các dự án, chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như cho các cơ sở kinh doanh thực phẩm an toàn
Các chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm là không thể thiếu trong quản
lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm Song các chính sách này không thể thay thế pháp luật pháp luật có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của đất nước nói chung cũng như vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm phát huy vai trò của các cơ quan quản lý, nâng cao nhận thức và ý thức của con người trong vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, loại bỏ hoặc hạn chế những hành
vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm gian dối Trong xã hội hiện đại, quản lý vệ sinh
an toàn thực phẩm bằng pháp luật là một yêu cầu tất yếu khách quan Với việc ban hành các văn bản quy pham pháp luật, Nhà nước ta đã tạo ra một hành lang pháp lý
an toàn cho việc bảo vệ sức khỏe con người cũng như phát huy được nguồn nhân lực cho đất nước Tuy nhiên, các văn bản quy định nhiệm vụ của các cơ quan quản
lý chưa được cụ thể, mỗi cơ quan chỉ nhận trách nhiệm về phạm vi quản lý được giao nhưng chưa có cơ quan nào đứng ra chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về tất
cả các khâu từ sản xuất, chế biến đến tay người tiêu dùng Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cách tốt nhất là phải xã hội hóa hoạt động này Ngoài việc tham gia quản lý của các bộ, ngành thì việc phát huy vai trò của các hiệp hội trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông, chế biến, kinh doanh và tiêu dùng cũng rất cần thiết, chứ không thể quy trách nhiệm cho riêng một cơ quan nào hết Với các quy định của pháp luật thì các hiệp hội này sẽ hoạt động theo các quy định đó và có những cách quản lý, giáo dục, động viên việc thực hiện tốt quy định của pháp luật cho mỗi hội viên, thành viên của mình Hơn nữa, tại Quyết định số 43/2006/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2006 về việc phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đến năm 2010, trong đó, quy định việc tăng cường năng lực quản lý nhà nước và xây dựng hệ thống tổ chức quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm hiệu quả từ Trung ương đến địa phương Để thực hiện được thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm từ khâu sản xuất đến chế biến, bảo quản, lưu thông và kinh doanh thực phẩm phải hoàn thiện, tránh tình trạng chồng chéo giữa các văn bản quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
1.3.2.Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm:
An toàn thực phẩm bao gồm an toàn trong mua bán, lưu trữ, sơ chế thực phẩm nhằm ngăn ngừa việc nhiễm khuẩn và đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng trong
Trang 18khẩu phần ăn hàng ngày Thức ăn, nước uống được coi là không an toàn nếu bị nhiễm bụi bẩn hay vi khuẩn, bị ôi thiu và có khả năng dẫn đến các bệnh như tiêu chảy, viêm màng não…Những căn bệnh này có thể trở nên rất nặng và dẫn đến chết người, khi cơ thể mắc bệnh, con người cảm thấy mệt mỏi, khó tập trung vào làm việc và học tập, một số bệnh còn khiến người bệnh không thể hấp thụ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể Thực phẩm không an toàn hay ôi thiu bị giảm chất lượng, mất đi các dưỡng chất vốn có và do đó không cung cấp đầy đủ dinh dưỡng
để phát triển cơ thể khỏe mạnh Tức thực phẩm kém an toàn sẽ dẫn tới thiếu dinh dưỡng Gần đây qua thanh tra, các lực lượng chức năng cũng đã phát hiện một số
cơ sở kinh doanh vi phạm các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm của Bộ Y tế, một số cơ sở khác thì sử dụng màu trong công nghiệp không được phép sử dụng trong thực phẩm để nhuộm hạt dưa, hạt bí, bột ớt,…
Trước những thông tin trên, người tiêu dùng hết sức hoang mang, không dám lựa chọn những loại thực phẩm đó Để hạn chế tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm, Chính phủ đã có những biện pháp tích cực Điều này được thể hiện trong nội dung quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định tại Điều
42 của Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 2003 Cụ thể:
Quản lý nhà nước về xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về vệ sinh an toàn thực phầm: Thực hiện nội dung này, trước hết phải đẩy mạnh việc thực hiện các chính sách, pháp luật về quản lý chất lượng,
vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó, phải tăng cường năng lực cho cơ quan đầu mối để giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh đó, hàng năm, các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này phải đề xuất với Thủ tướng Chính phủ những chủ trương, cơ chế, chính sách, giải pháp để công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đạt hiệu quả, đề xuất tổ chức “Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm” trong cả nước, phát động chiến dịch truyền thông phòng ngừa ngộ độc thực phẩm Hơn nữa, phải kiện toàn Ban chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm để giúp Chính phủ chỉ đạo, phối hợp hành động giữa các Bộ, ngành, các địa phương
và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc xử lý những vấn đề liên ngành về
vệ sinh an toàn thực phẩm; đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác quản lý của các Bộ, ngành, UBND và Ban chỉ đạo về vệ sinh an toàn thực phẩm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Ngoài ra, tại Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 2007 về việc triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải: “Kiện toàn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
Trang 19của Ban chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm từ cấp tỉnh đến cấp xã Hàng năm, cần xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức phân công và thực hiện giám sát, kiểm tra và đánh giá thực hiện kế hoạch của các cấp, các ngành và cá cơ quan, tổ chức có liên quan; Chỉ đạo, bố trí nhân lực quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đến tuyến xã, phường, thị trấn; tổ chức và bố trí đủ nhân lực thanh tra và kiểm nghiệm
vệ sinh an toàn thực phẩm đến tuyến quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.”7 .Chính phủ cũng cần yêu cầu các cơ quan và các bộ ngành có liên quan tăng cường tập trung đầu tư cho nhiệm vụ quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm, thực hiện công tác tuyên truyền, vận động thực hiện chính sách pháp luật về quản lý vệ sinh
an toàn thực phẩm một cách thường xuyên với nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với từng địa phương: tổ chức các buổi họp, treo tranh ảnh, biểu ngữ,…tuyên truyền
về vệ sinh an toàn thực phẩm; tăng thời lượng phát sóng các chương trình liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm; thường xuyên cập nhật, cảnh báo và xử lý kịp thời nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm,…Tiếp đó, ngày 10 tháng 9 năm 2007, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định 149/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm giai đoạn 2006-2010, trong đó, “phấn đấu đến 2010, 90% người sản xuất, 80% người kinh doanh thực phẩm, 100% người quản lý lãnh đạo và 80% người tiêu dùng có hiểu biết đúng và thực hành đúng về vệ sinh an toàn thực phẩm; 100% cán bộ làm công tác quản lý, thanh tra chuyên ngành và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm tại tuyến trung ương, khu vực, tỉnh, thành phố được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ, 90% cán bộ làm công tác vệ sinh an toàn thực phẩm tuyến cơ sở được tham dự các lớp đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng thực hành kiểm tra nhanh phát hiện ô nhiễm thực phẩm;…”8 Nội dung thứ hai trong công tác quản lý
vệ sinh an toàn thực phẩm là quản lý nhà nước về ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm: Đảng và Nhà nước
ta đặc biệt quan tâm đến công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Bảo đảm
vệ sinh an toàn thực phẩm là một nội dung quan trọng trong công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân Do đó, ngày 23 tháng 02 năm 2005 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 46/NQ-TW về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Trước đó, năm 2003 Chính phủ đã ban hành Pháp lệnh vệ sinh
an toàn thực phẩm, năm 2004 ban hành Nghị định 163 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 2003 Trong năm 2005, Bộ Y
Trang 20tế cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 16/TTLT-BYT về hướng dẫn phân công
và phối hợp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, nội dung Thông tư yêu cầu các Bộ, ngành có liên quan phải phối hợp với Bộ Y tế
để thực hiện các quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 79/2008/NĐ-CP về hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm,nghị định quy định về phạm vi quản
lý nhà nước của các Bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về vệ sinh
an toàn thực phẩm Đến năm 2009, Chính phủ ban hành tiếp Chỉ thị 08 về việc tăng cường các biện pháp đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh
đó, Chính phủ cũng chỉ đạo, giám sát chặt chẽ công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đã tổ chức hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác bảo đảm vệ sinh
an toàn thực phẩm vào tháng 01 năm 2007 và lần thứ hai vào tháng 3 năm 2008,… các bộ, ngành liên quan cũng đã ban hành hàng loạt các quyết định, thông tư, thông
tư liên tịch… để hướng dẫn chi tiết thi hành các nhiệm vụ quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, tạo hành lang pháp lý khá vững chắc cho lĩnh vực đặc biệt quan trọng này
Một nội dung cũng không kém phần quan trọng tiếp theo là quản lý nhà nước về thực hiện các quy định và tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm: Vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo thực phẩm không gây hại cho tính mạng, sức khỏe của con người Do đó, cá nhân, tổ chức chế biến thực phẩm phải tuân theo các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm: nơi chế biến thực phẩm phải được đặt trong khu vực có đủ điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phải được thiết kế, lắp đặt đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm; nguyên liệu chế biến thực phẩm phải đảm bảo vệ sinh; cơ
sở chế biến thực phẩm phải thực hiện mọi biện pháp để thực phẩm không bị nhiễm bẩn, nhiễm mầm bệnh có thể lây sang người, cơ sở chế biến thực phẩm chỉ được sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng trong danh mục được phép sử dụng và sử dụng đúng liều lượng, giới hạn quy định, các vật liệu để làm bao gói thực phẩm, dụng cụ, thiết bị dùng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm cũng phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, để tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh
an toàn thực phẩm thì các cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm phải vào cuộc tích cực hơn nữa, tăng cường hơn công tác thanh tra, kiểm tra các cơ
sở sản xuất, chế biển, kinh doanh thực phẩm và cũng cần tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác này hơn nữa, có như thế thì công tác quản lý tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm mới mong được đảm bảo
Trang 21Nội dung kế tiếp là quản lý nhà nước về xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và các bệnh lan truyền qua thực phẩm: Ngộ độc thực phẩm là dùng để chỉ tất cả các bệnh gây ra bởi các mầm bệnh
có trong thực phẩm Vệ sinh an toàn thực phẩm cũng liên quan đến ngộ độc thực phẩm và các bệnh lan truyền qua thực phẩm Bởi vậy, Bộ Y tế cũng cần phải phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để quản lý tốt vấn đề ngộ độc thực phẩm và hạn chế các bệnh truyền qua thực phẩm như tiêu chảy, thương hàn, cúm gia cầm,…
Do vậy, Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 2003 cũng có một chương riêng dành cho vấn đề này Bởi hiện nay, vấn đề ngộ độc thực phẩm xảy ra rất nhiều mà chủ yếu là do người tiêu dùng sử dụng nhiều loại thực phẩm không rõ nguồn gốc bày bán trên thị trường Trên thực tế, việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với
cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc trách nhiệm của Ủy ban nhân dân, chính quyền các cấp sở tại Chính sự buông lỏng quản lý về lĩnh vực này đang tạo điều kiện cho những sản phẩm kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất hiện Vì thế, hậu quả cuối cùng vẫn là hàng ngàn người tiêu dùng phải gánh lấy những hậu quả khôn lường, thậm chí còn nguy hiểm đến tính mạng Nguyên nhân của những vụ ngộ độc thực phẩm thứ nhất là do thiếu hiểu biết, ý thức vệ sinh kém và thứ hai là do lây nhiễm vi sinh, tức là ngộ độc dẫn đến nhiễm trùng đường tiêu hóa do thực phẩm có chứa các vi trùng gây bệnh, mà vi trung này là do thực phẩm được chế biến không hợp vệ sinh, gần bãi rác, gần các vũng nước đọng, hoặc chế biến các loài thủy sản bị ươn, thịt bị thiu do để lâu trước khi ăn, Vì vậy, các Bộ, ngành cần chủ động xây dựng kế hoạch phòng ngừa, tổ chức cấp cứu điều trị, tổ chức tốt công tác phân tích, dự báo trước những nguy cơ gây ngộ độc để có biện pháp phòng ngừa và khắc phục hiệu quả Đặc biệt là đẩy mạnh công tác này cho các tuyến từ Trung ương đến cơ sở, kịp thời điều tra, tìm ra hết nguyên nhân gốc rễ dẫn đến ngộ độc thực phẩm và các bệnh lan truyền qua thực phẩm Từ đó mới có thể đề xuất ra các giải pháp khắc phục và phòng ngừa hiệu quả, bảo vệ sức khỏe nhân dân
Bên cạnh đó, hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng cần phải được quản lý: bởi lẽ trong quá trình thanh tra chất lượng thực phẩm, các cơ quan chức năng chỉ kiểm tra trên hồ sơ công bố tiêu chuẩn của sản phẩm, không kiểm tra kho chứa sản phẩm nên không phát hiện được các tiêu chuẩn sai lệch so với công bố Do đó, Bộ Y tế đã phân cấp cho các Viện kiểm nghiệm ở Trung ương thực hiện công tác kiểm nghiệm chặt chẽ các mặt: Kiểm nghiệm các chỉ tiêu đăng ký, các chỉ tiêu kiểm tra trọng điểm về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm nghiệm các mẫu thực phẩm để tìm ra nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm,… từ đó phục vụ tốt cho công tác giám sát và quản lý nhà nước về vệ
Trang 22sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, khâu kiểm nghiệm còn yếu kém do hầu hết các cán bộ xét nghiệm đều chưa được đào tạo bài bản nên cho dù trang thiết bị được đầu tư tốt thì khâu kiểm nghiệm vẫn để lọt những thực phẩm không đảm bảo vệ sinh ra thị trường Phụ gia thực phẩm có thường xuyên trong nhiều loại thực phẩm, tuy nhiên, các trung tâm mới chỉ kiểm tra được tương đối tốt đối với hai nhóm chính là chất tạo ngọt tổng hợp và phẩm màu, còn những loại phụ gia như chất chống ôxy hóa, chất bảo quản,… thì chưa có trung tâm nào kiểm tra được Bộ Y tế cần phối hợp với Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành liên quan xây dựng đề án và tổ chức
hệ thống quản lý, thanh tra, kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm từ Trung ương đến cơ sở; cần đào tạo và đào tạo lại kỹ thuật viên kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh
an toàn thực phẩm cho các cơ quan, các cán bộ y tế liên ngành cấp tỉnh và cấp huyện có nhu cầu Để đảm bảo cho công tác quản lý được tốt hơn, ngày 23 tháng 3 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 376/QĐ-TTg thành lập Viện kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia trực thuộc Bộ Y tế trên cơ sở Trung tâm kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm, thuộc Viện dinh dưỡng Trung tâm kiểm nghiệm trước đó có trách nhiệm kiểm nghiệm mẫu thực phẩm để giám sát tình hình ô nhiễm ô nhiễm thực phẩm, xác định nguyên nhân các vụ ngộ độc và bệnh dịch đường tiêu hóa do thực phẩm ô nhiễm gây ra Còn hệ thống các phòng thử nghiệm ở nước ta rất thiếu, ít được quan tâm đầu tư nhiều, mặc dù hầu hết các phòng thử nghiệm ở nước ta đều rất chú trọng vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2009, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn liên tục bị đe dọa, gây nhiều bức xúc cho xã hội, nhất là tình trạng ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể Chính phủ cần quan tâm hơn nữa đến công tác kiểm nghiệm, thử nghiệm vệ sinh an toàn thử nghiệm để cho người tiêu dùng an tâm hơn, không còn lo ngại sức khỏe của mình bị đe dọa vì vấn đề mất vệ sinh an toàn thực phẩm
Vấn đề đáng nói nữa trong nội dung quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là quản lý việc công bố tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm: Hiện nay, thực phẩm không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm được bày bán trên thị trường còn rất nhiều Việc công bố tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm lại chưa được quy định rõ ràng,
cụ thể Hơn nữa, các biện pháp chế tài được áp dụng nhưng chưa đủ mạnh để có tính răn đe, vả lại Bộ Y tế cũng quy định chế độ tự kiểm tra của doanh nghiệp sau khi đã công bố tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng không quy định trách nhiệm phải báo cáo như thế nào nên các doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện tốt chế
độ này Còn về việc kiểm tra cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm thì tại Chỉ thị số 06/2007/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 2007 về việc
Trang 23triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế “chỉ đạo thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh
an toàn thực phẩm theo quy định pháp luật cho tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao tiêu dùng trong nước và thực phẩm nhập khẩu; giám sát, kiểm tra, chấn chỉnh việc thực hiện cấp Giấy chứng nhận của các địa phương , kiên quyết không để các cơ sở không đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm sản xuất, kinh doanh thực phẩm”9 Để được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm thì chủ cơ sở, người trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải được khám sức khỏe, được tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, được cơ quan y tế thẩm định điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận phải đầy đủ, cơ sở vật chất, trang thiết
bị bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, nguyên liệu sản phẩm thực phẩm,… cũng phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Do đó, các địa phương phải quản lý chặt trong việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, giấy chứng nhận sức khỏe đối với người lao động, giấy chứng nhận tập huấn kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm và việc công bố tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, quy chế hoat động của thanh tra chuyên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm cũng chưa có nên còn gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý
Nhìn chung, những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đã được Chính phủ quy định khá rõ, nhưng để thực hiện tốt thì tác giả thấy cần phải:
- Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ trên mọi mặt của đời sống xã hội, tạo hành lang pháp lý trong xây dựng và quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm
- Xây dựng thêm và bổ sung những văn bản vệ sinh an toàn thực phẩm đã ban hành cho phù hợp với tình hình mới
- Khuyến khích nhân dân xây dựng các chương trình về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giữ gin vệ sinh cá nhân, môi trường cũng như vệ sinh trong ăn uống để bảo vệ sức khỏe cho mình và cho cộng đồng
1.3.3.Chế tài trong trường hợp có hành vi vi phạm hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm:
Ở nước ta hiện nay, cá nhân hoặc tổ chức vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
9
Điểm c mục 2 Chỉ thị 06/2007/CT-TTg v/v triển khai các biện pháp cấp bách bảo đảm VSATTP
Trang 24hành vi của mình gây ra Cụ thể,nếu cá nhân, tổ chức nào vi phạm các quy định về
vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ bị xử phạt theo Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 6 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế:
Ở đây, tác giả trích dẫn một số hành vi vi phạm với các mức xử phạt tương ứng, quy định tại Điều 15 của Nghị định:
1 Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Không mặc trang phục chuyên dụng khi trực tiếp sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm hoặc không có giấy chứng nhận đã qua tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm;
- Nơi bày bán thực phẩm chế biến sẵn ngay mà không có tủ kính che đậy, bao gói hợp vệ sinh;
- Không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh rau an toàn theo quy định đối với cơ sở kinh doanh rau an toàn;…
2 Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành
vi sau đây:
- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm, nguyên liệu, phụ gia thực phẩm ở môi trường không đảm bảo vệ sinh;
- Không thực hiện chế độ giám sát việc chấp hành các quy định về vệ sinh
an toàn thực phẩmđối với các bếp ăn tập thể được tổ chức nấu tại cơ sở
3 Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành