1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại QUẢN lý NHÀ nước về DI TÍCH LỊCH sử, văn hóa và DANH LAM THẮNG CẢNH – THỰC TIỄN ở THÀNH PHỐ cần THƠ

80 359 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh Quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh là sự tác động có tổ chức chỉ đạo và điều

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS Võ Duy Nam Nguyễn Quốc Việt

Trang 2

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do nghiên cứu đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu luận văn 2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DI TÍCH LỊCH SỬ – VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH 3

1.1 Phân loại di sản văn hóa 3

1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa 3

1.1.2 Di sản văn hóa phi vật thể 3

1.1.3 Di sản văn hóa vật thể 3

1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 4

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước 4

1.2.2 Khái niệm về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 5

1.2.2.1 Di tích lịch sử – văn hóa 5

1.2.2.2 Danh lam thắng cảnh 6

1.2.3 Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 6

1.2.4 Một số khái niệm liên quan 8

1.3 Đặc điểm và nguyên tắc của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 9

1.3.1 Đặc điểm 9

1.3.2 Nguyên tắc 10

1.3.2.1 Quản lý nhà nước về di tích bằng pháp luật và tăng cường pháp chế 10

1.3.2.2 Tập trung dân chủ quản lý nhà nước về di tích 11

1.3.2.3 Đảm bảo lưu giữ yếu tố gốc khi trùng tu, tôn tạo di tích 11

1.3.2.4 Đảm bảo mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di tích 12

1.4 Vai trò và ý nghĩa của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 13

1.4.1 Vai trò 13

1.4.2 Ý nghĩa 13

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH

Trang 3

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 3

LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ DANH LAM THẮNG CẢNH – THỰC TIỄN Ở THÀNH

PHỐ CẦN THƠ 14

2.1 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 14

2.1.1 Các văn bản pháp lý chung điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về di tích 14

2.1.2 Văn bản pháp lý điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn Thành phố Cần Thơ 17

2.2 Cơ quan quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

18

2.2.1 Cơ quan quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp Trung ương 18

2.2.1.1 Chính phủ 18

2.2.1.2 Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch 19

2.2.1.3 Cục Di sản văn hóa 20

2.2.1.4 Bảo tàng cấp Trung ương 21

2.2.2 Cơ quan quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp địa phương 21

2.2.2.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 21

2.2.2.2 Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch 22

2.2.2.3 Bảo tàng cấp tỉnh 23

2.3 Trình tự thủ tục xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 24

2.3.1 Xếp hạng và thẩm quyền xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 24

2.3.1.1 Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp tỉnh 24

2.3.1.2 Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh quốc gia 24

2.3.1.3 Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt 25

2.3.2 Thủ tục và hồ sơ xếp hạng di tích 27

2.3.3 Khu vực bảo vệ di tích 28

2.4 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 30

2.4.1 Công tác kiểm kê di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 30

2.4.2 Công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 31

Trang 4

2.4.2.1 Di tích lịch sử 31

2.4.2.2 Di tích kiến trúc nghệ thuật 31

2.4.2.3 Di tích khảo cổ 32

2.4.2.4 Danh lam thắng cảnh 33

2.4.3 Công tác ban hành văn bản pháp luật và tuyên truyền, giáo dục pháp luật về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 33

2.4.4 Xây dựng nguồn lực cho công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 34

2.4.5 Quản lý hợp tác quốc tế về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

35

2.4.6 Công tác thanh tra và xử lý vi phạm về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 37

2.5 Thực tiễn công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn Thành phố Cần Thơ 38

2.5.1 Đôi nét về Thành phố Cần Thơ 38

2.5.2 Các di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng ở Thành phố Cần Thơ 39

2.5.2.1 Di tích quốc gia 39

2.5.2.2 Di tích cấp thành phố 40

2.5.3 Cơ quan quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh ở Thành phố Cần Thơ 40

2.5.3.1 Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ 40

2.5.3.2 Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Thành phố Cần Thơ 41

2.5.3.3 Bảo tàng Thành phố Cần Thơ 41

2.5.4 Tình hình chung công tác quản lý di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh ở Thành phố Cần Thơ 42

2.5.5 Lịch sử hình thành và hiện trạng các di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn Thành phố Cần Thơ 43

2.5.5.1 Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia 43

2.5.5.2 Di tích lịch sử – văn hóa cấp thành phố 46

2.5.6 Công tác thanh tra và xử lý vi phạm về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn Thành phố Cần Thơ 51

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ – VĂN HÓA, DANH LAM

Trang 5

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 5

THẮNG CẢNH 52

3.1 Những thành tựu đạt được và một số hạn chế, khó khăn còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 52

3.1.1 Những thành tựu đạt được của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 52

3.1.1.1 Thành tựu chung 52

3.1.1.2 Những thành tựu đạt được ở Thành phố Cần Thơ 52

3.1.2 Một số hạn chế, khó khăn của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 53

3.1.2.1 Những hạn chế, khó khăn chung 53

3.1.2.2 Một số hạn chế, khó khăn ở Thành phố Cần Thơ 54

3.2 Phương hướng quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh trong thời gian tới 55

3.2.1 Phương hướng chung 55

3.2.1.1 Phương hướng tu bổ, tôn tạo, sử dụng và khai thác di tích 55

3.2.1.2 Đối với các di tích lịch sử 56

3.2.1.3 Đối với các di tích kiến trúc – nghệ thuật 57

3.2.1.4 Đối với các địa điểm khảo cổ 58

3.2.1.5 Đối với các danh lam thắng cảnh 58

3.2.2 Phương hướng cần chỉ đạo thực hiện thời gian tới ở Thành phố Cần Thơ 58

3.3 Giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh 59

3.3.1 Giải pháp chung 59

3.3.1.1 Đổi mới cơ chế, chính sách và kiện toàn bộ máy quản lý di tích 59

3.3.1.2 Tăng cường các nguồn lực để tu bổ và tôn tạo di tích 60

3.3.1.3 Đào tạo cán bộ quản lý 61

3.3.1.4 Tăng cường công tác xã hội hóa 61

3.3.2 Một số giải pháp cần tập trung thực hiện ở Thành phố Cần Thơ 62

KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC I

PHỤ LỤC II

PHỤ LỤC III

Trang 6

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Trong xu thế hội nhập quốc tế, các quốc gia dân tộc cần phải hướng tới việc tôn trọng sự đa dạng di sản văn hóa, bảo vệ và tôn vinh bản sắc di sản văn hóa dân tộc để tạo nền tảng tinh thần cho sự phát triển Nước ta có nhiều di sản văn hóa rất phong phú và đa dạng, với các hình thái khác nhau Trong đó di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích) là một bộ phận quan trọng của nền di sản văn hóa dân tộc, thấm đậm một thông điệp từ thời quá khứ đến ngày nay, như là nhân chứng sống của những truyền thống lâu đời cổ xưa với những giá trị truyền thống của dân tộc và sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa di sản văn hóa nhân loại Trong lịch sử dân tộc do bị chiến tranh tàn phá, cùng với sự bào mòn của tự nhiên và sự thiếu ý thức bảo vệ của con người dẫn đến tình trạng nhiều di tích bị xuống cấp trầm trọng Việc xây dựng hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di tích, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành luật pháp và nhận thức của cộng đồng về bảo tồn di tích trong tiến trình phát triển đất nước hiện nay là cần thiết Do đó, việc bảo tồn di tích nhằm tạo ra động lực để phát huy giá trị của di tích đến với cộng đồng trong và ngoài nước, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về di tích là vấn đề thiết thực Cùng với sự phát triển kinh tế diễn ra nhanh chóng kéo theo nhu cầu khai thác, xây dựng, sản xuất ngày càng lớn sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến công tác bảo tồn di tích Trong quá trình hợp tác quốc tế, cùng với làn sóng giao thoa về di sản văn hóa quốc tế vào Việt Nam, cần có kế hoạch phù hợp để bảo vệ những giá trị truyền thống của di tích nước ta trước những tác động của bên ngoài Những sức

ép do sự tác động tiêu cực của quá trình phát triển đó cùng sự xuống cấp của nhiều di tích, nhận thức chung của cộng đồng về bảo vệ di tích vẫn còn bị hạn chế và cuối cùng là việc bảo tồn, trùng tu thiếu chuyên nghiệp không theo đúng những chuẩn mực khoa học, dẫn đến tình trạng nhiều di tích đang bị thay đổi, biến dạng thậm chí là biến mất Vì vậy, cần có sự quản lý chặc chẽ, hợp lý và có hiệu quả của nhà nước với những chủ trương, chính sách và kế hoạch phù hợp trong công tác quản lý nhà nước về di tích, theo sát tình hình thực tế, cụ thể hóa các chủ trương bằng nhiều chính sách cụ thể, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững về di tích và chuyển giao cho các thế hệ mai sau giá trị di tích với đầy

đủ vẻ rực rỡ huy hoàng đích thực của chúng

Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 cùng với các văn bản pháp lý liên quan sẽ là cơ sở để thực hiện công tác quản lý nhà nước về di tích Nhà nước sử dụng chức năng quản lý vốn có tham gia vào công tác bảo tồn những giá trị của di tích và phát huy những giá trị đó đến với cộng đồng Thực hiện công tác quản lý nhà nước về di tích trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật, theo định hướng khoa học, chặc chẽ, thống nhất và đồng bộ từ Trung ương đến cơ

Trang 7

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 2

sở, cùng với sự tham gia của toàn xã hội Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này

người viết đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam

thắng – Thực tiễn ở Thành phố Cần Thơ” làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nhằm tìm hiểu những cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật về công tác quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh để thấy được những bất cập, vướng mắc còn tồn tại Từ đó tìm ra những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử, văn hóa

và danh lam thắng cảnh nói chung và ở Thành phố Cần Thơ nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về di tích với đối tượng

cụ thể là di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh trên cơ sở văn bản pháp lý liên quan Nhằm làm rõ nội dung quản lý nhà nước về di tích, công tác bảo tồn di tích, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý và thực tiễn công tác quản lý nhà nước về di tích trên phạm vi địa bàn Thành phố Cần Thơ

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích luật viết; Phương pháp phân tích, chọn lọc, tổng hợp những tài liệu thu thập được; Phương pháp chứng minh và vận dụng cơ sở pháp lý

5 Kết cấu luận văn

Cấu trúc của luận văn được trình bày theo thứ tự gồm: Mục lục, lời nói đầu, chương

1, chương 2, chương 3, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Nội dung chính gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận chung về công tác quản lý nhà nước đối với di tích lịch

sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh – Thực tiễn ở Thành phố Cần Thơ

Chương 3 Phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DI TÍCH LỊCH SỬ – VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH

1.1 Phân loại di sản văn hóa

1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa

Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và

là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước

và giữ nước của nhân dân ta Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung

ương Đảng khóa VIII (ngày 16 tháng 7 năm 1998) đã xác định 10 nhiệm vụ về xây dựng

và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đó nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa Nghị quyết đã chỉ rõ: Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể

1.1.2 Di sản văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác

Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian

Di sản văn hóa phi vật thể, tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành vi của các chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản Khi các chủ thể này là một cộng đồng

cư dân, thì ý chí, khát vọng, nhu cầu, thậm chí lợi ích của họ cũng có tác động đến sự tồn vong của di sản văn hóa phi vật thể Vì thế, chính họ là nhân tố quyết định những di sản văn hóa phi vật thể nào cần được bảo tồn, phương cách bảo tồn, sử dụng và khai thác chúng nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cá nhân và cộng đồng

1.1.3 Di sản văn hóa vật thể

Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh và di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

Trang 9

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 4

Di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh gồm có: Di tích lịch sử; Di tích kiến

trúc nghệ thuật; Di tích khảo cổ; Danh lam thắng cảnh

Di sản văn hóa vật thể là những thực thể vật chất (tồn tại vật lý) được cấu thành bởi các loại vật liệu khác nhau nên không có khả năng tồn tại mãi mãi Chúng ta chỉ có thể bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại có trong tay kéo dài thời gian tồn tại, làm cho dạng vật chất đó ổn định, vững chắc (mang tính tạm thời) Như vậy, chúng ta cần phải có chiến lược bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể phù hợp, giữ gìn nét đẹp truyền thống di sản văn hóa dân tộc Việt Nam

1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức chỉ đạo và điều hành thực hiện kết hợp với thanh tra, kiểm tra bằng quyền lực nhà nước đối với các lĩnh vực trong xã hội, do các

cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ

xã hội và hành vi của công dân

Bản chất của quản lý nhà nước là quyền lực nhà nước “Quyền lực nhà nước được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và được thực thi bởi bộ máy nhà nước với cơ sở vật chất – tài chính to lớn, bằng phương pháp thuyết phục và cưỡng chế”1 Quản lý nhà nước được thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước

Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực nhà nước, dạng quản lý này được thực hiện trong các cơ quan nhà nước Điều 12 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001: “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp luật

xã hội chủ nghĩa” Như vậy pháp luật là công cụ để nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội, không ngừng nghiên cứu, xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao vai trò quản lý của nhà nước Quản lý nhà nước góp phần quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế xã hội “bằng pháp luật, nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc các cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước”2

Như vậy, quản lý nhà nước là một phần không thể thiếu trong đời sống xã hội, quản

lý nhà nước giúp cho sự hiện diện của nhà nước đến với mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, tăng cường pháp chế, ổn định tình hình kinh tế xã hội đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước

1 PGS.TS Nguyễn Cửu Việt ,Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr 19

2 Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr 12

Trang 10

1.2.2 Khái niệm về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

1.2.2.1 Di tích lịch sử – văn hóa

Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học

Theo khoản 1 Điều 28 Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 (sau đây gọi chung là Luật Di sản văn hóa

2001 sửa đổi, bổ sung 2009) di tích lịch sử – văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau

Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;

Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật

Di tích lịch sử – văn hóa là nơi kết tinh tinh hoa văn hóa tiêu biểu của dân tộc, gắn liền với tiến trình lịch sử, nơi hội tụ và gắn kết cộng đồng các dân tộc Việt Nam Di tích

lịch sử – văn hóa gồm: Di tích lịch sử; Di tích kiến trúc nghệ thuật; Di tích khảo cổ

Di tích lịch sử là nơi gắn với những sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu, những địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử tiêu biểu có những đóng góp, ảnh hưởng tới sự tiến bộ của lịch sử dân tộc Các địa điểm này là nơi giáo dục truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc, đồng thời di tích lịch sử cũng gắn liền với nét đẹp văn hóa của đất nước ta “đến với di tích lịch sử, khách tham quan như được đọc cuốn sử ghi chép về những con người, những sự kiện tiêu biểu, được cảm nhận một cách chân thực về lịch sử, những cảm nhận không dễ có được khi chỉ đọc những tư liệu ghi chép của đời sau”3

Di tích kiến trúc nghệ thuật gồm những công trình kiến trúc nghệ thuật và những địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho sự phát triển kiến trúc nghệ thuật Giá trị của di tích kiến trúc nghệ thuật thể hiện ở quy hoạch tổng thể và bố cục kiến trúc, ở sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc với nét đẹp nghệ thuật Những địa điểm này thường thu hút khá đông khách du lịch, với vẻ đẹp đặc trưng riêng, trãi qua nhiều biến động nhưng những công

3 Đặng Văn Bài, phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước, Tạp chí Di sản

văn hóa số 20 – 2007, tr 5

Trang 11

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 6

trình này vẫn thể hiện được nét đặc sắc về kiến trúc và nghệ thuật nhiều màu sắc

Di tích khảo cổ là những chứng tích lịch sử qua thời gian thường nằm sâu dưới lòng đất hay dưới nước, bị chiến tranh tàn phá hay do tự nhiên tác động làm cho di tích khảo

cổ khó còn được nguyên vẹn Phát hiện, nghiên cứu những địa điểm khảo cổ, di tích và di vật trong lòng đất và dưới nước để tìm hiểu mọi mặt đời sống tự nhiên và xã hội trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử Nhằm “làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa của đất nước; bổ sung tài liệu, hiện vật cho các bảo tàng của Trung ương và địa phương nhằm lưu giữ, trưng bày và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của công chúng”4 Đây là nơi phần lớn là phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, việc phục vụ khách tham quan diễn ra không thường xuyên do những hiện vật trong các địa điểm này rất dễ bị hư hại

1.2.2.2 Danh lam thắng cảnh

Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học Theo khoản 2 Điều 28 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 thì danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:

Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu;

Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất

Nước ta có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp phân bổ trên khắp cả nước, mang giá trị

về văn hóa, lịch sử và thẩm mỹ nổi bật Trong số đó một số được xếp hạng là danh lam thắng cảnh và một số tiêu biểu được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Danh lam thắng cảnh không những đẹp về mặt tự nhiên mà còn chứa đựng trong nó những giá trị về mặt tinh thần, là nơi thu hút khá đông khách tham quan, do đó mà công tác quản lý rất quan trọng nhằm bảo tồn và phát triển theo hướng bền vững đối với danh lam thắng cảnh

1.2.3 Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

Quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh là sự tác động

có tổ chức chỉ đạo và điều hành thực hiện kết hợp với thanh tra, kiểm tra bằng quyền lực nhà nước, do các cơ quan trong bộ máy nhà nước về di tích tiến hành, trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật về di tích, để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của

4 Điều 1 Quy chế thăm dò, khai quật khảo cổ (Ban hành kèm theo Quyết định số 86/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)

Trang 12

nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân đối với lĩnh vực

di tích

Di tích nước ta với số lượng di tích rất lớn, đa dạng về loại hình và có giá trị to lớn

về nhiều mặt, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích là rất cần thiết “Tính đến năm

2010 trong số 4 vạn di tích trên toàn quốc đã kiểm kê, có 3.018 di tích đã được xếp hạng

di tích quốc gia và 5.347 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh”5 Số lượng di tích nhiều

và phân bố khắp nơi gây khó khăn cho công tác quản lý, việc trùng tu tôn tạo cũng gặp nhiều khó khăn về vốn và sự tàn phá của tự nhiên ngày càng diễn ra nhanh chóng Ngoài những mặt giá trị phổ quát (lịch sử, văn hóa và khoa học), ngày nay di tích còn được nhìn nhận như một loại tài sản đặc biệt mà về mặt giá trị tinh thần không hề bị suy giảm, ngược lại còn được gia tăng theo thời gian với đặc điểm là loại tài sản không thể tái sinh, không thể thay thế, khai thác tiềm năng nhiều lần, khai thác qua nhiều thế hệ kế tiếp Trong công tác quản lý nhà nước, chức năng tổ chức quản lý rất quan trọng, nhu cầu đặc ra cho công tác quản lý là việc tổ chức một bộ máy quản lý chặt chẽ, thống nhất và đồng bộ, cơ cấu tổ chức phù hợp từ Trung ương đến cơ sở Xây dựng ngân hàng dữ liệu

số về di tích với các giải pháp công nghệ khác nhau, từ những ứng dụng ở mức độ cao như 3D, đồ họa, ảo hóa dữ liệu đến những hình thức đơn giản như quay phim, chụp ảnh, ghi âm, công tác số hóa cho phép các di tích được lưu giữ, bảo tồn bền vững nhất, đề phòng những rủi ro từ những phương pháp lưu trữ truyền thống vốn rất cồng kềnh và khó cho cả người quản lý và người sử dụng, góp phần quan trọng trong việc xây dựng các chương trình trưng bày, giới thiệu, quảng bá du lịch cũng như giáo dục về lịch sử, văn hóa của dân tộc Sự phát triển của công nghệ cũng cho phép đông đảo công chúng, không

kể tới vị trí địa lý đều có thể hưởng thụ những giá trị mà các di tích mang lại, giúp cho quá trình quản lý được dễ dàng thuận tiện hơn, theo sát tình hình thực tế, nhằm nâng cao chất lượng của các cơ quan quản lý

Quản lý nhà nước về di tích cần giải quyết ba vấn đề cơ bản là: Công tác tổ chức chỉ đạo quản lý nhà nước về di tích; Công tác điều hành thực hiện quản lý nhà nước về di tích; Công tác thanh tra, kiểm tra quản lý nhà nước về di tích

Công tác tổ chức chỉ đạo chức năng quản lý nhà nước về di tích tập trung ở các chính sách, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trên cơ sở các văn bản pháp

luật, theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Hướng dẫn công

tác tổ chức về quản lý, cơ cấu, công việc, nhân sự, chiến lược, phân cấp các cơ quan quản

lý, phân công phân nhiệm các cơ quan quản lý nhà nước về di tích Thiết kế và xây dựng

5 Trang thông tin điện tử: Cục Di sản văn hóa, theo báo cáo của Cục Di sản văn hóa tháng 8 năm 2010,

http://www.dch.gov.vn, [truy cập ngày 20/02/2012]

Trang 13

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 8

được một cơ cấu tiên tiến và có hiệu quả Công tác này mang tính định hướng từ ban đầu làm cho công tác quản lý nhà nước về di tích xác định rõ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của mình đảm bảo tính khoa học, hiệu quả

Công tác điều hành thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di tích do các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành, cùng các cơ quan, tổ chức khác có liên quan Các cơ quan trong bộ máy nhà nước chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước Trước tiên Quốc Hội sẽ tiến hành công tác thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng bằng cách ban hành các đạo luật nhằm điều chỉnh các vấn đề thuộc lĩnh vực di tích, sau đó các cơ quan hành chính nhà nước thực thi quyền lực nhà nước trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành, đảm bảo tính thống nhất, có hiệu quả

Công tác thanh tra, kiểm tra quản lý nhà nước về di tích nhằm thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nhà nước đối với di tích Cùng với công tác tổ chức chỉ đạo và điều hành thực hiện thì công tác thanh tra, kiểm tra góp phần bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước về di tích phát huy giá trị tối đa, tăng cường sức mạnh quyền lực nhà nước trên

cơ sở luật định Đảm bảo các chính sách chỉ đạo của Đảng và Nhà nước được thực hiện đúng đắn, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của luật và xử lý khi có vi phạm theo quy định của pháp luật về di tích

Công tác quản lý nhà nước về di tích phải đảm bảo một chiến lược phát triển thích hợp với tình hình thực tế và hướng tới tương lai, nhất là các nơi ở vùng sâu, vùng xa có đời sống vật chất và đời sống văn hóa chưa tương xứng Việc phân cấp quản lý di tích là một chủ trương đúng đắn, nhưng làm sao để việc phân cấp thực hiện tốt mà các chuẩn mực chung về khoa học bảo tồn di tích vẫn được tuân thủ và giữ vững trong bối cảnh đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn của chúng ta vẫn còn thiếu, cũng cần có một lộ trình qua nhiều năm với những tiêu chí, điều kiện cụ thể cho việc phân cấp đi đôi với quy hoạch đào tạo cán bộ

1.2.4 Một số khái niệm liên quan

Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học

Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa

học, có từ một trăm năm tuổi trở lên

Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu

biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học

Bảo tồn di tích là những hoạt động nhằm bảo đảm sự tồn tại lâu dài, ổn định của di

tích để sử dụng và phát huy giá trị của di tích đó

Bảo quản di tích là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những tác nhân hủy

hoại di tích mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của di tích

Trang 14

Tu bổ di tích là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo di tích

Phục hồi di tích là hoạt động nhằm phục dựng lại di tích đã bị huỷ hoại trên cơ sở

các cứ liệu khoa học về di tích đó

1.3 Đặc điểm và nguyên tắc của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

1.3.1 Đặc điểm

Đặc điểm của công tác quản lý nhà nước về di tích bao gồm:

Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di tích Đây là bước quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về di tích, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch giúp xác định rõ chức năng, nhiệm vụ cần làm, định hướng phát triển trong tương lai

Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá Các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hoá bao gồm việc điều chỉnh quan hệ về di tích, đây là cơ sở để tiến hành thực hiện công tác quản lý nhà nước về di tích Tập trung vào các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn công tác quản lý nhà nước về di tích

Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hoá Công tác tổ chức, chỉ đạo nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di tích thực hiện theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Đi đôi với việc phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về di tích, nâng cao ý thức người dân trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích

Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn về di tích Việc nghiên cứu khoa học về di tích sẽ giúp công tác quản lý nhà nước về

di tích mang tính khoa học hơn, bảo vệ tốt hơn các di tích Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di tích là vấn đề thiết thực, quan trọng cần tập trung đầu tư lâu dài đảm bảo có hiệu quả, làm nâng cao chất lượng quản lý

Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di tích Các nguồn lực ở đây bao gồm cả nguồn lực kinh tế, tài chính, nhân lực, thông tin và nhiều nguồn lực khác, cùng với nhà nước và xã hội hướng tới mục tiêu thúc đẩy việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích

Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích “Biểu dương, khen thưởng kịp thời đối với cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng”6

6 Điểm d Điều 2 Quyết định số 36/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 02 năm 2005 của Thủ tướng Chính Phủ về

Trang 15

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 10

Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di tích Mỗi dân tộc đều có sự sáng tạo và gìn giữ được các giá trị di sản văn hóa của riêng mình, nhờ đó tạo nên sự đa dạng văn hóa của cả đất nước Di tích góp phần đưa bản sắc văn hóa dân tộc ra tầm thế giới Có một số di tích tiêu biểu, mang giá trị độc đáo nổi bật toàn cầu đã được UNESCO (Tổ chức Giáo dục – Khoa học – Văn hóa của Liên Hiệp Quốc) ghi vào Danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (Quần thể di tích cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Thánh địa Mỹ Sơn và một số di tích khác) Như vậy, vấn đề hợp tác quốc tế về di tích sẽ đưa giá trị của các di tích ra tầm quốc tế, đồng thời công tác bảo tồn các di tích này cũng đặc ra nhiều thách thức, do là dích tích mang giá trị tầm quốc tế nên việc quản lý, bảo tồn rất nghiêm ngặt, đội ngũ cán bộ chuyên môn về di tích còn thiếu, việc quản lý còn gặp nhiều khó khăn

Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật nhằm xem xét việc thực thi pháp luật về di tích như thế nào, có đạt được những yêu cầu của pháp luật đã đặc ra không Đồng thời với công tác tác thanh tra về di tích thì việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di tích là hai lĩnh vực song hành với nhau Khi thanh tra nếu có vi phạm thì xử lý theo pháp luật, cơ quan quản lý tích cực giải quyết khiếu nại, tố cáo của người dân liên quan đến di tích, kịp thời giải quyết những vướn mắt liên quan đến di tích

Nội dung công tác quản lý nhà nước về di tích đã tổng quát được những nội dung cụ thể, quan trọng, mang tính định hướng, mang tầm chiến lược, đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về di tích đi cùng tiến trình hội nhập và phát triển đất nước

1.3.2 Nguyên tắc

1.3.2.1 Quản lý nhà nước về di tích bằng pháp luật và tăng cường pháp chế

Quản lý nhà nước về di tích bằng pháp luật và tăng cường pháp chế là một nguyên tắc quan trọng, là nền tảng, căn cứ để quản lý nhà nước về di tích Mọi người dân đều phải tuân theo pháp luật, các vấn đề liên quan đến di tích đã được luật định nếu vi phạm thì xử lý theo pháp luật Nguyên tắc này đòi hỏi mọi tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước về di tích đều phải dựa trên cơ sở pháp luật Điều đó có nghĩa là hệ thống hành chính nhà nước phải chấp hành pháp luật Các cơ quan chức năng về di tích khi ban hành các quyết định quản lý hành chính phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật và các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

Để thực hiện nguyên tắc này cần làm tốt những nội dung sau: Tổ chức thực hiện tốt pháp luật đã ban hành, xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về di tích và tăng

Ngày Di sản văn hóa Việt Nam

Trang 16

cường giáo dục ý thức pháp luật cho toàn dân

1.3.2.2 Tập trung dân chủ quản lý nhà nước về di tích

Tập trung dân chủ quản lý nhà nước về di tích là nguyên tắc quan trọng chỉ đạo tổ chức và hoạt động của cả hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về di tích Nguyên tắc tập trung dân chủ quản lý nhà nước về di tích quy định trước hết sự lãnh đạo tập trung đối với những vấn đề cơ bản chính yếu nhất, bản chất nhất Đảm bảo thực hiện ý chí và bảo

vệ lợi ích của nhà nước và nhân dân Bên cạnh việc yêu cầu phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên, cũng phải đảm bảo tính sáng tạo, quyền chủ động nhất định của địa phương Cấp Trung ương giữ quyền thống nhất quản lý các vấn đề cơ bản, đồng thời phân định chức năng quản lý, nhiệm vụ cần thực hiện, phân cấp quản lý, giao quyền hạn, trách nhiệm cho các địa phương, các nghành trong tổ chức quản lý điều hành để thực hiện các văn bản của cấp trên về di tích

Điều 6 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 quy định: “tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước” Nguyên tắc này biểu hiện từ vấn

đề tổ chức bộ máy đến cơ chế vận hành bộ máy quản lý nhà nước về di tích Phân định chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan quản lý nhà nước về di tích ở các cấp Chịu trách nhiệm và báo cáo trước các cơ quan cấp trên, các cơ quan dân cử Tập trung dân chủ khắc phục được bệnh tập trung quan liêu, đồng thời chống biểu hiện tùy tiện, tự do

vô tổ chức, cục bộ địa phương, cục bộ nghành, nhằm đảm bảo cho sự thống nhất quản lý nhà nước về di tích

1.3.2.3 Đảm bảo lưu giữ yếu tố gốc khi trùng tu, tôn tạo di tích

Một nguyên tắc quan trọng khi trùng tu, tôn tạo di tích là phải đảm bảo lưu giữ được những yếu tố gốc cấu thành di tích Do đặc thù ở mỗi di tích là khác nhau, di tích gắn với tiến trình lịch sử phát triển của đất nước, trãi qua những năm tháng chiến tranh, sự bào mòn của tự nhiên bởi yếu tố thời tiết ở từng thời kỳ khác nhau, trình độ kỹ thuật trùng tu nước ta còn lạc hậu, ý thức của cộng đồng người dân thường không xem trọng di tích, nên dẫn đến tình trạng nhiều di tích xuống cấp nghiêm trọng và biến mất Việc trùng tu, tôn tạo hay phục dựng lại di tích trong thời đại ngày nay có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc, yêu quê hương đất nước, yêu truyền thống của cha ông, cho nên hàng loạt các công trình trùng tu bổ, tôn tạo di tích đã và đang được trùng tu, nhưng điều quan trọng ở đây là việc trùng tu được thực hiện như thế nào, cần tuân thủ những quy định khoa học của công tác trùng tu Vấn đề đảm bảo yếu tố gốc là cực kỳ quan trọng, di tích có giá trị lịch sử vốn có của nó, chúng ta không nên tác động làm thay đổi giá trị đó mà bằng nhiều biện pháp lưu giữ và phát huy giá trị đó

Trong điều kiện hiện nay, thực tế nhiều di tích khi được trùng tu, tôn tạo đã mất đi

Trang 17

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 12

một phần hoặc toàn bộ tính nguyên gốc vốn có Do nhiều nguyên nhân như việc nhà thầu xây dựng không có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn còn yếu, triển khai công việc không đảm bảo tính khoa học và còn hạn chế nhiều mặc Một số công trình đã thay thế hẵn vật liệu các di tích bằng những vật kiệu mới làm cho di tích không còn là di tích nữa, cần hạn chế thay thế các vật liệu gốc là vấn đề rất quan trọng, chỉ thay thế khi thật sự cần thiết và phải đảm bảo tính khoa học

1.3.2.4 Đảm bảo mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Để công tác quản lý nhà nước về di tích đảm bảo tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di tích cần thực hiện những trọng tâm sau:

Thứ nhất, chỉ can thiệp tối thiểu tới di tích, nhưng cần thiết lập một cơ chế tu bổ, bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ để đảm bảo cho di tích được ổn định lâu dài

Thứ hai, di tích có thể sử dụng và phát huy phục vụ nhu cầu xã hội theo những chuẩn mực khoa học đã được xác định Sử dụng và phát huy các mặt giá trị của di tích cũng chính là biện pháp bảo tồn có hiệu quả nhất

Thứ ba, bảo tồn di tích phải triển khai song song và phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và ngược lại, phát triển phải kết hợp với bảo tồn di tích

Bảo tồn phải đi đôi với phát huy giá trị di tích, công tác bảo tồn tốn nhiều thời gian, công sức và tài chính, thực hiện công tác bảo tồn mà không tiến hành công tác phát huy giá trị thì sẽ mất đi ý nghĩa của việc bảo tồn Bảo tồn nhằm giữ nguyên những giá trị cả

về vật chất lẫn tinh thần của di tích trước những tác động của nội tại và ngoại cảnh làm thay đổi giá trị di tích, đương nhiên công tác bảo tồn không dễ dàng trong điều kiện có nhiều điều kiện tác động như hiện nay Để đạt được ý nghĩa của việc bảo tồn thì công tác phát huy giá trị là điều tất yếu phải diễn ra, nếu bảo tồn di tích và chỉ để đó thôi thì di tích

sẽ bị mai một dần giá trị vốn có, công tác phát huy giá trị sẽ làm tăng thêm giá trị vốn có của di tích

Trong thực tế, không phải bao giờ vấn đề bảo tồn và phát triển cũng được giải quyết tốt Nguyên nhân của sự sai lầm xuất phát từ nhận thức lệch lạc, trong đại bộ phận các trường hợp là do quá coi trọng việc phát triển kinh tế, đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết không xử lý thỏa đáng nhu cầu bảo tồn di tích, kéo theo vấn đề ô nhiễm môi trường, không cân bằng sinh thái Vì thế, đặc ra yêu cầu công tác quản lý nhà nước về di tích cần đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa bảo tồn và phát huy giá trị di tích, nâng cao năng lực quản lý, theo sát tình hình và những diễn biến phức tạp của xã hội, từ đó ban hành những chính sách thích hợp

1.4 Vai trò và ý nghĩa của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

Trang 18

1.4.1 Vai trò

Công tác quản lý nhà nước về di tích có vai trò rất quan trọng là giúp cơ quan quản

lý nhà nước chuyên môn nắm được diễn biến tình hình về di tích như: Việc kiểm kê, thống kê số lượng; Thực trạng công tác bảo tồn, trùng tu, tôn tạo di tích; Việc phát huy giá trị di tích, đưa di tích đến với đời sống cộng đồng Từ đó có thể kiến nghị, đề xuất với các cấp các nghành quản lý kịp thời về việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích, thay đổi chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế, khen thưởng tuyên dương những cá nhân,

tổ chức có thành tích xuất sắc trong việc quản lý, bảo tồn di tích, tiến hành thanh tra và

xử lý khi có vi phạm về di tích Vì vậy, có thể thấy công tác quản lý nhà nước về di tích góp phần cho sự hiện diện của nhà nước vào lĩnh vực di tích, đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước, đồng thời giữ gìn và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

1.4.2 Ý nghĩa

Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc “Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và

do đó có tác động tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại”7 Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lực cho phát triển một “nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ”8 Từ đó, có thể cho thấy công tác quản lý nhà nước về di tích mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, mang giá trị nhân văn sâu đậm, cần đưa giá trị của di tích đến với đời sống cộng đồng trong nước và vươn xa ra tầm quốc tế, khẳng dịnh tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về di tích

Trang 19

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 14

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH

LỊCH SỬ, VĂN HÓA VÀ DANH LAM THẮNG CẢNH – THỰC TIỄN

Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ 2.1 Cơ sở pháp lý của công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

2.1.1 Các văn bản pháp lý chung điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về di tích

Theo Điều 34 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 quy định: “Nhà nước và xã hội

bảo tồn, phát triển các di sản văn hoá dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng cảnh Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh” Như vậy, Hiến pháp đã quy định nhà nước và xã hội cùng nhau chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng Nhà nước sử dụng chức năng quản lý của mình cho công tác bảo tồn và phát huy tác dụng của các di tích, nghiêm cấm hành vi xâm phạm đến di tích Hiến pháp quy định trách nhiệm bảo tồn di tích không chỉ của nhà nước mà xã hội cũng phải tham gia, khi có sự tham gia của toàn xã hội vào công tác bảo tồn di tích, thì góp phần cho công tác quản lý nhà nước về di tích được hoàn thiện hơn, đồng bộ hơn Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 là cơ sở pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Dựa vào quy định của Hiến pháp thì cơ quan quản lý nhà nước sẽ

ban hành các văn bản pháp luật cụ thể, nhằm điều chỉnh các vấn đề về di tích

Luật Di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009:

Luật Di sản văn hóa đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001 và có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2002, gồm VII chương với 74 điều Luật Di sản văn hóa năm 2001 ra đời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đồng thời nâng cao vai trò quản lý nhà nước về di sản văn hóa Trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 là sự hợp thành của các giá trị di sản văn hóa của đất nước được luật điều chỉnh gồm: Di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể Trong phần di sản

văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh và di vật, cổ vật,

bảo vật quốc gia Trong đó di tích có vai trò quan trọng, đặc biệt là trong công tác quản lý nhà nước, được quy định từ Điều 28 đến Điều 40

Luật Di sản văn hóa năm 2001 đi vào cuộc sống, tác động tích cực đến các hoạt động văn hóa, xã hội Luật Di sản văn hóa năm 2001 đã nêu được các mục tiêu, yêu cầu

Trang 20

quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về di tích, cụ thể là: Nâng cao nhận thức của cán bộ và các tầng lớp nhân dân về quyền lợi và trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích; Tạo điều kiện và cơ hội cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở nước ta thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã hội, tăng cường sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế Từ khi Luật di sản văn hóa năm 2001 ra đời thì có nhiều di tích được xếp hạng và được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới

Công tác quản lý nhà nước về di tích được Luật Di sản văn hóa năm 2001 đề cập đến trong Chương V quản lý nhà nước về di sản văn hóa, trong đó bao gồm vấn đề về di tích Chương V gồm 15 điều (Điều 54 đến Điều 68) cụ thể quy định về: Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa; Nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Hợp tác quốc tế về di sản văn hóa; Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về di sản văn hóa Trong đó vấn đề quản lý nhà nước về di tích được lồng ghép trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa, do di tích là một phần không thể tách rời của di sản văn hóa Vấn đề quản lý nhà nước về di sản văn hóa dược luật đề cập khá tốt, nêu đầy đủ nhiều vấn đề quan trọng là trọng tâm cho công tác quản lý nhà nước về di tích

Tuy nhiên, Luật di sản văn hóa năm 2001 còn bộc lộ một số hạn chế ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát huy giá trị di tích trong tình hình hiện nay, cụ thể như: Quy định về việc cấp giấy phép khai quật khẩn cấp tại Điều 38; quy định về bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích tại Điều 34; Luật còn thiếu quy định để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa có dấu hiệu là di tích và danh thắng đã kiểm kê nhưng chưa được xếp hạng Do có những hạn chế nêu trên, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa để tạo cơ sở pháp lý tiếp tục thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước là rất cần thiết

Để giải quyết một số hạn chế của Luật Di sản văn hóa năm 2001 thì ngày 18 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội Khóa XII, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa đã được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm

2010 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa đã sửa đổi, bổ sung các điều liên quan đến di tích như: Khoản 1 Điều 28; Điều 29; Khoản 1 Điều 30; Điều 31; Điều 32; khoản 3, khoản 4 Điều 33; Điều 34; Bãi bỏ Điều 35; khoản 3 Điều 36; Điều 37; Điều 38 Tuy nhiên, Chương V quản lý nhà nước về di sản văn hóa thì không có sửa đổi,

bổ sung cho thấy Luật di sản văn hóa năm 2001 đã quy định tổng quan, khá phù hợp vấn

đề này Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 đã sửa đổi,

bổ sung một số điều về di tích của Luật Di sản văn hóa năm 2001 góp phần cho công tác quản lý nhà nước về di tích được thống nhất, đồng bộ, mang tính khả thi và phù hợp với

Trang 21

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 16

yêu cầu cuộc sống

Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN7 ngày 04 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng Nhà nước

về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh (sau đây gọi chung

là Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích năm 1984): Pháp lệnh được thông qua ngày 31

tháng 3 năm 1984, ban hành và có hiệu lực ngày 4 tháng 4 năm Pháp lệnh ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới của quá trình lập pháp về bảo vệ và sử dụng di tích, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 giải phóng Miền nam thống nhất đất nước thì đến năm 1984 Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích được thông qua Do sự tàn phá của chiến tranh, sự bào mòn của tự nhiên và sự thiếu quan tâm của con người dẫn đến tình trạng nhiều di tích biến mất, biến dạng, hư hại nghiêm trọng Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của di tích nên việc cho ra đời Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích năm 1984 là cơ sở pháp lý

quan trọng cho công tác quản lý nhà nước về di tích ở giai đoạn đầu

Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích năm 1984 gồm 27 điều, V chương Pháp lệnh tập trung vào các vấn đề: Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích trong việc giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ và văn hoá của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, làm giàu đẹp kho tàng di sản văn hoá dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá thế giới; Tạo điều kiện đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ tập thể trong việc bảo vệ và sử dụng các di tích; Đề cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân trong việc bảo vệ và sử dụng di tích

Theo Điều 2 Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích năm 1984 quy định việc quản lý Nhà nước đối với các di tích gồm: Kiểm kê, đăng ký, công nhận và xác định các loại hình

di tích; Quy định chế độ bảo vệ, sử dụng di tích và tổ chức việc thực hiện các chế độ đó; Thanh tra việc thi hành những quy định của pháp luật về bảo vệ, sử dụng di tích Công tác quản lý nhà nước về di tích theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích năm 1984 tập trung ở ba vấn đề chính trên, cho thấy bước đầu vấn đề quản lý nhà nước về di tích đã được chú trọng quan tâm Tuy nhiên nội dung quản lý nhà nước về di tích theo pháp lệnh chưa nêu rõ các vấn đề như: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển di tích; Xây dựng các văn bản quy phạm pháp lật về di tích; Công tác xây dựng nguồn lực về di tích; Vấn đề hợp tác quốc tế về di tích Những vấn đề trên sau này đã được sửa đổi, bổ sung ở Luật Di sản văn hóa 2001 Sau khi có Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích năm

1984 thì việc quản lý nhà nước đối với di tích được thực hiện bước đầu khá tốt, dần dần làm thay đổi ý thức của người dân

Trang 22

Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa 2009: Nghị định 98/2010/NĐ-CP có hiệu lực ngày 06

tháng 11 năm 2010 góp phần cho công tác quản lý nhà nước về di tích được thi hành, thực hiện đúng theo kế hoạch chủ trương đã đề ra, thực hiện đúng mục đích quản lý nhà nước Nghị định dựa trên cơ sở Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 ban hành nhằm chi tiết hóa các vấn đề mà luật đã đề ra, nghị định gồm VII chương với 36 điều quy

định các vấn đề về di sản văn hóa nói chung và di tích nói riêng

Nghị định 98/2010/NĐ-CP là nghị định cụ thể hóa công tác quản lý nhà nước về di tích, trong đó nghị định đã phân loại di tích thành 4 loại:

1 Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân);

Các văn bản pháp lý nêu trên và các văn bản có liên quan là cơ sở chung để các cấp, các ngành quản lý nhà nước về di tích thực hiện công tác quản lý, điều hành, trùng tu và bảo tồn di tích theo chủ trương, chính sách phù hợp với định hướng khoa học rõ ràng

2.1.2 Văn bản pháp lý điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn Thành phố Cần Thơ

Theo đó thì Quy chế Quản lý, bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử – văn hóa và danh lam, thắng cảnh trên địa bàn thành phố Cần Thơ (Ban hành theo Quyết định số 254/2004/QĐ-UB ngày 16 tháng 6 năm 2004 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ)

là văn bản chính điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn thành phố Cần Thơ Theo quy chế thì di tích ở thành phố Cần Thơ là một phần tài sản vô giá của đất nước và nhân dân Việt Nam Vì vậy, mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ và quản lý đối với tất cả những di tích nhằm quản lý, bảo tồn lâu dài, nguyên vẹn và phát huy có hiệu quả các di tích

Quy chế bao gồm III chương với 21 điều đã nêu rõ những quan điểm chung về việc quản lý, nghiên cứu bảo tồn, phát huy di tích, công tác tổ chức thực hiện Theo Điều 4 của Quy chế thì Công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động bảo tồn di tích bao gồm: Quản lý các hoạt động nghiên cứu, phát hiện, kiểm kê, đăng ký, xác định loại hình

Trang 23

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 18

và đề nghị Nhà nước xếp hạng di tích; Quản lý việc lập và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch về di tích; Quy định cụ thể và quản lý việc thực hiện các quy định về bảo vệ, tu sửa, phục hồi, bảo quản và phát huy di tích; Thanh tra, kiểm tra các hoạt động có liên quan đến công tác bảo tồn di tích

Quy chế là cơ sở pháp lý được ban hành dựa trên quy định chung của các văn bản pháp lý chung điều chỉnh công tác quản lý nhà nước về di tích, đồng thời dựa trên tình hình thực tế đặc thù của di tích tại địa phương để Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ,

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cơ quan quản lý trên địa bàn thực hiện tốt việc quản lý nhà nước về di tích

2.2 Cơ quan quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

2.2.1 Cơ quan quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp Trung ương

2.2.1.1 Chính phủ

Theo khoản 1 Điều 55 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định:

“Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa” Theo đó thì chính phủ sẽ tập trung thống nhất quản lý nhà nước đối với di tích trên phạm vi cả nước Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất chịu trách nhiệm trước Quốc hội trong việc cho thi hành Luật

Di sản văn hóa theo Điều 74 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 “Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này” Luật Di sản văn hóa năm 2001 ra đời không lâu thì Chính phủ ban hành nghị định 92/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa Sau đó đến năm 2009 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa được Quốc hội thông qua thì Chính phủ tiếp tục cho ban hành nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa (thay thế Nghị định 92/2002/NĐ-CP)

Chính phủ sẽ quản lý chung về mặt vĩ mô tổng quan trên cả nước, do phạm vi quản

lý của chính phủ rộng nên việc quản lý sẽ được chính phủ phân công, phân nhiệm khá rõ ràng “Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hoá theo phân công của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hoá”9 Đồng thời Chính phủ cũng sẽ giao nhiệm vụ cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch,

Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình Ngoài việc ban

9 Theo khoản 3 Điều 55 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009

Trang 24

hành những văn bản chỉ đạo điều hành, thì cũng có văn bản được ban hành nhằm mục đích phát huy giá trị di sản văn hóa như Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 36/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 02 năm 2005 về Ngày di sản văn hóa Việt Nam Thủ tướng đã ký quyết định chọn ngày 23 tháng 11 hàng năm là Ngày Di sản văn hóa Việt Nam, nhằm tuyên truyền rộng rãi giá trị di sản văn hóa, nâng cao nhận thức lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc

2.2.1.2 Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn hóa trong phạm vi cả nước Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về di sản văn hóa như sau:10

Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định: Quy hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản

văn hóa; tổ chức và hướng dẫn thực hiện sau khi được phê duyệt Xếp hạng và điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt Đề nghị UNESCO công nhận di tích tiêu biểu của Việt Nam là Di sản thế giới

Quyết định theo thẩm quyền:

Điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia Phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt theo quy định của pháp luật Phê duyệt hoặc thoả thuận việc xây dựng các công trình ở khu vực bảo vệ II đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt;

Thẩm định quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt Dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài các khu bảo vệ di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích theo quy định của pháp luật;

Cấp phép thăm dò, khai quật khảo cổ; Hướng dẫn hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với các di tích và nhân vật lịch sử Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về di tích có trách nhiệm báo cáo trước Chính phủ những vấn đề về di tích Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch có các cơ quan chuyên môn phục vụ công tác quản lý nhà nước về di tích như: Cục Di sản văn hóa, Báo văn hóa, Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bộ

có lực lượng cán bộ có trình độ chuyên môn kiến thức chuyên nghành cao, để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước cần phải nghiên cứu và đề ra những kế hoạch cụ thể, linh

10 Khoản 6 Điều 2 Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Trang 25

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 20

hoạt, phù hợp với thực tế

2.2.1.3 Cục Di sản văn hóa

Cục Di sản văn hóa là cơ quan của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về di sản văn hóa, được

Bộ trưởng giao trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động phát triển sự nghiệp bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hoá trong phạm vi cả nước theo đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước.11

Nhiệm vụ và quyền hạn: 12

Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định việc đề nghị UNESCO công nhận di tích tiêu biểu của Việt Nam là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định xếp hạng, hủy bỏ xếp hạng di tích quốc gia, điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với

di tích quốc gia và việc xếp hạng, hủy bỏ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt theo quy định;

Thẩm định trình Bộ trưởng phê duyệt hoặc thỏa thuận quy hoạch, dự án bảo quản,

tu bổ và phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt và di sản thế giới Thẩm định các dự án cải tạo, xây dựng công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt và di sản thế giới xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích theo quy định của pháp luật Thẩm định trình Bộ trưởng quyết định cấp phép, thăm dò, khai quật khảo cổ Thẩm định hồ sơ thiết kế kỹ thuật của các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt;

Trình Bộ trưởng quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa hành vi

vi phạm pháp luật về di sản văn hóa Xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, ứng dụng khoa học, công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt Đề xuất khen thưởng cho tổ chức, cá nhân có thành tích bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo quy định

Cục Di sản Văn hoá cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật di sản văn hoá, tăng cường kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích và hoạt động tu bổ di tích trên cả nước Chỉ đạo hướng dẫn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương thực hiện tốt công tác quản lý di tích và hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ về bảo tồn di tích để giúp địa phương nâng cao trình độ quản lý “Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền, giáo dục về di sản văn hoá và hoạt động bảo

11 Điều 1 Quyết định số: 27/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 31 tháng 3 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Di sản văn hóa

12 Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20 Điều 2 Quyết định số: 27/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 31 tháng 3 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Di sản văn hóa

Trang 26

quản, tu bổ và phục hồi di tích nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về giá trị di sản văn hoá cũng như hiểu biết về việc bảo vệ, giữ gìn các yếu tố gốc cấu thành di tích”13

2.2.1.4 Bảo tàng cấp Trung ương

Bảo tàng cấp Trung ương bao gồm: Bảo tàng quốc gia; Bảo tàng chuyên ngành

thuộc bộ, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương; Bảo tàng

chuyên ngành thuộc các đơn vị trực thuộc bộ, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính

trị – xã hội ở Trung ương

Các loại hình bảo tàng này thuộc hệ thống bảo tàng công lập, bảo tàng có nhiệm vụ: Sưu tầm, kiểm kê, bảo quản và trưng bày các sưu tập hiện vật Các hiện vật ở đây bao gồm nhiều hiện vật trong đó có cả các di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm là di tích Trong bảo tàng thì có đông đảo các lực lượng cán bộ khoa học chuyên nghành về bảo quản nên công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học phục vụ việc bảo tồn di tích sẽ được thực hiện tốt, là nơi có điều kiện về thiết bị, vật chất lưu trữ tốt các hiện vật của di tích Trong điều kiện các di tích không thể lưu trữ được như ở di tích khảo cổ các hiện vật được phát hiện cần được bảo quản tốt, hay di tích đang được trùng tu tôn tạo, hay do ở di tích không đủ điều kiện để bảo quản hiện vật nếu không được bảo quản tốt sẽ làm hư hại hiện vật, khi đó có thể đưa các hiện vật đến bảo tàng để bảo quản

Bảo tàng cũng có thể tiến hành tổ chức các hoạt động phát huy giá trị di tích bằng cách tổ chức các đoàn tham quan di tích, giới thiệu các hiện vật về di tích được lưu giữ trong bảo tàng Bảo tàng cũng có thể tham gia vào công tác trùng tu, tôn tạo và phục hồi

di tích, tham gia vào công tác lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích Bảo tàng góp phần thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về di tích, thúc đẩy sự quản lý đồng bộ, tăng cường quản lý chặc chẽ hơn, với sự góp mặt của nhiều cấp, nhiều nghành quản lý vào công tác quản lý nhà nước về di tích

2.2.2 Cơ quan quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp địa phương

2.2.2.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh)

là cơ quan hành chính quản lý chung tiến hành chỉ đạo các cấp, các ngành địa phương, các chủ đầu tư dự án thực hiện tốt Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 và các văn bản pháp luật về di tích có liên quan

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh “chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo vệ, trùng tu, bảo tồn các di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh, công trình văn hoá, nghệ

13 Chỉ thị số 73/CT-BVHTTDL ngày 19 tháng 5 năm 2009 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc Tăng cường các biện pháp quản lý di tích và các hoạt động bảo quản, tu bổ và tôn tạo di tích

Trang 27

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 22

thuật theo thẩm quyền”14.Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý chung về di tích trên địa bàn của mình, ra các văn bản chỉ đạo quản lý nhà nước về di tích thực hiện trên phạm vi quản

lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện công tác quản lý nhà nước về di tích, tiến hành xử phạt các hành vi vi phạm đến di tích theo thẩm quyền luật định, tổ chức khen thưởng tuyên dương các cá nhân, cơ quan,

tổ chức thực hiện tốt việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hàng năm tổng hợp báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng cấp tỉnh, các

cơ quan khác có liên quan để tổng kết công tác quản lý nhà nước về di tích trên địa bàn,

từ đó sẽ có những kế hoạch chỉ đạo và phương hướng thực hiện trong thời gian tới

2.2.2.2 Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về di tích ở địa phương, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra

về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ và quyền hạn:

Trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Dự thảo quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch

dài hạn, 05 năm và hàng năm về di tích; phân cấp quản lý và xã hội hoá trong lĩnh di tích

ở địa phương

Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Dự thảo quyết định, chỉ thị thuộc thẩm

quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về di tích

Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm trong việc:15 Tổ chức thực hiện quy chế, quy định pháp luật, giải pháp huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo

vệ và phát huy giá trị di tích tại địa phương sau khi được phê duyệt “Tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục thực hiện phân cấp việc quản lý di tích trên địa bàn, đảm bảo qua đó xác định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm và quyền hạn của các cấp, các ngành ở địa phương, đặc biệt là trách nhiệm, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và Trưởng Ban quản lý di tích do Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập, đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích”16

Tổ chức thực hiện kiểm kê, phân loại, lập hồ sơ xếp hạng di tích thuộc địa bàn tỉnh Thẩm định dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích cấp tỉnh có khả năng ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường của di tích Quản lý, hướng dẫn

14 Khoản 3 Điều 89 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003

15 Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 06 tháng 6 năm 2008 hướng dẫn Chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phòng Văn hoá và Thông tin thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

16 Chỉ thị Số 16/CT-BVHTTDL ngày 03 tháng 02 năm 2010 về việc Tăng cường công tác chỉ đạo quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích

Trang 28

tổ chức các hoạt động bảo tồn, lễ hội truyền thống – tín ngưỡng gắn vớí di tích, nhân vật

lịch sử tại địa phương, “giao nhiệm vụ cụ thể cho các đơn vị trực thuộc có chức năng, nhiệm vụ quản lý di tích trên địa bàn (Phòng Quản lý di sản văn hóa, Bảo tàng, Ban quản

lý di tích, Thanh tra)”17 Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ Xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước về di tích

Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về di tích thì Sở Văn hoá, Thể thao và

Du lịch cần tập trung thực hiện các công việc sau:

Tăng cường kiểm tra công tác quản lý di tích, gắn trách nhiệm của chính quyền, các đoàn thể ở huyện, xã trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, hướng dẫn để những người dân hảo tâm cung tiến những đồ thờ phù hợp Tăng cường giám sát chuyên môn để nâng cao chất lượng các dự án tu bổ di tích;

Tiếp tục kiện toàn và nâng cao trách nhiệm bộ máy quản lý, trông nom trực tiếp tại

di tích Tham mưu với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành các chủ đầu

tư dự án thực hiện nghiêm quy định pháp luật khi triển khai các dự án tu bổ di tích Tăng cường kiểm tra hoạt động bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích cũng như phát huy trách nhiệm giám sát của cộng đồng để kịp thời phát hiện, điều chỉnh các sai sót có thể xảy ra trong quá trình triển khai các dự án, tránh để xảy ra sai phạm rồi mới xử lý nhằm bảo vệ tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích trong quá trình bảo quản và tu bổ;

Phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền rộng rãi về giá trị của di tích, lý do bảo quản, tu bổ phục dựng di tích và nội dung dự án tu bổ di tích trước khi triển khai để nhân dân được biết, tham gia đóng góp ý kiến nhằm thống nhất, nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận của xã hội về thực hiện các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích;

Xây dựng kế hoạch trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bố tổ chức tập huấn về quản lý

di tích, bảo quản, tu bổ phục hồi di tích đến các đối tượng là cán bộ cấp huyện, xã có liên quan và người trực tiếp trông nom di tích “xây dựng kế hoạch bảo quản, tu bổ phục hồi di tích cấp tỉnh đến năm 2015 trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt để thực hiện; xây dựng kế hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cấp quốc gia đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch”18

Trang 29

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 24

quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân

Bảo tàng cấp tỉnh tham gia vào công tác quản lý nhà nước về di tích ở phạm vi địa phương, chịu sự quản lý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng thời chịu sự chỉ đạo

và hướng dẫn chuyên môn của Cục Di sản văn hóa Bảo tàng cấp tỉnh tham gia vào công tác nghiên cứu, giáo dục khoa học, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày, phát huy giá trị các hiện vật thuộc di tích được trưng bày trong bảo tàng, phù hợp với tính chất và nội dung hoạt động của bảo tàng địa phương và khu vực Bảo tàng là nơi lưu giữ và giới thiệu một khối lượng lớn di tích quý báo, thu hút ngày càng nhiều khách tham quan, nghiên cứu, góp phần quản bá giá trị truyền thống lịch sử dân tộc

2.3 Trình tự thủ tục xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

2.3.1 Xếp hạng và thẩm quyền xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

2.3.1.1 Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp tỉnh

Theo khoản 1 Điều 29 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 thì di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm:

Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;

Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm vi địa phương;

Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương;

Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương

Trên đây là các điều kiện để xếp hạng di tích cấp tỉnh, di tích chỉ cần thỏa một trong bốn điều kiện trên là có thể xem xét làm hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh theo từng loại cụ thể Di tích cấp tỉnh gắn kết nhiều với yếu tố địa phương, là đại diện văn hóa tiêu biểu cho địa phương, vùng miền đó “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh, cấp bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh”19 dựa trên hồ sơ đề nghị xếp hạng của Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch

2.3.1.2 Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh quốc gia

Theo khoản 2 Điều 29 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 thì di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:

Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật,

19 Theo điểm a khoản 1 Điều 30 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009

Trang 30

khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;

Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ;

Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù

Để trở thành di tích quốc gia thì di tích đó phải có giá trị tiêu biểu đại diện cấp quốc gia:

Đối với di tích lịch sử thì phải gắn liền với sự kiện lịch sử dân tộc, sự kiện quan trọng của đất nước hoặc là nhân vật có tầm ảnh hưởng gắn với tiến trình lịch sử dân tộc

có đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước qua các thời kỳ;

Đối với di tích kiến trúc nghệ thuật phải có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển văn hóa kiến trúc nghệ thuật của Việt Nam, như là điểm đánh dấu bước phát triển mới của kiến trúc nghệ thuật Việt Nam hay di tích có kiến trúc nghệ thuật độc đáo trong tiến trình phát triển đất nước;

Đối với di tích khảo cổ phải có giá trị nổi bật cho giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ, di tích khảo cổ đánh dấu bước phát triển mới trong văn hóa khảo cổ, di tích tiêu biểu cho khoa học khảo cổ, là đại diện đặc trưng cho nền khảo cổ nước ta;

Đối với danh lam thắng cảnh quốc gia mang màu sắc kết hợp độc đáo giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc nghệ thuật làm nổi bật lên vẻ đẹp non sông Việt Nam, văn hóa Việt Nam gắn liền với những danh thắng tiêu biểu của quốc gia

Di tích quốc gia là đại diện văn hóa tiêu biểu cho cả nước nên việc xem xét để trở thành di tích quốc gia phải đạt nhiều yếu tố quan trọng, mang tính chất quốc gia, nên việc lập hồ sơ xếp hạng di tích cũng sẽ có nhiều yêu cầu phức tạp hơn “Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia”20

2.3.1.3 Di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt

Theo khoản 3 Điều 29 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 thì di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh

20 Theo điểm b khoản 1 Điều 30 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009

Trang 31

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 26

hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;

Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo

cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;

Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới

Di tích quốc gia đặc biệt là đại diện đặc biệt cho văn hóa Việt Nam và Thế giới, là nơi gắn kết và hội tụ cộng đồng văn hóa các dân tộc Việt Nam, đồng thời là nơi bảo tồn văn hóa Việt Nam và nhân loại Để trở thành di tích quốc gia đặc biệt thì phải có yếu tố đặc biệt:

Đối với di tích lịch sử phải gắn với bước chuyển biến quan trọng của lịch sử dân tộc, của đất nước trong tiến trình lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc hay người anh hùng dân tộc, danh nhân có tầm ảnh hưởng quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử nước nhà, là đại diện văn hóa đặc sắc cho Việt Nam và Thế giới; Đối với di tích kiến trúc nghệ thuật là di tích đánh dấu bước phát triển trọng đại của

sự phát triển văn hóa kiến trúc nghệ thuật, mang màu sắc văn hóa Việt Nam khắc họa trong nét đẹp của di tích kiến trúc nghệ thuật qua từng thời kỳ khác nhau;

Đối với di tích khảo cổ phải có giá trị đặc biệt đánh dấu sự phát triển của văn hóa khảo cổ ở Việt Nam và mang những giá trị tiêu biểu cho cả nền văn hóa khảo cổ của Thế giới, đồng thời là nơi lưu trữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học về văn hóa khảo cổ;

Đối với danh lam thắng cảnh là nơi kết hợp màu sắc thiên nhiên và nghệ thuật, hội

tụ và gắn kết cộng đồng các dân tộc Việt Nam, giới thiệu văn hóa đặc trưng của Việt Nam

ra tầm thế giới Đặc biệt là những khu vực thiên nhiên mang giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thu hút đông đảo lực lượng khách tham quan du lịch, nghĩ ngơi, an dưỡng, học tập

và nghiên cứu

Việc xếp hạng đối với di tích quốc gia đặc biệt diễn ra không dễ dàng do là di tích mang tính tiêu biểu đại diện cho văn hóa đặc trưng của cả nước nên việc xếp hạng phải được lựa chọn kỹ càng, trên cơ sở ý kiến của nhiều cấp, nhiều ngành liên quan “Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, cấp bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; quyết định việc đề nghị UNESCO xem xét đưa di tích tiêu biểu của

Trang 32

Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới”21.Nếu được trở thành di sản thế giới thì di tích

sẽ là đại diện văn hóa tiêu biểu cho nhân loại

2.3.2 Thủ tục và hồ sơ xếp hạng di tích

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm kê di tích ở địa phương và lựa chọn các di tích tiêu biểu tiến hành lập hồ sơ khoa học để quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh, đồng thời trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích quốc gia Theo đó thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trong việc ra quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh, dựa trên cơ sở “hồ sơ khoa học xếp hạng di tích”22của “Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch”23 và Bảo tàng đề nghị xếp hạng di tích Đồng thời Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng là người có nhiệm vụ chỉ đạo “lập hồ

sơ khoa học”24 sau đó trình Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch “chỉ đạo lập hồ sơ khoa học”25 trình Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, lập hồ sơ khoa học di tích tiêu biểu của Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ quyết định đề nghị UNESCO xem xét đưa vào danh mục di sản thế giới Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ chỉ đạo việc lập hồ sơ khoa học trình Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là người có trách nhiệm lập hồ

sơ khoa học trình Thủ tướng Chính phủ, hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ “phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia”26, do Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia là hội đông tư vấn cấp cao của Thủ tướng Chính phủ về di sản văn hóa Một điều cần lưu ý là Luật di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện nay chưa thấy quy định về thời hạn ra quyết định xếp hạng di tích, dẫn đến tình trạng mỗi nơi áp dụng thời hạn một kiểu, nhiều di tích phải chờ đợi một thời gian rất dài mới được công nhận, ảnh hưởng không tốt đến việc quản lý, bảo tồn di tích Đây là một điểm bất cập trong luật hiện hành, trong thời gian tới cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn

21 Theo điểm c khoản 1 Điều 30 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009

22 Khoản 2 Điều 13 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa và Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định về nội dung hồ

sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh

23 Khoản 1 Điều 13 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa

24 Xem thêm Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh

25 Xem thêm Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh

26 Khoản 2 Điều 31 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009

Trang 33

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 28

Hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích cơ bản bao gồm:27

Đơn đề nghị xếp hạng của tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý di tích;

Lý lịch di tích;

Bản đồ vị trí và chỉ dẫn đường đến di tích;

Bản vẽ mặt bằng tổng thể di tích tỷ lệ 1/500, các mặt bằng, các mặt đứng, các mặt cắt ngang, cắt dọc, kết cấu và chi tiết kiến trúc có chạm khắc tiêu biểu của di tích tỷ lệ 1/50;

Tập ảnh màu khảo tả di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích từ cỡ 9cm

x 12cm trở lên;

Bản thống kê di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích;

Bản dập, dịch văn bia, câu đối, đại tự và các tài liệu Hán Nôm hoặc tài liệu bằng các loại ngôn ngữ khác có ở di tích;

Biên bản và bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích có dấu xác nhận của Ủy ban nhân dân các cấp, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tài nguyên môi trường và

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

2.3.3 Khu vực bảo vệ di tích

Bảo vệ di tích là rất cần thiết nhằm bảo tồn giá trị di tích, chúng ta xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo tồn di tích, phát huy giá trị di tích, nếu không bảo vệ

di tích thì mục tiêu đó sẽ không đạt được

Theo khoản 1 Điều 32 Luật di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009 thì khu vực bảo vệ gồm:

Khu vực bảo vệ I là vùng có các yếu tố gốc cấu thành di tích;

Khu vực bảo vệ II là vùng bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ I Trong trường hợp không xác định được khu vực bảo vệ II thì việc xác định chỉ có khu vực bảo vệ I đối với di tích cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, đối với di tích quốc gia do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định, đối với di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định

Khu vực bảo vệ I phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian Trường hợp đặc biệt có yêu cầu xây dựng công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, việc xây dựng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền xếp hạng di tích đó Việc xây dựng công trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích khu vực bảo vệ II đối với di tích cấp tỉnh “phải được sự đồng ý bằng văn bản của

27 Quy định chi tiết tại Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch Quy định về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh

Trang 34

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch”28 Việc xây dựng công trình không được làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sinh thái của di tích

Việc xác định khu vực bảo vệ I của di tích quy định tại khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 được thực hiện theo các nguyên tắc sau:29

Đối với di tích là công trình xây dựng, địa điểm gắn với các sự kiện lịch sử, thân thế

và sự nghiệp của danh nhân thì phạm vi khu vực bảo vệ I phải bao gồm các khu vực có công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu những diễn biến tiêu biểu của sự kiện lịch sử, những công trình lưu niệm gắn với danh nhân liên quan đến di tích đó;

Đối với di tích là địa điểm khảo cổ thì phạm vi khu vực bảo vệ I phải bao gồm khu vực đã phát hiện các di tích, di vật, địa hình, cảnh quan có liên quan trực tiếp tới môi trường sinh sống của chủ thể đã tạo nên địa điểm khảo cổ đó;

Đối với di tích là quần thể các công trình kiến trúc nghệ thuật hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ thì phạm vi khu vực bảo vệ I phải bao gồm các khu vực có công trình kiến trúc, sân, vườn, ao, hồ và cả các yếu tố khác liên quan đến di tích đó;

Đối với danh lam thắng cảnh thì phạm vi khu vực bảo vệ I phải đảm bảo cho việc giữ gìn sự toàn vẹn của cảnh quan thiên nhiên, địa hình, địa mạo và các yếu tố địa lý khác chứa đựng sự đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù, các dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất hoặc các công trình kiến trúc có liên quan Đối với di tích gồm nhiều công trình xây dựng, địa điểm phân bố trên phạm vi rộng thì phải xác định khu vực bảo vệ I cho từng công trình xây dựng, địa điểm

Theo Khoản 2 Điều 14 Nghị định 98/2010/NĐ-CP thì khu vực bảo vệ II là “khu vực bao quanh hoặc tiếp giáp với khu vực bảo vệ I để bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái của di tích và là khu vực được phép xây dựng các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị của di tích Việc xác định di tích không có khu vực bảo vệ II được áp dụng trong trường hợp di tích đó nằm trong khu vực dân cư hoặc liền kề các công trình xây dựng mà không thể di dời” Theo quy định khu vực bảo vệ II có thể xây dựng các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị của di tích, đương nhiên các công trình này không đặc yếu tố lợi nhuận lên hàng đầu và không được làm ảnh hưởng đến giá trị di tích Trong trường hợp di tích đó nằm trong khu vực dân cư hoặc liền kề các công trình xây dựng mà không thể di dời thì không cần xác định khu vực bảo vệ II cho di tích

28 khoản 2 Điều 32 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009

29 Khoản 1 Điều 14 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa

Trang 35

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 30

2.4 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

2.4.1 Công tác kiểm kê di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

Công tác kiểm kê di tích rất quan trọng mang tính chất khái quát tổng hợp, giúp cơ quan nhà nước thống kê được số lượng các di tích trên phạm vi địa phương và cả nước

Từ đó biết được tình hình thực tế các di tích để có kế hoạch bảo tồn hợp lý “việc kiểm kê

di tích được tổ chức thực hiện theo tiêu chí quy định tại khoản 9 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa và khoản 2 Điều 28 Luật di sản văn hóa Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức kiểm kê di tích, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt, công bố danh mục kiểm kê di tích”30 Việc kiểm kê di tích ở địa phương thường được thực hiện hàng năm, theo sự chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhằm đánh giá sát tình hình thực

tế của di tích, rồi sau đó báo cáo lên Cục Di sản văn hóa, khi đó Cục Di sản văn hóa tổng hợp và báo cáo lên Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, từ đó sẽ có được số liệu thống kê tình hình di tích trên phạm vi cả nước

Công tác kiểm kê di tích sẽ giúp cơ quan nhà nước biết được số lượng các di tích đã

và chưa được xếp hạng, các di tích chưa được xếp hạng sẽ được quan tâm theo dõi xem xét đưa vào danh mục di tích được xếp hạng khi đủ điều kiện Tùy theo tính chất và mức

độ quan trọng của di tích sẽ tiến hành lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích “Tính đến tháng 8 năm 2010 trong số 4 vạn di tích trên toàn quốc đã kiểm kê, có 3.018 di tích

đã được xếp hạng di tích quốc gia và 5.347 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh Đồng thời, từ năm 2001 đến nay, đã có 1.456 di tích được đầu tư chống xuống cấp, tu bổ ở các mức độ khác nhau bằng nguồn kinh phí của Chương trình mục tiêu quốc gia Các lễ hội diễn ra tại di tích đã được gắn với giáo dục truyền thống văn hóa, thu hút khách du lịch

Hệ thống bảo tàng Việt Nam đã được mở rộng, bao gồm 126 đơn vị, trong đó có 08 bảo

tàng tư nhân; đây là nơi lưu giữ và trưng bày hơn 2,8 triệu tài liệu, hiện vật – những di

sản văn hóa quý giá của dân tộc Hệ thống tổ chức về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được củng cố, từng bước mở rộng và hoàn thiện: Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ những vấn đề quan trọng liên quan đến việc bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa; Hội Di sản văn hóa Việt Nam được thành lập với hơn

80 Liên chi Hội, Chi hội cơ sở và hơn 3.000 hội viên ở khắp các địa phương trong cả nước”31 Từ việc kiểm kê di tích các cơ quan chức năng sẽ tiến hành các chủ trương chính

30 Điều 12 Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009

31 Trang thông tin điện tử: Cục Di sản văn hóa, theo báo cáo của Cục Di sản văn hóa tháng 8 năm 2010,

Trang 36

sách phù hợp với yêu cầu của từng loại di tích, theo sát tình hình diễn biến của di tích, từ

đó có thể điều chỉnh các chính sách, chủ trương cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế

2.4.2 Công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

2.4.2.1 Di tích lịch sử

Công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị đối với di tích lịch sử có ảnh hưởng to lớn trong việc giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc, đặc thù của di tích lịch sử là gắn liền với những sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử Do đó công tác bảo tồn và phát huy giá trị là rất cần thiết, công tác bảo tồn di tích lịch sử được diễn ra tại những nơi lưu dấu giá trị lịch sử dân tộc, những nơi này có thể thay đổi những giá trị ban đầu theo thời gian do nhiều yếu tố tác động Cùng với quá trình phát triển đất nước diễn ra nhanh chóng, nên việc bảo tồn những giá trị gốc của di tích lịch sử cũng gặp nhiều khó khăn, thường thì các cơ quan chức năng sẽ khoanh vùng tạm thời hay xếp hạng di tích để có phương án bảo tồn thích hợp Đó là đối với những di tích có điều kiện bảo vệ, còn đối với những di tích đã bị hủy hoại một phần hay hoàn toàn thì việc bảo tồn diễn ra khó khăn và phức tạp, từ việc phục dựng lại di tích (cần nguồn tư liệu lịch sử chính xác, nhưng đa phần thường rất ít tư liệu) cho đến việc tôn tạo lại di tích, đi kèm theo đó là kinh phí phục vụ cho công tác bảo tồn cũng gặp khó khăn do ngân sách hạn chế và đây cũng là lĩnh vực không thu hút được các nhà đầu tư (kinh phí đầu tư lớn, nguồn lợi ít, rủi ro cao)

Nếu thực hiện tốt công tác bảo tồn di tích lịch sử thì giá trị mà nó mang lại vô cùng

to lớn, bảo tồn tốt sẽ giúp lưu giữ lại những giá trị văn hóa lịch sử tiêu biểu của đất nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc Cần thực hiện các phương pháp giáo dục linh hoạt (tổ chức tham quan di tích, các cuộc thi tìm hiểu về di tích lịch sử), đưa thông tin về di tích lịch sử đến với đông đảo cộng đồng trong và ngoài nước (báo, internet, đài phát thanh truyền hình)

2.4.2.2 Di tích kiến trúc nghệ thuật

Đối với di tích kiến trúc nghệ thuật thì nét đẹp độc đáo nhất ở di tích này là nét đẹp kiến trúc kết hợp với nghệ thuật mang đến cho di tích nét nổi bật đặc trưng riêng Di tích kiến trúc nghệ thuật với kết cấu kiến trúc độc đáo kết hợp bởi những vật liệu đặc trưng và những đường nét hoa văn tinh tế mang vẻ đẹp thẩm mỹ độc đáo Di tích kiến trúc nghệ thuật ở mỗi thời kỳ phát họa một nét kiến trúc nghệ thuật, đánh dấu từng bước phát triển của kiến trúc nghệ thuật Việt Nam, từ các chất liệu đơn sơ đến các chất liệu phức tạp kết hợp với nghệ thuật đơn giản đến cầu kỳ tạo thành điểm nổi bật cho di tích kiến trúc nghệ

http://www.dch.gov.vn, [truy cập ngày 20/02/2012]

Trang 37

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 32

thuật

Để đảm bảo cho công tác bảo tồn di tích kiến trúc nghệ thuật được tốt thì việc lưu giữ yếu tố gốc là cực kỳ quan trọng Việc trùng tu, tôn tao hay phục dựng lại một di tích, một phần di tích hay một bộ phận di tích kiến trúc nghệ thuật cũng rất khó khăn do việc trùng tu, tôn tạo sẽ ảnh hưởng không tốt đến yếu tố gốc của di tích Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực này là rất cần thiết đặc biệt là đồ họa vi tính, kỹ thuật 3D mang lại nhiều thuận lợi cho việc phục dựng di tích, nhưng cần tránh việc thay thế các chất liệu của di tích, nhất là các chất liệu mới Nhiều di tích kiến trúc nghệ thuật khi trùng tu, tôn tạo, phục dựng lại bởi các vật liệu không phù hợp, khi đó di tích kiến trúc nghệ thuật sẽ không còn được giá trị vốn có Các địa điểm di tích kiến trúc nghệ thuật thu hút khách tham quan khá đông, việc chế tác ra các sản phẩm hình ảnh về di tích kiến trúc nghệ thuật cũng là một phương pháp giới thiệu di tích, cần thu hút nguồn lực xã hội hóa cho việc bảo tồn di tích kiến trúc nghệ thuật

2.4.2.3 Di tích khảo cổ

Việc xây dựng một chính sách bảo tồn hợp lý có kế hoạch lâu dài đối với di tích khảo cổ là cần thiết, do di tích khảo cổ được vùi sâu dưới đất, dưới nước việc tìm ra di tích khảo cổ cũng khó khăn Việc thăm dò, khai quật khảo cổ phải thực hiện theo quy định pháp luật, phải có căn cứ khoa học hợp lý Đối tượng được đưa vào quy hoạch khảo

cổ ở địa phương là các địa điểm khảo cổ trong lòng đất và dưới nước, nơi đã phát hiện di tích, di vật hoặc có dấu hiệu là nơi lưu giữ di tích, di vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc lập quy hoạch khảo cổ ở địa phương, phê duyệt và công bố quy hoạch sau khi được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.32

Quy chế thăm dò, khai quật khảo cổ (Ban hành kèm theo Quyết định số 86/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) quy định mục đích của hoạt động thăm dò, khai quật khảo cổ là: Phát hiện, nghiên cứu những địa điểm khảo cổ, di tích và di vật trong lòng đất và dưới nước để tìm hiểu mọi mặt đời sống tự nhiên và xã hội trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử; Làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa của đất nước, phục vụ việc bảo quản, tu bổ

và phục hồi di tích

Đa số hiện vật trong di tích khảo cổ thường không được nguyên vẹn, nên việc phục dựng lại là rất cần thiết, việc tập hợp các mãnh vỡ của hiện vật, các phần của di tích làm tốn nhiều thời gian, công sức nên cần áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào việc này

32 Khoản 1, 2, 3 Điều 37 Luật Di sản văn hóa 2001 sửa đổi, bổ sung 2009

Trang 38

Do di tích khảo cổ có phạm vi bảo vệ rộng nhưng lực lượng bảo vệ lại mỏng, trang thiết

bị lạc hậu dẫn đến nhiều di tích không được bảo quản tốt, hư hại nhiều nơi

2.4.2.4 Danh lam thắng cảnh

Đối với danh lam thắng cảnh cần thiết kế tổng thể môi trường cảnh quan đi sâu vào công tác quy hoạch và bảo vệ môi trường xung quanh, tránh việc hủy hoại của thiên nhiên và con người Phạm vi bảo vệ của danh lam thắng cảnh khá rộng, lực lượng cán bộ quản lý ít, chi phí cho việc bảo tồn cao, nên việc xây dựng một chương trình kế hoạch quản lý đồng bộ chặc chẽ là rất cần thiết

Công tác bảo tồn danh lam thắng cảnh cần chú ý đến việc bảo tồn và phát huy giá trị theo hướng phát triển bền vững, chúng ta khai thác tiềm năng lợi ích của danh lam thắng cảnh đi đôi với việc bảo tồn không chỉ cho hôm nay, mà còn cho cả thế hệ mai sau, tránh việc khai thác dẫn đến triệt tiêu Danh lam thắng cảnh với nét đẹp kết hợp nhiều màu sắc văn hóa nên thường là nơi thu hút rất đông khách du lịch trong và ngoài nước, hàng năm các địa điểm danh lam thắng cảnh thu được nguồn tài chính khá lớn từ hoạt động du lịch Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức Cơ hội vì danh lam thắng cảnh thu hút khách tham quan góp phần quản bá văn hóa Việt Nam đến trong và ngoài nước, thu nguồn tài chính lớn, tạo việc làm kiếm thêm thu nhập, đồng thời là nơi vui chơi giải trí, nghỉ ngơi an dưỡng Thách thức là việc khai thác không hợp lý sẽ dẫn đến hư hại các yếu tố đặc trưng của danh lam thắng cảnh, khách du lịch đông kéo theo hàng loạt các nhu cầu dịch vụ phục vụ con người (ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi) kèm theo đó là lượng rác thải, chất thải được thải ra môi trường gây ô nhiễm môi trường, với tốc độ phát triển nhanh chóng không có sự quản lý chặc chẽ sẽ làm cho danh lam thắng cảnh xuống cấp nghiêm trọng

Từ đó đặc ra yêu cầu phát triển kinh tế đi đôi với bảo tồn danh lam thắng cảnh, nhà nước quản lý phải đồng bộ và chặc chẽ, có kế hoạch xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, nâng cao ý thức cộng đồng trong bảo vệ danh lam thắng cảnh

2.4.3 Công tác ban hành văn bản pháp luật và tuyên truyền, giáo dục pháp luật

về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

Ngày 23 tháng 11 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 65/SL về việc Bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) hòa bình lập lại trên miền Bắc nước ta, Thủ tướng Chính phủ đã

ký ban hành Nghị định 519/TTg ngày 29/10/1957 về việc Bảo vệ và sử dụng di tích lịch

sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, đến năm

1984 Hội đồng Nhà nước nước đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh Tiếp đó, trong quá trình Đảng và Chính phủ thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, hội nhập, để việc bảo vệ di sản văn hóa được toàn diện, đầy

Trang 39

GVHD: ThS Võ Duy Nam SVTH: Nguyễn Quốc Việt 34

đủ và phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ lịch sử mới, năm

1998 Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về việc Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Bốn năm sau, Quốc hội đã thông qua Luật di sản văn hóa năm 2001 Sau đó Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 được ban hành Những văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nêu trên, qua từng thời kỳ lịch sử, cái sau

có giá trị pháp lý cao hơn và đầy đủ hơn cái trước, đã cho thấy tính nhất quán trong sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di tích của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện nguyện vọng,

ý chí chung của toàn dân tộc trong sự nghiệp cao cả, đầy khó khăn thử thách này

Đi đôi với công tác xây dựng ban hành văn bản pháp luật thì việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về di tích có vai trò tích cực Nhiệm vụ cơ bản của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là làm cho mọi người đều hiểu biết pháp luật về di tích Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai ở nhiều ngành, nhiều cấp, bằng nhiều hình thức, biện pháp khác nhau Yêu cầu xuyên suốt trong quá trình triển khai là mọi người phải hiểu đúng các quy định của pháp luật về di tích để từ đó vận dụng một cách thống nhất Việc xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật luôn bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố (chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội), nên việc phổ biến cũng cần nhiều thời gian và có kế hoạch cụ thể để đảm bảo hiệu quả lâu dài Một số hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông dụng hiện nay, cần vận dụng một cách phù hợp để đạt hiệu quả: Phổ biến, giáo dục một cách trực tiếp; Trên các loại hình báo chí và qua mạng lưới truyền thanh cơ sở; Biên soạn

và phát hành các loại tài liệu về di tích; Giáo dục pháp luật về di tích trong nhà trường;

Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật về di tích

Công tác ban hành văn bản pháp luật và việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích phải đi đôi với nhau có ban hành văn bản luật thì phải có kế hoạch phổ biến, đưa kiến thức pháp luật về di tích đến với người dân bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau Như vậy thì mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị di tích mới đạt được, đồng thời cho thấy sự quản lý nhà nước khoa học hơn, chặc chẽ và đồng bộ hơn

2.4.4 Xây dựng nguồn lực cho công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

Với mục tiêu “con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”33. Cho thấy việc xây dựng đội ngũ cán bộ cho việc bảo tồn di tích là thiết thực, hoạt động bảo tồn di tích trong những năm qua dù có được những bước đi lớn nhưng

“theo ông Lê Thành Vinh, Viện trưởng Viện Bảo tồn Di tích, hoạt động này vẫn chưa đáp

33 Trích Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa (bổ sung, phát triển năm 2011), văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2011, tr 30

Trang 40

ứng được nhu cầu thực tế, với số lượng lớn di tích được xếp hạng trên cả nước đã và đang đặt ra rất nhiều yêu cầu cấp bách về hoạt động trùng tu, tôn tạo di tích”34 Trong khi hoạt động trùng tu, tôn tạo di tích là hoạt động mang tính chất hết sức đặc thù, với một đối tượng đặc biệt, cần được nghiên cứu và chuẩn bị kỹ lưỡng, để gìn giữ những giá trị văn hóa rất nhạy cảm và mong manh, thì đội ngũ những người làm công tác bảo tồn, trùng tu di tích trong cả nước hiện rất ít về số lượng Trong khi đó, phần lớn trong số họ chưa được đào tạo bài bản, tính chuyên nghiệp chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bảo tồn, tôn tạo di tích Thậm chí có trường hợp còn làm sai lệch, biến dạng yếu tố nguyên gốc của di tích

Nguồn nhân lực trong ngành di tích chưa đáp ứng nhu cầu đặt ra trong chiến lược phát triển văn hóa “đội ngũ những người làm công tác bảo tồn trong cả nước còn ít về số lượng, tính chuyên nghiệp chưa cao, lúng túng trong việc xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, làm ảnh hưởng đến chất lượng bảo tồn, tôn tạo di tích, thậm chí sai lệch, biến dạng yếu tố nguyên gốc của di tích”35 Di tích dĩ nhiên không thể tái sinh, mặt khác qua năm tháng luôn phải đối mặt với khí hậu khắc nghiệt, mưa gió, bão lụt Bên cạnh đó

là hành vi thiếu hiểu biết, thậm chí thiếu ý thức của con người cũng khiến các di tích ngày một hư hại Tuy vậy, những người đang hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di tích hiện nay lại được đào tạo từ nhiều chuyên ngành khác nhau: Sử học, khảo cổ học, kiến trúc, bảo tàng, dân tộc học, văn hóa học, hóa học Hầu hết trong số họ chưa được bổ túc những kiến thức chuyên sâu, tổng hợp về khoa học bảo tồn, phần lớn do tự tìm hiểu Phải

có chiến lược đầu tư trọng điểm cho cán bộ trẻ có năng lực, xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp và chuyên môn hóa lực lượng làm công tác bảo tồn di tích Kèm theo đó là việc Nhà nước cần có những chính sách đãi ngộ thích hợp (tăng tiền lương, thêm phụ cấp, khen thưởng, tuyên dương) đối với cán bộ, cơ quan, tổ chức hay các nhân có tâm huyết với công tác bảo tồn di tích Để họ có thể an tâm công tác, phục vụ lâu dài, tham gia nghiên cứu khoa học và phát huy tiềm lực tối đa cho việc bảo tồn di tích

2.4.5 Quản lý hợp tác quốc tế về di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh

Trong bối cảnh quốc tế với xu hướng phát triển văn hóa là coi trọng văn hoá và gắn

văn hóa với phát triển, coi văn hóa là nhân tố đảm bảo cho sự phát triển kinh tế – xã hội

bền vững Việt Nam hiện nay có 54 dân tộc chung sống, mỗi dân tộc đều có sự sáng tạo

và gìn giữ được các giá trị di sản văn hóa của riêng mình, nhờ đó tạo nên sự đa dạng văn hóa của cả đất nước, “nhà nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh quan hệ hợp tác với

34 Trang thông tin điện tử: Phạm Nguyễn, trùng tu nhân lực để bảo tồn di tích, Báo điện tử Văn hóa thể thao, Văn

hóa toàn cảnh, thứ tư ngày 11/01/2012, www.thethaovanhoa.vn , truy cập ngày [10/7/2012]

35 Quyết định 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 về việc phê duyệt chiến lược văn hóa đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm