Lượng rác tại nông thôn phát sinh ngày càng nhiều, đồng thời xuất hiện nhiều loại rác tính nguy hại cao như túi nylon, bao bì thuốc bảo vệ thực vật…Tuy nhiên, tại các địa phương công tác
Trang 1Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Bộ Môn Luật Thương Mại MSSV: 5095610
Cần Thơ, tháng 05/2013
Trang 2™&˜
Để hoàn thành đề tài Luận văn này, lời đầu tiên em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Ths Kim Oanh Na, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ
đã nhiệt tình truyền dạy kiến thức trong 4 năm học tập qua Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập, không chỉ là nền tảng cho em trong việc nghiên cứu Luận văn mà còn là hành trang quý giá để em có thể vững bước vào tương lai
Chân thành cám ơn đến các Cô, Chú tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đã giúp đỡ cung cấp số liệu để em có thể thuận lợi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Con cũng xin cảm ơn gia đình đã luôn bên cạnh, tạo điều kiện tốt nhất cả về vật chất và tinh thần để con có thể học tập và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Cuối cùng em cũng xin chân thành cám ơn đến bạn bè, những người đã luôn giúp đỡ, cổ vũ, động viên
và chia sẻ cho em trong suốt thời gian học tập tại Trường Đại học Cần Thơ
Trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài, mặc dù người viết đã cố gắng nhưng do còn hạn chế trong cách lập luận cũng như về tài liệu tham khảo nên bài viết khó tránh khỏi những sai sót Người viết rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô và các bạn để Luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Cần Thơ, tháng 05 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hồng
Trang 3@
Trang 4
™&˜
@
Trang 5
Chữ viết tắt Ký hiệu viết tắt
Trang 6.™&˜
Trang LỜI MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Cấu trúc đề tài 3
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CHẤT THẢI, CHẤT THẢI RẮN, CHẤT THẢI RẮN NÔNG THÔN 4
1.1 Một số khái nhiệm và phân loại chất thải, chất thải rắn 4
1.1.1 Một số khái niệm liêm quan đến chất thải, chất thải rắn 4
1.1.2 Phân loại chất thải, chất thải rắn 5
1.2 Khái quát về tình hình chất thải rắn 7
1.2.1 Tình hình về chất thải rắn và nguồn phát sinh 7
1.2.2 Một số vấn đề về chất thải rắn nông thôn 11
1.3 Những ảnh hưởng của chất thải rắn và sự cần thiết phải quản lý chất thải rắn .14
1.3.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn đối với môi trường, sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống sức khỏe con người 14
1.3.2 Sự cần thiết phải quản lý chất thải rắn đối với môi trường 19
1.4 Sơ lược pháp luật về quản lý chất thải rắn 20
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN NÔNG THÔN:
.25
2.1 Nguyên tắc quản lý chất thải rắn 25
2.2 Chủ thể quản lý và chủ thể chịu sự quản lý 30
2.2.1 Chủ thể quản lý 30
2.2.2 Chủ thể chịu sự quản lý chất thải rắn nông thôn 35
Trang 7rắn, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về quản lý chất thải rắn và hướng dẫn
thực hiện các văn bản này 38
2.3.2 Ban hành các quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho hoạt động quản lý chất thải rắn 41
2.3.3 Quản lý việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch quản lý chất thải rắn .41
2.3.4 Quản lý quá trình đầu tư cho thu gom, vận chuyển, xây dựng công trình xử lý chất thải rắn 43
2.3.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý chất thải rắn 45
2.4 Những quy định về xử lý vi phạm pháp luật về chất thải rắn và quản lý chất thải rắn 46
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI NÔNG THÔN 50
3.1 Thực tiễn quản lý chất thải rắn tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vinh Long 50
3.1.1 Hiện trạng môi trường của huyện Vũng Liêm 50
3.1.2 Vấn đề thực thi pháp luật quản lý chất thải rắn tại huyện Vũng Liêm .52
3.1.3 Những thành tựu đạt được và vấn đề tồn tại trong công tác quản lý chất thải rắn tại huyện Vũng Liêm 54
3.1.4 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long 56
3.2 Những tồn tại của pháp luật trong quản lý chất thải rắn nông thôn 57
3.3 Hoàn thiện các quy đinh của pháp luật về quản lý chất thải rắn nông thôn
58
3.3.1 Hoàn thiện pháp luật về thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
.59
3.3.2 Hoàn thiện quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động quản lý chất thải rắn 60
Trang 8hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn 63
3.3.4 Tăng cường cơ sở vật chất, kinh tế, kỹ thuât để quản lý chât thải rắn thông thường 63
3.3.5 Phổ biến các biện pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục pháp luật cho cộng đồng dân cư 64
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, xã hội đang ngày càng phát triển cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, các nhu cầu cuộc sống của con người dần được đáp ứng đầy đủ Với xu thế phát triển của thế giới Việt Nam cũng đang từng bước hòa nhập vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Xã hội phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của con người, tuy nhiên, hệ lụy của sự phát triển đó là môi trường ngày một ô nhiễm bởi nhiều tác động xấu như khí thải, nước thải, ô nhiễm từ các hoạt động khai thác khoáng sản…và một phần không nhỏ là do chất thải rắn Chính vì thế, không chỉ riêng Việt Nam mà các nước trên thế giới đang ngày càng quan, tâm chú trọng đến việc bảo vệ môi trường nói chung và chất thải rắn nói riêng Với một lượng chất thải rắn ngày càng gia tăng cả về số lượng và cả thành phần, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của con người
Trong khi các đô thị Việt Nam vấn đề chất thải rắn không còn là đề tài mới lạ,
nó đã quá quen thuộc được nhắc nhiều lần trong thời gian qua nhưng vẫn chưa thể tháo
gỡ một cách triệt để thì tại nông thôn chất thải rắn lại ngày càng gia tăng, trở thành một đề tài nóng bỏng được xã hội quan tâm Lượng rác tại nông thôn phát sinh ngày càng nhiều, đồng thời xuất hiện nhiều loại rác tính nguy hại cao như túi nylon, bao bì thuốc bảo vệ thực vật…Tuy nhiên, tại các địa phương công tác quản lý chất thải rắn nông thôn dường như bị bỏ ngỏ, việc thu gom xử lý rác thải tại nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, phân tán nhỏ lẻ chưa được xây dựng trên một hệ thống thống nhất, các phương tiện và công nghệ khoa học kỹ thuật còn thô sơ lạc hậu chưa đáp ứng kịp thời
để giải quyết các vấn đề về rác thải Các văn bản pháp luật điều chỉnh còn khá chung chung, không có một văn bản nào chỉ đạo hướng dẫn cụ thể các địa phương về hoạt động quản lý chất thải rắn nông thôn dẫn đến tình trạng các địa phương lúng túng khi
áp dụng vào thực tiễn
Trước những bức xúc của dư luận và những tác động nguy hiểm của chất thải rắn đang ngày một tàn phá môi trường nông thôn, chính vì thế, người viết thực hiện đề
tài “Quản lý chất thải rắn nông thôn - Pháp luật và thực tiễn”, nhằm tìm ra những
điểm thiếu sót và hạn chế trong công tác quản lý chất thải rắn nông thôn, từ việc nghiên cứu tình hình thực tế tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long để qua đó có đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế pháp luật về quản lý chất thải rắn nông thôn nói chung và tại địa phương người viết đang nghiên cứu
Trang 102 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Qua quá trình nghiên cứu người viết nhận thấy, vấn đề quản lý chất thải rắn nói chung chưa nhận được sự quan tâm thích đáng Tại nhiều địa phương, vấn đề áp dụng pháp luật vào cuộc sống chưa được giải quyết đồng bộ Các văn bản pháp luật chỉ dừng lại tại các quy định chung, các địa phương có áp dụng thì cũng chỉ là áp dụng nhiều đối với vùng đô thị, còn chất thải rắn nông thôn vẫn chưa được quan tâm, không
có văn bản cụ thể chỉ đạo, chỉ lồng ghép vào các tiêu chí xây dựng nông thôn Vì vậy vấn đề về chất thải rắn nông thôn vẫn tiếp tục là một bài toán khó, chưa tìm ra phương hướng giải quyết Chính vì thế, khi đi sâu vào nghiên cứu đánh giá tại địa phương cụ thể, người viết thiết nghĩ có thể tìm ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý chất thải rắn của địa phương nói riêng, bên cạnh đó đóng góp những
đề xuất, sáng kiến của bản thân để hoàn thiện hơn các chính sách và quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn nói chung
3 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết tham khảo một số các văn bản pháp luật điều chỉnh trong vấn đề quản lý chất thải rắn điển hình như Luật bảo vệ môi trường 2005, Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn, Nghị định 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ quy định về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn và còn nhiều văn bản khác người viết đề cập trong nội dung của luận văn
Người viết tự nhận thấy quản lý chất thải rắn là một vấn đề mang tính cấp thiết
và khá phức tạp Vấn đề chất thải rắn khá rộng, tuy nhiên pháp luật quy định lại chưa chặt chẽ, vì thế khi áp dụng vào đời sống vẫn không thể kiểm soát được tình trạng gây
ô nhiễm, ý thức thực hiện pháp luật của mỗi cá nhân còn chưa cao Trong phạm vi
nghiên cứu đề tài: “Quản lý chất thải rắn nông thôn - Pháp luật và thực tiễn” với sự
giới hạn về thời gian, người viết chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu các quy định pháp luật và chính sách nhằm phân tích đánh giá được những điểm được và chưa được của pháp luật hiện hành đồng thời đánh giá thức tế công tác quản lý chất thải rắn tại nông thôn, trong phạm vi nghiên cứu về thực trạng quản lý chất thải rắn tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, nhằm đưa ra các hướng đề xuất để hoàn thiện
4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu luận văn có rất nhiều phương pháp áp dụng, tuy nhiên riêng với cá nhân người viết để thực hiện đề tài của mình, người viết sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu như sau:
Trang 11Các phương pháp chủ đạo như phân tích luật viết, phương pháp tổng hợp so sánh trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
Bên cạnh đó người viết trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng thêm một số phương pháp như: Thu thập dữ liệu từ các sách, báo, tạp trí và các trang mạng điện tử Nhằm tìm kiếm những thực tế để đánh giá và đối chiếu với những gì pháp luật quy định nhằm đưa ra các nhận định đúng trong quá trình nghiên cứu đề tài
5 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mục lục, lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn được thực hiện trong 3 chương:
+ Chương 1: Những vấn đề cơ bản chất thải, chất thải rắn và chất thải rắn nông thôn
+ Chương 2: Pháp luật về quản lý chất thải rắn nông thôn
+ Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất thải rắn nông thôn
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT THẢI, CHẤT THẢI RẮN
VÀ CHẤT THẢI RẮN NÔNG THÔN
1.1 Một số khái niệm và phân loại chất thải, chất thải rắn
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến chất thải, chất thải rắn
Nhìn chung chất thải là những vật chất được xem là kém giá trị hay vô dụng Sau quá trình sử dụng, các sản phẩm mất đi giá trị của nó và trở thành chất thải.1 Chất thải thường là những vật chất được thải bỏ sinh ra trong quá trình hoạt động sản xuất,
ăn uống, sinh hoạt của con người Khi bị thải ra những chất này tồn tại trong môi trường dưới một số dạng nhất định có thể là thể lỏng, khí và rắn Lưu lượng của chất thải nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tăng trưởng, phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, gia tăng dân số…
Chất thải là nguồn chính gây ô nhiễm cho môi trường và tác động đến sức khỏe
con người Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, chất thải được định nghĩa chung
là các dạng vật chất cụ thể ở thể rắn thể lỏng và thể khí được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Với một lượng chất thải khổng lồ không ngừng tăng mỗi ngày đã tạo sức ép cho môi trường
Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái
sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải.2 Chất thải không ngừng gia tăng đòi hỏi phải có sự quan tâm của Đảng và các cấp, các ngành trong công tác quản lý, bên cạnh đó là ý thức của chính cá nhân trong xã hội về việc tự quản lý chất thải nhằm ngăn chặn và cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra
Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu
tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người.3 Cũng như quản lý chất thải nói chung hoạt động quản lý chất thải rắn đòi hỏi phải có sự tham gia lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và một bộ phận lớn không thể thiếu là toàn thể nhân dân tham gia tích cực hưởng ứng nhiệm vụ quản lý chất thải rắn
1 Lê Hoàng Việt, i o tr nh Quản lý v lý chất thải rắn, NXB Đại học Cần Thơ, năm 2012 tr.1
2 Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
3 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về Quản lý chất thải rắn
Trang 13Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.4 Chất thải rắn hay còn được gọi là rác xuất hiện khắp nơi trong trong cuộc sống và quá trình sản xuất, lượng rác tăng cao và đa dạng Chất thải rắn là một trong những tác động gây sự suy thoái môi trường đồng thời ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của con người
Chất thải rắn thông thường là chất thải ở thể rắn được thải ra từ quá trình sản
xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn thông thường bao gồm chất thải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng và chất thải phải tiêu hủy hoặc chôn lấp Chất thải rắn thông thường luôn hiện diện trong đời sống với một số lượng lớn, cần được xem xét và quản lý đúng cách
Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một trong
những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác.5
Riêng đối với hoạt động quản lý chất thải nguy hại cần phải có nguồn đầu tư, tập trung nguồn lực, khoa học kỹ thuật và nguồn tài chính lớn để
xử lý, loại bỏ hoàn toàn các đặc tính nguy hại của chất thải nguy hại như: Dễ cháy, dễ
nổ, dễ lây nhiễm… để biến nó thành chất thải rắn thông thường Quản lý chất thải rắn nguy hại từ các khâu phân loại, thu gom, bảo quản, vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ đều đòi hỏi nghiêm ngặt về công nghệ và kỹ thuật Chất thải rắn nguy hại phải được xử lý tuỳ theo tính chất và thành phần của từng loại Đối với quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi các chủ thể phải có một trình độ chuyên môn nhất định để nhận biết, kiểm soát và xử
lý
Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng
được thu hồi để dùng làm nguyên liệu sản xuất.6
1.1.2 Phân loại chất thải, chất thải rắn
Phân loại chất thải
Theo định nghĩa và dựa vào các tiêu chí ta có thể phân loại chất thải thành các nhóm khác nhau:
Nhóm thứ nhất dựa vào tính chất của chất thải được chia thành chất thải tồn tại dạng rắn, chất thải tồn tại dạng lỏng và chất thải tồn tại dạng khí, chất thải ở rạng mùi, chất phóng xạ và các dạng hỗn hợp khác
4 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về Quản lý chất thải rắn
5 Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về Quản lý chất thải rắn
6 Khoản 13 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
Trang 14 Nhóm thứ hai phụ thuộc vào nguồn phát sinh chất thải, chất thải bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế
Nhóm thứ ba dựa vào mức độ tác động của chất thải đối với môi trường xung quanh chất thải được chia thành: chất thải thông thường và chất thải nguy hại
Nhóm thứ tư dựa vào chu trình sản sinh ra chất thải, chất thải bao gồm nguyên liệu thứ phẩm, phế liệu, vật liệu thứ phẩm, sản phẩm đồ hư hỏng hoặc quá hạn Ngày nay chất thải đang gây ra những tác động xấu với môi trường, tình trạng chất lượng môi trường ngày càng giảm không còn là vần đề mới lạ Các vấn nạn về nước thải, chất thải rắn, khí thải đang dần đầu độc môi trường Tuy nhiên, người viết chỉ tập trung vào nghiên cứu và phân tích về chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn nông thôn đang diễn ra ngày càng phức tạp
Phân loại chất thải rắn
Đối với chất thải rắn (rác) có thể thực hiện phân loại theo nhiều cách khác nhau phân loại theo tính độc hại hoặc theo nguồn phát sinh của chất thải rắn
thường và chất thải rắn nguy hại
Theo báo cáo môi trường quốc gia 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: năm
2009, lượng chất thải rắn thông thường phát sinh trong cả nước vào khoảng 28 triệu tấn/năm trong đó, chất thải công nghiệp thông thường là 6,88 triệu tấn/ năm, chất thải sinh hoạt vào khoảng 19 triệu tấn/năm, chất thải y tế thông thường khoảng 2,13 triệu tấn/năm.7 Với một lượng rác thải khổng lồ như hiện nay Việt Nam chúng ta đang gặp nhiều vấn đề trong khâu xử lý chất thải rắn
Chất thải rắn thông thường được chia thành hai nhóm chính: chất thải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng và chất thải phải tiêu hủy hoặc chôn lấp.8
Chất thải dùng
để tái chế sử dụng được pháp luật của môi trường và pháp luật có liên quan khuyến khích nhằm hạn chế các biện pháp chôn lập và tiêu hủy Việc tái chế lại rác thải mang đến nhiều hiệu quản tích cực giảm thiểu được diện tích chôn lấp và nước rỉ gây ô nhiễm môi trường tuy nhiên tại Việt Nam việc tái chế các chất thải rắn còn mang tính
7 Kim Sơn, Công bố B o c o môi trường Quốc gia năm 2011, nguồn:
c%C3%A1o-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Qu%E1%BB%91c-gia-n%C4%83m-2011.aspx[Truy cập ngày 08/08/2012]
http://vea.gov.vn/vn/hientrangmoitruong/baocaomtquocgia/Pages/C%C3%B4ng-b%E1%BB%91-B%C3%A1o-8 Khoản 1 Điều 77 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
Trang 15nhỏ lẻ, tự phát chưa được quản lý kiểm soát chặt chẽ chưa khai thác triệt để nguồn tiềm năng từ rác thải
Bên cạnh đó lượng chất thải nguy hại trong thời kỳ hiện nay không ngừng gia tăng Lượng chất thải nguy hại đang đe dọa đến môi trường và con người, sự xuất hiện của nhiều chất thải rắn độc hại rất nguy hiểm cần phải có những biện pháp ngăn chặn,
áp dụng phương tiện kỹ thuật cao nhằm quản lý kịp thời tránh tình trạng lan rộng hoặc
rò rỉ phát tán ra môi trường
Quá trình phát sinh chất thải rắn gắn với quá trình sản xuất, mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất đều tạo ra chất thải rắn, từ khâu khai thác tuyển chọn nguyên liệu đến khâu tạo ra sản phẩm phục vụ người tiêu dùng có các nguồn chính sau đây:
+ Chất thải rắn ở đô thị: thường là các giấy rác, đồ điện tử hư hỏ, vải, da, rác
vườn, gỗ, thủy tinh, lon, kim loại, vật liệu xây dựng thải từ xây sửa nhà,đường giao thông, vật liệu thải từ công trường, nhựa, bao bì thuốc diệt chuột, ruồi, muỗi,
+ Chất thải rắn ở nông thôn: rơm rạ, cành lá cây, chất thải chăn nuôi, túi
nylon, bao bì thuốc bảo vệ thực vật, túi nylon, pin, săm lốp xe, sơn thừa, đèn neon hỏng
+ Chất thải rắn công nghiệp: rác trong quá trình sản xuất, kim loại nặng, cao
su, nhựa, giấy và vải vụn…
+ Chất thải rắn y tế: chất thải từ sinh hoạt hành chính, bông gạc, thuốc quá
hạn, kim tiêm…
1.2 Khái quát về tình hình chất thải rắn
1.2.1 Tình hình về chất thải rắn và nguồn gốc phát sinh
Tình hình chất thải rắn
Trong những năm gần đây, Việt Nam đang gặp những sức ép về môi trường nói chung và tình hình chất thải rắn nói riêng Chất thải rắn xuất hiện từ khi con người có mặt trên trái đất Con người và động vật đã khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên trên trái đất để phục vụ đời sống của mình và thải ra các chất thải rắn Sơ khai việc thải
bỏ chất thải rắn của con người không làm ảnh hưởng nhiều tới môi trường đơn giản chỉ là một số chất thải rắn hữu cơ có thể tự làm sạch trong môi trường, nhưng khi con người bước vào thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự gia tăng dân số thì lượng chất thải rắn ngày càng cao, cấp độ ô nhiễm vượt mức báo động Không phải
Trang 16đơn giản với một số chất thải rắn hữu cơ dễ phân hủy, chất thải rắn hiện nay xuất hiện nhiều loại không thể phân hủy hoặc rất lâu mới có thể phân hủy, thành phần ngày càng phức tạp và tiềm ẩn ngày càng nhiều nguy cơ độc hại với môi trường và sức khoẻ con người
Báo cáo môi trường năm 2011 đã chỉ rõ thực trạng chất thải rắn phát sinh ở các khu đô thị, khu công nghiệp và cả ở vùng nông thôn ngày càng gia tăng và phức tạp, lượng phát sinh trung bình khoảng 10% mỗi năm Theo nguồn gốc phát sinh, khoảng 46% chất thải rắn từ đô thị, 17% từ sản xuất công nghiệp, còn lại là từ nông thôn, làng nghề và y tế Dự báo, đến năm 2015, tỷ trọng này sẽ còn tiếp tục tăng lên tương ứng với con số 51% và 22%, lượng chất thải nguy hại chiếm từ 18-25% lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi khu vực.9 Hậu quả của việc quản lý chất thải rắn không tốt, không đúng cách, đã gây tác động xấu tới môi trường và sức khoẻ con người Trong khi vấn
đề thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn đã và đang trở thành một bài toán khó đối với Việt Nam thì việc rác thải ngày một phát sinh nhiều lại càng là mối đe dọa cho môi trường
Tại thành thị chất thải rắn đã chở thành đề tài nóng bỏng, lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%.10 Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp Tổng lượng phát sinh chất thải sinh hoạt tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Đô thị có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh lớn nhất là thành phố Hồ Chí Minh khoảng 5.500 tấn/ngày, Hà Nội khoảng 2.500 tấn/ngày Đô thị có lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ít nhất là Bắc Kạn là 12,3 tấn/ngày, Cao Bằng
20 tấn/ngày, thành phố Yên Bái 33,4 tấn/ngày và Hà Giang 37,1 tấn/ngày Theo Dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2015, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37 nghìn tấn/ngày và năm 2020 là 59
9
Kim Sơn, B o c o Môi trường Quốc gia năm 2011, Chất thải rắn, nguồn:
c%C3%A1o-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Qu%E1%BB%91c-gia-n%C4%83m-2011.aspx [Truy cập ngày 08/08/2012]
http://vea.gov.vn/vn/hientrangmoitruong/baocaomtquocgia/Pages/C%C3%B4ng-b%E1%BB%91-B%C3%A1o-10
Kim Sơn, Công bố B o c o môi trường Quốc gia năm 2011, nguồn:
c%C3%A1o-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Qu%E1%BB%91c-gia-n%C4%83m-2011.aspx [Truy cập ngày 08/08/2012]
Trang 17http://vea.gov.vn/vn/hientrangmoitruong/baocaomtquocgia/Pages/C%C3%B4ng-b%E1%BB%91-B%C3%A1o-nghìn tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay.11
Nguyên nhân chính là do số dân tập trung cao, nhu cầu tiêu dùng lớn, hoạt động thương mại đa dạng và tốc độ đô thị hoá cao Rác thải ở đô thị thường có những thành phần nguy hại lớn, như các loại pin, dung môi
sử dụng trong gia đình và chất thải không phân huỷ như nhựa, kim loại và thuỷ tinh Lượng chất thải rắn từ các khu công nghiệp chiếm một phần không nhỏ, tập trung nhiều thành phần độc hại như kim loại nặng và chất hữu cơ bền, các chất này cực
kỳ nguy hiểm nếu không giải quyết kịp thời hậu quả sẽ khôn lường Bên cạnh đó, chất thải rắn y tế cũng ngày càng gia tăng Theo thống kê của Bộ Y tế, cả nước có 13.511
cơ sở y tế, trong đó có 1.361 cơ sở khám chữa bệnh, mỗi ngày, lượng chất thải rắn y tế phát sinh hiện nay khoảng 140 tấn/ngày Tỷ lệ bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải đảm bảo vệ sinh theo qui định mới đạt khoảng 45% tổng số bệnh viện trong toàn quốc Việc
xử lí chất thải rắn y tế nguy hại hiện nay cũng chưa đáp ứng được yêu cầu khi mới có 73% bệnh viện có xử lí bằng lò đốt.12
Ở khu vực nông thôn theo số liệu mới nhất của Bộ Xây dựng, tính đến tháng 7/2012, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các khu dân cư nông thôn ước tính khoảng 30.500 tấn/ngày.13 Đối với chất thải rắn từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như bao bì, chai lọ hóa chất bảo vệ thực vật thì việc thu gom còn rất hạn chế Tuy đây
là nguồn chất thải rắn thuộc danh mục độc hại cần thu gom, xử lý đúng quy định, nhưng thực tế, sau khi được sử dụng người nông dân vứt ngay tại bờ ruộng, góc vườn hoặc vứt xuống ao, hồ, đầu nguồn nước sinh hoạt, chất thải rắn ở làng nghề chưa được
xử lý cụ thể, quy mô
Riêng đối với rác thải điện tử ngày càng trở nên nhiều, do sự phát triển của kinh
tế, nhu cầu sử dụng các thiết bị điện tử ngày càng cao Nhưng khi quá trình sử dụng các loại thiết bị máy móc này chấm dứt thì lại trở thành một lượng rác thải khổng lồ và rất độc hại đối với môi trường Ở nước ta, nguồn thải rác điện tử chủ yếu là từ các doanh nghiệp điện tử trong nước nhập phế liệu từ nước ngoài về để tái chế hoặc do người dân sử dụng thải ra, cứ mỗi năm tăng trung bình 3 - 5% Theo một kết quả điều tra, tổng lượng chất thải công nghiệp điện tử trong toàn quốc lên tới khoảng 1.630 tấn/năm, bao gồm vụn kim loại, dây dẫn điện, bản mạch in hỏng, linh kiện hỏng, chất
11 X.Hợp, X lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị: Công nghệ n o phù hợp ?, nguồn:
http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=39&Code=AO1H108215[Truy cập ngày 27/09/2011]
12 Tuân Nguyễn, Đến năm 2025, 100% chất thải rắn y tế nguy hại sẽ được lý, nguồn:
http://suckhoedoisong.vn/2012081508190284p61c67/den-nam-2025-100-chat-thai-ran-y-te-nguy-hai-se-duoc- xu-ly.htm[Truy cập ngày 15/08/2012]
13X.Hợp, R c thải rắn ở nông thôn - Nỗi lo… chồng nỗi lo, nguồn:
http://www.tainguyenmoitruong.com.vn/moi-truong cuoc-song/rac-thai-ran-o-nong-thon noi-lo%E2%80%A6-chong-noi-lo.html[Truy cập ngày 11/09/2012]
Trang 18thải hàn Những đồ điện tử tiêu dùng như tivi, máy tính, thiết bị ngoại vi, thiết bị âm thanh, điện thoại… chiếm 2% trong tổng số toàn bộ rác thải.14
Dù xét về lượng thì nhỏ nhưng nguy cơ và mức độ độc hại của những loại rác thải này lại rất đáng lo ngại Vì vậy chúng ta cần phải xử lý rác thải điện tử đúng cách vì trong các rác thải này có chứa nhiều thành phần nguy hại như chì, cadimi, thủy ngân… và các chất có khả năng ảnh hưởng đến tầng ozôn như CFC Nếu không tiêu hủy hoặc tái chế không đúng phương pháp rác thải điện tử sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường
Nguồn phát sinh chất thải rắn
Chất thải rắn phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau Có rất nhiều cách để phân loại nguồn gốc của chất thải rắn, nhưng thông thường phân loại theo các nguồn sau: khu dân cư, khu thương mại, cơ quan công sở, khu xây dựng và phá hủy công trình xây dựng, khu công cộng, nhà máy xử lý chất thải, công nghiệp, nông nghiệp
Khu dân cư: bao gồm những khu dân cư tập trung, khu dân cư tách rời nguồn
rác chủ yếu là thực phẩm dư thừa, thủy tinh, gỗ, nhựa, can thiếc, nhôm, túi nylon, giấy,
đồ điện tử…
Khu thương mại: bao gồm các nhà kho, nhà hàng, chợ, văn phòng, khách sạn,
các trạm sữa chữa và dịch vụ… thải ra các dạng như nhựa, thủy tinh kim loại, chất thải nguy hại…
Khu cơ quan, công sở: các nơi phát sinh như trường học, bệnh viện văn
phòng công sở nhà nước… thải các loại rác tương tự như của khu thương mại
Khu xây dựng: khi tiến hành xây dựng các vật liệu xây dựng, các vật dụng khi
tràn trí nội thất như được thải ra như gạch vụn, gỗ vụn, thép, thạch cao, vỏ các thùng sơn, bao bì đựng nội thất…
Khu công cộng: Đường phố, bãi tắm, công viên… là những nơi thải rác như
rác vườn, cành cây cắt tỉa, rác từ các khu vui chơi giải trí…
Nh m y lý chất thải đô thị: Các nhà máy xử lý nước cấp, nước thải và các
quá trình xử lý các chất thải công nghiệp khác thải các loại tro, bùn…
Công nghiệp: các nới phát sinh như công nghiệp xây dựng chế tạo, công
nghiệp hóa chất nhiệt điện thải ra các loại rác như phế liệu, cao su, kim loại, sơn keo hóa chất, tro xỉ, rác điện tử…
14 Ngân An, Rác thải điện tử: Hiểm họa đáng báo động, nguồn:
Hiem-hoa-dang-bao-dong.ttm, [Truy cập ngày 17/07/2012]
Trang 19http://m.tuoitre.vn/tin-tuc/Chinh-tri-Xa-hoi/Khoa-hoc-Moi-truong/Van-de-moi-truong/147247,Rac-thai-dien-tu- Nông nghiệp: những rác thải như cành cây khô, xác súc vật, gia cầm, phân
gia súc, gia cầm, rơm rạ, quần áo rách rồi vỏ bao thuốc trừ sâu…
1.2.2 Một số vấn đề về chất thải rắn nông thôn
Vùng nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước với điều kiện kinh tế -
xã hội, điều kiện tự nhiên khác nhau Cho đến nay có thể nói chưa có một định nghĩa hay một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Khi định nghĩa về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với thành thị Các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn Theo các nhà xã hội học, sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và đô thị được phản ánh rõ nét dựa trên những tiêu chí như: sự khác nhau về nghề nghiệp, môi trường, quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tập và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng…
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, có thể hiểu nông thôn là một địa bàn mà ở
đó nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Kinh tế của nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất về cơ chế kinh tế… vừa có những đặc điểm riêng gắn liển với nông nghiệp nông thôn.15
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân cấp xã Trong một
vài năm trở lại đây, khi điều kiện kinh tế phát triển cùng với sự chuyển biến tích cực
về đời sống xã hội nông thôn Việt Nam đã từng bước chuyển mình đi lên hòa nhập vào nên kinh tế cả nước với sự chuyển dịch cơ cấu mạnh làm cho thu nhập người dân ngày càng tăng đem lại cho nước ta nguồn ngoại tệ không nhỏ từ việc xuất khâu lương thực, thực phẩm Tỉ lệ xóa đói giảm nghèo từng bước được hoàn thiện Tuy nhiên, nông thôn vẫn còn bộc lộ những yếu kém về phát triển thiếu quy hoạch, tự phát, kết cấu hạ tầng
kỹ thuật còn lạc hậu, vệ sinh môi trường nông thôn còn nhiều bất cập Một trong
những vấn đề nổi cộm trên chính là vấn đề môi trường nông thôn, hiện nay lượng chất thải rắn đang ngày một gây suy thoái môi trường, cùng với đó là sự xuất hiện của túi nylon và một số chất thải rắn độc hại báo động sự nguy hiểm cho môi trường nông
thôn Rác hiển hiện ở khắp nơi, trong làng, ngoài ngõ, ở chợ, trên các sông, hồ hoặc
mương nước…gây ô nhiễm môi trường và làm ảnh hưởng lớn tới cuộc sống dân cư Ở các kênh, rạch, sông, hồ khu vực nông thôn tràn ngập rác thải, người dân chưa có ý
15 http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/khai-niem-ve-nong-nghiep-nong-thon.1365369.html [ Truy cập ngày 19-02-2013].
Trang 20thức tự quản lý các nguồn rác thải của mình, lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng nhanh nhưng lại phát sinh nhỏ lẻ và phân tán gây cản chở cho quá trình thu gom vận chuyển Thêm vào đó đối với rác sinh hoạt nông thôn người dân xử lý chủ yếu bằng phương pháp chôn lấp, không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vệ sinh môi trường Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như phương pháp ủ phân compost, đốt chất thải thu năng lượng Tuy nhiên, hai phương pháp này chưa thể áp dụng rộng rãi tại khu vực nông thôn Việt Nam Trong nông nghiệp trồng trọt lạm dụng quá nhiều chất không phân hủy hay tái chế được nhưng công tác quản lý chưa được chú trọng Đối với các chất thải làng nghề tuy đã được sự quan tâm của các cấp chính quyền nhưng vẫn bộc
lộ nhiều yếu kém, việc thu gom chưa triệt để, vẫn còn rất nhiều làng nghề thải trực tiếp rác ra môi trường
Thực tế cho thấy, công tác thu gom và xử lý còn manh mún, lạc hậu, thô sơ, không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vệ sinh an toàn môi trường, khiến tình hình chất thải rắn nông thôn trở thành vấn đề nóng bỏng và tạo sức ép lớn Do vậy, vấn đề chất thải rắn nông thôn đang rất cần đến sự quan tâm đúng mức của các cấp quản lý trong việc chỉ đạo thu gom, quy hoạch các trạm trung chuyển chất thải rắn của từng địa phương Bên cạnh đó, cũng rất cần đầu tư kinh phí cho công nghệ xử lý chất thải rắn nông thôn đảm bảo vệ sinh an toàn cho môi trường và con người
Theo số liệu thống kê năm 2011 của Tổng cục thống kê ở khu vực nông thôn 60,96 triệu người sống ở khu vực nông thôn.16
Với số lượng người dân sinh sống đông đúc như vậy thì lượng rác thải phát sinh tất yếu cũng ngày càng tăng mạnh Lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3 kg/người/ngày, ta
có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày, tương đương với 6,6 triệu tấn/năm.17
Rác nông nghiệp phát sinh ngày càng nhiều, tuy nhiên tình trạng thu gom xử lý chưa được quan tâm hầu như các hộ dân khi sử dụng xong tiện tay vứt bỏ bất cứ nơi mọi nơi, ngoài ruộng, ngoài ao, hồ, sông, suối… hiện này các tỉnh Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long có lượng rác phát sinh lớn nhất do có mức độ sản xuất nông nghiệp cao Tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tràn lan, thiếu kiểm soát Vì thế mà các loại rác thải như chai lọ, bao bì đựng hóa chất bảo
Trang 21vệ thực vật, vỏ bình phun hóa chất: thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc trừ chuột; thuốc trừ bệnh; thuốc trừ cỏ tăng lên đáng kể và không thể kiểm soát Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 35.000 đến 37.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật Như vậy, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn thải lượng bao bì các loại.18 Việc sử dụng phân bón cũng phát sinh các bao bì, túi chứa đựng đây là nguồn rác gây nguy hại cho môi trường Với số lượng chất thải rắn ngày một không ngừng tăng như thế hậu quả tất yếu sẽ dẫn tới ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Đối với chất thải rắn nông thôn có thể chia thành ba dạng: chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn nông nghiệp và chăn nuôi, chất thải rắn làng nghề
Chất thải rắn sinh hoạt ở nông thôn: phát sinh từ các nguồn như hộ gia đình,
trường học, bệnh viện, nhà kho… hầu như rác thải sinh hoạt đều là những chất hữu cơ
dễ phân hủy chủ yếu nguồn gốc phát sinh từ rác thải sinh hoạt ở hộ gia đình
Chất thải rắn nông nghiệp: có hai loại là chất rắn nông nghiệp thông thường
và chất thải rắn nông nghiệp nguy hại Chất thải rắn nông nghiệp thông thường hầu
hết có nguồn gốc từ trồng trọt (thực vật chết, tỉa cành, làm cỏ ), thu hoạch nông sản (rơm, rạ, trấu, cám, lõi ngô, thân ngô), bao bì đựng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,
các chất thải ra từ chăn nuôi, giết mổ động vật, chế biến sữa, chế biến thuỷ sản Chất
thải rắn nông nghiệp nguy hại chủ yếu phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp (chai
lọ đựng hoá chất BVTV và thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng), hoạt động chăm sóc thú y (chai lọ đựng thuốc thú y, dụng cụ tiêm, mổ)
Chất thải rắn l ng nghề: chiếm một phần đáng kể trong toàn cảnh ô nhiễm
môi trường nông thôn do chất thải rắn gây ra Chất thải rắn của làng nghề rất đa dạng
và phức tạp về thành phần
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam Đa số làng nghề đã trải qua lịch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hiện nay các làng nghề phân bổ rộng khắp cả nước nhưng không đồng đều Theo số liệu thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam năm
2009 Số lượng làng nghề miền Bắc phát triển hơn, chiếm gần 70% số lượng các làng nghề trong cả nước (2.200 làng nghề), trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng, miền Trung có khoảng 200 làng nghề, còn lại ở miền
18 X.Hợp, R c thải rắn ở nông thôn - Nỗi lo… chồng nỗi lo, nguồn:
http://www.tainguyenmoitruong.com.vn/moi-truong cuoc-song/rac-thai-ran-o-nong-thon noi-lo%E2%80%A6-chong-noi-lo.html[Truy cập ngày 11/09/2012]
Trang 22Nam hơn 4000 làng nghề.19
Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm, có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm:
+ L ng nghề chế biến lương thực thực phẩm thải ra một số loại phế phẩm ôi
thiêu, phân gia xúc trong chăn nuôi, bã đậu, vỏ sắn
+ Nhóm l ng nghề t i chế phế liệu các chất thải rắn sinh ra trong quá tình sản
xuất gồm tro xỉ, đinh ghim, giấy vụn, cao su, các tạp chất phi kim loại…
+ Nhóm l ng nghề thủ công mỹ nghệ thải ra như vụn gỗ, dăm vỏ, giấy giáp
thải, mùn cưa …
+ Nhóm l ng nghề dệt nhuộm ươm tơ v thuộc da chất thải rắn gồm các loại
vải sơ, thùng đựng hóa chất,vỏ trai, xỉ than lò hơi…
+ Nhóm một số l ng nghề kh c (gốm sứ, sản xuất vật liệu xây dựng…) chất
thải rắn gồm hồ keo, mảnh gốm, lông gà, lông vịt…
Môi trường làng nghề đang ngày một suy thoái, ở một số làng nghề đang bị ô
nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng, cần thiết phải có sự quan tâm nhằm khắc
phục ô nhiễm và cải thiện môi trường trong giai đoạn hiện nay
1.3 Những ảnh hưởng của chất thải rắn và sự cần thiết phải quản lý chất thải rắn 1.3.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn đối với môi trường, sự phát triển kinh tế xã hội và đời sống sức khỏe con người
Ảnh hưởng môi trường nước
Nước là yếu tố tất yếu không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày và quá trình sản xuất của con người Khoản 2 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã chỉ rõ nước là một trong những thành phần tạo nên môi trường Tuy nhiên nguồn nước ở Việt Nam hiện tại đang ngày một suy thoái, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường nước, nhưng tình hình môi trường nước ô nhiễm vẫn là một vấn đề lớn đối với toàn xã hội
Cùng với tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa khá nhanh bên cạnh đó là sự gia tăng dân số mạnh, đã tạo áp lực cho nguồn tài nguyên nước của chúng ta Đặc biệt là môi trường nước ở các thành phố lớn, gần khu công nghiệp và làng nghề ngày càng ô
19 Dương Đình Giám, Hiện trạng v giải ph p ph t triển l ng nghề Việt Nam, Sở Công thông tỉnh Nam Định,
nguồn: trien-lang-nghe-viet-nam.aspx[Truy cập ngày 7/12/2012]
Trang 23http://socongthuong.namdinh.gov.vn/Home/CNthuongmai/2012/140/Hien-trang-va-cac-giai-phap-phat-nhiễm không những bởi nước thải khí thải mà còn cả chất thải rắn ở một số dòng sông lớn tại Việt Nam cũng đã trở thành dòng sông chết do mức độ ô nhiễm quá cao
Tại một số ao hồ, kênh rạch hay dòng sông lớn các loại như: chai, lọ, túi nylon, xác chết động vật, phân thải trực tiếp từ các hộ gia đình làm cho nguồn nước bi ô nhiễm bốc mùi hôi thối, gây nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái Chất thải rắn phân hủy và các chất khác làm cho nước biến đổi thành màu đen
có mùi khó chịu
Công tác chôn lấp chất thải rắn không đúng quy chuẩn cũng làm ô nhiễm nước ngầm Từ các bãi chôn lấp nước chảy khi mưa to qua các bãi chôn lấp, các hố phân, chảy vào các mương, rãnh, ao, hồ, sông, suối làm ô nhiễm nước mặt Nước này chứa các vi trùng gây bệnh, các kim loại nặng, các chất hữu cơ, các muối vô cơ hoà tan vượt quá tiêu chuẩn môi trường nhiều lần Chất thải rắn, đặc biệt là chất thải hữu cơ trong môi trường nước sẽ bị phân hủy nhanh chóng, tại các bãi rác Ô nhiễm nước mặt trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với các hệ sinh thái thủy sinh và những khu vực có
hệ thống sông bị ô nhiễm chảy qua
Ảnh hưởng đối với môi trường đất
Đất là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường Đất không chỉ là một nguồn tài nguyên mà còn là nền tảng không gian để phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội, không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp lâm nghiệp.20
Có thể nói, đất là một trong những yếu tố quan trọng để điều hòa nhiệt độ và điều hòa khí hậu, là chỗ dựa cho hệ sinh thái
Với nhịp sống gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp, đô thị hóa tăng như hiện nay thì không chỉ diện tích đất canh tác bị thu hẹp mà chất lượng đất ngày càng suy thoái Lượng chất thải rắn từ sinh hoạt, nông nghiệp, làng nghề, công nghiệp… ngày càng tăng nhanh Bên cạnh đó là sự xuất hiện nhiều loại chất thải rắn mang tính độc hại cao thải trực tiếp vào môi trường đất không qua các khâu xử lý hoặc
xử lý chưa đúng kỹ thuật Vấn đề chất thải rắn gây ô nhiễm môi trường đất là một bài toán khó cho Việt Nam
Đối với một số chất thải rắn dưới dạng hữu cơ thải ra môi trường đất có thể tự phân hủy được tuy nhiên với số lượng lớn các chất thải rắn như vậy đã trở thành gánh nặng cho môi trường đất đang ngày một suy thoái của chúng ta Các chất thải rắn sinh
20 PGS.TS Lê Hồng Hạnh, i o tr nh Luật Môi Trường, Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm 2006,
tr219
Trang 24hoạt có thành phần phức tạp có thể gây ô nhiễm và thoái hóa đất ở mức độ nghiêm trọng Riêng với các chất thải rắn dưới dạng không phân hủy hoặc rất lâu mới có thể phân hủy như kim loại, thủy tinh, túi nylon nếu không được xử lý đúng cách, chỉ chôn lấp như rác thải thông thường thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất cao, có thể nói là một mối nguy hại khó lường
Đặc biệt là túi nylon, loại chất khó phân hủy khi thải ra môi trường phải mất từ hàng chục năm cho tới vài thế kỷ mới được phân hủy hoàn toàn trong tự nhiên Sự phân huỷ không hoàn toàn của túi nylong sẽ để lại trong đất những mảnh vụn, không
có điều kiện cho vi sinh vật phát triển sẽ làm cho đất chóng bạc màu, không tơi xốp
Sự tồn tại của nó trong môi trường sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đất bởi túi nilon lẫn vào đất sẽ ngăn cản ôxy đi qua đất, gây xói mòn đất, làm cho đất không giữ được nước, chất dinh dưỡng
Ô nhiễm đất sẽ làm mất khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái đất, đất trở nên cằn cỗi không thích hợp cho cây trồng điều này sẽ ảnh hưởng đến các cơ thể sống khác trên lưới thức ăn Hơn nữa sự tích tụ của các hóa chất độc hại, kim loại nặng trong đất
sẽ làm tăng khả năng hấp thụ các nguyên tố có hại cho cây trồng vật nuôi
Như chúng ta đã biết tài nguyên trên trái đất là có giới hạn trong khí đó nhu cầu cầu của con người ngày càng tăng cao cả về chất và lượng Nhưng chính việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách lãng phí không có kế hoạch thu hồi đã dẫn đến việc cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Từ việc cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của thế hệ sau này Ngày nay, khi tốc độ chất thải rắn tăng ngày một cao về số lượng và cả tính độc hại nhưng kế hoạch thu hồi rác thải không có chúng ta sẽ làm tốn kém trong việc đầu tư phát triển các hệ thống xử lý bên cạnh đó là sự eo hẹp của quỹ đất từ việc đáp ứng diện tích cho các bãi chôn lấp rác
Ảnh hưởng đến môi trường không khí
Không khí là một trong ba yếu tố tổng hợp của môi trường Cùng với đất và nước, xét về góc độ môi trường không khí có tầm quan trọng đặc biệt Nếu không có không khí sinh vật trên thế giới này sẽ không tồn tại Hiện nay, không khí đang đối đầu với sự ô nhiễm từ các nguồn chất thải, trong đó có chất thải rắn Đặc biệt ở nông thôn không khí hít thở ngày nay cũng không còn được trong lành như xưa Bởi sự phát triển
ồ ạt, thiếu quy hoạch của những lò gạch thủ công ngày một nhiều, mùi hôi thối của phân gia súc, gia cầm của người dân, của những trang trại chăn nuôi gần khu dân cư nhưng thiếu kỹ năng xử lý, nhiều nơi đã làm bể bioga, song số này rất ít Bên cạnh đó,
cứ vào mùa thu hoạch khói bụi từ việc đốt rơm, rạ và rác thải sinh hoạt (một phương
Trang 25thức xử lý rơm rạ hiện nay ở nông thôn) vô cùng ngột ngạt, khét và bụi bặm, nhiều nơi mức độ ô nhiễm nguồn không khí đến mức báo động
Dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, chất thải rắn hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí (CH4- 63.8%, CO2 - 33.6%, và một số khí khác) Trong đó, CH4 và CO2 chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp.21
Khi vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí Các khí phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ trong chất thải rắn: Amoni có mùi khai, phân có mùi hôi, Hydrosunfur mùi trứng thối, Sunfur hữu cơ mùi bắp cải thối rữa, Mecaptan hôi nồng, Amin mùi cá ươn, Diamin mùi thịt thối, Cl2 hôi nồng, Phenol mùi ốc đặc trưng
Ảnh hưởng của chất thải rắn đối với đời sống và sức khỏe con người
Hiện nay chúng ta đang bắt đầu phải trả giá về mặt đời sống và sức khoẻ con người do một thời gian dài chưa thật sự quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải, bảo vệ môi trường dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường Con người sinh sống trên trái đất và cũng là tác nhân chính gây ô nhiễm môi trường, một khi môi trường trái đất bị ô nhiễm hậu quả tất yếu khó tránh được sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe con người Qua những gì phân tích từ tác động của chất thải rắn đối với môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí, chúng ta có thể kết luận tình trang ô nhiễm chất thải rắn tác động không nhỏ đến sức khỏe con người Trên thực tế, chất thải rắn với vô số thành phần phức tạp, có những chất tự làm sạch trong môi trường, nhưng có những chất một khi
đã thải ra không những tác động mạnh đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống con người
Một số loại chất thải rắn hữu cơ khó phân hủy hoặc kim loại nặng tồn tại trong đất những chất độc hại khi đi sâu vào chuỗi thức ăn sinh thái sẽ vô cùng nguy hiểm, các chất này có khả năng tích lũy sinh học với các loại hoa màu cũng như thực phẩm gây một số căn bệnh nguy hiểm cho chúng ta như vô sinh, quái thai, dị tật ở trẻ sơ sinh đồng thời các chất độc hại có thể tác động lên hệ miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch,
tê liệt hệ thần kinh, giảm khả năng trao đổi chất trong máu, ung thư và nhất là có thể di chứng di tật sang thế hệ
21 Kim Sơn, B o c o Môi trường Quốc gia năm 2011, Chất thải rắn, nguồn:
c%C3%A1o-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-Qu%E1%BB%91c-gia-n%C4%83m-2011.aspx [Truy cập ngày 08/08/2012]
Trang 26http://vea.gov.vn/vn/hientrangmoitruong/baocaomtquocgia/Pages/C%C3%B4ng-b%E1%BB%91-B%C3%A1o-Ở những nơi rác thải nhiều các loại vi khuẩn, vi trùng có cơ hội sinh sôi hoặc nơi cư trú củ các loài côn trùng như chuột, gián, muỗi… là nguyên nhân chính dẫn tới các mầm bệnh phát sinh, lây lan cùng với những căn bệnh mới, lạ xuất hiện đe dọa sức khỏe con người Một số nơi ở các bải rác không hợp quy chuẩn hợp vệ sinh, rác bốc mùi hôi thối các chất độc hại ngấm vào đất từ các bải rác ảnh hưởng đến sức khỏe của các hộ dân sống xung quanh một số bệnh phát sinh như hô hấp, da liễu, viêm phế quản…
Hầu hết ở các khu vực nông thôn, người dân chưa có ý thức trong việc tự quản
lý rác thải của mình, họ vứt các loại rác thải từ sinh hoạt hoặc các loại chai lọ bao bì hóa chất từ hoạt động nông nghiệp ra các kênh, rạch ,sông, suối nơi tập trung các nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày như tắm rửa, giặt giủ và sử dụng ngay trong việc ăn uống làm tăng nguy cơ mắc các loại bệnh dịch tả, tiêu chảy, giun sán chưa kể đến các chất độc hại từ các vỏ trai lọ bao bì hóa chất sẽ ảnh hưởng khôn lường đến sức khỏe người dân
Những hậu quả về sức khỏe và sinh mạng mà con người nhận từ việc gây ô nhiễm môi trường là lời cảnh tỉnh của trái đất, thiết nghĩ chúng ta cần nhiều hơn sự quan tâm trong việc bảo vệ môi trường một cách bền vững để cải thiện những gì chúng
ta gây ra không chỉ xuất phát bằng lời nói mà phải bằng chính hành động của toàn xã hội không phải chỉ từ các cấp, ban ngành, đoàn thể trong công tác quản lý bảo vệ môi trường mà còn từ chính các cá nhân trong xã hội
Ảnh hưởng của chất thải rắn đối với kinh tế- xã hội
Cùng với việc rác thải phát sinh ngày một nhiều, Việt Nam đang gặp những gáng nặng về tài chính cho việc chi trả các loại phí xử lý rác Từ phí thu gom, phí vận chuyển đến chi phí cho việc xử lý ô nhiễm môi trường cũng ngày càng tăng cao Bên cạnh đó là các nguồn vốn đầu tư xây dụng các công trình xử lý rác thải Hàng năm ngân sách nhà nước phải chi trả một khoản phí rất lớn đủ để đầu tư vào phát triển các công trình công cộng cần thiết như trường học, bệnh viện
Theo báo cáo Môi trường Quốc gia năm 2011,chủ đề chất thải rắn của Bộ Tài
Nguyên và Môi trường, ngân sách địa phường của một số tỉnh mỗi năm phải chi trả cho các loại phí xử lý rác thải một khoản khá lớn Cụ thể là chi phí xử lý CTR tuỳ thuộc vào công nghệ xử lý: Mức chi phí xử lý cho công nghệ hợp vệ sinh là 115.000đ/tấn - 142.000đ/tấn và chi phí chôn lấp hợp vệ sinh có tính đến thu hồi vốn đầu tư 219.000 - 286.000đ/tấn Chi phí xử lý đối với công nghệ xử lý rác thành phân
vi sinh khoảng 150.000đ/tấn - 290.000đ/tấn Thêm vào đó là các loại chi phí vận hành
Trang 27lò đốt rác thải y tế cũng chiếm một phần ngân sách khá nhiều ước tính mỗi tháng tại một số bệnh viện đa khoa lớn, chi phí xử lý chất thải rắn y tế lên tới hàng trăm triệu đồng Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, với tốc độ chi trả cho các loại phí liên quan đến rác thải nêu trên là một việc vô cùng lãng phí
Ảnh hưởng của chất thải rắn đến du lịch và nuôi trồng thủy sản
Việc xả rác bừa bãi, quản lý chất thải rắn không hợp lý còn gây ô nhiễm môi trường tại các địa điểm danh lam thắng cảnh, các khu di tích lịch sử văn hoá và các địa điểm du lịch gây ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển du lịch Ở một số địa danh thu hút khách du lịch như chùa Hương, vịnh Hạ Long, các bãi biển tình trạng người dân sinh sống quanh khu vực và du khách xả rác thải bừa bãi cũng đang gặp phải vấn đề gây ô nhiễm môi trường Với tốc độ như hiện nay nếu không có biện pháp xử lý kịp thời, một ngày nào đó các địa điểm du lịch có thể trở thành nơi chứa rác thải
Phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống, đang là một hướng phát triển kinh tế được nhiều địa phương lựa chọn Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường tại chính các làng nghề đã gây cản trở lớn tới các hoạt động phát triển du lịch làng nghề, làm giảm lượng khách du lịch dẫn đến giảm nguồn thu từ hoạt động này tại các địa phương có làng nghề Các bãi trung chuyển rác lộ thiên và bãi chôn lấp rác không đảm bảo vệ sinh thường xuyên gây ô nhiễm môi trường, ở các ao hồ kênh rạch tình trạng vứt xả rác bừa bãi trong đó có nhiều chất độc hại gây ra nhiều dịch bệnh cho các loài thủy sản làm ảnh hưởng đến năng xuất nuôi trồng thủy sản
1.3.2 Sự cần thiết phải quản lý chất thải rắn đối với môi trường
Hiện trạng môi trường ngày một suy thoái ở nhiều mức độ khác nhau, ô nhiễm môi trường đất, môi trường không khí, môi trường nước một phần không nhỏ là do tác động của chất thải rắn Không những tác động đến môi trường mà còn tác động đến đến sức khỏe con người, một loạt các loại bệnh lạ xuất hiện khiến đe dọa tính mạng con người Mỗi năm, chúng ta đều phải tiêu tốn một nguồn kinh phí lớn cho các công tác thu gom vận chuyển, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên rác thải vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để
Từ những ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và con người Chúng ta
đã có một cái nhìn mới chú trọng hơn vào việc quản lý chất thải rắn, bên cạnh đó cùng với quá trình phát sinh về khối lượng là tính phức tạp, sự nguy hại về tính chất của các loại chất thải Không chỉ ở Việt Nam nhiều nước trên thế giới đang ngày một chú trọng đầu tư cho việc quản lý chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng, nhằm ngăn ngừa
và bảo vệ tài nguyên môi trường, giảm thiểu lượng chất thải rắn đáng kể tác động đến
Trang 28môi trường Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế đặt ra, công tác quản lý chất thải rắn từng bước chuyển biến tích cực và phát huy hiệu quả cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước một loạt các chính sách văn bản quản lý chất thải rắn được ban hành, các định hướng và mục tiêu hướng tới nhằm hoàn thiện được đăt ra trong các báo môi trường, chiến lược môi trường tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập cần phải được nghiên cứu và hoàn thiện Các văn bản quy phạm pháp luật quy định vẫn chưa đi sâu vào cuộc sống, một số vấn đề then chốt đối với quản lý chất thải rắn như nhân lực, bộ máy tổ chức, trình độ, các hướng dẫn kỹ thuật vẫn còn thiếu đồng bộ, dẫn đến các hoạt động khó triển khai, đặc biệt đối với công tác quản lý chất thải nguy hại
Nhìn từ khía cạnh cá nhân, người viết nhận thấy việc quản lý chất thải rất cần thiết không những bảo vệ môi trường mà còn bảo vệ chính sức khỏe của bản thân Chất thải rắn tác động đến từng cái nhân, ảnh hưởng một phần không nhỏ đến cuộc sống của từng người Công tác quản lý chất thải rắn cần được hoàn thiện và đồng bộ hơn để có thể phát huy một cách hiệu quả kịp thời với sự phát triển của xã hội Để có thể hoàn thiện và đồng bộ như vậy, việc quản lý chất thải rắn phải xuất phát từ mỗi cá nhân
Nhìn từ cộng đồng: Rác thải tác động rất lớn đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, ta cần có cái nhìn mới về nó Đặc biệt ở khu vực nông thôn, sực mạnh của cộng đồng là một nguồn nội lực rất lớn để chung tay xây dựng môi trường, quản lý tốt vấn
đề chất thải rắn
1.4 Sơ lƣợc pháp luật về quản lý chất thải rắn
Bảo vệ môi trường bằng pháp luật là một định hướng cơ bản của hoạt động bảo
vệ môi trường ở mỗi quốc Vì vậy, việc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn
đề môi trường là một việc rất quan trọng Tuy nhiên những văn bản pháp luật về bảo
vệ môi trường ở Việt Nam còn rất tản mạn đặc biệt là vấn đề chất thải rắn hầu như văn bản còn hạn chế, chưa đầy đủ và chưa đi sâu vào cuộc sống Trong thời kỳ đầu, hầu như các đến vấn đề chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng rất ít được đề cập tới Đến tháng 1-1994 khi Chính phủ Việt Nam chính thức phê chuẩn tham gia công ước Vienna về bảo vệ tầng ô zôn và nghị Định thư Montreal của công ước về các chất gây suy giảm môi trường Vấn đề chất thải cũng dần được quan tâm Việt Nam tham gia Công ước Basel ngày 13/3/1995; Công ước có hiệu lực đối với Việt Nam ngày 11/6/1995 Từ đó đến nay, Việt Nam đã có những nỗ lực nhất định để thực thi Công ước Basel nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của chất thải đối với sức khoẻ con người và môi trường, đặc biệt là chất thải độc hại nguy hiểm
Trang 29Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng Năm 1993 Luật bảo vệ môi trường ra đời kèm theo đó là Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 Hướng đã thi hành Luật Bảo vệ môi trường 1993 Vấn đề quản lý chất thải bao gồm từ giảm thiểu việc sản sinh, thu gom, phân loại, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại Tuy nhiên, không được đề cập một cách đầy đủ trong các văn bản pháp luật này
mà mới chỉ dừng lại ở những nghĩa vụ quan trọng nhất là thu gom và xử lý chất thải Tình trạng này đã gây ra những khó khăn cho công tác quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại Vấn đề quản lý đối với hoạt động nhập khẩu chất thải cũng đã được quy định nhưng lại xuất hiện sự mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật Trong khi Điều
29 khoản 6 Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 quy định: “nghiêm cấm xuất khẩu, nhập khẩu các chất thải” thì Điều 28 khoản 2 Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 Hướng đã thi hành Luật Bảo vệ môi trường 1993 (NĐ 175/CP) lại quy định: "Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục các loại phế liệu, nguyên liệu thứ phẩm được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất" Về bản chất, "nguyên liệu thứ phẩm, phế liệu" cũng là chất thải theo quy định tại Điều 2 khoản 2 Luật Bảo vệ môi trường 1993 Tuy nhiên đối với vấn đề chất thải và chất thải rắn vẫn chưa thật sự nhận được sự quan tâm chú trọng trong một thời gian dài
Thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Chỉ thị số 36- CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong những năm chuyển giao hai thế kỷ đã có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, môi trường nước ta trong thời gian ấy vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch; đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi mật độ dân số đã quá cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một
số vùng nông thôn, miền núi, các thảm họa do thiên tai và những diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường, đặt công tác bảo
vệ môi trường trước những thách thức gay gắt Để giải quyết các vấn đề bức xúc về môi trường trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo
quan điểm phát triển đất nước của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX "Ph t triển
Trang 30nhanh, hiệu quả v bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng ã hội v bảo vệ môi trường", cần phải có sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức
và hành động, sự đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và đặc biệt trong tổ chức, triển khai thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong toàn Đảng và toàn xã hội, ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Đến khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 ra đời vấn đề chất thải và chất thải rắn mới được quan tâm và cụ thể đi vào trong các quy định của luật Tuy nhiên, những quy định của luật chưa đủ đáp ứng với tốc độ phát triển kinh tế của xã hội, đi đôi với việc phát triển kinh tế đó là sự gia tăng lượng chất thải rắn ngày càng cao, thành phần càng phức tạp, tính độc hại gây đe dọa ngày càng cao hơn Trước tình hình cấp thiết, ngày 09/04/2007 Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải rắn được ra đời tuy nhiên cũng còn nhiều thiếu sót Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày
29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn ra đời hỗ trợ khá nhiều cho công tác quản lý chất thải rắn tuy nhiên vấn nạn chất thải rắn ngày càng trở nên phức tạp
Chính vì vậy, ngày 17 tháng 02 năm 2009 Quyết định số 2149/ QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 được đưa ra mang lai thành quả lớn trong công tác quản lý Trong
Quyết định chỉ rõ quan điểm “Quản lý tổng hợp chất thải rắn l tr ch nhiệm chung
của to n ã hội trong đó nh nước có vai trò chủ đạo, đẩy mạnh ã hội hóa, huy động tối đa mọi nguồn lực, tăng cường đầu tư cho công t c quản lý tổng hợp chất thải rắn”
Với quan điểm này việc quản lý chất thải rắn là trách nhiệm không phải của riêng một cái nhân hay một tổ chức cơ quan nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội Bên cạnh đó
quan điểm “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” lần đầu tiên được ghi nhận, là một quan
điểm trong những đặc thù của pháp luật môi trường Đây là nguyên tắc thể hiện rõ nét nhất biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường, dùng lợi ích kinh tế tác động vào
chính hành vi của các chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường Nguyên tắc “Người
gây ô nhiễm phải trả tiền” lần đầu tiên được ghi nhận trong văn kiện của Tổ chức hợp
tác và phát triển kinh tế Nguyên tắc xuất phát từ quan điểm cho rằng môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt (vì nó mang tính cộng đồng, ai cũng đều sử dụng) Khi khai thác, sử dụng môi trường thì phải trả tiền (tiền bỏ ra để mua quyền khai thác, sử dụng, quyền tác động đến môi trường) Nhà nước đứng ra để bán quyền tác động đó Người được hưởng lợi từ việc trả giá này là toàn thể cộng đồng và nhà nước là người đại diện
Trang 31đứng ra thu tiền và sử dụng tiền để tiếp tục đảm bảo việc bảo vệ môi trường.22
Cho đến nay, đã có rất nhiều quy định pháp luật được ban hành về vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và chất thải rắn nói riêng
Ở khu vực nông thôn, Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, vấn đề môi trường mới thật sự được lồng ghép vào thực hiện đây
là vấn đề được đặt trong 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới, trong đó vấn đề chất thải rắn cũng đươc quy định trong tiêu chí môi trường Tuy nhiên, các văn bản pháp luật và công tác quản lý chất thải rắn tại nông thôn đang còn rất nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăn, cần được sự quan tâm chỉ đạo của cấp chính quyền
Chất thải rắn ngày một nhiều và nhiều tính độc hại để điểu chỉnh và quản lý nhu cầu đặt ra cấp bách ngày 14/04/2011 Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định về quản lý chất thải nguy hại Thông tư này hướng dẫn điều kiện hành nghề vận chuyển, xử lý, tiêu huỷ chất thải nguy hại; thủ tục lập hồ sơ, đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại, cấp phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại, cấp mã số quản lý chất thải nguy hại; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi tắt là tổ chức, cá nhân) có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây phát sinh chất thải nguy hại hoặc tham gia quản lý chất thải nguy hại trên lãnh thổ Việt Nam thay thế Thông tư
số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã
số quản lý chất thải nguy hại và Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Danh mục chất thải nguy hại văn bản ban hành giải quyết được khá nhiều vấn đề khúc mắc trong công tác quản lý chất thải rắn nguy hại Trong việc xử lý chất thải rắn cũng ngày càng được quan tâm chú trọng hơn chính vì thế ngày 25/05/2011 Quyết định số 798/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình đầu tư xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011
- 2020 trong quyết định đã chỉ rõ mục tiêu tổng thể và mục tiêu cụ thể cho các giai đoạn từ năm 2011 đến 2015 và từ năm 2016 đến năm 2020 cho cả khu vực nông thôn
và thành thị nhằm đề ra những phương hướng cụ thể huy động nguồn lực trong công tác xử lý chất thải rắn, bên cạnh đó là nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn Gần đây
22 Võ Trung Tín, Trao đổi về nguyên tắc “ Người gây ô nhiễm phải trả tiền”, Tạp chí T i nguyên v Môi trường
tập số 7 (93) kỳ 1, 04- 2010, tr11
Trang 32Thông tư số 07/2012/TT-BTNMT về việc quy định tiêu chí trình tự thủ tục công nhận túi ni lông thân thiện với môi trường, đây là văn bản pháp luật đang được sự quan tâm của công chúng hi vọng sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm thân thiện môi trường, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của cộng đồng và giải quyết kịp thời vấn đề túi ni lông gây ô nhiễm môi trường hiện nay
Tóm lại, những năm gần đây vấn đề chất thải rắn đã và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm, vạch rõ những phương hướng chỉ đạo cũng như các chính sách hỗ trợ
cụ thể qua các văn bản pháp luật được ban hành qua từng năm Tuy nhiên để đưa được các văn bản pháp luật đến với người dân có thể thấy rằng, phần trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong công tác xây dựng, tuyên truyền, thực thi pháp luật là không hề nhỏ
Trang 33CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
TẠI NÔNG THÔN
2.1 Nguyên tắc quản lý chất thải rắn
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội quyền và trách nhiệm của cơ
quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.23
Đây là một trong những nguyên tắc bảo vệ môi trường được Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định, theo đó việc bảo
vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn xã hội không riêng một cá nhân hay tổ
chức cơ quan nào Nguyên tắc đề ra để giúp cho chúng ta có một cái nhìn đúng đắn,
cũng như biết được trách nhiệm và quyền lợi của mình trong hoạt động bảo vệ môi
trường Nguyên tắc xuất hiện trong nhiều các hoạt động khác nhau, vì thế trong hoạt
động quản lý chất thải rắn cũng có các nguyên tắc là nền tảng nhằm chỉ dẫn và hướng
tới mục tiêu thống nhất và phát huy hiệu quả quản lý nhà nước về chất thải rắn Tuy
vậy, các nguyên tắc phải phản ánh một cách khách quan các quy luật của tự nhiên và
quá trình phát triển của xã hội Nói một cách dễ hiểu, các nguyên tắc đó phải thỏa mãn
cả hai mục tiêu đó là hiệu quả quản lý của nhà nước và phù hợp với thực tiễn cuộc
sống, nhằm đạt mục đích một cách tối ưu trong công tác quản lý chất thải rắn đồng thời ngăn chặn những hành vi gây ô nhiễm môi trường Quản lý chất thải rắn có những
nguyên tắc sau đây:
Nguyên tắc thứ nhất là: Tổ chức, c nhân ả thải hoặc có hoạt động l m ph t
sinh chất thải rắn phải nộp phí cho việc thu gom, vận chuyển v lý chất thải rắn.24
Đối với nguyên tắc này nhà nước quản lý bằng công cụ kinh tế, đảm bảo sự công bằng
trong việc thải chất thải rắn vào môi trường Việc thu phí để nhằm tạo nguồn thu cho
Chính phủ để chi trả cho các hoạt động bảo vệ môi trường bên cạnh đó nhằm hạn chế
các hành vi gây ô nhiễm của nhân dân Phí ở đây có thể là phí lệ phí hoặc các quy định
xử phạt chính Trong lĩnh vực chất thải rắn có một số văn bản liên quan như: Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải
rắn, các đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn trong Nghị định
này là chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được thải ra từ quá trình sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác trừ chất thải rắn phát thải trong sinh
hoạt của cá nhân, hộ gia đình.25
Ngoài phí bảo vệ môi trường còn có phí vệ sinh là
23
Khoản 2 Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
24 Khoản 1 Điều 4 Nghị Định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
25 Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải
rắn
Trang 34khoản thu nhằm bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí đầu tư cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn địa phương, như: chi phí cho tổ chức hoạt động của đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải theo quy trình kỹ thuật của cơ quan có thẩm quyền quy định (chưa bao gồm chi phí xử lý rác đảm bảo tiêu chuẩn môi trường).26 Theo Thông tư 97/2006/TT-BTC ngày 16/10/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn khá là thấp đối với các cá nhân, hộ gia đình, mức thu tối đa không quá 3.000đồng/người/tháng hoặc không quá 20.000đồng/hộ/tháng Tuy nhiên, trên thực tế việc thu gom phí vệ sinh gặp nhiều khó khăn, người dân chưa tự ý thức về nghĩa vụ phải đóng phí của mình
Theo ý kiến của người viết cần phải điều chỉnh lại mức phí này theo hướng quy định một mức giá một cách hợp lý Ví dụ chúng ta sẽ quy định một mức phí cao nhất
mà theo đó các dịch vụ sẽ được hưởng là đầy đủ nhất, tốt nhất Đã đến lúc người dân phải tự bỏ tiền ra để thụ hưởng các dịch vụ môi trường, không phải chờ vào sự bao cấp của nhà nước Cùng với đó là việc xã hội hóa hoạt động thu gom, xử lý hay nói đúng hơn là biến hoạt động thu gom, xử lý rác thải thành một dịch vụ, để người dân có thể lựa chọn những doanh nghiệp có mức phí hợp lý nhất, dịch vụ tốt nhất và dĩ nhiên không quá mức đã quy định
Nguyên tắc thứ hai: Chất thải phải được phân loại tại nguồn phát sinh, được tái chế, tái sử dụng, xử lý và thu hồi các thành phần có ích làm nguyên liệu và sản xuất năng lượng.27
Nhà nước đã tốn rất nhiều kinh phí cho việc xử lý các chất thải rắn, với nguyên tắc này, yêu cầu các chất thải phải được phân loại từ nguồn đồng nghĩa với việc các chủ nguồn phát sinh chất thải phải tự mình phân loại các chất thải nhằm để tái
sử dụng và thu hồi một cách có hiệu quả hơn Để có thể thực hiện được nguyên tắc này người viết nhận thấy cần đảm bảo tính đồng bộ, có lộ trình thực hiện và vận động nhân dân tích cực tham gia Bên cạnh đó là việc nâng cao nhận thức của người dân phải phân tích cho họ về tiềm năng kinh tế từ việc phân loại, tái chế tái sử dụng và thu hồi các thành phần có ích
Pháp luật quy định tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải rắn phải có trách nhiệm thực hiện phân loại chất thải tại nguồn.28 Nhưng tại Việt Nam việc phân loại tại nguồn phát sinh còn rất ít, rác thải từ các gia đình thường được để chung
và đem đi đổ, việc này gây ra nhiều khó khăn trong quá trình phân loại rác, bởi lẽ nếu
26 Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày 16/10/2006 của Bộ Tài chính Hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
27 Khoản 2 Điều 4 Nghị Định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
28 Điều 19 Nghị Định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về Quản lý chất thải rắn
Trang 35rác được phân loại ngay từ đầu sẽ giúp giảm bớt các công đoạn xử lý sau đó Giải quyết bài toán phân loại rác ngay từ đầu không phải là một việc làm quá khó nhưng nó cần sự chung tay của toàn xã hội, từ ý thức của mỗi người, mỗi gia đình Hiện nay, chúng ta khuyến khích thực hiện Chương trình 3T (hay 3R) trong quản lý chất thải rắn Trước hết, 3R là các giải pháp xuất phát từ các yêu cầu giảm gánh nặng lên môi trường sống Bởi vậy, lợi ích cho môi trường là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất cho việc quyết định áp dụng thực hiện nó Khi thực hiện các giải pháp 3R, rác từ các hộ gia đình sẽ được phân loại và được lưu trữ lại đúng quy cách, làm giảm khối lượng chất thải phát sinh, giảm khối lượng chất thải phải chôn lấp và kết quả là vừa tiết kiệm đất, vừa giảm ô nhiễm môi trường Tuy nhiên hiện nay, việc triển khai các chương trình/dự
án 3T (Tiết giảm, Tái sử dụng, Tái chế) mới chỉ dừng ở những mô hình trình diễn, thí điểm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và TP Đà Nẵng.29 Người viết nghĩ cần nhân rộng
mô hình này để quản lý hiệu quả hơn về chất thải rắn Bên cạnh đó cần học hỏi các nước tiên tiên về cách thứ quản lý chất thải rắn như Nhật Bản, Singapore… để có thể vận dụng vào thực tiễn tại Việt Nam
Nguyên tắc thứ ba: Ưu tiên s dụng c c công nghệ lý chất thải rắn khó phân
huỷ, có khả năng giảm thiểu khối lượng chất thải được chôn lấp nhằm tiết kiệm t i nguyên đất đai.30 Trước đây công nghệ xử lý chất thải rắn khá thô sơ, một số loại hình
xử lý rác thải truyền thống như đốt hay chôn lấp, nhưng các phương thức này không những tốn kém mà còn không mang lại hiệu quả cao, dễ gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các chất thải khó phân hủy như túi nylon Bên cạnh việc ô nhiễm môi trường các các phương pháp này còn lãng phí đến quỹ đất ngày một khan hiếm của nước ta Quyết định 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 Phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến 2025, tầm nhìn 2025 nêu rõ phải tăng cường nghiên cứu các công nghệ xử lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện Viêt Nam, hướng đến tái sử dụng, tái chế, hạn chế tối đa lượng lượng chất thải phải chôn lấp Tăng cường nghiên cứu cải tiến các công nghệ tái chế chất thải rắn tại các làng nghề hỗ trợ việc phổ biến áp dụng
để cải thiện chất lượng môi trường và giảm thiểu tác động xấu đến sức khỏe nhân dân Trong Quyết định còn đưa ra tầm nhìn đến năm 2050, tất cả các loại chất thải rắn phát sinh đều được thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng công nghệ tiên tiến thân thiện với môi trường phải phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, hạn chế khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp đến mức thấp nhất Theo xu hướng của thới
29 Như Thủy, 3T - giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường, nguồn:
http://phapluattp.vn/2010112510034714p0c1018/3t-giai-phap-huu-hieu-de-bao-ve-moi-truong.htm[Truy cập ngày 26/11/2010].
30 Khoản 3 Điều 4 Nghị Định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
Trang 36đại các công nghệ xử lý xuất hiện ngày càng nhiều mang tính hiện đại và tiết kiệm Hiện nay, có rất nhiều công nghệ xử lý rác thải những công nghệ xử lí rác thải đang được áp dụng ở nước ta đạt được một số tiêu chuẩn về môi trường như công nghệ SERAPHIN, ANSINH – ASC và MBT – CD.08 với sản phẩm là phân hữu cơ, các sản phẩm nhựa tái chế và viên nhiên liệu đã được áp dụng tại nhà máy xử lí rác thải Đông Vinh (Nghệ An), nhà máy xử lí rác Sơn Tây (Hà Nội).31
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện tại cho thấy vẫn còn sử dụng phổ biến nhất là công nghệ chôn lấp Vì vậy cần áp công nghệ mới vào xử lý chất thải rắn ở nông thôn nói riêng và các lĩnh vực nói chung tuy nhưng phải có sự nghiên cứu kỹ về tính khả thi của dự án Cần có một đánh giá tổng thể nghiêm túc về tính hiệu quả như lấy ý kiến người dân, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cho đến việc đặt ra các tình huống có thể phát sinh bất lợi trong quá trình thực hiện
Nguyên tắc thứ tư: Nh nước khuyến khích việc ã hội hoá công tác thu gom,
phân loại, vận chuyển v lý chất thải rắn.32
Thực hiện tốt xã hội hóa trong hoạt
động quản lý chất thải rắn sẽ góp phần tạo sự cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền, giảm chi ngân sách và người dân có quyền lựa chọn những đơn vị cung cấp dịch vụ tốt nhất với giá cả hợp lý nhất Xã hội hoá dịch vụ thu gom rác thải là một mô hình mới trong chủ trương quản lý chất thải rắn, đang được Trung ương cũng như địa phương quan tâm với mục đích huy động sự tham gia của cộng đồng vào vấn đề bảo
vệ và phát triển bền vững môi trường, giảm gánh nặng ngân sách, xây dựng các cộng đồng dân cư tự lực với cách thức chủ động về tài chính, cân đối thu chi trong các dịch
vụ công Nguyên tắc xã hội hóa đang được Nhà nước khuyến kích, nhiều địa phương
đã áp dụng đạt được những thành tựu đánh kể, kết quả của mô hình này mang lại không chỉ là việc đưa công tác thu gom rác thải sinh hoạt trong khu dân cư trở thành công việc của toàn xã hội, mà nó còn góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, tính tự giác của mỗi người dân và của cộng đồng trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường Xã hội hóa hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải được xác định là giải pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi các hoạt động thu gom và xử lý rác thải ở nông thôn Tuy nhiên ở nhiều các xã nông thôn, mô hình xã hội hóa thu gom xử lý rác thải vẫn chưa đến với người dân Các mô hình dịch vụ công cộng, vẫn hoạt động trong phạm vi hẹp
và còn gặp phải khó khăn về tiếp cận các nguồn vốn, thiếu cơ chế khuyến khích
31 Ngọc Anh, Công nghệ xử lí rác thải mang lại hiệu quả cao, nguồn:
http://vea.gov.vn/vn/khoahoccongnghe/congnghemt/xulychatthairan/Pages/C%C3%B4ngngh%E1%BB%87x%E 1%BB%ADl%C3%ADr%C3%A1cth%E1%BA%A3imangl%E1%BA%A1ihi%E1%BB%87uqu%E1%BA%A3 cao.aspx[Truy cập ngày 31/8/2011].
32 Khoản 4 Điều 4 Nghị Định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
Trang 37Thực tế trên cả nước có rất nhiều mô hình thành công từ việc xã hội hóa công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
Ví dụ: Tại xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quang Ngãi của Chi hội phụ nữ thôn Thọ Trung Mô hình thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt ở khu dân cư được chị em phụ nữ ở xóm 4, thôn Thọ Trung thành lập từ tháng 10/2010, với 30 hội viên Sau đó,
mô hình thu gom chất thải rắn ngoài đồng ruộng và xử lý rác thải sinh hoạt ở khu dân
cư được nhân rộng toàn thôn Thọ Trung Mô hình được chia thành 10 nhóm, với 350 hội viên Chi hội phụ nữ thôn Thọ Trung, xã Tịnh Thọ tham gia.33
Hay tại Xã Phú Hải, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên đã vận động nhân dân đóng góp 15.000 đồng/hộ/tháng để tổ chức các tổ thu gom rác thải Rác sau khi thu gom khoảng 17m3/ngày, xã hợp đồng với Ban quản lý vệ sinh môi trường cứ 2-3 ngày/lần chở đến địa điểm xử lý Bên cạnh đó, Phú Hải nâng cao nhận thức cho người dân bằng việc trồng thêm nhiều cây xanh, vệ sinh nơi ở, nơi công cộng, rác được thu gom và phân loại ngay từ đầu, bỏ đúng nơi quy định.34
Hoặc tại xã Tiến Hưng thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước thực hiện công tác xã hội hóa thu gom rác thải bằng việc rác thải sinh hoạt được các hộ dân, hộ kinh doanh,
cơ quan doanh nghiệp cho vào bịch và đem ra trước cổng theo giờ quy định để người thu gom đến lấy đi chở về nơi tập kết Thù lao hay tiền lương cho người trực tiếp thu gom rác do chính người dân, hộ kinh doanh, cơ quan doanh nghiệp trả bằng việc đóng nộp lệ phí rác thải hàng tháng Đến nay, xã Tiến Hưng đã thành lập được 3 tổ thu gom rác tại 4 ấp, mỗi tổ từ 1 đến 2 người trực tiếp thu gom, vận chuyển rác về các điểm tập kết Họ cũng chính là người trực tiếp thu lệ phí rác thải của các hộ dân.35
Từ ví dụ trên có thể thấy rằng, sự thành công của các mô hình xã hội hóa công
tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đến từ nhiều yếu tố khác
nhau Mỗi địa phương đều có những đặc thù riêng, những lợi thế, những khó khăn riêng Do vậy, muốn đi đến thành công trong công tác xã hội hóa như trên theo người viết cần có sự tham gia tích cực của chính quyền, nhân dân và cả cộng đồng doanh nghiệp Sự tự giác, ý thức của người dân, tinh thần trách nhiệm của địa phương và
33Kim Cúc-Như Đồng, Hiệu quả từ mô h nh thu gom r c thải của chi hội phụ nữ thôn Trung Thọ, nguồn:
trung.aspx[Truy cập ngày 08/04/2013]
http://ubmttq.quangngai.org.vn/i1244-hieu-qua-tu-mo-hinh-thu-gom-rac-thai-cua-chi-hoi-phu-nu-thon-tho-34 TTXVN, Nhân rộng mô h nh “nh , đường phố v ã, phường không r c”, nguồn:
http://dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30085&cn_id=477059[Truy cập ngày 05/09/2011]
35
Kim Phụng, Hiệu quả tư mô h nh ã hội ho thu gom r c thải ở ã Tiến Hưng, nguồn:
hung html[Truy cập ngày 26/11/2012]
Trang 38http://dongxoai.binhphuoc.gov.vn/xa-tien-hung/hieu-qua-tu-mo-hinh-xa-hoi-hoa-thu-gom-rac-thai-o-xa-tien-chính sách khuyến khích của nhà nước là những nhân tố then chốt mà qua các ví dụ nêu trên người viết muốn nhấn mạnh đến
2.2 Chủ thể quản lý và chủ thể chịu sự quản lý
2.2.1 Chủ thế quản lý
Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung quản lý chất
thải rắn nông thôn
Chính phủ là cơ quan thống nhất Nhà nước về bảo vệ môi trường.36
Khoản 5 Điều 10 Luật số 32/2001/QH10 ngày 25/12/2001 về Tổ chức Chính phủ năm 2001 cũng quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực môi trường như sau: Chính phủ quyết định chính sách cụ thể về bảo vệ, cải thiện và giữ gìn môi trường; chỉ đạo tập trung giải quyết tình trạng suy thoái môi trường ở các khu vực trọng điểm; kiểm soát ô nhiễm, ứng cứu và khắc phục sự cố môi trường
Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 quy đinh tại Điều 122 về trách nhiệm quản
lý nhà nước về bảo về môi trường của Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường tại địa phương theo quy định sau đây:
Ban hành theo thẩm quyền quy định, cơ chế, chính sách, chương trình, kế hoạch
về bảo vệ môi trường; Chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch
và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường; Chỉ đạo xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường của địa phương; Chỉ đạo định kỳ tổ chức đánh giá hiện trạng môi trường; Tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền; Tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường; Chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và các quy định khác của pháp luật có liên quan và phối hợp với UBND cấp tỉnh liên quan giải quyết các vấn đề môi trường liên tỉnh
Riêng đối với vấn đề quản lý chất thải rắn, trong Luật Bảo vệ môi trường 2005
đã quy định khá cụ thể nhiệm vụ quyền hạn của UBND cấp tỉnh tại khoản 2 Điều 79
và Khoản 2 Điều 80 Luật Bảo vệ môi trường 2005 Bên cạnh đó một số các văn bản
36 Khoản 1 Điều 121 Luật bảo vệ môi trường năm 2005