Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ cho phép, bài luận văn này người viết tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền của lực lượng thanh tra môi trường dựa trên cơ sở
Trang 1PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI TỈNH ĐỒNG NAI
GVHD: Ths.Kim Oanh Na SVTH: Phạm Thị Thu Vân
Lớp: Luật Thương mại 1 K34 MSSV: 5086014
Cần Thơ, tháng 5/2012
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
*********
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG
*********
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU……….1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu………2
3 Phạm vi nghiên cứu……….2
4 Phương pháp nghiên cứu……….2
5 Kết cấu luận văn……… 2
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƯỜNG, QUÁ TRÌNH THÀNH LẬPTHANH TRA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG………3
1.1 Khái quát về môi trường………3
1.1.1 Khái niệm môi trường và chức năng của môi trường.………3
1.1.2 Các biện pháp bảo vệ môi trường……… 7
1.1.3 Tình hình môi trường và sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường……….9
1.1.4 Sơ lược các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường……… 15
1.2 Những vấn đề cơ bản về Thanh tra chuyên ngành Tài nguyên và Môi trường………18
1.2.1 Quá trình thành lập lực lượng Thanh tra môi trường………18
1.2.2 Vị trí và chức năng của Thanh tra môi trường……… 19
1.2.3 Cơ cấu, tổ chức của lực lượng thanh tra môi trường………18
1.2.4 Cơ cấu, tổ chức của lực lượng thanh tra môi trường………22
1.2.5 Mối quan hệ của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường………21
1.2.6 Sơ lược pháp luật về thanh tra và thanh tra môi trường.……… 28
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH ĐỒNG NAI………34
2.1 Thẩm quyền của Thanh tra môi trường……… 34
Trang 52.1.1 Thẩm quyền của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường……… 34
2.1.2 Thẩm quyền của Chánh Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường…… 37
2.1.3 Thẩm quyền của thanh tra Tổng cục, thanh tra Cục……….39
2.1.4 Thẩm quyền của Chánh Thanh tra Tổng cục, Chánh Thanh tra Cục……42
2.1.5 Thẩm quyền của Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường……… 43
2.1.6 Thẩm quyền của Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường…… 44
2.1.7 Thẩm quyền của thanh tra viên………45
2.2 Thực tiễn tổ chức và hoạt động của lực lượng thanh tra môi trường tại tỉnh Đồng Nai………46
2.3 Khó khăn trong việc thực hiện công tác……… 56
2.4 Kiến nghị, đề xuất………56
KẾT LUẬN………63
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường đã trở thành vấn đề chung của nhân loại, được toàn thế giới quan tâm Môi trường ở Việt Nam hiện nay đang xuống cấp, cục bộ, bị ô nhiễm
và suy thoái nghiêm trọng Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, nước ta còn phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề do ô nhiễm môi trường mang lại như cạn kiệt nguồn tài nguyên, đất đai bị xói mòn và thoái hóa, rừng bị tàn phá và khai thác bừa bãi, thiên tai thường xuyên xảy ra, nguy cơ mất cân bằng sinh thái
đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của đất nước Bên cạnh đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực môi trường chưa hoàn chỉnh và đồng bộ, việc thanh tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường chưa nghiêm khắc, thiếu tính cương quyết Chủ thể vi phạm pháp luật về môi trường hoạt động với những thủ đoạn, phương thức ngày càng tinh vi, xảo quyệt và có quan hệ rộng, gây khó khăn cho việc xử lý Tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các lực lượng trực tiếp làm công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường chưa cụ thể, rõ ràng và thống nhất nên hoạt động gặp một số khó khăn, trở ngại, chưa phát huy tốt hiệu quả trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Thanh tra môi trường là một trong những lực lượng nòng cốt thực hiện công tác phòng ngừa, phát hiện, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta bên cạnh lực lượng cảnh sát môi trường Tuy thành lập đã khá lâu nhưng lực lượng thanh tra môi trường của nước ta hiện nay còn hạn chế
về khả năng chuyên môn, nghiệp vụ; tổ chức và hoạt động còn lỏng lẻo dẫn đến việc triển khai thực hiện nhiệm vụ còn gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó các văn bản pháp luật điều chỉnh về hoạt động của thanh tra môi trường còn rất ít, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế, trong khi các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường diễn ra ngày càng nhiều và càng tinh vi Do vậy, trong bài luận văn này người viết thông qua tìm hiểu một số quy định của pháp luật có liên quan về lực lượng thanh tra môi trường cũng như thực tiễn công tác của lực lượng này, qua đó rút ra một số ý kiến và đề xuất của cá nhân người viết về đề tài này Đó
cũng chính là lý do người viết chọn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Đồng Nai”
Trang 72 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu pháp luật về thanh tra môi trường,tổ chức bộ máy và hoạt động của lực lượng Thanh tra môi trường trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường Qua đó trau dồi thêm kiến thức về bảo vệ môi trường cho bản thân Cũng trên cơ
sở tìm hiểu những quy định đó, rút ra những thuận lợi và khó khăn và nguyên nhân của những khó khăn đó để dự báo và vạch ra hướng đi cụ thể thông qua đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng Thanh tra môi trường
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ cho phép, bài luận văn này người viết tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền của lực lượng thanh tra môi trường dựa trên cơ sở Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định cụ thể tại Điều 125
và Điều 126, Nghị định 35/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/4/2009 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra tài nguyên và môi trường và Nghị định số 117/2009 về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, và những tồn tại của việc áp dụng những quy định đó vào thực tiễn công tác của lực lượng thanh tra môi trường
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài luận văn này, người viết chủ yếu vận dụng những phương pháp sau: phân tích, tổng hợp, đánh giá và kết hợp lý luận thực tiễn…
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về môi trường và Thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường
Chương 2: Pháp luật về Thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường
và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Đồng Nai
Trang 8Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƯỜNG, QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP THANH TRA MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1.1 Khái quát về môi trường
1.1.1 Khái niệm môi trường và chức năng của môi trường
1.1.1.1 Khái niệm môi trường
Môi trường là một phạm trù rất rộng và theo đó chúng ta có rất nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường, khái niệm này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường giáo dục,… Một cách dễ hiểu nhất thì môi trường là toàn bộ điều kiện tự nhiên và xã hội nói chung, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại và phát triển Ngoài ra môi trường còn được hiểu theo nhiều nghĩa đặc biệt khác như nó bao gồm các yếu tố đất, nước, không khí,… Môi trường có thể dùng để đề cập tới tất cả những sự sống và không sống mà nó bao quanh và ảnh hưởng tới sinh vật sống Nói đến môi trường, điều quan trọng cần ghi nhớ là không thể ngăn cách hay tách rời các thành phần môi trường Đó là các yếu tố tạo thành môi trường như không khí, nước, âm thanh, ánh sáng, đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật và các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác…Như vậy, môi trường có thể xem như tổng các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự phát triển hay tồn tại của sinh vật và con người
Theo định nghĩa của UNESCO năm 1967 thì “môi trường sống của con người là phần không gian mà con người tác động, sử dụng và bị nó làm ảnh hưởng, là tập hợp các yếu tố vật chất (tự nhiên và nhân tạo) và xã hội xung quanh con người” Theo định nghĩa này, nói đến môi trường cần phải làm rõ đó là “môi trường sống của con người”, để tránh nhầm lẫn với “môi trường sống của sinh vật” Theo đó, môi trường gồm 2 nhóm yếu tố:
Nhóm vật chất: bao gồm các yếu tố tự nhiên như đất, nước, không khí, vật
lý, sinh học và các yếu tố nhân tạo như đô thị, máy móc…
Nhóm phi vật chất: bao gồm các yếu tố xã hội và nhân văn như quy chế luật pháp, chương trình, dự án…có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng
Môi trường có 4 loại chính tác động qua lại lẫn nhau(1)
:
Trang 9- Môi trường tự nhiên bao gồm nước, không khí, đất đai, ánh sáng và sinh vật
- Môi trường kiến tạo gồm những cảnh quan được thay đổi do con người
- Môi trường không gian gồm những yếu tố về địa điểm, khoảng cách, mật
độ, phương hướng và sự thay đổi trong môi trường
- Môi trường văn hóa – xã hội bao gồm các cá nhân và các nhóm, công nghệ, tôn giáo, các định chế, kinh tế học, thẩm mỹ học, dân số học và các hoạt động khác của con người
Theo cách nhìn của khoa học môi trường hiện đại thì trái đất có thể xem như con tàu vũ trụ lớn, mà loài người là những hành khách(2) Về mặt vật lý, trái đất gồm thạch quyển, bao gồm tất cả các vật thể ở dạng thể rắn của trái đất và có
độ sâu tới khoảng 60 km; thủy quyển tạo nên bởi các đại dương, biển cả, ao hồ, sông suối và các thủy vực khác; khí quyển với không khí và các loại khí khác bao quanh mặt đất Về mặt sinh học, trên trái đất có sinh quyển bao gồm các cơ thể sống, khí quyển và thủy quyển tạo thành môi trường sống của các cơ thể sống và địa quyển tạo thành lớp phủ thổ nhưỡng đa dạng Khác với các “quyển” vật chất
vô sinh, trong sinh quyển ngoài vật chất, năng lượng, còn có thông tin với tác dụng duy trì cấu trúc và cơ chế tồn tại của các vật thể sống Dạng thông tin ở mức
độ phức tạp và phát triển cao nhất là trí tuệ con người, có tác dụng mạnh mẽ đến
sự tồn tại và phát triển của trái đất Từ nhận thức đó, đã hình thành khái niệm về
“trí quyển”, bao gồm những bộ phận trên trái đất, tại đó có tác động trí tuệ con người Những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật cho thấy rằng trí quyển đang thay đổi một cách nhanh chóng, sâu sắc và phạm vi tác động ngày càng mở rộng, kể cả ở ngoài phạm vi trái đất Về mặt xã hội, các cá thể con người họp lại thành gia đình, cộng đồng, bộ tộc, quốc gia, xã hội theo những loại hình, phương thức và thể chế khác nhau Từ đó tạo nên các mối quan hệ, các hình thái tổ chức kinh tế - xã hội có tác động mạnh mẽ tới môi trường vật lý, môi trường sinh học
Theo Luật bảo vệ môi trường năm 1993 tại đoạn 1 Điều 3: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhằm tạo quan hệ mật thiết với nhau,
(1) Sách Khoa học môi trường, Nxb Giáo dục, 2007, trang 18
(2) Sách Khoa học môi trường, Nxb Giáo dục, 2007, trang 23
Trang 10bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”
Tuy nhiên, Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa gọn lại:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người
và sinh vật”.
Như vậy, ta có thể hiểu rằng môi trường sống của con người theo Luật bảo
vệ môi trường 2005 bao gồm:
Thứ nhất, môi trường tự nhiên gồm các yếu tố thiên nhiên như vật lý, hóa
học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi con người (sông, núi, biển, không khí, đất, nước,…)
Thứ hai, môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo
nên nhằm tác động tới môi trường làm thành những tiện nghi, phục vụ nhu cầu của con người: nhà ở, xí nghiệp, công sở, các khu đô thị, công viên nhân tạo, công trình nghệ thuật, văn hóa
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của dân tộc và của nhân loại Điều 29 Hiến pháp 1992 đã quy định: “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường”
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống
và phát triển
Thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề mang tính toàn cầu Môi trường đang bị ô nhiễm và suy thoái nặng Trong những thập niên qua, chất lượng môi trường không những không được cải thiện mà trái lại, ngày càng trở nên trầm trọng hơn Để đảm bảo sự phát triển bền vững, song song với việc thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, việc bảo vệ môi trường là một yêu cầu cấp thiết hiện nay
1.1.1.2 Chức năng của môi trường
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
Trang 11Thứ nhất, môi trường cung cấp nơi cư trú cho con người để xây dựng các
điểm dân cư Nơi cư trú lý tưởng phải là nơi an toàn cho con người và cộng
đồng
Cuộc sống mỗi người đều cần một không gian sống nhất định, không gian này đòi hỏi phải đạt những tiêu chuẩn nhất định về các yếu tố môi trường, cảnh quan và xã hội Nơi cư trú lý tưởng sẽ là nơi tạo cảm giác thoải mái và an toàn cho con người Không gian sống cần có cảnh quan đẹp, hài hòa, thỏa mãn được đòi hỏi của con người Do xã hội ngày càng phát triển, không gian sống này càng
bị thu hẹp nên đòi hỏi không gian sống ngày càng phải có chất lượng cao hơn Khi đó: môi trường đất, nước, không khí đều đảm bảo tiêu chuẩn cho phép của môi trường, không chứa chất độc hại gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người
Thứ hai, môi trường cung cấp tài liệu cho sự phát triển xã hội (bao gồm cả
các tài nguyên, không gian môi trường và năng lượng)
Con người khai thác trong thiên nhiên những nguồn tài nguyên như: đất, nước, không khí, gỗ, than đá và các nguồn năng lượng khác để tạo ra của cải vật chất nhằm phục vụ nhu cầu hằng ngày của mình Thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi tài nguyên cần thiết để đáp ứng nhu cầu đang tăng cả về số lượng, chất lượng
và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của con người
Thứ ba, môi trường chấp nhận và tự làm sạch rác thải
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất Trong sản xuất và tiêu dùng, con người luôn đưa chất thải vào môi trường Khi dân số còn thưa thớt, chất thải phân hủy tự nhiên làm cho các chất thải một thời gian biến đổi lại trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên, không những tránh ô nhiễm mà còn tái tạo nguồn nguyên liệu
tự nhiên Khi dân số thế giới gia tăng quá nhanh, cộng với quá trình công nghiệp hóa và quá trình đô thị hóa làm gia tăng lượng chất thải, gây ô nhiễm môi trường mỗi ngày một nặng do chất thải không kịp phân hủy hoặc xử lý không xuể, quá trình làm sạch rác thải diễn ra chậm hơn
Thứ tư, môi trường lưu trữ và cung cấp thông tin (các quy luật khoa học,
các thông tin về khảo cổ), cung cấp các tiện nghi môi trường
Môi trường sống của con người chính là nơi lưu lại lịch sử địa chất và lịch
sử tiến hóa của vật chất, sinh vật và lịch sử phát triển của loài người, cung cấp dự
Trang 12báo về các thiên tai như động đất, núi lửa, sóng thần,… Đồng thời môi trường cũng cung cấp các tiện nghi môi trường là các giá trị phi thị trường của hệ sinh thái, góp phần tạo nên các giá trị văn hóa, thẩm mỹ…
1.1.2 Các biện pháp bảo vệ môi trường
Môi trường cần được bảo vệ trước nguy cơ bị phá hủy nặng nề hiện tại và trong cả tương lai Để môi trường sống không bị ô nhiễm, chúng ta cần có những biện pháp cụ thể và hiệu quả
Có rất nhiều biện pháp khác nhau để bảo vệ môi trường, nhưng quan trọng
là các biện pháp sau:(3)
Biện pháp tổ chức - chính trị
Biện pháp này được xem là biện pháp mang tính nền tảng vì nó gắn liền với quyền lực chính trị và quyết định đến đường lối, chủ trương, chính sách về môi trường của mỗi quốc gia Các biện pháp chính trị trong bảo vệ môi trường có
ý nghĩa: Bảo vệ môi trường trở thành các nhiệm vụ chính trị mỗi khi các tổ chức chính trị, đảng phái đưa chúng vào các cương lĩnh hoạt động của mình; bằng vận động chính trị, vấn đề bảo vệ môi trường sẽ được thể chế hóa thành các chính sách, pháp luật
Các biện pháp chính trị được thực hiện nhằm xây dựng hoặc củng cố quyền lực và ảnh hưởng chính trị Biện pháp này thường được thông qua hoạt động ngoại giao giữa các quốc gia, qua hoạt động của các tổ chức quốc tế, hoặc được thực hiện thông qua hoạt động của các tổ chức chính trị mà quan trọng nhất
là đảng cầm quyền ở trong nước Đảng cộng sản Việt Nam đưa vấn đề môi trường vào cương lĩnh, chiến lược hành động của mình không nhằm mục đích gì khác ngoài làm tăng thêm tính toàn diện, đúng đắn và khả thi của cương lĩnh, chiến lược đó
Biện pháp tuyên truyền, giáo dục
Đây cũng được xem là biện pháp quan trọng vì thông qua đó sẽ hình thành
và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân Ý thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường sẽ được nâng cao thông qua các hoạt động tuyên truyền và giáo dục Càng mở rộng các hoạt động giáo dục cộng đồng về tác hại
(3) Giáo trình Luật môi trường, Đại học Luật Hà Nội, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội – 2007, trang 22
Trang 13của sự ô nhiễm, suy thoái môi trường thì càng nâng cao được hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường
Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta cũng đặc biệt chú ý đến việc giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường(4)
Các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ pháp luật có thể thực hiện dưới mọi hình thức, cấp độ và phạm vi khác nhau Điển hình là các hình thức như đưa giáo dục ý thức bảo vệ môi trường vào chương trình học tập; sử dụng rộng rãi các phương tiện truyền thông; tổ chức các diễn đàn và các cuộc điều tra xã hội…
Biện pháp kinh tế
Biện pháp kinh tế đang là một trong những biện pháp tác động có hiệu quả nhất hiện nay vì nó tác động vào chính lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân để các chủ thể này vì lợi ích của mình mà phải thay đổi hành vi xử sự đối với môi trường Biện pháp này tác động vào lợi ích kinh tế ở hai phương diện: trừng phạt
về kinh tế đối với hành vi tác động có hại cho môi trường trên cơ sở nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, khuyến khích về lợi ích kinh tế cho những hành
vi tác động thân thiện với môi trường Tức là mỗi người gây ô nhiễm phải đóng một khoản thuế tỉ lệ với lượng chất thải của mình Việc đánh thuế ô nhiễm đã khuyến khích việc ứng dụng công nghệ sạch (không gây hoặc ít gây ô nhiễm), và nhà sản xuất có hai phương thức lựa chọn: thải trực tiếp chất thải ra môi trường
và chịu đóng thuế cao, hoặc xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường để khỏi đóng thuế hoặc đóng thuế thấp
Trợ giá cũng là một biện pháp kinh tế để khuyến khích các hoạt động bảo
vệ môi trường thông qua việc miễn giảm thuế cho các sản phẩm hoặc các hoạt động mang tính bảo vệ môi trường Phá bỏ các khoản trợ giá còn tồn tại có hại đối với bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng nguồn tài chính để chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường, làm cho người dân ý thức hơn trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tránh được việc sử dụng lãng phí, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.(5)
(4) Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
(5) Giáo trình Cơ sở khoa học môi trường, Ths.Lê Hoàng Việt, Đại học Cần Thơ, 2000, trang 23
Trang 14Biện pháp khoa học công nghệ
Biện pháp này được xem như giải pháp để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển vì nhờ có khoa học, công nghệ mà con người có thể tiếp tục phát triển nâng cao mức sống trong khi vẫn đảm bảo các yêu cầu về môi trường thông qua việc áp dụng công nghệ sạch, sử dụng năng lượng tái sinh, vật liệu mới…
Việc bảo vệ môi trường, quy luật hoạt động của môi trường nói chung và các yếu tố cấu thành nó nói riêng không thể thực hiện được một cách đầy đủ nếu thiếu các biện pháp khoa học công nghệ
Ví dụ như việc xử lý chất thải, nếu các cộng đồng chỉ xử lý chất thải bằng các phương pháp thủ công như đốt rác, chôn rác thì việc tránh ô nhiễm này sẽ dẫn đến sự ô nhiễm khác
Biện pháp pháp lý
Với các đặc trưng như mang tính quy phạm phổ biến và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế và các hoạt động khác của Nhà nước Khi nói đến bảo vệ môi trường, chúng ta không thể không nhắc đến các biện pháp pháp lý Pháp luật đã và đang khẳng định vai trò không thể thiếu trong hoạt động bảo vệ môi trường hiện nay Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường Có thể nói đây chính là biện pháp đảm bảo thực hiện các biện pháp bảo
vệ môi trường nói trên Các cam kết về mặt chính trị, chính sách môi trường của đảng cầm quyền…chỉ có thể đi vào thực tiễn khi chúng được thể chế hóa bằng pháp luật Thông qua pháp luật, nhà nước xác định rõ nguyên tắc, mục đích và nội dung quản lí môi trường, hướng hành vi xử sự của con người trong việc giữ gìn và làm trong sạch môi trường sống, làm cân bằng hiện trạng môi trường
1.1.3 Tình hình môi trường và sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường
1.1.3.1 Tình hình môi trường
Thực trạng môi trường toàn cầu đang là mối quan tâm, lo lắng của cộng đồng quốc tế Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường đang là mối lo, mối hiểm họa và là nhân tố kìm hãm sự phát triển bền vững của toàn nhân loại Một trong những thách thức mang tính toàn cầu hiện nay là phải giải quyết tình trạng môi trường bị suy thoái và biến đổi bất lợi cho đời sống sản xuất của con người
Trang 15Tuy chưa khẳng định được mức độ ô nhiễm và suy thoái môi trường ở mức trầm trọng và trên quy mô toàn cầu nhưng tình trạng này ở một số khu vực trên thế giới đã rất trầm trọng và biểu hiện ở hầu như tất cả các thành phần chủ yếu của môi trường
Hiện tại, những biểu hiện của môi trường toàn cầu là đáng lo ngại Môi trường đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là những yếu tố mang tính tự nhiên như đất, nước, không khí, hệ thực vật, động vật Tình trạng môi trường thay đổi và bị ô nhiễm theo chiều hướng xấu đang diễn ra trên phạm
vi mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu.(6)
Trên phạm vi toàn cầu, sự thay đổi theo chiều hướng xấu của môi trường diễn ra ở nhiều yếu tố của môi trường, với nhiều cấp độ khác nhau.Thiên tai thường xuyên xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới mà nguyên nhân chính là do sự hủy hoại của con người; các cơn bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, sóng thần,…diễn ra với cấp mạnh hơn bao giờ hết; rừng bị tàn phá, suy giảm tầng ozon gây ra hiệu ứng nhà kính, chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt ngày càng nhiều gây suy thoái môi trường; sự suy giảm của nhiều loài thực vật, sự diệt vong của nhiều loài động vật gây mất cân bằng sinh thái, an ninh lương thực, an ninh môi trường đang là thách thức cho nhân loại hiện nay Ví dụ cụ thể có thể được nêu ra ở đây
là số lượng và sức mạnh của các cơn bão diễn ra trong thời gian gần đây Thời gian gần đây, có sự tăng trưởng số lượng cơn bão loại 4 và 5 (tức là những cơn bão mạnh có thể gây lở đất) trên hệ thống đo Saffir - Simpson Cụ thể từ năm
1975 đến 1989, toàn cầu có 171 cơn bão lớn, nhưng từ năm 1990 đến 2004 tăng lên 269 cơn(7).Năm 2010, trận lụt dữ dội chưa từng có ở Pakistan đã làm chết hơn 1.600 người, đợt nắng nóng khủng khiếp nhất từ 1.000 năm qua ở Nga, lở đất kinh hoàng ở Trung Quốc đã làm hơn 1.117 người bị chết và hơn 627 người
bị mất tích, Trung Âu chìm trong biển nước… Một loạt thiên tai khủng khiếp xảy
ra trong mùa hè 2010 được coi là những cảnh báo nhãn tiền về tác hại của biến đổi khí hậu Năm 2011, cơn lũ ở Thái Lan được xem là cơn lũ tồi tệ nhất trong nửa thế kỷ qua tại đất nước này làm ít nhất 562 người thiệt mạng và phá hủy hàng triệu nhà cửa, khu sản xuất
(6) Giáo trình Hóa học môi trường, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2006, trang 47
(7).Website: http://vietbao.vn/Khoa-hoc/Nhung-tran-bao-khung-khiep-thoi-gian-gan-day/70050026/188/
Trang 16Tình trạng môi trường ở Việt Nam cũng có những nét chung của môi trường thế giới và cũng có những nét riêng do hoàn cảnh lịch sử và sự phát triển của đất nước qua các giai đoạn khác nhau Có nhiều mặt, có nhiều yếu tố, thực trạng môi trường của Việt Nam còn xấu hơn ở nhiều nước trên thế giới
Việc môi trường bị hủy hoại diễn ra do nhiều yếu tố khác nhau Mỗi yếu
tố của môi trường chịu sự tác động của một hoặc một vài nhân tố khác nhau đồng thời cũng chịu tác động trực tiếp lẫn nhau Trong số các nhân tố ảnh hưởng đến môi trường sống của con người cần phải kể đến việc gây ô nhiễm, việc đô thị hóa, phát triển công nghiệp, phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi
Môi trường Việt Nam hiện nay được xem như là “con thuyền có mức tải nhất định, nếu quá tải, con thuyền sẽ chìm”(8) Sau đây là một số số liệu cụ thể về tình hình môi trường Việt Nam hiện nay (liên quan đến các thành phần của môi trường):
Tình trạng môi trường không khí: Việt Nam là 1 trong số 10 quốc gia
có mức độ ô nhiễm không khí cao nhất thế giới, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trườg và sức khỏe Đây là kết quả nghiên cứu vừa được công bố mới đây tại Diễn đàn kinh tế thế giới Davos (Thụy Sỹ) tính đến ngày 10/02/2012
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2010, các nguồn chất thải gây ô nhiễm không khí chủ yếu là từ hoạt động giao thông đóng góp tới 85% khí CO
và hoạt động công nghiệp phát sinh chủ yếu là khí SO2
Khí thải từ các phương tiện giao thông, hoạt động sản xuất công nghiệp, bụi từ những công trường đang xây dựng chỉ là số ít trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng ô nhiễm không khí ở Việt Nam, đặc biệt tại các đô thị lớn
Theo Giáo sư – Tiến sĩ Phạm Ngọc Đăng, Chủ tịch Hội Môi trường xây dựng Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, người đã có 50 năm nghiên cứu về môi trường đô thị thì Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là nơi mà tình trạng ô nhiễm không khí diễn ra nặng nhất với nồng độ
(8) Website: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/moi-truong-viet-nam-doi-nha-chay-moi-dap-lua
Trang 17nhiều chất khí đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần và "trong các chất SO2, CO, NOX, bụi là ô nhiễm nặng nhất, gấp 2 đến 3 lần tiêu chuẩn cho phép
Ở các khu phố, nút giao thông nó có thể gấp 10 lần tiêu chuẩn cho phép".(9)
Sự ra đời của quá nhiều nhà máy cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí Như nhà máy dệt 8/3, nhà máy cơ khí Mai Động ở Hà Nội; khu công nghiệp Thượng Đình, khu công nghiệp Văn Điển…không khí cũng bị ô nhiễm nặng; ở Hải Phòng, ô nhiễm nặng ở khu nhà máy xi- măng, nhà máy Thủy Tinh và Sắt tráng men; ở Việt Trì (Phú Thọ) ô nhiễm nặng xung quanh nhà máy Supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao, nhà máy giấy, nhà máy dệt; ở Ninh Bình và Phả Lại
ô nhiễm nặng do nhà máy nhiệt điện, các nhà máy vật liệu xây dựng, lò vôi; ở thành phố Hồ Chí Minh và cụm công nghiệp Biên Hòa, không khí cũng bị ô nhiễm ở nhiều nhà máy…
Tình trạng môi trường đất: Ở Việt Nam, đất đai bị xói mòn và bạc hóa ở
nhiều nơi, nhất là vùng trung du, đồi trọc Mặc dù đất sa mạc hoá không tập trung
và hình thành nên những hoang mạc rộng hàng trăm ngàn ha như ở một số quốc gia trên thế giới nhưng với khoảng 1/3 diện tích đất canh tác đang bị tác động bởi
sa mạc hoá cũng đang là vấn đề phức tạp, nan giải
Đặc trưng tình trạng sa mạc hoá ở Việt Nam phân bố trên khắp đất nước, trong đó chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, miền núi Đây là những vùng đất trống, đất cát ven biển và đất rừng nghèo đã và đang bị suy thoái
Trong số gần 8 triệu ha đang chịu tác động sa mạc hoá, thì có tới gần 90%
là đất trống, đồi trọc bị thoái hoá mạnh, đất bị đá ong hoá do hậu quả của nạn phá rừng và sử dụng đất không hợp lý kéo dài trong nhiều năm Số còn lại là những đụn cát và bãi cát di động ở các tỉnh ven biển miền Trung Đất khô theo mùa hoặc vĩnh viễn ở Nam Trung Bộ như: Bình Thuận, Ninh Thuận, Nam Khánh Hoà Đất bị xói mòn ở Tây Bắc, Tây Nguyên và đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn ở đồng bằng sông Cửu Long - tứ giác Long Xuyên
Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, trong số 400.000 ha đụn cát nằm dọc duyên hải miền Trung thì Ninh Thuận và Bình Thuận là những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề nhất cả nước với hơn 1/3 tổng diện tích đất đai đang bị sa mạc hoá Đặc biệt, cả nước có tới 9,4 triệu ha đất hoang hóa, trong đó khoảng 7,5
(9) Website: http://vtv.vn/Article/Get/O-nhiem-khong-khi-nghiem-trong-tai-Viet-Nam-abe92a6911.html
Trang 18triệu ha chịu tác động mạnh bởi sa mạc hóa Bên cạnh đó, hiện tượng xói mòn, rửa trôi, sạt lở, mặn hóa, phèn hóa… đang xảy ra ở nhiều nơi đã làm cho khoảng 50% trong số 33 triệu ha đất tự nhiên của nước ta được coi là vấn đề suy thoái
Tình trạng môi trường nước: Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc
với 13 hệ thống sông lớn có diện tích trên 10.000 km2 Tài nguyên nước mặt tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các con sông trên thế giới Đây là nguồn tài nguyên quý giá, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này đang ngày một bị đe dọa bởi sự ô nhiễm chủ yếu do con người gây nên
Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng
bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu oxy sinh hoá (BOD), nhu cầu oxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước
bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương)
Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác
Trang 19thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; oxy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần tiêu chuẩn cho phép
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi
cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay:
- Đất nước ta trong thời kỳ hội nhập, khoa học kỹ thuật phát triển nhưng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, các cụm công nghiệp…chưa diễn ra thường xuyên và thiếu tính chuyên nghiệp
- Do quá trình đô thị hóa quá nhanh nên kéo theo nhiều hệ lụy, trong đó có
ô nhiễm môi trường
- Hệ thống pháp luật của Nhà nước ta chưa thực sự chú trọng đến việc bảo
vệ môi trường Chỉ mãi đến những năm cuối của thập kỷ 90 thì vấn đề bảo vệ môi trường mới bắt đầu thực sự được pháp luật điều chỉnh Tuy Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về môi trường song việc triển khai thực hiện chúng chưa triệt để Chẳng hạn các quy định về bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước chống lại sự khai thác rừng bừa bãi hay việc hủy hoại bởi các chất thải từ các nhà máy,
xí nghiệp chưa được thực hiện triệt để
- Do thiếu công nghệ tiên tiến và các nguồn tài chính cần thiết nên một khối lượng lớn các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt chưa được xử lý
Trang 20- Ý thức bảo vệ môi trường của phần lớn các tầng lớp người dân còn thấp Những khó khăn trước mắt về kinh tế làm cho người dân không thấy được tác hại của việc hủy hoại môi trường
1.1.3.2 Sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường
Môi trường đang bị hủy hoại từng ngày, cùng với những hậu quả nghiêm trọng xảy ra trong những năm gần đây ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang là tiếng chuông báo động lớn về tình hình ô nhiễm môi trường trầm trọng trên toàn thế giới, buộc các quốc gia chú ý hơn tới những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia và được thực hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau như cấp độ cá nhân, cộng đồng, địa phương, vùng, quốc gia, quốc tế Nhiều trung tâm nghiên cứu môi trường được thành lập để nghiên cứu các tác động của môi trường và các biện pháp đối phó nhằm giảm thiểu các hậu quả tiêu cực do ô nhiễm môi trường có thể mang lại
Môi trường rất cần thiết cho cuộc sống của con người, cung cấp cho con người những điều kiện để sống (như ăn, ở, mặc, hít thở…) Nếu không có những điều kiện đó con người không thể sống, tồn tại và phát triển được Con người sống được cần phải ăn, ở, mặc, hít thở không khí trong lành… Những điều kiện thiết yếu đó của cuộc sống là do môi trường cung cấp Vì vậy, môi trường rất cần thiết cho cuộc sống của con người Thế nhưng, môi trường bị ô nhiễm chủ yếu do con người gây ra Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 nước ta phải đối phó với những vấn đề hết sức khó khăn do yếu tố môi trường mang lại chưa được giải quyết trong khi dự báo mức độ ô nhiễm tiếp tục gia tăng, đây cũng là vấn đề đối với môi trường nước ta hiện nay
Hiện nay, do dân số ngày càng tăng; do sự phát triển công nghiệp tạo ra nhiều khí thải, nước thải; do sự tàn phá rừng,… khiến cho môi trường đang bị ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và cuộc sống của con người
Để đảm bảo sự phát triển bền vững, chúng ta cần phải sống thân thiện với môi trường, giữ gìn và bảo vệ môi trường trong sạch Môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và cuộc sống của con người
Mỗi người đều phải có trách nhiệm giữ gìn và bảo vệ môi trường bằng những việc làm cụ thể của mình, con người cần phải sống thân thiện với môi trường, giữ gìn, bảo vệ môi trường trong sạch
Trang 21Do vậy, bảo vệ môi trường là một yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay cho Việt Nam nói riêng, toàn thế giới nói chung
1.1.4 Sơ lược các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
Nước ta đang trong thời kỳ mở cửa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa Đồng thời với những cơ hội lớn trong bước đà phát triển kinh tế, Việt Nam đang đối đầu với những vấn đề thử thách, vấn đề môi trường là một trong những thử thách đó Để bảo vệ môi trường, Nhà nước cần áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn các hành vi hủy hoại môi trường thiên nhiên, môi trường sống bị rối loạn như tuyên truyền, giáo dục, kinh tế, hành chính, hình
sự Nhằm tạo cơ sở cho việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản như Luật tài nguyên nước 1998, Luật đất đai 2003, Luật bảo vệ và phát triển rừng
2004, Luật bảo vệ môi trường 2005, Bộ luật dân sự 2005, Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009), Luật khoáng sản 2010…
Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của Việt Nam liên quan đến lĩnh vực môi trường là Sắc lệnh 142/SL ngày 21/12/1949 quy định về kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng Tiếp đó chúng ta có Pháp lệnh về bảo vệ rừng ban hành ngày 11/9/1972
Kể từ khi Luật bảo vệ môi trường 1993 ra đời, đến nay Việt Nam đã có Luật bảo vệ môi trường 2005 (thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993) là văn bản làm hành lang pháp lý cho mọi hoạt động về bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước ta Với 136 Điều, Luật bảo vệ môi trường 2005 đã điều chỉnh hầu hết các mối liên hệ, liên quan trong hoạt động của con người đến các thành phần môi trường
Ngoài luật bảo vệ môi trường còn có nhiều luật khác điều chỉnh các thành phần môi trường như Luật đất đai 2003, Luật khoáng sản 2010, Luật bảo vệ và phát triển rừng 1998, Bộ luật hình sự 1999,… Giữa các Luật và Nghị định về bảo
vệ môi trường hiện nay đã có sự trùng lặp, chồng chéo và mâu thuẫn trong việc
áp dụng luật và các văn bản dưới luật; đặc biệt là sự trùng lắp về các quy định trong Luật bảo vệ môi trường với các luật về tài nguyên Điều đó cho thấy rất cần
có sự thống nhất giữa các bộ luật có liên quan đến bảo vệ môi trường và tài nguyên
Trang 22Bên cạnh đó, Nhà nước ta còn ban hành một số văn bản dưới luật liên quan tới việc hướng dẫn thi hành các văn bản luật như:
Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 08/9/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường
Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08/12/2008 của Bộ Tài nguyên và môi trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi,
hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường
Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 06/03/2009 của Chính phủ về tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo
Nghị định số 82/2009/NĐ-CP ngày 12/10/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/NĐ-CP ngày 13/5/2008 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản
Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 15/7/2009 quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao,
khu công nghiệp và cụm công nghiệp
Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính Phủ ban hành quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại
Trang 23Thông tư số 48/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011của Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp và cụm công nghiệp
Nhìn chung, những quy định của pháp luật Việt Nam trong công tác bảo
vệ môi trường được Nhà nước ta ban hành khá hoàn chỉnh Thông qua pháp luật, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, qua đó họ tự ý thức được và cải thiện môi trường ngày tốt hơn Tuy nhiên, để tránh sự chồng chéo giữa Luật bảo vệ môi trường và các luật về tài nguyên, Nhà nước ta nên xây dựng Luật bảo
vệ môi trường với tư cách là luật chung, điều chỉnh những vấn đề mang tính nguyên tắc như :bảo tồn, khai thác và sử dụng các thành phần môi trường và tài nguyên; nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường… Các vấn đề
cụ thể trong việc sử dụng, khai thác, quản lý, bảo vệ các thành phần môi trường
sẽ do các luật về tài nguyên điều chỉnh (luật khoáng sản 2010, luật bảo vệ và phát triển rừng 1998, luật đất đai 2003…)
1.2 Những vấn đề cơ bản về Thanh tra chuyên ngành Tài nguyên và Môi trường
1.2.1 Quá trình thành lập lực lượng Thanh tra môi trường
Năm 1992, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được thành lập Cục Môi trường là cơ quan đầu tiên chuyên trách về môi trường có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thống nhất quản lý các hoạt động bảo vệ môi trường trong cả nước Cuối năm 1993, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua Luật Bảo vệ môi trường - nền tảng pháp lý cho hệ thống luật pháp về môi trường của nước ta Nghị định số 175-CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường, từng bước tổ chức và hoạt động của Thanh tra Nhà nước về bảo vệ môi trường, góp phần tích cực nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã ban hành Thông tư số 1485 – MTg ngày 12/12/1994 hướng dẫn tổ chức, quyền hạn và phạm vi hoạt động của thanh tra về bảo vệ môi trường Năm 1995, lực lượng Thanh tra nhà nước về bảo vệ môi trường chính thức được thành lập, từng bước được tổ chức và bước đầu hoạt động Theo đó, Thanh tra Cục Môi trường có nhiệm vụ giúp Thanh tra Bộ Khoa
Trang 24học, Công nghệ và Môi trường thực hiện chức năng thanh tra Nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước
Thanh tra Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, được tổ chức theo Điều 19 Pháp lệnh Thanh tra Điều 4 Nghị định số 244/HĐBT ngày 30/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) thực hiện chức năng Thanh tra Nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý Nhà nước về môi trường của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đến năm 2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định tái lập Thanh tra Bộ, từng bước tổ chức chặt chẽ về tổ chức và hoạt động của lực lượng thanh tra chuyên ngành
Luật Bảo vệ môi trường 2005 thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993
là một bước tiến quan trọng trong quá trình lập pháp, với nhiều quy định mới được sửa đổi, bổ sung đã tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ và góp phần quan trọng vào việc bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua
Song song với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật bảo vệ môi trường, ngày 30 tháng 9 năm 2008, sự ra đời của Tổng cục Môi trường theo Quyết định số 132/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là một bước quan trọng trong tiến trình hệ thống lại các cơ quan quản lý môi truờng của nhà nước, đồng thời đánh dấu sự trưởng thành và phát triển của ngành môi trường ở nước
ta Với những giai đoạn đánh dấu như vậy, lực lượng thanh tra chuyên ngành tài nguyên và môi trường từng bước phát triển về tổ chức, chuyên môn nghiệp vụ được nâng cao, đảm bảo thực hiện tốt vai trò và nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra của mình
1.2.2 Vị trí và chức năng của Thanh tra môi trường
Thanh tra bảo vệ môi trường là thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường Thanh tra bảo vệ môi trường có đồng phục và phù hiệu riêng, có thiết bị và phương tiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ.(11)
Thanh tra Tài nguyên và Môi trường là cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực, được tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 35/2009; thực hiện chức năng thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về đất đai, tài nguyên
(11) Khoản 1 Điều 125 Luật Bảo vệ môi trường 2005
Trang 25nước,tài nguyên khoáng sản, địa chất, môi trường, khí tượng, thuỷ văn, đo đạc, bản đồ, quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo (sau đây gọi chung là tài nguyên và môi trường) theo quy định của pháp luật
Thanh tra là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ nhằm xác định các vi phạm pháp luật và chính sách môi trường, nguyên nhân và hậu quả của những vi phạm đó để xử lý theo đúng các quy định của pháp luật Thủ tục thanh tra được quy định chặt chẽ
So với hoạt động kiểm tra vốn được thực hiện định kỳ, thường xuyên, hoạt động thanh tra được tiến hành khi có những dấu hiệu cho thấy có sự vi phạm và cần thiết phải xác định các vi phạm đó
Hoạt động thanh tra thường được tiến hành khi có kiến nghị đề xuất trong quá trình kiểm tra hoặc giám sát
Thanh tra là hoạt động có tầm quan trọng rất lớn trong việc đảm bảo thực hiện chính sách và pháp luật môi trường Vì vậy, nội dung, thủ tục thanh tra, thẩm quyền tiến hành thanh tra là những vấn đề phải lưu ý trong quản lý nhà nước về môi trường Thẩm quyền, nhiệm vụ của thanh tra bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.(12)
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 126 Luật Bảo vệ môi trường 2005: “Số lần kiểm tra, thanh tra về bảo vệ môi trường nhiều nhất là hai lần trong năm đối với một cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, trừ trường hợp cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đó bị tố cáo là đó vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.”
1.2.3 Nội dung, hình thức và phương thức hoạt động của Thanh tra môi trường
Về nội dung hoạt động, thanh tra tài nguyên môi trường bao gồm thanh
tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
Thanh tra hành chính là thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện nhiệm vụ được giao của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của Thủ trưởng cùng cấp và thanh tra nội dung, trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra hành chính
(12) Giáo trình Luật môi trường, Đại học Luật Hà Nội, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, trang 77
Trang 26Thanh tra chuyên ngành là thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên môi trường trong phạm vi quản lý nhà nước của Thủ trưởng cùng cấp đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến tài nguyên môi trường, bao gồm: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng, thuỷ văn; đo đạc, bản đồ
Về hình thức và phương thức hoạt động (13) , hoạt động thanh tra được
thực hiện dưới hình thức thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra
đột xuất (khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật,
theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao)
Theo quy định trước đây thì hoạt động thanh tra có thể tiến hành theo các hình thức thanh tra định kỳ; thanh tra đột xuất; thanh tra để xác minh lại hoặc phúc tra các kiến nghị, quyết định được ghi trong biên bản sau thanh tra
Như vậy hiện nay không quy định trường hợp thanh tra để xác minh lại hoặc phúc tra các kiến nghị, quyết định được ghi trong biên bản sau thanh tra đối với thanh tra môi trường, nhưng trên thực tế hiện nay nếu cần xác minh lại thì lực lượng thanh tra vẫn tiến hành thanh tra xác minh lại hoặc phúc tra cho rõ ràng và chính xác theo quy định tại Nghị định 07/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9/02/2012 quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành tại Điều 33: ”Khi được Bộ trưởng giao, Chánh Thanh tra bộ quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Tổng cục trưởng, Cục trưởng thuộc Bộ kết luận; Khi được Giám đốc sở giao, Chánh Thanh tra sở quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chi cục trưởng thuộc Sở kết luận”
Và Điều 34 Nghị định 07/2012/NĐ-CP cũng quy định: “Việc thanh tra lại được thực hiện khi có một trong các căn cứ được quy định tại Điều 48 của Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra.” Đó là những căn cứ sau đây:
1 Có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục trong tiến hành thanh tra
2 Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật khi kết luận thanh tra
(13) Điều 20, Điều 21 Nghị định 35/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/4/2009 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra tài nguyên và môi trường
Trang 273 Nội dung kết luận thanh tra không phù hợp với những chứng cứ thu thập được trong quá trình tiến hành thanh tra
4 Người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra, Thanh tra viên, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ việc hoặc cố ý kết luận trái pháp luật
5 Có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng của đối tượng thanh tra chưa được phát hiện đầy đủ qua thanh tra
Hoạt động thanh tra tài nguyên và môi trường phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Việc thanh tra được thực hiện theo phương thức Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên độc lập
Khi tiến hành thanh tra phải có quyết định của Thủ trưởng cơ quan Thanh tra Tài nguyên và Môi trường hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp
Trưởng Đoàn thanh tra, Thanh tra viên độc lập phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định thanh tra về quyết định và biện pháp xử lý của mình Khi xử lý vi phạm, Trưởng Đoàn thanh tra, Thanh tra viên độc lập phải thực hiện đầy đủ trình tự theo quy định của pháp luật
1.2.4 Cơ cấu, tổ chức của lực lượng thanh tra môi trường
Lực lượng thanh tra môi trường được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương
Tổ chức của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường bao gồm (14) : Thanh
tra Bộ Tài nguyên và Môi trường; Thanh tra Tổng cục Quản lý đất đai, Thanh tra Tổng cục Môi trường và Thanh tra Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường; thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường
Thanh tra Bộ, Thanh tra Tổng cục, Thanh tra Cục và Thanh tra Sở có con dấu riêng Như vậy, theo quy định của Nghị định 35/2009 thì Thanh tra tài nguyên và môi trường có thêm Thanh tra cấp Tổng cục, Cục, khác với trước đây
(14) Điều 6 Nghị định 35/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/4/2009 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra tài nguyên và môi trường
Trang 28tại Nghị định 65/2006/NĐ-CP ngày 23/6/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra tài nguyên và môi trường thì tổ chức của Thanh tra tài nguyên
và môi trường chỉ có Thanh tra Bộ và Thanh tra Sở
Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thanh tra Bộ là cơ quan của
Bộ Tài nguyên và Môi trường, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành về tài nguyên và môi trường trong phạm vi quản
lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường Thanh tra Bộ có các phòng trực thuộc do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quyết định thành lập
Thanh tra Bộ có Chánh Thanh tra, các Phó Chánh Thanh tra và các Thanh tra viên Chánh Thanh tra do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra; các Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên được bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo quy định của pháp luật
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế của Thanh tra Bộ
Lãnh đạo thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện nay gồm 01 Chánh thanh tra và 02 Phó Chánh thanh tra
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra và ra quyết định thanh tra hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật về thanh tra
Tổng số cán bộ hiện nay của cơ quan Thanh tra Bộ là 43, trong đó có: 18 thanh tra viên, 10 thanh tra viên chính, 01 thanh tra viên cao cấp
Cơ cấu tổ chức hiện nay của Thanh tra Bộ gồm các Phòng:
1- Phòng Tổng hợp
2- Phòng Tiếp dân và xử lý đơn thư
3- Phòng Thanh tra hành chính
4- Phòng Thanh tra đo đạc bản đồ, biển và hải đảo
5- Phòng Thanh tra đất đai, môi trường, khoáng sản
6- Phòng Thanh tra tài nguyên nước và khí tượng thủy văn
Trang 297- Phòng Thanh tra tài nguyên và môi trường phía Nam
Thanh tra Tổng cục, Thanh tra Cục: Thanh tra Tổng cục, Thanh tra Cục
là cơ quan thuộc Tổng cục, Cục, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra chuyên ngành về tài nguyên và môi trường trong phạm vi quản lý của Tổng cục, Cục Thanh tra của Tổng cục Môi trường (sau đây gọi tắt là Thanh tra) là tổ chức trực thuộc Tổng cục Môi trường có chức năng tham mưu, giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về môi trường
trên phạm vi cả nước(15)
Thanh tra Tổng cục có các phòng trực thuộc do Tổng cục trưởng quyết định thành lập Các phòng trực thuộc Thanh tra Tổng cục hiện nay (chính là bộ máy giúp việc Chánh thanh tra)(16)
gồm có:
1- Phòng Tổng hợp,
2- Phòng Cơ sở dữ liệu Thanh tra môi trường,
3- Phòng Thanh tra khu vực phía Nam,
4- Phòng Thanh tra khu vực miền Trung – Tây Nguyên
Phòng Thanh tra khu vực phía Nam có trụ sở đặt tại thành phố Hồ Chí Minh; Phòng Thanh tra khu vực miền Trung và Tây nguyên có trụ sở đặt tại thành phố Đà Nẵng
Thanh tra Tổng cục chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường(17)
Thanh tra có con dấu riêng, được mở tài khoản tạm thu, tạm giữ tại Kho bạc nhà nước theo quy định của pháp luật(18)
Trang 30Thanh tra Tổng cục, Thanh tra Cục có Chánh Thanh tra, các Phó Chánh Thanh tra và các Thanh tra viên Chánh Thanh tra Tổng cục, Chánh Thanh tra Cục do Tổng cục trưởng, Cục trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất ý kiến với Thanh tra Bộ Các Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên được bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo quy định của pháp luật
Chánh Thanh tra chịu trách nhiệm trước Tổng cục trưởng về nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Thanh tra; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Thanh tra chuyên ngành về môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường theo quy định của pháp luật; điều hành hoạt động, xây dựng quy chế làm việc của Thanh tra; quy định chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trực thuộc; ký các văn bản về chuyên môn, nghiệp vụ theo chức năng, nhiệm vụ được giao và các văn bản khác theo phân công của Tổng cục trưởng.(19)
Phó Chánh Thanh tra giúp việc Chánh Thanh tra, chịu trách nhiệm trước Chánh Thanh tra về nhiệm vụ công tác được phân công
Lãnh đạo thanh tra Tổng cục môi trường hiện nay bao gồm 01 Chánh Thanh tra, 02 Phó Chánh Thanh tra Tổng số cán bộ hiện nay của Thanh tra Tổng cục là 25, trong đó có: 03 Trưởng phòng, 02 Phó Trưởng phòng, 11 chuyên viên,
04 thanh tra viên và 05 cán bộ hợp đồng
Tổng cục trưởng, Cục trưởng quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế của Thanh tra Tổng cục, Thanh tra Cục
Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường: Thanh tra Sở là cơ quan trực
thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Thanh tra Sở có Chánh Thanh tra, các Phó Chánh Thanh tra và các Thanh tra viên Chánh Thanh tra Sở do Giám đốc Sở bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Chánh Thanh tra tỉnh; các Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên được bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo quy định của pháp luật
(19) Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 957/QĐ-TCMT ngày 18/8/2009 của Tổng cục môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Tổng cục.
Trang 31Như vậy, hiện nay pháp luật không quy định trường hợp căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ quản lý tài nguyên và môi trường của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể về tổ chức, biên chế và hoạt động của Thanh tra chuyên ngành tài nguyên và môi trường theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ như quy định tại Nghị định 65/2006/NĐ-CP ngày 23/6/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra tài nguyên và môi trường
Nhưng theo quy định trên, thanh tra Sở thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cũng có nghĩa là nếu trường hợp cần thiết do yêu cầu của việc quản lý nhà nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền ra quy định trong phạm vi thẩm quyền của mình, phù hợp với yêu cầu của quản lý nhà nước
1.2.5 Mối quan hệ của Thanh tra chuyên ngành Tài nguyên môi trường
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn chú ý và coi trọng công tác bảo vệ môi trường và đã chỉ rõ sự cần thiết phải tăng cường công tác đấu tranh phòng ngừa, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường
Đây là trách nhiệm không của riêng một lực lượng nào mà đó là trách nhiệm của toàn thể nhân dân Theo quy định tại Điều 121 và 122 Luật bảo vệ môi trường năm 2005, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về bảo vệ môi trường và có trách nhiệm phối hợp với thanh tra chuyên ngành của các Bộ, ngành hữu quan trong việc bảo vệ môi trường
Quy định này xuất phát từ đặc thù của hoạt động quản lý nhà nước về môi trường là hoạt động mang tính chất liên ngành, vì vậy nhất thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong quá trình tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về môi trường
Mối quan hệ của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường với các cơ quan, tổ chức liên quan (20)
- Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi chung là Thanh tra Bộ) chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ
(20) Điều 3 Nghị định 35/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/4/2009 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra tài nguyên và môi trường
Trang 32- Thanh tra Tổng cục Quản lý đất đai, Thanh tra Tổng cục Môi trường (sau đây gọi chung là Thanh tra Tổng cục) chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ của Thanh tra
Bộ
- Thanh tra Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (sau đây gọi chung là Thanh tra Cục) chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ của Thanh tra Bộ
- Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường (sau đây gọi chung là Thanh tra Sở) chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường; chịu
sự hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ thanh tra hành chính của Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và về công tác, nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ
- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan khác trong việc thực hiện quyền thanh tra và phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường
- Cơ quan công an, cơ quan thanh tra chuyên ngành và các cơ quan, tổ chức liên quan khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Thanh tra Tài nguyên và Môi trường trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường.(21)
Điều 2 Phần II Thông tư liên tịch số 02/2009/TTLT-BCA-BTNMT ngày
06 tháng 02 năm 2009 hướng dẫn quan hệ phối hợp công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường cũng quy định về việc phối hợp thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường cũng quy định về mối quan hệ giữa thanh tra chuyên ngành tài nguyên môi trường và lực lượng công an:
- Khi tổ chức các đoàn thanh tra về bảo vệ môi trường, cơ quan chuyên ngành Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, tùy từng trường hợp cụ thể đề nghị Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường, Giám đốc Công
Trang 33an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Công an cấp tỉnh) nơi tiến hành thanh tra, hỗ trợ phương tiện kỹ thuật cần thiết hoặc cử cán bộ tham gia Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường, Giám đốc Công an cấp tỉnh được đề nghị có trách nhiệm đáp ứng đầy đủ, kịp thời các đề nghị nêu trên
- Sau khi kết thúc thanh tra, cơ quan thanh tra chuyên ngành Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thông báo cho Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường, Giám đốc Công an cấp tỉnh nơi tiến hành thanh tra kết quả công tác thanh tra và kết quả phối hợp để rút kinh nghiệm
- Trong trường hợp cần thiết, để phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường, Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường, Giám đốc Công
an cấp tỉnh có thể đề nghị cơ quan thanh tra chuyên ngành Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường thành lập đoàn thanh tra liên ngành về bảo
vệ môi trường Cơ quan thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường được đề nghị có trách nhiệm phối hợp thực hiện
- Cơ quan quản lý nhà nước các cấp, cơ quan chuyên môn hữu quan có trách nhiệm giúp đỡ, phối hợp với thanh tra bảo vệ môi trường trong quá trình thanh tra, kiểm tra việc thực hiện bảo vệ môi trường trong trường hợp có yêu cầu.(22)
Trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động của Thanh tra Tài nguyên và Môi trường:
- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm xây dựng tổ chức, chỉ đạo hoạt động của Thanh tra Bộ; trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang phục và các điều kiện khác phục vụ hoạt động thanh tra; xử lý kịp thời các kết luận, kiến nghị của Thanh tra Bộ theo quy định của pháp luật
- Tổng cục trưởng, Cục trưởng có trách nhiệm xây dựng tổ chức, chỉ đạo hoạt động của Thanh tra Tổng cục, Thanh tra Cục; trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang phục và các điều kiện khác phục vụ hoạt động thanh tra; xử lý kịp thời các kết luận, kiến nghị của Thanh tra Tổng cục, Thanh tra Cục theo quy định của pháp luật
(21) Điều 4 Nghị định 35/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/4/2009 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra tài nguyên và môi trường
(22) Khoản 2 Điều 126 Luật bảo vệ môi trường 2005
Trang 34- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) có trách nhiệm xây dựng tổ chức, trang bị cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang phục cho Thanh tra Sở.
- Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo và bảo đảm điều kiện hoạt động cho Thanh tra Sở; xử lý kịp thời các kết luận, kiến nghị của Thanh tra Sở theo quy định của pháp luật
1.2.6 Sơ lược pháp luật về thanh tra và thanh tra môi trường
Sơ lược pháp luật thanh tra
Ngày 01/4/1990, Pháp lệnh Thanh tra - văn bản mang tính pháp lý cao được công bố Pháp lệnh Thanh tra quy định về hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Nhà nước, tổ chức Thanh tra nhân dân và trình tự thanh tra, Ủy ban Thanh tra Nhà nước được đổi thành Thanh tra Nhà nước
Trong cuốn sách “thuật ngữ pháp lý phổ thông” do Nhà xuất bản Pháp lý
in năm 1986, định nghĩa thanh tra được xem là một biện pháp (phương pháp) của kiểm tra Nhiệm vụ thanh tra được uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm Như vậy, thanh tra hẹp hơn kiểm tra Thanh tra gắn liền với chức năng pháp lý trong quản lý nhà nước
Nhiệm vụ của thanh tra cũng là kiểm tra nhưng chỉ kiểm tra quyền sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể có được thực hiện đúng, có được bảo vệ hay không, thẩm tra tính hợp pháp của các hoạt động kinh tế, tài chính, tính chính xác của các báo cáo thống kê của việc thanh lý tài sản tập thể…
Theo quan niệm như vậy, ngoài thanh tra chung còn có Thanh tra chuyên ngành mà nhiệm vụ là giám sát về mặt nhà nước việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý đã được giao cho một cơ quan chuyên môn, một tổ chức quản lý nhất định
Ví dụ, thanh tra việc tổ chức và quản lý đất đai, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản và sự an toàn trong lao động… Đây là một chức năng quan trọng của Thanh tra mà không một cơ quan nào của bộ máy quản lý nhà nước có thể thay thế được một cách đầy đủ
Thanh tra là một chức năng thiết yếu trong quản lý nhà nước, là phương tiện đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý Nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa và trách nhiệm của các cơ quan thực hiện chức
Trang 35năng quản lý Nhà nước: Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra việc thực hiện các quyết định của mình và thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch Nhà nước của
cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức hữu quan và cá nhân có trách nhiệm (gọi chung là cơ quan, tổ chức và cá nhân) nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm
vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân
Theo quy định trên, các cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra theo chức năng, nhiệm vụ quản lý được phân cấp Ðảm bảo sự chủ động trong hoạt động này, đồng thời cũng khẳng định vị trí và vai trò của công tác thanh tra trong hoạt động quản lý Nhà nước, ngay cả khi có tổ chức thanh tra hay không có tổ chức thanh tra
Pháp lệnh Thanh tra ra đời đã đáp ứng được đòi hỏi cấp bách lúc đó là giữ vững trật tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, đảm bảo cho quá trình đổi mới là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của
cơ quan tổ chức Pháp lệnh còn có ý nghĩa quan trọng góp phần thực thi có hiệu quả các Nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa VI vào cuối những năm 80
Trong xu thế phát triển chung của đất nước, từ đầu những năm 1990, hệ thống tổ chức Thanh tra bộ, ngành rất đa dạng và hình thành theo các nhóm, bao gồm Thanh tra ở các bộ, ngành quản lý theo ngành dọc như: Bộ Quốc phòng, Nội
vụ, Hải quan, Ngân hàng và Thống kê Các tổ chức thanh tra này chịu sự quản lý lãnh đạo song trùng của Thanh tra Nhà nước cấp trên và của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra được xác định theo thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp Tuy các tổ chức thanh tra bộ, ngành thuộc nhóm này được tổ chức tập trung hơn, song hoạt động vẫn còn hạn chế, nhất là đối với những nội dung thanh tra có liên quan đến trách nhiệm quản lý của bộ, ngành, các đơn vị trực thuộc Bộ
Trang 36Ngoài ra còn có các nhóm Thanh tra ở các bộ, ngành chưa quản lý theo ngành dọc và một số bộ, ngành có tổ chức Thanh tra chuyên ngành độc lập với Thanh tra bộ
Năm 2003, cơ cấu tổ chức của cơ quan Thanh tra cũng như chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nó lại một lần nữa được kiện toàn và bổ sung trên cơ
sở Nghị định số 46/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ Thêm vào đó,
hệ thống Thanh tra các bộ, ngành tiếp tục được kiện toàn và xây dựng về mặt tổ chức trên cơ sở các văn bản pháp lý
Đối với Thanh tra các địa phương, trước hết là Thanh tra các tỉnh tiếp tục
ổn định về tổ chức, đồng thời xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và phạm vi đối tượng hoạt động của Thanh tra theo cấp hành chính, chủ yếu là thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra
Tập trung phối hợp chương trình, kế hoạch công tác về thanh tra trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cấp và ngành, địa phương mình Thanh tra việc liên quan đến trách nhiệm của nhiều ngành, nhiều cấp trong phạm vi địa phương mình quản lý Các tổ chức Thanh tra quận, huyện và cấp tương đương được củng cố và kiện toàn thêm một bước
Trước đòi hỏi ngày càng tăng của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, trong xu thế toàn cầu hóa, vai trò và vị trí của ngành Thanh tra được Đảng và Nhà nước coi trọng
Ngày 16/6/2004, Quốc hội thông qua Luật Thanh tra và ngày 26/4/2004, Chủ tịch nước công bố Luật Thanh tra
Điều đó khẳng định tầm quan trọng của công tác thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng IX năm 2001 đề ra Luật Thanh tra là văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước đối với ngành Thanh tra gồm 5 chương, 70 điều quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, hệ thống tổ chức của ngành Thanh tra
Sự ra đời của Luật Thanh tra góp phần khắc phục sự hoạt động độc lập của các tổ chức thanh tra chuyên ngành với tổ chức Thanh tra nhà nước cấp Bộ đã tồn tại nhiều năm, gây những khó khăn, trở ngại cho Bộ trưởng, thủ trưởng ngành quản lý các hoạt động thanh tra, kiểm tra của Bộ Chỉ một năm sau khi Luật