1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT về hợp ĐỒNG THƯƠNG mại điện tử THỰC TRẠNG và PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

86 367 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật mẫu về chữ ký điện tử đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm đảm bảo độ an toàn cả về mặt kỹ thuật và pháp lý cho các giao dịch điện tử, cũng như giao kết hợp đồng TMĐT, quy định trách

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện

Phạm Mai Phương Đoàn Dương Khanh

MSSV: 5095334

Luật thương mại 1- K35

Cần Thơ, Tháng 04 năm 2013

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày…tháng…năm Giảng viên hướng dẫn

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày…tháng…năm Giảng viên hội đồng

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GDĐT Giao dịch điện tử LHQ Liên Hợp Quốc TMĐT Thương mại điện tử UNCITRAL Ủy ban Liên Hợp Quốc về

Luật thương mại quốc tế

Trang 5

Trang

Bảng 1.1 So sánh giữa hai cách mua hàng cũ và mới……… 11 Bảng 3.1 Các văn bản thuộc hệ thống Luật Giao dịch điện tử……….50 Bảng 3.2 Các văn bản thuộc hệ thống Luật Công nghệ thông tin……… 52

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 3

1.1 Khái niệm về thương mại điện tử 3

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử 5

1.2.1 Bối cảnh trên trường quốc tế 5

1.2.2 Đặc điểm về hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam 6

1.3 Các đặc trưng của thương mại điện tử 8

1.3.1 Các bên tiến hành giao dịch không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước 8

1.3.2 TMĐT tạo nên một thị trường thống nhất toàn cầu 8

1.3.3 TMĐT có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể 9

1.3.4 Trong TMĐT mạng lưới thông tin chính là thị trường 9

1.4 Lợi ích của thương mại điện tử 11

1.4.1 Lợi ích đối với doanh nghiệp tổ chức 11

1.4.2 Lợi ích đối với người tiêu dùng 13

1.4.3 Lợi ích đối với xã hội 13

1.5 Tác động của thương mại điện tử đến các hoạt động kinh doanh 14

1.5.1 Tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh 14

1.5.2 Tác động đến hoạt động marketing 14

1.5.3 Tác động đến hoạt động ngân hàng 15

1.5.4 Tác động đến các ngành khác 15

1.6 Cơ sở pháp lý liên quan đến thương mại điện tử 15

1.6.1 Quy định của pháp luật quốc tế 15

1.6.2 Quy định của pháp luật Việt Nam 17

1.7 Hợp đồng thương mại điện tử 18

Trang 7

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN

TỬ 24

2.1 Giao kết hợp đồng thương mại điện tử 24

2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại điện tử 25

2.1.2 Trình tự ký kết hợp đồng thương mại điện tử 26

2.1.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử 26

2.1.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử 28

2.1.3 Thời điểm giao kết và địa điểm giao kết hợp đồng thương mại điện tử 29

2.1.4 Lỗi kỹ thuật và chứng cứ về lỗi trong giao kết hợp đồng thương mại điện tử 32

2.2 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại điện tử 33

2.2.1 Chủ thể của hợp đồng 34

2.2.2 Hình thức hợp đồng 35

2.2.3 Nội dung hợp đồng 38

2.3 Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử 39

2.4 Chữ ký điện tử và giá trị pháp lý của chữ ký điện tử 41

2.4.1 Chữ ký điện tử 41

2.4.2 Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử 43

2.5 Giá trị pháp lý của hợp đồng thương mại điện tử 44

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 48

3.1 Thực trạng chung 48

3.1.1 Thực trạng khung pháp lý về luật thương mại điện tử và hợp đồng thương mại điện tử 48

3.1.2 Thực tiễn trong giao kết hợp đồng thương mại ở Việt Nam 52

3.2 Một số khó khăn, hạn chế và nguyên nhân tồn tại 55

3.2.1 Một số khó khăn và hạn chế trong ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử 55

3.2.2 Nguyên nhân của tồn tại trong ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử 59

3.3 Đề xuất và phương hướng hoàn thiện 60

3.3.1 Đề xuất đối với Nhà nước 60

3.3.1.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử và hợp đồng thương mại điện tử 60

Trang 8

3.3.1.3 Xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại phục vụ cho thương mại điện tử 64 3.3.1.4 Tăng cường hợp tác quốc tế để thúc đẩy việc ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử 64 3.3.2 Đề xuất đối với doanh nghiệp 65 3.3.2.1 Đối với những doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm trong giao kết hợp đồng điện tử 65 3.3.2.2 Đối với những doanh nghiệp đã có kinh nghiệm trong giao kết hợp đồng điện tử 67 3.3.3 Đề xuất đối với người tiêu dùng 69

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng về công nghệ thông tin đang phát triển với tốc độ nhảy vọt, trở thành một trong những động lực quan trọng của sự phát triển, làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội trên toàn thế giới Đứng trước tình hình đó, phương thức kinh doanh bằng hình thức giao dịch điện tử (GDĐT) đã xuất hiện như là một phương thức quan trọng giúp các quốc gia mở cửa hội nhập với nền kinh tế toàn cầu Với sự ra đời của thương mại điện tử (TMĐT), đặc biệt là hợp đồng TMĐT với các tính năng thuận lợi về không gian và thời gian, giúp các doanh nghiệp tăng lợi thế cạnh tranh, giảm chi phí kinh doanh, mở rộng thị trường, tăng khả năng tìm kiếm đối tác Đây có thể nói là một phương thức kinh doanh mới đầy tiềm năng trong hiện tại và tương lai

Với những lợi ích to lớn mà TMĐT mang lại, giúp con người thuận lợi hơn trong việc giao kết hợp đồng, đặc biệt là những hợp đồng vượt qua cả biên giới của một quốc gia, giờ đây không còn là trở ngại Hình thức TMĐT ngày nay càng được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới Để theo kịp sự phát triển đó, tháng 12 năm 1998 Bộ Thương mại đã thành lập ban TMĐT để từng bước nghiên cứu, chấp nhận loại hình kinh doanh này Sau đó, đến năm 2006 loại hình này mới thực sự được điều chỉnh bằng một văn bản có giá trị pháp lý cao, đó là Luật Giao dịch điện tử năm

2005 Có thể nói hợp đồng TMĐT còn khá mới ở Việt Nam nhưng với xu hướng phát triển nhanh chóng của nó thì việc hiểu đúng bản chất và các quy định của pháp luật về

nó là rất cần thiết Một trong những khâu quan trọng của hợp đồng TMĐT là giao kết hợp đồng Nếu thực hiện không tốt khâu giao kết hợp đồng thì có thể dẫn đến nhiều vấn đề phát sinh trong trong việc thực hiện, đảm bảo quyền lợi, lợi ích của các bên cũng như việc đảm bảo giá trị pháp lý của hợp đồng sau này Vì vậy, để hợp đồng có thể được thực hiện dễ dàng, thuận lợi cần phải có một khâu giao kết hợp đồng tốt, đúng pháp luật

Với những lý do trên, nhận thấy sự cần thiết cũng như những lợi ích và tầm quan trọng của hợp đồng TMĐT đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam Đồng thời, nhận thấy khung pháp lý về hợp đồng TMĐT còn nhiều quy định chưa được hoàn thiện thì việc nghiên cứu về hợp đồng TMĐT là cần thiết Với những

lý do đó, người viết chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử ở Việt

Trang 10

Nam Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” để làm luận văn tốt nghiệp cho bản thân

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Việc chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” nhằm những mục tiêu sau: Thứ nhất, dựa trên lý luận về hợp đồng nói chung và những quy định của pháp luật về GDĐT để tìm hiểu và làm rõ những vấn đề pháp lý về hợp đồng TMĐT Thứ hai, do các quy định của pháp luật về hợp đồng TMĐT hiện nay còn chưa được đầy đủ và hoàn thiện Vì vậy khi phát sinh ra những vấn đề pháp lý mà Luật còn chưa quy định cụ thể gây ra khó khăn, trở ngại cho việc giải quyết những vấn đề này Do đó, người viết sẽ dựa trên những quy định những quy định của pháp luật và thực tiễn trong hợp đồng TMĐT để tìm ra những quy định chưa phù hợp, những trường hợp luật chưa quy định để đưa ra những giải pháp, góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp đồng TMĐT

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến giao kết hợp đồng TMĐT, đó là các quy định về nguyên tắc giao kết, quy trình giao kết hợp đồng, điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, giải quyết tranh chấp hợp đồng…Từ đó, đề ra một số biện pháp, đề xuất nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về TMĐT nói chung và hợp đồng TMĐT nói riêng

4 Phương pháp nghiên cứu

Người viết áp dụng hai phương pháp chủ yếu để thực hiện đề tài là phương pháp thu thập dữ liệu, việc thu thập được thực hiện chủ yếu thông qua các website, sách, báo, tạp chí khoa học, các báo cáo, giáo trình, luận văn, luận án và các văn bản pháp luật có liên quan Sau đó, áp dung phương pháp phương tích, đánh giá và rút ra kết luận cũng như thể hiện quan điểm cá nhân

Trang 11

1.1 Khái niệm về thương mại điện tử

Từ khi các ứng dụng của Internet được khai thác nhằm phục vụ cho mục đích thương mại, có nhiều thuật ngữ khác nhau đã xuất hiện để chỉ các hoạt động kinh doanh điện tử trên Internet như: “Thị trường điện tử” (e-market); “kinh doanh điện tử” (e-business); “thương mại trực tuyến” (online trade); “thị trường ảo” (virtua market place); “thương mại điện tử” (e-commerce); “thương mại điều khiển học” (cybertrade)1 Nhưng trong đó thuật ngữ “thương mại điện tử” là thuật ngữ được dùng phổ biến trong các tài liệu của các tổ chức trong và ngoài nước cũng như trong các tài liệu nghiên cứu khác có liên quan

Về khái niệm TMĐT, trước hết cần phải biết thế nào là thương mại và hoạt động thương mại Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác TMĐT có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp dưới cái nhìn của nhiều tổ chức khác nhau

Theo nghĩa hẹp, Diễn đàn đối thoại xuyên Đại Tây Dương (1997) định nghĩa TMĐT là các giao dịch thương mại về hàng hóa và dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Theo APEC thì TMĐT là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số Năm 2000, theo cục thống kê Hoa Kỳ, TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào, thông qua một mạng máy tính làm trung gian, có bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sở hữu hàng hóa và dịch vụ Vậy TMĐT chỉ đơn thuần bó hẹp trong việc mua

1 TS Nguyễn Văn Minh – Trần Hoài Nam “ Giao dịch thương mại và một số vấn đề cơ bản” Nxb Chính trị quốc gia 2002, trang 39

Trang 12

bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là Internet

và các mạng liên thông khác

Theo nghĩa rộng, TMĐT là việc sử dụng các phương tiện điện tử để triển khai các hoạt động thương mại Nói cách khác, TMĐT là việc thực hiện các quy trình cơ bản và các quy trình khác của giao dịch thương mại bằng các phương tiện điện tử, cụ thể là trên mạng máy tính và viễn thông một cách rộng rãi, ở mức độ cao nhất có thể

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) định nghĩa TMĐT bao gồm việc quảng cáo, bán hàng, phân phối sản phẩm và thanh toán trên mạng Internet, được giao nhận trực tiếp hay giao nhận qua Internet dưới dạng số hóa

Liên minh Châu Âu thì cho rằng TMĐT là toàn bộ các giao dịch thương mại thông qua mạng viễn thông và các phương tiện điện tử, bao gồm TMĐT trực tiếp (trao đổi hàng hóa hữu hình) và TMĐT gián tiếp (trao đổi hàng hóa vô hình) Ngoài ra, TMĐT còn bao gồm chuyển tiền điện tử (electronic fund transnef – EFT), mua bán cổ phiếu điện tử (electronic share trading – EST), vận đơn điện tử (electronic bill of lading – E B/L), đấu giá thương mại (commercial auction), hợp tác thiết kế và sản xuất, tìm kiếm các nguồn lực trực tuyến, mua sắm trực tuyến, marketing trực tiếp, dịch

vụ khách hàng hậu mãi….2

Định nghĩa của Liên Hợp Quốc có lẽ là đầy đủ và bao quát nhất, nhằm giúp các nước có thể tham khảo làm chuẩn, tạo cơ sở xây dựng chiến lược phát triển TMĐT phù hợp Theo tổ chức này, TMĐT phản ánh theo chiều ngang là việc thực hiện toàn

bộ các hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử; phản ánh theo chiều dọc bao gồm cơ sở hạ tầng cho

sự phát triển TMĐT, các thông điệp, các quy tắc cơ bản và đặc thù, các ứng dụng

Luật mẫu về thương mại điện tử (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce, 1996) định nghĩa TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch Từ “thương mại” không chỉ bao hàm nghĩa buôn bán hàng hóa và dịch vụ theo cách hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng hơn, bao gồm các vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại

Ở Việt Nam, không có một định nghĩa chính thức và cụ thể nào trong các văn bản pháp luật Luật GDĐT Việt Nam được ban hành năm 2005 không có khái niệm về

Trang 13

TMĐT mà chỉ có khái niệm giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử3

Phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện

tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây4….Từ đó, có thể thấy TMĐT trong luật Việt Nam có phạm vi rất rộng, không chỉ trong hoạt động kinh doanh thương mại mà

cả trong dân sự, hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước Với cách tiếp cận theo nghĩa rộng thì TMĐT đã tồn tại và được ứng dụng từ rất lâu thông qua các phương tiện điện thoại, fax, truyền hình…Nhiều ứng dụng của TMĐT áp dụng ngày nay như rút tiền qua ATM, giao dịch đối tác qua fax, email…

Tóm lại, TMĐT là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để thực hiện các hoạt động thương mại, trong đó thông điệp dữ liệu là những thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử

1.2.1 Bối cảnh trên trường quốc tế

Sự hình thành và phát triển của thương mại điện tử gắn liền với sự ra đời và phát triển của Internet Tuy nhiên, vào những năm 60 của thế kỷ XX, việc trao đổi dữ liệu điện tử và thư tín điện tử (e-mail) đã được nhiều doanh nghiệp trên thế giới thực hiện trên các mạng nội bộ (internet) của mình Cũng trong khoảng thời gian này, việc

tự động hóa trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính bắt đầu hình thành và phát triển, chẳng hạn như quá trình xử lý sec ra đời vào những năm 60 của thế kỷ XX, tiếp theo là quá trình xử lý thẻ tín dụng và chuyển tiền điện tử Tiếp đó là sự ra đời của các trạm giao dịch tự động cho phép khách hàng có thể thực hiện giao dịch và truy nhập trực tiếp tới các thông tin về tài khoản của mình Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhiều hệ thống giao dich tự động được đưa vào hoạt động với việc sử dụng các thiết bị giao dịch tự động (ATMs–Automatic Teller Machines) và các thiết bị bán hàng tự động (Foint-of-Sale machines) Khái niệm chuyển tiền số hóa hay chuyển tiền điện tử giữa các ngân hàng và các tổ chức tài chính ra đời và phát triển cho đến ngày nay5

Sang những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, khi máy tính cá nhân được sử dụng rộng rãi không những ở công sở mà cả ở gia đình nhiều tổ chức tài chính đã mở rộng các công nghệ và mang đến cho khách hàng ngày càng nhiều dịch vụ trên cơ sở

sử dụng máy tính cá nhân cả ở công sở và ở gia đình Để tăng nguồn thu nhập, các tổ

3 Khoản 6 điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005

4

Khoản 10 điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005

5 TS Nguyễn Văn Minh – Trần Hoài Nam “ Giao dịch thương mại và một số vấn đề cơ bản” Nxb Chính trị quốc gia 2002, trang 37

Trang 14

chức tài chính luôn nghiên cứu và áp dụng nhiều phương tiện giao dịch thời hạ thấp chi phí dịch vụ, rút ngắn thời gian giao dịch của khách hàng Chính sự cạnh tranh trong việc phát triển công nghệ TMĐT và các công nghệ trong dịch vụ đối với khách hàng là động lực thúc đẩy hoạt động TMĐT ngày càng phát triển

Cùng với xu hướng đó là sự vận động từ Liên Hợp Quốc nhằm loại bỏ những rào cản hiện có đối với việc sử dụng ngày càng nhiều hơn nữa các phương tiện điện tử thay thế cho các phương thức giao dịch, lưu trữ bằng giấy mực truyền thống Bằng cách ủy quyền cho Ủy ban LHQ về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) là cơ quan có nhiệm vụ thúc đẩy tiến trình hòa hợp, thống nhất luật Thương mại quốc tế và quan tâm đến lợi ích xã hội, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển Vào ngày 16/12/1996, lần đầu tiên đạo luật mẫu điều chỉnh trên phạm vi rộng ở cấp độ quốc tế

đã được ban hành, sau đó được bổ sung 5 điều 1998 với tên gọi “Đạo luật mẫu về

Thương mại điện tử” Một trong số các vấn đề được đề cập trong Đạo luật về TMĐT

là vấn đề chữ ký, mà theo đó việc sử dụng chữ ký điện tử thay cho một số chức năng

cơ bản của chữ ký truyền thống (ký tên, đóng dấu, dán tem, đục lỗ ) vẫn còn gặp nhiều trở ngại pháp lý

Đến năm 2001, UNCITRAL ban hành “Đạo luật mẫu về chữ ký điện tử”, theo

đó khuyến khích các quốc gia đã chấp thuận Đạo luật mẫu về TMĐT nay tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy định về chữ ký điện tử Tiếp tục dựa trên những nền tảng được xây dựng trong Đạo luật mẫu về TMĐT 1996, LHQ đã cho ra đời công ước đầu tiên áp dụng việc sử dụng TMĐT khi giao kết hợp đồng vào ngày 23/11/2005

Như vậy, bằng cách khởi xướng việc thành lập một Đạo luật mẫu đầu tiên về TMĐT và sau này trở thành nguồn cơ bản cho các quy định khác điều chỉnh cho từng lĩnh vực cụ thể, đã tạo một khung pháp lý chung cho các chủ thể tham gia vào một phương thức mới tiện lợi, tiết kiệm và an toàn trên diện rộng Không những thế, với sự tham gia của hầu hết các nước thành viên của LHQ đã mở ra một cơ hội cho các doanh nghiệp nội địa tiếp cận với những tiến bộ mới từ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà sau này là lực lượng nòng cốt trong việc phát triển hoạt động TMĐT

1.2.2 Đặc điểm về hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam

Đối với Việt Nam, khái niệm TMĐT còn rất mới và chỉ thật sự tạo thành một

xu hướng vào giai đoạn đầu những năm 1998 – 2000, khi mà bắt đầu có sự xuất hiện của hệ thống mạng Intrenet, nhưng lại được chấp nhận đầu tiên từ khu vực kinh doanh các trò chơi giải trí chứ không phải xuất phát từ khu vực các ngành công nghiệp, là nơi

Trang 15

sản sinh ra hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử Các trò chơi giải trí đã tạo ra một làn sóng lôi cuốn tầng lớp thanh thiếu niên với mục đích ban đầu là giải trí đơn thuần nhưng nhanh chóng mở ra một khó khăn mới cho giới làm luật về việc xác định và giải quyết các vấn đề phát sinh từ “quyền sở hữu tài sản ảo”

Đến đầu năm 2000 khi mà lên mạng Internet trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt của giới trẻ thì cũng là lúc hàng loạt các trung tâm dạy nghề giới thiệu các khóa học về TMĐT Từ đó phản ánh một thực tế là xã hội đang dần chú ý vào sự có mặt của việc kinh doanh trên mạng Điều này càng được phản ánh rõ hơn nữa khi xuất hiện các trang web cá nhân, mà thông dụng ở Việt Nam là Blog Yahoo,

đã tạo cơ hội cho các bạn trẻ với mong muốn thử sức mình tham gia vào một hoạt động sơ khai nhất của nền kinh tế TMĐT là “bán hàng qua mạng”

Tuy nhiên hoạt động TMĐT ở Việt Nam nhìn ở một góc cận cảnh vẫn còn khó tồn tại và kém phát triển vì các lý do sau:

Thứ nhất, như đã phân tích trên, khái niệm TMĐT và các biểu hiện của nó tại Việt Nam không hình thành từ hoạt động công nghiệp mà thay vào đó lại được chấp nhận trước từ giới trẻ và các trò chơi giải trí Việc sử dụng các yếu tố kỹ thuật điện tử chỉ dừng lại ở mức độ tự phát, quy mô nhỏ lẻ và đa số chỉ phục vụ mục đích cá nhân thay vì các hoạt động giao dịch thương mại kinh tế

Thứ hai, nhìn chung Việt Nam còn đi theo hướng phát triển theo hướng thương mại truyền thống và hệ thống cơ sở hạ tầng chưa phát triển đủ lớn để phục vụ cho nhu cầu giao dịch TMĐT Đồng thời, tâm lý người Việt Nam do thiếu trình độ tri thức còn chưa hiểu biết hết được giao dịch TMĐT nên đa số người dân Việt Nam còn ngại và thường giao dịch, mua bán theo kiểu truyền thống thay vì TMĐT (TMĐT nhanh và tiện lợi hơn)

Thứ ba, là các liên quan về cơ sở pháp lý còn chưa được hoàn thiện và chặt chẽ Mặc dù trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về lĩnh vực TMĐT nhưng vẫn còn nhiều sơ hở chưa quy định làm cho luật thiếu tính chặt chẽ và rõ ràng, tạo hàng rào ngăn cản cho cá nhân và các doanh nghiệp tham gia giao dịch TMĐT Vì vậy việc tạo lập khung pháp lý phù hợp để tạo lập một môi trường kinh doanh lành mạnh là rất cần thiết

Qua đó, ta có thể thấy được đặc điểm về hoạt động TMĐT ở Việt Nam là các

mô hình hoạt động còn nhỏ lẻ và không ổn định, quá trình phát triển còn chưa lâu nhưng biểu hiện thì vô cùng đa dạng và phức tạp, hệ thống thanh toán điện tử của TMĐT còn chưa phát triển, không thống nhất nhưng đang dần có xu hướng hợp nhất

Trang 16

(thông qua việc liên kết giữa các tổ chức phát hành thẻ ATM), cơ sở hạ tầng sử dụng mạng chưa đồng bộ và chi phí sử dụng còn cao

1.3 Các đặc trưng của thương mại điện tử

So với các hoạt động thương mại truyền thống, TMĐT có một số đặc điểm khác biệt cơ bản sau đây:

1.3.1 Các bên tiến hành giao dịch không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước

Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý như chuyển tiền, sec hóa đơn, vận đơn gửi báo cáo Các phương tiện viễn thông như: fax, telex…chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch Từ khi xuất hiện mạng máy tính

mở toàn cầu Internet thì việc trao đổi thông tin không chỉ giới hạn trong quan hệ giữa các công ty và doanh nghiệp, mà các hoạt động thương mại đa dạng đã mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới với số lượng người tham gia ngày càng tăng Những người tham gia là cá nhân hoặc doanh nghiệp, có thể đã biết hoặc hoàn toàn chưa biết bao giờ

Hiện nay, trong nền kinh tế số, thông tin được số hóa thành các byte (đơn vị lưu trữ dữ liệu trong máy tính), lưu trữ trong các máy vi tính, phương tiện điện tử và truyền qua mạng với tốc độ nhanh hơn rất nhiều Chính điều này tạo ra những khả năng hoàn toàn mới làm thay đổi thói quen tiêu dùng và mua bán của con người, theo

đó người bán hoặc người mua hàng có thể giao dịch với đối tác ở bất kỳ đâu trên thế giới, mà không cần qua khâu trung gian hỗ trợ của bất kỳ công ty thương mại nào Đây

là điều mà thương mại truyền thống không có được, TMĐT cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất

cả mọi người ở khắp nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau

1.3.2 TMĐT tạo nên một thị trường thống nhất toàn cầu

Các giao dịch trong thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, nghĩa là các giao dịch đó chỉ được thực hiện trong một lãnh thổ quốc gia Trong khi đó, TMĐT được thực hiện trong một thị trường không có biên giới, một cá nhân (tổ chức) ở quốc gia này có giao dịch thương mại với một cá

Trang 17

nhân (tổ chức) ở quốc gia khác, TMĐT trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu

TMĐT càng phát triển thì máy tính cá nhân trở thành cửa sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới Không chỉ các công ty hàng đầu thế giới mới có thể tiếp cận những thị trường mới, mà ngay cả một công ty vừa mới khởi nghiệp cũng

có thể có một mạng lưới tiêu thụ và phân phối không biên giới ngay đầu ngón tay của mình, một công việc trước kia phải mất rất nhiều năm

Sang thế kỷ XXI, bất cứ người dân nào là người tiêu dùng, các nhà kinh doanh nhỏ hay chủ tịch công ty lớn đều sẽ có thể mở rộng công việc giao dịch của mình tới những nơi xa xôi nhất mà thương mại truyền thống khó có thể làm được, ở đâu có Internet thì ở đó có thể giao dịch TMĐT được Toàn cầu hóa, tự do hóa mậu dịch là con đường nhanh chóng đưa các quốc gia và các doanh nghiệp thay đổi theo hướng cạnh tranh quốc tế trên phạm vi toàn cầu, kể cả việc giành lấy các thị trường nước ngoài, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và các đối tác thương mại

1.3.3 TMĐT có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể

Nếu như trong thương mại truyền thống có sự tham gia của ít nhất là hai chủ thể thì trong TMĐT, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống, đã xuất hiện một bên thứ ba với vai trò hỗ trợ Đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực….Các chủ thể này có nhiệm vụ chuyển đi, lưu trữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch, cũng như xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT

1.3.4 Trong TMĐT mạng lưới thông tin chính là thị trường

Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với TMĐT mạng lưới thông tin chính là thị trường Thông qua TMĐT, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành Ví dụ: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các trung gian ảo làm các dịch vụ môi giới, trọng tài cho giới kinh doanh và tiêu dùng; các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy tính

Theo một số chuyên gia về kinh doanh trên mạng, chính những tính năng dễ sử dụng và hình thức vui mắt, dễ hiểu của các trang web dành cho TMĐT là những yếu tố quyết định trong việc thu hút khách hàng Nhiều trang web nổi tiếng đã trở thành các khu chợ khổng lồ trên Internet Trên đó, khách hàng có thể lựa chọn với hàng ngàn sản phẩm phong phú và đa dạng mà không cần phải đến nơi bán, và với mỗi lần nhấp

Trang 18

chuột, vài thao tác đơn giản là khách hàng có thể mua được hàng Vì vậy, tỷ lệ khách hàng vào thăm và mua hàng trên các trang web là rất cao

Để dễ hình dung những điểm tương đồng và khác biệt giữa TMĐT và thương mại truyền thống, xin đưa ra một ví dụ minh họa sau đây Giả sử bạn vào siêu thị để mua một số đồ dùng và thức ăn Bạn có thể đã tham khảo chất lượng, kích cỡ, màu sắc, giá cả những mặt hàng bạn định mua ở nhiều cửa hàng và siêu thị khác nhau trước

đó Khi đã quyết định chọn mua một mặt hàng nào đó, bạn đặt nó trong xe chở hàng và tiếp tục đi chọn mua các mặt hàng khác, tại các quầy hàng khác Khi chọn hàng xong, bạn mang toàn bộ các mặt hàng đã chọn đến quầy tính tiền, thanh toán bằng tiền mặt hoặc bằng thẻ tín dụng TMĐT sử dụng phương pháp mô phỏng quá trình mua sắm thông thường như vậy để thiết kế quá trình phục vụ mua sắm trên mạng Bạn có thể viếng thăm các quầy hàng trên mạng, chọn các mặt hàng ưng ý và đưa vào một “xe đẩy” ảo Khi đã hoàn tất giao dịch, bạn cần cung cấp cho trang mua địa chỉ gửi hàng

và số thẻ tín dụng của bạn (nếu có)

Sau đây là bảng so sánh các bước thực hiện giao dịch giữa thương mại truyền thống và TMĐT6

Trang 19

Bảng 1.1 So sánh giữa hai cách mua hàng cũ và mới

Các bước của chu trình

Thu thập thông tin về sản

phẩm Tạp chí, sách báo, catalogue…

Trang web

Viết phiếu yêu cầu mua

hàng Các biểu mẫu in sẵn, thư

E mail

Kiểm tra khả năng cung

ứng hàng và giá cả

Điện thoại, fax

Tạo đơn đặt hàng Dạng mẫu in sẵn E mail, trang web

Gửi và nhận đơn đặt hàng Fax, thư E mail, trao đổi dữ liệu

điện tử Sắp sếp ưu tiên các đơn đặt

hàng

CSDL trực tuyến

Kiểm kê hàng tồn Mẫu in sẵn, điện thoại, fax CSDL trực tuyến

Lập lịch xuất hàng Mẫu in sẵn E mail, CSDL trực tuyến Viết hóa đơn xuất kho Mẫu in sẵn CSDL trực tuyến

Nhận hàng Phương tiện vận chuyển

Thông báo nhận đủ hàng Mẫu in sẵn E mail

Gửi, nhận hóa đơn Bưu điện E mail

Định lịch thanh toán Mẫu in sẵn EDI, CSDL trực tuyến Thanh toán Trực tiếp, chuyển khoản EDI, EFT (chuyển khoản

điện tử)

1.4 Lợi ích của thương mại điện tử

1.4.1 Lợi ích đối với doanh nghiệp tổ chức

Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại truyền

thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới Việc mở rộng mạng lưới nhà cung cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn và bán được nhiều sản phẩm hơn

Trang 20

Giảm chi phí sản xuất: Giảm chi phí giấy tờ, giảm chi phí chia sẻ thông tin, chi

phí in ấn, gửi văn bản truyền thống

Cải thiện hệ thống phân phối: Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân

phối hàng Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng, ví dụ ngành sản xuất ô tô (công ty Ford Motor) tiết kiệm được chi phí hàng tỷ USD từ giảm chi phí lưu kho

Vượt giới hạn về thời gian: Việc tự động hóa các giao dịch thông qua Web và

Internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện 24/7/365 mà không mất thêm nhiều chi phí biến đổi

Sản xuất hàng theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược kéo”

lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng Một ví dụ thành công điển hình là Dell Computer Corp

Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế và giá

trị mới cho khách hàng Mô hình của Amazon.com, mua hàng theo nhóm hay đấu giá nông sản qua mạng đến các sàn giao dịch B2B (giữ doanh nghiệp với doanh nghiệp) là điển hình của những thành công này

Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả năng

phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường

Củng cố quan hệ khách hàng: Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua mạng,

quan hệ với trung gian và khách hàng được củng cố dễ dàng hơn Đồng thời việc cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với khách hàng và củng

cố lòng trung thành

Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ, giá cả đều

có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời

Chi phí đăng ký kinh doanh: Một số nước và khu vực khuyến khích bằng cách

giảm hoặc không thu phí đăng ký kinh doanh qua mạng Thực tế, việc thu nếu triển khai cũng gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù của Internet

Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất lượng

dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa các quy trình giao dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ; tăng khả năng tiếp cận thông tin và giảm chi phí vận chuyển; tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt động kinh doanh

Trang 21

1.4.2 Lợi ích đối với người tiêu dùng

Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao: Khách hàng có thể dễ dàng

tìm kiếm các thông tin liên quan đến sản phẩm dịch vụ, cần mua, kể cả thông tin đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh

Đáp ứng mọi nhu cầu: TMĐT cho phép người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn

về sản phẩm và dịch vụ vì tiếp cận nhiều cung cấp hơn

Vượt giới hạn về không gian và thời gian: Cho phép khách hàng mua sắm mọi

lúc, mọi nơi Khách hàng có thể ngồi ở nhà và mua hàng trên phương tiện điện tử bất

kỳ giờ nào trong ngày

Giá thấp hơn: Do thông tin phong phú, khách hàng có thể so sánh giá cả giữa

các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ đó tìm được mức giá phù hợp nhất

Giao hàng nhanh hơn với các sản phẩm số hóa: Việc giao hàng các sản phẩm

số hóa như phim, nhạc, sách, phần mềm được thực hiện dễ dàng thông qua Internet

Cộng đồng mạng: TMĐT cho phép mọi người tham gia có thể phối hợp, chia sẻ

thông tin và kinh nghiệm hiệu quả, nhanh chóng

1.4.3 Lợi ích đối với xã hội

Mặc dù lúc đầu chỉ là một hiện tượng kinh tế thì nay TMĐT đã trở thành một

bộ phận của quá trình cải biến xã hội rộng lớn hơn nhiều trên nền tảng của xu thế toàn hóa, của quá trình dịch chuyển tới nền kinh tế dựa trên cơ sở tri thức và thông tin, với công nghệ cao (công nghệ sinh học, công nghệ thông tin ) biến chuyển nhanh chóng, thời gian từ nghiên cứu đến ứng dụng ngày càng rút ngắn Có ít nhất hai yếu tố xã hội dùng để xem xét trình độ phát triển và hiệu quả của TMĐT Thứ nhất là khả năng liên kết bởi TMĐT, các điều kiện và hiệu quả (như thu nhập, thời gian) và thứ hai là niềm tin

Các điều kiện sử dụng Internet và mạng máy tính ảnh hưởng tới mức độ chấp nhận TMĐT của xã hội và của nền kinh tế, đặc biệt là các điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển Các nghiên cứu được tiến hành ở nhiều nước cho thấy có sự liên hệ tích cực giữa sử dụng công nghệ thông tin (sử dụng máy tính và Internet) và thu nhập Nói chung người có sử dụng công nghệ thông tin có thu nhập cao hơn so với người không sử dụng hoặc ít sử dụng công nghệ thông tin, ngược lại những người có thu nhập cao hơn thường sử dụng máy tính và Internet thường xuyên hơn những người có thu nhập thấp TMĐT giúp giảm

Trang 22

thời gian giao dịch, dẫn tới một số thay đổi quan trọng trong hoạt động kinh tế và xã hội

Hoạt động trực tuyến: Đối với một nước, TMĐT được xem là động lực kích

thích phát triển nghành công nghệ thông tin và các ngành công nghiệp liên quan TMĐT còn tạo môi trường làm việc, mua sắm, giao dịch từ xa nên góp phần làm giảm việc đi lại, ô nhiễm, tai nạn

Nâng cao mức sống: Nhiều nhà hàng, nhiều nhà cung cấp tạo áp lực giảm giá,

dẫn đến khả năng mua sắm của khách hàng cao hơn, góp phần nâng cao mức sống cho mọi người

Lợi ích cho các nước nghèo: Các nước nghèo có thể tiếp cận tốt hơn các sản

phẩm, dịch vụ, đồng thời có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng từ những nước phát triển thông qua Internet và TMĐT

Dịch vụ công được cung cấp thuận tiện hơn: Khi TMĐT phát triển, tất yếu các

dịch vụ công như giáo dục, y tế, dịch vụ công của chính phủ cũng sẽ phát triển phổ biến theo

1.5 Tác động của thương mại điện tử đến các hoạt động kinh doanh

1.5.1 Tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh

Các doanh nghiệp lớn nhờ ứng dụng TMĐT có thể giảm đáng kể chi phí sản xuất Mặt khác, cùng với sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh TMĐT hoàn toàn mới thì các mô hình kinh doanh truyền thống cũng bị áp lực phải tự đổi mới Xin đưa

ra một ví dụ minh họa cho việc phá vỡ những giới hạn về không gian và thời gian phục

vụ của một siêu thị truyền thống và siêu thị trực tuyến: Một siêu thị lớn ngoài thị trường có thể bày bán đến 1000 mặt hàng và một người muốn lựa chọn hàng chưa chắc có thể đi hết siêu thị này; trong khi đó một siêu thị trực tuyến có thể bày 10.000 mặt hàng và không làm tổn hao sức lực của khách hàng khi muốn tìm kiếm mặt hàng mình thích như siêu thị truyền thống

1.5.2 Tác động đến hoạt động marketing

Nghiên cứu thị trường: TMĐT không những giúp nâng cao hoàn thiện, các hoạt động nghiên cứu thị trường truyền thống mà còn tạo ra các hoạt động mới giúp nghiên cứu thị trường thuận tiện và hiệu quả hơn Các hoạt động thu thập thứ cấp qua mạng, phỏng vấn trực tuyến, khảo sát bằng bảng câu hỏi qua công cụ webbased tiện lợi, số lượng lớn, xử lý nhanh và chính xác hơn

Trang 23

Hành vi khách hàng: do đặc thù của môi trường kinh doanh mới, hành vi của khách hàng trong TMĐT thay đổi nhiều hơn so với trong thương mại truyền thống Các giai đoạn xác định nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá, lựa chọn, hành động mua và phản ứng sau khi mua hàng đều bị tác động bởi Internet và web

Phân khúc thị trường và chọn thị trường mục tiêu: Các tiêu chí để lựa chọn thị trường mục tiêu tuổi tác, giới tính, khu vực địa lý, giáo dục, mức thu nhập được bổ sung bởi các tiêu chí đặc thù khác của TMĐT như mức độ truy cập Internet, sử dụng thư điện tử, các dịch vụ trên web

Định vị sản phẩm: Các tiêu chí để định vị sản phẩm như giá rẻ nhất, chất lượng tốt nhất, phân phối nhanh nhất được bổ sung thêm các tiêu chí riêng có của TMĐT như phân phối nhiều sản phẩm nhất và đáp ứng nhu cầu đa dạng nhất

là tiền mặt mà là một thông báo xác định rằng tiền đã sẵn sàng có thể rút được Trong bối cảnh như thế, các ngân hàng truyền thống sẽ mất đi lợi thế và tất yếu phải tiến hành cải tổ triệt để

1.5.4 Tác động đến các ngành khác

Các mô hình kinh doanh vận tải, bảo hiểm, du lịch, giáo dục cũng thay đổi dưới tác động của TMĐT Đối với hoat động ngoại thương, do đặc thù của Internet là toàn cầu hóa rất phù hợp với các giao dịch thương mại quốc tế, TMĐT có những tác động hết sức mạnh mẽ Mọi hoạt động trong quy trình kinh doanh quốc tế đều chịu tác động của TMĐT

1.6 Cơ sở pháp lý liên quan đến thương mại điện tử

1.6.1 Quy định của pháp luật quốc tế

Luật mẫu về TMĐT: Vào 12 tháng 6 năm 1996, tại phiên họp thứ 29 của Đại

hội đồng Liên Hiệp quốc, Ủy ban LHQ về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) đã thông qua Luật mẫu về TMĐT Đây được xem là đạo luật mẫu đầu tiên về TMĐT,

Trang 24

hình thành những quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý cho các tổ chức, cá nhân mong muốn tham gia TMĐT Luật mẫu có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo cho các nước trong quá trình xây dựng pháp luật về TMĐT của mình Tinh thần của luật mẫu là đảm bảo những giao dịch TMĐT được thừa nhận giá trị pháp lý và nếu cần thiết thì sẽ có những hành động thích hợp để tăng cường khả năng thi hành cho những giao dịch bằng phương tiện điện

tử

Luật mẫu về TMĐT gồm 2 phần và 17 điều khoản Việc UNCITRAL thông qua Luật mẫu về TMĐT đã tạo điều kiện giúp đỡ tất cả các quốc gia trên thế giới hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình về sử dụng các phương tiện truyền và lưu giữ thông tin mới thay thế cho các tài liệu bằng giấy và ban hành các đạo luật còn thiếu trong lĩnh vực TMĐT

Luật mẫu về chữ ký điện tử: Ngày 05 tháng 7 năm 2001, UNCITRAL đã

thông qua Luật mẫu về Chữ ký điện tử và sách huớng dẫn về việc áp dụng Mục đích của việc ban hành Luật mẫu thứ hai này là nhằm hướng dẫn các quốc gia thành viên trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về chữ ký điện tử, góp phần hài hòa pháp luật quốc tế về lĩnh vực này Luật mẫu về chữ ký điện tử đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm đảm bảo độ an toàn cả về mặt kỹ thuật và pháp lý cho các giao dịch điện tử, cũng như giao kết hợp đồng TMĐT, quy định trách nhiệm của các bên có liên quan, từ đó đem lại sự tin tưởng khi sử dụng các kỹ thuật về chữ ký điện tử trong các giao dịch điện tử và góp phần pháp triển TMĐT

Tuy nhiên, nếu so sánh về số lượng các nước xây dựng pháp luật trên cơ sở tham khảo Luật mẫu, thì có thể nói Luật mẫu về Chữ ký điện tử không có nhiều thành công như Luật mẫu về Thương mại điện tử Điều này được thể hiện là nhiều nước, ví

dụ như các nước thành viên Liên minh Châu Âu đã xây dựng một hệ thống luật pháp hướng theo Chỉ thị về Chữ ký điện tử ngày 13/12/1999 của ủy ban Châu Âu Đến nay, UNCITRAL chỉ tổng kết đuợc 4 nước đã ban hành luật dựa trên Luật mẫu về Chữ ký điện tử là: Thái Lan, Việt Nam, Mêhicô và Trung Quốc

Công ước Liên hợp quốc về sử dụng thông tin điện tử trong hợp đồng quốc tế (2005): công ước được hoàn tất và ban hành vào ngày 23/11/2005 sau khi được Đại

hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước này bao gồm các điều khoản quy định về những vấn đề liên quan đến hợp đồng điện tử nhằm mục đích tăng cuờng tính an toàn pháp lý và khả năng tiên lượng trong thương mại khi mà các giao dịch hợp đồng quốc

tế được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử

Trang 25

Cho đến nay, nhiều quốc gia đã tham gia ký kết Công ước này như: Cộng hòa Trung Phi, Li Băng, Madagasca, Sê-nê-gan, Trung Quốc, Sierra Leone, Singapore và Sri Lanca

Việt Nam chúng ta mặc dù chưa gia nhập Công ước này, nhưng một số nội dung của Công ước đã được Việt Nam tiếp nhận và quy định trong Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9/6/2006 về Thương mại điện tử

1.6.2 Quy định của pháp luật Việt Nam

TMĐT là một lĩnh vực còn rất mới mẻ đầy tiềm năng trong tương lai Tuy nhiên ở Viêt Nam hiện nay cả về cơ sở kỹ thuật và khung pháp lý quy định về hoạt động TMĐT vẫn còn nhiều tồn tại, thiếu sót Đến nay Việt Nam đã ban hành Luật Giao dịch điện tử 2005 (trên cơ sở Đạo luật mẫu về TMĐT 1996 và Đạo luật mẫu về chữ ký điện tử 2001 của UNCITRAL) và Luật Công nghệ thông tin 2006 (có hiệu lực ngày 1/1/2007)

Với sự ra đời của Luật GDĐT 2005 nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các giao dịch điện tử trong lĩnh vực dân sự, thương mại và hành chính Dự luật này đề cập một khía cạnh quan trọng trong pháp luật về TMĐT, đó là thừa nhận giá trị pháp lý của hình thức giao dịch bằng thông điệp dữ liệu Luật Công nghệ thông tin quy định chung về hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin cùng các biện pháp đảm bảo hạ tầng công nghệ Đồng thời, trong một số văn bản pháp lý chuyên ngành khác cũng lồng những quy định thừa nhận các giá trị pháp lý của TMĐT như Luật Thương mại

2005 quy định “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ

bằng phương tiện điện tử” 7 Bộ luật Dân sự 2005 cũng có những quy định về hình thức hợp đồng điện tử trong các giao dịch dân sự, Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung 2009) cũng quy định một số tội phạm pháp luật liên quan đến TMĐT như tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết

bị số8; tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet9…

Ngoài ra Nhà nước còn ban hành một số văn bản dưới luật quy định về hoạt động TMĐT Điển hình là Nghị định 57/2006/NĐ-CP về Thương mại điện tử trong lĩnh vực thương mại Trong năm 2007, Chính phủ đã ban hành liên tiếp ba nghị định quan trọng Đó là Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật GDĐT

về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số, Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về

7

Khoản 5 điều 3 Luật Thương mại 2005

8 Điều 225 BLHS (sửa đổi bổ sung 2009)

9

Trang 26

GDĐT trong hoạt động tài chính, Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về GDĐT trong hoạt động ngân hàng Tiếp đó, đầu quý hai Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 63/2007/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin và Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Đến năm 2008, tiếp tục ban hành Thông tư 09/2008/TT-BCT

về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử

Nhiều văn bản chuyên ngành đã được ban hành Chẳng hạn, trong lĩnh vực ngân hàng là các Quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về Quy chế cấp phát, quản lý và sử dụng chữ ký số và chứng thực chữ ký điện tử trong ngành ngân hàng; Quy trình cấp phát, quản lý và sử dụng chứng chỉ số của Ngân hàng Nhà nước; Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng; Thông tư sửa đổi Thông tư số 09/2003/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số quy định tại Nghị định số 55/2001/NĐ-CP cho phù hợp với Luật GDĐT 2005 và các nghị định hướng dẫn thi hành Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 20/2007/QĐ- TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Trong lĩnh vực tài chính và hải quan, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan đã ban hành các Quyết định về Quy định về thí điểm thủ tục hải quan điện tử; Quy trình thủ tục hải quan điện tử; Quy chế áp dụng quản lý rủi ro trong thí điểm thủ tục hải quan điện tử; Quy chế công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng trong hoạt động hải quan Đồng thời, nhằm tháo gỡ những trở ngại liên quan tới chứng từ điện tử trong hoạt động bán vé máy bay điện tử, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 18/2007/QĐ-BTC về việc in, phát hành, sử dụng và quản lý vé máy bay điện tử Trong lĩnh vực thương mại là Quyết định số 018/2007/QĐ-BTM về việc ban hành Quy chế cấp chứng nhận xuất xứ điện tử

Với sự công nhận giá trị pháp lý của chứng từ điện tử pháp luật Việt Nam đã tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh TMĐT có nền tảng cơ sở để phát triển

1.7 Hợp đồng thương mại điện tử

1.7.1 Khái niệm hợp đồng thương mại điện tử

Hiện nay, trong pháp luật Việt Nam chưa có quy định chính xác, rõ ràng về khái niệm của hợp đồng thương mại điện tử Theo quy định tại điều 388 của BLDS

2005 “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm

dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Trong Luật thương mại 2005 quy định tại khoản 1 điều 3

“Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng

Trang 27

hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”

Gần hơn nữa, ta có khái niệm về hợp đồng điện tử được quy định cụ thể tại điều

33 của luật GDĐT 2005 “ Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu” Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được

nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử10, mà phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự11

Như vậy hợp đồng điện tử trước hết là một dạng hợp đồng, công cụ pháp lý để ràng buộc quyền và nghĩa vụ các bên ký kết hợp đồng điện tử cũng như hợp đồng truyền thống là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm tiến hành một công việc nhất định

Do đó, tuy Luật GDĐT Việt Nam hiện hành không phân biệt hợp đồng điện tử

có tính thương mại với hợp đồng điện tử không có tính thương mại (hợp đồng điện tử

dù có tính thương mại hay phi thương mại, cũng đều có thể được thực hiện bằng các phương tiện điện tử) nhưng qua phân tích trên, ta có thể nhận ra điểm khác biệt giữa hợp đồng điện tử mang tính thương mại với hợp đồng điện tử mang tính phi thương mại là thể hiện ở mục đích giao kết của chúng Từ đó, cho thấy hợp đồng TMĐT là hợp đồng điện tử được giao kết nhằm mục đích thu lợi nhuận, còn hợp đồng điện tử không mang tính thương mại là hợp đồng điện tử được giao kết nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của cá nhân, tổ chức và mang tính phi lợi nhuận

Từ các phân tích trên, ta có thể tóm lại đơn giản hợp đồng TMĐT là hợp đồng được sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa

vụ dân sự, được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu, để thực hiện các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi

Hiện nay, trên thế giới pháp luật nhiều nước cũng không phân biệt rõ hợp đồng điện tử với hợp đồng thương mại điện tử Đây là lĩnh vực còn rất mới mẻ cả về phương tiện công nghệ kỹ thuật lẫn cơ sở pháp lý, quy định của pháp luật

1.7.2 Đặc điểm của hợp đồng thương mại điện tử

Ngoài một số đặc điểm giống với hợp đồng truyền thống (chủ thể tham gia, mục đích ký kết xác lập sinh lợi, hợp đồng không được trái với pháp luật) thì hợp đồng TMĐT cũng có một số đặc điểm riêng biệt

10 Mục 12 điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005

11

Trang 28

Tính phi biên giới: trong giao kết hợp đồng điện tử ở phạm vi quốc tế, kể cả

giao dịch dân sự đến giao dịch TMĐT, các bên thực hiện việc truyền các thông tin, dữ liệu thông qua một hệ thống mạng mang tính toàn cầu Vì vậy, hợp đồng TMĐT có thể nói không có khái niệm biên giới Một cá nhân hay một tổ chức, dù ở đâu, ở một địa phương trong một quốc gia hay ở phạm vi quốc tế và dù ở thời điểm nào cũng có thể giao dịch với một đối tác khác ở bất kỳ nơi đâu mà không gặp trở ngại nào Việc xác định vị trí, địa điểm, nơi mà người nào tiến hành giao dịch trở nên khó khăn hơn so với hợp đồng truyền thống, thậm chí đôi khi là không thể thực hiện được Điều này sẽ gây

ra rất nhiều vấn đề phức tạp khi phải xác định địa điểm giao kết hợp đồng TMĐT, đặc biệt khi phải giao kết với thương nhân nước ngoài

Tính vô hình, phi vật chất: môi trường điện tử là một môi trường số hóa, môi

trường ảo nên các hợp đồng điện tử mang tính vô hình, phi vật chất Hợp đồng điện tử tồn tại, được chứng minh, được lưu trữ bởi các dữ liệu điện tử, vì thế ta không thể sờ

mó, cầm nắm một cách vật chất được Tính vô hình và phi vật chất này khiến cho việc xác định một số yếu tố của hợp đồng trở nên khác xa so với các hợp đồng truyền thống Ví dụ như vấn đề bản gốc, xác định chữ ký của hai bên, vấn đề bằng chứng của hợp đồng để làm cơ sở pháp lý tranh tụng trước tòa án

Tính hiện đại, chính xác: tính hiện đại của hợp đồng được thể hiện ở chỗ, hợp

đồng TMĐT được giao kết dựa trên việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, là kết quả của sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ trong thời đại hiện nay Đó là các công nghệ điện tử, kỹ thuật số, từ tính quang học, các công nghệ truyền dẫn không dây Việc sử dụng các công nghệ này đem lại độ chính xác cao và tiết kiệm thời gian cho các giao dịch Có những giao dịch mà tất cả các bước đều được tự động hóa như quy trình tự động để mua hàng Hợp đồng điện tử với tính hiện đại và chính xác như vậy sẽ là phương thức giao dịch mới, hiệu quả cho các chủ thể pháp luật nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trong nền kinh tế tri thức và trong điều kiện toàn cầu hóa

và trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế

Tính rủi ro: cũng giống như hợp đồng truyền thống phương thức giao kết hợp

đồng TMĐT cũng có những rủi ro nhất định Ngày nay, với sự phát triển kinh ngạc của TMĐT, người ta cũng đang phải đối mặt với những rủi ro phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng TMĐT, mà nguyên nhân phát sinh những rủi ro đó là do chính tính vô hình và tính hiện đại về mặt kỹ thuật của hợp đồng TMĐT mang lại

Trong một môi trường ảo, đôi khi rất khó khăn để xác định năng lực pháp lý của đối tác giao kết hợp đồng, xác định xem đơn đặt hàng trên Internet là đơn đặt hàng

Trang 29

bảo bằng chứng về hợp đồng trong trường hợp xảy ra tranh chấp cũng là điều không đơn giản Làm thế nào để có được một chữ ký điện tử đáng tin cậy? Làm thế nào để bảo mật hợp đồng TMĐT và chữ ký điện tử? Làm thế nào để hạn chế rủi ro chống phá

sự tấn công của các “hacker” Đó là những câu hỏi làm đau đầu không chỉ những nhà kinh doanh mà còn cả những nhà làm luật khi GDĐT phát triển tầm quốc tế Trên thực

tế, nhiều người đã phải chịu thiệt hại do những rủi ro này mang lại Nhiều khách hàng

bị mất tiền do việc bảo mật không tốt thẻ tín dụng, nhiều doanh nghiệp không lấy được tiền hàng do bị giả mạo chữ ký điện tử, nhiều vụ tranh chấp rơi vào bế tắc khi cơ quan giải quyết tranh chấp không tìm được cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi của các bên có lợi ích bị xâm phạm

Luật điều chỉnh: phức tạp và chưa giải quyết hết các vấn đề phát sinh Những

đặc điểm riêng biệt của hợp đồng TMĐT so với hợp đồng truyền thống khiến cho luật điều chỉnh hợp đồng TMĐT cũng khác biệt so với hợp đồng truyền thống Người ta thường không thể dùng pháp luật được xây dựng để điều chỉnh việc giao kết và thực hiện hợp đồng truyền thống làm cơ sở pháp lý giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc giao kết hợp đồng TMĐT Pháp luật hợp đồng truyền thống chưa đề cập đến các vấn

đề như thông điệp dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử, chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử và cùng với chúng là những hành vi gian lận Vì vậy, chưa thể giải quyết vấn

đề rất đặc thù phát sinh từ việc giao kết và thực hiện hợp đồng TMĐT

Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế, một vấn đề thường phát sinh khi nghiên cứu nội dung pháp luật điều chỉnh việc giao kết hợp đồng điện tử trong kinh doanh quốc tế, đó là vấn đề luật áp dụng cho hợp đồng TMĐT mang yếu tố quốc tế Vấn đề là ở chỗ, nguyên tắc tự do hợp đồng cho phép các bên trong hợp đồng kinh doanh quốc tế, dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử, được quyền thỏa thuận, lựa chọn thống nhất luật áp dụng mà các bên cho là thích hợp để điều chỉnh hợp đồng của mình Tuy nhiên, nếu các bên không thống nhất được vấn đề này thì việc xác định luật nào sẽ áp dụng đối với hợp đồng sẽ trở nên khó khăn Với các hợp đồng TMĐT được giao kết giữa các quốc gia khác nhau cũng như vậy, mặc dù trong TMĐT không có ranh giới quốc gia, các giao dịch được tiến hành trên thị trường phi biên giới Song trên thực tế, sẽ có những giao dịch mà chủ thể ở các nước khác nhau, và các chủ thể này có quốc tịch khác với nơi họ cư trú hoặc nơi họ đặt trụ sở kinh doanh Ví dụ một thương nhân Pháp cư trú tại Việt Nam, đặt hàng qua Internet với công ty Nhật đang kinh doanh tại Mỹ, hàng hóa được vận chuyển từ Singapore sang Việt Nam Vậy một giao dịch như vậy có thể được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật khác nhau

Trang 30

Trong những trường hợp như vậy, việc xác định áp dụng pháp luật quốc gia nào điều chỉnh hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài là hết sức phức tạp

Rõ ràng, những quy định về giao kết về hợp đồng TMĐT không thể giống quy định về hợp đồng thương mại truyền thống Chính vì vậy, luật điều chỉnh hợp đồng TMĐT trong đó có những quy định hướng dẫn giao kết hợp đồng TMĐT cũng sẽ phải

có những điểm riêng biệt nhất định không chỉ các doanh nghiệp mà cả các nhà làm luật cũng phải nắm bắt để vận dụng, thực thi

1.7.3 Vai trò của hợp đồng thương mại điện tử

Ngày nay nhờ có sự hỗ trợ của Internet, hợp đồng TMĐT đem đến rất nhiều lợi ích cho con người Đồng thời, đóng vai trò quan trọng là một phần không thể thiếu trong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới

Hợp đồng TMĐT giúp các bên giao kết tiết kiệm thời gian đàm phán, giao kết hợp đồng: khi sử dụng hợp đồng TMĐT một điều rất dễ nhận ra là, nếu các bên

đều đồng ý thì thời gian giao kết hợp đồng diễn ra rất nhanh, không làm tốn nhiều thời gian của người giao kết Trong khi đó, đối với hợp đồng truyền thống phải diễn ra bằng giấy trắng mực đen thì thời gian là không ngắn Các cuộc điều tra cho thấy 80% thời gian để ký kết hợp đồng sẽ được tiết kiệm nếu như sử dụng hợp đồng TMĐT

Các doanh nghiệp giảm được chi phí, giao dịch bán hàng: chỉ bằng vài thao

tác trên máy tính, một nhân viên tại văn phòng có thể giao dịch cùng lúc với nhiều khách hàng ở nhiều nơi, bất kỳ ở nơi đâu, trong lãnh thổ quốc gia hoặc cả trên thế giới Như vậy, các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí không hề nhỏ khi giao kết hợp đồng TMĐT

Sử dụng hợp đồng TMĐT giúp đẩy nhanh tốc độ hóa đối với việc mua bán một số sản phẩm và dịch vụ:

Đối với giao dịch buôn bán hàng hóa vật chất và dịch vụ thông thường Trong nhóm này, Internet được sử dụng như một phương tiện cho các giao dịch chào hàng, chấp nhận chào hàng, giao kết hợp đồng, thậm chí cả thanh toán nhưng việc giao hàng

và dịch vụ tới khách hàng vẫn phải được thực hiện một cách vật chất thông qua những phương tiện truyền thống Giao dịch TMĐT thuộc nhóm này có sự kết hợp giữa quy trình giao dịch truyền thống với quy trình GDĐT Giao dịch TMĐT thuộc nhóm này phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi họ chưa đủ điều kiện để thực hiện toàn

bộ quy trình giao kết TMĐT

Đối với giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ số hóa Trong nhóm này,

Trang 31

dịch vụ đều được thực hiện thông qua việc truyền các thông điệp dữ liệu đã được số hóa Giao dịch TMĐT thuộc nhóm thứ hai này sẽ được thực hiện theo quy trình TMĐT một cách toàn diện Công nghệ thông tin ngày càng hiện đại, xâm nhập vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội và cho đời một sản phẩm đặc thù là sản phẩm số Đây là các sản phẩm phi vật thể như chương trình phần mềm, sách điện tử, phim truyện và các sản phẩm này khi mua bán có thể giao hàng qua mạng Thực chất của việc mua bán, trao đổi các sản phẩm này là trao đổi dung liệu hàng hóa Đối với việc giao dịch mua bán các sản phẩm đặc thù này, hợp đồng TMĐT sẽ là phương thức phù hợp, tiện lợi và nhanh chóng nhất

Giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: trong bối cảnh nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh chóng và

sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thế giới diễn ra ngày càng ác liệt, việc tìm kiếm được nhiều đối tác khách hàng, tìm kiếm được nhiều thị trường mới, tổ chức được một khâu giao dịch nhanh chóng, linh hoạt là những lợi thế không thể thiếu đối với một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển theo kịp với thị trường thế giới TMĐT nói chung và hợp đồng TMĐT nói riêng chính là cầu nối dẫn các doanh nghiệp đến với những cơ hội, thử thách cũng như giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà năng lực cạnh tranh là yếu

tố hàng đầu của nền kinh tế hiện đại

Tóm lại việc tiết kiệm thời gian, chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng như đã phân tích ở trên là yếu tố quan trọng làm giảm chi phí kinh doanh nói chung của doanh nghiệp, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp TMĐT nói chung và hợp đồng TMĐT nói riêng đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế thế giới

Trang 32

CHƯƠNG 2:

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Ở chương này, người viết tập trung nghiên cứu đến vấn đề liên quan đến hợp đồng điện tử nói chung và hợp đồng TMĐT nói riêng Bao gồm các vấn đề liên quan đến chủ thể, hình thức, nội dung hợp đồng, điều kiện đảm bảo an toàn (chữ ký điện tử, thông điệp dữ liệu…) của hợp đồng TMĐT, giao kết hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng TMĐT

2.1 Giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Giao kết hợp đồng là thuật ngữ được Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 sử dụng để chỉ việc ký kết hợp đồng Hợp đồng là việc tự do thỏa thuận giữa các bên tham gia bằng ý chí của họ, hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu12 Hợp đồng TMĐT thường được ký kết mà các bên tham gia ký kết không gặp mặt trực tiếp mà thông qua sự trợ giúp của phương tiện điện tử, vì vậy việc thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng được quy định như thế nào? Phương thức giao dịch qua phương tiện điện tử liệu có đảm bảo an toàn? Để hướng dẫn vấn đề này, Luật GDĐT 2005 quy định về giao kết hợp đồng tại điều 36 như sau:

“1 Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng;

2 Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu”

Như vậy, giao kết hợp đồng TMĐT có thể hiểu là quá trình đàm phán, thương thảo, tạo lập và ký kết hợp đồng thông qua việc trao đổi các dữ liệu điện tử Hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động và một cá nhân hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau, không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện Các hợp đồng được giao kết như vậy sẽ được lưu trữ một phần hoặc toàn bộ ở dạng dữ liệu điện tử Trên thực tế việc giao kết hợp đồng điện tử có thể đơn giản chỉ là một người tiêu dùng thực hiện một giao dịch nhỏ lẽ thông qua phương tiện điện tử như đặt mua một quyển sách, vật dụng sinh hoạt…trên trang web của một doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa trên mạng Hợp đồng TMĐT

Trang 33

cũng có thể được giao kết giữa các doanh nghiệp với nhau để thực hiện giao dịch, trao

đổi nhằm bán hoặc mua hàng hóa dịch vụ nhằm mục đích thương mại

2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Như đã trình bày, hợp đồng TMĐT cũng là một dạng hợp đồng nói chung Vì vậy khi ký kết hợp đồng TMĐT, các bên phải nắm được nguyên tắc ký kết hợp đồng nói chung và đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc được quy định riêng dành cho hợp đồng TMĐT Nguyên tắc giao kết hợp đồng nói chung được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005, điều 389 đưa ra hai nguyên tắc là nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội và nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Đây là hai nguyên tắc cơ bản, quan trọng chi phối việc giao kết mọi loại hợp đồng; dù là hợp đồng truyền thống hay hợp đồng điện tử; hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại; hợp đồng trong nước hay hợp đồng có yếu tố nước ngoài… Bên cạnh đó, cũng cần phải lưu ý rằng, khi ký kết hợp đồng thương mại, các bên cũng phải tuân thủ sáu nguyên tắc được quy định trong Luật Thương mại năm 2005 từ điều 10 đến điều 15 Đó là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại; nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại; nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên; nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt đông thương mại; nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng và cuối cùng là nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định hai nguyên tắc cơ bản chi phối, điều chỉnh trong lĩnh vực hợp đồng dân sự và sáu nguyên tắc của Luật Thương mại chi phối trong đối với hợp đồng thương mại (từ điều 10 đến điều 15) Đặc biệt là điều 15 Luật Thương mại 2005 nêu rõ nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu

trong hoạt động thương mại Theo đó, “Trong hoạt động thương mại, các thông điệp

dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản” Vì vậy khi giao kết hợp

đồng thương mại điện tử, các bên giao kết cần phải nắm vững tất cả các nguyên tắc trên nhằm đảm bảo tính hiệu lực pháp lý của hợp đồng TMĐT

Ngoài ra, trong Luật GDĐT 2005 cũng quy định các nguyên tắc cơ bản khi tiến hành ký kết hợp đồng, giao dịch điện tử Cụ thể là ở điều 5 và điều 35 của Luật GDĐT

2005 Trong đó, điều 5 quy định nguyên tắc chung khi tiến hành GDĐT là tự nguyện lựa chọn sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch; tự thỏa thuận về việc lựa chọn loại công nghệ để thực hiện giao dịch; không một loại công nghệ nào được xem

Trang 34

là duy nhất trong GDĐT; đảm bảo sự bình đẳng và an toàn trong GDĐT; bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức cá nhân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; GDĐT của cơ quan Nhà nước phải tuân theo các nguyên tắc quy định của Luật GDĐT13 Điều 35 cũng quy định nguyên tắc khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện

tử là các bên tham gia có quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử; khi giao kết

và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận về yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện đảm bảo tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử

đó

Qua sự trình bày ở trên cho thấy tính đặc thù và sự phức tạp của việc ký kết hợp đồng TMĐT Rõ ràng, nếu các chủ thể giao kết hợp đồng TMĐT không có sự am hiểu

về kỹ thuật, công nghệ thì sẽ rất khó hiểu hết ý nghĩa của các nguyên tắc trên để không

vi phạm pháp luật khi giao kết hợp đồng thương mại điện tử

2.1.2 Trình tự ký kết hợp đồng thương mại điện tử

Bất kỳ một hợp đồng nào (từ hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại…) khi ký kết cũng đều phải theo một trình tự giao kết nhất định: bên đề nghị giao kết soạn thảo đề nghị giao kết hợp đồng, gửi đề nghị giao kết hợp đồng cho bên được đề nghị, cuối cùng là bên được đề nghị giao kết trả lời đề nghị giao kết hợp đồng Nếu bên được đề nghị không chấp nhận đề nghị giao kết thì chưa pháp sinh thành lập hợp đồng, còn nếu bên được đề nghị chấp nhận đề nghị thì phát sinh thành lập một hợp đồng và dẫn tới các bên ký kết hợp đồng Ngoài thủ tục và quy trình chung, việc ký kết hợp đồng TMĐT cũng có những thủ tục và quy trình riêng Do đó khi ký kết hợp đồng TMĐT các chủ thể phải nghiên cứu những quy định chung về quy trình ký kết hợp đồng TMĐT

Về trình tự giao kết hợp đồng TMĐT, các bên phải tuân theo những quy định

về đề nghị giao kết hợp đồng (chào hàng) và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (chấp nhận chào hàng) như đối với việc giao kết truyền thống Tuy nhiên, khác với hợp đồng truyền thống việc gửi và nhận một chào hàng hoặc một chấp nhận chào hàng được thể hiện dưới hình thức một thông điệp dữ liệu, các bên ký kết không gặp trực tiếp nhau mà chủ yếu sử dụng quy trình trao đổi dữ liệu điện tử

2.1.2.1 Đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Như đã trình bày ở phần trên một hợp đồng được ký kết thành công bao giờ cũng phải có một trình tự nhất định, hợp đồng là kết quả của sự thống nhất ý chí của các bên mà chính xác là một bên đưa ra đề nghị giao kết và bên kia chấp nhận đề nghị

Trang 35

đó Trong hợp đồng TMĐT, có nhiều trường hợp các bên ký kết mà không hề gặp mặt nhau, trong trường hợp này các bên thể hiện sự thống nhất ý chí của mình thông qua trao đổi email, thư từ trên mạng mà theo khoa học pháp lý chúng được gọi là trao đổi

đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Đề nghị giao kết hợp đồng TMĐT cũng giống như đề nghị giao kết hợp đồng truyền thống, là thủ tục đầu tiên của quá trình đàm phán để tiến tới thỏa thuận ký kết hợp đồng Theo phương thức hợp đồng truyền thống, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005

quy định cụ thể về đề nghị giao kết hợp đồng tại khoản 1 điều 390 “Đề nghị giao kết

hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đã đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể” Từ quy định này ta có

thể thấy, đề nghị đó phải được gửi cho bên xác định được mà bên xác định được có thể

là một người hay cả một nhóm người Tiếp theo, điều luật trên thể hiện ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị Có thể hiểu ngầm rằng ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị giao kết hợp đồng được thể hiện ở chỗ, trong lời đề nghị giao kết hợp đồng bên đề nghị có quy định những điều khoản của hợp đồng Trên cơ sở các điều khoản này có thể xác định được những quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực do bên đề nghị ấn định hoặc nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị14 Và bên được đề nghị được coi là đã nhận được đề nghị giao kết khi: đề nghị được chuyển đến nơi cư trú nếu bên được đề nghị là cá nhân, được chuyển đến trụ sở nếu bên được đề nghị là pháp nhân; đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác15

Trong pháp luật TMĐT, không có quy định cụ thể về đề nghị giao kết hợp đồng

điện tử Luật GDĐT 2005 chỉ quy định “Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các

bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu” 16

Như vậy có thể hiểu, đề

nghị giao kết hợp đồng điện tử về mặt hình thức giống như hợp đồng truyền thống, chỉ khác là đề nghị đó được thực hiện qua thông điệp dữ liệu mà thông điệp dữ liệu thì có giá trị pháp lý như văn bản17 Như đã nói, đề nghị giao kết hợp đồng phải xác định được bên nhận cụ thể, trường hợp nếu không xác định được bên nhận cụ thể thì được

14 Khoản 1 điều 391 Bộ luật Dân sự 2005

15

Khoản 2 điều 391 Bộ luật Dân sự 2005

16 Khoản 2 điều 36 Luật Giao dịch điện tử 2005

17

Trang 36

xem là thông báo đề nghị giao kết hợp đồng Trường hợp này được Nghị định 57/2006

về Thương mại điện tử quy định “Một thông báo bằng chứng từ điện tử về đề nghị

giao kết hợp đồng mà không có bên nhận cụ thể thì chưa được coi là đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên thông báo chỉ rõ trong thông báo đó trách nhiệm của mình trong trường hợp nhận được trả lời chấp nhận” (điều 12) Ngoài ra, trong trường hợp

giao kết thông qua các hệ thống thông tin, một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng

và bên được đề nghị có thể tiếp cận được đề nghị đó thì trong khoảng thời gian hợp lý bên đưa ra đề nghị phải cung cấp cho bên được đề nghị chứng từ điện tử hoặc các chứng từ liên quan khác chứa những nội dung của hợp đồng Các chứng từ này phải thỏa mãn điều kiện lưu trữ và sử dụng được18

Trong TMĐT còn có loại hình giao kết hợp đồng trên website trực tuyến Đối với loại hình mua bán trực tuyến này, các thông tin trên website chỉ là thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng được quy định tại thông tư 09/2008/TT-BCT hướng dẫn nghị định về Thương mại điện tử19 Khoản 5 mục II của thông tư 09 cũng quy định về đề

nghị giao kết hợp đồng của khách hàng “Chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và

gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến được xem là đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ gắn kèm chức năng đặt hàng trực tuyến đó” Như vậy, trong hợp đồng TMĐT khi mua bán trực tuyến trên website

thì khách hàng (bên mua) là người đề nghị giao kết hợp đồng, các thông tin trên website của các thương nhân (bên bán) kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chỉ là thông báo

về đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân, còn khi khách hàng xác nhận thông tin

và đồng ý mua thì đó mới là đề nghị giao kết hợp đồng do bên mua (khách hàng) đưa

ra Đây là điểm khác biệt so với hợp đồng truyền thống (bên bán là bên đề nghị giao kết hợp đồng)

2.1.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Khi người đề nghị đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng thì người được đề nghị phải trả lời đề nghị giao kết hợp đồng đó Điều 396 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005

định nghĩa “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị

đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị” và đúng thời hạn

được bên đề nghị quy định hay do pháp luật quy định (điều 397 Bộ luật Dân sự Việt

18 Điều 14 Nghị định 57/2006/NĐ-CP về Thương mại điện tử

19 Khoản 4 mục II.Thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân

Nếu một website thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến cho từng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể được giới thiệu trên website đó, thì các thông tin giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ và các điều khoản liên quan

Trang 37

Nam 2005)20 Như vậy chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí của người được đề nghị về việc đồng ý ký hợp đồng trên cơ sở những điều kiện quy định trong đề nghị giao kết hợp đồng Bên được đề nghị có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị Sự trả lời phải rõ ràng và không thể thay đổi bất cứ một điều kiện nào của đề nghị giao kết hợp đồng Sự trả lời được coi là chấp nhận nếu như nó thể hiện được sự đồng ý với đề nghị của người đề nghị Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể bị hủy bỏ nếu thông báo về việc chấp nhận tới trước hoặc cùng thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận đề nghị

Đối với hợp đồng mua bán trực tuyến trên website thương mại điện tử thì trong trường hợp chấp nhận giao kết hợp đồng là do bên bán đưa ra Khi khách hàng (bên mua) là người đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng thì người bán là người có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận lời đề nghị đó Khi trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng thì bên bán phải cung cấp đầy đủ thông tin về hàng hóa, thời hạn giao hàng, thông tin liên hệ khi cần thiết (nếu chấp nhận) và phải nêu rõ lý do trong trường hợp trả lời không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (khoản 6 mục II thông tư 09/2008/TT-BCT)21

2.1.3 Thời điểm giao kết và địa điểm giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 quy định chung về thời điểm giao kết và địa điểm giao kết hợp đồng Về địa điểm giao kết hợp đồng dân sự do các bên thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì địa điểm giao kết là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết (điều 403) Còn thời điểm giao kết là thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết (khoản 1 điều 404) Đó là những quy định chung và cơ bản đối với hợp đồng truyền thống và hợp đồng TMĐT Tuy nhiên,

20 Điều 397.Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng

1 Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời

Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị

2 Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận về thời hạn trả lời

21 Khoản 6 mục II.Trả lời đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng

a) Khi trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, thương nhân phải cung cấp cho khách hàng những thông tin sau:

- Danh sách toàn bộ hàng hóa hoặc dịch vụ khách hàng đặt mua, số lượng, giá của từng sản phẩm và tổng giá trị hợp đồng;

- Thời hạn giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ;

- Thông tin liên hệ để khách hàng có thể hỏi về tình trang thực hiện hợp đồng khi cần thiết

b) Trả lời không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải nêu rõ lý do

c) Trả lời đề nghị giao kết hợp đồng phải được thực hiện dưới hình thức phù hợp để thông tin có thể lưu trữ,

in ấn được tại hệ thống thông tin của khách hàng và hiển thị được về sau

Trang 38

do tính chất và đặc thù riêng của hợp đồng TMĐT nên thời điểm và địa điểm giao kết của hợp đồng TMĐT còn được quy định riêng trong Luật GDĐT 2005 và Nghị định 57/2006/NĐ-CP về Thương mại điện tử

Luật GDĐT 2005 có những điều khoản quy định về gửi, nhận thông điệp dữ liệu hay chính là gửi, nhận đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng Thời điểm và địa điểm gửi, nhận một thông điệp dữ liệu có ý nghĩa rất quan trọng đối với hợp đồng TMĐT Chẳng hạn thời điểm nhận một chấp nhận chào hàng được xem

là thời điểm hợp đồng được giao kết, kể từ thời điểm này hợp đồng phát sinh hiệu lực Tại điều 17 và điều 19 của Luật GDĐT 2005 xác định thời điểm, địa điểm gửi nhận một thông điệp dữ liệu Cụ thể như sau:

Thời điểm gửi và nhận thông điệp dữ liệu: Thời điểm gửi một thông điệp dữ

liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiểm soát của người khởi tạo

- Thời điểm nhận một thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu nhập vào hệ thống thông tin được chỉ định nếu người nhận đã chỉ định một hệ thống thông tin để nhận thông điệp dữ liệu Trường hợp người nhận không chỉ định một hệ thống thông tin nhận thông điệp dữ liệu thì thời điểm nhận thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu đó nhập vào bất kỳ hệ thống thông tin nào của người nhận

Địa điểm gửi và nhận thông điệp dữ liệu: Địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là

trụ sở của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú của người khởi tạo nếu người khởi tạo là cá nhân Trường hợp người khởi tạo có nhiều trụ

sở thì địa điểm gửi thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch

- Địa điểm nhận thông điệp dữ liệu là trụ sở của người nhận nếu người nhận là

cơ quan, tổ chức hoặc nơi cư trú thường xuyên của người nhận nếu người nhận là cá nhân Trong trường hợp người nhận có nhiều trụ sở thì địa điểm nhận thông điệp dữ liệu là trụ sở có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch

Nghị định 57/2006/NĐ-CP về Thương mại điện tử cũng đưa ra những quy định

về thời điểm và địa điểm gửi và nhận thông điệp dữ liệu nhằm giúp các bên tham gia hợp đồng xác định được chính xác thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng Cụ thể điều 11 quy định:

“1 Thời điểm gửi một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó rời khỏi hệ thống thông tin dưới sự kiểm soát của người khởi tạo hay đại điện của người

Trang 39

kiểm soát của người khởi tạo hay đại diện của người khởi tạo, thời điểm gửi là thời điểm nhận được chứng từ điện tử

2 Thời điểm nhận một chứng từ điện tử là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử đó tại một địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra Thời điểm nhận một chứng từ điện tử ở một địa chỉ điện tử khác của người nhận là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử tại địa chỉ này và người nhận biết rõ chứng

từ điện tử đã được gửi tới địa chỉ này

Người nhận được coi là có thể truy cập được một chứng từ điện tử khi chứng từ điện tử đó tới được địa chỉ điện tử của người nhận

3 Địa điểm kinh doanh của người khởi tạo được coi là địa điểm gửi chứng từ điện tử và địa điểm kinh doanh của người nhận được coi là địa điểm nhận chứng từ điện tử

4 Khoản 2 Điều này áp dụng trong cả trường hợp khi địa điểm của hệ thống thông tin hỗ trợ địa chỉ điện tử có thể khác với địa điểm chứng từ điện tử được coi là nhận được theo khoản 3 Điều này”

Địa điểm gửi, nhận chào hàng và chấp nhận chào hàng trong giao kết hợp đồng TMĐT đối với hợp đồng TMĐT là địa điểm kinh doanh của các bên Các quy định về địa điểm kinh doanh của các bên được quy đinh tại điều 4 Nghị định 57/2006/NĐ-CP

về Thương mại điện tử22

Đối với hợp đồng TMĐT mua bán trực tuyến trên website thương mại điện tử

thì “Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm khách hàng nhận được trả lời của

thương nhân chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” (khoản 8 mục II Thông tư

09/2008/TT-BCT hướng dẫn nghị định thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết trên website thương mại điện tử)

22 Điều 4 Địa điểm kinh doanh của các bên

1 Địa điểm kinh doanh của mỗi bên là địa điểm do bên đó chỉ ra, trừ khi bên khác nêu rõ bên đó không có địa điểm kinh doanh tại địa điểm này

2 Trong trường hợp một bên có nhiều địa điểm kinh doanh nhưng không chỉ ra địa điểm kinh doanh nào thì địa điểm kinh doanh là địa điểm có mối quan hệ mật thiết nhất với hợp đồng liên quan xét tới mọi bối cảnh trước

và tại thời điểm giao kết hợp đồng

3 Trong trường hợp cá nhân không có địa điểm kinh doanh thì địa điểm kinh doanh là nơi cư trú của cá nhân

đó

4 Một địa điểm không được coi là địa điểm kinh doanh nếu địa điểm đó chỉ là nơi đặt máy móc, thiết bị công nghê của hê thống thông tin do một bên sử dụng để giao kết hợp đồng, hoặc chỉ là nơi các bên khác có thể truy cập hệ thống thông tin đó

5 Một đia danh gắn với tên miền hay địa chỉ thư điện tử của một bên không nhất thiết liên quan tới địa điểm kinh doanh của bên đó

Trang 40

Khác với trường hợp gửi nhận văn bản hoặc các hình thức truyền thống khác, việc gửi nhận thông điệp dữ liệu có thể tiến hành hoàn toàn tự động (không có người khởi tạo và người nhận trực tiếp) Chính vì thế mà Luật GDĐT 2005 quy định tại điều

20 để xác định việc gửi và nhận một thông điệp dữ liệu, địa điểm và thời điểm gửi nhận thông điệp dữ liệu trong trường hợp này bằng cách dẫn chiếu các quy định đã nói

ở trên 23

Trong lĩnh vực thương mại, hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động và một cá nhân, hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau, không bị phủ nhận giá trị pháp lý vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay hợp đồng được giao kết24

2.1.4 Lỗi kỹ thuật và chứng cứ về lỗi trong giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Ngày nay, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của Internet thì việc giao kết hợp đồng trên mạng Internet ngày càng phổ biến và thông dụng Trong hợp đồng TMĐT khi mà các bên tham gia không gặp mặt trực tiếp mà chỉ giao kết bằng thông điệp dữ liệu thông qua phương tiện điện tử thì khi xảy ra lỗi nhập sai thông tin thì các bên tham gia làm cách nào khắc phục được khi họ không thể gặp mặt trực tiếp được Như vậy, pháp luật quy định như thế nào về lỗi nhập sai thông tin trong giao kết hợp đồng TMĐT Luật Công nghệ thông tin năm 2006 quy định tại điều về việc cung cấp thông tin cho việc giao kết hợp đồng trên môi trường mạng như sau:

“1 Trừ trường hợp các bên liên quan có thoả thuận khác, tổ chức, cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải cung cấp các thông tin sau đây cho việc giao kết hợp đồng:

a) Trình tự thực hiện để tiến tới giao kết hợp đồng trên môi trường mạng; b) Biện pháp kỹ thuật xác định và sửa đổi thông tin nhập sai;

c) Việc lưu trữ hồ sơ hợp đồng và cho phép truy nhập hồ sơ đó

2 Khi đưa ra các thông tin về điều kiện hợp đồng cho người tiêu dùng, tổ chức,

cá nhân phải bảo đảm cho người tiêu dùng khả năng lưu trữ và tái tạo được các thông tin đó”

23 Điều 20 Gửi nhận tự động thông điệp dữ liệu

Trong trường hợp người khởi tạo hoặc người nhận chỉ định một hoặc nhiều hệ thống thông tin tự động gửi hoặc nhận thông điệp dữ liệu thì việc gửi nhận thông điệp dữ liệu được thực hiện theo quy định tại các điều 16, 17, 18

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w