Như vậy trong giai đoạn này thì NHTM thuộc loại hình tổ chức tín dụng ngân hàng vì vậy hoạt động của NHTM cũng nằm trong hoạt động ngân hàng là chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ
Trang 1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Khóa 35 (2009-2013)
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ths Lê Huỳnh Phương Chinh Dương Thị Thanh Thảo
Lớp: Luật thương mại 2-K35
Cần Thơ – tháng 5/2013
Trang 2GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 1 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Đặc biệt em xin cảm ơn chân thành nhất đến Cô Lê Huỳnh Phương Chinh, không chỉ trên cương vị là cán bộ hướng dẫn tận tình giúp em hoàn thành tốt luận văn của mình, mà cô còn là một cán bộ giảng dạy, luôn đầy lòng nhiệt huyết đối với sinh viên
Ngoài ra em xin gởi lời cảm ơn đến thầy cô đang công tác tại Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ, thư viện khoa luật Trường Đại học Cần thơ, đã hết lòng giúp
em trong việc cung cấp thông tin, tài liệu để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình
Cùng tất cả bạn bè đã cùng tôi cảm nhận và chia sẻ những buồn vui của chốn giảng đường đại học trong suốt thời gian qua
Cuối cùng người viết xin gởi lời tri ân vô vàng đến cha mẹ và người thân trong gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất để người viết có thể vững tâm thực hiện ước mơ theo học tại trường Đại học Cần Thơ trong suốt 4 năm qua
Xin gởi đến cha, mẹ, thầy, cô và bạn bè lời chúc sức khỏe, chúc tất cả mọi người luôn thành công trong công tác, trong học tập và hạnh phúc trong cuộc sống
Trang 3GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 2 SV: Dương Thị Thanh Thảo
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Cần Thơ, ngày…tháng… năm…
Trang 4GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 3 SV: Dương Thị Thanh Thảo
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Cần Thơ, ngày…tháng… năm…
Trang 5GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 4 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Trang 6GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 5 SV: Dương Thị Thanh Thảo
MỤC LỤC
MỤC LỤC 5
LỜI MỞ ĐẦU 10
1.Lý do chọn đề tài 10
2.Mục tiêu nghiên cứu 10
3.Phạm vi nghiên cứu 10
4.Phương pháp nghiên cứu 11
5.Bố cục của đề tài 11
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12
1.1.1Khái niệm Ngân hàng thương mại 12
1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại 14
1.1.3Chức năng của Ngân hàng thương mại 15
1.1.3.1 Chức năng trung gian tín dụng của Ngân hàng thương mại 15
1.1.3.2 Chức năng trung gian thanh toán của Ngân hàng thương mại 15
1.1.3.3 Chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại 16
1.1.4 Giới thiệu các loại hình Ngân hàng thương mại 17
1.1.4.1 Các loại hình ngân hàng thương mại được phân biệt theo tính chất sở hữu 17
1.1.4.2 Các loại hình Ngân hàng thương mại căn cứ vào phương thức kinh doanh 19
1.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 20
1.2.1 Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 20
1.2.1.1 Định nghĩa hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 20
Trang 7GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 6 SV: Dương Thị Thanh Thảo
1.2.1.2 Đặc điểm hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 21
1.2.2 Giới thiệu các hình thức cho vay của Ngân hàng thương mại 22
1.2.2.1 Theo mục đích sử dụng tiền vay 22
1.2.2.2 Theo thời hạn cho vay 23
1.2.2.3 Theo hình thức bảo đảm các khoản vay 25
1.2.3 Vai trò của hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại 26
1.2.3.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động khác của Ngân hàng thương mại 26
1.2.3.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại giúp điều hòa cung - cầu dịch vụ hàng hóa 26
1.2.3.3 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại góp phần điều tiết phân phối nguồn vốn 27
1.2.3.4 Hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại giúp các thành phần kinh tế mở rộng ứng dụng công nghệ mới góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ THAM GIA VÀO QUAN HỆ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 30
2.1.1 Quy định pháp luật về Bên cho vay - Ngân hàng thương mại 30
2.1.1.1 Điều kiện để Ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện hoạt động cho vay theo quy định pháp luật 30
2.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay - Ngân hàng thương mại 33
Trang 8GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 7 SV: Dương Thị Thanh Thảo
2.1.2 Bên đi vay (khách hàng) 34
2.1.2.1 Quy định pháp luật về điều kiện để bên đi vay (khách hàng) tham gia hoạt động cho vay cùng với Ngân hàng thương mại 34 2.1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên đi vay - khách hàng 36
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP CẤM VÀ HẠN CHẾ CHO VAY Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 37 2.2.1 Các trường hợp cấm cho vay 37 2.2.2 Các trường hợp hạn chế cho vay 38 2.3 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUY TRÌNH THỦ TỤC CHO VAY Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 40 2.3.1 Khách hàng đề nghị giao kết hợp đồng vay vốn với Ngân hàng thương mại 40 2.3.2 Ngân hàng thương mại tiến hành thẩm định hồ sơ vay vốn và xem
xét quyết định cho vay 41
2.3.3 Ngân hàng thương mại tiến hành ký kết hợp đồng vay với khách hàng………… 42 2.3.4 Ngân hàng thương mại tiến hành giải ngân (bằng việc mở tài
khoản cho vay và phát tiền vay) và kiểm tra giám sát vốn vay 46 2.3.5 Thu nợ và thanh lý hợp đồng vay 47 2.4 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN ĐẢM BẢO ÁP DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 48 2.4.1 Quy định pháp luật về tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của NHTM 49
2.4.1.1 Quy định pháp luật về tài sản cầm cố trong hoạt động cho vay của NHTM 49
Trang 9GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 8 SV: Dương Thị Thanh Thảo
2.4.1.2 Quy định pháp luật về tài sản thế chấp trong hoạt động cho vay của
NHTM 50
2.4.1.3 Quy định pháp luật về biện pháp bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay (hay bảo đảm tài sản hình thành trong tương lai) trong hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại 51
2.4.1.4 Quy định pháp luật về biện pháp bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba trong hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại 52
2.4.2 Quy định pháp luật về xử lý tài sản đảm bảo tiền vay áp dụng tại Ngân hàng thương mại 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
3.1 NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 57
3.2 MỘT SỐ HẠN CHẾ TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 59
3.2.1 Về đối tượng làm công tác thẩm định, xét duyệt cho vay ở Ngân hàng thương mại 59
3.2.1.1 Hạn chế 59
3.2.1.2 Hướng hoàn thiện 60
3.2.2 Về điều kiện vay vốn đối với bên đi vay 60
3.2.2.1 Hạn chế 60
3.2.2.2 Hướng hoàn thiện 61
Trang 10GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 9 SV: Dương Thị Thanh Thảo
3.2.3 Về quy trình cho vay và thẩm định cho vay ở Ngân hàng thương
mại…… 61
3.2.3.1 Hạn chế 61
3.2.3.2 Hướng hoàn thiện 62
3.2.4 Về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay ở Ngân hàng thương mại 63
3.2.4.1 Hạn chế 63
3.2.4.2 Hướng hoàn thiện 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 66
KẾT LUẬN 68
Trang 11GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 10 SV: Dương Thị Thanh Thảo
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, từ sau Đại hội Đảng lần thứ sáu (1986) nền kinh tế đã chuyển từ chế
độ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xă hội chủ nghĩa Từ thời gian đó, nền kinh tế nước ta đã có sự khởi sắc
rõ nét, và cho đến nay đă đạt được nhiều thành tưu to lớn Cùng với quá trình đó hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng, mà tiêu biểu nhất là sự phát triển của các Ngân hàng Thương mại
Ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam cho vay là một hoạt động chủ yếu để tạo ra lợi nhuận, doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư Tuy nhiên hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định vì thế cần thiết phải có những quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh Để tìm hiểu rõ hơn những quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại cùng với sự yêu thích
về lĩnh vực ngân hàng và những kiến thức đã học là cơ sở để người viết chọn đề tài “
Pháp luật về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại ” làm khóa luận tốt
nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu những cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại
Nghiên cứu những quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay tại các Ngân hàng thương mại
Nghiên cứu để đưa ra một số nhận xét, đánh giá và những bất cập trong quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của các Ngân hàng thương mại để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại
3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 12GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 11 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài người viết chủ yếu đề cập đến những vấn đề khái quát chung về hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại như khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại, các hình thức cho vay ở Ngân hàng thương mại và vai trò của hoạt động cho vay đối với các Ngân hàng thương mại
Ngoài ra còn tìm hiểu các quy định pháp luật được áp dụng cụ thể trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại như quy định về chủ thể, về quy trình thủ tục cho vay
và các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản và xử lý tài sản đảm bảo được áp dụng ở Ngân hàng thương mại Từ đó sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá cũng như đề xuất một
số phương hướng để nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là các phương pháp truyền thống như: phân tích luật viết (câu, chữ của luật), phân tích phát triển và phân tích lịch sử kết hợp các phương pháp diễn dịch, quy nạp, so sánh, đối chiếu, nhằm đi sâu vào từng điều luật cụ thể làm sáng tỏ nội dung mà bài viết hướng tới
Chương 2 : Quy định pháp luật về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Chương 3 : Nhận xét và một số định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Trang 13GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 12 SV: Dương Thị Thanh Thảo
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ở Việt Nam Ngân hàng thương mại (NHTM) được coi là một loại hình của Tổ chức tín dụng Khái niệm NHTM qua mỗi giai đoạn được quy định như sau:
Trước đây, theo khoản 7 Điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng (Luật các TCTD) năm
1997 (sửa đổi bổ sung 2004) không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là NHTM mà chỉ xác định NHTM thuộc loại hình tổ chức tín dụng là ngân hàng và được thực hiện tất cả
các hoạt động ngân hàng Trên cơ sở đó NHTM được hiểu là có thể tiến hành những hoạt động kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Như
vậy trong giai đoạn này thì NHTM thuộc loại hình tổ chức tín dụng ngân hàng vì vậy hoạt động của NHTM cũng nằm trong hoạt động ngân hàng là chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và làm những dịch vụ ngân hàng (dịch vụ tín dụng như cho vay, bảo lãnh, cung ứng các dịch vụ thanh toán như thanh toán qua séc, thẻ ATM)
Đến nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về tổ chức và hoạt động của Ngân
hàng thương mại thì khái niệm NHTM đã được xác lập theo đó : “ Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước” Khái niệm NHTM được đề cập đến ở Nghị định 59 vẫn xem NHTM loại hình tổ
chức tín dụng ngân hàng tuy nhiên phạm vi hoạt động của NHTM được quy định bao quát, mở rộng và bổ sung thêm một số dấu hiệu Theo đó thì NHTM sẽ được phép thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng ( hoạt động huy động vốn ,hoạt động cấp tín dụng, hoạt động thanh toán và ngân quỹ như Luật các TCTD 1997 sửa đổi bổ sung 2004 đã quy
Trang 14GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 13 SV: Dương Thị Thanh Thảo
định) Đây được xem là những hoạt động cơ bản ở NHTM Ngoài ra các NHTM còn được phép tiến hành các hoạt động kinh doanh khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng để thực hiện mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu kinh tế nhà nước đã đề ra Những hoạt động kinh doanh khác mà NHTM được phép tiến hành theo quy định pháp luật bao gồm: góp vốn đầu tư mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, thực hiện các hoạt động ủy thác, nhận ủy thác và tư vấn tài chính bên cạnh đó các NHTM còn được tiến hành thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, nhận bảo quản hiện vật quý hiếm giấy tờ có giá, cho thuê tủ két,
Đến luật các TCTD 2010 khái niệm NHTM đã được xác lập và quy định một cách
cụ thể Theo đó tại khoản 3 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định:
“ Ngân hàng thương mại là loại hình Ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận” So với khái niệm NHTM trước đây thì khái niệm NHTM ở Luật các TCTD 2010
cũng xem NHTM thuộc loại hình tổ chức tín dụng Ngân hàng Trên cơ sở đó, NHTM cũng được phép thực hiện các hoạt động ngân hàng (cấp tín dụng, huy động vốn, thanh toán ngân quỹ) và các hoạt động kinh doanh khác (góp vốn đầu tư, mua cổ phần, tư vấn tài chính, bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá,…) Tuy nhiên ở khái niệm NHTM theo Luật các TCTD 2010 thì mục tiêu hoạt động của NHTM chủ yếu và cơ bản là lợi nhuận chứ không đề cập đến việc thực hiện các hoạt động là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế nhà nước như Nghị định 59/2009/NĐ-CP về tổ chức hoạt động của NHTM đã quy định Như vậy so với các quy định trước đây thì khái niệm về NHTM trong Luật các TCTD 2010 có hai điểm phân biệt cơ bản như sau:
Thứ nhất, khái niệm NHTM ở Luật các TCTD 2010 đã tách mục tiêu kinh tế nhà
nước ra khỏi mục đích hoạt động của NHTM Mục đích là nhằm đảm bảo cho NHTM hoạt động theo đúng bản chất là hoạt động theo nguyên tắc thị trường (vì mục tiêu lợi nhuận)
Thứ hai, cho phép NHTM tiến hành các hoạt động kinh doanh mà không giới hạn
phạm vi những hoạt động kinh doanh này Đó có thể là những hoạt động kinh doanh liên quan đến hoạt động ngân hàng hoặc là những hoạt động liên quan đến mục tiêu lợi nhuận nhưng không thể hiện nhiều mối liên hệ với hoạt động ngân hàng
Tóm lại suy cho cùng các quy định về khái niệm NHTM theo pháp luật Việt Nam đều có nét tương đồng và qua mỗi giai đoạn càng hoàn thiện hơn để phù hợp với xu hướng chung Như vậy từ các khái niệm NHTM qua mỗi giai đoạn, có thể hiểu một cách
Trang 15GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 14 SV: Dương Thị Thanh Thảo
cơ bản nhất về khái niệm NHTM ở Việt Nam là : Ngân hàng thương mại là Ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác vì mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận
1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại
Như đã trình bày ở trên NHTM là một trong những loại hình của tổ chức tín dụng ngân hàng và bản thân NHTM cũng có những đặc điểm cơ bản phân biệt NHTM với các loại hình ngân hàng khác Các đặc điểm của NHTM bao gồm:
NHTM là doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực tiền tệ nhằm mục tiêu lợi nhuận Đối tượng mà NHTM kinh doanh và làm dịch vụ là tiền và các giấy tờ có giá Ngoài ra mục tiêu lợi nhuận là đặc điểm cơ bản của NHTM, nó giúp NHTM phân biệt với các loại hình ngân hàng khác (ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng chính sách) Bên cạnh đó, NHTM còn thực hiện các hoạt động cấp tín dụng, huy động vốn và cung ứng các dịch vụ thanh toán Các hoạt động của NHTM nhằm thúc đẩy và luân chuyển các dòng tiền tệ phục vụ cho việc giao dịch thanh toán phát sinh hằng ngày trong nền kinh tế Đồng thời thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay (là những nghiệp vụ phổ biến nhất) NHTM có khả năng tạo tiền và cung ứng vốn cho nền kinh tế
Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Chính sách tiền tệ của NHNN có thể hiểu là những quy định của NHNN
về tiền tệ mang tầm quốc gia nhằm mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, ổn định giá trị hàng hóa NHNN thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia thông qua việc sử dụng các công cụ về lãi suất, tỷ giá hối đoái, nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của NHNN vì NHTM chịu sự quản lý
từ NHNN vì vậy những chính sách tiền tệ mà NHNN đưa ra có giá trị bắt buộc thi hành đối với các NHTM Ngoài ra thông qua các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ mà NHNN quy định thì các NHTM sẽ hoạch định ra những chính sách để áp dụng cụ thể tại Ngân hàng của mình nhằm phù hợp với những mục tiêu trong chính sách tiền tệ của NHNN Bên cạnh đó nếu một chính sách tiền tệ của NHNN mà mở rộng sẽ cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế điều này kích thích tiêu dùng, sản xuất mở rộng làm tăng thu nhập quốc dân như vậy sẽ thúc đẩy các hoạt động của NHTM (cho vay, nhận tiền gửi) phát triển góp phần mang đến lợi nhuận cho NHTM; ngược lại một chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, đầu tư bị hạn chế, sản xuất thu hẹp có thể dẫn đến ảnh hưởng xấu cho các hoạt động của NHTM (không thu hồi được vốn vay, không huy động được lãi suất tiền gửi) như vậy cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của NHTM Vì
Trang 16GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 15 SV: Dương Thị Thanh Thảo
thế hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của NHNN
là vậy
Trong quá trình hoạt động NHTM tạo ra sản phẩm và dịch vụ trực tiếp cung ứng cho người tiêu dùng khi họ có nhu cầu Sản phẩm mà NHTM cung ứng cho người tiêu dùng ở đây có thể hiểu là những sản phẩm tín dụng như tín dụng cho vay để mua nhà ở, cho vay để tiêu dùng còn những dịch vụ mà NHTM cung ứng cho người tiêu dùng như là dịch vụ nhận tiền gửi, chuyển tiền, kinh doanh ngoại hối,… Do vậy, hoạt động của NHTM chủ yếu dựa vào thương hiệu và uy tín tạo ra đối với khách hàng trong việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng Cho nên hoạt động của NHTM là một chuỗi không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ để cung cấp và quảng bá, tiếp thị hình ảnh của mình tới khách hàng
1.1.3 Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Chức năng trung gian tín dụng của Ngân hàng thương mại
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay, chính việc NHTM làm "cầu nối" giữa người thừa vốn và người thiếu vốn thì không chỉ đem lại lợi ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích về mặt kinh tế cho bản thân nó và cho nền kinh tế
Đối với NHTM , họ sẽ tìm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới, 80% lợi nhuận của NHTM là thông qua hoạt động cho vay Lợi nhuận này chính là cơ sở cho NHTm tồn tại và phát triển Còn đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng này, NHTM đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh Đây là chức năng quan trọng của NHTM, nó quyết định sự duy trì và phát triển của NHTM đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng tiếp sau
1.1.3.2 Chức năng trung gian thanh toán của Ngân hàng thương mại
Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của
Trang 17GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 16 SV: Dương Thị Thanh Thảo
họ Thông qua chức năng này NHTM đóng vai trò là người "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi NHTM là người giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng và thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như : trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Nền kinh
tế thị trường càng phát triển thì chức năng này của NHTM cũng ngày càng được mở rộng Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua trung gian là NHTM sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán đảm bảo an toàn cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng Đối với NHTM chức năng này góp phần tăng lợi nhuận thông qua việc thu lệ phí thanh toán Chức năng này cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của NHTM đồng thời vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển nền kinh tế
1.1.3.3 Chức năng tạo tiền của Ngân hàng thương mại
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù đã thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là : chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Một NHTM sau khi nhận được một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của khách hàng tại NHTM sẽ có số dư Với số tiền này sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắt buộc, NHTM sẽ đem đi đầu tư, cho vay số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ Với vòng quay của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán thì NHTM đã thực hiện được chức năng tạo tiền Với chức năng này, các NHTM đã đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của
xã hội, góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế
Như vậy các chức năng của NHTM có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau Trong đó, chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Nếu NHTM thực hiện tốt các chức năng trung gian của mình thì sẽ góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng quy mô hoạt động của NHTM , từ đó góp phần phát triển kinh tế
Trang 18GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 17 SV: Dương Thị Thanh Thảo
1.1.4 Giới thiệu các loại hình Ngân hàng thương mại
1.1.4.1 Các loại hình ngân hàng thương mại được phân biệt theo tính chất sở hữu 1
* Ngân hàng thương mại nhà nước
Theo quan điểm trước đây thì Ngân hàng thương mại nhà nước là một loại hình đặc trưng bởi nó do Nhà nước thành lập và quản lý hoạt động kinh doanh nhằm mục đích là thực hiện mục tiêu kinh tế nhà nước Theo đó khái niệm NHTM nhà nước theo quy định trước đây tại Điều 23 Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12.9.2000 về tổ chức và hoạt động của NHTM là:
“ Ngân hàng thương mại nhà nước là ngân hàng thương mại do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế nhà nước” Đặc trưng của loại h ình ngân hàng này là được Nhà nước thành lập,
thuộc sở hữu của Nhà nước, đóng vai t ò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng của quốc gia Hoạt động của nó cũng là nhằm mục tiêu lợi nhuận, bên cạnh đó, các NHTM nhà nước
c òn được Nhà nước giao cho nhiệm vụ thực hiện các chính sách kinh tế của Nhà nước(
ổn định tiền tệ, điều tiết kinh tế, ) Sự lồng ghép mục tiêu lợi nhuận và thực hiện các chính sách kinh tế của Nhà nước như vậy, đã thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà nước( chủ
sở hữu) với loại h ình ngân hàng thương mại này Việc Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các chính sách kinh tế của quốc gia cho các ngân hàng thương mại nhà nước không phải bắt nguồn từ quyền lực Nhà nước, mà là từ quyền của chủ sở hữu đối với các NHTM nhà nước Theo quy định trên trước đây nước ta có 5 NHTM nhà nước: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng phát triển nhà Đồng Bằng sông Cửu Long Đây là loại hình Ngân hàng thương mại thuộc sở hữu nhà nước thực hiện theo quy định của Chính phủ
Trong giai đoạn hiện nay thì khái niệm NHTM nhà nước đã thay đổi Nếu như trước đây các NHTM nhà nước đều do Nhà nước làm chủ sở hữu những NHTM nhà nước này được Nhà nước thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế Nhà nước, thì theo quan
điểm hiện nay ở loại hình NHTM nhà nước: “Là ngân hàng thương mại trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ Ngân hàng thương mại Nhà nước bao gồm ngân hàng thương mại do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và ngân hàng thương mại cổ phần do
Trang 19GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 18 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ ” 2
Quan điểm NHTM nhà nước trong giai đoạn hiện nay nó có sự thay đổi so với quan điểm trước đây bởi trong giai đoạn hiện nay nhất
là khi chúng ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì hình thức NHTM mà nhà nước làm chủ sở hữu, đầu tư vốn, quản lý xem ra không còn phù hợp Vì vậy nhằm
để phù hợp với tình hình kinh tế trong nước và khu vực cũng như giảm bớt áp lực lên Chính phủ và Ngân sách nhà nước thì hiện tại 4/5 NHTM nhà nước đã tiến hành cổ phần hóa : Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (cổ phần hóa năm 2009), Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN (cổ phần hóa năm 2007), Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL (cổ phần hóa năm 2011) và gần đây nhất là Ngân hàng TMCP Đầu tư, phát triển VN (cổ phần hóa năm 2012) Việc tiến hành cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại nhà nước sang Ngân hàng thương mại cổ phần thì ưu điểm giúp cho các NHTM huy động nguồn vốn từ công chúng để phát triển và đảm bảo an toàn kinh doanh, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và tự
do hóa tài chính Ngoài ra, cổ phần hóa còn giảm bớt áp lực đè nặng lên ngân sách nhà nước
* Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại cổ phần là ngân hàng thương mại được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, được thành lập thông qua phát hành ( bán) các cổ phiếu, việc nắm giữ các cổ phiếu cho phép người sở hữu có quyền tham gia quyết định các hoạt động của ngân hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập của ngân hàng đồng thời phải chịu tổn thất
có thể xảy ra Do vốn sở hữu được hình thành thông qua tập trung, các Ngân hàng thương mại cổ phần có khả năng tăng vốn nhanh chóng vì vậy thường là các NHTM lớn và có phạm vi hoạt động rộng, đa năng, có nhiều chi nhánh hoặc công ty con Trước đây xét theo sự phân chia về mặt địa lý các Ngân hàng thương mại cổ phần được phân loại thành Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị (ngân hàng đã được đô thị hóa, hoạt động theo đúng nghĩa ngân hàng thương mại trong thời kỳ đô thị phát triển với đầy đủ các chức năng) và ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn ( xuất phát từ cách gọi những ngân hàng thương mại có xuất phát điểm từ một địa phương nào đó, quy mô nhỏ, hệ thống công nghệ khiêm tốn Thế nhưng trong giai đoạn hiện nay đa phần các ngân hàng thương mại cổ phần đều được thành lập và chuyển đổi theo hình thức ngân hàng thương mại cổ
1 Đại học kinh tế quốc dân : Khái niệm và phân loại Ngân hàng thương mại,
http://www.voer.edu.vn/module/kinh-te/khai-niem-va-phan-loai-ngan-hang-thuong-mai.html, [truy cập ngày 3.3.2013]
2 Khoản 2 điều 5 Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16.7.2009 về tổ chức và hoạt động của NHTM
Trang 20GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 19 SV: Dương Thị Thanh Thảo
phần đô thị Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tính đến ngày 31/12/2012 nước ta có 34 Ngân hàng thương mại cổ phần.3
* Ngân hàng liên doanh
Ngân hàng liên doanh là ngân hàng thương mại được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là Ngân hàng thương mại Việt Nam và một bên là ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam Theo số liệu thống
kê tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam tính đến ngày 31/12/2012 nước ta có 4 ngân hàng liên doanh bao gồm :
+ VID public bank (hợp tác giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam ( BIDV ) và Ngân hàng Public Bank Berhad ( Malaysia )),
+ Ngân hàng Indovia Bank Limited (là Ngân Hàng Liên Doanh giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam và Ngân hàng Cathay United Đài Loan),
+ Ngân hàng liên doanh Việt - Thái (VINASIAM BANK ),
+ Ngân hàng liên doanh Việt - Nga (Vietnam-Russia Joint Venture Bank )
1.1.4.2 Các loại hình Ngân hàng thương mại căn cứ vào phương thức kinh doanh 4
Ngân hàng thương mại bán buôn là NHTM chủ yếu giao dịch và cung ứng các dịch
vụ cho các NHTM khác, các công ty tài chính, cho Nhà nước, cho các doanh nghiệp lớn NHTM bán buôn thường là những ngân hàng lớn hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc tế, cung cấp các tài khoản tín dụng lớn
Ngân hàng thương mại bán lẻ là những NHTM thường cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho đối tượng chủ yếu là doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ
Ngân hàng thương mại vừa bán buôn vừa bán lẻ là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả đối tượng khách hàng là công ty, tổ chức lẫn khách hàng là cá nhân Hầu hết các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đều thuộc loại hình ngân hàng này
3
Ngân hàng nhà nước Việt Nam- Hệ thống các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương mại cổ phần tính đến
31.12.2012, www.sbv.gov.vn, [truy cập ngày 19.2.2013]
4 Đại học kinh tế quốc dân : Khái niệm và phân loại Ngân hàng thương mại,
http://www.voer.edu.vn/module/kinh-te/khai-niem-va-phan-loai-ngan-hang-thuong-mai.html, [truy cập ngày 3.3.2013]
Trang 21GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 20 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Ngân hàng chuyên doanh là loại NHTM chỉ tập trung cung cấp một số dịch vụ ngân hàng, như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, đầu tư phát triển hoặc đối với chính sách
xã hội,… Tuy nhiên loại hình Ngân hàng này thường gặp rủi ro rất lớn khi ngành hoặc lĩnh vực hoạt động của ngân hàng phục vụ rơi vào tình trạng sa sút
Ngân hàng đa năng là hình thức NHTM cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng cho mọi đối tượng, đây là xu hướng hoạt động chủ yếu hiện nay của các ngân hàng thương mại hiện nay, ngân hàng đa năng thường là ngân hàng lớn, tính đa dạng trong hoạt động sẽ làm ngân hàng tăng thêm lợi nhuận
1.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay của Ngân hàng nói chung và của NHTM nói riêng là một phần trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Hoạt động này ra đời từ buổi đầu và đã trở thành một trong hai nhiệm vụ cơ bản của ngân hàng Theo tài liệu nghiên cứu của các nhà sử học và kinh tế học, hoạt động vay mượn hay cho vay lấy lãi tồn tại trong khoảng thời gian 2000 – 1500 năm trước công nguyên Thậm chí, hoạt động tín dụng xuất hiện trước
sự ra đời của các ngân hàng 5 Thuật ngữ “tín dụng” credit, kpegum xuất phát từ gốc La tinh crediltum tức là sự tin tưởng, tín nhiệm Còn theo ngôn ngữ Việt Nam đó là sự vay
mượn theo sự tin tưởng, tín nhiệm giữa các bên.
Hoạt động cho vay là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của các NHTM bởi vì chỉ có lãi cho vay mới bù đắp lại các chi phí phát sinh của ngân hàng như chi phí trung gian, chi phí quản lý, chi phí dự trữ…thực tế trong quá trình phát triển của ngân hàng cho thấy, lợi nhuận từ các khoản cho vay chiếm phần lớn thu nhập của ngân hàng, lượng tiền gửi tăng
lên đáng kể và các hình thức cho vay cũng phong phú và đa dạng
Xét về mặt lý luận khái niệm hoạt động cho vay có thể hiểu là : “ Cho vay, còn gọi
là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho bên đi vay, trong
đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất.” Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho
vay còn được gọi là chủ nợ, bên đi vay còn được gọi là con nợ Bên cho vay thông thường là các tổ chức tín dụng khi người vay có nhu cầu thì nếu như họ đáp ứng đầy đủ
5 Đại học Luật Hà Nội : Giáo trình Luật Ngân hàng , Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.47
Trang 22GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 21 SV: Dương Thị Thanh Thảo
các điều kiện của NHTM thì họ sẽ được cho vay và thông qua hợp đồng vay, các bên sẽ thỏa thuận những điều kiện về thời hạn trả nợ cũng như lãi suất phải trả cho bên cho vay, bên đi vay chủ yếu là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cá nhân,… Vì vậy, hoạt động tín dụng( cho vay) phản ánh mối quan hệ giữa hai bên , một bên là người cho vay,một bên là người đi vay và quan hệ giữa hai bên bị ràng buộc bởi một hợp đồng tín dụng, trong đó thông thường các bên sẽ thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,…
Khái niệm cho vay xét theo góc độ pháp lý theo khoản 16 điều 4 Luật các TCTD
2010 thì : “Hoạt động cho vay hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền, để sử dụng vào mục đích xác định trong một khoảng thời gian nhất định và theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.”
Như vậy từ định nghĩa hoạt động cho vay của NHTM xét về mặt lý luận và pháp lý thì có thể thấy đây là một hoạt động được hình thành bởi loại hình tổ chức tín dụng là ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay ở NHTM thì được pháp luật thừa nhận và quy định cụ thể Ngoài ra đây cũng là hoạt động tiêu biểu và quan trọng góp phần mang lại lợi nhuận cho các NHTM
1.2.1.2 Đặc điểm hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Thứ nhất, hoạt động cho vay là nghiệp vụ đặc trưng nhất của NHTM Gọi là đặc trưng bởi nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ (nghiệp vụ liên quan đến việc điều hành ngân quỹ của ngân hàng nhằm duy trì năng lực thanh toán bình thường), sẽ được sử dụng để cho vay Đây là nghiệp vụ tạo ra hình thức tín dụng ngân hàng và NHTM sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, để điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,… Đối với NHTM, đây là nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ yếu cho NHTM
Hai là trong hoạt động cho vay ở NHTM luôn xuất hiện hai bên chủ thể tham gia vào hoạt động cho vay đó là chủ thể cho vay và chủ thể đi vay Như vậy trong quan hệ cho vay này thì chủ thể cho vay là các NHTM được phép cho vay theo quy định pháp luật
và chủ thể đi vay là khách hàng có nhu cầu vay vốn tại NHTM
Ba là hoạt động cho vay ở các NHTM mang tính chất hoàn trả Bởi suy cho cùng hoạt động cho vay mang bản chất chung của quan hệ vay - mượn tức là có hoàn trả và vì vậy trong hoạt động cho vay khi kết thúc hợp đồng vay khách hàng có nghĩa vụ phải trả
Trang 23GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 22 SV: Dương Thị Thanh Thảo
cho bên cho vay số tiền đã vay kèm theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng vay (lãi suất trong hợp đồng vay về cơ bản phải tuân theo các quy định pháp luật Còn trong trường hợp khách hàng không thực hiện hợp đồng hay không có một điều khoản nào khác thì tài sản đảm bảo để thực hiện hợp đồng vay thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay (NHTM sẽ tiến hành xử lý tài sản để bảo đảm thu hồi được vốn vay của mình,…)
Bốn là hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đều phải theo một quy trình
nhất định Thông thường gồm 5 bước: Bước 1: Lập hồ sơ đề nghị vay; Bước 2: Tiến hành thẩm định hồ sơ vay; Bước 3: Quyết định cấp tín dụng cho vay; Bước 4: Giải ngân; Bước 5: Giám sát, thu hồi nợ và thanh lý hợp đồng cho vay Việc thiết lập quy trình cho
vay có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của NHTM Về mặt hiệu quả, quy trình cho vay hợp lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro tín dụng mang lại lợi ích không những cho ngân hàng mà còn cho khách hàng Về mặt quản trị, quy trình cho vay có tác dụng làm cơ sở cho việc phân định trách nhiệm và quyền hạn của từng bộ phận có liên quan trong hoạt động cho vay ở NHTM (như ai sẽ tiến hành thẩm định hồ sơ vay, ai sẽ ra quyết định cho khách hàng vay,…) làm cho họ có trách nhiệm hơn trong công việc của mình
1.2.2 Giới thiệu các hình thức cho vay của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Theo mục đích sử dụng tiền vay
* Vay để tiêu dùng
Là hình thức cho vay đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân Mục đích của loại cho vay này là người đi vay phải sử dụng tiền vay vào việc tiêu dùng, mua sắm tài sản cố định nhằm mục đích phục vụ lợi ích cá nhân Khi thực hiện hình thức cho vay này, cán bộ tín dụng đã phải tính đến nguồn tiền được dùng trả nợ cho NHTM chính là thu nhập cá nhân của người vay tiền Hình thức cho vay này chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển Một trong những hình thức phổ biến nhất của loại hình này là cho vay trả góp, đã được áp dụng rất thành công ở các nước phát triển Ngân hàng có thể cho các công chức vay để họ mua sắm ô tô, xe máy, trả góp nhà Điều này đã giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá trở lên thuận lợi hơn, do vậy nó thúc đẩy sản xuất và kinh tế phát triển
* Vay để kinh doanh
Trang 24GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 23 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Là hình thức cho các chủ thể kinh doanh vay nhằm hỗ trợ vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh, sản xuất và lưu thông hàng hóa Mục đích của loại cho vay này là NHTM cho các doanh nghiệp vay để nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm mở rộng quy mô sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào đó (về vốn) của các doanh nghiệp Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà NHTM sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp đó Lãi suất trong vay để kinh doanh theo quy định của pháp luật hiện hành là 11%/năm.6
Tóm lại hình thức cho vay theo mục đích sử dụng tiền vay ưu điểm là hình thức cho vay này đáp ứng nhu cầu về vốn để phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của các doanh nghiệp, cá nhân Tuy nhiên ở hình thức cho vay tiêu dùng và vay kinh doanh, các NHTM thường gặp rủi ro cao bởi khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập hàng tháng của người vay, thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, nếu chẳng may người vay mất việc hay ốm đau hoặc thu nhập từ sản xuất kinh doanh
bị giảm sút thì khả năng thu nợ của ngân hàng thương mại sẽ bị ảnh hưởng
1.2.2.2 Theo thời hạn cho vay
Ngân hàng thương mại xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các thể loại ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, đời sống và các dự án đầu tư phát triển
6 Khoản 1 điều 1 Thông tư 09/2013/TT-NHNN ngày 25.3.2013 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng việt nam của các TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế
Trang 25GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 24 SV: Dương Thị Thanh Thảo
NHTM cho vay đối với doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng đông nhất của các NHTM Các hình thức vay vốn của doanh nghiệp ở NHTM là: doanh nghiệp cần vay vốn để xây dựng, mở rộng cải tiến sửa chữa tài sản cố định (các khoản vay này có thời hạn dưới một năm) hoặc NHTM tài trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Phần lớn các khoản cho vay này có thế chấp hoặc cầm cố tài sản Ngoài ra các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng theo thời vụ là khách hàng chủ yếu của NHTM bởi các doanh nghiệp bán lẻ hay sản xuất hàng theo thời vụ thì vay vốn để phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh trong một thời điểm nhất định (chế biến thực phẩm phục vụ Tết, bánh Trung thu) và khi hết thời điểm đó họ không cần có nhu cầu về vốn nửa Hiện nay lãi suất cho vay ngắn hạn tối
đa bằng đồng áp dụng cụ thể ở Ngân hàng thương mại để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh theo quy định pháp luật là 11%/năm.7
NHTM cho vay để phát triển đất đối với các công trình xây dựng và phát triển đô thị( cấp vốn để phục vụ cho các nhu cầu xây dựng, phát triển đô thị như xây dựng công viên, khu vui chơi,…mà tạm thời thiếu vốn) Ngoài ra, NHTM cho vay đối với người tiêu dùng (nhu cầu mua sắm để phục vụ tiêu dùng, )
* Cho vay trung - dài hạn :
Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng Hình thức cho vay này được dùng để bổ sung vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh
Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên, được dùng để hỗ trợ vốn xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các công trình có quy mô lớn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại có thời gian hoàn vốn dài
Các hình thức cho vay trung - dài hạn bao gồm :
NHTM cho các doanh nghiệp vay trung - dài hạn nhằm tài trợ cho các quá trình hình thành tài sản cố định phục vụ cho quá trình hoạt động, sản xuất của doanh nghiệp
Khi khách hàng có kế hoạch mua sắm, xây dựng tài sản cố định, nhằm thực hiện dự
án nhất định, có thể vay ở NHTM Một trong những yêu cầu cho vay của NHTM là người
7 Thông tư 09/2013/TT-NHNN ngày 25.3.2013 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng việt nam của các TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế
Trang 26GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 25 SV: Dương Thị Thanh Thảo
vay phải xây dựng dự án, thể hiện mục đích, kế hoạch đầu tư, cũng như quá trình thực hiện dự án (sản xuất kinh doanh) Thẩm định dự án là điều kiện để NHTM quyết định phần vốn cho vay và xác định khả năng hoàn trả của doanh nghiệp
Tóm lại hình thức cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn thì ưu điểm là khách hàng có thể lựa chọn hình thức vay phù hợp với nhu cầu của mình Lãi suất để điều chỉnh hoạt động cho vay nhìn chung trong giai đoạn hiện nay được xem là phù hợp ( vay ngắn hạn tối đa bằng đồng phục vụ cho khách hàng vay trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh là 11%/năm, trung- dài hạn do các bên thỏa thuận dao động từ 14-16%) Nhưng theo suy nghĩ thì lãi suất cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn ở các NHTM trong thời gian tới cần điều chỉnh theo hướng giảm lãi suất có như vậy mới thu hút lượng khách hàng giao dịch với NHTM cũng như giảm gánh nặng trả lãi cho các cá nhân, doanh nghiệp
1.2.2.3 Theo hình thức bảo đảm các khoản vay
* Vay có bảo đảm bằng tài sản
Đây là hình thức cho vay được thực hiện khi người đi vay có một khối lượng hàng hóa, tài sản tương đương, được dùng để bảo đảm cho các khoản nợ vay Loại hình tín dụng này NHTM thực hiện dưới hình thức cho vay thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba hoặc tài sản được hình thành trong tương lai Cách bảo đảm này có mục đích giảm bớt rủi ro mất mát trong trường hợp người vay không trả được nợ hay không muốn trả nợ khi đến hạn Các tài sản dùng để đem thế chấp thường là bất động sản trong khi tài sản đem cầm cố thường là động sản nhỏ, vật tư hàng hóa, giấy tờ có giá,…Yêu cầu cơ bản đối với tài sản đem thế chấp, cầm cố là chúng phải có tính thị trường tức là có khả năng thanh lý để thu hồi nợ Tuy nhiên mặc dù là tài sản có bảo đảm nhưng hình thức này vẫn
có rủi ro nhất định bởi tài sản có thể bị mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa
vụ của mình
* Vay không có bảo đảm bằng tài sản
Là hình thức cho vay không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba Mà việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Khách hàng phải cam kết với NHTM là có khả năng trả nợ đầy đủ đúng hạn cả gốc và lãi, có dự
án sản xuất kinh doanh khả thi để đảm bảo khả năng trả nợ hoặc phải cam kết với NHTM
là không được giao dịch với các NHTM khác,… Thông thường loại hình này thường được áp dụng với những khách hàng truyền thống có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với Ngân hàng thương mại Mặc dù hình thức này không có tài sản đảm bảo nhưng đây là
Trang 27GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 26 SV: Dương Thị Thanh Thảo
hình thức cho vay ít rủi ro cho các NHTM vì thông thường chỉ những khách hàng uy tín
và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cho vay mà không cần có tài sản đảm bảo
1.2.3 Vai trò của hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại
Như đã trình bày cho vay chính là một trong những hoạt động chủ yếu của các NHTM Lợi ích từ các hoạt động cho vay không chỉ mang lại lợi nhuận và bù đắp cho các chi phí mà NHTM phải bỏ ra trong quá trình hoạt động của mình, mà bên cạnh đó nó còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế của quốc gia
1.2.3.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động khác của Ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động lớn của NHTM Hiện nay 80% doanh thu của các NHTM phần lớn là từ hoạt động tín dụng, mà hoạt động cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn Mặt khác, nhờ có hoạt động cho vay, mà các đơn vị kinh tế có thể vay của NHTM để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, lợi nhuận thu được không những doanh nghiệp đủ tiền trả cho NHTM mà còn có tiền gửi vào NHTM, nghĩa là làm tăng hoạt động huy động vốn ở NHTM Mặt khác khi sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát triển thì cũng kéo theo hoạt động dịch vụ của NHTM cũng phát triển
1.2.3.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại giúp điều hòa cung - cầu dịch
vụ hàng hóa
Doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn của NHTM Nhưng doanh nghiệp chỉ thu được lợi nhuận cũng như có khả năng trả nợ cho NHTM khi doanh nghiệp tiêu thụ được hết số sản phẩm hàng hoá đã sản xuất ra, hay phải có một bộ phận những người tiêu dùng mua hoặc có khả năng mua sản phẩm đó.Về phía người tiêu dùng, với một mức thu nhập nhất định, họ không thể có đủ số tiền để mua hàng hoá mình muốn Họ chỉ có đủ khả năng mua sau một thời gian dài tích luỹ Đó là nguyên nhân dẫn đến chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn của doanh nghiệp bị ngưng trệ Doanh nghiệp sẽ không thu hồi đủ tiền để thực hiện vòng quay sản xuất Do đó hoạt động cho vay của NHTM là giải pháp có lợi cho đôi bên NHTM cho doanh nghiệp vay sẽ thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh, từ đó sẽ
có nhiều hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng Bên cạnh đó NHTM cho người tiêu dùng vay sẽ thoả mãn nhu cầu hàng hoá của họ Như vậy hoạt động cho vay của NHTM
đã góp phần điều hoà cung cầu sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho nền kinh tế
Trang 28GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 27 SV: Dương Thị Thanh Thảo
1.2.3.3 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại góp phần điều tiết phân phối nguồn vốn
Vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế vận động liên tục và biểu hiện qua các hình thức khác nhau ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo thành chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn, điểm xuất phát và kết thúc của một vòng tuần hoàn này thể hiện dưới dạng tiền tệ Trong quá trình sản xuât kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi nguồn vốn của doanh nghiệp luôn đồng thời tồn tại ở ba giai đoạn: dự trữ- sản xuất- lưu thông Từ đó xảy ra hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời: tại một thời điểm nhất định có những đơn vị kinh tế có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi (thừa vốn) và có những đơn
vị tạm thời thiếu vốn Đây là hiện tượng mang tính chất tạm thời nhưng xảy ra thường xuyên và phổ biến trong bất kì nền kinh tế nào, làm nảy sinh nhu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết được vấn đề điều hoà vốn
NHTM với vai trò là một trung gian tài chính đứng ra tập trung phân phối lại tiền tệ, điều hoà cung và cầu vốn cho các doanh nghiệp, đã góp phần điều tiết lại nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển
rộng ứng dụng công nghệ mới góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Với những doanh nghiệp mà trình độ chưa phát triển cũng như trang thiết bị kĩ thuật còn thấp kém, công nghệ chắp vá, thiếu đồng bộ thì sẽ làm giảm ưu thế của các doanh nghiệp và điều đó làm cho các doanh nghiệp kém phát triển khó cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Thông qua vốn vay từ các NHTM , doanh nghiệp dùng đồng vốn này để đầu
tư, tìm kiếm những công nghệ hiện đại, đổi mới dây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó sẽ tạo ra nhiều sản phẩm thoả mãn nhu cầu trong và ngoài nước Như vậy, thông qua hoạt động cho vay của các NHTM thì doanh nghiệp sẽ có nhiều điều kiện để mở rộng ứng dụng công nghệ mới vào trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, từ đó thúc đẩy các hoạt động doanh nghiệp ngày một phát triển hơn Bên cạnh đó nhiều thành phần kinh tế phần lớn nguồn vốn đi vay từ các NHTM nhằm để bắt tay vào phát triển ngành thương mại dịch vụ (ngành chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế) vì thế bằng những công cụ tín dụng của mình, các NHTM có thể tiến hành cho vay ưu đãi với những ngành nghề cần thiết để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể mà Đảng và nhà nước đã đề ra nhằm góp phần đưa nền kinh tế phát triển theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 29GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 28 SV: Dương Thị Thanh Thảo
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại, với chương 1 này người viết đã đưa ra một cái nhìn tổng quan nhất về NHTM nói chung và hoạt động cho vay ở NHTM Khái niệm NHTM qua các giai đoạn đều có sự chuyển biến tuy nhiên các khái niệm này nhìn chung đều có nét tương đồng nhất định và theo quan điểm hiện nay thì có thể hiểu khái niệm về Ngân hàng thương mạị
là ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác vì mục tiêu lợi nhuận ” Song song đó ở chương 1 này cũng giới thiệu các đặc điểm của NHTM như : là doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực tiền tệ vì mục tiêu cơ bản là lợi nhuận; chịu sự chi phối bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước; tạo ra sản phẩm và dich vụ trực tiếp cung ứng cho người tiêu dùng khi họ có nhu cầu Đây là những đặc điểm cơ bản nó phân biệt NHTM với các loại hình ngân hàng khác Ngoài ra NHTM còn thực hiện các chức năng chính như : trung gian tín dụng , trung gian thanh toán , tạo tiền Các chức năng này của NHTM đều có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ với nhau góp phần thúc đẩy các hoạt động NHTM ngày càng phát triển hơn Bên cạnh
đó ở chương 1 cũng đề cập đến các loại hình đặc trưng ở NHTM phân chia theo tính chất
sở hữu và chiến lược kinh doanh Phân chia theo tính chất sở hữu có NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh còn theo chiến lược kinh doanh thì có các loại NHTM bán buôn, NHTM bán lẻ, NHTM kết hợp bán buôn bán lẻ, Ngân hàng chuyên doanh, ngân hàng đa năng Việc phân chia ngân hàng thương mại thành các loại hình khác nhau mục đích tạo sự đa dạng trong hệ thống ngân hàng và nhằm phù hợp với nền kinh tế thị trường
Các hoạt động của ngân hàng thương mại tương đối đa dạng nhưng hoạt động quan trọng và tạo ra nhiều lợi nhuận nhất chính là hoạt động cho vay Khái niệm cho vay xét
về góc độ lý luận và pháp lý đều xem cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay sẽ giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng theo một mục đích nhất định trong một thời hạn thỏa thuận theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi Hoạt động cho vay ở NHTM có các đặc điểm cơ bản mang tính chất đặc thù như: là nghiệp vụ chủ yếu tạo ra nguồn thu nhập cho NHTM, hoạt động cho vay mang tính hoàn trả (trong hợp đồng
đã thỏa thuận thời gian trả gốc lẫn lãi), hoạt động cho vay ở NHTM phải qua một quy trình cụ thể rõ ràng Hình thức cho vay ở NHTM đa dạng và phân theo nhiều loại như cho vay ngắn hạn - trung hạn dài hạn hay cho vay tiêu dùng- vay để kinh doanh , vay có đảm bảo hay không đảm bảo Các hình thức này điều hướng mục đích tạo lợi nhuận kinh
tế cho các ngân hàng thương mại và góp phần đa dạng hóa các hoạt động của NHTM
Trang 30GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 29 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu ở NHTM vì thế nó có vai trò khá lớn không chỉ cho NHTM mà còn cho nền kinh tế như góp phần mang đến lợi nhuận cho NHTM, điều tiết phân phối nguồn vốn, điều hòa quan hệ cung cầu và góp phần chuyển dịch kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Như vậy với tất cả những nội dung được trình bày ở chương 1 này thì người viết đã đưa ra một cách nhìn tổng quan nhất về ngân hàng thương mại và hoạt động chủ yếu của nó: hoạt động cho vay Đây là một hoạt động cơ bản mang đến lợi nhuận cho các NHTM tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất định
vì thế cần có một hệ thống pháp luật điều chỉnh Vậy những quy định pháp luật sẽ điều chỉnh những vấn đề gì trong hoạt động cho vay ở Ngân hàng thương mại ? Nội dung này chúng ta sẽ tìm hiểu ở chương 2
Trang 31GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 30 SV: Dương Thị Thanh Thảo
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình Ngân hàng thương mại (NHTM) tiến hành cấp tín dụng cho khách hàng thông qua nghiệp
vụ cho vay Theo đó hoạt động cho vay của NHTM bao gồm những quy định của pháp luật điều chỉnh những vấn đề như : chủ thể tham gia vào quan hệ cho vay, những trường hợp cấm, hạn chế cho vay, quy trình cho vay, biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay
2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ THAM GIA VÀO QUAN HỆ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Quan hệ pháp luật cho vay là quan hệ tài sản – hàng hóa phát sinh trong quá trình sử dụng vốn tạm thời, giữa các NHTM và các tổ chức, cá nhân theo nguyên tắc có hoàn trả, dựa trên cơ sở tín nhiệm hoặc có sự bảo đảm, được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Tham gia quan hệ này có ít nhất hai chủ thể gồm : bên cho vay - Ngân hàng thương mại
và bên đi vay là khách hàng
2.1.1 Quy định pháp luật về Bên cho vay - Ngân hàng thương mại
2.1.1.1 Điều kiện để Ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện hoạt động cho vay theo quy định pháp luật
Trong hoạt động cho vay của NHTM thì NHTM đóng vai trò là bên cho vay Tuy nhiên NHTM muốn tham gia vào hoạt động cho vay với tư cách là bên cho vay thì NHTM cũng phải đáp ứng những điều kiện do pháp luật quy định mà cụ thể là phải có giấy phép thành lập hoạt động theo đúng quy định pháp luật
Theo quy định pháp luật để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động thì NHTM cần phải đáp ứng các điều kiện như sau: 8
Thứ nhất, NHTM phải có vốn điều lệ, là vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp
định Vốn điều lệ ở NHTM được hiểu là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam
8 Điều 20 Luật các TCTD 2010 quy định Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động của TCTD
Trang 32GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 31 SV: Dương Thị Thanh Thảo
kết góp trong một khoảng thời gian nhất định và được ghi vào điều lệ của NHTM Như vậy cơ sở để xác định vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp vào hoặc cam kết góp vào NHTM Ngoài ra trong quá trình hoạt động của mình NHTM cần phải duy trì giá trị thực của vốn điều lệ tối thiểu bằng mức vốn pháp định Đối với các NHTM hiện nay thì Chính phủ quy định vốn pháp định là 3000 tỷ đồng 9
Thứ hai, chủ sở hữu của NHTM là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ
đông sáng lập, thành viên sáng lập mà là pháp nhân thì phải đang hoạt động hợp pháp và
có đủ năng lực tài chính để góp vốn Còn các cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để góp vốn Vấn đề đủ khả năng tài chính của chủ sở hữu NHTM, của cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập được chứng minh dựa trên số vốn và các tài sản mà các đối tượng này có được dùng để góp vốn
Thứ ba, người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát phải có đủ các
tiêu chuẩn và điều kiện để hoạt đông ở NHTM theo quy định pháp luật
Người quản lý ở NHTM có thể hiểu là: chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị; chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên; Tổng giám đốc (giám đốc) và các chức danh quản
lý khác theo quy định tại điều lệ của NHTM.10
Người điều hành ở NHTM gồm: Tổng giám đốc (giám đốc), Phó tổng giám đốc (phó giám đốc), kế toán trưởng, giám đốc chi nhánh và các chức danh tương đương theo quy định tại điều lệ của NHTM.11
Thành viên ban kiểm soát ở NHTM có thể hiểu là những thành viên được bầu ra để thực hiện việc kiểm toán nội bộ, kiểm soát, đánh giá việc chấp hành quy định pháp luật, quy định nội bộ, điều lệ và nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, chủ sở hữu, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên.12
Tiêu chuẩn và điều kiện chung đối với các đối tượng này là không thuộc trường hợp
bị cấm đảm nhiệm chức vụ và phải có đạo đức nghề nghiệp Ngoài ra, người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát còn phải thỏa mãn những điều kiện quy định
cụ thể cho họ tại điều 50 Luật các TCTD 2010
Thứ tư, có điều lệ phù hợp với quy định pháp luật và được NHNN chuẩn y
9 Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22.11.2006 về ban hành danh mục mức vốn pháp định cho các TCTD
10 Khoản 31 điều 4 Luật các TCTD 2010
11
Khoản 32 điều 4 Luật các TCTD 2010
12 Khoản 1 điều 44 Luật các TCTD 2010
Trang 33GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 32 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Điều lệ ở NHTM có thể hiểu là những nguyên tắc những quy định mà NHTM soạn
ra nhằm dựa theo những quy định đó để NHTM hoạt động và điều lệ này phải đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật và quy định của NHNN Điều lệ ở NHTM bao gồm những nội dung: tên, địa điểm đặt trụ sở chính, nội dung hoạt động, vốn điều lệ, người đại diện pháp luật, thể thức bầu bổ nhiệm thành viên HĐQT, tổng giám đốc, ban kiểm soát, quy định trường hợp giải thể,….13
Điều lệ ở các NHTM chỉ được đưa vào áp dụng khi được NHNN chuẩn y tức là có sự phê duyệt từ NHNN đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng bởi NHNN là cơ quan chủ quản chi phối và quản lý các hoạt động của NHTM, khi nhận được bản điều lệ do NHTM gửi tới thì NHNN sẽ xem nội dung điều lệ đó có phù hợp với quy định pháp luật cũng như đủ điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng không
Cuối cùng, NHTM phải có đề án thành lập phương án kinh doanh khả thi, không
gây ảnh hưởng đến sự an toàn ổn định của hệ thống NHTM, không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống NHTM
Tóm lại sau khi đáp ứng đủ điều kiện trên thì NHTM sẽ tiến hành nộp hồ sơ và thực hiện các thủ tục để nghị NHNN cấp giấy phép thành lập và hoạt động Nếu những điều kiện trên và bộ hồ sơ hợp lệ thì trong vòng 180 ngày NHNN tiến hành cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho NHTM
Việc pháp luật quy định những điều kiện để NHTM thực hiện hoạt động cho vay của mình mục đích nhằm góp phần hạn chế và loại trừ những NHTM không đủ tiêu chuẩn kinh doanh trên thương trường Qua đó góp phần lành mạnh hóa các quan hệ cho vay và góp phần bảo đảm an toàn cũng như bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ cho vay ở NHTM
13 Điều 31 Luật các TCTD 2010 quy định về điều lệ ở TCTD
Trang 34GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 33 SV: Dương Thị Thanh Thảo
2.1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay - Ngân hàng thương mại
Khi tham gia vào quan hệ vay vốn thì NHTM cũng có các quyền và nghĩa vụ như sau :14
NHTM có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu
tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay Mục đích của NHTM nhằm kiểm tra xem các tài liệu của khách hàng cung cấp có phù hợp với mục đích kinh doanh không, các dự án khách hàng đưa ra có khả thi có phù hợp pháp luật không và NHTM có thể thu hồi nợ từ dự án đó được không Sau khi xem xét các yếu tố trên, NHTM có quyền từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn, dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc NHTM không có đủ nguồn vốn để cho vay
NHTM còn có thẩm quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng Lý do để NHTM với tư cách là bên cho vay được quyền kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay là vì khi ký kết hợp đồng vay, chính bên vay đã thỏa thuận rằng họ sẽ sử dụng tiền vay đúng mục đích Vì thế việc pháp luật dành cho bên cho vay quyền được kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay là điều hợp lý Tuy nhiên, bên cho vay chỉ được quyền kiểm tra, giám sát chứ không được bắt buộc người vay phải hoạt động theo ý mình, cũng như không được lạm dụng quyền này để cản trở hoạt động kinh doanh, can thiệp vào công việc nội bộ của bên vay
Bên cạnh đó, NHTM có thể chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn và xử lý tài sản bảo đảm khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, không trả nợ đúng hạn Ngoài ra, NHTM cũng được quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và nhận tiền phạt hợp đồng do hành vi vi phạm hợp đồng của bên vay gây ra( nếu có) Đây là một trong những thẩm quyền cơ bản nhằm bảo vệ NHTM tránh được những rủi ro trong hoạt động cho vay
NHTM có quyền miễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy định của NHNN ; mua bán nợ theo quy định của NHNN Việt Nam và thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam
14 Điều 25 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ban hành kèm theo quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng
Trang 35GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 34 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Ngoài những quyền của NHTM thì NHTM còn phải thực hiện một số nghĩa vụ trong hoạt động cho vay của mình như NHTM có nghĩa vụ:
NHTM có nghĩa vụ thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng vay, nghĩa là NHTM phải chuyển giao tiền vay đầy đủ, đúng thời gian địa điểm, thực hiện đúng phương thức cho vay, lãi suất cho vay mà NHTM đã thỏa thuận với khách hàng vay trong hợp đồng vay
NHTM có nghĩa vụ lưu giữ hồ sơ vay phù hợp với quy định của pháp luật Những
hồ sơ vay được lưu giữ ở NHTM bao gồm hợp đồng vay vốn và tài liệu ghi rõ mục đích
sử dụng vốn, hồ sơ về biện pháp bảo đảm; báo cáo thực trạng tài chính của khách hàng; Quyết định cho vay có chữ ký của người có thẩm quyền, trường hợp quyết định tập thể phải có biên bản ghi rõ quyết định được thông qua và những tài liệu phát sinh khác Việc quy định NHTM có nghĩa vụ lưu giữ hồ sơ vay vốn có ý nghĩa quan trọng bởi ngoài việc đây là trách nhiệm mà các NHTM cần phải thực hiện thì nó còn là bằng chứng để các bên xem xét lại những gì đã thỏa thuận trong trường hợp giữa các bên có xảy ra tranh chấp, khiếu kiện
2.1.2 Bên đi vay (khách hàng)
Bên đi vay bao gồm các cá nhân, tổ chức trong nước và các cá nhân, tổ chức nước ngoài Ngoài ra bên đi vay phải thỏa mãn các điều kiện liên quan đến năng lực chủ thể,
mục đích sử dụng vốn vay cũng như khả năng thanh toán các khoản vay,…
2.1.2.1 Quy định pháp luật về điều kiện để bên đi vay (khách hàng) tham gia hoạt động cho vay cùng với Ngân hàng thương mại
Trong hoạt động cho vay của NHTM, bên đi vay muốn được NHTM cho vay thì bên đi vay phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định sau:15
Thứ nhất bên đi vay phải đảm bảo điều kiện về năng lực chủ thể Tức là bên đi vay
phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật
Đối với khách hàng là tổ chức, cá nhân Việt Nam:
Tổ chức phải có năng lực pháp luật dân sự Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích hoạt
15 Điều 7 Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ban hành kèm theo quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng
Trang 36GVHD: Ths Lê Huỳnh Phương Chinh 35 SV: Dương Thị Thanh Thảo
Đối với khách hàng là cá nhân, tổ chức nước ngoài:
Tổ chức nước ngoài thì cũng phải có năng lực pháp luật Theo đó thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.19
Cá nhân nước ngoài thì phải đảm bảo năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân
sự Theo đó năng lực pháp luật dân sự của cá nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch 20 Còn năng lực hành vi dân sự của cá nhân người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trường hợp người nước ngoài xác lập và thực hiện giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật Việt Nam.21
Thứ hai bên đi vay phải cam kết về việc sử dụng vốn vay có mục đích và hợp pháp
Việc sử dụng vốn vay của khách hàng được xem là hợp pháp khi khách hàng sử dụng vốn vay vào những lĩnh vực pháp luật không cấm tức là những lĩnh vực pháp luật quy định cho phép cá nhân, doanh nghiệp hoạt động Ngoài ra nếu sử dụng vốn để kinh doanh, bên
đi vay phải có đăng ký kinh doanh và sử dụng vốn để kinh doanh đúng lĩnh vực, ngành nghề đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thứ ba khách hàng phải có khả năng tài chính để đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết Khả năng tài chính của khách hàng vay được hiểu là khả năng về vốn (tiền), tài
sản có giá trị của khách hàng vay để bảo đảm hoạt động thường xuyên và để thực hiện