Mục tiêu nghiên cứu
Xác định mục đích nghiên cứu rõ ràng là yếu tố quan trọng giúp định hướng vững chắc cho quá trình thực hiện đề tài, đảm bảo không đi lệch khỏi các định hướng đã chọn Đề tài này tập trung vào nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, đồng thời khảo sát thực tiễn áp dụng để đưa ra nhận xét và hướng hoàn thiện Qua đó, tác giả hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý.
Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu khoa học này, tác giả chủ yếu áp dụng quan điểm duy vật biện chứng, kết hợp với cơ sở khoa học pháp lý và các lý luận về luật học Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một số phương pháp khác để làm rõ nội dung luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết
- Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu sách vở
- Phương pháp so sánh lý luận với thực tiễn
Bố cục luận văn
Luận văn được cấu trúc theo thứ tự rõ ràng với phần mở đầu, nội dung chính và kết luận, kèm theo mục lục và danh mục tài liệu tham khảo Nội dung chính của luận văn được chia thành hai chương.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẤU THẦU HÀNG HÓA, DỊCH VỤ
Khái niệm về đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Để hiểu về đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, trước tiên cần nắm rõ khái niệm đấu thầu, một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu và là nền tảng cho các khái niệm liên quan Theo từ điển tiếng Việt, đấu thầu được định nghĩa là việc công khai cạnh tranh, nơi ai đưa ra điều kiện tốt nhất sẽ được giao thực hiện công việc hoặc bán hàng Như vậy, đấu thầu mang bản chất là sự cạnh tranh để thực hiện một yêu cầu cụ thể trong xã hội.
Theo từ điển tiếng Việt, đấu thầu là phương thức giao dịch đặc biệt trong mua sắm tài sản và xây dựng công trình, trong đó bên gọi thầu công bố yêu cầu và điều kiện cụ thể Người dự thầu sẽ đưa ra giá và cạnh tranh với nhau về giá cả, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, nhằm giúp bên gọi thầu lựa chọn được nhà cung cấp phù hợp nhất.
Theo Luật Đấu thầu năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, đấu thầu được định nghĩa là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu trong các dự án sử dụng vốn Nhà nước Quá trình này đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Kết quả cuối cùng là hợp đồng được ký kết, quy định rõ trách nhiệm của hai bên, trong đó nhà thầu thực hiện các nhiệm vụ theo hồ sơ mời thầu.
1 Từ điển Tiếng Việt, Nxb Viện ngôn ngữ học, 1998
2 Nguyễn Nhƣ Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, năm 1999, trang 610
Theo Khoản 2 Điều 4 của Luật Đấu thầu năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, các dịch vụ tư vấn, cung cấp hàng hóa hoặc xây dựng công trình đều thuộc phạm vi điều chỉnh Chủ đầu tư có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán Do đó, quá trình đấu thầu tại Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn Nhà nước thực chất là một quá trình mua sắm, liên quan đến việc chi tiêu và sử dụng tiền của Nhà nước.
Đấu thầu hàng hóa lần đầu được quy định trong Luật Thương mại năm 1997 và sau đó được thay thế bởi Luật Thương mại năm 2005 Theo luật này, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động thương mại trong đó bên mời thầu (mua hàng hóa, dịch vụ) lựa chọn bên dự thầu (bán hàng hóa, dịch vụ) đáp ứng tốt nhất các yêu cầu để ký hợp đồng Bên mời thầu có thể là thương nhân có nhu cầu mua, trong khi bên dự thầu phải là thương nhân có nhu cầu bán Thương nhân bao gồm các tổ chức kinh tế hợp pháp và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, có đăng ký kinh doanh Đối với thương nhân nước ngoài, họ phải được thành lập và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài.
Luật Thương mại năm 2005 đã mở rộng khái niệm đấu thầu trong thương mại, bao gồm cả đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, khác với Luật Thương mại năm 1997 Đồng thời, luật này cũng quy định rằng các hoạt động đấu thầu sử dụng vốn Nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu 2005 Cụ thể, những hoạt động này bao gồm việc lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa và xây lắp cho các dự án sử dụng vốn Nhà nước từ 30% trở lên nhằm đầu tư phát triển, duy trì hoạt động của các cơ quan nhà nước, và cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp nhà nước.
4 Điều 141 Luật Thương mại năm 1997
5 Khoản 1 Điều 214 Luật Thương mại năm 2005
6 Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005
7 Khoản 1 Điều 16 Luật Thương mại năm 2005
Đặc điểm của đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
1.2.1 Về phương diện kinh tế
Sự ra đời và tồn tại của đấu thầu hàng hóa, dịch vụ trong cơ chế kinh tế thị trường là điều tất yếu, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất và tiêu dùng của xã hội Khi một đất nước phát triển, nhu cầu của người dân cũng gia tăng, đòi hỏi nền kinh tế phải không ngừng phát triển để cung cấp hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, khi sản xuất đạt đến một mức độ nhất định, sẽ xảy ra tình trạng cung vượt cầu trên thị trường.
Khi một chủ thể có nhu cầu mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ, sẽ có nhiều người có khả năng đáp ứng Để lựa chọn nhà cung cấp phù hợp, bên mua tổ chức đấu thầu, nhằm tìm ra người có khả năng cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ đáp ứng yêu cầu với giá cả hợp lý nhất Do đó, đấu thầu hàng hóa và dịch vụ thực chất là phương thức lựa chọn nhà thầu phù hợp với nhu cầu của xã hội, tương tự như các loại đấu thầu khác.
1.2.2 Về phương diện pháp lý Đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là một hành vi pháp lý của một nhóm chủ thể đặc biệt trong xã hội là thương nhân, thực hiện hành vi mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường thông qua đấu thầu Mục đích của người mua hàng hóa, dịch vụ là mua được hàng hóa, dịch vụ mình cần với giá cả hợp lý, còn người bán là bán được hàng hóa, dịch vụ của mình để tìm kiếm lợi nhuận Lúc này, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ mang bản chất của một hoạt động thương mại trở thành đối tượng điều chỉnh của Luật
Đấu thầu hàng hóa và dịch vụ được xem là hoạt động thương mại theo quy định của pháp luật, vì nó có những đặc điểm cơ bản của một hoạt động thương mại.
- Hoạt động đấu thầu hàng hóa, dịch vụ đƣợc thực hiện bởi những nhà thầu tham dự có tư cách là thương nhân;
- Hoạt động đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là nhằm mục đích lợi nhuận;
Đối tượng đấu thầu hàng hóa và dịch vụ bao gồm các loại hàng hóa thương mại được phép lưu thông và các dịch vụ thương mại hợp pháp theo quy định của pháp luật.
- Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đấu thầu đƣợc xác lập thông qua các hình thức pháp lý nhất định do pháp luật quy định;
Bên cạnh đó, xét về bản chất đấu thầu hàng hóa, dịch vụ trong thương mại còn có những đặc trƣng cơ bản nhƣ sau:
Đấu thầu hàng hóa và dịch vụ trong thương mại liên quan chặt chẽ đến quan hệ mua bán và cung ứng dịch vụ Hoạt động đấu thầu chỉ diễn ra khi có nhu cầu mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ, nhằm lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất Kết quả của quá trình đấu thầu sẽ là cơ sở cho việc thương thảo hợp đồng, trong đó bao gồm các chi tiết từ hồ sơ dự thầu Do đó, đấu thầu thực chất là giai đoạn tiền hợp đồng trong thương mại, không phải là một hoạt động thương mại độc lập.
Thứ hai, các bên trong quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ cũng chính là bên mua và bên bán hàng hóa, dịch vụ; 9
Bên mời thầu là tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu mua sắm hàng hóa và dịch vụ, trong khi bên dự thầu phải là thương nhân có khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho gói thầu Khi đấu thầu thành công, bên mời thầu trở thành bên mua và bên dự thầu trở thành bên bán trong giao dịch thương mại Tuy nhiên, trong mối quan hệ này không có thương nhân chuyên kinh doanh dịch vụ đấu thầu như trong các hoạt động thương mại khác.
Đấu thầu hàng hóa và dịch vụ là quá trình mua bán mà trong đó có sự tham gia của một bên mời thầu cùng nhiều nhà thầu khác nhau.
Đặc điểm của đấu thầu xuất phát từ bản chất của nó, là phương thức giúp người mua lựa chọn người bán Mỗi gói thầu cần tạo ra sự cạnh tranh tối đa giữa các nhà cung cấp có năng lực, từ đó người mua có thể chọn được người bán tốt nhất về chất lượng và giá cả của hàng hóa, dịch vụ.
Thứ tư, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ được thực hiện dưới hình thức pháp lý là hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu; 11
8 Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật Thương mại, 1A, Khoa Luật, Trường Đại Học Cần Thơ, 2006, trang
9 Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật Thương mại, 1A, Khoa Luật, Trường Đại Học Cần Thơ, 2006, trang
10 Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật Thương mại, 1A, Khoa Luật, Trường Đại Học Cần Thơ, 2006, trang
11 Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật Thương mại, 1A, Khoa Luật, Trường Đại Học Cần Thơ, 2006, trang
Hồ sơ mời thầu là tài liệu quan trọng do bên mời thầu soạn thảo, bao gồm đầy đủ yêu cầu kỹ thuật và tài chính cho hàng hóa, dịch vụ cần mua sắm Nó cũng nêu rõ các điều kiện khác liên quan đến gói thầu Dựa vào hồ sơ dự thầu, bên mời thầu sẽ xem xét và lựa chọn nhà thầu phù hợp để ký hợp đồng Những hồ sơ này đóng vai trò là căn cứ pháp lý để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ đấu thầu hàng hóa và dịch vụ.
Trong đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, đặc biệt là khi sử dụng nguồn vốn Nhà nước, Nhà nước đóng vai trò quan trọng mặc dù không trực tiếp tham gia Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu và kết quả xét thầu cho nhiều gói thầu khác nhau.
Đấu thầu hàng hóa, dịch vụ mang những đặc điểm chung của hoạt động thương mại độc lập, đồng thời cũng sở hữu những tính chất riêng biệt so với các hoạt động thương mại khác Do đó, có thể khẳng định rằng đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là một hoạt động thương mại đặc thù.
Phân biệt giữa đấu thầu hàng hóa, dịch vụ và đấu giá hàng hóa
Khái niệm “đấu thầu hàng hóa, dịch vụ” và “đấu giá hàng hóa” là hai khái niệm khác nhau nhưng thường bị nhầm lẫn Nhiều người thường nói về việc “địa phương tôi đang tiến hành đấu thầu khu đầm nuôi tôm X” hoặc “trên Internet hiện đang tiến hành đấu thầu gói thầu mua” Sự nhầm lẫn này có thể dẫn đến hiểu lầm trong quá trình thực hiện các hoạt động đấu thầu và đấu giá.
Trong lĩnh vực mua sắm, cần phân biệt rõ giữa hai khái niệm đấu thầu và đấu giá Đấu giá là hoạt động mà người bán, như chủ khu đầm nuôi tôm, chọn người mua có giá chào cao nhất, trong khi đấu thầu là quá trình mà người mua lựa chọn người bán máy tính văn phòng dựa trên các tiêu chí kỹ thuật và chi phí thấp nhất, không vượt quá dự toán Việc nhận thức đúng về sự khác biệt này sẽ giúp các bên tham gia hiểu rõ hơn về quy trình và lựa chọn phương thức phù hợp.
1.3.1 Hoạt động mua hay bán
Cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về đấu thầu Nó giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các quy định và hướng dẫn liên quan đến công tác đấu thầu Việc hiểu rõ khái niệm và vai trò của cổng thông tin này không chỉ nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu mà còn góp phần vào sự minh bạch và công bằng trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư công.
Trong quan hệ mua bán giữa các chủ thể đấu thầu và đấu giá, đấu thầu hàng hóa, dịch vụ đóng vai trò là bên mua, trong khi đấu giá hàng hóa là bên bán Trong đấu thầu, bên mời thầu, tức là bên có nhu cầu mua, tổ chức cuộc đấu thầu để tìm kiếm hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt với giá cả hợp lý, đáp ứng các yêu cầu đặt ra Ngược lại, trong đấu giá, bên tổ chức phiên đấu giá là bên có nhu cầu bán hàng hóa, với mục tiêu đạt được giá bán cao nhất từ các bên tham gia.
1.3.2 Đối tƣợng mua và bán
Trong đấu giá hàng hóa, bên bán cung cấp sản phẩm cụ thể, cho phép người mua trực tiếp kiểm tra và đánh giá chất lượng trước khi tham gia Ngược lại, trong đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, nhà thầu chỉ trình bày thông tin trên hồ sơ, và bên mua chỉ có thể đánh giá chất lượng hàng hóa sau khi hợp đồng được thực hiện.
1.3.3 Đặt cọc tham dự mua và bán
Trong quy trình đấu thầu mua bán hàng hóa và dịch vụ, nhà thầu phải trải qua hai giai đoạn chính: đấu thầu để lựa chọn nhà thầu phù hợp và giai đoạn thương thảo, ký kết hợp đồng Luật quy định hai lần đặt cọc để xác định trách nhiệm của nhà thầu, bao gồm đặt cọc khi tham gia thầu và đặt cọc thực hiện hợp đồng Ngược lại, trong đấu giá, người tham gia chỉ cần đặt cọc một lần để xác định trách nhiệm, và văn bản đấu giá được lập ngay tại cuộc đấu giá sẽ trở thành hợp đồng ràng buộc giữa các bên mà không cần giai đoạn thương thảo.
1.3.4 Xét trên giác độ giá cả Đấu thầu hàng hóa, dịch vụ cần thiết phải có sự khống chế về giá cao nhất Bên mời thầu (bên mua) mua hàng hóa, dịch vụ của người bán (nhà thầu) đảm bảo yêu cầu nhƣng trong giới hạn về nguồn lực tài chính của họ, nhà thầu đƣa ra giá cao hơn khả năng tài chính của bên mời thầu, thì dù có tốt đến mấy nếu bên mời thầu không đủ khả năng tài chính thì cũng không thể trúng thầu vì vƣợt khả năng thanh toán của bên mời thầu Nhà thầu nào đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu, mà giá thấp (tính trên một mặt bằng chi phí) thì sẽ càng có cơ hội chiến thắng Trái lại, đấu giá hàng hóa cần thiết khống chế giá thấp nhất khi các bên tham gia đặt giá, đƣợc gọi là giá sàn (giá khởi điểm) Sở dĩ nhƣ vậy là vì giá mà các bên tham gia đƣa ra phải đủ bù đấp những chi phí giới hạn của bên bán Ai đưa ra giá cao hơn sẽ là người thắng trong phiên đấu giá.
Các nguyên tắc trong đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Nguyên tắc đấu thầu là những tư tưởng chỉ đạo được xác định từ quy định pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành, yêu cầu các bên tham gia phải tuân thủ Tất cả hoạt động đấu thầu, bao gồm đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, cần phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây.
1.4.1 Nguyên tắc coi trọng tính hiệu quả
Tính hiệu quả là mục tiêu hàng đầu trong đấu thầu, đặc biệt là trong đấu thầu hàng hóa và dịch vụ Các gói thầu cần được thực hiện dựa trên tính toán kỹ lưỡng về hiệu quả kinh tế - xã hội mà chúng mang lại Bên mời thầu chỉ nên tổ chức đấu thầu khi có thể chứng minh rằng phương thức này mang lại hiệu quả cao hơn so với các hình thức mua sắm khác Cần tránh lợi dụng hình thức đấu thầu để thu lợi bất chính cho các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân Ngoài ra, việc tổ chức đấu thầu cần phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của từng gói thầu để đảm bảo hiệu quả tối ưu.
1.4.2 Nguyên tắc cạnh tranh với điều kiện ngang nhau Đây là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Nguyên tắc này nhằm tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả các nhà thầu, yêu cầu mỗi gói thầu phải có sự tham gia của một số lượng nhà thầu đủ năng lực để đảm bảo cạnh tranh Bên mời thầu phải cung cấp thông tin và điều kiện ngang nhau cho tất cả nhà thầu, không được đưa ra yêu cầu định hướng về xuất xứ hay phương thức cụ thể để ngăn cản sự tham gia Đồng thời, bên mời thầu cũng không được phân biệt đối xử trong việc xem xét và đánh giá hồ sơ dự thầu.
Theo giáo trình Luật thương mại tập II của Trường đại học luật Hà Nội, pháp luật của nhiều quốc gia thường có quy định ưu đãi cho các nhà thầu trong nước nhằm đảm bảo cạnh tranh công bằng với các nhà thầu nước ngoài, những đối thủ thường có kinh nghiệm và năng lực vượt trội hơn Điều này không được coi là sự phân biệt đối xử, mà là một biện pháp cần thiết để bảo vệ và phát triển thị trường nội địa.
1.4.3 Nguyên tắc thông tin đầy đủ và công khai
Để đảm bảo tính cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, cần tuân thủ nguyên tắc công khai và minh bạch Từ giai đoạn mời thầu, các bên liên quan phải cung cấp thông tin chi tiết về quy mô, khối lượng, quy cách, yêu cầu chất lượng, giá cả và điều kiện hợp đồng, bao gồm cả những sửa đổi nếu có Thông báo mời thầu, việc mở thầu và hồ sơ mời thầu phải được công khai để tất cả các nhà thầu có thể tiếp cận Đối với đấu thầu rộng rãi, thông báo mời thầu cần được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong khi đấu thầu hạn chế phải công khai với các nhà thầu liên quan Việc mở thầu cũng cần có sự chứng kiến của các nhà thầu và các bên liên quan, với các nội dung cơ bản của hồ sơ dự thầu được công bố ngay khi mở thầu và ghi vào biên bản Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc này sẽ góp phần vào sự thành công của cuộc đấu thầu.
1.4.4 Nguyên tắc bảo mật thông tin
Tính cạnh tranh khốc liệt giữa các bên dự thầu nhằm trở thành nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho bên mời thầu đã khiến bảo mật thông tin đấu thầu trở thành nguyên tắc tối thượng Bên mời thầu có trách nhiệm giữ bí mật hồ sơ dự thầu, và các tổ chức, cá nhân liên quan cũng phải bảo vệ mọi thông tin liên quan Mọi hành vi tiết lộ thông tin đều bị xử lý theo quy định pháp luật.
1.4.5 Nguyên tắc đánh giá khách quan, công bằng Đây là nguyên tắc quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động đấu thầu hàng hóa, dịch vụ giúp cho hoạt động đấu thầu hàng hóa, dịch vụ đạt đƣợc tính hiệu quả Nguyên tắc này thể hiện ở việc các hồ sơ dự thầu hợp lệ đều phải đƣợc xem xét, đánh giá khách quan, công bằng với cùng một tiêu chuẩn nhƣ nhau và bởi cùng một hội đồng xét thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm và tƣ cách Những tiêu chí đánh giá hồ sơ, tiêu chuẩn xét thầu phải được công bố trước trong hồ sơ mời thầu và bên mời thầu không đƣợc tự ý thay đổi trong quá trình xét thầu Mọi lý do của việc hồ sơ dự thầu đƣợc chọn hay bị loại đều phải đƣợc giải thích rõ ràng bằng văn bản cho các nhà thầu biết khi có yêu cầu của nhà thầu
1.4.6 Nguyên tắc đảm bảo dự thầu và đảm bảo thực hiện hợp đồng
Theo nguyên tắc đấu thầu, các nhà thầu phải nộp tiền bảo đảm kèm hồ sơ dự thầu, khoản tiền này sẽ được hoàn trả cho các nhà thầu không trúng thầu sau khi kết thúc quá trình đấu thầu Đối với nhà thầu trúng thầu, tiền bảo đảm sẽ được hoàn lại sau khi họ nộp tiền đảm bảo thực hiện hợp đồng, và cũng sẽ được trả lại sau khi hợp đồng được thanh lý Mục đích của nguyên tắc này là ngăn chặn việc các nhà thầu thay đổi ý định sau khi đã tham gia đấu thầu hoặc ký hợp đồng, đồng thời loại bỏ những nhà thầu không nghiêm túc, bảo vệ lợi ích cho bên mời thầu.
Trong các gói thầu mua sắm hàng hóa sử dụng vốn tín dụng từ các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Châu Á (ADB) và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), việc tổ chức đấu thầu cần tuân thủ các nguyên tắc riêng biệt mà các tổ chức này đề ra Cụ thể, hướng dẫn mua sắm của WB quy định các nguyên tắc quan trọng như "không đàm phán về giá", "chống tham nhũng" và "đấu thầu cạnh tranh quốc tế" (ICB).
Vai trò, mục tiêu của đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
1.5.1 Vai trò của đấu thầu hàng hóa, dịch vụ Đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là một hoạt động của nền kinh tế thị trường, nó tuân theo các quy luật khách quan của thị trường như quy luật cung – cầu, quy luật giá cả - giá trị Thông qua hoạt động đấu thầu, người mua (bên mời thầu) có nhiều cơ hội để lựa chọn người bán phù hợp với mình, mang lại hiệu quả cao nhất – xứng đáng với giá trị đồng tiền mà người mua sẵn sàng bỏ ra Đồng thời những người bán (nhà thầu) có nhiều cơ hội để cạnh tranh nhằm đạt đƣợc hợp đồng, có thể cung cấp các hàng hóa sản xuất ra hoặc các dịch vụ mà mình có khả năng đáp ứng nhằm tối đa hóa lợi nhuận
Đấu thầu hàng hóa và dịch vụ đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, thể hiện vai trò thiết yếu trong nền kinh tế thị trường Các hoạt động đấu thầu không chỉ thúc đẩy cạnh tranh mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ và hàng hóa, góp phần vào sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý nguồn lực.
Hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện cho người mua (bên mời thầu) và người bán (nhà thầu) gặp gỡ và cạnh tranh với nhau.
Hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ không chỉ thúc đẩy sự chuyên môn hóa và hợp tác trong sản xuất mà còn phát triển thị trường đấu thầu Qua đó, thị trường người bán được mở rộng, nhiều doanh nghiệp nhà thầu lớn mạnh và nhiều doanh nghiệp mới gia nhập, góp phần kích thích sự phát triển của thị trường trong nước, chống lại tình trạng độc quyền Đồng thời, các chủ đầu tư và bên mời thầu cũng nâng cao năng lực, trở thành những người mua thông thái hơn nhờ vào việc tiếp cận kiến thức và thông tin.
Hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ không chỉ thúc đẩy chuyển giao công nghệ mà còn tạo cơ hội chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm giữa các quốc gia và tổ chức phát triển với các nước đang phát triển Các nhà thầu danh tiếng toàn cầu sẵn sàng tham gia vào các hoạt động này, góp phần vào việc nâng cao năng lực và phát triển bền vững cho các quốc gia tham gia.
Nhà thầu trong lĩnh vực đấu thầu hàng hóa và dịch vụ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt khi tham gia vào các dự án lớn Họ cần xác định khả năng thực hiện hợp đồng và đưa ra mức giá hợp lý để có cơ hội giành được những dự án giá trị Việc tham gia đấu thầu không chỉ giúp nhà thầu khẳng định năng lực mà còn mang lại lợi ích kinh tế đáng kể.
Tổ chức đấu thầu hàng hóa và dịch vụ giúp các nhà thầu nâng cao tính chủ động và linh hoạt, đồng thời tìm kiếm thông tin thị trường để dự đoán khả năng thực hiện dự án với mức giá hợp lý.
Các nhà thầu cần nâng cao uy tín để nắm bắt nhiều cơ hội trúng thầu, đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư Để đạt được điều này, họ phải tích cực phát triển kỹ thuật, công nghệ và năng lực cạnh tranh Việc phát huy năng lực toàn diện, bao gồm tổ chức quản lý, nhân viên và công nhân, là rất quan trọng Đồng thời, các nhà thầu cũng cần đổi mới thiết bị, công nghệ và mở rộng mạng lưới giao thông.
Việc trúng thầu không chỉ tạo ra cơ hội việc làm cho công nhân viên mà còn thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cả thị trường nội địa và quốc tế.
Đấu thầu hàng hóa và dịch vụ là một công cụ quan trọng trong nền kinh tế, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Để đạt được hiệu quả tối ưu, hoạt động đấu thầu cần được thực hiện dựa trên nguyên tắc cạnh tranh công bằng và minh bạch.
1.5.2 Mục tiêu của đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
1.5.2.1 Mục tiêu về kinh tế
Chỉ tiêu kinh tế không chỉ tập trung vào giá cả mà còn bao gồm các chỉ tiêu khác mang lại lợi ích kinh tế cho các bên tham gia hợp đồng.
Phù hợp với mục tiêu (cụ thể là chất lƣợng)
Đáp ứng tiến độ và khả năng sẵn có của hàng hóa, dịch vụ: khả năng sẵn sàng cung cấp dịch vụ tƣ vấn, dịch vụ xây dựng
Chi phí cả đời dự án (ví dụ chi phí vận hành, bảo dƣỡng)
Chi phí phù hợp (ví dụ vận tải và lưu kho)
Quản lý chi phí đối với các hoạt động đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Hầu hết các hợp đồng kinh tế không chỉ đơn thuần là tìm kiếm giá cả rẻ nhất, mà còn phải đảm bảo giá trị tốt nhất cho đồng tiền Để đạt được các mục tiêu kinh tế, cần tổng hợp theo "5 đúng" sau đây.
Đúng số lượng đối với hàng hóa, đúng con người đối với dịch vụ
Đúng thời gian (tiến độ)
1.5.2.2 Mục tiêu tăng cường cạnh tranh trong đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Để đạt được hiệu quả trong công tác đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, cần đảm bảo quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường Mục tiêu cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu tại Việt Nam ngày càng được tăng cường, tạo động lực cho bên mời thầu đưa ra yêu cầu phù hợp và nhà thầu cạnh tranh để giành hợp đồng với giá cả hợp lý và chất lượng đảm bảo Nguyên tắc cơ bản để duy trì cạnh tranh là tạo ra "mâu thuẫn lợi ích" giữa bên mời thầu và nhà thầu, trong đó bên mời thầu muốn "nhanh, bền, tốt, rẻ" trong khi nhà thầu mong muốn "làm ít, hưởng nhiều" Sự xung đột lợi ích này thúc đẩy cạnh tranh, giúp cân bằng lợi ích và đảm bảo chất lượng hàng hóa, dịch vụ Hơn nữa, sự cạnh tranh giữa các nhà thầu cũng là yếu tố quan trọng để khuyến khích sáng tạo và cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm.
1.5.2.3 Mục tiêu công khai, minh bạch trong đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Công khai và minh bạch trong đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là mục tiêu quan trọng, nhằm đảm bảo thông tin không bị che giấu hay bí mật vì lợi ích cá nhân hoặc tổ chức nào Việc công khai thông tin theo quy định giúp mọi người liên quan hoặc quan tâm có thể nắm bắt và hiểu rõ các nội dung cần thiết.
Nội dung công khai trong hồ sơ mời thầu cần rõ ràng, dễ hiểu và tránh sự đa nghĩa, bao gồm các yêu cầu cụ thể về gói thầu Chỉ những nội dung trong hồ sơ mời thầu mới được xem là yêu cầu, do đó nhà thầu không bắt buộc thực hiện các công việc ngoài hồ sơ này Tiêu chuẩn đánh giá cũng phải được trình bày một cách minh bạch và chi tiết, đảm bảo quá trình xét thầu không bị thay đổi hay bổ sung thêm.
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ ĐẤU THẦU HÀNG HÓA, DỊCH VỤ
Quy định của pháp luật về đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
2.1.1 Chủ thể tham gia đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Theo Luật Thương mại năm 2005, đấu thầu hàng hóa và dịch vụ là hoạt động thương mại trong đó bên mời thầu chọn lựa bên dự thầu đáp ứng tốt nhất yêu cầu để ký kết hợp đồng Hoạt động này bao gồm hai nhóm chủ thể chính: bên mời thầu và bên dự thầu, cùng với sự tham gia của các chủ thể trung gian như nhà tư vấn, tổ chuyên gia xét thầu, chủ sở hữu vốn, và đơn vị tài trợ, cho vay vốn.
Luật Thương mại năm 2005 đã thay thế Luật Thương mại năm 1997, quy định rằng bên mời thầu là chủ sở hữu vốn hoặc người được giao quyền sử dụng vốn để mua hàng hóa Bên mời thầu có thể trực tiếp sử dụng nguồn vốn của mình hoặc ủy quyền cho một tổ chức khác thực hiện việc mua sắm Luật Đấu thầu năm 2005, được sửa đổi năm 2009, cũng xác định bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc tổ chức có năng lực, kinh nghiệm được chủ đầu tư ủy quyền để tổ chức đấu thầu Quy định này mở rộng và cụ thể hơn so với Luật Thương mại năm 1997, đồng thời giới thiệu thuật ngữ "chủ đầu tư", người quản lý và thực hiện dự án Như vậy, Luật Thương mại năm 2005 cung cấp một cái nhìn khái quát hơn về bên mời thầu và nhu cầu mua sắm hàng hóa.
17 Khoản 1 Điều 214 Luật Thương mại năm 2005
18 Điều 142 Luật Thương mại năm 1997
19 Khoản 10 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2005 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009
Theo Khoản 20, Điều 9 của Luật Đấu thầu năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), bên mời thầu không nhất thiết phải là chủ sở hữu vốn, mà có thể là bất kỳ chủ thể nào có nhu cầu mua sắm hàng hóa hoặc dịch vụ Điều này cho phép bên mời thầu là cá nhân hoặc tổ chức được ủy quyền sử dụng vốn để thực hiện các giao dịch Tuy nhiên, trong trường hợp bên mời thầu không phải là chủ sở hữu vốn, người sở hữu vốn vẫn có ảnh hưởng nhất định đến gói thầu Mặc dù bên mời thầu có thể là bất kỳ ai, nhưng theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, việc đấu thầu hàng hóa và dịch vụ thường liên quan đến các thương nhân với mục tiêu sinh lợi.
Theo Luật Thương mại năm 1997, Luật Thương mại năm 2005 và Luật Đấu thầu năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009), bên dự thầu là các thương nhân có đủ năng lực cung cấp hàng hóa, dịch vụ và được mời tham gia đấu thầu Bên dự thầu có thể là thương nhân Việt Nam hoặc nước ngoài, nhưng chỉ thương nhân thắng cuộc mới được ký hợp đồng với bên mời thầu Luật Thương mại năm 1997 quy định điều kiện dự thầu, bao gồm ngành nghề kinh doanh phù hợp và năng lực chuyên môn, nhưng quy định này đã bị loại bỏ trong Luật Thương mại năm 2005 Mặc dù không có quy định cụ thể, bên dự thầu vẫn cần đáp ứng các tiêu chuẩn như độc lập tài chính, năng lực pháp luật dân sự và đối với thương nhân cá nhân, cần có năng lực hành vi dân sự để thực hiện hợp đồng.
Trong quan hệ đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, các công ty tư vấn và tổ chuyên gia đóng vai trò quan trọng như những trung gian hỗ trợ bên mời thầu trong việc lập hồ sơ, đánh giá hồ sơ dự thầu và xét thầu Mặc dù chưa có quy định pháp lý rõ ràng về tư cách, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này, họ vẫn góp phần đảm bảo hoạt động đấu thầu diễn ra nghiêm túc và tuân thủ đúng thủ tục luật định.
Điều 147 của Luật Thương mại năm 1997 đã bộc lộ nhiều bất cập, đòi hỏi cần có các biện pháp điều chỉnh phù hợp Việc đưa ra những vấn đề này vào khuôn khổ pháp luật là vô cùng cần thiết để đảm bảo tính hiệu quả và công bằng trong hoạt động thương mại.
2.1.2 Đối tƣợng của đấu thầu hàng hóa, dịch vụ Đối tƣợng của đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là tất cả các loại hàng hóa đƣợc phép lưu thông và dịch vụ được phép thực hiện theo quy định của pháp luật Theo Luật Thương mại năm 1997 quy định “Hàng hóa gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán” 22 Đây có thể xem là khái niệm đầu tiên nói về hàng hóa thế nhƣng khái niệm này còn nhiều bất cập Đến Luật Thương mại năm 2005 thay thế Luật Thương mại năm 1997 đã quy định khác đi theo đó “Hàng hóa bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai” 23 Đây là một khái niệm mới, mở rộng hơn so với Luật Thương mại năm 1997, không bị bó hẹp trong phạm vi được liệt kê một số loại hàng hóa cụ thể Trên thực tế, hiện nay hàng hóa trong đấu thầu rất phong phú và đa dạng nhƣ; nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sản xuất, máy móc, thiết bị phần mềm, tín phiếu, trái phiếu, phim ảnh, kịch bản Do đó, có thể nói khái niệm mở này là một sự tiến bộ, theo kịp xu hướng của nền kinh tế, phù hợp với nhu cầu thực tiễn
Dịch vụ hiện nay chưa được định nghĩa cụ thể trong Luật Thương mại 2005, trong khi Luật Thương mại 1997 chỉ quy định rằng dịch vụ liên quan đến mua bán hàng hóa, gây khó khăn cho các bên thực hiện Luật Thương mại 2005 đã loại bỏ quy định này và Bộ Luật Dân sự 2005 cũng không đưa ra định nghĩa rõ ràng về dịch vụ, nhưng nhấn mạnh rằng đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc hợp pháp và đạo đức Theo đó, dịch vụ trong thương mại được hiểu là tất cả các dịch vụ mà pháp luật không cấm và nhằm mục đích sinh lời Dịch vụ là sản phẩm vô hình, không thể cầm nắm, tạo ra giá trị từ quá trình lao động và sản xuất để đáp ứng nhu cầu con người, khác với hàng hóa hữu hình và không thể lưu trữ Dịch vụ không trực tiếp sản xuất của cải vật chất nhưng lại tạo ra giá trị thặng dư nhờ khai thác sức lao động và tri thức.
22 Khoản 3 Điều 5 Luật Thương mại năm 1997
23 Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005
24 Khoản 4 Điều 5 Luật Thương mại năm 1997
Theo Điều 519 Bộ Luật Dân sự năm 2005, các hoạt động đấu thầu dịch vụ như thiết kế công trình và tư vấn, do thương nhân tổ chức với mục đích sinh lời, được xem là đấu thầu dịch vụ trong thương mại.
Hiện nay, hàng hóa và dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện được quy định tại Nghị định số 59/2006/NĐ-CP và Nghị định số 43/2009/NĐ-CP Nghị định 59/2006 có hiệu lực từ ngày 09/07/2006, trong khi Nghị định 43/2009 sửa đổi, bổ sung danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh theo hướng dẫn thi hành Luật Thương mại năm 2005.
2.1.3 Hình thức của đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Hình thức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động quan trọng của bên mời thầu nhằm chọn lựa nhà thầu phù hợp nhất với yêu cầu đặt ra Tùy thuộc vào tính chất và quy mô của gói thầu, bên mời thầu sẽ lựa chọn hình thức đấu thầu thích hợp Theo Luật Thương mại năm 2005, có hai hình thức đấu thầu chính là đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế.
Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu không giới hạn số lượng bên dự thầu, cho phép tất cả các nhà thầu có quyền tham gia mà không có điều kiện hạn chế Bên mời thầu phải đảm bảo công bằng và không tạo lợi thế cho một số nhà thầu, nhằm tránh sự cạnh tranh không bình đẳng Hình thức này được áp dụng tùy thuộc vào quy mô và tính chất của từng gói thầu, có thể ở cấp địa phương, vùng, quốc gia hoặc quốc tế Để đảm bảo thông tin đến tay mọi nhà thầu, bên mời thầu có trách nhiệm công bố thông tin liên quan đến cuộc đấu thầu trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
Khi bên mời thầu chọn hình thức đấu thầu rộng rãi, họ có nhiều cơ hội để lựa chọn nhà thầu, tạo ra một môi trường cạnh tranh lớn Điều này giúp giảm giá cả hàng hóa và dịch vụ mà vẫn đảm bảo chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu Tuy nhiên, hình thức này cũng có nhược điểm, do số lượng các bên dự thầu có thể quá lớn, dẫn đến khó khăn trong việc quản lý và đánh giá.
26 Hiện nay Chính phủ đang lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006
27 Điều 215 Luật Thương mại năm 2005
Khoản 1 Điều 215 Luật Thương mại 2005 đặt ra hạn chế cho bên mời thầu, gây khó khăn trong việc đánh giá và chấm thầu, đồng thời làm tăng chi phí đấu thầu Để khắc phục vấn đề này, nhiều bên mời thầu thực hiện sơ tuyển nhà thầu trước khi tổ chức đấu thầu Những nhà thầu đáp ứng đủ điều kiện sơ tuyển sẽ được ghi tên vào danh sách tham dự đấu thầu chính thức Từ đây, đấu thầu rộng rãi có thể được phân chia thành hai loại: đấu thầu rộng rãi có sơ tuyển và đấu thầu rộng rãi không sơ tuyển.
Đấu thầu hạn chế là hình thức mà bên mời thầu chỉ mời một số nhà thầu nhất định tham gia dự thầu Theo quy định, chỉ những nhà thầu được chọn mới có quyền gửi hồ sơ dự thầu Khác với đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế không yêu cầu thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, vì số lượng nhà thầu tham dự do bên mời thầu quyết định Số lượng và loại hình nhà thầu sẽ được xác định dựa trên quy mô và tính chất của gói thầu.
Thực trạng và hướng hoàn thiện về đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
2.2.1 Nhận xét chung về pháp luật đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Trước khi Luật Thương mại năm 2005 được ban hành, hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ tại Việt Nam chủ yếu được quy định trong nhiều văn bản khác nhau, dẫn đến sự thiếu thống nhất và hiệu quả Thời kỳ này, hoạt động đấu thầu diễn ra hạn chế và không phổ biến Sau khi thực hiện đường lối đổi mới, nhu cầu cải cách trong hoạt động đấu thầu trở nên cấp thiết, dẫn đến việc Quốc hội thông qua Luật Thương mại năm 1997 với các quy định về đấu thầu Tuy nhiên, các quy định này nhanh chóng trở nên lạc hậu và không đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Để khắc phục sự không tương thích này, ngày 14/6/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Thương mại mới, nhằm cải thiện hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
Luật Thương mại năm 2005 đã thay thế Luật Thương mại năm 1997, quy định rõ ràng về đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động này Đến nay, hoạt động đấu thầu đã được nhà nước quy định cụ thể cho từng lĩnh vực, nhờ vào quá trình tiếp thu và điều chỉnh từ kinh nghiệm quốc tế Mặc dù đã có những tiến bộ, các quy định về đấu thầu vẫn sẽ tiếp tục được điều chỉnh để phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
2.2.2 Điểm tích cực trong quy định đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Kể từ khi pháp luật về đấu thầu hàng hóa, dịch vụ được ban hành, hoạt động đấu thầu tại Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng Quy định mới này đã mang lại nhiều lợi ích cho việc đấu thầu, cụ thể là nâng cao tính minh bạch và cạnh tranh trong quá trình lựa chọn nhà thầu.
Luật Thương mại năm 2005 đã thiết lập khung pháp lý cho hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, giúp các bên tham gia, đặc biệt là những ai chưa quen, có thể tổ chức đấu thầu một cách thuận lợi Những quy định trong luật này không chỉ hỗ trợ việc thực hiện đấu thầu mà còn đảm bảo quyền lợi cho tất cả các chủ thể tham gia.
Sự ra đời của Luật Thương mại năm 2005 đã thúc đẩy hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ, làm gia tăng nhu cầu tổ chức đấu thầu trong nhiều lĩnh vực Sự xuất hiện của các công ty tư vấn đấu thầu và chuyên gia thẩm định đã góp phần làm cho hoạt động này trở nên phổ biến hơn Hiện nay, quy trình đấu thầu đang được hoàn thiện theo hướng đơn giản và hài hòa với các thủ tục quốc tế, tạo ra một cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển hiệu quả của hoạt động đấu thầu.
Thứ ba, bên cạnh chúng ta là thành viên của Diễn đàn hợp tác Kinh tế khu vực
Việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và tham gia APEC 57 đã dẫn đến sự ra đời của pháp luật đấu thầu hàng hóa, dịch vụ trong Luật Thương mại 2005, thay thế cho Luật Thương mại 1997 Điều này giúp hoạt động đấu thầu quốc tế của Việt Nam trở nên thuận lợi hơn, đồng thời giảm bớt công sức cho các nhà thầu Việt Nam khi tham gia vào các gói thầu.
Các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày càng phù hợp với các tiêu chuẩn của các nước thành viên APEC, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu quốc tế Điều này giúp họ dễ dàng tham gia vào các gói thầu quốc tế do Việt Nam tổ chức, thúc đẩy sự hợp tác thương mại trong khu vực.
Thứ tư, cơ chế kinh tế thị trường đã thấm sâu vào đời sống kinh tế xã hội Việt
Tính đến ngày 31/12/2012, Việt Nam đã có 622.977 doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân Luật pháp về đấu thầu hàng hóa và dịch vụ đã thúc đẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, với hàng tỷ đô la được rót vào mỗi năm Những quy định này đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch, giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất và giảm giá thành sản phẩm Đồng thời, sự cạnh tranh giữa các nhà thầu tạo điều kiện cho nhà đầu tư lựa chọn nhà cung cấp phù hợp nhất với yêu cầu và giá cả hợp lý, đồng thời thúc đẩy giao lưu khoa học, kỹ thuật giữa Việt Nam và các quốc gia khác.
Việc áp dụng pháp luật về đấu thầu hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà thầu quốc tế mà còn mở ra cơ hội cho họ xâm nhập vào thị trường Việt Nam Các nhà thầu quốc tế, thông qua hoạt động đầu tư, sẽ mang theo công nghệ hiện đại và thiết bị tiên tiến, từ đó nâng cao trình độ kỹ thuật của Việt Nam Hơn nữa, sự rõ ràng và minh bạch trong pháp luật đấu thầu giúp các nhà đầu tư yên tâm hơn khi quyết định đầu tư vào Việt Nam.
2.2.3 Những hạn chế, bất cập trong đấu thầu hàng hóa, dịch vụ
Mặc dù pháp luật về đấu thầu hàng hóa và dịch vụ ở Việt Nam đã được hoàn thiện hơn trước, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế và bất cập trong quy định cũng như trong việc áp dụng thực tiễn Những vấn đề này đã làm cho hoạt động đấu thầu không đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đề ra.
Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2011 đã được công bố bởi Kim Hiền trên Báo điện tử Tin mới vào năm 2012 Tuy nhiên, liên kết đến báo cáo này hiện không còn khả dụng.
Quy định pháp luật về đấu thầu hàng hóa và dịch vụ hiện còn thiếu sót và mang tính khái quát, dẫn đến việc các bên tham gia thường dựa vào Luật Đấu thầu năm 2005 và các sửa đổi, bổ sung năm 2009 Cụ thể, trong quy trình sơ tuyển, Luật Thương mại năm 2005 chỉ cho phép bên mời thầu tổ chức sơ tuyển để chọn lựa bên dự thầu phù hợp, nhưng không quy định rõ ràng về trình tự, thủ tục, và tiêu chuẩn đánh giá sơ tuyển, cũng như phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu và các loại dịch vụ liên quan trong đấu thầu.
Luật Thương mại năm 2005 không quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động đấu thầu, dẫn đến sự e dè trong việc tham gia Sau gần 10 năm có hiệu lực, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn nào điều chỉnh hoạt động này, gây khó khăn cho các bên liên quan Hiện tại, hoạt động đấu thầu hàng hóa và dịch vụ tại Việt Nam được quy định trong 19 Điều của Luật Thương mại năm 2005, từ Điều 214 đến Điều 232.
Các quy định về đấu thầu hiện nay tuy ngắn gọn, tạo sự thông thoáng cho các chủ thể tham gia, nhưng cũng dẫn đến việc áp dụng luật một cách tùy tiện và thiếu thống nhất So với Luật Thương mại năm 2005, quy định về đấu thầu hàng hóa, dịch vụ trong Luật Đấu thầu năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có tính chi tiết hơn, khiến nhiều chủ thể chọn áp dụng Luật Đấu thầu dù dự án không thuộc phạm vi điều chỉnh Hệ quả là Luật Thương mại năm 2005 chỉ còn giá trị lý thuyết.
Công ty TNHH Bất Động Sản Trần Thái đã đăng thông báo tìm nhà thầu trên trang web của mình Thông báo này yêu cầu cung cấp hạng mục và vật tư thiết bị cho công trình Chi tiết có thể được tìm thấy tại địa chỉ http://tranthai.com/tranthai/?tranthai=news-detail&id6.