1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT về CHẾ độ hưu TRÍ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

58 127 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 836,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về bản chất bảo hiểm xã hội cũng như chế độ hưu trí là sự hạn chế rủi ro cho người tham gia bằng cách lập ra một quỹ dự trữ 3 Một số vấn đề về chính sách hưu trí, T.s Nguyễn Huy Ban

Trang 1

CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Bộ môn Luật Hành chính MSSV: 5075270

Lớp: Luật Thương mại 3 - K33

Cần Thơ, 4/2011

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày … tháng … năm …

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày … tháng … năm …

Trang 4

Lời mở đầu……… 1

Chương 1: Những vấn đề chung về chế độ hưu trí 1.1 Mối quan hệ giữa chế độ hưu trí và Bảo hiểm xã hội……… 3

1.2 Khái niệm chế độ hưu trí……….7

1.3 Đặc điểm của chế độ hưu trí………9

1.4 Phân loại chế độ hưu trí……….11

1.4.1 Chế độ hưu trí dành cho người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc……… 11

1.4.2 Chế độ hưu trí dành cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện…… 12

1.4.3 Chế độ hưu trí hằng tháng……… 13

1.4.4 Chế độ hưu trí một lần……….13

1.5 Tầm quan trọng của chế độ hưu trí đối với người lao động……… 13

1.5.1 Chế độ hưu trí bảo đảm cho đời sống của người lao động khi về hưu………14

1.5.2 Chế độ hưu trí góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định và thúc đẩy công bằng xã hội……… 14

1.5.3 Chế độ hưu trí phản ánh trình độ phát triển của quốc gia……… 16

Chương 2: Pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp 2.1 Cơ sở hình thành pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam……….17

2.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội……… 17

2.1.2 Cơ sở chính trị……… 21

2.1.3 Cơ sở pháp lý……… 22

2.2 Những quy định của pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam………24

2.2.1 Đối tượng áp dụng chế độ hưu trí………25

2.2.2 Điều kiện hưởng lương hưu và mức hưởng lương hưu……… 28

2.2.2.1 Điều kiện hưởng lương hưu và mức hưởng lương hưu hằng tháng……….28

2.2.2.2 Điều kiện được nhận trợ cấp một lần khi nghỉ hưu……… 34

2.3 Thực trạng áp dụng chế độ hưu trí cho người lao động ở Việt Nam……… 36

2.4 Giải pháp cho chế độ hưu trí ở Việt Nam……… 43

2.5 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam 47

Kết luận……….49

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chế độ hưu trí là một bộ phận không thể thiếu trong chính sách an sinh xã hội của mọi quốc gia, là một trong những công cụ để đo trình độ phát triển của một quốc gia nào đó Ngoài ra chế độ hưu trí còn đóng vai trò ổn định xã hội, thúc đẩy công bằng

xã hội Chính vì lẽ đó mà dù quốc gia phát triển hay đang phát triển đều cố gắng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí

Tại Việt Nam, chế độ hưu trí đã được đề cập rất sớm trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa như là một quyền lợi của người lao động Từ quy định đó, chế độ hưu trí hiện diện xuyên suốt trong các văn bản luật về lao động và

an sinh xã hội như Bộ luật lao động và đặc biệt là Luật Bảo hiểm xã hội ban hành năm

2006 trên cơ sở những quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành trước đó Càng

về sau này, các văn bản luật càng điều chỉnh phù hợp hơn so với tình hình thực tế Tuy nhiên, vẫn còn những kẽ hở làm cho luật chưa được hoàn thiện và tạo cơ hội cho tiêu cực phát sinh, ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động và lợi ích của nhà nước

Đất nước ta đã bước thời kỳ đổi mới được hơn 20 năm và ngày càng tiến nhanh trên con đường trở thành một nước phát triển Để đạt được mục tiêu đó thì lực lượng sản xuất là một nhân tố không thể thiếu Người lao động là bộ phận quan trọng cấu thành nên lực lượng sản xuất Do đó, việc đảm bảo cho người lao động có cuộc sống

ổn định là việc làm cấp bách Pháp luật về chế độ hưu trí của Việt Nam cũng có những bước tiến đáng kể nhưng vẫn chưa theo kịp với những biến chuyển của tình hình kinh tế - xã hội đất nước Việc chi trả lương hưu, các quy định về điều kiện nghỉ hưu, mức hưởng lương hưu… đôi khi còn gây khó khăn cho người lao động và các bên liên quan, đặc biệt là trong hình lạm phát ở nước ta vẫn chưa được kiềm chế ở mức an toàn Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật vẫn chưa được hợp lý nên

vô hình chung đã gây ra những vướng mắc nhất định trong việc áp dụng vào thực tế Việc nghiên cứu pháp luật về chế độ hưu trí không những giúp người viết nâng cao hiểu biết về lĩnh vực này mà còn có lợi ích thiết thực về sau này khi người viết công tác tại các cơ quan, doanh nghiệp Chính những nguyên nhân đó đã thôi thúc người

viết tìm hiểu đề tài “Pháp luật về chế độ hưu trí cho người lao động”

2 Mục đích nghiên cứu

Luật Bảo hiểm xã hội đã ra đời cách đây 5 năm và Bộ luật Lao động 1994 được sửa đổi bổ sung vào năm các năm 2002, 2006, 2007 vẫn đang được nghiên cứu sửa

Trang 6

nhưng những quy định đó vẫn chưa khắc phục được những bất cập trong chế độ hưu

trí Thông qua nghiên cứu đề tài “Pháp luật về chế độ hưu trí cho người lao động”,

người viết sẽ có cơ hội tìm hiểu rõ hơn những vấn đề liên quan đến chế độ hưu trí

cũng như những bất cập của chế độ hưu trí ở Việt Nam hiện nay Từ kết quả của

nghiên cứu này người viết sẽ đưa ra những đề xuất để góp phần hoàn thiện chế độ hưu

trí trong luật Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ công trình nghiên cứu của mình, người viết sẽ tiến hành nghiên

cứu những vấn đề lý luận cơ bản của chế độ hưu trí trong hệ thống pháp luật về an

sinh xã hội của Việt Nam hiện hành cũng như những bất cập trong quá trình áp dụng

luật Trong phạm vi nghiên cứu của mình, người viết cũng sẽ nêu bật lên những

vướng mắt trong thực tiễn đồng thời đưa ra những giải pháp và kiến nghị

4 Phương pháp nghiên cứu

Xác định được đây là một vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tế nên

người viết sẽ vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và xã hội

để giải quyết những vấn đề thuộc về lý luận đồng thời dùng phương pháp so sánh,

phân tích luật viết, kết hợp với việc sử dụng kiến thức của bản thân cũng như của các

chuyên gia để giải quyết phần thực tiễn

5.Bố cục đề tài

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận cũng như Phụ lục và tài liệu tham khảo thì đề tài tập

trung ngắn gọn trong hai chương, cụ thể là:

Chương một: Những vấn đề chung về chế độ hưu trí. Trong phạm vi chương này

người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chế độ hưu trí như: mối quan

hệ giữa bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí, khái niệm, đặc điểm, phân loại chế độ hưu

trí…

Chương hai: Pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp

Chương này người viết sẽ phân tích những quy định của pháp luật về chế độ hưu trí

của Việt Nam kết hợp với việc so sánh, đối chiếu với luật một số nước để tìm ra

những điểm chưa hợp lý của luật Bên cạnh đó, người viết cũng tập trung phân tích

nhằm nêu bật những bất cập trong thực tế Từ việc phân tích hai vấn đề nêu trên,

người viết sẽ đưa ra những giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập đó

Trang 7

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

Chế độ hưu trí được ra đời từ rất lâu Trong suốt quá trình hình thành và

phát triển nó luôn chiếm vị trí quan trọng trong chính sách an sinh xã hội của các quốc gia Trong nền kinh tế thị trường, chế độ hưu trí ngày càng phát huy vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Tuy nhiên việc thực hiện tốt chế độ hưu trí cho người lao động không phải là việc

dễ dàng Đặc biệt là trong tình hình dân số thế giới đang tăng từng ngày và đã vượt qua mốc 6 tỷ người Dân số phát triển nhanh tạo ra một lực lượng lao động hùng hậu nhưng cũng tạo ra một số lượng lớn người về hưu Vấn đề giải quyết quyền lợi của đối tượng này ảnh hưởng rất lớn đến nhiều phương diện khác như kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội Việc nghiên cứu những vấn đề chung về chế

độ hưu trí sẽ làm sáng tỏ phần nào bản chất và những đặc điểm của chế độ này,

từ đó tìm ra căn nguyên của những vấn đề phát sinh từ chế độ hưu trí

1.1 Mối quan hệ giữa chế độ hưu trí và Bảo hiểm xã hội

Con người muốn tồn tại và phát triển thì phải lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất Tuy nhiên, trong quá trình lao động sản xuất và trong đời sống, con người phải đối diện với rất nhiều rủi ro Có thể nói rủi ro là một phần tất yếu của cuộc sống mà ai ai cũng mắc phải dù chỉ một lần trong đời Những rủi ro đó thể do thiên tai, địch họa, bệnh tật… Khi gặp phải những vấn đề kể trên thì không phải ai cũng vượt qua được một cách suông sẻ nên con người luôn tìm cách hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro mà mình có thể mắc phải Ngoài những giải pháp thông thường thì con người còn nghĩ ra giải pháp lập một quỹ

dự phòng dùng để bù đắp những thiệt hại, đó là hình thức nguyên khai của bảo hiểm Bảo hiểm trong buổi đầu hình thành chủ yếu áp dụng để giảm thiểu tổn thất trong mua bán, vận chuyển hàng hóa Về sau này, do nhận thấy được tính ưu việt của hình thức này nên họ đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác như chăm sóc sức khỏe, việc làm, học tập…

Vào khoảng thế kỷ VI, những người nông dân vùng thung lũng Anpơ đã nhận thấy khả năng của sự đóng góp cộng đồng để trợ cấp cho những người bị

ốm đau, tai nạn Họ đã thành lập những hội tương tế với cách thức mỗi người đều trích ra một phần thu nhập để đóng chung vào một quỹ phòng khi ai ốm đau, tai

Trang 8

nạn thì dùng quỹ đó để giúp đỡ(1) Hiệu quả của mô hình này đã tác động mạnh

mẽ đến ý thức và trách nhiệm xã hội của nhà nước Sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, số người nông dân bỏ nông thôn ra thành thị làm công ngày càng đông Khi làm công cho chủ thì thu nhập chủ yếu của họ là tiền lương, tiền công làm thuê Tuy nhiên họ cũng phải đối mặt với rủi ro không có thu nhập những lúc ốm đau, tai nạn Chính vì vậy, cũng như những người nông dân trước kia, họ cũng lập ra một quỹ tương trợ để giúp nhau những lúc khó khăn Đó là tiền đề để ra đời loại hình bảo hiểm xã hội

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 nổ ra vào thế kỷ XIX đã làm thay đổi toàn bộ thế giới Lao động thủ công dần nhường chỗ cho máy móc, số lượng người lao động làm công ăn lương cũng tăng lên nhanh chóng Thu nhập của họ gắn liền với công việc, chính vì vậy những rủi ro như ốm đau, tai nạn, tuổi già… cũng vì thế mà tăng lên Nhận thức được vấn đề này, một số nước đã khuyến khích thành lập các quỹ tương trợ để giúp đỡ những người lao động Một trong những quốc gia đó là Đức Cuối thế kỷ XIX, bộ máy chính quyền nhiều bang ở Đức bắt đầu thiết lập quỹ trợ cấp ốm đau do chính những người thợ bắt buộc phải đóng góp để tương trợ những người lao động gặp rủi ro ốm đau Vào năm 1850 ở Đức đã thành lập quỹ ốm đau và bắt buộc công nhân phải đóng góp để trợ cấp cho những người bị bệnh tật Trong khoảng từ năm 1883 đến 1889, các hình thức bảo hiểm mang tính bắt buộc được mở rộng trong các trường hợp tai nạn lao động, tuổi già, tàn tật với sự tham gia đóng góp của ba bên (người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước) Mọi người làm công ăn lương bắt buộc phải đóng góp, bất kể là thợ lành nghề hay lao động phổ thông, là người già hay trẻ, là nam hay nữ Từ đó, nhiều nhà nước đã ban hành các đạo luật làm cơ sở

để điều chỉnh các mối quan hệ về trợ cấp cho những người gặp rủi ro bất hạnh Bên cạnh đó các dịch vụ xã hội như: dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dịch vụ chăm sóc người già, bảo vệ trẻ em từng bước được mở rộng ở các nước tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng nước Tất cả những hoạt động chung mang tính xã hội vì mục đích cao cả trợ giúp cho các thành viên trong xã hội như vậy được hiểu là an sinh xã hội.(2)

Trong các dạng trợ cấp của bảo hiểm xã hội buổi sơ khai thì trợ cấp tuổi già

là một trong những dạng trợ cấp ra đời sớm nhất và gắn liền với sự phát triển của bảo hiểm xã hội Theo một số tài liệu thì chế độ hưu trí (trợ cấp tuổi già) lần đầu

Trang 9

tiên được quy định trong luật của nước Phổ(3) (tiền thân của nước Đức) Do những hiệu quả tích cực mà nó mang lại nên chế độ hưu trí phát triển nhanh chóng và lan dần ra các nước Chế độ hưu trí được công nhận trên toàn thế giới vào năm 1952 với Công ước số 102 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) Công ước này khuyến nghị các nước phải thực hiện ít nhất 3 trong số 9 chế độ được quy định trong Công ước Một trong 9 chế độ được khuyến nghị đó là chế độ hưu trí Tuy có những quy định khác nhau nhưng mục đích chung của chế độ hưu trí các nước đều giống nhau Tại Việt Nam, chế độ hưu trí đã ra đời từ thời Pháp thuộc nhưng đối tượng áp dụng chỉ là người Pháp và những người làm việc cho Pháp Sau Cách mạng tháng 8, Nhà nước ta đã quy định chế độ trợ cấp tuổi già là một quyền lợi của người lao động Từ đó đến nay, chế độ hưu trí của Việt Nam không ngừng phát triển và trở thành một trong những nội dung quan trọng của pháp luật về an sinh xã hội

Chế độ hưu trí là một nội dung cơ bản và ra đời cùng với bảo hiểm xã hội nên giữa chế độ hưu trí và bảo hiểm xã hội có mối quan hệ mật thiết Công ước

102 (năm 1952) của Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã khuyến nghị các quốc gia thành viên phải thực hiện một số chế độ bảo hiểm nhất định Điều 2 khoản ii Công ước quy định các quốc gia phải thực hiện ít nhất là 3 phần trong các phần

II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX và X; bao gồm ít nhất là một trong các phần IV,

V, VI, IX và X(4) Luật Việt Nam quy định chế độ hưu trí là một trong các chế độ trợ cấp xã hội có trong Bộ luật lao động và Luật Bảo hiểm xã hội Việc ban quy định chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội giúp cho bảo hiểm xã hội toàn diện hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân Thực tế cho thấy, quốc gia có chính sách hưu trí tốt thì có chính sách bảo hiểm xã hội phát triển Như vậy, sự phát triển của chế độ hưu trí gắn liền với sự phát triển của bảo hiểm xã hội Bên cạnh

đó, chế độ hưu trí cùng với các chế độ bảo hiểm khác trong bảo hiểm xã hội góp phần làm cho xã hội phát triển ổn định, giúp dung hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động từ đó giảm thiểu xung đột xã hội do lợi ích giai cấp

Cũng như các chế độ bảo hiểm hiện hành, chế độ hưu trí cũng mang các đặc điểm chung của bảo hiểm xã hội Về bản chất bảo hiểm xã hội cũng như chế độ hưu trí là sự hạn chế rủi ro cho người tham gia bằng cách lập ra một quỹ dự trữ

(3)

Một số vấn đề về chính sách hưu trí, T.s Nguyễn Huy Ban

chinh-sach-huu-tri.aspx[11/02/2011]

http://www.luatviet.org/Home/nghien-cuu-trao-doi/lao-dong-tien-luong/2009/8391/Mot-so-van-de-ve-(4)

Phần II: Chăm sóc y tế; Phần III: Trợ cấp ốm đau; Phần IV: Trợ cấp thất nghiệp; Phần V: Trợ cấp tuổi già; Phần VI: Trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; Phần VII: Trợ cấp gia đình (phụ cấp gia đình); Phần VIII: Trợ cấp thai sản; Phần IX: Trợ cấp tàn tật; Phần X: Trợ cấp tiền tuất

Trang 10

do mọi người đóng góp vào Với số tiền mà quỹ này chi trả thì người tham gia có thể trang trải được phần nào khó khăn mắc phải Sự tương đồng về đặc điểm của chế độ hưu trí và bảo hiểm xã hội thể hiện ở những điểm sau:

So với các loại hình bảo hiểm khác thì chế độ hưu trí cũng như bảo hiểm xã

hội thuộc về bảo hiểm con người Nguồn tài chính đóng góp là do người chủ sử

dụng lao động và người lao động cùng nhau đóng góp, trong một số trường hợp còn có thêm sự đóng góp của nhà nước Đây là đặc điểm cơ bản phân biệt bảo hiểm xã hội với các loại hình bảo hiểm còn lại Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội có sự khác nhau giữa các quốc gia nhưng nhìn chung đều là cá nhân người lao động Khi gặp phải rủi ro thì quỹ bảo hiểm sẽ chi trả cho người tham gia, một

số trường hợp đặt biệt thì người thân của người tham gia sẽ được nhận thay

Như đã đề cập ở trên, nguồn quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí được hình

thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và có thể có

sự đóng góp của nhà nước Nguồn quỹ này được tập hợp thành một quỹ riêng

Tuy nhiên không phải trường hợp nào tham gia bảo hiểm xã hội cũng sẽ được nguồn quỹ này chi trả mà quỹ này chỉ chi trả cho những trường hợp cần đến sự

hộ trợ của xã hội Điều này xuất phát từ nguyên tắc lấy số đông bù số ít, số tiền đóng góp của những cá nhân này sẽ được dùng để hỗ trợ cho cá nhân khác gặp phải rủi ro, như vậy có thể xem như rủi ro đã được san đều cho tất cả những người tham gia

Một điểm phân biệt giữa chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội với các loại

hình bảo hiểm còn lại đó là tính tự nguyện trong việc tham gia bảo hiểm Các

loại hình bảo hiểm con người và bảo hiểm tài sản kể trên đa số đều là tự nguyện khi người tham gia cảm thấy có điều kiện tham gia hay cảm thấy việc tham gia là cần thiết để phòng ngừa rủi ro Nhưng trên nguyên tắc thì bảo hiểm xã hội là bắt buộc tham gia, đặc biệt là đối với người lao động Tuy vậy cũng có một số trường hợp ngoại lệ việc tham gia bảo hiểm xã hội là không bắt buộc Luật hầu hết các nước đều bắt buộc chủ sử dụng lao động phải tạo điều kiện cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bằng cách trích một phần doanh thu để đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động Điều này có lẽ xuất phát từ những lợi ích to lớn

mà bảo hiểm xã hội mang lại Một khi đã tham gia bảo hiểm xã hội thì người tham gia có thể an tâm trước những rủi ro vì khi gặp phải những rủi ro thì họ đã

có sự hỗ trợ từ bảo hiểm xã hội, sự hỗ trợ đó sẽ giúp họ vượt qua khó khăn mà nếu không tham gia bảo hiểm xã hội thì họ khó lòng vượt qua được

Trang 11

1.2 Khái niệm chế độ hưu trí

Cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa nào chính thức cho chế độ hưu trí mặc dù chế độ này đã tồn tại và phát triển từ lâu đời Theo Đại từ

điển Tiếng Việt thì “hưu trí là nghỉ việc khi đã già hoặc đủ thời gian phục vụ,

được hưởng chế độ lương bổng theo quy định của nhà nước” (5) Như vậy có thể

suy ra chế độ hưu trí là chế độ trợ cấp dành cho những người nghỉ việc khi đã già hoặc đủ thời gian phục vụ Chế độ hưu trí được quy định bởi nhà nước và người

về hưu không cần phải lao động nữa vẫn có được thu nhập

Tổ chức Lao động thế giới (ILO) cũng không đưa ra một khái niệm chính thức nào về chế độ hưu trí nhưng theo cách diễn đạt mà ILO dùng để khuyến nghị các quốc gia áp dụng và Điều 25, Điều 26 và Điều 27 của Công ước này thì

có thể hiểu chế độ hưu trí theo ILO là chế độ trợ cấp dành cho người lao động đã già đến một độ tuổi nhất định Cũng theo ILO thì chế độ hưu trí là một trong các dạng trợ cấp xã hội mà các quốc gia thành viên buộc phải thực hiện

Cũng như ILO, luật Việt Nam cũng không đưa ra định nghĩa chính thức về chế độ hưu trí Chúng ta có thể suy ra khái niệm chế độ hưu trí từ định nghĩa bảo

hiểm xã hội của Luật Bảo hiểm xã hội 2006 “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm

thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”

(Điều 2 khoản 1 Luật Bảo hiểm xã hội 2006) Như vậy, từ khái niệm trên chúng

ta có thể suy ngược lại rằng chế độ hưu trí là một trong các chính sách của bảo

hiểm xã hội dùng để thay thế hay bù đắp một phần thu nhập của người lao động

bị giảm do hết tuổi lao động trên cơ sở đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội

Từ các khái niệm nêu trên chúng ta có thể nhận thấy có hai nội dung cơ bản hình thành nên chế độ hưu trí:

Thứ nhất, hưu trí cũng là một dạng trợ cấp của xã hội như trợ cấp ốm đau,

thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tử tuất… Loại hình bảo hiểm này

cũng được thực hiện bởi sự phân phối, phân phối lại thu nhập Mặc dù hầu hết các quốc gia đều có qui định việc người lao động đóng góp để hưởng hưu trí nhưng không thể ai đóng bao nhiêu hưởng bấy nhiêu Bởi vì sau khi nghỉ việc tuổi thọ của mỗi người một khác Vì thế vấn đề chia sẻ rủi ro, bù đắp, tương trợ cộng đồng cũng được thể hiện khá rõ Xét về khía cạnh tài chính thì đây cũng có thể được xem là một dạng tiết kiệm tài sản Bởi vì số tiền mà người lao động

(5)

Đại từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nguyễn Như Ý chủ biên, tr864

Trang 12

đóng góp vào quỹ hưu trí được dùng để chi trả lại cho chính họ Số tiền dùng để đóng góp vào quỹ hưu trí chỉ là một phần nhỏ trong thu nhập Khoản tiền nhỏ đó nếu sử dụng ngay thì cũng không thể giúp ích được bao nhiêu nhưng dùng số tiền

đó để đóng góp vào quỹ hưu trí thì nó sẽ trở nên rất hữu dụng khi người lao động

về hưu Thông qua việc đóng góp vào quỹ hưu trí, người lao động đã tích lũy cho chính mình và cho cả người khác Do đó ngoài tính kinh tế, chế độ hưu trí còn mang tính xã hội Đó là sự thể hiện tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng, đúng như bản chất nguyên thủy của chế độ hưu trí

Thứ hai, hưu trí dành cho những người cao tuổi không thể tiếp tục làm việc

được nữa Đây là một nội dung quan trọng nhất của chế độ hưu trí Trước hết nó

thể hiện sự rủi ro về tuổi tác cần được trợ cấp, mặt khác nó lại bảo đảm cho quyền về lao động cho những người chưa bị rủi ro, vẫn làm việc bình thường Như vậy quyền được trợ cấp hưu trí chỉ được xác lập khi con người đạt đến một

độ tưổi nhất định mà độ tuổi ấy được xác định là không thể làm việc bình thường được nữa Trong khoa học để xác định tuổi để nghỉ hưu, người ta căn cứ vào hai yếu tố chính là sự giảm sút về sinh học của cơ thể con người và tuổi thọ trung bình cả những người trong độ tuổi lao động Sự giảm sút về sinh học gắn liền với

sự già đi của tuổi tác Tương ứng với một độ tuổi nhất định thì cơ thể con người

có những đặc điểm riêng Ví dụ con người trưởng thành ở độ tuổi từ 14 đến khi bước qua tuổi 20 Đến giai đoạn sau 30 tuổi con người bắt đầu có dấu hiệu lão hóa Sang độ tuổi sau 40, quá trình lão hóa diễn ra nhanh chóng hơn, thể lực và trí lực cũng suy giảm nhanh hơn Theo Tiến sĩ Nguyễn Huy Ban thì khi nam giới

60 tuổi thì sự giảm sút của hệ thần kinh trung bình là khoảng 20 %, hệ xương cơ giảm 18 %, các giác quan giảm 25 %(6) Như vậy những người lao động chân tay (kể cả lao động trí óc) không thể tiếp tục làm việc bình thường được (bình thường ở đây là sự khoẻ mạnh, nhanh nhạy) Mặt khác để thực hiện chế độ trợ cấp hưu trí cũng cần tính đến thời gian mà người lao động được hưởng trợ cấp (tức là kể từ khi nghỉ việc đến lúc chết) Thí dụ tuổi thọ bình quân của những người trong độ tuổi lao động là 60 thì không thể qui định tuổi nghỉ hưu là 60 được, bởi vì qui định như vậy sẽ có rất nhiều người không thể sống đến 60 tuổi

để được hưởng hưu trí Ngược lại nếu tuổi thọ bình quân là 80 thì độ tuổi về hưu cũng không nên qui định là 60, bởi vì qui định như vậy thì thời gian nghỉ việc hưởng hưu trí sẽ rất dài không chỉ ảnh hưởng về tài chính cho hưu trí mà còn

(6)

T.s Nguyễn Huy Ban, Một số vấn đề về chính sách hưu trí,

chinh-sach-huu-tri.aspx[cập nhật ngày 11/02/2011]

Trang 13

http://www.luatviet.org/Home/nghien-cuu-trao-doi/lao-dong-tien-luong/2009/8391/Mot-so-van-de-ve-lãng phí về sử dụnglao động Do đó vấn đề xác định độ tuổi nào mà con người không thể lao động với năng suất bình thường nữa để về hưu rất quan trọng Nếu không xác định một cách đúng đắn sẽ dẫn đến việc nghỉ hưu quá sớm, gây tổn thất cho thu nhập của người lao động hoặc nghỉ quá trễ làm ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của người lao động và năng suất lao động Độ tuổi trung bình và sự giảm sút về sinh học của cơ thể còn là căn cứ để xác định sự ưu tiên đối với một

số ngành nghề mà người làm công việc đó không thể làm tốt trong một thời gian dài do sự khắc nghiệt hoặc do mức độ nguy hiểm mà nghề đó mang lại

Từ những phân tích nêu trên, chúng ta có thể khái quát khái niệm chung về chế độ hưu trí là một trong các loại hình bảo hiểm xã hội có vai trò đảm bảo thu

nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia lao động nữa So với

luật quốc tế, luật Việt Nam có những điểm tương đồng và có sự kế thừa những quy định trước đây

1.3 Đặc điểm của chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí là một bộ phận của bảo hiểm xã hội, tuy nhiên ngoài những đặc điểm tương đồng với bảo hiểm xã hội thì chế độ hưu trí có những đặc điểm riêng Những đặc điểm của chế độ hưu trí xuất phát từ những đặc thù về đối tượng tham gia cũng như đặc thù về vấn đề thụ hưởng

Vấn đề thụ hưởng chế độ hưu trí có những khác biết so với các loại hình bảo hiểm khác trong bảo hiểm xã hội Sự chắn chắn trong việc thụ hưởng chế độ hưu trí gần như là 100%, còn các chế độ bảo hiểm khác thì việc thụ hưởng còn tùy vào trường hợp Điều này xuất phát từ bản chất của chế độ hưu trí là chế độ trợ cấp tuổi già Có thể người tham gia không được nhận trợ cấp thai sản do không sinh con hoặc không được nhận chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp do may mắn không gặp phải những vấn đề đó nhưng tuổi già thì không ai tránh khỏi Chế độ hưu trí cũng là chế độ bảo hiểm xã hội mà người tham gia được hưởng với thời gian dài nhất Thời gian thụ hưởng chế độ hưu trí bắt đầu từ lúc người lao động nghỉ hưu đến lúc người lao động chết Khi người lao động chết còn được nhận trợ cấp tuất

Đặc điểm thứ nhất có thể nhận ra ở chế độ hưu trí là sự phân biệt độ tuổi lao động giữa nam và nữ Hầu hết các nước có sự phân biệt độ tuổi nghỉ hưu

giữa nam và nữ đều cho phép nữ nghỉ hưu sớm hơn nam 5 tuổi Theo người viết, những nước áp dụng quy định này giữ quan điểm giữa nữ và nam có sự khác biệt

về sinh lý khi lớn tuổi cho nên không thể quy định tuổi lao động của nữ bằng với nam giới Ngoài ra do truyền thống coi phụ nữ là phái yếu cho nên có những ưu tiên nhất định Điều này phần nào hợp lý ở hoàn cảnh trước đây Tuy nhiên, cùng

Trang 14

với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nên sự khác biệt về thể trạng giữa nam và nữ khi lớn tuổi không còn rõ rệt nữa Chính vì vậy mà đa phần các nước hiện nay đều không phân biệt độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ Việt Nam theo quan điểm thứ nhất, nghĩa là có sự phân biệt độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ

Đặc điểm thứ hai có ở chế độ hưu trí đó là chế độ hưu trí có sự ưu đãi đối với một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định Vấn đề này xuất phát từ lý do điều

kiện làm việc trong một số ngành nghề có tính chất độc hại, nguy hiểm hay làm việc tại vùng xa xôi hẻo lánh, trong những lĩnh vực quan trọng như an ninh quốc phòng Khi làm việc trong những điều kiện như thế người lao động có nguy cơ bị ảnh hưởng đến sức khỏe về lâu dài nên khả năng làm việc khi lớn tuổi sẽ không bằng những người lao động làm việc trong điều kiện bình thường Sự phân biệt này thể hiện sự ưu đãi của nhà nước đối với người lao động làm việc trong các ngành nghề, lĩnh vực đó, đồng thời khuyến khích người lao động vào làm việc, tạo ra sự phân công lao động đồng đều giữa các khu vực, các ngành nghề, lĩnh vực Pháp luật Việt Nam cũng như luật các nước đều có quy định này Theo đó, những người lao động làm việc trong những điều kiện nặng nhọc, độc hại, làm việc ở những vùng sâu, vùng xa hoặc làm việc trong lực lượng vũ trang sẽ được nghỉ hưu sớm hơn lao động làm việc trong điều kiện bình thường 5 tuổi, kể cả nam và nữ

Ngoài ra, chế độ hưu trí còn thể hiện tính kinh tế và tính xã hội sâu sắc

Tính kinh tế của chế độ hưu trí thể hiện ở việc người tham gia chỉ cần trích một phần nhỏ tiền lương để đóng góp vào quỹ hưu trí là có thể có được nguồn thu nhập (đương nhiên là thấp hơn) lúc về hưu mà không cần phải lao động nữa Vấn

đề thu nhập được nhận lúc về hưu tùy thuộc vào thời gian tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí và thời điểm về hưu Thời gian tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí càng lâu và thời điểm về hưu muộn sẽ được nhận trợ cấp nhiều hơn và ngược lại Tính xã hội của chế độ hưu trí thể hiện ở việc người đang tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí sẽ tương trợ cho những người về hưu Nói một cách nôm na đó là việc chi trả theo kiểu “gối đầu” Theo cách này thì số tiền mà người đang còn làm việc đóng góp vào quỹ hưu trí cùng với sự hỗ trợ của nhà nước và đóng góp của người sử dụng lao động được dùng để chi trả cho các đối tượng về hưu và cứ như thế duy trì Cách làm này ngoài thể hiện tính nhân văn trong chế độ hưu trí còn giúp cho quỹ hưu trí hoạt động một cách ổn định lâu dài Để duy trì được sự

ổn định này thì yếu tố quan trọng nhất là tương quan giữa số người đang trong độ tuổi lao động và số người về hưu Nếu số người trong độ tuổi lao động nhiều hơn

Trang 15

số người về hưu thì nguồn quỹ hưu trí sẽ dồi dào trong hiện tại nhưng trong tương lai khi số người này về hưu thì khoản tiền dùng để chi trả cho họ sẽ rất lớn Còn nều số người về hưu nhiều hơn số lao động đang làm việc thì sẽ không đủ nguồn quỹ để chi trả cho họ Khi đó Nhà nước sẽ phải gánh một khoản chi phí không nhỏ Chưa kể đến trường hợp vỡ quỹ hưu trí do quỹ không còn khả năng thanh toán

Nhận thức được tầm quan trọng của chế độ hưu trí nên một số nước như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp… đã pháp điển hóa các quy định của chế độ hưu trí thành luật riêng Tại Việt Nam, đến thời điểm này, chế độ hưu trí vẫn còn được điều chỉnh bởi Luật bảo hiểm xã hội, Bộ Luật Lao động và các văn bản dưới luật khác Trong tương lai, với tầm quan trọng của mình thì nên chăng luật riêng về hưu trí cũng cần được ban hành tại Việt Nam

1.4 Phân loại chế độ hưu trí

Việc phân loại chế độ hưu trí nhằm mục đích phân biệt các đối tượng tham gia cũng như phương thức đóng góp để từ đó có chính sách chi trả thích hợp Các nước trên thế giới cũng căn cứ vào tiêu chí này để phân chia các dạng của chế độ hưu trí cho phù hợp với quốc gia mình Khi phân loại chế độ hưu trí, các quốc gia tuy có sự khác nhau nhưng về cách thức phân chia thì có những điểm tương đồng Theo hình thức tham gia ta có chế độ hưu trí dành cho người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và chế độ hưu trí dành cho người tham gia bảo hiểm xã hội

tự nguyện Theo hình thức chi trả thì chúng ta có chế độ hưu trí hằng tháng và chế độ hưu trí một lần

1.4.1 Chế độ hưu trí dành cho người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Tại Việt Nam, người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có sự hạn chế về quy mô, chủ yếu là người lao động làm công ăn lương, cán bộ, công chức, quân nhân… Đây là những đối tượng có nguồn thu nhập ổn định lâu dài và thường xuyên Luật Việt Nam cũng quy định việc đóng bảo hiểm xã hội cho các đối tượng này là bắt buộc đối với chủ sử dụng lao động và bắt buộc với cả người lao động

Khi tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, ngoài những quyền lợi được hưởng khi đang làm việc, người lao động sẽ được hưởng lương hưu khi hết tuổi lao động Về độ tuổi được xem là hết tuổi lao động, như được đề cập ở trên, có

sự chênh lệch giữa các nước Tại Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản, độ tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ là 55 tuổi, đối với lao động nam là 60 tuổi Tại Anh người lao động nghỉ hưu muộn hơn, nữ nghỉ hưu ở tuổi 60 và nam nghỉ hưu ở tuổi 65 Ở Pháp, trước đây cũng áp dụng độ tuổi nghỉ hưu giống Trung Quốc,

Trang 16

Việt Nam và Nhật Bản nhưng Dự luật cải cách hưu trí được đưa ra vào cuối năm

2010 đã điều chỉnh độ tuổi nghỉ hưu giống luật của Anh Bên cạnh đó một số nước không phân biệt độ tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ Phần lớn các quốc gia hiện nay đều áp dụng nguyên tắc này Tuy nhiên trong một số trường hợp luật các nước cho phép người lao động được về hưu sớm hơn

1.4.2 Chế độ hưu trí dành cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Về cơ bản chế độ hưu trí dành cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội

tự nguyện cũng tương tự như người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, chỉ khác về đối tượng tham gia Tại một số nước trên thế giới, luật không phân biệt chế độ hưu trí dành cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

và chế độ hưu trí dành cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Tại Nhật Bản chế độ hưu trí nhà nước được chia làm 2 loại hình chính là: chế độ hưu trí quốc gia áp dụng cho công dân Nhật Bản tuổi từ 20 đến dưới 60 và thực hiện tự nguyện cho người dân Nhật Bản ở trong nước từ 60 đến dưới 65 tuổi, ở nước ngoài từ 20 đến dưới 65 tuổi; chế độ hưu trí dành cho người lao động thực hiện cho người lao động dưới 65 tuổi làm việc tại các cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, các công ty, tập đoàn, trường học tư Đối tượng tham gia chia làm 3 nhóm: nhóm 1 gồm lao động cá thể, nông dân, người không có việc làm, sinh viên tham gia chế độ hưu trí quốc gia; nhóm 2 gồm lao động trong khu vực tư nhân và nhà nước tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí dành cho người lao động; nhóm 3 gồm người phụ thuộc là vợ/chồng sống dựa vào nguồn thu nhập của người lao động thuộc nhóm 2, tham gia vào chế độ hưu trí quốc gia Nguồn quỹ hưu trí được hình thành từ sự đóng góp của người dân, chủ sử dụng lao động và ngân sách nhà nước Trước đây ngân sách nhà nước hỗ trợ 1/3 chi phí lương hưu cơ bản, từ năm 2009 tăng lên ½(7) Chế độ hưu trí của Trung Quốc phân làm 3 dạng dựa theo đối tượng thụ hưởng gồm chế độ hưu trí dành cho lao động làm việc trong các doanh nghiệp được ra đời vào năm 1950; chế độ hưu trí đối với công chức, viên chức được thực hiện bởi nhà nước, cá nhân không phải đóng góp; chế độ trợ cấp tuổi già ở khu vực nông thôn được ra đời vào năm 1991

Trang 17

Đối với đối tượng đủ điều kiện về hưu thì sẽ được hưởng lương hưu hằng tháng khi nghỉ hưu Mức lương hưu hằng tháng được ấn định ở một mức tối thiểu nhất định và được tăng dần lên theo số năm đóng bảo hiểm xã hội Ngoài ra còn

có chế độ hưu trí hằng tháng với mức thấp hơn Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định chế độ hưu trí hằng tháng đầy đủ tối đa bằng 75% mức bình quân tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội(9) Chế độ hưu trí hằng tháng với mức thấp hơn tối đa bằng 75% mức bình quân tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội nhưng giảm 1% cho mỗi năm nghỉ trước tuổi(10) Luật hưu trí của Nhật Bản cũng quy định tương tự nhưng số tiền bị cắt giảm khi nghỉ trước tuổi là 0,5%(11) Quy định này nhằm mục đích khuyến khích người lao động làm việc lâu hơn để

có thêm thu nhập, ngoài ra còn giúp giảm bớt gánh nặng cho quỹ hưu trí

1.4.4 Chế độ hưu trí một lần

Luật Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định, khi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong một khoảng thời gian nhất định thì người lao động còn được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu(12) Bên cạnh đó các đối tượng về hưu nhưng không

đủ điều kiện hưởng lương hưu hằng tháng thì cũng được hưởng trợ cấp một lần(13) Chế độ hưu trí một lần giúp cho các đối tượng có đóng góp vào quỹ hưu trí vẫn nhận được trợ cấp đủ không đủ điều kiện hưởng lương hưu Ngoài ra, hình thức chi trả này cũng khuyến khích người tham gia tích cực đóng góp vào quỹ hưu trí để nhận được nhiều ích lợi hơn

1.5 Tầm quan trọng của chế độ hưu trí đối với người lao động

Chế độ hưu trí có tầm quan trọng rất lớn đối với người lao động Trong buổi đầu hình thành, chế độ hưu trí chỉ đơn thuần là sự tương trợ của người lao động cho nhau những lúc khó khăn Bước sang nền kinh tế thị trường, chế độ hưu trí càng chiếm vai trò quan trọng Chế độ này trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người lao động và trong chính sách đối nội của các quốc gia Tầm quan trọng của chế độ hưu trí thể hiện ở các khía cạnh như sau:

1.5.1 Chế độ hưu trí bảo đảm cho đời sống của người lao động khi về hưu

Chế độ hưu trí là một dạng phúc lợi xã hội dành cho người lao động khi về hưu Người lao động tham gia vào nền kinh tế với tư cách người tạo ra của cải vật chất, phục vụ cho nhu cầu của xã hội Người lao động có vai trò thúc đẩy xã hội phát triển Họ đã tạo ra của cải vật chất cho xã hội khi họ còn điều kiện thì

Trang 18

khi họ không còn điều kiện lao động nữa thì xã hội phải chăm lo lại cho họ Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật cho và nhận Người lao động lúc còn khả năng lao động có thể tự nuôi sống mình và cả những người thân của mình Tuy nhiên, khi không còn khả năng lao động nữa thì vấn đề tìm kiếm nguồn thu nhập

để duy trì cuộc sống của bản thân và gia đình trở thành vấn đề nan giải, đặc biệt

là đối với các trường hợp không có người thân hay những người thân cũng không

có khả năng tự lo cho bản thân mình Khi đó, lương hưu là một giải pháp cứu cánh cho người lao động Với khoản lương hưu đó, người lao động có thể duy trì được cuộc sống cho bản thân và gia đình mặc dù có thể eo hẹp hơn trước kia Đối với trường hợp người về hưu may mắn có người thân phụng dưỡng thì tiền lương hưu mang ý nghĩa như một khoản tiết kiệm Người đó có thể dùng lương hưu để đầu tư sinh lợi hoặc phòng khi rủi ro Ngoài ra khoản tiền này còn có thể dành cho con cháu như một di sản thừa kế

Con người khi lớn tuổi thường hay mặc cảm, tự ti vì coi mình là gánh nặng của gia đình Với khoản lương hưu có được hằng tháng, người về hưu có thể san

sẻ gánh nặng giúp gia đình, chí ít cũng được những nhu cầu cơ bản hằng ngày Như vậy người về hưu sẽ không còn có cảm giác mặc cảm, xem mình là người

vô dụng nữa Với suy nghĩ đó, người về hưu sẽ sống tích cực hơn Mặc khác, chẳng may người đó mất thì gánh nặng dành cho gia đình cũng được giảm bớt do

đã được nhận trợ cấp tuất từ bảo hiểm xã hội

1.5.2 Chế độ hưu trí góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định và thúc đẩy công bằng xã hội

Như đã nói, chế độ hưu trí đảm bảo cho người lao động vẫn có thu nhập khi

về hưu Việc này sẽ giúp người lao động yên tâm sản xuất vì họ nhận thức được rằng lao động tạo ra thu nhập không chỉ cho hôm nay mà còn cho những ngày sau này Trước khi có chế độ hưu trí thì người lao động chỉ có một nguồn thu nhập duy nhất là từ tiền lương Khi không còn lao động được nữa thì nguồn thu nhập này cũng mất đi do đó người lao động luôn có cảm giác lo âu Khi tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí thì dù ít hay nhiều, người lao động cũng nhận được trợ cấp Tâm lý thoải mái sẽ khiến cho người lao động tích cực hơn trong sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa làm giàu cho nền kinh tế

Việc quy định khoảng đóng góp do người sử dụng lao động, người lao động

và nhà nước góp phần tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa 3 chủ thể trên Chế độ hưu trí hoàn toàn phù hợp với ý nguyện của cả ba chủ thể Người lao động muốn cuộc sống của mình được bảo đảm sau khi hết tuổi lao động mà không phải dựa vào con cháu và có một khoảng tiền phòng khi ốm đau Người sử dụng lao động

Trang 19

muốn người lao động cố gắng sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm để tăng lợi nhuận cho nên phải tạo niềm tin và sự gắn kết từ phía người lao động bằng cách chăm

lo cho đời sống của họ và việc tham gia đóng bảo hiểm xã hội là một phần trong mục đích đó Còn về phía Nhà nước thì việc đặt ra quy định và hoàn thiện dần chế độ hưu trí thể hiện sự quan tâm chăm lo của nhà nước đối với nhân dân, hơn nữa việc đảm bảo chế độ hưu trí cho người lao động sẽ góp phần tạo nên sự tin tưởng của nhân dân vào sự lãnh đạo của Nhà nước Với bản chất là sự đền bù xứng đáng cho người lao động sau quãng thời gian cống hiến cho xã hội, chế độ hưu trí còn là sự thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và của người sử dụng lao động Do đó chế độ hưu trí góp phần đảm bảo công bằng xã hội Một xã hội được xem là phát triển cao thật sự khi nó đảm bảo cuộc sống tốt đẹp cho con người từ lúc lọt lòng đến lúc từ trần Sẽ không thể có công bằng xã hội khi người lao động sau khi tạo ra của cải vật chất cho xã hội lại về hưu với 2 bàn tay trắng

và tấm thân già yếu, bệnh tật Nói một cách khác chế độ hưu trí mang nặng tính

xã hội hơn tính pháp lý Hơn nữa, chế độ hưu trí còn ảnh hưởng đến sự ổn định trong đời sống chính trị của quốc gia Cuộc biểu tình phản đối Dự luật cải cách hưu trí vừa qua ở Pháp là một minh chứng rõ ràng nhất Cuộc biểu tình này đã tạo ra phản ứng dây chuyền trong xã hội và làm nước Pháp chìm trong hỗn loạn trong một khoảng thời gian, gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế nước Pháp(14) Biểu tình cũng diễn ra tại Hy Lạp để phản đối Chính phủ nước này cải cách hưu trí(15) (cả hai nước đều cải cách tăng tuổi nghỉ hưu lên 5 tuổi đối với cả nam lẫn

nữ nhưng không tăng lương hưu ) Từ thực tiễn các quốc gia cho thấy khi “động” đến vấn đề hưu trí sẽ “chạm” đến rất nhiều vấn đề xã hội khác

1.5.3 Chế độ hưu trí phản ánh trình độ phát triển của quốc gia

Chính sách hưu trí chỉ có thể thực hiện tốt khi nền kinh tế quốc gia phát triển cao Khi đó việc huy động tài chính đóng góp vào quỹ hưu trí cũng sẽ dễ dàng hơn Khi nền kinh tế phát triển, cả người sử dụng lao động, Nhà nước đều ý thức được tầm quan trọng của người lao động, đó là cơ hội để người lao động khẳng định quyền lợi của mình Do đó khi quyền lợi của mình bị xâm phạm, người lao động sẽ đấu tranh để giành quyền lợi Thông qua các hình thức đấu tranh của người lao động mà nhà nước thấy được vấn đề bất ổn xã hội để từ đó đưa ra những chính sách phù hợp Thực tế chứng minh rằng bất kể quốc gia theo

(14 )

Hanoimoionline Bãi công phản đối cải cách hưu trí gây ảnh hưởng nghiêm trong tai Pháp

huong-nghiem-trong-tai-phap.[cập nhật ngày 6/01/2011];

http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/The_gioi/385585/bai-cong-phan-doi-cai-cach-huu-tri-gay-anh-(15)

VOVnews: Quốc Hội Hy Lạp thông qua cải cách hưu trí

http://vovnews.vn/Home/Quoc-hoi-Hy-Lap-thong-qua-cai-cach-huu-tri/20107/148936.vov[cập nhật ngày 06/01/2011]

Trang 20

chế độ nào nhưng có chính sách hưu trí phát triển đều là quốc gia có nền kinh tế phát triển

Tóm lại, chương 1 đã khái quát tất cả những vấn đề chung về bảo hiểm xã

hội và chế độ hưu trí Chế độ hưu trí là một bộ phận không thể tách rời của bảo hiểm xã hội và có thể nói là ra đời và phát triển cùng lúc với bảo hiểm xã hội Từ những phân tích như trên ta thấy được tầm quan trọng của chế độ hưu trí Trong thời buổi kinh tế thị trường và toàn cầu hóa đang trở thành một xu hướng, sức lao động của con người ngày càng có giá trị thì việc hoàn thiện chế độ hưu trí là việc làm cấp bách Việc này đòi hỏi phải có sự tham gia của cả Nhà nước, người

sử dụng lao động, người lao động và toàn xã hội Bên cạnh đó chế độ hưu trí còn thể hiện tính nhân văn của xã hội và truyền thống của dân tộc khi phân biệt độ tuổi nghỉ hưu của nam và nữ, giữa những người làm việc trong điều kiện không thuận lợi với những người làm việc trong điều kiện bình thường

Việt Nam đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc hoàn thiện chế độ hưu trí cho người lao động sẽ góp phần tạo niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, từ đó tạo động lực trong lao động sản xuất, đẩy nhanh sự phát triển của đất nước Một chính sách đúng đắn và hợp lý cho chế độ hưu trí sẽ tránh được những bất ổn trong xã hội, tạo cho xã hội một

sự phát triển bền vững lâu dài

Trang 21

CHƯƠNG 2:

PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM –

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chế độ hưu trí là một chính sách quan trọng của quốc gia Đó là một trong

những công cụ để Nhà nước duy trì sự ổn định và phát triển xã hội So sánh với

những loại hình an sinh xã hội còn lại thì chế độ hưu trí vừa có những điểm tương

đồng vừa mang những nét đặc trưng riêng Chế độ hưu trí còn là một chế độ thể

hiện tính nhân văn sâu sắc Thông qua chính sách hưu trí, Nhà nước thể hiện rõ bản

chất của mình Cùng với các chính sách khác trong bảo hiểm xã hội chế độ hưu trí

góp phần bảo đảm cho quyền và lợi ích chính đáng của người lao động

Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân

và vì dân Mọi chế độ, chính sách của nhà nước đều hướng đến lợi ích của nhân

dân Tuy đất nước còn gặp nhiều khó khăn trên con đường phát triển nhưng Đảng

và Nhà nước đã cố gắng ban hành nhiều quy định về an sinh xã hội nói chung và

chế độ hưu trí nói riêng Những quy định này xuất phát từ thực tiễn ở Việt Nam và

phù hợp với thông lệ quốc tế Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình thế

giới có nhiều biến động Suy thoái kinh tế toàn cầu, vỡ nợ công ở một số nước, các

thảm họa về mội trường… đã ảnh hưởng không nhỏ đến nước ta Cùng với sự thiếu

đồng bộ trong công tác quản lý nên tình hình kinh tế xã hội Việt Nam cũng có nhiều

khó khăn nhất định gây ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, nhất là người lao

động làm công ăn lương Chính vì vậy việc chăm lo hoàn thiện hệ thống pháp luật

về an sinh xã hội là một việc làm cần thiết

2.1 Cơ sở hình thành pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam

2.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội (16)

Tính đến năm 2005 thì đất nước ta đã trải qua gần 20 năm đổi mới Nền kinh

tế Việt Nam không ngừng phát triển và đạt được những tiến bộ đáng khích lệ Từ

một nước nông nghiệp lạc hậu, đến thời điểm đó, Việt Nam đang đứng trước

ngưỡng cửa để thoát khỏi nhóm các nước đang phát triển Trong giai đoạn đầu đổi

mới (1986 - 1991), tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế có chậm và gặp phải nhiều khó

khăn do tình hình thế giới có nhiều biến động và chính sách bao vây, cấm vận của

Mỹ nhưng GDP của Việt Nam vẫn tăng dần theo công cuộc đổi mới Tốc độ tăng

(16)

Các số liệu được trích dẫn từ bài viết Thành tựu thời kỳ đổi mới ở Việt Nam – Con đường đi lên CNXH,

hình thành những nét cơ bản, Gs – Ts Chu Văn Giáp

http://tintuc.xalo.vn/00371823/Bai_3_Thanh_tuu_thoi_ky_doi_moi_o_Viet_Nam_Con_duong_di_len_CNX

H_hinh_thanh_nhung_net_co_ban.html[cập nhật ngày 24/01/2011]

Trang 22

trưởng, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thời kỳ 1992 – 1997 tăng bình quân

8,75%/năm Thời kỳ 2000 – 2007 là 7,55%/năm Theo ông Trần Đức Khiển, Thứ

trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong 20 năm qua, nét nổi bật của Việt Nam là từ

một nước trì trệ, tăng trưởng thấp, tích luỹ phần lớn nhờ vào vay mượn bên ngoài,

đến nay đã trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực Việt Nam

đã tạo được khả năng tích luỹ để đầu tư cho phát triển và cải thiện đời sống của

người dân Tổng tích luỹ tăng từ 9,5 – 11,3%/năm tuỳ giai đoạn Nhưng cơ bản,

Việt Nam đã đổi mới được cơ chế quản lý, nhờ đổi mới mà Việt Nam từng bước

xâydựng được vai trò của mình trong hội nhập khu vực và quốc tế

Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần đầu tiên, hầu hết

các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 được hoàn thành và

hoàn thành vượt mức Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được

những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh

công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thời kỳ 1986 – 1990: GDP tăng 4,4%/năm Đây là

giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện

một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và giải phóng sức sản xuất

Bước sang giai đoạn 1991 – 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy

thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện GDP bình

quân năm tăng 8,2% Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy

mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Từ năm 1996 - 2000, là bước phát

triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm

trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách Tuy nhiên, giai

đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước

7%/năm Năm 2000 - 2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục,

GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5% Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP

theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu

đồng, tương đương với 640 USD Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu

50 vạn - 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên

thế giới Năm 2005, nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà

phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu

Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là

46,3%, năm 2005 còn 20,9% Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồng trọt và

chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng

Trang 23

suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu Giá trị tạo ra trên

một đơn vị diện tích ngày một tăng lên Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị

sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm, giá trị tăng thêm bằng khoảng

3,89%/năm Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục Năm 1988 là

21,6%, năm 2005 lên 41% Từ chỗ chưa khai thác dầu mỏ, đến thời điểm đó, mỗi

năm đã khai thác được khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu Ngành công nghiệp chế

tác chiếm 80% giá trị sản lượng công nghiệp Công nghiệp xây dựng phát triển

mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu

ngày càng tăng, có chỗ đứng trong những thị trường lớn Trong kế hoạch 5 năm

2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng

thêm đạt 10,2%/năm Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm

1988 lên 38,1% năm 2005 Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng

ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống Ngành du lịch, bưu chính viễn

thông phát triển với tốc độ nhanh Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn

pháp lý có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả

Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất thuần nông, tăng tỷ lệ lao động

trong công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Năm 1990, lao động nông, lâm, ngư

nghiệp chiếm 73,02% trong tổng số lao động xã hội, năm 2000 còn 56,8%

Trong khi đó, tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ

12,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng tương

ứng từ 19,7% lên 25,3%; lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25%

năm 2005

Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập

trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế

Số doanh nghiệp Nhà nước qua sắp xếp đổi mới, cổ phần hoá đã giảm từ 12.084

doanh nghiệp năm 1990 xuống còn 2.980 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và 670

công ty cổ phần do Nhà nước chi phối trên 51% vốn điều lệ năm 2005 Qua đổi

mới, doanh nghiệp Nhà nước năm 2005 đóng góp 38,5% GDP và khoảng 50% tổng

ngân sách Nhà nước Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả

trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao

động xã hội Năm 2005 chiếm 46% GDP Trong đó, kinh tế hợp tác phát triển ngày

càng đa dạng, hoạt động ngày càng có hiệu quả, năm 2005, kinh tế hợp tác đóng

góp khoảng 7% GDP Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn

các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy

Trang 24

tăng trưởng và phát triển kinh tế Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp

khoảng 38% GDP của cả nước Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng

trưởng tương đối cao, trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế

quốc dân; là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông

quốc tế Năm 2005, khu vực này đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu ngân

sách, trên 17,1% tổng vốn đầu tư xã hội, trên 23% kim ngạch xuất khẩu (không kể

dầu khí); đạt trên 35% giá trị sản xuất công nghiệp; thu hút hơn nửa triệu lao động

trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp

Qua 20 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng

bộ Từng bước phát triển đồng bộ và quản lý sự vận hành các loại thị trường cơ bản,

theo cơ chế mới Thị trường hàng hoá phát triển với quy mô lớn, tốc độ nhanh Các

thị trường dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, bất động sản đang được hình

thành Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản được giữ ổn định, tạo môi trường

và điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế Tiềm lực tài chính ngày càng được

tăng cường, thu ngân sách tăng trên 18%/năm; chi cho đầu tư phát triển bình quân

chiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách

Xuất khẩu, nhập khẩu tăng rất nhanh cả về quy mô và tốc độ Tổng kim ngạch

xuất khẩu hàng hoá trước thời kỳ đổi mới chỉ đạt khoảng 1 tỷ USD/năm, đến nay

tổng kim ngạch xuất khẩu đã vượt hơn 50% GDP, tức là trên 25 tỷ USD/năm Một

số sản phẩm của Việt Nam đã có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới với những

thương hiệu có uy tín Đáng chú ý là xuất khẩu dịch vụ tăng rất nhanh, tăng

15,7%/năm, bằng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu Thị trường xuất khẩu được mở

rộng sang những nền kinh tế lớn Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ năm 2000

đến 2005 tăng khoảng 19%/năm, nhập siêu khoảng 4 tỷ USD/năm, bằng 17,5% tổng

kim ngạch xuất khẩu Nhập siêu tuy còn cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát và có

xu hướng giảm dần Cơ cấu xuất nhập khẩu chuyển biến theo hướng tích cực Tỷ

trọng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 37,2% năm 2000 xuống còn

36% năm 2005, hàng nông, lâm thuỷ sản giảm từ 29% xuống 24%; hàng công

nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 38,8% lên 39,8%

Trong 20 năm qua, công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết

quả tốt, vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc Từ năm 2000 đến

năm 2005, tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị

giảm xuống còn 5,3%; thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 80%

Trang 25

Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 200 USD năm 1990 lên khoảng

640 USD năm 2005 Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm

1992 xuống dưới 7% năm 2005 Theo chuẩn quốc tế (1 USD/người/ngày) thì tỷ lệ

đói nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002

Chỉ số phát triển con người được nâng lên, từ mức dưới trung bình (0,498)

năm 1990, tăng lên mức trên trung bình (0,688) năm 2002; năm 2005 Việt Nam xếp

thứ 112 trên 177 nước được điều tra; mạng lưới y tế được củng cố và phát triển, y tế

chuyên ngành được nâng cấp, ứng dụng công nghệ tiên tiến; việc phòng chống các

bệnh xã hội được đẩy mạnh; tuổi thọ trung bình từ 68 tuổi năm 1999 nâng lên 71,3

tuổi vào năm 2005

Từ những thành tựu đã đạt được trong 10 năm đổi mới cho thấy nền kinh tế

Việt Nam đang phát triển rất nhanh Điều đó đặt ra nhiều vấn đề, trong đó vấn đề

thất nghiệp, lạm phát, chăm sóc y tế, chế độ hưu trí cho người lao động Việc ngày

càng nhiều thành phần kinh tế tham gia vào thị trường đã tạo ra cạnh tranh ngày

càng khốc liệt Đi liền với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và những đòi hỏi

càng cao của xã hội cùng với xu hướng toàn cầu hóa thì việc hoàn thiện khung

pháp lý chung về an sinh xã hội là một việc làm cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của người lao động và tạo điều kiện để Việt Nam hòa nhập với thế giới

bên ngoài

2.1.2 Cơ sở chính trị

Kể từ sau Đại hội Đảng lần VI (1986), đất nước ta đã có những chuyển biến rõ

rệt về kinh tế Đó là do Đảng ta đã quyết tâm đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình

trạng trì trệ, lạc hậu Vấn đề bảo đảm cuộc sống cho nhân dân lao động luôn được

Đảng và nhà nước quan tâm Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nêu rõ

“Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội chủ nghĩa đối với toàn dân theo

phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mở rộng và phát triển các công

trình sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hình thức bảo trợ xã hội cho những

người có công với cách mạng và những người gặp khó khăn Nghiên cứu, bổ sung

chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh

tế, quản lý xã hội”; “Thực hiện đúng chế độ về hưu Tổ chức tốt hơn việc phục vụ

về xã hội, y tế, văn hóa, thông tin cho người về hưu”(17) Trong phương hướng, mục

tiêu chủ yếu phát triển kinh tế, xã hội trong 5 năm 1986 – 1990 cũng đề ra mục tiêu

phát triển chế độ, chính sách đối với người lao động về hưu như sau: “Công tác bảo

trợ xã hội đối với toàn dân phải được tiến hành theo phương châm “Nhà nước và

(17)

Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập, NXB Chính trị quốc gia, tr74

Trang 26

nhân dân cùng làm”; trước mắt, sắp xếp lại và phát triển các công trình sự nghiệp

bảo trợ xã hội, vận dụng đúng đắn các chính sách phù hợp với từng vùng và tình

hình kinh tế - xã hội của đất nước Tổ chức Đảng và chính quyền các cấp có trách

nhiệm chăm sóc chu đáo đời sống vật chất, tinh thần của những người nghỉ hưu, gia

đình có công với cách mạng”(18) Nội dung văn kiện cho thấy, chính sách an sinh xã

hội hưu trí đã được Đảng và nhà nước xem là một mục tiêu quan trọng trong quá

trình đổi mới

Chính sách phát triển và hoàn thiện chế độ hưu trí cho người lao động tiếp tục

được đề cập trong Văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng tiếp sau đó như là một nội

dung cơ bản trong chiến lược phát triển quốc gia Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc

lần thứ VII (1996) đặt mục tiêu “Thực hiện và hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội,

bảo đảm đời sống người nghỉ hưu được ổn định, từng bước cải thiện Xây dựng

Luật Bảo hiểm xã hội”(19) Tương tự, Đại hội Đảng toàn quốc lần IX” (2001) cũng

chỉ rõ mục tiêu phát triển đến năm 2005 là “Khắc phục tình trạng bất hợp lý về trợ

cấp của người nghỉ hưu, thương binh, bệnh binh và những người có hoàn cảnh khó

khăn”(20)

Có thể nói việc thể chế hóa một cách đúng đắn và kịp thời các chủ trương,

chính sách của Đảng về chế độ hưu trí cho người lao động nói riêng và bảo hiểm xã

hội nói chung là việc làm hết sức cần thiết Qua 20 năm đổi mới, đất nước ta đã có

những tiến bộ đáng khích lệ nhưng cũng phải đối mặt với nhiều thách thức Từ thực

tế kết quả đạt được thì việc ban hành một khung pháp lý chung về bảo hiểm xã hội

cũng như chế độ hưu trí cũng là một điều tất yếu

2.1.3 Cơ sở pháp lý

Vấn đề chế độ hưu trí cho người lao động nói riêng và bảo đảm an sinh xã hội

nói chung đã được Nhà nước ta quan tâm từ rất sớm Quyền được xã hội chăm sóc

khi tuổi già gắn liền với quyền lao động của công dân Những quyền này được quy

định trong Hiến pháp 1946 và có mặt xuyên suốt trong các bản Hiến pháp sau này

Đáng chú ý là ngay khi vừa giành được chính quyền thì Nhà nước Dân chủ cộng

hòa non trẻ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã ban hành ngay Sắc lệnh số 05

ngày 04/6/1946 về chế độ hưu trí đối với cán bộ công chức

Trước thời kỳ đổi mới, tuy đất nước còn gặp nhiều khó khăn nhưng không vì

thế mà vấn đề hưu trí cho người lao động không được quan tâm Thời kỳ này, đối

với từng lĩnh vực, ngành nghề và đối tượng nhất định Nhà nước đều có những văn

Trang 27

bản quy định về vấn đề hưu trí như Quyết định 106/HĐBT ngày 01/01/1982 về bổ

sung chế độ hưu trí và nghỉ việc vì mất sức lao động đối với công an nhân dân,

Quyết định 21/HĐBT ngày 08/8/1981 về bổ sung một số điểm về chế độ hưu trí và

nghỉ việc vì mất sức lao động đối với công nhân Nhà nước và quân nhân Những

văn bản này tuy không quy định đầy đủ nhưng cũng phần nào giải quyết được một

số vấn đề mà xã hội lúc đó đang cần

Kể từ sau Đại hội Đảng lần VI (1986), đất nước bắt đầu tiến vào nền kinh tế

thị trường, nhu cầu được chăm sóc thõa đáng về chế độ hưu trí của người lao động

cũng vì thế mà tăng lên Nắm bắt được tình hình đó, Nhà nước ta đã ban hành một

số chính sách nhằm cải thiện đời sống cho người lao động về hưu

Sự ra đời của Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 đã tạo một

bước ngoặc lớn trong quá trình đổi mới đất nước cũng như đổi mới chế độ hưu trí

cho người lao động Với những quy định mới, Hiến pháp đã giải phóng sức lao

động của nhân dân, làm cho sức lao động có giá trị hơn Hiến pháp cũng quy định

nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa,

như vậy thị trường sẽ hoạt động theo quy luật cung cầu, hàng hóa sức lao động cũng

không nằm ngoài quy luật này Như vậy, người lao động sẽ được quyền đòi hỏi

quyền lợi tương xứng với khả năng lao động của mình Chính sách mở cửa cũng tác

động mạnh mẽ đến tư duy của các nhà quản lý về lĩnh vực an sinh xã hội Nếu như

trước đây vấn đề hưu trí chủ yếu được nhắc đến cho đối tượng làm việc cho Nhà

nước thì nay vấn đề này ngày càng được đại bộ phận người lao động quan tâm

Hiến pháp 1992, sửa đổi bổ sung năm 2002 cũng mở đường cho hàng loạt sự

đổi mới và ra đời của các văn bản quy pham pháp luật về các lĩnh vực kinh tế, dân

sự, đầu tư… Việc làm này đem đến những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế

Ngày càng có nhiều hơn các thành phần kinh tế tham gia vào thị trường và đặc biệt

là số lượng nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng tăng Điều đó đòi

hỏi nước ta cần phải nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý chung về chế độ hưu trí

cũng như bảo hiểm xã hội để bảo vệ quyền lợi cho người lao động Bộ luật Lao

động ra đời vào năm 1994 và được sửa đổi các năm 2002, 2006 đã đáp ứng những

đòi hỏi đó Việc Bộ luật lao động ra đời tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc xử

lý những sai phạm trong lĩnh vực lao độngvà tiền lương Bộ luật Lao động ra đời

cũng góp phần làm cho hệ thống pháp luật nước ta ngày càng đồng bộ, một trong

những điều kiện để phát triển đất nước

Chế độ hưu trí cho người lao động là một trong các chế độ mà Tổ chức Lao

động thế giới (ILO) khuyến nghị các nước thành viên phải thực hiện Việt Nam

Trang 28

cũng là một thành viên của tổ chức này nên việc thực hiện khuyến nghị này là việc

bắt buộc Việc hòa nhập về mặt pháp luật cũng là một trong những điều kiện để hòa

nhập về các lĩnh vực khác Có hệ thống pháp luật đồng bộ và phù hợp với thông lệ

quốc tế sẽ giúp Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn trong việc thu hút đầu tư nước

ngoài cũng như đầu tư vào nước khác

Từ những phân tích như trên cho thấy chính Hiến pháp, các văn bản quy phạm

pháp luật và các điều ước quốc tế là cơ sở pháp lý để xây dựng pháp luật về chế độ

hưu trí ở Việt Nam Việc ban hành khung pháp lý chung về vấn đề hưu trí là đáp

ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước trong thời kỳ hội nhập

Như vậy những cơ sở chính trị, kinh tế - xã hội và pháp lý thời kỳ đó đã chứng

minh rằng đã đến lúc phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật riêng về để điều

chỉnh vấn đề bảo hiểm xã hội và hưu trí Luật Bảo hiểm xã hội ra đời vào năm 2006

và các văn bản liên quan đã đáp ứng những đòi hỏi đó Luật Bảo hiểm xã hội ra đời

giúp cho việc quản lý nhà nước về lĩnh vực này được phân định rõ ràng, giúp cho

quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động được bảo đảm và thúc đẩy quá trình

hội nhập và đổi mới của đất nước

2.2 Những quy định của pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam

Chế độ hưu trí đã được hình thành từ lâu và được thể chế hóa thành luật được

5 năm So với những luật khác thì pháp luật về chế độ hưu trí có phần ít phức tạp

hơn do đối tượng điều chỉnh khá hẹp Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về chế độ

hưu trí là những mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an sinh xã hội hưu trí

Về phương pháp điều chỉnh chủ yếu của luật này là phương pháp mệnh lệnh và

phương pháp tùy nghi

Từ đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của pháp luật về chế độ

hưu trí kết hợp với khái niệm pháp luật về an sinh xã hội ta có thể khái quát khái

niệm pháp luật về chế độ hưu trí như sau: Pháp luật về chế độ hưu trí là tổng thể

các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội

hình thành trong lĩnh vực tổ chức và thực hiện việc trợ giúp đối với các thành viên

của xã hội khi về hưu nhằm góp phần giam bớt những khó khăn phát sinh khi do

mất khả năng lao động do tuổi tác

Hưu trí là chế độ cơ bản nhất trong 5 chế độ của hệ thống bảo hiểm xã hội bắt

buộc, được quy định tại Mục 4 chương III Luật Bảo hiểm xã hội từ Điều 49 đến

Điều 62, bao gồm các quy định về đối tượng áp dụng, điều kiện hưởng lương hưu,

mức lương hưu hàng tháng và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, điều chỉnh lương hưu;

về điều kiện và mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần; bảo lưu thời gian đóng bảo

Trang 29

hiểm xã hội; mức tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương

hưu, trợ cấp một lần; về điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hội

và tạm dừng hưởng lương hưu hàng tháng

2.2.1 Đối tượng áp dụng chế độ hưu trí

Trước khi có Luật Bảo hiểm xã hội thì vấn đề hưu trí cho người lao động tạm

thời được đều chỉnh bởi Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số

12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ So với Điều lệ Bảo hiểm xã hội thì đối

tượng điều chỉnh của chế độ hưu trí trong luật Bảo hiểm xã hội khá giống nhau Tuy

nhiên, Luật Bảo hiểm xã hội đã cụ thể hóa các đối tượng tham gia chứ không quy

định chung như Điều lệ Bảo hiểm xã hội Cũng giống như các dạng trợ cấp khác

trong Luật Bảo hiểm xã hội, đối tượng điều chỉnh của chế độ hưu trí cũng là người

lao động trong các ngành kinh tế Tuy nhiên đối tượng áp dụng của chế độ hưu trí

có 2 điểm đặc trưng cơ bản như sau:

Trước nhất, chế độ hưu trí chỉ áp dụng đối với một số đối tượng nhất định

Nói cách khác so với các loại hình bảo hiểm còn lại như bảo hiểm y tế thì bảo hiểm

hưu trí không phải là bảo hiểm toàn dân Điều đó thể hiện ở việc luật có phân ra chế

độ hưu trí dành cho người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và chế độ hưu trí dành

cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Những đối tượng tham gia bảo hiểm

xã hội bắt buộc là những đối tượng mà luật buộc chủ sử dụng lao động và chính

những đối tượng đó phải tham gia bảo hiểm xã hội nếu không sẽ bị những biện pháp

chế tài (nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ) Những đối tượng tham gia bảo

hiểm xã hội tự nguyện thì ngược lại, những trường hợp này có thể đã tham gia bảo

hiểm xã hội bắt buộc nhưng sau đó chuyển sang bảo hiểm xã hội tự nguyện Tính

bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội của những trường hợp này cũng không cao như

trường hợp bắt buộc họ chỉ tham gia khi có điều kiện để hưởng ưu đãi nhiều hơn

Khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì người tham gia được hưởng ưu đãi

tương đương với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Thứ hai là những đối tượng tham gia đóng góp vào quỹ hưu trí là những đối

tượng chắc chắn sẽ được hưởng chế độ hưu trí Điều này xuất phát từ mục đích của

chế độ hưu trí là trợ cấp lúc về hưu, mất sức lao động Nếu như khi tham gia bảo

hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp hay chế độ thai sản, tử tuất trong Luật Bảo hiểm xã

hội thì có trường hợp người tham gia sẽ không có cơ hội nhận do không đủ điều

kiện hay may mắn không gặp phải những rủi ro trong cuộc sống thì người tham gia

chế độ hưu trí đều được nhận trợ cấp một lần hay hằng tháng tùy vào nguyên nhân

nghỉ hưu và thời gian đóng góp

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w