Con số này mới chỉ là thống kê từ những bệnh nhân được đi khám, giám định sức khỏe định kỳ, trên thực tế số người mắc có thể còn cao hơn gấp nhiều lần bởi có đến 80% người lao động không
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 34: 2008 – 2012
\ Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Võ Hoàng Yến Nguyễn Thị Mỹ Nhung MSSV: 5085985
Cần Thơ, tháng 5 năm 2012
Trang 2GVHD: TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Thân Thị Ngọc Bích
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRUỜNG ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI 1.1 Khái quát chung về môi trường và ô nhiễm môi trường 5
1.1.1 Khái quát chung về môi trường 5
1.1.1.1 Khái niệm môi trường 5
1.1.1.2 Phân loại môi trường 7
1.1.1.3 Chức năng của môi trường 8
1.1.2 Khái quát chung về ô nhiễm môi trường 10
1.1.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường 10
1.1.2.2 Phân loại ô nhiễm môi trường 12
1.1.2.3 Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường 13
1.1.2.4 Hậu quả chung của ô nhiễm môi trường 15
1.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người 16
1.2.1 Khái quát chung về sức khỏe con người 16
1.2.1.1 Định nghĩa sức khỏe con người 16
1.2.1.2 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe con người 17
1.2.1.3 Tầm quan trọng của sức khỏe 19
1.2.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe con người 20
1.2.2.1 Tác động của ô nhiễm nguồn nước 20
1.2.2.2 Tác động của ô nhiễm không khí 21
1.2.2.3 Tác động của ô nhiễm tiếng ồn 22
1.2.2.4 Tác động của ô nhiễm ánh sáng 23
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỂ BẢO VỆ SỨC KHỎE CON NGƯỜI DUỚI TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 2.1 Các quy định của pháp luật có liên quan đến vấn đề bảo vệ sức khỏe con người dưới tác động của ô nhiễm môi trường 24
2.1.1 Quy định về vệ sinh nước và các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân 24
Trang 32.1.2 Quy định về vệ sinh trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển và sử dụng hoá chất
… 26
2.1.3 Quy định về chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt 28
2 1 4 Q u y đ ị n h về vệ sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm 29
2.1.5 Quy định về vệ sinh trong xây dựng 30
2.1.6 Quy định về vệ sinh trong trường học và nhà trẻ 31
2.1.7 Quy định về vệ sinh trong lao động 33
2.1.8 Quy định về vệ sinh nơi công cộng 34
2.2 Các quy định về xử lý vi phạm 37
2.2.1 Biện pháp xử lý hành chính 38
2.2.2 Biện pháp xử lý hình sự 41
2.2.3 Biện pháp xử lý dân sự 45
CHƯƠNG 3 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ SỨC KHỎE CON NGƯỜI DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG – MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP 3.1 Một số tồn tại và giải pháp đối với các quy định của pháp luật về bảo vệ sức khỏe con người dưới tác động của ô nhiễm môi trường 47
3.1.1 Luật Bảo vệ môi trường 2005 48
3.1.1.1 Tồn tại 48
3.1.1.2 Giải pháp 50
3.1.2 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 50
3.1.2.1 Tồn tại 50
3.1.2.2 Giải pháp 53
3.1.3 Các quy định trong Bộ luật Hình sự 1999 ( sửa đổi, bổ sung 2009) về các vấn đề có liên quan đến hành vi gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe con người 53
3.2 Những vấn đề từ thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ sức khỏe con người dưới tác động của ô nhiễm môi trường 58
3.2.1 Những kết quả đạt được 58
3.2.2.Tồn tại 59
3.2.3 Nguyên nhân 61
3.2.3.1 Nguyên nhân khách quan 62
3.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 63
3.2.4 Giải pháp 63
Trang 4GVHD: TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Thân Thị Ngọc Bích
PHẦN KẾT LUẬN 66 Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình ô nhiễm môi trường ở Việt Nam diễn biến khá phức tạp, điều đó có thể nhận thấy qua việc các con sông lớn, không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2010, chỉ riêng lưu vực Sông Cầu có hơn 2.000 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp với tổng lượng nước thải của các ngành khai thác mỏ, chế biến khoáng sản chiếm 55%, ngành kim khí chiếm 29% Trong khi đó, đa số mỏ khai thác ở lưu vực sông Cầu không có hệ thống
xử lý nước thải Nước thải trong và sau khai thác đều xả thẳng vào nguồn nước mặt.Ngoài ra, các khu công nghiệp và khu chế xuất ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam thải trên 137.000 m3 nước thải chứa gần 93 tấn chất thải đổ ra các sông Đồng Nai, Thị Vải và Sài Gòn Lượng NH4 vượt tiêu chuẩn cho phép trên các sông Hồng, Cầu, và Thương từ 150-200% Lượng BOD5 tại các sông trên vượt tiêu chuẩn cho phép 270-380% Sông Hiếu và sông Hương ở Bắc Trung Bộ có hai chỉ số trên vượt tiêu chuẩn cho phép lần lượt 150-180% và 200-300% Sông Hàn tại duyên hải Nam Trung Bộ vượt 140-260% và 100-200% Còn sông Sài Gòn ở đồng bằng Cửu Long có chỉ số BOD5 vượt 200-400% Sông Thị Vải xa hơn, vượt 1000- 1500%1 Bên cạnh đó, những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường có xu hướng ngày càng tăng lên nhưng việc
xử lý thì chưa được thực hiện nghiêm túc Theo tổng kết của Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường ngày 01/8/2012, hiện nay cả nước có khoảng 80 doanh nghiệp
có chức năng, nhiệm vụ, giấy phép xử lý chất thải nguy hại Thế nhưng, các doanh nghiệp này lại không làm theo đúng quy trình mà đem chất thải về chôn ngay tại khuôn viên của đơn vị mình Điển hình trong số doanh nghiệp này là Công ty Môi trường xanh (Vũng Tàu), Xí nghiệp xử lý chất thải Bình Dương Mặt khác, địa phương nào cũng có doanh nghiệp vi phạm về môi trường, nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng… Các hoạt động thanh tra, kiểm tra phòng chống vi phạm trong lĩnh vực này mới chỉ phát hiện xử lý khoảng 10% so với vi phạm thực tế Theo Cục cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, cả nước có hơn 1 triệu tấn chất thải nguy hại, phát sinh chủ yếu từ các nguồn sản xuất công nghiệp, làng nghề, dịch vụ khoa học y tế Trong đó, chỉ khoảng 60% chất thải nguy hại được xử lý Số còn lại bị
1
Xem: “Nguồn nước suy thoái trầm trọng (kỳ 3)”, Bích Ngọc, http://khoahoc.baodatviet.vn/Home/KHCN/
Nguon-nuoc-suy-thoai-tram-trong-ky-3/20101/77387.datviet [truy cập ngày 30/3/2012]
Trang 6chôn lấp, đổ thải hoặc tái sử dụng một cách trái phép2 Điều đáng quan tâm là môi trường sống bị ô nhiễm có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe của con người Theo thông tin từ Bộ Y tế, khoảng 26 bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng nước
ta hiện nay đều có liên quan đến môi trường Ngoài ra, môi trường bị ô nhiễm cũng là nguyên nhân khiến các bệnh không lây nhiễm, bệnh nghề nghiệp gia tăng nhanh chóng, thống kê mới đây ở nước ta cho thấy, cả nước có khoảng hơn 23.000 trường hợp mắc các bệnh nghề nghiệp và dự báo hết năm 2011, con số này sẽ tiếp tục tăng lên 30.000 người Trong đó, các bệnh phổi chiếm tỷ lệ cao nhất (73%), điếc do tiếng ồn là 6% Con số này mới chỉ là thống kê từ những bệnh nhân được đi khám, giám định sức khỏe định kỳ, trên thực tế số người mắc có thể còn cao hơn gấp nhiều lần bởi có đến 80% người lao động không đi giám định, kiểm tra sức khỏe3.Với những thực trạng về ô nhiễm môi trường như vậy trong khi các văn bản quy phạm pháp luật quy định về ô nhiễm môi trường như Bộ luật Hình sự 1999, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Bảo vệ môi trường 2005, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989… còn nhiều thiếu sót, bất cập thì đã dẫn đến hậu quả là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng và
do đó, ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người Như chúng ta đã biết, sức khỏe con người đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước, thế nhưng một khi sức khỏe con người bị ảnh hưởng thì kết quả sẽ là đất nước kém phát triển và không thể hội nhập Vì vậy trước mắt là phải có biện pháp để bảo vệ sức khỏe con người dưới tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường
Như vậy với hai lý do chính là thực trạng ô nhiễm môi trường ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đến sức khỏe con người trong khi về mặt pháp lý thì còn nhiều bất cập
trong các quy định về vấn đề này nên tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về bảo vệ sức
khỏe con người dưới tác động của ô nhiễm môi trường – Thực tiễn và giải pháp”
để nghiên cứu, phân tích những quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng luật đồng thời đưa ra giải pháp tốt nhất nhằm làm cho môi trường quanh ta ngày càng trong sạch, đảm bảo tốt nhất sức khỏe con người
2 Phạm vi nghiên cứu
Liên quan đến lĩnh vực pháp luật về bảo vệ sức khỏe con người dưới tác động của ô nhiễm môi trường thì có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan điều chỉnh
Trang 7http://www.anninhthudo.vn/San-phamUng-Tuy nhiên, trong nội dung nghiên cứu của đề tài Luận văn, tác giả chỉ trình bày và phân tích những quy định được xem là tiêu biểu, nổi bật nhất và có mối liên quan gần nhất với nội dung đề tài Theo đó, người viết tập trung phân tích các quy định của Luật Bảo
vệ sức khỏe nhân dân 1989, Luật Bảo vệ môi trường 2005, Bộ luật Hình sự 1999, Bộ luật Dân sự 2005 và một số Nghị định hướng dẫn có liên quan Nội dung phân tích chủ yếu là các quy định về vệ sinh trong nguồn nước, trong xây dựng, trong sản xuất công nghiệp… và các quy định về xử lý vi phạm bao gồm xử lý hình sự, hành chính, dân sự
3 Mục tiêu nghiên cứu
Như đã trình bày ở phần lý do chọn đề tài, hiện tại tình trạng ô nhiễm môi trường đang diễn ra khá nghiêm trọng trong khi các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề bảo
vệ sức khỏe con người dưới tác động của ô nhiễm môi trường vẫn còn những thiếu sót nhất định làm cho việc áp dụng luật vào trong thực tế không khả thi nên với việc nghiên cứu vấn đề đó, mục tiêu cuối cùng mà tác giả muốn đưa ra là trên cở sở phân tích những bất cập của các quy định sẽ đưa ra giải pháp cho phù hợp nhằm bảo vệ tốt nhất môi trường quanh ta, góp phần nâng cao sức khỏe con người cũng như nâng cao trình độ phát triển của đất nước, tạo điều kiện để hội nhập với các nước trong khu vực
và trên thế giới
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản Đầu tiên, để có tư liệu cho việc nghiên cứu, tác giả đã sử dụng biện pháp sưu tầm, tìm kiếm tài liệu, phân loại tài liệu, tham khảo các thông tin qua báo đài, tạp chí để chọn lọc, sắp xếp, cơ cấu cho phù hợp vào nội dung từng Chương Tiếp đó, trong quá trình viết cũng sử dụng các phương pháp phân tích luật viết, các biện pháp liệt kê, so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật với nhau, đồng thời để tạo ra sự
dễ dàng cho người đọc trong việc tiếp cận luận văn, tác giả cũng đã sử dụng các biện pháp tổng hợp, diễn dịch, quy nạp để phân tích, chứng minh hay giải thích vấn đề Tất
cả các phương pháp trên được trình bày đan xen trong luận văn, tùy từng nội dung mà
áp dụng phương pháp cho phù hợp để tạo ra sự hài hòa, cân đối, mạch lạc trong từng vấn đề của luận văn
5 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba Chương như sau:
Trang 8Chương 1: Khái quát về ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người
Chương 2: Quy định của pháp luật về bảo vệ sức khỏe con người dưới tác động của ô nhiễm môi trường
Chương 3: Pháp luật về bảo vệ sức khỏe con người dưới tác động của ô nhiễm môi trường – Một số tồn tại và giải pháp
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA Ô NHIỄM MÔI TRUỜNG ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI
Trang 9Khi xã hội càng phát triển thì bên cạnh những mặt tích cực mà nó đạt được như đời sống người dân được cải thiện, kinh tế phát triển thì bên cạnh đó cũng kèm theo những tác động không mong muốn Một trong những tác động đó chính là tình trạng ô nhiễm môi trường Cụ thể, hiện nay trên thế giới, một số nơi đang phải đối mặt với nguồn nước, không khí bị ô nhiễm, thậm chí một số địa phương, người dân còn phải sống chung với rác thải Với thực trạng như vậy, hậu quả là môi trường tự nhiên bị thay đổi
và không ai khác, đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh nhất chính là con người, khi đó, sức khỏe con người sẽ bị đe dọa bởi những căn bệnh nguy hiểm do ô nhiễm gây ra Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe con người là một vấn đề hết sức cần thiết Trong phạm vi chương này, những vấn đề chung về ô nhiễm môi trường và sức khỏe con người sẽ được trình bày để làm tiền đề cho việc nghiên cứu những quy định của pháp luật cũng như đưa ra giải pháp khắc phục
1.1 Khái quát chung về môi trường và ô nhiễm môi trường
1.1.1 Khái quát chung về môi trường
1.1.1.1 Khái niệm môi trường
Khi nói đến môi trường, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, thuật ngữ này được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Nó có nguồn gốc từ tiếng Pháp là “environner”
có nghĩa là “bao quanh, ở xung quanh” và đến những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ
XX, thuật ngữ này cũng được sử dụng phổ biến trong nhiều ngôn ngữ của các quốc gia,
cụ thể ở từng nước nó có tên gọi như sau: Umwelt (Đức), Mileu (Hà Lan), Medio ambiente (Tây Ban Nha), Mesioambiente (Thổ Nhĩ Kỳ), Al’Biah (Ả Rập)4
Trên thế giới, theo một số nghiên cứu khoa học thì môi trường được hiểu như sau: theo quyển Webster’s Ninth New Collegiate Dictionary thì “Môi trường là toàn bộ hoàn cảnh, vật thể hoặc điều kiện bên ngoài vây quanh tác động qua lại lẫn nhau”5 Còn theo Masn Langenhim, thì “Môi trường là tổng hợp các yếu tố tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật Chẳng hạn như những sinh vật sống trong rừng, nó chịu tác động của các điều kiện nhất định như: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, không khí,
… nghĩa là những yếu tố xung quanh có khả năng gây ảnh hưởng trong quá trình tồn
4
Theo Patrica w.Bririne và AlanE.Boyle, International Environmental Law, Clarendon Press, Oxford,1993;
2002, http://www.tcboyle.net/friend.html , [truy cập ngày 27/01/2012]
5
Theo Webster’s Ninth New Collegiate Dictionary, 1983, http://www.thing.net/~vibekeie/manfoot.htm , [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 10tại và phát triển của sinh vật đó”6 Hai định nghĩa trên cho ta một cách hiểu khái quát
về thuật ngữ môi trường trên thế giới
Ở Việt Nam, cũng với cách hiểu tương tự như vậy thì môi trường được hiểu là:
“Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy”7 Hiểu theo góc độ pháp lý thì Luật Bảo vệ môi trường 1993 và 2005 quy định như sau:
Theo Luật Bảo vệ môi trường 1993 thì “Môi trường bao gồm tất cả những yếu tố tự
nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên” Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường 2005 định nghĩa gọn lại: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”
Có thể nhận thấy ở định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã lược bỏ cụm
“quan hệ mật thiết với nhau” và “thiên nhiên” Sự thay đổi này hoàn toàn hợp lý vì nó
phù hợp với khuynh hướng chung của thế giới Cụ thể, chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc8 đã định nghĩa môi trường như một hệ sinh lý học bên ngoài mà trong đó
con người và sinh vật khác tồn tại Ngoài ra môi trường còn được hiểu theo nhiều nghĩa đặc biệt khác như nó bao gồm các yếu tố: đất, nước, không khí, Môi trường có thể dùng để đề cập tới tất cả những sự sống và không sống mà nó bao quanh và ảnh hưởng tới sinh vật sống Nói đến môi trường, điều quan trọng cần ghi nhớ là không thể ngăn cách hay tách rời các thành phần môi trường Đó là các yếu tố tạo thành môi trường như không khí, nước, âm thanh, ánh sáng, đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật và các
hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác
Như vậy, môi trường có thể xem như tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự phát triển hay tồn tại của sinh vật và con người
1.1.1.2 Phân loại môi trường
Trang 11Có nhiều cách phân loại môi trường khác nhau Có thể phân loại môi trường theo
dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, theo cách phân loại cơ bản và thường gặp nhất thì môi trường bao gồm:
môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường xã hội
-Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, không phụ thuộc vào con người nhưng cũng
ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở; đất để xây dựng nhà cửa, trồng trọt, chăn nuôi; cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần thiết cho quá trình sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
- Môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, phục vụ lợi ích cho con người như ôtô, máy bay, nhà
ở, đường xá, cầu cống, bệnh viện, trường học, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
- Môi trường xã hội là tổng hợp các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định, hương ước ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức toàn thể Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Thứ hai, theo quy mô, chủ yếu người ta phân loại môi trường theo không gian địa
lý như môi trường toàn cầu, môi trường khu vực, môi trường quốc gia, môi trường vùng, môi trường địa phương
Thứ ba, theo thành phần
- Phân loại theo thành phần của tự nhiên người ta thường chia ra:
+ Môi trường không khí
+ Môi trường đất
+ Môi trường nước
+ Môi trường biển
- Phân loại theo thành phần của dân cư sinh sống người ta chia ra:
+ Môi trường thành thị
+ Môi trường nông thôn
Trang 12Ngoài bốn cách phân loại trên có thể còn có các cách phân loại khác phù hợp với mục đích nghiên cứu, sử dụng của con người và sự phát triển của xã hội9 Mỗi cách phân loại như vậy đều có những mục đích riêng của nó Với những cách phân loại đó, con người có thể sử dụng vào những mục đích nghiên cứu nhất định, là cơ sở để phân biệt rành mạch các loại môi trường, tránh sự nhập nhằng trong quá trình nghiên cứu, sử dụng Đồng thời, phân loại môi trường cũng là một điều kiện thuận lợi cho việc quản lý môi trường của các cơ quan có thẩm quyền Hơn nữa, việc phân loại cũng là tiền đề cho việc thành lập ra các cơ quan có chức năng chuyên nghiên cứu, quản lý về từng loại môi trường riêng biệt, từ đó để họ thực hiện công tác quản lý, nghiên cứu, sử dụng môi trường thuận lợi và tốt hơn, chính vì thế, sẽ có những giải pháp hiệu quả cho tình trạng ô nhiễm môi trường, đảm bảo tốt hơn sức khỏe con người
1.1.1.3 Chức năng của môi trường
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
- Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật: trong quá trình tồn tại
và phát triển con người cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, nhà ở cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác Tất cả các nhu cầu này đều do môi trường cung cấp Tuy nhiên khả năng cung cấp các nhu cầu đó của con người là có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và ở từng thời kì
- Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản
xuất của con người: Trong lịch sử phát triển, loài người đã trải qua nhiều giai đoạn Bắt đầu từ khi con người biết canh tác cách đây khoảng 14-15 nghìn năm cho đến khi phát minh ra máy hơi nước vào thế kỷ thứ XVII, đánh dấu sự khởi đầu của cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực
Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên về số lượng lẫn chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội Chức năng này của môi trường còn gọi là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên gồm:
+ Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp nước, bảo tồn tính đa dạng sinh học và
độ phì nhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu …
+ Các thủy vực: có chức năng cung cấp nước, nơi vui chơi giải trí và các nguồn thủy hải sản
+ Động-thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm
9
Xem: “Phân loại môi trường”,
http://www.wattpad.com/139190-ph%C3%A2n-lo%E1%BA%A1i-m%C3%B4i-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng, [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 13+ Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, nước, gió: có chức năng duy trì các hoạt động trao đổi chất
+ Các loại quặng, dầu mỏ: cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho hoạt động sản xuất …
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc
sống và hoạt động sản xuất của mình Phế thải do con người tạo ra trong quá trình sản xuất và tiêu dùng được đưa trở lại môi trường Tại đây, hoạt động của vi sinh vật và các thành phần môi trường sẽ chuyển phế thải trở thành các dạng ban đầu trong một chu trình sinh địa hoá phức tạp Khả năng tiếp nhận và phân huỷ chất thải của môi trường là có giới hạn Khi lượng phế thải vượt quá giới hạn tiếp nhận và phân huỷ chất thải, thì chất lượng môi trường sẽ bị suy giảm, môi trường có thể bị ô nhiễm Chính vì vậy, Đây là một trong những chức năng quan trọng của môi trường Có thể phân loại chức năng này thành:
+ Chức năng biến đổi lý hoá: pha loãng, phân huỷ hoá học nhờ ánh sáng mặt trời,
sự tách chiết các vật thải và độc tố của các thành phần môi trường
+ Chức năng biến đổi sinh hoá: sự hấp thụ các chất dư thừa, sự tuần hoàn của chu
trình cácbon, chu trình nitơ, phân huỷ chất thải nhờ vi khuẩn, vi sinh vật
+ Chức năng biến đổi sinh học: khoáng hoá các chất thải hữu cơ, mùn hoá, v.v
+ Chức năng giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh
vật trên trái đất Trái đất trở thành nơi sinh sống của con người và các sinh vật nhờ một
số điều kiện môi trường đặc biệt: nhiệt độ không khí không quá cao, nồng độ ôxy và các khí khác tương đối ổn định, cân bằng nước ở các đại dương và trong đất liền Tất
cả các điều kiện đó cho đến nay chưa tìm thấy trên một hành tinh nào khác trong và ngoài hệ mặt trời Những điều đó xảy ra trên trái đất nhờ hoạt động của hệ thống các thành phần của môi trường trái đất như khí quyển, thuỷ quyển, sinh và thạch quyển
đất được xem là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bởi vì chính môi trường trái đất là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử trái đất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người; cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo động sớm các hiểm họa đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lý của cơ thể thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa ; cung cấp và lưu giữ cho con người các nguồn
Trang 14gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mỹ để chiêm ngưỡng, tôn giáo và văn hóa khác
- Môi trường bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài Các
thành phần trong môi trường còn có vai trò trong việc bảo vệ cho đời sống của con người và sinh vật tránh khỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng ozon trong khí quyển có nhiệm vụ hấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá mức không gian
và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi10
1.1.2 Khái quát chung về ô nhiễm môi trường
1.1.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Tương tự như môi trường thì ô nhiễm môi trường cũng là một khái niệm được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Một cách cơ bản nhất, thì “ô nhiễm” là “nhiễm bẩn tới mức có thể gây độc hại”11 Còn “môi trường” như trên đã phân tích là “tất cả những
gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển” Như vậy, hiểu theo nghĩa thông thường thì “ô nhiễm môi trường” là tất cả những gì xung quanh con người bị
nhiễm bẩn và do đó gây ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của con người
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ12 Dưới gốc độ sinh học thuần túy, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó chỉ số hóa, lý của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi Còn theo Đạo luật bảo vệ môi trường năm 1986 của bang Westem – Austraylia (Enviroment Protection Act) định
10
Xem:“Môi trường có những chức năng cơ bản nào”, WikiSysop, http://tusach.thu vienkhoahoc.com/wiki/
M%C3%B4i_tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_c%C3%B3_nh%E1%BB%AFng_ch%E1%BB%A9c_n%C4%83ng_ c%C6%A1_b%E1%BA%A3n_n%C3%A0o%3F, [truy cập ngày 27/01/2012]
11
Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Phương Đông, tr.686
12
http://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/%C3%94_nhi%E1%BB%85m_m%C3%B4i_tr%C6%B0%E1% B B%9Dng_l%C3%A0_g%C3%AC%3F, [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 15nghĩa: “ô nhiễm là bất cứ sự thay đổi trực tiếp hay gián tiếp của môi trường theo chiều hướng xấu đi hay sự suy thoái của nó”13
Ở Việt Nam, hiểu theo nghĩa pháp lý thì Luật Bảo vệ Môi trường 1993 định nghĩa:
“Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường” 14 Theo định nghĩa này thì ô nhiễm môi trường chỉ đơn giản là một sự thay đổi tính chất, thành phần của môi trường và chính sự thay đổi đó làm vi phạm các tiêu chuẩn môi trường Cũng trên tinh thần đó và bổ sung thêm cho hoàn thiện, Luật
Bảo vệ môi trường 2005 đã định nghĩa “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành
phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” 15 Như vậy, về cơ bản thì định nghĩa cũng chỉ ra ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần, tính chất của môi trường gây ra sự không phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường Tuy nhiên, định nghĩa cũng đã bổ sung thêm ô nhiễm môi trường còn gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật Đây là một điểm khác biệt cơ bản của luật mới so với luật cũ Điểm mới này thể hiện đúng hơn bản chất thật
sự của ô nhiễm môi trường là ngoài việc biến đổi các thành phần của môi trường thì còn ảnh hưởng xấu đến những chủ thể xung quanh như con người, sinh vật Quy định như vậy là hợp lý vì nó thể hiện sự hoàn chỉnh của khái niệm ô nhiễm môi trường, giúp chúng ta nhận thức một cách đầy đủ và toàn diện như thế nào là ô nhiễm môi trường Đồng thời, với khái niệm hoàn chỉnh như vậy cũng thể hiện sự quan tâm của nhà làm luật đến sức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật Bên cạnh đó, cũng tạo điều kiện hiểu một cách thống nhất khái niệm trong các lĩnh vực pháp lý khác như hành chính, hình sự, dân sự để căn cứ vào đó mà có biện pháp xử lý cho phù hợp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất ô nhiễm môi trường và đảm bảo tốt hơn sức khỏe con người Tóm lại, ô nhiễm môi trường hiểu theo định nghĩa của Luật Bảo vệ môi trường 2005
là khá phù hợp và đầy đủ, nó phản ánh khá chính xác bản chất của ô nhiễm môi trường
và đó cũng chính là căn cứ pháp lý vững chắc để áp dụng trong các lĩnh vực pháp lý khác
13
http://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/%C4%90_nhi%E1%MM%77m_m%C4%MM_tr%C9%M0%A4% MM%9Dng_l%C4%A0_g%C4%AC%4M, [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 161.1.2.2 Phân loại ô nhiễm môi trường
Cũng như phân loại môi trường, ô nhiễm môi trường cũng được phân thành từng loại khác nhau Cụ thể như sau:
- Ô nhiễm đất: Ô nhiễm đất xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại (hàm
lượng vượt quá giới hạn thông thường) do các hoạt động chủ động của con người như khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, sử dụng phân bón hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá nhiều, hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa ngầm Phổ biến nhất trong các loại chất ô nhiễm đất là hydrocarbon, kim loại nặng, Metyl tert-butyl ete (MTBE), thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, và chlorinated hydrocarbon16
- Ô nhiễm tiếng ồn: Ô nhiễm môi trường do tiếng ồn là tập hợp những âm thanh tạp
loạn có tần số và chu kì khác nhau, hay nói cách khác tiếng ồn là những âm thanh chói tai phát sinh từ những nguồn chấn động không tuần hoàn17
- Ô nhiễm ánh sáng: Ô nhiễm ánh sáng là một trong những vấn đề đang tác động
tiêu cực lên môi trường thiên văn, các loài sinh vật cũng như môi trường sinh thái tự nhiên, đồng thời ảnh hưởng đến việc sử dụng năng lượng của con người Ô nhiễm ánh sáng được định nghĩa là việc lạm dụng ánh sáng nhân tạo quá mức cần thiết so với khả năng chịu đựng ánh sáng của con người và môi trường18
- Ô nhiễm nguồn nước: Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí CO2, CH4, H2S tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực Ở các đại dương thì nguyên nhân chính gây ô nhiễm đó là các sự cố tràn dầu
- Ô nhiễm không khí: Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến
đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra
sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là
16
Xem: “Ô nhiễm môi trường”, http://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%94_nhi%E1% BB%85m_m%C3%B4i
_tr%C6 %B0%E1%BB%9Dng, [truy cập ngày 27/01/2012]
17
Xem: “Tiếng ồn và vấn đề kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại tỉnh”, Th.S Hà Thị Minh Chúc - PGĐ TT Quan trắc
& BV Môi trường, nhiem-tieng-on-tai-tinh-1268/, [truy cập ngày 27/01/2012]
http://tnmtphutho.gov.vn/index.php/vi/news/Moi-truong/Tieng-on-va-van-de-kiem-soat-o-18
Xem: “Ô nhiễm ánh sáng đối với sức khỏe con người”, Đan Phan, sang/82/3 290852.epi , [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 17http://www.baomoi.com/O-nhiem-anh-vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải riêng của một quốc gia nào Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt Đồng thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau, làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng
1.1.2.3 Các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
Hiện nay, với tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng như thế, nhân loại sẽ phải đối mặt với không ít hậu quả do việc ô nhiễm gây ra Việc làm trước hết là phải có biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường Muốn có được biện pháp tốt nhất thì phải tìm hiểu những nguyên nhân nào đã gây ảnh hưởng đến môi trường Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng bức xúc của những vấn đề môi trường sống hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ tập trung nêu lên những nguyên nhân chủ yếu do con người gây ra ở phạm vi vĩ mô:
Một là, do con người: do sự phát triển xã hội theo quan điểm chiến lược lấy con
người làm trung tâm hay quan điểm duy nhân loại đã từng thống trị ở các nước phương Tây trong suốt giai đoạn duy lý, nhất là từ thế kỷ XVII – XVIII đến nay Theo quan điểm này, con người có quyền uy tối thượng đối với thế giới; còn giới tự nhiên được coi như một bộ máy cơ giới, vô tri, vô giác, con người có thể tuỳ tiện tác động lên nó,
có thể tước đoạt từ tự nhiên tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống của mình, và thực
tế đã diễn ra đúng như vậy, nhất là từ khi nổ ra cuộc cách mạng công nghiệp Trong suốt nhiều thế kỷ qua, xã hội phương Tây đã phát triển theo đường hướng này Kết quả
là xã hội phương Tây, đặc biệt là các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn trong lĩnh vực kinh tế
Để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của mình, con người đã khai thác, vơ vét tất cả những nguồn tài nguyên thiên nhiên để đưa vào sản xuất, bất chấp các quy luật tồn tại
và phát triển của chúng, miễn là thu được lợi nhuận một cách cao nhất, nhanh nhất, khi
mà lợi ích kinh tế trở thành mục tiêu duy nhất và cao nhất của sự phát triển xã hội, một tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển Nhưng thực chất thì lợi ích kinh tế
do đâu mà có? Phải chăng con người đã cướp bóc từ thiên nhiên và vay mượn các thế
hệ tương lai Những khối tài nguyên khổng lồ mà con người đem vào trong sản xuất lẽ
ra phải được coi là cái vốn của sản xuất, thế nhưng trong thực tế, chúng lại được xem như là thu nhập xã hội, là lợi ích kinh tế mà con người được hưởng thụ Điều đó cũng
có nghĩa là các thế hệ mai sau khó có cơ hội để thoả mãn các nhu cầu của mình từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên trái đất
Trang 18Hai là, do xã hội: yếu tố xã hội cũng góp phần không nhỏ gây nên ô nhiễm môi
trường bởi nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Do sự phát triển xã hội theo quan điểm duy kinh tế: Để thoả mãn nhu cầu ngày
càng tăng của mình, con người đã ra sức khai thác tài nguyên thiên nhiên, bất chấp mọi quy luật tồn tại và phát triển của chúng Ví dụ, từ năm 1876 đến năm 1975, con người
đã khai thác từ lòng đất khoảng 137 tỉ tấn than, 46,7 tỷ tấn dầu mỏ, 20 nghìn tỉ mét khối khí thiên nhiên, 24,5 tỉ tấn quặng sắt… Lợi ích kinh tế đã trở thành mục tiêu duy nhất và cao nhất; các chỉ tiêu kinh tế như tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người (GDP), khối lượng tài nguyên thiên nhiên khai thác được… trở thành tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia, dân tộc19
- Do sự chưa hoàn thiện về kĩ thuật công nghệ của nền sản xuất xã hội: Sự chưa
hoàn thiện của kĩ thuật và công nghệ của nền sản xuất xã hội dưới nền văn minh nông nghiệp và công nghiệp là một trong những nguyên nhân gây nên và thúc đẩy ô nhiễm môi trường Để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người, nền sản xuất xã hội
đã phải sử dụng một khối lượng tài nguyên thiên nhiên rất lớn và ngày càng nhiều hơn Trong điều kiện nền kĩ thuật và công nghệ chưa hoàn thiện và còn nhiều hạn chế, xã hội buộc phải sử dụng phương thức khai thác tài nguyên thiên nhiên theo bề rộng, đối với mỗi loại tài nguyên chỉ dùng một vài tính năng chủ yếu, rồi thải bỏ, chẳng hạn như than đá, dầu mỏ chỉ được dùng làm nhiên liệu là chủ yếu Chính vì điều đó mà tài nguyên thiên nhiên càng được khai thác và chế biến nhiều thì các chất thải bỏ độc hại
ra môi trường ngày càng lớn Hậu quả tất yếu của phương thức sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên theo bề rộng là tài nguyên ngày càng cạn kiệt, môi trường sống ngày càng ô nhiễm nặng nề hơn
- Do bùng nổ dân số: khi dân số gia tăng thì các nhu cầu về nhà ở, sản xuất lương
thực, thực phẩm, sản xuất công nghiệp… ngày càng gia tăng, đòi hỏi họ phải khai thác những lợi ích từ thiên nhiên Tuy nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên luôn có hạn trong khi sức khai thác ngày càng tăng, chính vì vậy nên đã gây ra tình trạng các nguồn thải tập trung vượt quá khả năng tự phân huỷ của môi trường tự nhiên trong các khu vực đô thị, khu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp Một ví dụ điển hình là hoạt động khai thác vàng tại tỉnh Thừa-Thiên Huế của Công ty TNHH Quang Vinh, ở huyện Duy
19
Xem: “Nhân loại và vấn đề môi trường sống”, Phạm Thị Ngọc Trầm – PGS.TS Viện Triết học, Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam,
http://www.thuviengiadinh.com/ung-dung/moi-truong-song/nhan-loai-va-van-de-moi-truong-song, [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 19Xuyên, tỉnh Quảng Nam đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đời sống sinh hoạt của người dân địa phương cũng như tưới tiêu ở các xã vùng hạ du như Hương Hữu, Hương Sơn, không những thế, các dòng sông bị đục lại ảnh hưởng nguồn khai thác thuỷ sản Bên cạnh đó, sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các thành phố lớn – siêu đô thị làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng Nguồn cung cấp nước sạch, nhà ở, cây xanh không đáp ứng kịp cho sự phát triển dân
cư, kéo theo ô nhiễm môi trường không khí, nước tăng lên20
- Do chiến tranh: khi xảy ra chiến tranh, để phục vụ cho việc giao chiến các nước
thường sử dụng những chất độc hại như bom đạn, các chất hóa học khác Đó cũng chính là các nguồn nguy hiểm gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Một ví dụ cụ thể là trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, tổng cộng đế quốc Mĩ đã rải 72 triệu lít chất diệt
cỏ trong đó có 44 triệu lít chất độc màu da cam lên 1,7 triệu ha đất trồng và rừng ở miền nam Việt Nam Hậu quả để lại cho con người cũng như môi trường sống cho đến nay vẫn chưa tính toán được hết vì sự tàn phá khủng khiếp của nó Ngay khi bị rải thuốc diệt cỏ lần thứ nhất, 30% cây rừng bị chết ngay sau đó Cây rừng bị trụi lá, nước
bị ô nhiễm, động vật chết vì nhiễm độc, nhiều thảm rừng đến nay vẫn không có loại cây nào có thể mọc được … minh chứng tiêu biểu cho sức tàn phá của chiến tranh lên môi trường tự nhiên Thế giới của chúng ta đã phải chứng kiến biết bao cuộc chiến tranh có sức huỷ diệt lớn, và từng ngày từng giờ vẫn xảy ra những cuộc chiến tranh xung đột sắc tộc, tôn giáo… Bên cạnh những thiệt hại khủng khiếp về người và của thì hậu quả tác động đến ô nhiễm môi trường đang là một lời cảnh bảo21
1.1.2.4 Hậu quả chung của ô nhiễm môi trường
Với hàng loạt các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường sẽ mang đến nhiều hậu quả
mà con người phải gánh chịu về vật chất cũng như tinh thần Ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng tới rất nhiều khía cạnh nhưng nhìn một cách bao quát, thì ô nhiễm môi trường gây hậu quả nghiêm trọng nhất tới các mặt: sức khỏe con người, xã hội và nền kinh tế
20
Xem:“Khai thác vàng ở huyện Nam Đông làm mất đất nông nghiệp”, Hồng Bắc, http://vov vn/Home/ K
hai-thac-vang-o-huyen-Nam-Dong-lam-mat-dat-nong-nghiep/20122/199691.vov, [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 20Thứ nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe con người: Sự suy thoái của chất lượng nước,
không khí, ánh sáng và những nguy hiểm khác về môi trường đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sức khỏe con người, dẫn đến sự suy giảm sức khỏe và các bệnh tật liên quan, bao gồm cả các căn bệnh gây ra bởi vi trùng và côn trùng do sự thay đổi của khí hậu như sốt rét, vàng da, ung thư, tiêu chảy…
Thứ hai là ảnh hưởng tới toàn xã hội: đó không chỉ là ảnh hưởng tới sức khỏe con
người như trên mà rộng hơn, khi môi trường bị ô nhiễm thì toàn xã hội cũng bị ảnh hưởng theo, một số biểu hiện cụ thể là làm giảm văn minh và vẽ mỹ quan đô thị, gây mất cân đối sinh học của các loài sinh vật, nền văn hóa nhân loại bị suy giảm,…
Thứ ba là ảnh hưởng đến nền kinh tế: Ô nhiễm môi trường làm suy yếu sức khoẻ
con người, từ đó dẫn đến giảm năng suất lao động, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Mặt khác, sự suy thoái của chất lượng môi trường sẽ làm giảm hiệu năng các nguồn tài nguyên cho sản xuất như sự tổn thất trong nghề cá do ô nhiễm nước, giảm sự phát triển của rừng do đất bị xói mòn, các loại cây trồng kể kể cả cây ăn trái và hoa màu hoặc là không cho năng suất cao hoặc là chết do ô nhiễm đất,
1.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe con người
1.2.1 Khái niệm về sức khỏe con người
1.2.1.1 Định nghĩa sức khỏe con người
Ngày nay, xã hội càng hiện đại, con người càng khát khao cuộc sống của mình được tốt đẹp hơn Với mỗi cá nhân, khái niệm về một cuộc sống tươi đẹp sẽ khác nhau nhưng nhìn chung ai cũng mong muốn ngày hôm nay sẽ tốt hơn hôm qua và ngày mai
sẽ đẹp hơn hôm nay Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ con đường ngắn nhất để đạt được điều này Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường nói “hãy giữ gìn sức khỏe”, “sức khỏe là vàng”, “sức khỏe là vốn quý giá nhất”… Lời nói thì là vậy nhưng liệu chúng ta có hiểu được “sức khỏe” là gì? Và vì sao chúng ta cần bảo vệ, giữ gìn sức khỏe? … Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản chúng ta có thể hiểu như sau: “Sức khỏe là trạng thái không có bệnh tật, cảm thấy thoải mái về thể chất, thư thái về tinh thần”22 Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới “Sức khỏe là tình
trạng hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh tật” 23 Bên cạnh đó, quan niệm về sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm sự
lành mạnh cả về thể xác lẫn tinh thần Người định nghĩa: “Ngày nào cũng tập thể dục
Trang 21thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khỏe” 24 Nội dung của định
nghĩa này hoàn toàn thống nhất với định nghĩa về sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới trong Tuyên ngôn Alma Ata năm 1978
Người viết cũng đồng tình với định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới Theo đó, để
có được một cơ thể khỏe mạnh, sức khỏe bền bỉ, dẻo dai … không phải chúng ta muốn
là được Vì nó tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố: nhận thức của mỗi người, môi trường sống và làm việc… Một người suốt ngày phải bận bịu với rất nhiều công việc, cả ngày không có thời gian nghỉ ngơi, giải trí … dễ dẫn đến tình trạng suy nhược cơ thể, tinh thần rối loạn… Đặc biệt, với nhịp độ sống cạnh tranh như hiện nay, thời gian làm việc nhiều hơn thời gian nghỉ ngơi thì việc chăm sóc sức khỏe đang là một vấn đề cần phải quan tâm hàng đầu
Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản của con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào Nhưng để có được một sức khỏe tốt, chúng ta cần phải làm gì? Trước tiên, phải tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe, để từ đó có các biện pháp khắc phục và giải quyết
1.2.1.2 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Có hai nhóm nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sức khỏe của con người bao gồm: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:
- Nguyên nhân khách quan, bao gồm: sự ô nhiễm môi trường, điều kiện y tế, điều
kiện khí hậu và di truyền, cụ thể như sau:
+ Ô nhiễm môi trường là một trong những nhân tố có tác động tiêu cực đến sức
khỏe con người Hiện nay, chúng ta đang phải đối mặt với hàng loạt những căn bệnh do
ô nhiễm môi trường gây ra Chẳng hạn như: bệnh tiêu chảy xuất phát từ việc ăn uống không hợp vệ sinh, thêm vào đó sử dụng các nguồn nước bẩn phục vụ cho việc ăn uống hằng ngày; ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước là nguyên nhân dẫn đến các bệnh ung thư, viêm phổi …
+ Điều kiện về y tế: ngày nay, mặc dù các dịch vụ khám chữa bệnh xuất hiện hầu
như khá nhiều Nhưng liệu các thiết bị hiện đại có được trang bị đầy đủ cho các cơ sở y
tế chưa? Chỉ ở những thành phố lớn thì họa mai có đầy đủ nhưng ở các vùng sâu vùng
xa thì sao? Chẳng hạn như bệnh viêm ruột thừa, nếu bệnh nhân sống ở một vùng xa
24
Xem: “Hồ Chí Minh với quan điểm về sức khỏe, y tế và đạo đức của người thầy thuốc”,TTƯT.BS Nguyễn Võ
Hinh, http://www.impe-qn.org.vn/impe-qn/vn/portal/InfoD etail.jsp?area=58&cat=1178&ID=45 41 , [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 22xôi, thì nguy cơ chết vì viêm phúc mạc do vỡ ruột thừa cao hơn nguy cơ chết của một bệnh nhân khác cũng bị viêm ruột thừa sống ở một thành phố lớn25
+ Điều kiện về khí hậu: Sự thay đổi thời tiết có thể tác động, kích thích hàng loạt
người, ảnh hưởng đến sự tuần hoàn máu của não và gây nhức đầu, đau lưng, nhức xương, mệt mỏi, đau nhói vùng tim Ở những người đứng tuổi có bệnh mạn tính, sự thay đổi thời tiết sẽ làm bệnh nặng lên
+ Yếu tố di truyền: thông thường, khi cha hoặc mẹ bị nhiễm một trong số các bệnh di truyền như bệnh tim, bệnh béo phì, bệnh mù màu, ung thư vú … thì con có khả năng bị di truyền rất cao Do đó đây cũng là một trong những nhân tố làm ảnh hưởng tới sức khỏe con người mà chúng ta khó có thể chủ động phòng ngừa hay chữa trị
- Nguyên nhân chủ quan bao gồm: ngủ, vận động, tâm lý, dinh dưỡng Đây là các
nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe của chúng ta mà con người có thể tác động được
+ Tầm quan trọng của giấc ngủ: ngủ là những nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được đối với con người Thiếu ngủ, con người sẽ suy kiệt sức lực, hao mòn thân thể, chóng già, sinh bệnh tật, làm cho làn da chóng nhăn, khô và sạm Từ xưa đến nay, các chuyên gia sức khỏe bao giờ cũng khuyên con người phải ăn uống điều độ, ngủ và làm việc hợp lý Một số công trình nghiên cứu khoa học cho thấy, khi con người ngủ, huyết quản dưới da nở ra, vì thế có tác dụng bổ sung dinh dưỡng và ôxy cho làn da, đồng thời loại bỏ bài tiết các chất có hại trong cơ thể Trong một số trường hợp, thiếu ngủ cũng sẽ làm cơ thể tăng cân Đặc biệt, những người thường xuyên phải lao động trí óc căng thẳng cần được ngủ đủ giấc Nếu thiếu ngủ kéo dài sẽ dẫn đến rối loạn thần kinh, dễ cau có, nổi nóng, suy nhược hệ tuần hoàn não và có thể sinh ra nhiều chứng bệnh khác Thiếu ngủ còn ảnh hưởng đến nồng độ các hormon tuyến giáp trong máu, có thể dẫn đến nguy cơ cao huyết áp
Công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ và Nhật Bản đã chứng minh, khi chúng ta ngủ, cơ thể tiết ra những hormon cần thiết có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, từ đó có tác dụng chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn, virut gây bệnh Bên
25
Xem: “Tản mạn về sức khỏe”, Huỳnh Tấn Tài, http://khoetredepmai.com/2011/11/cac-nhan-t% E1%B
B%91-%E1%BA%A3nhh%C6%B0%E1%BB%9Fng-d%E1%BA%BFn-s%E1%BB%A9c-kh%E1%BB%8 Fe/ , [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 23cạnh đó, giấc ngủ cũng góp phần làm chậm sự già yếu và kéo dài tuổi thọ, xuân sắc cho con người26
+ Tầm quan trọng của sự vận động: Sức khoẻ là vốn quý giá nhất của con người Chúng ta nên tìm những nguồn tạo dựng và nuôi dưỡng sự sống Vận động là một trong những nguồn đó Kiến thức đúng đắn về vận động cung cấp một phong cách sống lành mạnh Aristốt, một danh nhân thời cổ Hy Lạp nói: “Không gì làm suy yếu và huỷ hoại cơ thể bằng tình trạng không vận động kéo dài, không nên thiếu lao động, đói lao động”27
+ Vấn đề về tâm lý: khi con người có một trạng thái tâm lý tốt thì làm việc sẽ có hiệu quả cao, luôn phấn chấn, năng động trong cuộc sống Vì vậy, họ sẽ có một sức khỏe tốt Ngược lại, khi trạng thái tâm lý của họ bất an, luôn lo lắng thì dễ dẫn đến các căn bệnh như: stress, trầm cảm… những căn bệnh này sẽ ảnh hưởng đến công việc, đến chất lượng cuộc sống của con người
+ Vấn đề về dinh dưỡng: Cân bằng dinh dưỡng thời gian gần đây là điểm nhấn trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, nhưng phần lớn người dân mới chỉ quan tâm đến “bề nổi” của việc cân bằng dinh dưỡng Đó là dung nạp càng nhiều dưỡng chất qua thức ăn hằng ngày, mà chưa có kiến thức đầy đủ đến “mảng chìm” quan trọng đó là tỉ
lệ của các dưỡng chất cần thiết sao cho hợp lý Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến các căn bệnh về tim mạch, béo phì, đái tháo đường… gây ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe của bản thân và gia đình28
1.2.1.3 Tầm quan trọng của sức khỏe
Tầm quan trọng của sức khỏe được thể hiện qua hai khía cạnh:
- Đối với chính cuộc sống của con người: một khi con người có sức khỏe dẻo dai
thì công việc của họ sẽ hiệu quả, đạt được những thành tích nhất định, khi đó con người trở nên thoải mái, lạc quan, yêu đời, chất lượng cuộc sống và công việc của chính họ sẽ nâng lên đáng kể Trái lại, một khi sức khỏe con người không được tốt thì
Xem: “ Vận động là nguồn sống”, Phó Đức Thảo , http://www.thegioitrongta.com/index.php?module= ne
ws&task=viewNewsDetail&id=215&category_id=57, [truy cập ngày 27/01/2012]
28
Xem:Thông tin dịch vụ - Tuổi trẻ online, “Cân bằng dinh dưỡng-xu hướng chăm sóc sức khỏe thời đại mới” ,
http://www.calofic.com.vn/news/435/48/Can-bang-dinh-duong-xu-huong-cham-soc-suc-khoe-thoi-dai-moi, [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 24công việc và đời sống của họ ngày càng suy giảm, và do đó làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hiện tại
- Đối với nền kinh tế - xã hội của một đất nước, một đất nước muốn phát triển, hội
nhập đòi hỏi phải có nền kinh tế vững mạnh, xã hội văn minh và một nền chính trị ổn định Muốn vậy, từng cá nhân sống trong đất nước đó phải lao động, phải ra sức để dựng xây một nền kinh tế - chính trị - xã hội bền vững Tuy nhiên, điều trước tiên cần phải có để từng cá nhân thực hiện được điều đó chính là phải có một sức khỏe tốt, đủ mạnh để ra sức làm việc Chính vì vậy, sức khỏe đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc gia, là tiền đề xây dựng một xã hội vững mạnh, một chế độ chính trị bền vững
1.2.2 Tác động của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe con người
1.2.2.1 Tác động của ô nhiễm nguồn nước
Ô nhiễm môi trường nước gây ra các tình trạng như nước thải công nghiệp, nước
bẩn và hôi ở các vùng kênh rạch, nhất là trong các khu đô thị Đây là những loại nước
bị nhiễm bẩn và chứa rất nhiều tạp chất gây nguy hại Khi con người sử dụng nguồn
nước này cho sinh hoạt thì sẽ mắc các căn bệnh nguy hiểm như viêm màng kết, tiêu
chảy, ung thư… Ngoài ra ô nhiễm nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất kinh doanh, các hộ nuôi trồng thủy sản
Một ví dụ cụ thể từ các nghiên cứu khoa học cho thấy, khi sử dụng nước nhiễm asen để ăn uống, con người có thể mắc bệnh ung thư trong đó thường gặp là ung thư
da Ngoài ra, asen còn gây nhiễm độc hệ thống tuần hoàn khi uống phải nguồn nước có hàm lượng asen 0,1mg/l Người nhiễm chì lâu ngày có thể mắc bệnh thận, thần kinh, nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu, có thể gây ung thư Metyl tert-butyl ete (MTBE) là chất phụ gia phổ biến trong khai thác dầu lửa có khả năng gây ung thư rất cao Nhiễm Natri (Na) gây bệnh cao huyết áp, bệnh tim mạch, lưu huỳnh gây bệnh về đường tiêu hoá, Kali, Cadimi gây bệnh thoái hoá cột sống, đau lưng Hợp chất hữu cơ, thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc kích thích tăng trưởng, thuốc bảo quản thực phẩm, phốt pho… gây ngộ độc, viêm gan, nôn mửa Tiếp xúc lâu dài sẽ gây ung thư nghiêm trọng các cơ quan nội tạng Chất tẩy trắng Xenon peroxide, sodium percarbonate gây viêm đường hô hấp, oxalate kết hợp với calcium tạo ra calcium oxalate gây đau thận, sỏi mật Vi khuẩn, ký sinh trùng các loại
là nguyên nhân gây các bệnh đường tiêu hóa, nhiễm giun, sán Kim loại nặng các loại:
Trang 25Titan, Sắt, chì, cadimi, asen, thuỷ ngân, kẽm gây đau thần kinh, thận, hệ bài tiết, viêm xương, thiếu máu29
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, hàng trăm nghìn ha đất nông nghiệp ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên thường xuyên bị hạn hán, ảnh hưởng lớn đến sản xuất, phát triển kinh tế, hàng vạn gia đình ở các địa bàn này thiếu nước sinh hoạt trầm trọng Như vậy, khi nguồn nước bị ô nhiễm thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, vì thế cần phải có các biện pháp để hạn chế ô nhiễm môi trường nước để đảm bảo sức khỏe con người
1.2.2.2 Tác động của ô nhiễm không khí
Các biểu hiện của ô nhiễm không khí như khói công nghiệp, khói thuốc, bụi… Những nhân tố này có tác động tiêu cực tới sức khỏe con người khi hít phải Khi đó, con người sẽ bị mắc phải các căn bệnh về đường hô hấp như lao, phổi, ngoài ra còn có các bệnh như tim mạch Cụ thể, khi tiếp xúc ngắn hạn với những loại khí này, có thể xảy ra biến cố xấu đối với hệ tim mạch như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và suy tim Trong trường hợp tiếp xúc dài hạn với không khí ô nhiễm, nguy cơ tử vong vì bệnh mạch vành tim hoàn toàn có thể xảy ra Bên cạnh đó còn gây ra hen suyễn, nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, viêm tai giữa, lao, viêm phổi, bại não, ung thư và các dị tật bẩm sinh Ô nhiễm không khí không những gây nên các bệnh lý ở đường hô hấp, mà còn ảnh hưởng lên sự phát triển của thai nhi, là nguyên nhân làm chậm phát triển hệ thần kinh, trí não ở trẻ
Có thể lấy một số dẫn chứng sau để minh họa cho tác động xấu của ô nhiễm không khí: Mỗi năm có khoảng 2 triệu người chết vì ô nhiễm không khí - đó là lời cảnh báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra cuối tháng 9-201130
Ở nhiều thành phố, ô nhiễm không khí đang đạt tới mức đe dọa sức khỏe con người, theo nhận định của WHO sau khi kết hợp dữ liệu về chất lượng không khí trong thời gian từ 2003-2010 tại 1.100 thành phố ở 91 quốc gia Trong đó, đặc biệt nghiêm trọng
là Trung Quốc và các quốc gia khu vực Đông Nam Á31
29
Xem: “Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước đối với sức khoẻ con người”, BS Vũ Thành, http://bantinsuc khoe
com/2011/04/anh-huong-cua-o-nhiem-nguon-nuoc-doi-voi-suc-khoe-con-nguoi/, [truy cập ngày 27 /01 /2012]
30
Xem: Báo tuổi trẻ, “Báo động ô nhiễm không khí ở Việt Nam”,
http://www.asiamask.asia/index.php/tin-tuc/77-o-nhiem-khong-khi-o-vn, [truy cập ngày 27/01/2012]
31
Xem: “Tác hại của ô nhiễm không khí”, http://xulymoitruong.com/tac-hai-cua-o-nhiem-khong-khi-1883/, [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 261.2.2.3 Tác động của ô nhiễm tiếng ồn
Không chỉ có ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn cũng có một tác động nhất định đến sức khỏe con người Ô nhiễm tiếng ồn bao gồm các biểu hiện như: âm thanh lớn từ việc thi công các công trình xây dựng ở các thành phố lớn, tiếng còi tàu xe, tiếng ồn từ các nhà máy, xí nghiệp… Những tiếng ồn này luôn ở một mức độ quá lớn nên sẽ ảnh hưởng đến thính giác của con người và lâu dài sẽ gây ra một số căn bệnh nguy hiểm, cụ thể, tiếng ồn tạo sự căng thẳng cho con người, căng thẳng kéo dài dễ dẫn đến những chứng bệnh thần kinh như trầm cảm hay lo lắng vô cớ, tăng thêm nguy cơ dễ mắc các bệnh ở tim, hệ tuần hoàn Nhiều nghiên cứu cho thấy, những người phải sống thường xuyên trong môi trường ồn như gần sân bay sẽ có sức khỏe kém hơn người khác Bên cạnh đó, tiếng ồn còn gây ra thay đổi thói quen giấc ngủ, sống trong nôi trường ô nhiễm tiếng ồn, giấc ngủ sẽ không còn sâu và dài như trước, mà bị ngắt quãng mỗi khi có tiếng động lớn Do thiếu ngủ, khi thức độ tập trung
sẽ giảm, con người dễ bị kích động và mất dần khả năng tự kiềm chế Sức đề kháng của cơ thể yếu dần mà thể hiện rõ nhất là khả năng miễn dịch kém Ở người già, mất ngủ vì tiếng ồn là thủ phạm làm tăng các loại hormone gây stress Ngoài ra, tiếng ồn còn có tác hại gây giảm hoặc mất thính lực, gây khó khăn cho công việc trao đổi tại nhà xưởng, giảm tập trung vào công việc và giảm năng suất, tăng tai nạn lao động… Một ví dụ cụ thể về ảnh hưởng của tiếng ồn như: Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong vòng 3 thập niên trở lại đây, nạn ô nhiễm tiếng ồn ngày càng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của con người, nhất là tại các nước đang phát triển Ngoài tiếng ồn công nghiệp, tiếng ồn âm nhạc như: nhạc rock, nhạc disco, cũng tiềm ẩn nguy cơ mà thường thấy nhất là chứng ù tai Đã có người còn rất trẻ nhưng bị điếc do nghe nhạc bằng tai nghe mở lớn lâu ngày Tiếng ồn phát sinh từ đường xá hoặc ngay trong cộng đồng Trừ những âm thanh ồn nghe thấy rõ như của máy phát điện, hay máy đóng cọc công trường, trong khu dân cư cũng có những âm thanh nội tại, nhất
là vào giờ cao điểm đi làm về, dù chúng không gây điếc nhưng cũng ảnh hưởng tới sức
Trang 27khỏe ở những mức độ khác nhau như: tạo sự căng thẳng, làm thay đổi thói quen ngủ, làm giảm hoặc mất thính lực32
1.2.2.4 Tác động của ô nhiễm ánh sáng
Ô nhiễm ánh sáng là việc các luồng ánh sáng quá mạnh như ánh sáng đèn điện làm ảnh hưởng tới các bộ phận về mắt của con người, ngoài ra còn có một số bệnh khác như ung thư, giấc ngủ… Theo Tiến sĩ Chris Idzikowski, giám đốc cơ quan tư vấn Sleep Assessment và Advisory Service thì “Ánh sáng dư thừa có thể dẫn đến căng thẳng, đau tim, thậm chí dẫn đến tự sát Tiếp xúc lâu ngày với ánh sáng dư thừa còn dẫn đến ung thư, rối loạn giấc ngủ, đặc biệt là ở trẻ em”33 Cụ thể ô nhiễm ánh sáng gây ra một số tác hại như:
- Chói mắt: Những khu vực được chiếu sáng quá mức gây chói mắt, khiến cho
con người có phản xạ nhắm mắt hoặc ngoảnh mặt đi để màn ánh sáng không phân tán xuyên qua võng mạc Những tác động tiêu cực của màn ánh sáng đối với mắt: Giảm độ tinh tế, giảm khả năng nhận biết màu sắc, giảm khả năng nhận biết độ tương phản
- Nhịp sinh học: Ô nhiễm ánh sáng có thể làm rối loạn nhịp sinh học, gây mất ngủ,
suy nhược cơ thể, ung thư và các bệnh về tim mạch
- Rối loạn giấc ngủ: Trong một thế giới hiện đại luôn được chiếu sáng thường trực
như ngày nay, việc tiếp xúc thường xuyên với ánh sáng làm gia tăng nguy cơ rối loạn nhịp độ sinh hoạt, ảnh hưởng đến khả năng đi ngủ và thức dậy đúng giờ của con người, đồng thời tác động lên các quá trình chuyển hóa của cơ thể Trong khi đó, một giấc ngủ đầy đủ có thể giúp cơ thể con người chống thừa cân, giảm stress, tái tạo sức lao động
và giảm nguy cơ đái tháo đường
- Ô nhiễm ánh sáng và ung thư: Các nhà nghiên cứu tin rằng tiếp xúc ánh sáng
vào ban đêm làm hạn chế quá trình tổng hợp melatonin hoặc tăng quá trình sản sinh
32
Xem: “Ô nhiễm tiếng ồn”, Lê Tây Sơn, http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/html/news_detail.php?nid=10
395&comment=1, [truy cập ngày 27/01/2012]
33
Xem: “Ô nhiễm ánh sáng”, Ng.Hảo Dũng, http://www.baoan hdatmui.vn /vcms/html/n ewsdeta
il.php?nid=2153, [truy cập ngày 27/01/2012]
Trang 28cortisol, về lâu dài có thể dẫn đến ung thư vú, ung thư ruột kết, trực tràng và ung thư tuyến tiền liệt
Như vậy, mỗi loại ô nhiễm đều có những tác động xấu đến sức khỏe con người, chính những tác động đó làm sức khỏe con người suy giảm, vì vậy việc làm cần thiết là phải có các giải pháp cụ thể để hạn chế những tác động đó, góp phần nâng cao sức khỏe con người, tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Trang 29CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỂ BẢO VỆ SỨC KHỎE
CON NGƯỜI DUỚI TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Như chúng ta đã biết, sức khỏe rất quan trọng đối với con người Khi có sức khỏe tốt, con người sẽ luôn đạt được những thành tích mà họ mong muốn Trái lại, nếu sức khỏe con người không ổn định thì có thể họ sẽ không thể lao động tốt để đạt kết quả
mỹ mãn Nhận thấy được tầm quan trọng của sức khỏe đối với con người nên luật đã
có những quy định nhằm bảo vệ tốt sức khỏe của con người Các quy định đó được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân
1989, Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010, Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009,… Các quy định này là những công cụ hữu hiệu nhằm ngăn ngừa và hạn chế những hành vi gây nguy hại đến sức khỏe nhân dân, góp phần cải thiện và nâng cao hơn nữa sức khỏe con người góp phần phát triển đất nước Trong phạm vi Chương này, một số quy định liên quan đến bảo vệ sức khỏe con người sẽ được phân tích để thấy rõ
sự quan tâm của các Nhà nước đến sức khỏe con người, đồng thời làm tiền đề để phát hiện ra những bất cập từ chính những quy định của pháp luật, đưa ra biện pháp khắc phục
2.1 Các quy định của pháp luật có liên quan đến vấn đề bảo vệ sức khỏe con người dưới tác động của ô nhiễm môi trường
Trên cơ sở nội dung quy định của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 và tham chiếu một số quy định có liên quan thì việc bảo vệ sức khỏe nhân dân dưới tác động của ô nhiễm môi trường bao gồm các nội dung chính sau:
2.1.1 Quy định về vệ sinh nước và các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân
Nước là tài nguyên vô tận trên trái đất, 2/3 diện tích trái đất là nước Nước gồm nhiều nguồn khác nhau như: nước sông, nước ngầm, nước biển… Mỗi loại nguồn nước đều có những đặc điểm riêng của nó Riêng đối với sinh hoạt con người, nguồn nước ngọt đóng một vai trò khá quan trọng Có nước ngọt, con người mới có thể sống và phát triển, sản xuất nông – công nghiệp Không có nước ngọt phục vụ cho sinh hoạt, hậu quả xảy ra là con người bị hủy diệt Với tầm quan trọng như vậy, đòi hỏi nguồn nước sinh hoạt phục vụ con người phải bảo đảm hợp vệ sinh, an toàn cho người sử dụng Để đảm bảo được điều đó, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 đã quy định như
sau:
Trang 30“Các cơ quan, xí nghiệp cấp nước phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân Nghiêm cấm các tổ chức Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công dân làm ô nhiễm các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của nhân dân” 34
Ngoài ra, theo Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN
02:2009/BY do Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y
tế ban hành theo Thông tư số 05/2009/TT – BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009 cũng quy định mức giới hạn các chỉ tiêu chất lượng đối với nước sử dụng cho mục đích sinh hoạt thông thường không sử dụng để ăn uống trực tiếp hoặc dùng cho chế biến thực phẩm tại các cơ sở chế biến thực phẩm (nước sinh hoạt) Theo quy định này thì các chỉ tiêu trong nước sinh hoạt như màu sắc, mùi vị, độ đục, clo dư, Ph, hàm lượng sắt… đều phải đảm bảo giới hạn nhất định và phải chịu các chế độ giám sát theo quy định35 Bên cạnh đó, Luật Tài nguyên nước 1998 cũng là một văn bản khá quan trọng trong việc bảo vệ tài nguyên nước, và sắp tới đây sẽ có một văn bản sắp có giá trị trên cơ sở
kế thừa và sửa đổi một số quy định của Luật Tài nguyên nước cũ Theo quy định của
Dự thảo luật mới này, một số hành vi như: gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nghiêm trọng các nguồn nước, xả nước thải, chất thải vào vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; chôn lấp chất thải vào các hố khoan, giếng khoan, giếng đào hoặc các công trình thu nước dưới đất khác …36
là những hành vi bị cấm do nó có thể làm ảnh hưởng tới sự trong sạch của môi trường nước và ảnh hưởng đến sức khỏe con người Thêm vào đó, luật còn quy định về trách nhiệm bảo vệ môi trường nước được trong sạch của các chủ thể như: cá nhân, các tổ chức doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước như: các Bộ, ngành, UBND các cấp37 Quy định như vậy là hết sức phù hợp và sẽ khả thi cho việc áp dụng trong tương lai vì thông qua các quy định đó sẽ góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường nước đảm bảo cho con người có nguồn nước sạch để sử dụng, sinh hoạt và sản xuất
Như vậy, thông qua các quy định của luật bảo vệ sức khỏe nhân dân và quy chuẩn
kĩ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt thì ta nhận thấy nhiệm vụ của các cơ
34
Xem: Điều 8, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989
35
Xem: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN 02:2009/BY do Cục Y tế dự phòng và
Môi trường biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số 05/2009/TT – BYT ngày 17 tháng
Trang 31quan, xí nghiệp cung cấp nước phải thực hiện các biện pháp cần thiết về kiểm tra, đo lường, xử lý các thành phần của nước để đảm bảo khi nguồn nước cung cấp đến người dân thì họ sẽ được sử dụng nguồn nước sạch, bảo đảm an toàn về sức khỏe Bên cạnh
đó, để nhằm ngăn ngừa những tác động xấu đến nguồn nước, luật cũng quy định những biện pháp xử lý chặt chẽ đối với những trường hợp gây ô nhiễm nguồn nước Quy định như vậy là thiết thực vì khi nguồn nước sinh hoạt được bảo đảm an toàn thì cũng đồng nghĩa với sức khỏe con người vững mạnh Nếu luật không quy định như vậy hoặc quy định nhưng thực hiện không tốt thì hậu quả chính là sức khỏe con người – nhân tố đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đất nước bị suy giảm Một thực tế về ô nhiễm nguồn nước tại Thành phố Hải Phòng là các sông Đa Độ, sông Rế
và sông Giá là những nguồn cung cấp nước ngọt chính cho thành phố với trữ lượng nước hơn 21 triệu m3 Hiện chất lượng nguồn nước của các con sông trên đều có biểu hiện bị nhiễm mặn, nhiễm phèn và có độ cứng cao, có hàm lượng chất hữu cơ, dầu, quá tiêu chuẩn cho phép do nước thải đồng ruộng mang theo dư lượng hoá chất của thuốc bảo vệ thực vật, phân đạm, do nước thải công nghiệp, đô thị và từ các hoạt động giao thông thuỷ gây ra Nước sông Rế, sông Giá hiện có dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, đặc biệt tích luỹ cao trong trầm tích đáy sông38 Chính điều đó đã làm ảnh hưởng đến nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt trong thành phố Nguyên nhân chính là do các chất thải công nghiệp, rác bẩn do người dân xả xuống dòng sông Điều quan tâm là tình trạng này vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng Vì vậy, luật cần quy định như trên và thậm chí quy định mức chế tài mạnh hơn cũng là một điều hết sức thiết thực và cấp bách
2.1.2 Quy định về vệ sinh trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển và sử dụng hoá chất
Phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt chuột, hoá chất kích thích sinh trưởng vật nuôi,
cây trồng, mỹ phẩm, đồ chơi trẻ em, đồ dùng vệ sinh cá nhân bằng hoá chất là những sản phẩm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của con người Đây là những sản phẩm có thành phần hóa chất có tính nguy hại cao và nếu
sử dụng không đúng cách rất có thể dẫn đến nguy hiểm cho tính mạng con người, như thuốc trừ sâu có thể làm con người ngộ độc tử vong Vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường
2005 quy định “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, lưu giữ, sử dụng
Trang 32hoặc có hoạt động khác liên quan đến hoá chất chỉ được phép hoạt động khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, thủ tục, biện pháp an toàn hóa chất theo quy định của pháp luật
về quản lý, sử dụng hóa chất và các quy định khác của pháp luật có liên quan Hạn chế
sử dụng phân bón hoá học, hoá chất, thức ăn và thuốc bảo vệ thực vật, động vật gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh học”39 Quy định trên nhằm đảm bảo việc sản xuất các loại hóa chất đúng tiêu chuẩn chất lượng và nhằm hạn chế gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 quy định:
“Các tổ chức Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công dân khi sản xuất, bảo quản, vận chuyển, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt chuột, hoá chất kích thích sinh trưởng vật nuôi, cây trồng và các loại hoá chất khác phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, không gây nguy hại đến sức khoẻ con người Các cơ sở sản xuất mỹ phẩm, đồ chơi trẻ
em, đồ dùng vệ sinh cá nhân bằng hoá chất phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh” 40 Ngoài
ra, Luật Hóa chất 2007 nghiêm cấm hành vi “Sử dụng hóa chất không thuộc danh mục
được phép sử dụng, hóa chất không bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng, vượt quá hàm lượng cho phép để sản xuất và bảo quản thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn gia súc, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, sản phẩm hóa chất tiêu dùng Sử dụng hóa chất độc để săn bắt động vật, thực hiện các hành vi xâm hại đến sức khoẻ con người, tài sản và môi trường” 41
Như vậy, luật quy định các tổ chức cá nhân khi sản xuất các loại hóa chất phải đảm bảo những tiêu chuẩn nhất định nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc gây nguy hại đến sức khỏe con người, thậm chí đối với một số loại hóa chất nhất định, các cơ sở sản xuất
đó phải đạt một số tiêu chí nhất định về chuyên môn, về hạ tầng mới được tiến hành sản xuất kinh doanh Quy định như vậy là nhằm hạn chế các cơ sở sản xuất hóa chất gây nguy hại cho con người trong quá trình sử dụng, đảm bảo tốt nhất sức khỏe con người, tránh được các bệnh tật, các tác dụng phụ khi sử dụng hóa chất Nếu không quy định như vậy thì một mặt, sức khỏe con người bị tổn hại, mặt khác các cơ sở chế biến cũng khó có thể đạt lợi nhuận kinh doanh vì tác hại của hóa chất quá lớn Một thực tế cho thấy tại các đồng ruộng của Việt Nam, khi nông dân sử dụng thuốc trừ sâu thường gây ra các căn bệnh về ung thư, dị ứng và nhất là còn gây ô nhiễm nguồn nước sông, hủy diệt các loại sinh vật sống trong môi trường nước Một ví dụ cụ thể là Công ty Hóa chất Vinh (TP Vinh, Nghệ An) sản xuất và chứa trong kho các loại thuốc trừ sâu độc
Trang 33hại làm ảnh hưởng đến những người dân địa phương tại khu dân cư xã Nghi Liên (TP Vinh, Nghệ An) Hàng năm mỗi khi mưa bão đổ về, nước từ kho chứa thuốc độc hại chảy ra ruộng, tràn vào nhà dân, gia đình nào cũng sặc mùi thuốc trừ sâu nhưng không biết nguyên nhân từ đâu Thậm chí giếng nước cũng có mùi thuốc sâu 42 Cho đến nay việc xử lý vẫn chưa dứt điểm và điều cần thiết là phải có sự quan tâm thích đáng của pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền Vì vậy, ngoài việc quy định như điều luật trên
thì việc thực hiện đúng tinh thần pháp luật cũng là một vấn đề đáng phải quan tâm
2.1.3 Quy định về chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt
Chất thải trong công nghiệp bao gồm các loại như: nước thải từ sản xuất các sản
phẩm công nghiệp, khói độc do các nhà máy, xí nghiệp thải ra trong quá trình chế biến sản phẩm,… Còn chất thải trong sinh hoạt bao gồm các loại rác trong sinh hoạt gia đình, nguồn nước thải từ sinh hoạt, ăn uống, chăn nuôi,… Tất cả những loại chất thải này đều ảnh hưởng không tốt đến môi trường, nó làm cho môi trường nước, không khí trở nên ô nhiễm và do đó, gián tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe con người Khi sống trong một môi trường lành mạnh, có nhiều cây xanh, nước sạch, không khí thoáng đãng thì tuổi thọ con người có thể tăng lên đáng kể Tuy nhiên, nếu con người sống trong khu vực có nhiều rác thải, tiếp xúc với những tạp chất bẩn, nguy hại thì họ có thể nhiễm phải một số căn bệnh di truyền và mãn tính Vì vậy chất thải từ công nghiệp và sinh hoạt phải được xử lý một cách hợp lý và an toàn nhằm đảm bảo tốt nhất cho sức khỏe con người, vì thế, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã quy định một số hành vi bị cấm như
“thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; các chất độc, chất phóng
xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước” 43 và Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân
1989 đã quy định: “Các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất của Nhà nước, tập thể, tư nhân
phải thực hiện những biện pháp xử lý chất thải trong công nghiệp để phòng, chống ô nhiễm không khí, đất và nước theo quy định của Hội đồng bộ trưởng Các tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể, tư nhân và mọi công dân không được để các chất phế thải trong sinh hoạt làm ô nhiễm môi trường sống ở các khu dân cư” 44
Quy định trên với tinh thần là yêu cầu các tổ chức, cá nhân phải thực hiện đúng các
quy định về xử lý chất thải để tránh ô nhiễm các loại tài nguyên khác và nhất là bảo vệ con người khỏi tác động không mong muốn của chất thải công nghiệp và sinh hoạt
42
Xem: “Nghệ An: Ô nhiễm do thuốc trừ sâu, cơ quan nào chịu trách nhiệm?”, Hữu Trọng, http:// www
Baomoi.com/Home/PhapLuat/antg.cand.com.vn/Nghe-An-O-nhiem-do-thuoc-tru-sau-co-quan-nao-chiu-trach nhiem/ 4219400.epi, [truy cập ngày 29/02/2012]
Trang 34Nếu không quy định như vậy thì các cơ sở sản xuất, cá nhân sẽ rất lơ là trong việc xử lý chất thải, để cho rác thải lan tràn trong môi trường tự nhiên và tác động xấu đến chính con người Trên thực tế, một thống kê cho thấy, chất thải công nghiệp ngày càng gia tăng và gây ảnh hưởng khá nghiêm trọng Theo báo cáo Hội nghị tổng kết 5 năm công tác phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường diễn ra dưới sự chỉ đạo của Trung tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an ngày 25/11/2011, hiện nước
ta có 1.250 khu công nghiệp đi vào hoạt động, trong đó hơn 70% khu công nghiệp xử
lý thẳng nước thải ra môi trường không qua xử lý đã gây suy thoái nghiêm trọng nguồn nước, nhất là tại các lưu vực sông Đồng Nai, sông Cầu, sông Nhuệ và sông Đáy Đặc biệt, chất thải rắn phát sinh từ các khu công nghiệp ngày càng lớn về số lượng, đa dạng
về tính chất độc hại (chất thải nguy hại chiếm khoảng 20% tổng lượng chất thải công nghiệp), nhưng tỷ lệ thu gom, phân loại và xử lý đúng kỹ thuật vệ sinh môi trường rất thấp45 Chính vì vậy đã ảnh hưởng đến việc sử dụng nước của người dân sống quanh những khu vực này Việc luật quy định như trên là phù hợp nhưng trên thực tế vẫn còn rất nhiều trường hợp vi phạm như vậy, vì thế, trước tiên nên quy định điều luật một cách khắt khe hơn cũng là một điều cần thiết
2.1.4 Quy định về vệ sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
Kinh tế chính của nước ta là nông nghiệp, bên cạnh trồng trọt, thì chăn nuôi là một
ngành chính của nông nghiệp Việc chăn nuôi ở Việt Nam thường tập trung tại các vùng nông thôn và rất ít ở các đô thị Tuy nhiên đây là một ngành mang lại lợi ích kinh
tế khá cao cho người dân Bên cạnh mặt tích cực của chăn nuôi là cung cấp thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho con người thì mặt tiêu cực của nó chính là các vấn đề về
vệ sinh trong chăn nuôi Nếu người dân có ý thức tốt, biết cách xử lý các chất thải, chuồng trại thì sẽ không gây ô nhiễm môi trường Trái lại, nếu như chăn nuôi mà thả rong hay vệ sinh chuồng trại không đạt tiêu chuẩn, xả các loại phân chuồng ra tự nhiên thì sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường xung quanh và tác động tiêu cực tới sức khỏe con người Chính vì vậy, cần quy định những biện pháp hiệu quả trong vệ sinh
chăn nuôi là cần thiết, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 quy định như sau: “Việc
chăn nuôi gia súc, gia cầm phải bảo đảm vệ sinh chung Không được giết mổ, mua, bán, ăn thịt gia súc, gia cầm bị bệnh truyền nhiễm gây nguy hại cho sức khoẻ con
45
Xem: “70% khu công nghiệp xả thẳng nước thải ra môi trường”, Khả Vân, http://dantri.com.vn/c255/s2 55-54
15 83/70-khu-cong-nghiep-xa-thang-nuoc-thai-ra-moi-truong.htm , [truy cập ngày 29/02/2012]
Trang 35người Nghiêm cấm việc thả rông chó ở thành phố, thị xã và thị trấn; chó nuôi phải được tiêm phòng theo quy định của cơ quan thú y.” 46
Quy định mang tính chất rất chung và khái quát về các biện pháp vệ sinh trong chăn nuôi Tuy nhiên, đó là một quy định quan trọng thể hiện sự quan tâm của nhà làm luật đối với sức khỏe con người Quy định như vậy sẽ góp phần giúp cho người dân nhận thức đúng đắn về việc vệ sinh chuồng trại trong chăn nuôi, đảm bảo không ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên Nếu không quy định như vậy thì rất có thể người dân sẽ bừa bãi trong việc xử lý vệ sinh trong chăn nuôi như xử lý phân chuồng không đúng cách, vứt xác vật nuôi xuống ao, hồ… Trên thực tế, việc vi phạm các quy định pháp luật về
vệ sinh chăn nuôi cũng diễn ra khá phổ biến như dịch heo tai xanh, dịch cúm gia cầm vừa bùng phát ở nước ta trong thời gian qua, một số người dân đã vô ý thức vứt các xác động vật nhiễm bệnh xuống sông làm cho nguồn nước ô nhiễm nặng Thống kê từ đầu năm 2012 đến nay, cả nước đã ghi nhận 3 trường hợp mắc và tử vong do cúm A/H5N1 tại Kiên Giang, Sóc Trăng và Bình Dương Bệnh nhân L.V.N (18 tuổi, ngụ tỉnh Hậu Giang) làm nghề chăn vịt đã tử vong sau khi bị rơi vào tình trạng suy hô hấp với kết quả xét nghiệm cho thấy N đã dương tính với cúm A/H5N147 Ca tử vong thứ hai là nữ,
26 tuổi, cư trú tại ấp B1, xã Thạnh Tân, huyện Thạnh Trị - Sóc Trăng Theo điều tra dịch tễ, bệnh nhân đã giết mổ, ăn thịt gà bị bệnh, tại khu vực bệnh nhân sinh sống48 Trường hợp thứ ba là một nam thanh niên 22 tuổi ngụ tại phường Phú Lợi, thị xã Thủ Dầu Một và làm việc tại huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương Kết quả xét nghiệm vi sinh học 24/2, cho thấy bệnh nhân được xác định nhiễm cúm A/H5N1 Điều tra dịch tễ cho thấy bệnh nhân có tiền sử tham gia giết mổ, ăn thịt và tiết canh vịt49 Vì vậy, luật quy định phải đảm bảo vệ sinh chăn nuôi gia súc, gia cầm là phù hợp và đảm bảo được tốt sức khỏe con người
2.1.5 Quy định về vệ sinh trong xây dựng
Việt Nam với mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa bắt đầu từ năm
1986, nền kinh tế thị trường được chú trọng Từ một nước chỉ dựa vào nông nghiệp là chính
46
Xem: Điều 11, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989
47
Xem: “Ca tử vong đầu tiên vì cúm gia cầm năm 2012”, NLĐ, http://www.baobinhdinh.com.vn/suckhoe
doisong/ 2012/1/121808/, [truy cập ngày 29/02/2012]
Trang 36thì ngày nay công nghiệp cũng được quan tâm đáng kể Trong số những lĩnh vực của công nghiệp, thì xây dựng hiện đang là một ngành chiếm ưu thế Điều đó được thể hiện qua các công trình xây dựng nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, trường học, nhà ở… ngày càng nhiều, nhất
là ở đô thị Ngành xây dựng phát triển là một biểu hiện của sự phát triển đất nước, đời sống kinh tế - xã hội người dân được cải thiện Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển ngành xây dựng mà không gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh bởi vì khi tiến hành xây dựng, các nhà thầu thường không chú trọng đến việc ảnh hưởng của kiểu thiết kế, hay quy hoạch không phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phương, kết quả là khi đưa vào sử dụng các khu xây dựng thì không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, do đó rất có thể gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe con người sống trong ngay khu quy hoạch và các vùng lân cận Vì
vậy, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 đã quy định “Việc quy hoạch xây dựng và cải tạo
các khu dân cư, các công trình công nghiệp và các công trình dân dụng đều phải tuân theo tiêu chuẩn vệ sinh” 50 Bên cạnh đó, Luật Xây dựng 2003 cũng quy định cấm hành vi “Vi phạm các quy định về an toàn tính mạng con người, tài sản và vệ sinh môi trường trong xây dựng” 51 Quy định như vậy là phù hợp, đảm bảo khi xây dựng phải tuân theo những tiêu
chuẩn vệ sinh nhất định Khi đó môi trường sống của con người sẽ được bảo vệ an toàn, không
bị ảnh hưởng xấu bởi các nhân tố ô nhiễm do vệ sinh không đúng tiêu chuẩn trong xây dựng gây ra Nếu không quy định như vậy, thì các khu dân cư, khu công nghiệp, nói chung là các khu xây dựng sẽ mọc lên một cách tràn lan và nguy hiểm hơn hết chính là những ảnh hưởng
không mong muốn của vệ sinh không đúng tiêu chuẩn Ở Việt Nam, một thực tế cho thấy, đã
có nhiều công trình trong quá trình xây dựng thì không đảm bảo vệ sinh tiếng ồn gây ra ô nhiễm tiếng ồn như trong quá trình xây dựng, người dân xung quanh công trình cao ốc 218 Điện Biên Phủ, phường 7, quận 3, TP.HCM phải chịu trận tiếng ồn inh tai nhức óc từ công trường xây dựng này Điều dễ nhận thấy là các hộ dân ở đây đều đóng cửa im ỉm để giảm tiếng ồn nhưng không ăn thua Công trình này hoạt động liên tục từ 7g30-20g, kể cả thứ bảy, chủ nhật Điều đáng nói là cứ hai tuần một lần vào ngày thứ bảy công trình hoạt động liên tục
từ 7g30-18g tạm ngưng, rồi bắt đầu lại từ 23g30-5g sáng hôm sau Tiếng ồn mà công trình này gây ra khiến người dân chịu không nổi, nào là tiếng nện ầm ầm khi họ đổ móng trụ, tiếng đập, tiếng máy đóng vang dội cả khu vực52 Qua thực tế trên cho thấy, việc pháp luật cần quy định chặt chẽ về vệ sinh trong xây dựng, nhất là vệ sinh tiếng ồn là một vấn đề hết sức cần thiết
2.1.6 Quy định về vệ sinh trong trường học và nhà trẻ
Trang 37Trường học và nhà trẻ là những nơi để học sinh, sinh viên, giáo viên học tập và sinh hoạt Đây là những nơi thể hiện tính văn hóa, giáo dục rất cao, vì vậy đảm bảo cho trường học có một không khí thoáng đãng, một không gian lành mạnh để thầy cô, học sinh học tập, vui chơi là một điều hết sức quan trọng Do đó, cần phải làm thế nào để các trường học, nhà trẻ luôn xứng với tiêu chí “xanh, sạch, đẹp” là một công việc không thể không quan tâm Muốn vậy, công việc đầu tiên và quan trọng nhất là phải đảm bảo vệ sinh nơi sân trường, phòng học, phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn vệ sinh về nhà
vệ sinh, khu căn tin, khu giải trí… Có như vậy sẽ góp phần làm cho môi trường giáo dục được trong sạch, lành mạnh, tạo điều kiện tốt cho giáo viên giảng dạy hiệu quả, học sinh tiếp thu tốt kiến thức Do đó, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 đã quy
định:“Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, ngành giáo dục và các ngành có
liên quan phải từng bước bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, ánh sáng, đồ dùng giảng dạy, học tập ở trường học và nhà trẻ, không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của học sinh và giáo viên Hiệu trưởng các trường học và Chủ nhiệm các nhà trẻ phải bảo đảm thực hiện chương trình học tập rèn luyện đã được quy định; bảo đảm vệ sinh trường, lớp và nhà trẻ.” 53
Như vậy, trách nhiệm bảo đảm vệ sinh trong trường học thuộc về các cơ quan nhà nước như Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, ngành giáo dục và các ngành có liên quan Công việc chính là phải đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà trường như đảm bảo phòng học rộng rãi, thoáng mát, nhà vệ sinh sạch sẽ, thiết bị giảng dạy, thức
ăn cho học sinh, giáo viên hợp vệ sinh Bên cạnh đó, từng cá nhân trong trường học phải tự ý thức được tầm quan trọng của vệ sinh môi trường trong trường học Có như thế mới bảo đảm tốt nhất an toàn vệ sinh nơi trường học Với quy định như trên, đó cũng là một công cụ hữu hiệu để nâng cao ý thức con người trong việc bảo vệ môi trường giáo dục Nếu quy định không chặt chẽ thì rất có thể môi trường tự nhiên tại các
cơ sở giáo dục sẽ bị ô nhiễm và vì thế, sức khỏe của chính những con người trong đó cũng bị thiệt hại nặng nề, hiệu quả dạy và học sẽ không cao và sẽ không đạt tiêu chuẩn
để nâng cao chất lượng giáo dục Một thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, tại các trường đại học, nhà vệ sinh bị ô nhiễm nặng như nhà vệ sinh khu C2, trường Đại học Giao thông vận tải (cơ sở tại Q.9, Thành phố Hồ Chí Minh) Đây là khu nhà vệ sinh khá mới, tuy bên trong có hai gian toilet kín, nhưng một trong hai gian gần như suốt mấy ngày chẳng ai dám vào vì rất dơ bẩn Cạnh đó, phòng toilet dãy E2, nơi này
53
Xem: Điều 13 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989
Trang 38chẳng những hôi mà còn rất ẩm thấp Ngoại trừ những nhà vệ sinh khu A, B tạm chấp nhận được, các phòng toilet khu E và D trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở Tân Phú - Q.Thủ Đức) lại bốc mùi hôi nồng nặc Nơi này chỉ có nơi "trút bầu tâm sự" chứ không có chỗ để sinh viên rửa tay Sinh viên muốn rửa tay phải lấy nước trong một cái hồ lớn mà bên trong rong rêu bám đen kịt, thậm chí thỉnh thoảng nước còn bốc mùi Còn nếu xét toàn cảnh thì khu toilet này vô cùng ẩm thấp và hôi54 Với tình trạng như trên thì luật cần quy định chặt chẽ hơn nữa vấn đề vệ sinh trong trường học, có như vậy mới đảm bảo sức khỏe của học sinh, sinh viên và cũng là điều kiện để họ học tập tốt
2.1.7 Quy định về vệ sinh trong lao động
Lao động là phương thức để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, có lao động con người mới có thể sinh sống và phát triển Với vai trò quan trọng như vậy, lao động luôn
là lĩnh vực được các nước trên thế giới quan tâm Ở Việt Nam, để đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động, các nhà làm luật đã cho ra đời những quy định cụ thể về lĩnh vực này nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ người lao động, tiền lương, các chế độ lao động… và đặc biệt là các quy định về vệ sinh trong lao động Bộ luật Lao động năm 1994 sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007 đã dành một chương riêng để quy định về an toàn lao động và vệ sinh lao động bao gồm các quy đinh về cơ sở vật chất trong lao động, về các bệnh nghề nghiệp, nơi làm việc phải bảo đảm vệ sinh, tổ chức khám chữa bệnh cho người lao động…55 Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân
1989 cũng quy định: “Các tổ chức Nhà nước, tập thể và tư nhân phải thực hiện các
biện pháp bảo đảm an toàn lao động, bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh về độ nóng, ẩm, khói, bụi, tiếng ồn, rung chuyển và về các yếu tố độc hại khác trong lao động sản xuất để bảo vệ sức khoẻ, phòng, chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động, không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh Đơn vị và cá nhân sử dụng lao động phải tổ chức việc khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động và phải bảo đảm trang bị bảo hộ lao động cần thiết cho người lao động.” 56
Như vậy, quy định về vệ sinh trong lao động được các nhà làm luật quan tâm khá đặc biệt Điều đó là hoàn toàn phù hợp vì muốn lao động tốt thì trước hết phải đảm bảo
đủ các tiêu chuẩn về vệ sinh trong lao động, nhất là các vấn đề về khói, bụi, tiếng ồn,
54
Xem: “Quá bức xúc nhà vệ sinh trường học”, Nguyễn Phê – K.Hoan, http://tintuc.xalo.vn/00-13343310 78/Qua _buc_xuc_nha_ve_sinh_truong_hoc Bon_chau_phai_nin_may_nam_ni_nbsp.html , [truy cập 29/02 / 20 12]
Trang 39các chất độc hại… Ngoài ra, việc quy định như vậy cũng là một động lực giúp người lao động hăng hái tham gia sản xuất, tạo ra của cải cho xã hội vì họ đã được bảo đảm các tiêu chuẩn về vệ sinh Nếu không quy định như vậy thì một mặt sẽ không tạo sự nhiệt tình, yêu nghề của người lao động, mặt khác, sức khỏe của họ sẽ bị đe dọa khi tiếp xúc với công việc Theo số liệu thống kê thực tế của Ban chỉ đạo Tuần lễ quốc gia
an toàn – vệ sinh lao động và phòng chống cháy nổ T.Ư (BCĐ) cho biết, tính đến hết năm 2010, cả nước có 26.928 người mắc bệnh nghề nghiệp Một số bệnh nghề nghiệp
có tỷ lệ cao là: bụi phổi – silic chiếm 75,1%, bệnh điếc do tiếng ồn 15,6% Tỷ lệ người nghỉ ốm ở người lao động thống kê được là 24,7%57 Như vậy, trên thực tế, tình trạng mắc các bệnh nghề nghiệp do không đảm bảo vệ sinh trong lao động như tiếng ồn, bụi… vẫn còn cao, vì vậy, luật quy định như trên là khả thi để bảo vệ sức khỏe của người lao động
2.1.8 Quy định về vệ sinh nơi công cộng
Các công sở, công viên, đường phố, khu vui chơi, giải trí… được xem là những nơi công cộng Để những nơi này trở thành những nơi lịch sự, trang trọng, văn hóa thì điều quan trọng là phải bảo đảm vệ sinh tại các nơi đó Cụ thể phải giữ gìn vệ sinh, không vứt rác bừa bãi, không hút thuốc… ở những nơi này Vấn đề này được Luật Bảo vệ sức
khỏe nhân dân 1989 quy định như sau: “Mọi người phải có trách nhiệm thực hiện
những quy định về vệ sinh nơi công cộng Cấm phóng uế, vứt rác và các chất phế thải khác trên đường phố, vườn hoa, công viên và những nơi công cộng khác Cấm hút thuốc trong phòng họp, ở rạp chiếu bóng, rạp hát và những nơi quy định khác.” 58
Như vậy, nhiệm vụ giữ gìn vệ sinh nơi công cộng là một nhiệm vụ của toàn thể mọi
cá nhân, tổ chức trong xã hội Họ phải thực hiện những hành vi thể hiện nếp sống văn hóa của mình và cũng là để giữ cho môi trường nơi công cộng luôn sạch đẹp Nếu không quy định như vậy thì vẻ mỹ quan đường phố, công sở sẽ bị phá vỡ, khi đó, chẳng những nền văn minh đô thị, nông thôn bị suy tàn mà không ai khác, chính con người phải gánh chịu những hậu quả khôn lường như không có không gian thoáng đãng để giải trí, cuộc sống trở nên tẻ nhạt, buồn chán và vì thế sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của họ Trên thực tế, tại Thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng ô nhiễm nơi công cộng cũng khá phổ biến, cụ thể, người dân sống gần khu vực Công viên Hòa Bình (giao lộ Hùng Vương- Nguyễn Chí Thanh, giáp ranh giữa quận 5 với quận 10-
Trang 40TPHCM) rất bức xúc vì phải hứng chịu mùi hôi thối do các xe chở rác tập trung tại công viên này Mùi hôi, nước thối từ điểm tập kết rác này tỏa ra xung quanh khiến ai đi qua đây cũng khó chịu Những người tập thể dục ở công viên thì không dám đến gần Sau khi xe phân loại di chuyển rác, nước rỉ của rác vẫn còn đọng lại trên mặt đường59 Chính ảnh hưởng của ô nhiễm này đã khiến cho việc sinh hoạt nơi công viên của người dân bị ảnh hưởng và nhất là sức khỏe của họ sẽ bị đe dọa Do đó, điều luật quy định như trên là hợp lý, đồng thời cần quy định có biện pháp chế tài mạnh hơn để nhằm hạn chế gây ô nhiễm nơi công cộng, bảo vệ sức khỏe con người
Bên cạnh các quy định của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân thì Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010 cũng có các quy định gián tiếp bảo vệ sức khỏe con người, cụ thể, luật quy định các quyền của người tiêu dùng khi sử dụng các sản phẩm, các hành vi mà các doanh nghiệp bị cấm, đặc biệt khi các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng thì có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật60 Với những quy định như vậy thì người tiêu dùng sẽ được bảo đảm an toàn và hơn hết, sức khỏe của họ sẽ được bảo đảm
Ngoài ra, tác động của ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng gián tiếp đến con người
thông qua lương thực, thực phẩm
Lương thực là các loại thức ăn có chứa chất bột như gạo, ngô, khoai, sắn61 Còn thực phẩm là các thứ dùng làm món ăn như thịt, cá, trứng62 Chúng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế xã hội đất nước như đảm bảo an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá, tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, tạo sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế và
cơ cấu lao động, tạo nguồn hàng xuất khẩu Đối với con người, đây là những nhu cầu thiết yếu, cung cấp nguồn năng lượng, các chất dinh dưỡng cần thiết để con người sống
và phát triển, lương thực, thực phẩm cũng tạo điều kiện để cải thiện cơ cấu bữa ăn cho nhân dân, nâng cao chất lượng dân cư Thế nhưng lương thực, thực phẩm cũng là nguồn truyền bệnh nguy hiểm, nếu như không bảo đảm được vệ sinh và an toàn Chúng ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người Vì vậy, ngoài việc sản xuất lương thực, thực phẩm theo một quy trình nhất định đúng tiêu chuẩn, chất lượng thì vấn đề đảm bảo sự