1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT về bảo vệ môi TRƯỜNG TRONG NUÔI TRỒNG THỦY sản và THỰC TIỄN áp DỤNG tại TỈNH cà MAU

63 308 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nước và Chất thải: Các mô hình nuôi trồng thủy sản phải sử dụng một lượng nước lớn và phải thường xuyên thay đổi nguồn nước trong quá trình nuôi, tuy nhiên đa số nước thải thường được th

Trang 1

Lớp: Luật Thương Mại 2 - k35

Cần Thơ, 11/2012

Trang 2

GVHD: Ths Kim Oanh Na SVTH: Huỳnh Trung Tính

LỜI CẢM ƠN

Thấm thoát bốn năm học trôi qua, cánh cửa đại học đang từ

từ khép lại lưu giữ bao kỷ niệm thời sinh viên, và hành trang mỗi chúng em mang theo khi rời ghế giảng đường là những tri thức mà Thầy Cô bao ngày qua đã tận tâm truyền dạy

Em Xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy Cô khoa Luật – Đại học Cần Thơ đã mang đến cho em một nguồn kiến thức quý báu và những bài học làm người đáng trân trọng Đặc biệt, em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến Thầy Kim Oanh Na đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Bằng tất cả tấm lòng thành của mình, em xin chúc Thầy Cô luôn có được nhiều sức khỏe và thành công trong công tác giảng dạy!

Trang 3

GVHD: Ths Kim Oanh Na SVTH: Huỳnh Trung Tính

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

  

.………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

GVHD: Ths Kim Oanh Na SVTH: Huỳnh Trung Tính

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

  

.………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

GVHD: Ths Kim Oanh Na SVTH: Huỳnh Trung Tính

MỤC LỤC

  

LỜI NÓI ĐẦU ……….……….………1

Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ……….……… … …… …….………….2

1.1 Những khái niệm liên quan ……….……….……… 3

1.2 Khái quát về ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta……….……… ….8

1.3 Vai trò của ngành nuôi trồng thủy sản ……… ……… … 10

1.4 Các nhân tố tác động tiêu cực đến môi trường trong nuôi trong nuôi trồng thủy sản và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường ………11

1.5 Sơ lược chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường và nuôi trồng thủy sản 13

Chương 2 PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU ….16 2.1 Pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản……… ……… 16

2.1.1 Những quy định của pháp luật về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, sử dụng thuốc thú y hóa chất trong nuôi trồng thủy sản……… ……17

2.1.1.1 Những quy định về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc thú y hóa chất trong nuôi trồng thủy sản ……… ……….… 17

2.1.1.2 Những quy định về sữ dụng thuốc thú y hóa chất trong nuôi trồng thủy sản……… ….……… … ….….… 19

2.1.2 Giữ gìn vệ sinh trong khu nuôi trồng thủy sản, quản lí chất thải trong khu nuôi trồng thủy sản theo quy định về quản lí chất thải……….… … ….21

2.1.3 Những quy định pháp luật về quy hoạch trong nuôi trồng thủy sản và các yêu cầu về bảo vệ môi trường ở các khu nuôi trồng……… …… …… …24

2.1.3.1 Khu nuôi trồng thủy sản tập trung phù hợp với quy hoạch……… …24

2.1.3.2 Bảo vệ vệ môi trường trong khu nuôi trồng thủy sản tập trung…… 25

2.1.3.3 Không được xây dựng khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung trên bãi bồi đang hình thành vùng cửa sông ven biển; phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản……….…………28

2.2 Xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản.29 2.2.1 Xử lý vi phạm hành chính ………….… ………… ……… …….… 29

2.2.2 Truy cứu trách nhiệm hình sự …… ……….….……… … 31

2.2.3 Trách nhiệm dân sự ……… … …….… ……….…33

2.2.4 Xử lý vi phạm kỉ luật ……… ….……… …34

Trang 6

GVHD: Ths Kim Oanh Na SVTH: Huỳnh Trung Tính

2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau……… ………… … 35

2.3.1 Khái quát về ngành nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau…… 35

2.3.2 Một số mô hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau và ảnh hưởng của chúng đến môi trường ……….……… …….………….…36 2.3.3 Tình hình môi trường trong nuôi trồng thủy sản trên địa bàn Cà Mau…39

địa bàn tỉnh Cà Mau………… ………….……….… ……… ……41

2.3.4.1 Về công tác ban hành văn bản pháp quy của địa phương….……… 41

2.3.4.1 Về công tác thi hành pháp luật…….… …… ……….….… … …42

2.4 Những vấn đề tồn tại và phương hướng hoàn thiện………… ………….… 44

2.4.1 Những vấn đề tồn tại……… ……… …….………….……….……… 44 2.4.2 Đề xuất để hoàn thiện………… …… ……… …….…… 46

KẾT LUẬN……….…….…50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

  

1 Lý do chọn đề tài

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, của dân tộc và nhân loại, sự biến đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác động đáng kể đối với các hệ sinh thái Vì vậy, vấn đề bảo vệ môi trường luôn là một trong những nhiệm vụ trọng yếu và cấp bách của mỗi quốc gia nhất là ở các quốc gia đang phát triển

Như chúng ta đã biết, hiện nay hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam đang rất phát triển Hoạt động này đã mang lại thu nhập đáng kể cho người nuôi trồng thủy sản, đồng thời tạo hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, phải thừa nhận thực tế là bấy lâu con người chỉ chú trọng phát triển kinh tế hơn là quan tâm đến bảo vệ môi trường Do

đó, hoạt động nuôi trồng thủy sản hiện nay đang gây ô nhiễm môi trường và ngày càng nghiêm trọng hơn

Có nhiều công trình đã nghiên cứu về bảo vệ môi trường trong nhiều lĩnh vực, mặt khác, cũng đã có công trình nghiên cứu về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản chưa được quan tâm nhiều Đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Cà Mau, nơi đứng đầu cả nước về nuôi trồng thủy sản, người viết chưa tìm thấy công trình

nghiên cứu chuyên biệt nào về “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng

thủy sản và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Cà Mau” chính vì lý do đó người viết chọn

đề tài này để nghiên cứu

đó có một số đề xuất đóng góp nhằm phục vụ cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này được nghiên cứu trong phạm vi pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trông nuôi trồng thủy sản trên cơ sở Luật thủy sản 2003, Luật bảo vệ môi trường 2005, Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

Trang 8

bảo vệ môi trường, Nghị định 31/2010 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Trong nội dung đề tài nghiên cứu của mình người viết chủ yếu nghiên cứu về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp: phân tích luật viết, phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách, báo cùng với phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu về mặt thực tiễn

5 Bố cục luận văn

Luận văn bao gồm:

Mục lục

Lời nói đầu

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về môi trường và nuôi trồng thủy sản

Chương 2: Pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản và thực tiễn áp dụng địa bàn tỉnh Cà Mau

Trang 9

Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ NUÔI

có một ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện nào đó”1

Môi trường theo nghĩa thông thường “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan

hệ hay sinh vật ấy”2, là “sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”3, là “nơi chốn trong các nơi chốn, nhưng có thể làm một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kỳ hay một xã hội”4

Môi trường sử dụng trong lĩnh vực pháp lý là một khái niệm được hiểu như là như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu như là những yếu tố, hoàn cảnh và tự nhiên bao quanh con người Khoản 1 điều 3 Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước cộng xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ

8 thông qua ngày 29/11/2005 giải thích khái niệm môi trường “bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến sự sống, sản xuất,

sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.

Theo giải thích của Luật bảo vệ môi trường 2005 thì con người trở thành trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên và dĩ nhiên mối quan hệ giữa con người với nhau tạo thành trung tâm đó chứ không phải mối liên hệ giữa các thành phần khác của môi trường

Như vậy bất cứ một sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại trong một môi trường của nó Tuy nhiên môi trường, cái mà loài người hiện nay phải đối mặt và nghiên cứu bảo vệ nó là môi trường sống bao quanh con người

Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất,

1 http://thuviensinhhoc.com/chuyen-de-sinh-hoc/sinh-thai-hoc/2212-khai-niem-ve-moi-truong.html.

2 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Tr 618

3 Ths Kim Oanh Na - Tài liệu hướng dẫn ôn tập Luật môi trường 2010 - Khoa Luật Trường Đai học Cần Thơ.

4 Môi trường và tài nguyên Việt Nam, Nxb KH & KT Hà Nội, 1994.

Trang 10

nước… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú.

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ xã hội giữa người với người, đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định… Ở các cấp khác nhau như: Liên Hiệp Quốc, hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Ngoài ra còn có một số khái niệm khác nhau về môi trường:

Môi trường được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người5

Theo Người viết thì môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài người…

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống

và phát triển6

Ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ

số hóa học, lý học của nó thay đổi theo chiều hướng xấu đi Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật

lí, hóa học, sinh học mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe của con người, các loài động thực vật và các điều kiện sống khác7 Dưới góc độ pháp

lý, ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật8

Các định nghĩa về ô nhiễm môi trường đều đề cập đến sự biến đổi các thành phần môi trường theo hướng xấu, gây bất lợi cho con người và sinh vật Sự biến đổi các thành phần môi trường có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm Theo Khoản 9 Điều 3 Luật môi trường 2005

5 Quyển Môi trường và Tài nguyên Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 1997, Tr 618.

6 http://www.vacne.org.vn/Nhanthuc_Kienthuc/hoidapvemoitruong_1%20.htm//_Toc111858473.

7 Giáo trình Luật môi trường - Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2006

8 Khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005.

Trang 11

thì: “chất gây ô nhiễm là các yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm”.

Ô nhiễm môi trường ở nước ta ngày càng có chiều hướng gia tăng, hàng ngày, hàng giờ chúng ta đang phải chung sống với những tiềm ẩn về nguy cơ bệnh tật do môi trường ô nhiễm gây ra Có những nơi, những khu vực mà mức độ ô nhiễm nghiêm trọng đến mức mà không ai tưởng tượng nổi Theo khảo sát của cơ quan chức năng khi lấy mẫu nước ở kênh Ba Bò phân tích thì vi sinh vượt tiêu chuẩn cho phép đến 11.000 lần Chưa hết, theo báo cáo của cơ quan chức năng, TP Hồ Chí Minh có nồng độ bụi trong không khí gấp 6 lần so với mức cho phép Tổng lượng hạt bụi đo được từ khí thải khoảng 60.000 tấn/ năm Mới đây, 23.000 tấn cá ở Đồng Nai đã bị chết do nước sông bị ô nhiễm Nguyên nhân của tình trạng này trước tiên là sự vô trách nhiệm và chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá Bất chấp sự đe dọa cuộc sống của các doanh nghiệp

đã thải các chất độc chưa qua xử lý ra môi trường Ô nhiễm môi trường đang từng ngày, từng giờ đe dọa cuộc sống và sức khỏe của mỗi chúng ta Ô nhiễm môi trường cũng đang từng ngày, từng giờ, gây hậu quả thiệt hại cả về kinh tế và xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển bền vững9

Bảo vệ môi trường:

Bảo vệ môi trường được hiểu là những hoạt động nhằm giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới Đứng trước nguy cơ môi trường có thể bị hủy hoại và những hậu quả nghiêm trọng mà nó có thể gây ra buộc các quốc gia phải chú ý tới những biện pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường

Thế giới ngày càng phát triển đã gây nên tác động xấu đến môi trường, làm cho môi trường ngày càng biến đổi sâu sắc, rộng lớn, bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa sự sống còn của hành tinh chúng ta Vì vậy vấn đề môi trường và phát triển đã trở thành vấn đề hết sức cấp bách của chúng ta Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận rõ tầm quan trọng và mối quan hệ gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội và công tác bảo

vệ môi trường, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam “Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ

công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước” đã chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo của mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ

9 http://www.baomoi.com/Binh-luan-Bao-ve-moi-truong-la-trach-nhiem-cua-ca-cong-dong/58/4462487.epi.

Trang 12

xã hội trên phạm vi toàn thế giới” Mục tiêu của công tác bảo vệ môi trường là “ngăn

ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở các nơi, những vùng đã

bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, ngăn chặn, khắc phục hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên10 Theo Khoản 2 Điều 4 Luật bảo vệ môi trường 2005 của Việt

Nam: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân” Có thể nói bảo vệ môi trường chính là việc thực

hiện các hoạt động bảo vệ môi trường Theo luật môi trường 2005 thì hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên11

Bảo vệ môi trường thực chất là bảo vệ độ tinh khiết của không khí, đất, nước, thực phẩm nhằm đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người như một thực thể sinh học Bảo vệ môi trường là chống lại tất cả những gì tác hại đến trạng thái thể chất và tinh thần của con người, trả lại sự cân bằng vốn có của môi trường hoặc có thể xem bảo vệ môi trường là giảm đến mức thấp nhất sự gây ô nhiễm môi trường và xử lý môi trường bị ô nhiễm Một trong những xu hướng của bảo vệ môi trường hiện nay chính

là phát triển bền vững Phát triển bền vững là phát triển để đáp ứng nhu cầu của đời nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của đời sau (Ủy ban thế giới

về môi trường và phát triển (World Committee of Environment and Development WCED), 1987) Các mục tiêu phát triển bền vững thường nhằm đạt được những chỉ tiêu phát triển kinh tế trong các điều kiện như sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cải tạo và phục hồi môi trường tự nhiên: như cải tạo đất, trồng rừng, gìn giữ và phát triển các giống loài quý hiếm, làm sạch môi trường, bảo vệ cân bằng sinh thái, thực hiện tốt chính sách dân số12

10 http://www.vacne.org.vn/Nhanthuc_Kienthuc/hoidapvemoitruong_1%20.htm//_Toc111858473

11 Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005

12 bao-ve-moi-truong.html.

Trang 13

http://voer.edu.vn/bai-viet/khoa-hoc-va-cong-nghe/khai-niem-phuong-huong-va-chuong-trinh-hanh-dong-Thủy sản

Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường

Thủy sản là những sản vật khai thác được từ trong môi trường nước có thể qua hay không qua khâu nuôi trồng Các sản vật này có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là động vật và thực vật13

Luật thủy sản 2003 không định nghĩa cụ thể thế nào là nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 Luật thủy sản có đưa ra các khái niệm liên quan đến thủy sản đó là nguồn lợi thủy sản và hoạt động thủy sản

Nguồn lợi thuỷ sản: là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị

kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thuỷ sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thuỷ sản

Hoạt động thuỷ sản: là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thuỷ

sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thuỷ sản; dịch vụ trong hoạt động thuỷ sản; điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản

Nuôi trồng thủy sản

Nuôi trồng thủy sản là một khái niệm sử dụng khá rộng rãi để chỉ việc nuôi các thủy sinh và thủy thực vật trong môi trường nước ngọt, nước mặn và nước lợ Hay nói cách khác, nuôi trồng thủy sản là hoạt động canh tác ở môi trường nước (canh tác có nghĩa là một dạng tác động vào quá trình ươm nuôi, để nâng cao năng suất như: thả giống chất lượng cao, chế độ ăn hợp lý, phòng chống dịch bệnh,…)14

Theo tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) định nghĩa về nuôi trồng thủy sản:

“Nuôi trồng thủy sản là nuôi thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt, lợ, mặn bao gồm áp dụng các kĩ thuật vào quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất”

Luật thủy sản 2003 tuy không định nghĩa thế nào là nuôi trồng thủy sản nhưng

có đưa ra các khái niệm liên quan đến nuôi trồng thủy sản:

Đất để nuôi trồng thủy sản: là đất có mặt nước nội địa, bao gồm ao, hồ, đầm,

phá, sông, ngòi, kênh, rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh tế trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, cho thuê để nuôi trồng thuỷ sản Hầu hết các thủy sản là động thực vật hoang dã, nhưng nuôi trồng thủy sản đang gia tăng Canh tác có thể thực hiện

ở ngay các vùng ven biển, chẳng hạn như với các trang trại hàu, nhưng hiện này vẫn

Trang 14

thường canh tác trong vùng nước nội địa, trong các hồ, ao, bể chứa và các hình thức khác.

Mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản: là vùng nước biển được quy hoạch để

nuôi trồng thủy sản

1.2 Khái quát về ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta

Nước ta có đường bờ biển dài hơn 3.200 km, có vùng đặc quyền kinh tế trên biển rộng hơn 1 triệu km2, Việt Nam cũng có vùng mặt nước rộng lớn hơn 1,4 triệu ha nhờ hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc Vị trí địa lý và những điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp nước ta có thế mạnh nổi trội để phát triển ngành thủy sản Trong đó có thể phát triển ngành nuôi trồng thủy sản ở tất cả các vùng sinh thái khác nhau, từ vùng núi, trung du, đồng bằng đến các vùng biển đảo, nuôi trồng thủy sản ở nước ta được xem là một nghề truyền thống gắn bó với cộng đồng dân cư ở các vùng nông thôn và ven biển

Từ khi nước ta bước vào giai đoạn mở cửa thị trường, kinh tế đất nước cónhững bước phát triển nhảy vọt Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, ngành thủy sản của nước ta cũng đang phát triển mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thực phẩm mà đặc biệt là các sản phẩm thủy sản Theo ước tính của tổ chức lương thực thế giới, nhu cầu thủy sản trên thế giới ở mức cao khoảng 30kg/người /năm Trong khi đó nhu cầu nội địa cũng đang tăng cao do đời sống người dân ngày càng được cải thiện, theo ước tính hiện nay là khoảng 20kg/người/năm Trong đó nuôi trồng thủy sản chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong cơ cấu của ngành thủy sản và nuôi trồng thủy sản dần trở thành ngành sản xuất được ưu tiên phát triển hàng đầu của Chính phủ trong thời gian tới Nuôi trồng thủy sản ở nước ta phát triển rất nhanh đang từng bước trở thành ngành sản xuất hàng hóa chủ lực phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia, sản lượng nuôi trồng thủy sản trong năm 2011 đạt 3 triệu tấn Nếu so với toàn cầu Việt Nam có sản lượng nuôi trồng thủy sản lớn thứ

3 sau Trung Quốc, Ấn độ và là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng bình quân về sản lượng nuôi trồng thủy sản đứng thứ 2 sau Myanmar15

Với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự sáng tạo trong tổ chức sản xuất

đã góp phần làm tăng vị thế của ngành nuôi trồng thủy sản, Nước ta hiện đã chủ động được con giống phục vụ phát triển nuôi trồng, sản xuất tôm giống đã trở thành ngành sản xuất hàng hóa với sản lượng khoảng hơn 30 tỷ con giống hàng năm, nhiều loại giống khác cũng đã thành công trong sản xuất nhân tạo

Đối tượng nuôi cũng đa dạng, nhưng tôm sú vẫn là đối tượng nuôi chủ đạo đối với loài thủy sản nước mặn, lợ; Cá tra là là đối tượng nuôi chính đối với loài thủy sản

15 TS Nguyễn Duy Chinh – Tổng quan nguồn lợi thủy sản, chiến lược và chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam – 2008.

Trang 15

nước ngọt Công tác quản lý môi trường và quản lý dịch bệnh đã có chuyển biến ở các vùng nuôi tập trung, các trung tâm môi trường cũng đã thực hiện khảo sát, phân tích và cảnh báo môi trường ở các vùng nuôi trọng điểm, đã giúp người nuôi thủy sản chọn thời điểm thả giống tốt, kịp thời xử lý môi trường nước, hạn chế dịch bệnh phát sinh.

Nước ta có lợi thế rất lớn về điều kiện tự nhiên, môi trường và vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản và được xem là có lợi thế cạnh tranh lớn với các nước trong khu vực và thế giới Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2010 diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước khoảng 1 triệu ha đến năm 2011 diện tích nuôi trồng thủy sản của cả nước đã đạt 1.099.000 ha16 Và có khả năng phát triển diện tích nuôi trồng thủy sản của toàn quốc lên khoảng 2.057.250 ha trong tương lai, diện tích nuôi trồng nước mặn, lợ khoảng 1 triệu ha và 1.057.250 ha nước ngọt Trong đó loại hình nuôi thủy sản nước ngọt chiếm khoảng 40% diện tích, nuôi thủy sản nước mặn, lợ chiếm khoảng 60% Khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 62% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của toàn quốc, vùng Đồng bằng Sông Hồng chiếm 10,1%, Miền núi phía Bắc 9,1%, Bắc Trung Bộ 5,9%, Nam Trung Bộ 2,9%, Tây Nguyên 1,4% và Đông Nam Bộ 8,6%17

Sản Lượng nuôi trồng thủy sản của nước ta ngày càng tăng năm 2007 đạt 2,1 triệu tấn đến năm 2011 nuôi trồng thủy sản cả nước đã tăng lên 3 triệu tấn, trong đó Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản lượng nuôi toàn quốc chiếm khoảng 68%18

Năng suất nuôi trồng thủy sản của nước ta đạt 2.086 kg/ha/năm, năng suất nuôi trồng thủy sản đạt cao là do đẩy mạnh phong trào nuôi cá tra ao hầm ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Phương thức nuôi tôm sú, thể chân trắng, cá rô phi cũng chuyển dần

từ nuôi quảng canh cải tiến sang bán thân canh và thâm canh Vùng có năng suất trung bình cao nhất vẫn là Đồng bằng Sông Cửu Long đạt bình quân 5,7 tấn/ ha, việc tăng năng suất nuôi trồng thủy sản chủ yếu do tăng đầu tư khoa học công nghệ và đầu tư tài chính; Từ quảng canh cải tiến sang nuôi bán thâm canh và thâm canh; Ngoài ra do có

sự thay đổi về cơ cấu đối tượng nuôi19

Đồng bằng Sông Cửu Long với đặc trưng là vùng đất ngập nước, rất thuận lợi

để phát triển ngành nuôi trồng thủy sản và là vùng có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước năm 2011 là 800.000 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản Vì vậy vùng có đa dạng các mô hình nuôi trồng thủy sản và rất phong phú về đối tượng nuôi như: Nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ tập trung ở các tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau như Sóc

Trang 16

Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang ….với các mô hình nuôi khác nhau như nuôi tôm kết hợp với trồng lúa, nuôi tôm thâm canh, nuôi tôm công nghiệp… đối tượng nuôi chủ yếu là tôm sú, thẻ chân trắng, cua… Nuôi thủy sản nước ngọt tập trung chủ yếu ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long xuyên, với các mô hình nuôi như nuôi

cá bè trên sông, nuôi luân canh cá lúa, đối tượng nuôi chủ yếu là cá tra, cá basa , cá lóc, cá rô…

1.3 Vai trò của ngành nuôi trồng thủy sản

Thuỷ sản là một thế mạnh của nước ta, hiện nay nó đã được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước bởi những thành tựu mà ngành đạt được trong thời gian vừa qua và những triển vọng trong tương lai Ðóng góp của thủy sản vào GDP quốc gia vượt quá 10% vào năm 2001 và đạt 12,12% vào năm 200220 Những năm gần đây phần đóng góp của thủy sản cho nền kinh tế quốc dân càng ngày càng lớn, nhờ nó có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nhiều ngành kinh tế khác

Bên cạnh đó ngành nuôi trồng thủy sản và xuất khẩu thủy sản đã mở ra một thời

kì phát triển cho mối quan hệ thương mại quốc tế, nếu như năm 1996 quan hệ thương mại quốc tế ngành thủy sản chỉ dừng lại ở con số 30 nước thì đến năm 2001, hàng thủy sản Việt Nam có mặt trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, đến năm 2012 con số này đã

là 147 quốc gia21 Quan hệ thương mại thủy sản được mở rộng tại các nước trên thế giới là một đóng góp đáng kể của ngành thủy sản nói chung và ngành nuôi trồng thủy sản nói riêng trong việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế của nền kinh tế Việt Nam

Trong xu hướng số lao động thiếu việc làm ngày càng tăng thì sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản đã thu hút được một lực lượng lao động đáng kể tham gia vào các công đoạn sản xuất như lao động làm việc trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản năm 1998 lao động trong lĩnh vực nuôi trồng khoảng 607.511 lao động thì đến năm

2001 tăng lên khoảng 830.504 Đi kèm với nuôi trồng là lĩnh vực chế biến thủy sản năm 2002 cả nước có khoảng 121.828 lao động, số lượng lao động trong lĩnh vực này ngày càng tăng do diện tích nuôi trồng thủy sản ngày càng được mở rộng

Một trong những đóng góp quan trọng của ngành nuôi trồng thủy sản là góp phần đảm bảo an ninh thực phẩm và góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo của quốc gia với sản lượng năm 2011 đạt 1.110.138 tấn ngành nuôi trồng thủy sản góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm cho cả nước Ngành thuỷ sản đã lập nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến các vùng sâu, vùng xa, không những cung cấp nguồn dinh dưỡng, đảm

20 trien-thuy-san-den-nen-kinh-te-Viet-Nam-So-22004.aspx.

http://cucktbvnlts.gov.vn/vn/thong-tin-nghe-ca/an-pham-thuy-san/thong-tin-chuyen-de/Tac-dong-cua-phat-21 http://vietfish.org/20120827020447837p48c58/xuat-khau-6-thang-dau-nam-tang-nhung-con-lam-noi-lo.htm.

Trang 17

bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo Tại các vùng duyên hải,

từ năm 2000, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng

mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp Các vùng nuôi thủy sảnrộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở các mặt nước lớn như nuôi cá hồ chứa cũng đã phát triển, hoạt động này luôn được gắn kết với các chương trình phát triển trung du miền núi, các chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu vùng xa

Ngành nuôi trồng thủy sản phát triển cũng đã ảnh hưởng đến cơ chế chính sách

và đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp Vào những năm đầu của thập kỷ 90, khi sản phẩm thuỷ sản được ưa chuộng trên thị trường quốc tế, trong khi nguồn lợi hải sản không phải là vô hạn, thì vai trò của ngành nuôi trồng thuỷ sản từng bước được nâng cao và phát triển mạnh Ðể tạo điều kiện và định hướng cho sự phát triển này, hàng loạt chính sách của Chính phủ và các Bộ, Ngành liên quan đã được ra đời vào những năm cuối của thập kỷ 90 và đầu thế kỷ 21 Sự phát triển khá nhanh của nuôi trồng thủy sản đã tạo ra nhiều bước đột phá mới trong ngành thuỷ sản, tuy nhiên sự phát triển này cũng đã gây ra nhiều tác động tiêu cực ảnh hưởng đến kinh tế xã hội của đất nước Do việc chuyển đổi nhanh và ồ ạt nên nhiều diện tích rừng ngập mặn đã bị phá để nuôi tôm làm ảnh hưởng đến môi trường, đặc biệt là môi trường sống của các loài thuỷ sản

Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tái tạo nguồn lợi thủy sản mà còn ảnh hưởng đến các vấn đề khác như chống bão, chống xói lở vùng ven bờ điều này cũng

đã tác động đến việc ban hành các chính sách về bảo vệ rừng ngập mặn và nguồn lợi thuỷ sản

1.4 Các nhân tố tác động tiêu cực đến môi trường trong nuôi trồng thủy sản và sự cần thiết phải bảo vệ môi trường

Cùng với sự phát triển nhanh của ngành nuôi trồng thủy sản, thì bên cạnh đó làtác động đến môi trường của nó ngày càng lớn và hết sức đa dạng như:

Thuốc thú y hóa chất: Trong nuôi trồng thủy sản hiện nay việc sử dụng nhiều

các loại thuốc thú y, hóa chất cho nuôi trồng thủy sản gây nên các tác động môi trường ngày càng tăng, tạo ra sự mất cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên gây ảnh hưởng không những đến môi trường mà còn đến kinh tế trong cán cân giữa nuôi trồng chế biến và thị trường của ngành nuôi trồng thủy sản Các hóa chất vệ sinh ao nuôi, các vật tư chuyên dụng như Diatomit, Dolomit, vôi bột các chế phẩm sinh học, các loại thuốc kháng sinh… Được sử dụng để cải tạo môi trường nước và phòng trừ dịch bệnh tồnđọng rửa trôi vào môi trường nước

Trang 18

Nước và Chất thải: Các mô hình nuôi trồng thủy sản phải sử dụng một lượng

nước lớn và phải thường xuyên thay đổi nguồn nước trong quá trình nuôi, tuy nhiên đa

số nước thải thường được thải trực tiếp ra sông mà không qua quá trình xử lí, nguồn nước thải này mang theo nguồn bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi có chứa các chất H2S, NH3, là sản phẩm của quá trình phân hủy khí ở bùn đáy ao là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường Các mô hình nuôi tôm thâm canh càng cao, nuôi công nghiệp với quy mô càng lớn thì nguồn chất thải càng có độ đậm đặc cao thì mức độ nguy hại càng nhiều nên khả năng gây ra tác hại đến môi trường càng nhanh với quy

mô tác động lớn Chất thải trong nuôi trồng thủy sản là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản tôm cá, các nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của các loại vật tư sử dụng trong nuôi trồng như: hóa chất, vôi và các loại khoáng chất Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đất phèn Fe2+, Fe3+, Al3+, SO42-, các thành phần chứa H2S, NH3 là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí ngập nước tạo thành, nguồn bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi trồng thủy sản thải ra hàng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi Đặc biệt, với các

mô hình nuôi kỹ thuật cao, mật độ nuôi lớn như nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp thì nguồn thải càng lớn và tác động gây ô nhiễm môi trường càng cao

Ví dụ: Trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện nay có gần 4000 ha nuôi tôm công

nghiệp sản lượng chiếm gần ¼ cả nước, tuy nhiên theo đánh giá của các ngành chức năng thì có khoảng 70 % các đầm tôm công nghiệp xả thải thẳng ra môi trường22

Giống: Nhu cầu con giống phục vụ cho nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng đã

thực sự gây nên nhiều mối quan ngại, người dân khai thác cạn kiệt nguồn giống trong

tự nhiên làm ảnh hưởng đến sự bền vững của hệ sinh thái Bên cạnh đó nguồn giống nhân tạo cũng không đảm bảo chất lượng cho nuôi trồng làm giảm năng suất và gây ra những ảnh hưởng đến môi trường như dịch bệnh thường xuất hiện mà nguyên nhân là

do nguồn giống bị nhiễm bệnh Nguồn giống ngoại lai được nhập về từ nhiều nước khác nhau để phục vụ nhu cầu nuôi trồng làm tăng nguy cơ đưa các tác nhân gây bệnh mới vào vùng nuôi Bên cạnh đó thức ăn dư thừa trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu từ các nguồn thức ăn công nghiệp, thức ăn do người dân tự chế biến tại chỗ không tiêu thụ hết gây ra hiện tượng thối rữa phân hủy hòa tan vào nước lắng đọng trong ao tồn đọng rửa trôi vào môi trường

1.5 Sơ lược chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường và nuôi trồng thủy sản

Chính sách môi trường được hiểu là tất cả các biện pháp của Nhà nước, nhằm

để bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế, gắn với bảo vệ môi trường

22 http://www.vietlinh.com.vn/lobby/aquaculture_news_show.asp?ID=14952.

Trang 19

Chỉ thị 36-CT/TW, ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam “Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo của mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ

xã hội trên phạm vi toàn thế giới” Mục tiêu của công tác bảo vệ môi trường là “ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở các nơi, những vùng đã

bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Ngày 15/11/2004, Bộ chính trị đã ban hành nghị quyết số 41/NQ/TW về bảo

vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh “Bảo vệ môi trường là một trong những nội dung cơ bản không thể tách rời trong chủ trương, đường lối theo kế hoạch phát triển kinh tế ở tất cả các cấp, các ngành là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Nghị Quyết đại hôi Đảng lần thứ X của đảng yêu cầu: Ngăn chặn các hành vi hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường, khắc phục tình trạng xuống cấp của môi trường ở các lưu vực sông, đô thị, làng nghề, nơi đông dân cư và có nhiều hoạt động kinh tế Từng bước sử dụng công nghệ sạch và năng lượng sạch Tích cực phục hồi môi trường

và các hệ sinh thái bị phá hủy, tiếp tục phủ xanh đất trống đồi trọc và đa dạng sinh học,quan tâm đầu tư cho lĩnh vực môi trường, nhất là các hoạt động thu gom, tái chế và xử

lý chất thải Hoàn thiện pháp luật, tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên Đây thực sự là kim chỉ nam giúp cho chúng ta thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Điều 29 Hiến pháp 1992 quy định “Cơ quan nhà nước, các đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm các hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường” Đây là hiến pháp đầu tiên

của Việt Nam quy định trách nhiệm nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Như vậy, bảo vệ môi trường là nghĩa vụ của mọi công dân và các tổ chức

Trang 20

Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường và nuôi trồng thủy sản:

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng thành chính sách và pháp luật của Nhà nước, tại kì họp thứ 8 Quốc hội khóa XI, ngày 29 tháng 11 năm 2005 đã thông qua Luật bảo

vệ môi trường 2005 có hiệu lực ngày 01/7/2006, thay thế Luật bảo vệ môi trường

1993 sau 12 năm thi hành Luật bảo vệ môi trường 2005 nổi bật được là công tác xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường, nhưng cũng cho phép sử dụng nhiều biện pháp, công cụ, chế tài mạnh hơn, có tính răn đe cao hơn Trong luật 2005 quy định có hệ thống các hoạt động bảo vệ môi trường, chính sách, biện pháp và nguồn lực bảo vệ môi trường, quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức cá nhân

Để ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển ngành thủy sản, kết hợp hài hòa giữa nuôi trồng thủy sản với bảo vệ môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành thuỷ sản, Quốc hội đã thông qua Luật thủy sản

2003 quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của cá nhân trong nuôi trồng thủy sản

Bộ luật dân sự 2005, Điều 624 quy định về bồi thường thiệt hại đối với tổ chức, cá nhân gây ra ô nhiễm môi trường

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 chương XVI quy định các tội phạm

về môi trường như: Điều 182 Tội gây ô nhiễm môi trường; Điều 182a Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại; Điều 182b Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường; Điều 185 Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; Điều 186 Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người; Điều 187 Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thưc vật

Nước là thành phần quan trọng nhất trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, để bảo vệ tài nguyên nước nói chung và cho hoạt động nuôi trồng thủy sản nói riêng Quốc hội đã ban hành Luật tài nguyên nước 2012, quy định về quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng chống và khắc phục hậu quả do nó gây ra

Nghị định 27/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 03 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thủy sản 2003

Nghị định 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 05 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản

Nghị định 21/2008/NĐ/CP ngày 28/02/2008 Về sửa đổi bổ sung một số điềucủa Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường

Nghị định 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Nghị định số 31/2010/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2010 Quy định về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản

Trang 21

Nghị định 113/2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2010 Quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường.

Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2011 Quy định đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường

Thông tư 46/2010/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 24/2010/TT-BNNPTNT ngày 8 tháng 4 năm 2010 về việc ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép

sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Thông tư 64/2010/TT-BNNPTNT đưa các sản phẩm có chứa trifluralin ra khỏi danh mục sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thuỷ sản được phép lưu hành tại Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành

Thông tư 65/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

về việc ban hành Danh mục bổ sung sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thuỷ sản được phép lưu hành tại Việt Nam

Thông tư 04/2012/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

về việc đưa các sản phẩm có chứa Cypermethrin, Deltamethrin ra khỏi Danh mục sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thuỷ sản; thuốc thú y thuỷ sản được phép lưu hành tại Việt Nam

Trong các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, Luật thủy sản 2003 là cơ sở pháp lý quan trọng quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân trong nuôi trồng thủy sản như: điều kiện nuôi trồng thủy sản, quy hoạch nuôi trồng thủy sản, quy định về giống thủy sản, nhập khẩu, xuất khẩu giống thủy sản, thức ăn trong nuôi trồng thủy sản, thuốc, hóa chất dung trong nuôi trồng thủy sản

Trang 22

Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH

CÀ MAU

Trong chương này người viết tập trung phân tích một số quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản mà các tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản phải thực hiện như: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh và sử dụng các loại thuốc thú y hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản; tuân thủ các quy định về quản lý chất thải; phục hồi môi trường; tuân thủ đúng các quy hoạch nuôi trồng thủy sản; nghĩa vụ về tài chính và một số trách nhiệm pháp lý mà tổ chức, cá nhân có hành vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trườngcủa hoạt động nuôi trồng thủy sản trong hệ thống pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó người viết tìm hiểu thực tế việc áp dụng các quy định của các quy định đó tại tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp để bảo vệ môi trường và góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luât về bảo vệ môi trường

2.1 Pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản

Những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản

được quy định tại điều 47 của Luật bảo vệ môi trường 2005: “Bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản” Để hiểu rõ hơn vấn đề bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy

sản chúng ta cần phải phân tích những quy định tại điều 47:

“Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc thú y, hóa chất trong nuôi trồng thủy sản phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Không được sử dụng thuốc thú y, hóa chất đã hết hạn sử dụng hoặc ngoài danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản.

Thuốc thú y, hóa chất dùng trong nuôi trồng thuỷ sản đã hết hạn sử dụng; bao

bì đựng thuốc thú y, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản sau khi sử dụng; bùn đất

và thức ăn lắng đọng khi làm vệ sinh trong ao nuôi thủy sản phải được thu gom, xử lý theo quy định về quản lý chất thải.

Khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung phải phù hợp với quy hoạch và đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường sau đây:

- Chất thải phải được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường về chất thải.

- Phục hồi môi trường sau khi ngừng hoạt động nuôi trồng thuỷ sản.

- Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh thuỷ sản; không được sử dụng hoá chất độc hại hoặc tích tụ độc hại.

Trang 23

Không được xây dựng khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung trên bãi bồi đang hình thành vùng cửa sông ven biển; phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản”.

2.1.1 Những quy định của pháp luật về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh,

sử dụng thuốc thú y hóa chất trong nuôi trồng thủy sản

2.1.1.1 Những quy định về sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc thú y hóa chất trong nuôi trồng thủy sản

Thuốc thú y, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản là những sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường rất cao Khi sử dụng các hóa chất trong hoạt động nuôi trồng thủy sản ngoài những tác dụng mong muốn mà người sử dụng muốn đạt được như: phòng chống các bệnh cho thủy sản, tăng năng suất, giảm thiểu rủi ro… Việc sửdụng hóa chất, thuốc kháng sinh phòng và trị bệnh cho động vật thủy sản (tôm, cá) là điều tất yếu cần thiết Tuy nhiên, đã có nhiều trường hợp sử dụng hóa chất, kháng sinh trong phòng trị bệnh cho vật nuôi thủy sản không tuân thủ các quy định về sử dụng hóa chất, kháng sinh nên đã có tác dụng ngược, tác động đến môi trường, hệ sinh thái của khu vực hoặc để lại dư lượng kháng sinh trong các sản phẩm thủy sản, ít nhiều

sẽ gây tác hại đến sức khỏe của người tiêu dùng, nhất là đối với các loại hóa chất, kháng sinh không được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Việc tuân thủ đúng các quy định sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh thuốc thú y hóa chất, các chế phẩm sinh học dùng trong nuôi trồng thủy sản phải đảm bảo đúng các quy định của Khoản 1

Điều 47 Luật bảo vệ môi trường 2005: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc thú y, hóa chất trong nuôi trồng thủy sản phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.

Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định việc sản xuất, nhập khẩu kinh doanh thuốc thú y, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản như sau:

Điều 35 Luật thủy sản 2003 quy định việc sử dụng, nhập khẩu, kinh doanh thức

ăn, thuốc, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản:

Thức ăn, nguyên liệu làm thức ăn nuôi trồng thuỷ sản; thuốc, hoá chất dùng trong nuôi trồng thủy sản phải bảo đảm đạt tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn Việt Nam.

Tổ chức, cá nhân khi nhập khẩu thức ăn, nguyên liệu làm thức ăn nuôi trồng thủy sản; thuốc, hoá chất dùng trong nuôi trồng thuỷ sản thuộc danh mục hàng hoá nhập khẩu chuyên ngành thuỷ sản phải tuân theo quy định của pháp luật về thú y, chất lượng hàng hoá, thương mại và các quy định khác của pháp luật có liên quan Trường hợp không thuộc danh mục hàng hoá nhập khẩu chuyên ngành thuỷ sản, trước khi

Trang 24

nhập khẩu thương mại phải qua khảo nghiệm, kiểm nghiệm theo quy định của Bộ Thuỷ sản 23

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thức ăn nuôi trồng thuỷ sản; thuốc, hoá chất dùng trong nuôi trồng thủy sản phải có đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của Chính phủ; phải tuân theo các quy định của pháp luật về thú y, chất lượng hàng hoá, bảo vệ môi trường, nhãn hiệu hàng hoá và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Chỉ thị số 03/2005/CT-BTS ngày 07 tháng 03 năm 2005 quy định việc nhập khẩu, sản xuất thuốc thú y hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản để làm giảm những tác hại mà các loại thuốc thú y, hóa chất có thể gây ra cho môi trường:

Nghiêm cấm việc nhập khẩu, tàng trữ, sản xuất, kinh doanh các hóa chất kháng sinh cấm sử dụng, đặc biệt là Malachite Green.

Chỉ được sản xuất, cung ứng cho người nuôi những mặt hàng đã được cấp chứng nhận cho phép tiêu thụ.

Thông tư 15/2009/TT-BNNPTNT ban hành danh mục thuốc, hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng và danh mục thuốc, hóa chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất kinh doanh thuốc thú y, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản Việc ban hành danh mục thuốc hóa chất kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng nhằm đảm bảo dư lượng này trong các sản phẩm thủy sản ở mức thấp hơn dư lượng cho phép nêu tại danh mục thuốc, hóa chất, kháng sinh hạn chế sử dụng trong sản xuất kinh doanh thủy sản

Thông tư 03/2012/TT-BNNPTNT sửa đổi bổ sung Thông tư số BNNPTNT ngày 17/3/2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc, hóa chất, kháng sinh cấm, hạn chế sử dụng24 Đưa các chất Cypemthrim, Deltamethrin và Enrofloxacin từ danh mục hạn chế sử dụng sang danh mục các chất cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Thông tư 03/2012/TT-BNNPTNT ra đời một lần nữa thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với công tác bảo

15/2009/TT-vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản

Việc sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thuốc, hóa chất, kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản không được sử dụng các loại thuốc, hóa chất và kháng sinh được quy định ở phụ lục Đối với các loại thuốc thú y thủy sản nằm trong danh mục hạn chế sử dụng thì người nuôi trồng thủy sản những quy định và tuân thủ theo những hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn Tuy nhiên trong thực tế không phải người nuôi trồng thủy sản nào cũng hiểu hết các quy định trên, do đó nhà nước cần tuyên truyền hướng dẫn cho người nuôi trồng thủy sản những kiến thức cơ bản về thú y thủy sản để họ có thể hiểu và thực hiện tốt những quy định của pháp luật

23 Bộ thủy sản hiện nay sát nhập thành Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.

24 Xem phụ lục

Trang 25

Thông tư 64/2010/TT-BNNPTNT ngày 04 tháng 11 năm 2010 về việc đưa các sản phẩm có chứa Trifluralin ra khỏi danh mục các sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thủy sản được phép lưu hành tại Việt Nam Các sản phẩm này có chứa các chất độc hại đối với môi trường và thủy sản, nếu các sản phẩm này được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản sẽ gây ô nhiễm môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm, gây nguy hại đến sức khỏe con người.

2.1.1.2 Những quy định về sử dụng thuốc thú y hóa chất trong nuôi trồng thủy sản

Việc sử dụng thuốc thú y, hóa chất được quy định tại Khoản 2 Điều 47 Luật bảo

vệ môi trường 2005: “Không được sử dụng thốc thú y hóa chất đã hết hạn sử dụng hoặc ngoài danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản”

Thuốc thú y, hóa chất đã hết hạn sử dụng là thuốc thú y hóa chất không còn tác dụng hoặc tác dụng không mong muốn đối với thủy sản Các loại thuốc thú y, hóa chất điều có thời gian sử dụng nghĩa là nó chỉ có tác dụng như mong muốn của người sử dụng trong thời gian nhất định, nếu quá thời hạn sử dụng thì nó sẽ có sự biến đổi về chất lượng và có thể chuyển thành các chất độc hại Vì vậy việc sử dụng thuốc thú y, hóa chất, kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản cần phải tuân thủ theo đúng quy định này Nếu sử dụng các loại thuốc thú y, hóa chất đã hết hạn sử dụng không chỉ gây hại cho thủy sản đồng thời còn làm cho môi trường bị ô nhiễm

Thuốc thú y, hóa chất ngoài danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản là các loại thuốc thú y, hóa chất thuộc danh mục cấm sử dụng được nêu ở phụ lục Đó là những loại thuốc thú y, hóa chất mà khi sử dụng trong nuôi trồng thủy sản sẽ gây ảnh hưởng về môi trường cũng như chất lượng thủy sản, do đó người nuôi trồng thủy sản chỉ được phép sử dụng các loại thuốc thú y hóa chất mà pháp luật không cấm và tuân thủ những quy định pháp luật về hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất Thuốc thú y, hóa chất ngoài danh mục cho phép trong nuôi trồng thủy sản thì không được sử dụng

Chỉ thị số 03/2005/CT-BTS ngày 07 tháng 03 năm 2005 quy định đối với người trực tiếp nuôi trồng thủy sản như sau:

Sử dụng thuốc, hoá chất đúng mục đích, không tùy tiện sử dụng thuốc, hoá chất trong quá trình nuôi trồng thủy sản nếu chưa được hướng dẫn đầy đủ về thành phần, tác dụng và qui trình sử dụng.

Nghiêm cấm sử dụng thuốc, hóa chất trong danh mục cấm sử dụng của Bộ Thủy sản, đặc biệt là Malachite Green.

Phải lập sổ ghi chép chi tiết quá trình nuôi, đặc biệt là việc sử dụng thức ăn, thuốc thú y và thông báo cho đại lý thu mua, doanh nghiệp về các thông tin liên quan đến quá trình sản xuất tại đầm nuôi và phải thực hiện lấy mẫu kiểm tra dư lượng hoá chất, kháng sinh cho nguyên liệu thuỷ sản trước khi thu hoạch.

Trang 26

Kịp thời thông báo cho cơ quan quản lý chất lượng và thú y thuỷ sản biết những

cơ sở cung ứng thuốc thú y, hoá chất, kháng sinh cấm sử dụng, những tổ chức, cá nhân hành nghề thú y thuỷ sản sử dụng các loại hoá chất, kháng sinh bị cấm để phòng

lý sức khỏe của thủy sản trong ao, đầm nuôi nên dịch bệnh dễ phát sinh, lây lan và gây nhiều tổn thất to lớn về mặt kinh tế Vì thế, vấn đề dịch bệnh vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của người nuôi trồng thủy sản, họ đã tìm mọi cách làm giảm dịch bệnh phát sinh bằng cách sử dụng thuốc và hóa chất trong quá trình nuôi Việc sử dụng hóa chất, thuốc kháng sinh trị bệnh cho thủy sản (tôm, cá) là điều tất yếu cần thiết Tuy nhiên,

đã có nhiều trường hợp sử dụng hóa chất, kháng sinh trong phòng trị bệnh cho vật nuôi thủy sản không tuân thủ các quy định về sử dụng hóa chất, kháng sinh nên đã có tác dụng ngược, tác động đến môi trường, hệ sinh thái của khu vực hoặc để lại dư lượng trong sản phẩm thủy sản, ít nhiều sẽ gây tác hại đến sức khỏe của người tiêu dùng, nhất là đối với các loại hóa chất, kháng sinh không được phép sử dụng trong nuôi trồng thủy sản25

Việc sử dụng hóa chất kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, ở dạng được phép

sử dụng hoặc hạn chế sử dụng là điều cần thiết trong phòng và trị bệnh Thế nhưng việc sử dụng phải đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, trong đó, cần bảo đảm thời gian ngưng sử dụng thuốc, với mục đích giảm ô nhiễm cho môi trường và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng, đặc biệt là với những sản phẩm dùng cho xuất khẩu càng phải được quan tâm

Một số hóa chất kháng sinh như nhóm Quinolones, sulfonamides, trimethoprim, florfenicol dùng để phòng, trị bệnh cho tôm cá cũng đang bị lạm dụng Để giải quyết vấn đề này, xu hướng hiện nay đang được khuyến khích nuôi thủy sản, là nên áp dụng những chế phẩm sinh học, các thảo dược hoặc hóa chất kháng sinh đúng cách để giải quyết vấn đề tồn dư kháng sinh Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyềncần xem xét các quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm tại các nước nhập khẩu, để quyết định việc cho phép hay cấm sản xuất, kinh doanh, quảng bá và sử dụng

25 http://www.vietlinh.com.vn/lobby/aquaculture_technology_news_show.asp?ID=627

Trang 27

những hóa chất kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến xuất khẩu sản phẩm thủy sản26.

Việc các tổ chức, cá nhân tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về sử dụng thuốc thú y hóa chất trong nuôi trồng thủy sản có ý nghĩa rất quan trọng đến công tác bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên không phải ai cũng tuân thủ đúng những quy định trên, hiện nay vì chạy theo lợi nhuận người nuôi sử dụng ngày càng nhiều hơn các loại hóa chất mà họ có thể không hiểu đến những tác hại mà nó gây ra cho môi trường

2.1.2 Giữ gìn vệ sinh trong khu nuôi trồng thủy sản, quản lí chất thải trong khu nuôi trồng thủy sản theo quy định về quản lí chất thải

Khoản 3 Điều 47 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định “Thuốc thú y, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản đã hết hạn sử dụng; bao bì đựng thuốc thú y, hóa chất dùng trong nuôi trồng thủy sản sau khi sử dụng; bùn đất và thức ăn lắng đọng khi làm

vệ sinh ao nuôi thủy sản phải được thu gom, xử lý theo quy định về quản lý chất thải”.

Bùn đất trong ao nuôi trồng thủy sản là những chất thải độc hại có chứa các thành phần độc hại gây ra tình trạng ô nhiễm hữu cơ là một trong các nguyên nhân làm nghề nuôi trồng thủy sản không bền vững Theo nghiên cứu của Viện Kinh tế - Quy hoạch thuỷ sản, hàng năm các nguồn chất thải do nuôi trồng thủy sản ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, thải ra khoảng gần 500 triệu m3bùn thải và chất thải nuôi trồng thủy sản Riêng chất thải nuôi cá tra, cá ba sa đã trên 2 triệu tấn/năm Nguồn chất thải độc hại này hiện nay vẫn chưa được xử lý triệt để và thải vào sông rạch trong khu vực Các chất thải nuôi trồng thủy sản là nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư sử dụng như hóa chất và thuốc kháng sinh, vôi và các loại khoáng chất Chất thải ao nuôi công nghiệp có thể chứa đến trên 45% Nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác, là nguồn có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trường nước, Thạc sĩ Trần Minh Lâm (Viện Kinh tế - Quy hoạch thủy sản) cho biết, nuôi thủy sản cần rất nhiều nước và phải thường xuyên thay đổi nước trong

ao nuôi do đó khả năng lây nhiễm dịch bệnh đối với thủy sản nuôi là rất lớn Đó là chưa kể đến những vùng nuôi thủy sản bị dịch bệnh chết hàng loạt, gây ô nhiễm môi trường nước rất trầm trọng Ngoài ra, các yếu tố như nuôi cá với mật độ quá cao, lượng thức ăn cho cá quá nhiều cũng làm ô nhiễm nguồn nước27 Vận động người nuôi trồng thủy sản lập ao chứa nước thải, ao chứa bùn thải đồng thời không xả nước thải

có chỉ tiêu lý, hóa, sinh vượt mức cho phép theo quy định tại Luật bảo vệ môi trường, Luật thủy sản Ngành thủy sản triển khai các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm;

26

http://www.baomoi.com/VDHN-Su-dung-khang-sinh-khong-dung-trong-nuoi-thuy-san nhung-moi-nguy/45/5908259.epi.

27 http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=24&ID=119145.

Trang 28

chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong nuôi thủy sản; xây dựng các mô hình nuôi thủy sản an toàn; đặc biệt là phối hợp với các viện, trường đại học lập mô hình nuôi cá tra kết hợp sử dụng nguồn nước thải để nuôi các loại thủy sản khác hiệu quả Trong quá trình nuôi, người nuôi nên tăng sử dụng các chế phẩm sinh học để xử lý triệt để các thành phần độc hại ô nhiễm có trong nước thải, chất thải thành các chất an toàn sinh thái.

Nuôi trồng thủy sản đang trở thành một trong những ngành chủ lực, có vị trí quan trọng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy kinh tế nước nhà phát triển Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi thủy sản nước ngọt đã gây ô nhiễm với quy mô ngày càng lớn, đa dạng Ô nhiễm môi trường cục bộ tại các vùng nuôi thủy sản xảy ra tương đối phổ biến Trong quá trình nuôi, người nuôi đã xả nước trong ao hồ ra sông ngòi, lượng cá tôm càng lớn thì chất thải càng nhiều, nước thải, bùn chứa phân của các loại thủy sản, thức ăn dư thừa bịthối rữa, chất tồn dư của các loại vật tư sử dụng trong nuôi trồng như hóa chất, vôi, chất khoáng, khí hữu cơ, khí vô cơ H2S, NH3 từ nơi nuôi xả ra sông rạch càng gây ô nhiễm cao Nghiêm trọng hơn là việc nuôi với kỹ thuật cao, mật độ lớn như nuôi theo hình thức thâm canh, công nghiệp thì nguồn thải ra càng lớn Qua kiểm tra mẫu nước ởnhiều nơi cho thấy hầu hết các ao nuôi cá, tôm đều có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ như COD, BOD, Ni tơ, Phốt pho cao hơn tiêu chuẩn cho phép, tác động bất lợi đến hệ sinh thái28

Thức ăn dùng trong nuôi trồng thủy sản chủ yếu là thức ăn viên có chứa các thành phần dinh dưỡng cao khi sử dụng trong nuôi trồng thủy sản nếu thức ăn bị thừa

sẽ lắng đọng dưới đáy ao, Nitơ và photpho là những nguyên tố chủ yếu trong chất thải bắt nguồn từ thức ăn Việc cho thức ăn quá nhiều, nước không ổn định, thức ăn dễ tan, thức ăn khó hấp thu và khả năng duy trì nitơ , là những yếu tố liên quan với nước thải

có chứa nhiều nitơ và photpho Thức ăn thừa, chiếm tỷ lệ lớn (30 - 40%) của ô nhiễm nitơ Người ta ước lượng rằng, có khoảng 63 - 78% nitơ và 76 - 80% photpho cho tôm

ăn bị thất thoát vào môi trườnggây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường29

Thuốc thú y, hóa chất và kháng sinh đã hết hạn sử dụng, bao bì đựng thuốc, hóa chất bùn và thức ăn lắng đọng dưới đáy ao điều là những thứ gây ra ô nhiễm môi trường Vì vậy người nuôi trồng thủy sản phải thu gom và xử lý đúng theo quy định, không được tự ý thải nước nuôi trồng thủy sản ra sông, rạch khi chưa được xử lý, bùn đáy ao nuôi có chứa các thành phần độc hại không được đổ trực tiếp vào môi trường

28 http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=24&ID=122667&Code=VNTP122667.

29 http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&CateID=24&ID=119145.

Trang 29

mà phải có khu vực chứa đựng và xử lý đúng theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải.

Điều 66 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định về quản lý chất thải:

Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng để hạn chế đến mức thấp nhất lượng chất thải phải tiêu huỷ, thải bỏ.

Chất thải phải được xác định nguồn thải, khối lượng, tính chất để có phương pháp và quy trình xử lý thích hợp với từng loại chất thải.

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thực hiện tốt việc quản lý chất thải được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.

Việc quản lý chất thải được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Sự phát triển nhanh chóng của ngành nuôi trồng thủy sản tỉ lệ thuận với lượng chất thải do ngành này thải vào môi trường ngày càng tăng thì môi trường ngày càng

bị ô nhiễm nghiêm trọng Muốn hạn chế ô nhiễm môi trường thì các chất thải này cần được giảm thiểu đến mức thấp nhất lượng chất thải, thải bỏ ra môi trường Chất thải trong nuôi trồng thủy sản cần phải được xác định phân loại tại nguồn xem chúng thuộc nhóm chất thải nào để có phương pháp và quy trình xử lý chất thải trước khi chúng được thải vào môi trường

Để tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản thực hiện tốt trách nhiệm bảo vệ môi trường thì cần phải có những chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước: chính sách ưu đãi về thuế, hỗ trợ vốn, đất đai để xây dựng các cơ sở tái chế chất thải đối với tổ chức cá nhân

có hoạt động đầu tư xây dựng tái chế chất thải30 Hoặc lập quy hoạch bố trí mặt bằng cho việc tập kết chất thải rắn sinh hoạt, xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, khu chôn lấp chất thải31, trong phạm vi quản lý của mình Cơ sở hạ tầng trong nuôi trồng thủy sản như hệ thống cấp thoát nước, hệ thống xử lý chất thải phải được đảm bảo thì việc quản lý và xử lý chất thải của người nuôi trồng thủy sản sẽ được thuận lợi, có nhiều trường hợp gây ô nhiễm môi trường do không có hệ thống thoát nước và xử lý chất thải và người nuôi thủy sản chỉ còn cách thải trực tiếp chất thải ra các sông, rạch làm cho môi trường bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến hiệu quả của nuôi trồng thủy sản

30 Khoản 3 Điều 68 Luật bảo vệ môi trường 2005.

31 Khoản 1 Điều 69 Luật bảo vệ môi trường 2005

Trang 30

2.1.3 Những quy định pháp luật về quy hoạch trong nuôi trồng thủy sản và các yêu cầu về bảo vệ môi trường ở các khu nuôi trồng

Khoản 4, Khoản5, Điều 47 Luật bảo vệ môi trường 2005 quy định:

Khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung phải phù hợp với quy hoạch và đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường sau đây:

- Chất thải phải được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường về chất thải.

- Phục hồi môi trường sau khi ngừng hoạt động nuôi trồng thủy sản.

- Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh thuỷ sản; không được sử dụng hoá chất độc hại hoặc tích tụ độc hại.

Không được xây dựng khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung trên bãi bồi đang hình thành vùng cửa sông ven biển; phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản.

Điều 32 Luật thủy sản 2003 quy định đối với vùng nuôi trồng thủy sản tập

trung: “Tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản ở vùng nuôi trồng thủy sản tập trung phải tuân theo các quy định của vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung; tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành của công trình nuôi trồng thuỷ sản, kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản

và môi trường nuôi trồng thuỷ sản”.

Theo những quy định trên thì tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản ở các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, phải tuân thủ những quy định của pháp luật về quy hoạch nuôi trồng thủy sản đồng thời đáp ứng các điều kiện về bảo vệ môi trường

2.1.3.1 Khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung phải phù hợp với quy hoạch

Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản là quy hoạch tổng thể và chi tiết diện tích, đối tượng nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch phát triển lĩnh vực nuôi trồng thủy sản nằm trong quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020,

và tầm nhìn đến 2030

Tổ chức cá nhân trực tiếp nuôi trồng thủy sản phải tuân thủ những quy định của

pháp luật về quy hoạch nuôi trồng thủy sản “Tổ chức, cá nhân nuôi trồng thuỷ sản phải có địa điểm xây dựng cơ sở nuôi trồng thuỷ sản theo quy hoạch” Trường hợp

thuê mặt nước biển để nuôi trồng thủy sản thì người nuôi vẫn phải tuân thủ đúng quy

hoạch “Mặt nước biển để nuôi trồng thuỷ sản là vùng nước biển được quy hoạch để nuôi trồng thuỷ sản”.

Quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, thực hiện các biện pháp để quản

lý chặt chẽ, có chính sách sản xuất thủy sản gắn với bảo vệ môi trường Quy hoạch thiết kế các vùng nuôi trồng thủy sản cần phải được rà soát, bổ sung cho hoàn chỉnh để quản lý và sử dụng có hiệu quả các loại mặt nước nuôi trồng thủy sản, từ đó tiến hành quy hoạch cụ thể, bố trí cơ sở hạ tầng cho từng vùng nuôi Tiến hành quy hoạch nuôi thủy sản trên biển và ven biển, vùng đất cát, đất hoang hóa, quy hoạch chuyển đổi

Trang 31

vùng ruộng úng trũng, nhiễm mặn năng suất thấp sang nuôi chuyên canh hoặc nuôi thủy sản kết hợp với trồng lúa32.

Quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản đồng bộ và đầy đủ cơ sở hạ tầng sẽ giúp cho việc bảo vệ môi trường tốt hơn, nếu nuôi trồng thủy sản không tuân theo quy hoạch sẽ rất khó kiểm soát dễ dẫn đến hiện tượng ô nhiễm môi trường, vì nuôi trồng thủy sản không theo quy hoạch hầu hết không đủ các điều kiện để nuôi trồng thủy sản như cơ sở hạ tầng và con giống Vùng nuôi thủy sản tập trung không theo quy hoạch sẽ thiếu các hệ thống xử lý chất thải, do dó người nuôi sẽ thải chất thải trực tiếp ra các kênh, rạch mà không qua xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn môi trường dẫn đến hiện tượng ô nhiễm môi trường ở vùng đó và các vùng lân cận

Do chạy theo lợi nhuận nên vấn đề bảo vệ môi trường chưa được người nuôi thủy sản quan tâm và một phần do đầu tư cho cở sở hạ tầng rất tốn kém mà người nuôi thủy sản chỉ chạy theo lợi nhận nên ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng

Để bảo vệ môi trường trong vùng quy hoạch nuôi trồng thủy sản tập trung cần phải có các chế tài mạnh trong quy hoạch tổng thể vùng nuôi trồng thủy sản và ngăn chặn được hiện tượng người dân phá vỡ quy hoạch

2.1.3.2 Bảo vệ môi trường trong khu nuôi trồng thủy sản tập trung

Chất thải phải được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn chất lượng môi trường

về chất thải

Theo Khoản 5 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005: “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của các chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường”.

Tiêu chuẩn môi trường đối với nước thải quy định tại Thông tư BTNMT quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, quy định tiêu chuẩn nước thải đối với các cơ sở nuôi trồng thủy sản là:QCVN 11:2008/BTNMT Đây là căn cứ để đánh giá chất lượng môi trường, là cơ

04/2012/TT-sở để xác định giới hạn tối đa cho phép nước thải trong nuôi trồng thủy sản được thải vào môi trường

Chất thải nuôi trồng thủy sản chủ yếu được tạo ra do nguồn thức ăn dư thừa bị thối rữa, phân hủy, các loại hóa chất, kháng sinh dư thừa tồn động lại dưới đáy ao, và các chất hữu cơ là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường và các dịch bệnh thủy sản

Do đó tổ chức, cá nhân trực tiếp nuôi trồng thủy sản cần phải thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường

32 Các quy định về môi trường của liên minh châu Âu đối với việc nhập khẩu hàng nông, thủy sản và khả năng đáp ứng của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 2004, Tr 195.

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w