Xuất phát từ tầm quan trọng của định chế BHTG đối với nền kinh tế, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam BHTGVN ra đời năm 1999 nhằm hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi
Trang 1Cần Thơ, tháng 05/2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Bộ môn Luật Thương mại MSSV: 5095568
Lớp: LK0964A3
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Trang 2Trong suốt quá trình học tập tại Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ, người viết đã được sự hướng dẫn tận tình của Quý thầy cô và đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức bổ ích, đặc biệt trong quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp
Người viết xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ của Khoa và Quý thầy
cô Khoa Luật trong quá trình thực hiện Luận văn Đặc biệt người viết xin chân thành cám ơn cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã không ngại vất
vả tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho người viết trong quá trình thực hiện luận văn
Sau cùng, người viết xin gửi lời cám ơn đến gia đình đã khuyến khích, động viên, và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người viết để hoàn thành Luận văn
Kính chúc sức khỏe Quý thầy cô, gia đình và các bạn
Cần thơ, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
- -
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Giảng viên hướng dẫn
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
- -
Cần Thơ, ngày tháng năm 2013
Giảng viên phan biện
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Trong suốt quá trình học tập tại Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ, người
viết đã được sự hướng dẫn tận tình của Quý thầy cô và đã tiếp thu được rất nhiều kiến thức bổ ích, đặc biệt trong quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp
Người viết xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ của Khoa và Quý thầy cô Khoa Luật trong quá trình thực hiện Luận văn Đặc biệt người viết xin chân thành cám
ơn cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã không ngại vất vả tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho người viết trong quá trình thực hiện luận văn
Sau cùng, người viết xin gửi lời cám ơn đến gia đình đã khuyến khích, động viên, và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người viết để hoàn thành Luận văn
Kính chúc sức khỏe Quý thầy cô, gia đình và các bạn
Cần thơ, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Anh Thư
Trang 6CHƯƠNG 1:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM
TIỀN GỬI 4
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 4
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi 4
1.1.2 Đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi 6
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi……… 11
1.2.SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI ……… 15
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi trên thế giới 15
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam 18
1.2.2.1.Bối cảnh trong nước 19
1.2.2.2 Bối cảnh quốc tế 20
1.3.SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI BẢO HIỂM TIỀN GỬI 21
1.3.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với bảo hiểm tiền 21
1.3.2 Giới thiệu nội dung điều chỉnh của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi 23
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI VIỆT NAM 28
2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 28
2.1.1 Quy định pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi 28
2.1.1.1 Vị trí pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi 28
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 31
2.1.1.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 35
2.1.2 Quy định pháp luật về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi 38
2.1.3.Quy định pháp luật về chủ thể được bảo hiểm tiền gửi 40
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ LOẠI TIỀN VÀ PHÍ BẢO HIỂM 42
2.2.1 Loại tiền được bảo hiểm 42
2.2.2 Quy định pháp luật về phí bảo hiểm tiền gửi 45
Trang 72.3 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 47
2.3.1.Thời điểm chi trả bảo hiểm tiền gửi 47
2.3.2 Quy định pháp luật về thủ tục chi trả bảo hiểm tiền gửi 49
2.3.3 Hạn mức chi trả bảo hiểm 50
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM – MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 53
3.1 NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHÍNH VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI 53
3.1.1 Quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi 53
3.1.2 Đối với tổ chức Bảo hiểm tiền, nâng cao nghiệp vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi 54
3.1.3 Mở rộng hoạt động đầu tư của tổ chức bảo hiểm tiền gửi 55
3.1.4 Đối với người gửi tiền thời điểm xác định việc chi trả tiền bảo hiểm được quy định rõ ràng và tách biệt 56
3.2 MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 57
3.2.1 Về địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và mô hình hoạt động của tổ chức BHTG 58
3.2.2 Vấn đề hổ trợ tài chính đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi 60
3.2.3 Đối với loại tiền được bảo hiểm 62
3.2.4 về phí bảo hiểm tiền gửi 64
3.2.5 Vấn đề hạn mức chi trả bảo hiểm 66
3.2.6 Vấn đề xử lý vi phạm đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi 69
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ năm 1986, Việt Nam đã thực hiện thành công đường lối đổi mới Nền kinh
tế được phát triển theo xu hướng thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đã liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng cao, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện Nhiều thành phần, lĩnh vực, ngành nghề ra đời và chiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Tính cạnh tranh của thị trường vì vậy mà ngày càng khốc liệt hơn Bên cạnh đó, việc hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra những cơ hội cũng như thách thức to lớn đối với mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được những kết qủa đáng khích lệ Qua đó, hệ thống ngân hàng phần nào đã khẳng định được vị trí của mình với vai trò cung cấp vốn cho nền kinh tế Trong quá trình phát triển đó, các sản phẩm- dịch vụ mà ngân hàng mang lại cho nền kinh tế ngày càng đa dạng và phong phú hơn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tuy nhiên, hoạt động được xem là cơ bản và quan trọng nhất của các ngân hàng là huy động vốn từ công chúng bằng cách nhận tiền gửi dưới những hình thức nhất định và
sử dụng khoản tiền đó để cấp vốn cho các chủ thể khác đang có nhu cầu sử dụng trong nền kinh tế Như vậy, có thể nói một cách khái quát rằng, hoạt động cơ bản của các ngân hàng là đi vay để cho vay- đây là căn nguyên chính dẫn đến nguy cơ rủi ro luôn tiềm ẩn đối với hoạt động ngân hàng Bên cạnh đó trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO), phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt và giữa các tổ chức tài chính giữa các quốc gia thành viên trong tổ chức và nguy cơ xảy ra sự đổ vỡ đối với các ngân hàng là điều hoàn toàn có thể xảy ra Mặt khác, đặc trưng lớn nhất của hoạt động ngân hàng so với các loại hình doanh nghiệp khác là tính hệ thống rất cao Do vậy, khi xảy ra rủi ro, đổ vỡ của một ngân hàng rất có thể sẽ dẫn đến đổ
vỡ của cả một hệ thống, thậm chí có có thể gây hoảng loạn cho cả một nền kinh tế Để đối phó với vấn đề này, Việt Nam cũng giống như các quốc gia khác đang áp dụng nhiều biện pháp thông qua việc ban hành các quy định của pháp luật nhằm đem lại sự an toàn ở mức độ cao nhất có thể trong hoạt động ngân hàng và đảm bảo an toàn số tiền gửi của người gửi tiền Do vậy, bảo hiểm tiền gửi (BHTG) xuất hiện được xem như hoạt động kết hợp hài hoà lợi ích, một mặt bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển an toàn, bền vững của hệ thống ngân hàng
Trang 9Xuất phát từ tầm quan trọng của định chế BHTG đối với nền kinh tế, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTGVN) ra đời năm 1999 nhằm hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần đảm bảo cho hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD) được an toàn, lành mạnh và ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng tài chính Sau hơn 10 năm hoạt động thì lĩnh vực BHTG đã được điều chỉnh bởi Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 được Quốc Hội khóa 13 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2013 Luật ra đời đã cũng cố được cơ sở pháp lý cho lĩnh vực BHTG, có những quy định tiến bộ thông qua quá trình tích lũy kinh nghiệm trong hoạt động Tuy nhiên, sự ra đời của Luật vẫn chưa giải quyết được hết những khó khăn, vướng mắc và tồn tại trước đó Với mong muốn BHTG tìm hiểu những ưu điểm cùng những bất cập và hạn chế của hệ thống pháp luật về BHTG tại Việt Nam, thông qua đó đánh giá những quy định trong Luật bảo hiểm tiền gửi mới ra đời và có những biện pháp nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa pháp luật về BHTG tại Việt Nam là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực trong
thời điểm hiện nay Đó là lý do thôi thúc người viết lựa chọn đề tài: “ Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi” làm luận văn tốt nghiệp đại học của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Với việc lựa chon đề tài “Pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi” làm đề tài luận văn tốt nghiệp đại học, thông qua việc làm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò, chức năng và mô hình hoạt động của BHTG, người viết sẽ tập trung nghiên cứu và làm rõ các quy định pháp luật cũng như thực tiển áp dụng các quy định đó trên thực tế để tìm ra những ưu điểm cần tiếp tục phát huy, những bất cập, hạn chế cần khắc phục Để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần củng cố, hoàn thiện và nâng cao khuôn khổ pháp lý cho hoạt động BHTG tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung làm sáng tỏ những vấn đề có tính chất pháp lý về BHTG để
từ đó phân tích những nội dung mang tính thực tiển liên quan pháp luật BHTG tại Việt Nam Từ góc độ nhìn nhận, đánh giá những thành tựu cũng như những hạn chế của quy định pháp luật hiện hành, luận văn có nhiệm vụ đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động BHTG ở nước ta
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở khía cạnh pháp lý về tổ chức và hoạt động BHTG, những nội dung cơ bản của Luật về chủ thể tham gia BHTG, về loại tiền được bảo hiểm, về mức phí tham gia BHTG cũng như việc chi trả BHTG khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Qua đó làm tiền đề nhận xét các quy định pháp luật về BHTG và đưa ra một số định hướng hoàn thiện pháp luật về BHTG tại Việt Nam
Trang 10Để có thể thực hiện việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những mục đích nêu trên, người viết có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích- tổng hợp để làm sáng tỏ những nội dung của đề tài
5 Bố cục của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương được bố cục như sau:
Chương 1: Giới thiệu chung về bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Chương 2: Quy định pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam
Chương 3: Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Trong phạm vi chương 1, người viết sẽ tập trung làm rõ cơ sở lý luận về
bảo hiểm tiềm gửi (BHTG) cũng như mục đích và vai trò của BHTG trong hệ
thống tài chính nói riêng cũng như vai trò của BHTG đối với nền kinh tế nói
chung, từ đó nêu lên sự cần thiết của Luật bảo hiểm tiền gửi trong bối cảnh nền
kinh tế hiện nay
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm tiền gửi
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những thông
tin về bảo hiểm, có thể là bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nhân thọ, phi
nhân thọ Điều đó khẳng định sự có mặt không thể thiếu được của bảo hiểm trong
mọi hoạt động của con người bởi rủi ro nhiều hơn, các nhu cầu về an toàn cũng
lớn hơn Bảo hiểm đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử pháp triển của văn minh
nhân loại, bảo hiểm trở nên phổ biến và được nhiều người biết đến từ thế kỷ XIV,
ở Floren, Genoa nước Ý1, khi xuất hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên
mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽ bồi thường
những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại
xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận lại một khoản phí Cũng từ đó bảo hiểm
phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành một ngành dịch vụ chia sẻ rủi ro trong
cuộc sống hiện nay Để hiểu rõ hơn về bảo hiểm nói chung chúng ta tìm hiểu khái
niệm sau đây:
Theo đó: “Bảo hiểm là mộ hoạt động mà qua đó một cá nhân có quyền
được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoảng đóng góp cho mình hoặc cho người thứ
ba trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức
1 Lịch sử phát triển bảo hiểm, xem tại
Trang 12http://webbaohiem.net/ki%E1%BA%BFn-th%E1%BB%A9c-này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê 2(theo Monique Gaultier)
Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của một số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại
do rủi ro đó gây ra Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất,
thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng,… Bảo hiểm được xem như là một
cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm
Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) cũng ra đời trong hoàn cảnh hoạt động tài chính của đất nước xuất hiện ngày càng nhiều các rủi ro và chúng ta cần một công cụ hữu hiệu để góp phần tạo nên sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống tài chính - ngân hàng Bảo hiểm tiền gửi ra đời, kế thừa những nền tảng bảo hiểm thuần túy ban đầu nhưng bên cạnh đó BHTG cũng tạo ra được những điểm khác biệt của mình và ngày càng khẳng định vai trò chia sẻ rủi ro trên thị trường tài chính Để hiểu rõ hơn về BHTG chúng ta cũng phân tích khái niệm dưới đây:
Theo khoản 1 Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền năm 2012 gửi thì:
Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản
Như vậy, từ khái niệm bảo hiểm tiền gửi trên ta có những đặc trưng sau đây:
- Có thể hiểu BHTG là cam kết công khai của tổ chức BHTG với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ chi trả tiền khi
tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động hoặc mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền;
2
PGS.TS Phan Thị Cúc, “Giáo trình nguyên lý bảo hiểm”, NXB Thống Kê, tr 21
Trang 13- Đối tượng phải tham gia bảo hiểm tiền gửi là các tổ chức tín dụng (TCTD)
và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng có nhận tiền gửi của cá nhân bằng đồng Việt Nam thì bắt buộc phải tham gia đóng phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức BHTG Việt Nam theo quy định BHTG đã trở thành một nghiệp vụ bắt buộc đối với các TCTD và tổ chức khác có nghiệp vụ ngân hàng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam;
- Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thì tổ chức BHTGVN có trách nhiệm thay tổ chức tham gia BHTG trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của các cá nhân gửi tiền tại tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm theo hạn mức quy định của pháp luật;
- Biện pháp này được thực hiện bởi tổ chức bảo hiểm tiền gửi quốc gia, “Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV)” Đối tượng thụ hưởng là người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng có tham gia BHTG;
- BHTG là một dịch vụ mang tính xã hội cao, thông qua cơ chế bảo hiểm nhằm mang lại sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia
1.1.2 Đặc điểm của Bảo hiểm tiền gửi
Thứ nhất, chủ thể trong mối quan hệ BHTG là những chủ thể đặc thù;
Tính đặc thù thể hiện ở chổ chỉ các tổ chức tài chính có hoạt động nhận tiền gửi dưới các hình thức nhất định mới có thể tham gia quan hệ BHTG
Trong mối quan hệ BHTG chúng ta thấy xuất hiện ba mối quan hệ chính yếu sau:
- Tổ chức BHTG và tổ chức tham gia BHTG
Tại hầu hết các quốc gia có hoạt động BHTG trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều quy định việc tham gia BHTG là bắt buộc đối với các tổ chức nhận tiền gửi Tính bắt buộc này tạo nên sự bình đẳng giữa các TCTD có quy mô hoạt động khác nhau trong hệ thống tài chính ngân hàng Ngoài ra,việc bắt buộc các tổ chức nhận tiền gửi tham gia BHTG cũng góp phần đảm bảo thực hiện tốt bản chất lấy
“số đông bù số ít” của loại hình dịch vụ này Các TCTD và Chi nhánh ngân hàng
nước ngoài, khi tham gia BHTG có trách nhiệm đóng góp phí bảo hiểm cho tổ chức BHTG; ngược lại tổ chức tham gia BHTG được quyền yêu cầu tổ chức
Trang 14BHTG chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức mình trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG mất khả năng thanh toán hoặc bị cơ quan nhà nước chấm dứt hoạt động
Mối quan hệ giữa tổ chức huy động tiền gửi với tổ chức BHTG được hình thành khi có hai điều kiện sau đây xảy ra3:
TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhận tiền gửi của cá nhân
TCTD, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia tổ chức BHTG
Văn bản chứng minh mối quan hệ này đã được hình thành trên thực tế thường là văn bản được phát hành bởi tổ chức BHTG Theo đó tổ chức BHTG thừa nhận việc tổ chức huy động tiên gửi đã tham gia BHTG bằng văn bản có tên
gọi là “ chứng nhận bảo hiểm tiền gửi”4
- Tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền
Mối quan hệ giữa người gửi tiền với tổ chức nhận tiền gửi hình thành ngay khi cá nhân gửi tiền vào các tổ chức huy động tiền gửi5 Khi gửi tiền vào các tổ chức nhận tiền gửi, người gửi tiền không phải làm thủ tục để tham gia BHTG, cũng như sẽ không có bất kỳ hợp đồng hợp đồng bảo hiểm nào được hình thành giữa người gửi tiền và tổ chức tham gia BHTG, việc xác nhận số tiền gửi của
người gửi tiền được cụ thể hóa bằng xác nhận “tiền gửi được bảo hiểm” trong giấy
chứng nhận gửi tiền tổ chức BHTG cấp cho người gửi tiền Mối quan hệ ba bên giữa tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền sẽ xuất hiện khi người gửi tiền gửi tiền vào tổ chức tham gia BHTG Người gửi tiền sẽ được tổ chức BHTG bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi tổ chức nhận tiền gửi mất khả
năng thanh toán hoặc chấm dứt hoạt động
- Tổ chức BHTG và người gửi tiền
Mối quan hệ giữa tổ chức BHTG với người gửi tiền chỉ xuất hiện khi tổ chức huy động tiền gửi bị phá sản hoặc bắt buộc giải thể theo yêu cầu của cơ quan
Điều 14 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
5 Hoài Phương (2009), “Bảo hiểm tiền gửi và các loại hình bảo hiểm thương mại thông thường: Đâu là
khác biệt cơ bản”, xem tại http://www.div.org.vn/news_detail.asp?Cat1D=31&id=881
Trang 15nhà nước có thẩm quyền Cũng giống như mối quan hệ với tổ chức tham gia BHTG, người gửi tiền trong mối quan hệ với tổ chức BHTG cũng không hề có bất
kỳ hợp đồng nào được ký kết trực tiếp, nhưng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, tổ chức BHTG có trách nhiệm đứng ra chi trả tiền bảo hiểm theo hạn mức quy định của pháp luật
Một điểm khác cần lưu ý ở đây là người nộp phí BHTG trong mọi trường hợp luôn tách rời với người thụ hưởng bảo hiểm, người gửi tiền trong mọi trường hợp luôn là người thụ hưởng bảo hiểm Người nộp phí BHTG luôn luôn là các TCTD, căn cứ phát sinh là khi TCTD huy động tiền gửi dưới hình thức nhận tiền gửi từ khách hàng Trong khi đó, người gửi tiền là đối tượng được thụ hưởng tiền bảo hiểm, những người đã gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG và khoản tiền đó thuộc đối tượng được bảo hiểm theo quy định của pháp luật nhưng không phải tham gia đóng góp cho tổ chức BHTG mà vẫn được tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi theo hạn mức quy định khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Thứ hai, đối tượng được bảo hiểm là nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền gửi tại các TCTD, tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi;
Có thể nói, rủi ro tiền gửi có mối quan hệ mật thiết với hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi Người gửi tiền, người thụ hưởng bảo hiểm không trưc tiếp tạo
ra các rủi ro từ hoạt động của mình Rủi ro ở đây đến từ hoạt động của chính tổ chức tham gia BHTG, hoặc cũng có thể đến gián tiếp từ rủi ro của các tổ chức tham gia BHTG khác trong cùng một hệ thống tài chính ngân hàng Việc tham gia BHTG là bắt buộc đối với các TCTD, tổ chức huy động tiền gửi khác Do đó, khi gửi tiền tại các tổ chức huy động tiền gửi, ngay lập tức người gửi tiền sẽ được bảo hiểm đối với số tiền đó theo quy định pháp luật, thông qua việc tổ chức huy động tiền gửi thực hiện nghĩa vụ tham gia BHTG ở tổ chức BHTG Số tiền tối đa được
tổ chức BHTG chi trả khi tổ chức tham gia bảo hiểm mất khả năng thanh toán được quy định bởi các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hạn mức đang áp dụng
hiện nay cho việc chi trả bảo hiểm là 50 triệu đồng được quy định tại Nghị định
109/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 của chính phủ về bảo hiểm tiền gửi (Sau đây gọi tắt là Nghị Định 109/2005/NĐ-CP) Người gửi tiền , tổ
Trang 16góp và tổ chức bảo hiểm tiền gửi Chỉ có nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định thay đổi hạn mức chi trả bảo hiểm nói riêng và các quy định khác về BHTG nói chung Quyết định thay đổi của nhà nước cũng không phải là quyết định tùy tiện, duy ý chí, ngược lại phải dựa trên các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định trong từng thời kỳ, thời điểm khác nhau
Khi so sánh với dạng bảo hiểm khác, đối tượng được bảo hiểm của các dịch
vụ bảo hiểm thương mại khác chính là tính mạng, sức khỏe, tài sản,…loại hình bảo hiểm này phát sinh trên sơ sở thỏa thuận trực tiếp giữa doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm Khác với BHTG, cá nhân chỉ được bảo hiểm tính mạng, sức khỏe, tài sản,…sau khi hợp đồng bảo hiểm đã được hình thành Việc bảo hiểm sẽ không phát sinh một cách tự động như BHTG Người tham gia bảo hiểm thương mại có thể điều hành các rủi ro từ hoạt động của chính mình Số tiền bảo hiểm có thể được thỏa thuận với tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Người được bảo hiểm có thể tăng mức đền bù bằng cách tăng mức phí đóng góp
Thứ ba, cơ sở pháp lý ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể tham gia BHTG được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật;
Sẽ không có việc thỏa thuận giữa tổ chức tham gia BHTG và tổ chức BHTG, giữa người gửi tiền và tổ chức BHTG giống như các loại bảo hiểm thương mại khác Tổ chức tham gia BHTG, người gửi tiền cũng như tổ chức BHTG không thể tự thỏa thuận với nhau để thay đổi một nội dung nào đó nếu không hài lòng về việc bảo hiểm cho số tiền gửi Do BHTG là hình dịch vụ thực hiện chính sách công của Nhà nước với mục tiêu là bảo vệ người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính ngân hàng, nên ở đây hoàn toàn không có sự cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động BHTG Như vậy, người gửi tiền sẽ được tổ chức BHTG thanh toán tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG
bị mất khả năng thanh toán hoặc bị chấm dứt hoạt động Việc thanh toán của tổ chức BHTG sẽ được thực hiện căn cứ trên việc tham gia BHTG của tổ chức huy động tiền gửi, tuân theo các quy định tại các văn bản pháp luật, chứ không tuân theo thỏa thuận giữa các bên chủ thể trên cơ sở hợp đồng
Trang 17Ngược lại, cơ sơ pháp lý của các sản phẩm bảo hiểm thương mại khác cũng
là văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật này quy định về những vấn đề bảo hiểm mang tính thương mại, hay nói cách khác, đó
là những văn bản pháp luật quy định về vấn đề kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm có thể thỏa thuận với nhau về những điều kiện riêng biệt và phù hợp với từng người Yếu tố thỏa thuận, đàm phán ở đây mang tính cơ sở và quyết định đối với từng hợp đồng
cụ thể Khác với BHTG, hai bên chủ thể hợp đồng có thể thay đổi, bổ sung hợp đồng nếu đạt thỏa thuận bất kỳ lúc nào Và như vậy, giữa các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm luôn có sự cạnh tranh với nhau nhằm đem lại kết quả kinh doanh tốt nhất cho doanh nghiệp mình Việc bảo hiểm sẽ được thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng đã ký kết trước đó giữa doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm
Thứ tư, phí bảo hiểm hình thành không dựa trên sự thỏa thuận của các bên tham gia BHTG
Phí BHTG là những khoảng phí được quy định trực tiếp trong các văn bản pháp luật Các bên tham gia quan hệ BHTG không thể thỏa thuận về mức phí BHTG Người nộp phí BHTG, trong mọi trường hợp, luôn tách rời với người thụ hưởng BHTG, hai đối tượng này luôn luôn có sự phân biệt rạch ròi Người nộp phí BHTG bao giờ cũng là các TCTD, các tổ chức có hoạt động huy động tiền gửi, người thụ hưởng BHTG là cá nhân có gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG Hiện nay, các hệ thống BHTG trên thế giới đang áp dụng hai loại phí cơ bản:
- Một là, phí đồng hạng Đây là loại phí được “áp dụng chung cho tất cả các
tổ chức tham gia BHTG trong cùng hệ thống BHTG của một quốc gia”6 Hiện nay, BHTGVN đang áp dụng loại phí này;
- Hai là, phí được tính căn cứ vào mức độ rủi ro của các tổ chức tham gia BHTG Theo đó, cơ sở để xác định tỷ lệ phí BHTG là kết quả phân loại theo tiêu chí rủi ro trong quá trình hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG
6 Ts Nguyễn Thị Kim Oanh, “Định hướng về phí bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam “, xem tại
Trang 18Dù phí BHTG được tính và áp dụng theo phương pháp nào thì phương pháp được chọn cũng đều được thể hiện cụ thể và rõ ràng trong các văn bản pháp luật chuyên ngành về BHTG Tổ chức tham gia BHTG không có quyền lựa chọn hay thỏa thuận điều chỉnh với tổ chức BHTG Nguyên tắc bắt buộc, cưỡng chế thực hiện chi phối toàn bộ tiến trình BHTG từ lúc hình thành đến lúc kết thúc
Trong khi đó, ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác, phí bảo hiểm được hình thành trên sơ sở hợp đồng bảo hiểm, được thỏa thuận, thương lượng trực tiếp giữa tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm Nguyên tắc thương lượng, đàm phán được áp dụng xuyên suốt quá trình hình thành nên hợp đồng bảo hiểm
Tóm lại, đều là loại hình dịch vụ bảo hiểm, đều hoạt động trên nguyên tắc lấy “số đông bù số ít”, nhưng BHTG là loại hình dịch vụ thuộc loại hàng hóa công không thuận túy; là loại hình dịch vụ bắt buộc các tổ chức huy động tiền gửi tham gia trên cơ sở đóng phí bảo hiểm theo quy định của pháp luật; và tổ chức BHTG sẽ bảo đảm chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền theo quy định của pháp luật
1.1.3 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi xuất phát từ bản chất từ bản chất của hoạt động tài chính luôn gắn liền với yếu tố niềm tin, mang tính nhạy cảm và có tính lan truyền cao Trong hoạt động ngân hàng, nếu niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài chính - ngân hàng bị khủng hoảng, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến một TCTD đơn lẻ mà còn ảnh hưởng đến cả hệ thống tài chính – ngân hàng Niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống tài chính - ngân hàng là rất quan trọng vì niềm tin
đó thường dựa vào yếu tố tâm lý và khi họ gửi tiền vào ngân hàng họ thường đặt câu hỏi liệu số tiền của mình gửi vào ngân hàng có an toàn hay không? Hoạt động của ngân hàng có an toàn hay không? Hoặc nếu xảy ra trường hợp xấu nhất xảy ra thì liệu họ có mất số tiền đã gửi hay không?
Bảo hiểm tiền gửi góp phần tạo nên sự ổn định của hệ thống tài chính và ổn định tăng trưởng kinh tế thông qua các quy định an toàn và cơ chế giám sát hoạt động ngành ngân hàng, BHTG đã góp phần nâng cao khả năng quản trị rủi ro, khả năng điều hành ngành ngân hàng nói riêng và ngành tài chính nói chung Với nguồn lực là quỹ bảo hiểm tiền gửi có thể can thiệp kịp thời khi tổ chức tham gia
Trang 19bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng khó khăn Bảo hiểm tiền gửi ngăn chặn kịp thời cô lập hiệu ứng rút tiền hàng loạt và tránh được sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng khi một vài tổ chức gặp rắc rối
Cụ thể bảo hiểm tiền gửi có những vai trò quan trọng sau đây:
Thứ nhất, bảo hiểm tiền gửi bảo vệ người gửi tiền và góp phần mang lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng;
Tính đến thời điểm Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đi vào hoạt động (7/7/2000), Việt Nam đã thực hiện đổi mới kinh tế được 15 năm Việc một tổ chức tài chính Nhà nước ra đời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của các tổ chức tham gia BHTG và sự phát triển
an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng là một sự kiện có ý nghĩa to lớn trong quản lý và điều hành nền kinh tế của đất nước, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình hội nhập với đời sống kinh tế thế giới Từ trước tới nay, kể từ khi có hoạt động ngân hàng ở Việt Nam đến trước tháng 7/2000, do chưa có một định chế tài chính triển khai chính sách BHTG công khai theo đúng nghĩa của nó nên việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền có khó khăn nhất định Vì vậy, đã có những thời kỳ, đặc biệt trong giai đoạn xảy ra đổ vỡ Hợp tác xã (HTX) tín dụng vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX7, lòng tin của người gửi tiền và công chúng đối với các tổ chức huy động tiền gửi đã bị ảnh hưởng Sự ra đời của BHTGVN và hoạt động tích cực của tổ chức này thời gian qua đã và đang trở thành chỗ dựa quan trọng cho các tổ chức tín dụng trong việc củng cố, duy trì và nâng cao lòng tin của người dân và toàn xã hội trong việc mở rộng hoạt động huy động vốn
Như chúng ta đã biết, tiền gửi là “của cải” chủ yếu, thuộc sở hữu của số
đông dân cư, là lợi ích của nhiều tầng lớp trong xã hội Nhiều thành phần trong xã hội như vậy nên việc tiếp cận và phân tích thông tin về hoạt động của tổ chức huy động tiền gửi cũng phần nào bị hạn chế Khi có thông tin thất thiệt xảy ra họ thường có các động thái gây ra hiệu ứng dây chuyền, hiệu ứng đó có khả năng gây
đổ cả hệ thống khi nó xảy ra Chẳng hạn, khi có một thông tin đồn đại xấu về ngân hàng nào đó thì họ có thể ồ ạt rút tất cả tiền gửi tại ngân hàng này mặc dù nhu cầu
7 TS Phùng Văn Hùng, “ vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo vệ người gửi tiền và đảm
Trang 20chi tiêu chủ quan của họ chưa nhất thiết phải làm như vậy Hiện tượng rút tiền ồ ạt
vì một thông tin thất thiệt ở Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu tại Việt Nam trong tháng 10/2003 là một minh chứng cụ thể8 Các hiện tượng đó nếu không được xử lý kịp thời có thể là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ ngân hàng hàng loạt
Thứ hai, BHTG đảm bảo hệ thống tài chính – ngân hàng hoạt động lành mạnh, ổn định và ngăn chặn sự đổ vỡ của các TCTD thông qua các nghiệp vụ của bảo hiểm tiền gửi;
Cùng với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền thì việc đảm bảo hệ thống tài chính – ngân hàng hoạt động lành mạnh và ổn định cũng là một trong những vai trò quan trọng của BHTG
Trong nền kinh tế hiện nay, các ngân hàng luôn tìm mọi cách để thu hút khách hàng về phía mình bằng việc cố gắng mang lại lợi ích cao nhất cho người gửi tiền Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ ngày càng trở nên gay gắt và theo đó
sẽ dẫn đến nguy cơ đổ vỡ của các ngân hàng yếu kém do không huy động được nguồn vốn để kinh doanh Thông qua quỹ BHTG được hình thành từ vốn ngân sách nhà nước và phí đóng góp từ các tổ chức tham gia BHTG, tổ chức BHTG bảo đảm sự ổn định và an toàn của hệ thống tài chính bằng những nghiệp vụ sau:
+ Khi một tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn về tài chính, tổ chức BHTG sẽ thực hiện các biện pháp hổ trợ tài chính cần thiết nhằm giúp tổ chức tham gia BHTG đó thoát khỏi tình trạng khó khăn, trở lại hoạt động bình thường9 Các biện pháp hổ trợ tài chính sẽ được áp dụng khi tổ chức BHTG xét thấy tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn có thể dẫn đến chấm dứt hoạt động, và việc giải thể hay phá sản của tổ chức tham gia BHTG có ảnh hưởng đến sự an toàn của
hệ thống tài chính Nhờ những biện pháp hỗ trợ tài chính mà các tổ chức tham gia BHTG tránh được những đổ vỡ không cần thiết
+ Trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG hoạt động không hiệu quả, mất khả năng thanh toán, và đặc biệt là vẫn không thể khắc phục được tình trạng khó khăn sau khi đã tiếp nhận các biện pháp hổ trợ tài chính từ tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG bắt buộc phải giải thể hoặc phá sản để tránh ảnh hưởng đến
Trang 21hoạt động lành mạnh của các tổ chức tham gia BHTG khác trong cùng hệ thống tổ chức BHTG sẽ đứng ra chi trả tiền gửi kịp thời đến người gửi tiền, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền không bị ảnh hưởng và ngăn chặn việc rút tiền hàng loạt, tránh dẫn đến sự đổ vỡ dây chuyền của hệ thống ngân hàng
Từ đó đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả, góp phần củng cố và tăng cường uy tín của các ngân hàng
Thứ ba, bảo hiểm tiền gửi góp phần thúc đẩy huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển đất nước;
Bằng chức năng vốn có của mình, hoạt động BHTG tạo ra và củng cố niềm tin của người gửi tiền đối với các tổ chức huy động tiền gửi Trong mọi hoàn cảnh, tiền gửi của người dân luôn được đảm bảo thanh toán theo quy định của pháp luật
Do đó, nhờ có BHTG, việc gửi tiền tại các TCTD, các tổ chức huy động vốn khác ngày càng được dân người dân lựa chọn như là một trong những kênh sinh lời cho nguồn vốn nhàn rỗi Dù là ngân hàng hoạt động lâu năm, có quy mô hoạt động lớn hay các ngân hàng nhỏ mới thành lập, người dân đều tin tưởng chọn nó là nơi cất giữ tiền cho mình Nếu ngân hàng hoạt động hiệu quả, xác định mức lãi suất thỏa đáng, thủ tục rút tiền và gửi tiền nhanh gọn, đảm bảo an toàn tiền gửi cho người gửi tiền thì ngân hàng sẽ chiếm được ưu thế trong việc huy động tiền gửi của người dân Chính nhờ vậy mà hệ thống ngân hàng đã thực hiện được chức năng trung gian tài chính một cách tích cực Các TCTD, tổ chức huy động tiền gửi khác làm cầu nối giữa người cần vốn và người có vốn nhàn rỗi gửi tại các TCTD, các tổ chức huy động tiền gửi đó Với chức năng này, TCTD được xem như là người đi vay để cho vay, từ đó phân bổ các nguồn vốn một cách hợp lý nhằm giúp nền kinh
tế vận hành thông suốt và hiệu quả Điều này có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là đối với những nước có nhu cầu vốn phục vụ cho đầu tư phát triển cao, điển hình là Việt Nam
Thứ tư, BHTG tạo điều kiện tồn tại và phát triển đối với các tổ chức tín dụng có quy mô hoạt động nhỏ và mới thành lập;
Trong nền kinh tế thị trường, tổ chức kinh tế nào hoạt động hiệu quả, có ưu thế về quy mô vốn và các yếu tố hỗ trợ kỹ thuật khác cao hơn thì khả năng cạnh tranh cà thành công sẽ cao hơn Các tổ chức huy động tiền gửi cũng không ngoại
Trang 22lệ Các tổ chức huy động tiền gửi có uy thế về quy mô hoạt động, uy tín về bề dày phát triển sẽ tạo được niềm tin cho người gửi tiền, nhờ đó huy động vốn được dễ dàng hơn Ngược lại, các tổ chức huy động tiền gửi mới ra đời hoặc có quy mô nhỏ sẽ bị thiệt thòi do chưa tạo được vị thế Ngoài ra độ tin cậy của người gửi tiền cũng khác nhau giữ ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước với các ngân hàng thương mại cổ phần hoặc sở hữu tư nhân Do đó, trong quá trình chạy đua giành thị phần thì khách hàng thông thường lợi thế thuộc về các tổ chức tín dụng có quy mô và
uy tín lớn hoặc TCTD được bảo đảm hoạt động bởi nguồn ngân sách nhà nước Khi có hoạt động BHTG với quy định bắt buộc tham gia đối với các tổ chức huy động tiền gửi, thì người gửi tiền sẽ được bảo vệ dù họ gửi tiền ở bất cứ TCTD nào làm cho vị thế của các TCTD trên thị trường được thu hẹp bớt khoảng cách Người gửi tiền có thêm nhiều cơ hội lựa chọn TCTD mà họ tin tưởng, đánh giá trên những phương diện khác bên cạnh quy mô và uy tín miễn sao phù hợp với mục đích họ mong muốn đạt được với khoảng tiền họ sẽ gửi vào TCTD Khi đó các ngân hàng nhỏ và mới thành lập khi tham gia bảo hiểm tiền gửi sẽ có nhiều co hội thu hút được những nguồn vốn từ bên ngoài để đầu tư phát triển tổ chức mình
1.2 SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
Khái niệm về bảo hiểm tiền gửi đã được hình thành từ rất lâu trên thế giới Hoạt động tài chính – ngân hàng luôn gắn liền với sự nhạy cảm và tiềm ẩn rủi ro, chính vì vậy mỗi quốc gia cần phải có tổ chức đứng ra bảo vệ người gửi tiền trong trường hợp ngân hàng xảy ra đổ vỡ để ổn định tình hình an ninh xã hội Trong thực tế, khi các quốc gia chưa hình thành hệ thống bảo hiểm tiền gửi thì họ cũng
đã sử dụng hình thức “Bảo vệ ngầm” là việc “Ngân hàng Trung ương hoặc Chính
phủ có cam kết (không công khai) sẽ bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho nguười gửi tiền nếu có hiện tượng đóng của các ngân hàng hoặc ngân hàng đó không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền” 10 Tuy nhiên, việc bảo vệ ngầm đó không
thật sự mang lại lợi ích cho quốc gia cũng như không mang lại niềm tin của công
10 Lê Phương Trang, “Bảo hiểm tiền gửi: cái nhìn từ Mỹ tới Việt Nam” xem tại
http://www.saga.vn/view.aspx?id=9724
Trang 23chúng đối với hệ thống tài chính – ngân hàng, vì vậy hệ thống bảo hiểm công khai
đã ra đời
Việc bảo vệ tiền gửi công khai đầu tiên được thành lập ở Mỹ với tên gọi “
Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng” ở New York năm 1829 Theo đó,
người gửi tiền sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi khi ngân hàng đổ bể theo hợp đồng hoặc cam kết công khai Trách nhiệm trong chương trình này đề cập đến tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi Tiếp theo chương trình này từ năm 1831 đến năm 1858 các Bang: Vermont, Indiana, Michigan, Ohia và Iowa đã thành lập tổ chức BHTG và sự tham gia của các ngân hàng vào tổ chức BHTG là tự nguyện
Mục đích của chương trình này là:
Bảo vệ cộng đồng khi có ngân hàng đổ vỡ
Bảo vệ người gửi tiền cá nhân và người giữ các công cụ huy động tiền gửi Mặc dù trong thời gian đầu, tổ chức BHTG hoạt động tương đối hiệu quả nhưng cuối cùng các tổ chức BHTG này đã phải đóng của do những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, vào cuối những năm 1830 do sự ra đời của chính sách ngân hàng
tự do ở Mỹ đã tạo điều kiện cho một số lượng lớn ngân hàng rút khỏi tham gia BHTG;
Thứ hai, sự thành lập hệ thống ngân hàng quốc gia năm 1886 ở Mỹ cho
phép các ngân hàng Nhà nước các bang được chuyển thành ngân hàng quốc gia và những ngân hàng này có thể rút khỏi sự tham gia BHTG;
Thứ ba, thời kỳ thử nghiệm của hoạt động BHTG diễn ra ở Mỹ vào những
năm 1908 đến năm 1930 Cụ thể, từ năm 1908 đến năm 1917 ở Mỹ có 8 bang thành lập hệ thống BHTG Tuy nhiên, đến năm 1930 cả 8 bang này đều bị đóng của do điều kiện kinh tế suy thoái nên nhiều ngân hàng phải đóng của và dẫn đến các tổ chức BHTG cũng phải đóng của theo Theo các tài liệu nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, vào những năm 1930 các ngân hàng ở Mỹ hoạt động rất khó khăn và
Trang 24đỉnh cao là năm 1933 có đến 4000 ngân hàng bị đóng cửado suy thoái kinh tế11 Trong bối cảnh như vậy, để ứng phó với tình huống nhằm ổn định tình hình kinh
tế, chính trị thì Chính phủ cần phải bảo vệ tiển gửi của người dân, do đó Chính phủ Mỹ đã quyết định thành lập BHTG liên bang (FDIC) vào năm 1933 FDIC bắt đầu hoạt động vào ngày 1/1/1934 và sau đó nhanh chóng trở thành mô hình bảo hiểm tiền gửi công khai đầu tiên trên thế giới12
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của hệ thống tài chính – ngân hàng trên thế giới, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, nhu cầu
về bảo vệ người tiêu dung nói chung và người gửi tiền nói riêng là đòi hỏi tất yếu đặt ra cho bất kỳ Chính phủ nào Bởi lẽ, niềm tin của người gửi tiền rất quan trọng đối với sự an toàn và phát triển lành mạnh của hệ thống tài chính - ngân hàng trong thế giới hiện đại Với những ưu thế và tính chuyên nghiệp trong việc bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo sự ổn định của hoạt động tài chính - ngân hàng, hệ thống bảo hiểm tiền gửi công khai ngày càng phát triển trên thế giới Tính đến thời điểm hiện nay, có hơn hơn 90 quốc gia trên thế giới đã sử dụng hệ thống BHTG để công khai bảo vệ người gửi tiền Và xu hướng này vẫn tiếp tục tăng cao khi có nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển đã nhanh chóng thành lập hệ thống BHTG Châu Á là khu vực có nền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới hiện nay Điều này được thể hiện rõ trong biểu đồ thời gian một số nước hoặc vùng lãnh thổ của khu vực châu Á thành lập hệ thống BHTG
Thời gian thành lập hệ thống BHTG ở một số quốc gia13:
Trang 25hệ thống BHTG Như vậy, xu hướng hình thành hệ thống BHTG và chuyển đổi
mô hình ở khu vực châu Á ngày càng diển ra phổ biến và mạnh mẽ
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm tiền gửi tại Việt
Nam
Sự hình thành của BHTG Việt Nam (BHTGVN) liên quan trực tiếp đến bối cảnh trong nước và quốc tế
Trang 261.2.2.1 Bối cảnh trong nước
Vào khoảng những năm 1988 đến năm 1990 hàng loạt các hợp tác xã tín dụng bị đổ vỡ trên toàn quốc gây ra những bất ổn về kinh tế và chính trị14 Đặc biệt, niềm tin của dân chúng đối với hệ thống tài chính ngân hàng bị ảnh nghiêm trọng Lấy lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính ngân hàng trong bối cảnh như vậy yêu cầu quan trọng đặt ra để tránh tình trạng người dân có tiền tích lũy nhưng không gửi tại ngân hàng mà chọn phương thức cất giữ tài sản khác Những bất ổn trên đã ảnh hưởng đến quá trình huy động vốn phục vụ phát triển nền kinh tế Vì vậy, rút kinh nghiệm về sự kiện đó, khi triển khai mô hình Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) theo quyết định 390/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ, quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của QTDND đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn đã được ban hành (kèm theo Quyết định số 101/TCQD-
BH ngày 1/2/1994 của Bộ tài chính) Theo quyết định này Bảo Việt đã triển khai nghiệp vụ BHTG, đây là khởi đầu của chính sách BHTG tại nước ta
Tuy nhiên, hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện đã thể hiện những hạn chế về nhiều mặt như số lượng QTDND tham gia bảo hiểm ít chỉ có khoảng 162 quỹ (1995) chiếm 33,22% tổng số dư tiền gửi trong cả nước tại thời điểm đó Đến năm 1997 có 370 QTDND tham gia BHTG với số tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm là 322 tỷ VND Đối tượng tham gia BHTG thời điểm này chỉ hạn chế ở QTDND, còn các tổ chức có huy động tiền gửi khác không tham gia15
Hoạt động BHTG do Bảo Việt tiến hành không đảm bảo các điều kiện cho
sự thành công của một tổ chức BHTG như chức năng hạn chế (chỉ thực hiện chi trả tiền gửi khi tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ), việc tham gia BHTG là tự nguyện Vì vậy, hoạt động đó thiếu tính chuyên nghiệp và không đảm bảo các điều kiện hoạt động thành công của một tổ chức BHTG Trong khi đó, do thực hiện chính sách kinh tế mở, và nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường, hệ thống tài chính ngân hàng của nước phát triển mạnh mẽ và thực hiện đổi mới về nhiều mặt Chính điều đó cũng làm gia tăng rủi ro và yêu cầu kiểm soát rủi ro cũng như bảo vệ người gửi tiền là rất quan trọng Đứng trước hiện thực đó, Chính
Trang 27phủ đã ban hành Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 thành lập tổ chức BHTG nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự
ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng và đóng góp vào việc nâng cao niềm tin của công chúng Tổ chức BHTG chính thức đi vào hoạt động từ ngày 7/7/2000 Đây là tổ chức duy nhất triển khai hoạt động BHTG tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại BHTGVN là công cụ tài chính được Chính phủ sư dụng để thay mặt Chính phủ bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính ngân hàng16
1.2.2.2 Bối cảnh quốc tế
Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu Á năm 1997 không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế Việt Nam nhưng cũng tác động đến hoạt động ngân hàng Việt Nam Trong quá trình xử lý khủng hoảng tài chính ngân hàng thì BHTG là công cụ tài chính được một số Chính phủ ở Châu Á sử dụng hiệu quả trong việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cũng như lấy lại niềm tin công chúng Đồng thời, nhiều quốc gia nhìn nhận rằng nếu có tổ chức BHTG thì có thể tránh cho quốc gia của họ được những cuộc khủng hoảng tài chính Hơn thế nữa, cũng trong thời kỳ này xu hướng phát triển hệ thống BHTG trên thế giới phát triển mạnh mẽ và xu hướng đó cũng tác động đến Việt Nam
Với bối cảnh trong nước và quốc tế như trên, để bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo cho sự phát triển an toàn lành mạnh hoạt động ngân hàng tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững cần có một tổ chức chuyên nghiệp thực hiện các nghiệp
vụ BHTG Trong xu thế hội nhập sâu rộng với khu vực và trên thế giới, thị trường tài chính của nước ta có nhiều cơ hội để phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro
và thách thức Để hạn chế những rủi ro đó và bảo vệ được người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng thì sự ra đời của tổ chức BHTG là hết sức cân thiết, đáp ứng được yêu cầu khách quan của thị trường tài chính cũng như toàn bộ nền kinh tế Vì vậy, khoản 1 Điều 17, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 đã quy
định “Tổ chức tín dụng có trách nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn tiền gửi hoặc
bảo hiểm tiền gửi” Điều đó là cơ sở quan trọng để tổ chức BHTG ra đời Và điều
đó có thể khẳng định BHTGVN ra đời là sản phẩm của nền kinh tế thị trường
16
Nguyễn Trọng Nghĩa, “cơ chế xử lý đổ vỡ ngân hàng”, Thông tin Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Số 15
Trang 28Nhưng quy định tại Luật các tổ chức tín dụng 1997 chỉ mang tính khuyến khích, không bắt buộc các tổ chức huy động tiền gửi phải bắt buộc tham gia Luật sửa đổi một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2004 không đề cập đến vấn đề sửa đổi nội dung liên quan về bảo hiểm tiền gửi, vẫn giữ quy định trong Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 Đến khi Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được ban hành, quy định về bảo hiểm tiền gửi mới được đề cập cụ thể tại Khoản 1, Điều 10
Luật quy định “ Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách
nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật
và công bố công khai việc tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi tại trụ sở chính và chi nhánh” Có nghĩa là, hiện nay việc tham gia BHTG đã trở thành bắt
buộc đối với tất cả các tổ chức huy động tiền gửi với mục tiêu được khẳng định
chính thức tại Luật BHTG: “Hoạt động BHTG nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng”17 Qui định này hoàn toàn phù hợp với khuyến nghị của Bộ nguyên tắc cơ bản để Phát triển hệ thống Bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của IADI (Nguyên tắc 1 – Xác định mục tiêu) là mục tiêu chính sách công cần được quy định rõ ràng và chính thức tại các
văn bản có giá trị pháp lý cao nhất
Sau khi tổ chức BHTG được thành lập và đi vào hoạt động thì ngày 28/11/2002, Văn phòng Chính phủ đã ban hành công văn số 6634/VPCP-QHQT thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ cho phép BHTGVN tham gia làm thành viên của của Hiệp hội BHTG Quốc tế (IADI) BHTGVN cũng là thành viên Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Hiện nay BHTGVN thực hiện bảo hiểm cho hơn 1000 tổ chức tham gia BHTG, Ngân hàng nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp đối với BHTGVN
1.3 SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1.3.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với bảo hiểm tiền
Trong xu thế phát triển của thị trường tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, việc tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm đảm bảo một hệ thống
17 Điều 3 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
Trang 29pháp luật đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi cho các định chế tài chính hoạt động hiệu quả là một yêu cầu khách quan Cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam và sự ra đời tổ chức bảo hiểm tiền gửi được quy định tại
Khoản 1 Điều 17 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 “Tổ chức tín dụng có trách
nhiệm tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi; mức bảo toàn hoặc bảo hiểm do Chính phủ quy định”.18
Để triển khai qui định này, kể từ năm 1999 Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động Bảo hiểm tiền gửi phát triển Luật Bảo hiểm tiền gửi được ban hành xuất phát từ sự cần thiết phải hoàn thiện hơn nữa các quy định về nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi; nâng cao giá trị pháp lý của các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và bảo đảm cho các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi được điều chỉnh bằng văn bản Luật Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm tiền gửi được thông qua sẽ xác định rõ vị trí của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam nhằm tránh chồng chéo nhiệm vụ với các cơ quan khác; xác định rõ
cơ quan quản lý nhà nước và nội dung quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi để hoạt động bảo hiểm tiền gửi đạt hiệu quả cao hơn
Luật Bảo hiểm tiền gửi được ban hành tạo thành chỉnh thể thống nhất, đồng
bộ với các Luật có liên quan đến hoạt động tiền tệ, ngân hàng đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới trong thời gian vừa qua như Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010
Đồng thời, việc ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi là rất cần thiết để khắc phục những bất cập của quy định pháp luật bảo hiểm tiền gửi hiện hành, nâng cao giá trị pháp lý của pháp luật bảo hiểm tiền gửi, giúp cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi hoạt động hiệu quả hơn, nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Để hệ thống tài chính – ngân hàng phát triển và thông qua đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, cũng như nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính – ngân hàng thì việc ban hành pháp luật về
18
Công tác triển khai thực hiện Luật Bảo hiểm tiền gửi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam DIV xem tại:
Trang 30bảo hiểm tiền gửi là hết sức cân thiết Việc ban hành pháp luật về bảo hiểm tiền gửi mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện tại, nhất là trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới thì việc được trang bị một hành trang pháp lý ổn định tạo nên
cơ hội phát triển vững chắc trên trường quốc tế
1.3.2 Giới thiệu nội dung điều chỉnh của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Về chủ thể trong mối quan hệ BHTG
Luật BHTG quy định tổ chức có chức năng huy động tiền gửi gồm có: Tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Các tổ chức này bắt buộc phải tham gia BHTG Chủ thể được BHTG là cá nhân
có gửi tiền tại tổ chức tham gia BHTG19 Với mục tiêu bảo vệ những người gửi tiền nhỏ, lẻ, thiếu thông tin đồng thời cũng để khắc phục những hạn chế của quy định pháp luật về chủ thể được BHTG, Luật BHTG quy định không bảo hiểm cho tiền gửi của hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh
Quyền và nghĩa vụ của người gửi tiền được bảo hiểm
Đây là một điểm mới của Luật Bảo hiểm tiền gửi so với cơ sở pháp lý trước đây Nếu như trong cơ sở pháp lý trước đây quyền và nghĩa vụ của người gửi tiền được bảo hiểm chưa được qui định một cách trực tiếp thì trong Luật vừa được thông qua, quyền và nghĩa vụ của người gửi tiền đã được qui định rõ ràng thành một điều riêng (Điều 11) Cụ thể, người được bảo hiểm tiền gửi có quyền được bảo hiểm số tiền gửi của mình tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi; được nhận tiền bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn; được yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, chế độ về bảo hiểm tiền gửi; được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật Nghĩa vụ của người được bảo hiểm là cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin về tiền gửi theo yêu cầu của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi khi thực hiện thủ tục trả tiền bảo hiểm
Tiền gửi được bảo hiểm
19
Điều 18, Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
Trang 31So với cơ sở pháp lý trước đây, Luật Bảo hiểm tiền gửi tiếp tục chính sách bảo hiểm cho tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân dưới nhiều hình thức Tuy nhiên, Luật Bảo hiểm tiền gửi không tiếp tục bảo hiểm cho tiền gửi hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Hạn mức BHTG
Về hạn mức bảo hiểm tiền gửi, Luật qui định “Thủ tướng Chính phủ quy
định hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ 20” Việc không qui định hạn mức Bảo hiểm tiền gửi bằng mức cụ thể mà giao cho Thủ tướng Chính phủ quy định như trong Luật Bảo hiểm tiền gửi là hợp
lý vì việc điều chỉnh một quy định của Luật là rất phức tạp, trong khi hạn mức bảo hiểm tiền gửi là yếu tố cần được điều chỉnh khá linh hoạt phù hợp với từng thời kỳ đặc biệt là những giai đoạn xảy ra khủng hoảng Hiện nay, hạn mức được áp dụng
là 50 triệu đồng theo Nghị định 109/2005/NĐ-CP
Thời điểm trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền
Luật BHTG quy định rõ thời điểm tổ chức BHTG có nghĩa vụ trả tiền cho người gửi tiền, cụ thể là: “Nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vẫn lâm vào tình trạng phá sản hoặc Ngân hàng Nhà nước có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền.”21Có nghĩa là một nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm của tổ chức BHTG phát sinh khi tổ chức tham gia BHTG không còn khả năng thanh toán, lâm vào tình trạng phá sản hoặc là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấm dứt hoạt động (Ngân hàng Nhà nước)
Trang 32ngân hàng Việt Nam cả về số lượng và trình độ trong những năm vừa qua, áp dụng
hệ thống phí đồng hạng không còn phù hợp với thực tiễn Luật BHTG qui định:
“Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí bảo hiểm tiền gửi theo đề nghị của
Ngân hàng Nhà nước Căn cứ vào khung phí bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này”22 Như vậy, qui định về phí bảo hiểm tiền gửi của Luật Bảo hiểm tiền gửi mới thông qua đã kế thừa qui định tiến bộ về phí bảo hiểm tiền gửi của Nghị định 109/2005/NĐ-CP làm nền tảng cho việc áp dụng hệ thống phí điều chỉnh theo rủi ro trong thời gian tới
Về mô hình tổ chức và quản lý Nhà nước về tổ chức BHTG
Về bản chất, tổ chức BHTG là định chế tài chính công với hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng - bảo hiểm, có nhiệm vụ góp phần bảo đảm sự ổn định của thị trường tài chính nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng Trên thực tế, từ năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập BHTGVN với tư cách là một tổ chức tài chính nhà nước nhưng chưa giao cụ thể
cơ quan thay mặt Chính phủ quản lý nhà nước về BHTG Vì vậy, để bảo đảm sự phù hợp với bản chất của tổ chức BHTG, quy định của pháp luật hiện hành và xác định rõ đại vị pháp lý của tổ chức BHTG, Luật BHTG quy định tổ chức BHTG do Thủ tướng Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ (Điều 29) Luật BHTG đã xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về BHTG là Ngân hàng Nhà nước (Khoản
2 Điều 8), đồng thời xác định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về BHTG của Ngân hàng Nhà nước (Điều 9), Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thực hiện chức năng thanh tra về BHTG (Điều 35) Ngoài ra, BHTGVN chịu sự quản lý Nhà nước của các bô, ngành liên quan đối với các lĩnh vực thuộc phạm quản lý như: Bộ Tài chính, Bộ Lao động
Về mô hình hoạt động của tổ chức BHTG
Kế thừa các quy định hiện hành, bên cạnh việc ghi nhận đầy đủ chức năng giám sát, kiểm tra và cảnh báo sớm của tổ chức BHTG, Luật BHTG đã quy định
22
Khoản 1,2 Điều 20, Luật Bảo hiểm tiền gửi
Trang 33cụ thể hơn trong việc tổ chức BHTG được quyền theo dõi, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về BHTG, kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xử lý hành vi vi phạm quy định của pháp luật về BHTG23; có thể tham gia vào quá trình giám sát
từ xa trên cơ sở thông tin về tổ chức tham gia BHTG nhằm phát hiện và kiến nghị Ngân hàng Nhà nước xử lý kịp thời những vi phạm quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống ngân hàng24 Mặt khác, Luật BHTG quy định tổ chức BHTG tham gia quá trình kiểm soát đặc biệt, tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG theo quy định của Chính phủ,
do vậy cũng đảm bảo cho BHTGVN thực hiện tốt chức năng bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và xác định rõ giới hạn của BHTGVN trong việc bảo đảm an toàn
hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia25 Mặt khác, để thực hiện tốt chức năng, nhiệm
vụ của mình, tổ chức BHTG phải được chia sẻ, cung cấp thông tin cần thiết về các
tổ chức tham gia BHTG
Quan hệ giữa tổ chức BHTG và cơ quan giám sát
Luật BHTG quy định về nguyên tắc mối quan hệ giữa tổ chức BHTG và các cơ quan giám sát Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý về BHTG; Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về BHTG; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Ngân hàng Nhà nước thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi;
Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi tại địa phương Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả thi hành Luật và đảm bảo an toàn, lành mạnh hệ thống ngân hàng, mối quan hệ và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong mạng an toàn tài chính cần được quy định rõ rang trong các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
Tóm lại, từ những phân tích, so sánh giữa BHTG và dịch vụ bảo hiểm
thông thường cho thấy BHTG là một tổ chức tài chính Nhà nước đặc biệt, không hoạt động vì mục đích lợi nhuận nhưng với mục tiêu bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm cho hoạt động của các tổ chức tài chính trong nước được diễn ra một
23
Khoản 9 Điều 13 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
24 Khoản 10 Điều 13 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
Trang 34cách an toàn và lành mạnh Với sự phát triển của dịch vụ BHTG trên thế giới, Việt Nam cũng đánh dấu sự phát triển của mình bằng việc có sự ra đời của Luật Bảo hiểm tiền gửi Luật ra đời tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức BHTG phát triển, tạo nên
xu thế hội nhập giữa tổ chức BHTG Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới Nhưng quan trọng hơn hết là thông qua vai trò của BHTG cộng với việc Luật ra đời sẽ nâng cao niềm tin của người gửi tiền nơi các tổ chức tham gia BHTG và cho hệ thống tài chính – ngân hàng của Quốc gia
Trang 35CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI TẠI
2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Trong mối quan hệ pháp luật về BHTG chúng ta có ba chủ thể chính có mối quan hệ với nhau
- Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV);
- Tổ chức tham gia BHTG;
- Người được bảo hiểm tiền gửi
2.1.1 Quy định pháp luật về tổ chức bảo hiểm tiền gửi
2.1.1.1 Vị trí pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Trước đây Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg quy định BHTGVN là tổ chức tài chính do Chính phủ thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận
Điều 5 Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 09 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi (Sau đây gọi chung là Nghị định 89/1999/NĐ-CP) xác định, tổ chức
BHTG tự “bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí”, “có tư cách pháp nhân, có
bảng cân đối riêng, được mở tài khoản tại các ngân hàng trong nước và ngoài nước, có con dấu, được nhà nước cấp vốn điều lệ, được miễn nộp các loại thuế”
Trang 36Đối với quy định này có thể hiểu tổ chức BHTG hoạt động đầu tiên trên số vốn điều lệ mà Nhà nước cung cấp, sau đó bằng một trong những nghiệp vụ cơ bản của mình tổ chức BHTG tiến hành hoạt động thu phí của tổ chức tham gia BHTG Trên số vốn Nhà nước cung cấp và số tiền thu được từ hoạt động thu phí của tổ chức tham gia bảo hiểm tổ chức BHTG có thể mở tài khoản tiết kiệm, tài khoản thanh toán,…để có thể tăng thêm nguồn thu cho tổ chức hoặc phục vụ cho hoạt động thanh toán của tổ chức Nhưng trên hết các hoạt động này tổ chức BHTG phải đảm bảo an toàn cho nguồn vốn đó và phải tự mình bù đắp cho những khoản chi phí trong hoạt động của tổ chức thông qua việc xây dựng bản cân đối kế toán của riêng mình để từ đó điều chỉnh nguồn thu và chi phí cho hợp lý Tư cách pháp nhân giúp cho tổ chức có được thuận lợi trong các hoạt động của mình: hoạt động thu phí hoặc mở tài khoản và những hoạt động khác của tổ chức
Kế thừa tinh thần đó, Điều 29 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 quy định “Tổ
chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính do Thủ tướng Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là pháp nhân, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí” Từ
quy định này, vị trí pháp lý của tổ chức BHTG được hình dung như sau:
- BHTGVN là một tổ chức tài chính của Nhà nước, được thành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu của chính sách công, thay mặt Chính phủ đứng
ra chi trả tiền gửi cho người dân, góp phần đảm bảo sự lành mạnh của hoạt động ngân hàng và bình ổn thị trường tài chính Tổ chức BHTG không phải
là một tổ chức kinh tế (do không có chức năng kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận), cũng không phải là cơ quan quản lý nhà nước, lại càng không phải
là tổ chức xã hội mà tổ chức BHTG là một tổ chức tài chính Nhà nước, là công cụ đặc biệt để Chính phủ quản lý hệ thống tài chính – ngân hàng Hoạt động của tổ chức BHTG là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà phục vụ cho lợi ích xã hội, lợi ích của cộng đồng thông qua việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người gửi tiền và đảm bảo cho sự phát triển an toàn của hệ thống tài chính quốc gia
- Thủ tướng Chính phủ là đứng ra thành lập và quy định các quyền hạn cũng như nghĩa vụ cho tổ chức BHTG Thủ tướng Chính phủ quản lý tổ chức BHTG thông qua vai trò của Ngân hàng Nhà nước qua các hoạt động hoạt
Trang 37động kiểm tra, thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước26; thông qua những báo cáo tổng hợp, những phân tích và xử lý thông tin về tổ chức tham gia bảo hiểm do tổ chức BHTG báo cáo nhằm xử lý những vi phạm quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống ngân hàng27; và thông qua việc hỗ trợ tài chính đối với các tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn trong vấn đề thanh toán
- Tổ chức BHTG là một tổ chức có tư cách pháp nhân, chứng minh bằng việc
và thu hồi nợ của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản,…”29 Các mục tiên chính sách công như hạn chế rủi ro, tránh đỗ vỡ hệ thống ngân hàng hoặc khủng hoảng tài chính, gia tăng niềm tin của công chúng đối với tổ chức nhận tiền gửi…cũng có thể đạt được Mặc dù đã được mở rộng một số chức năng, nhưng bản chất mô hình này vẫn mang tính chi trả Các chức năng khác tuy vậy vẫn còn hạn chế và chưa được chú trọng phát triển Cùng với hoạt động của mình, mô hình này cho thấy tổ chức BHTG hoàn toàn có tư cách pháp nhân
Ngoài mô hình BHTG “ Chi trả với quyền hạn mở rộng” chúng ta còn có thể tham khảo hai (02) mô hình hoạt động của BHTG dưới đây:
26
Khoản 3 Điều 13 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
27
Khoản 9 Điều 13 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
28 Điều 84 Bộ Luật dân sự 2005
Trang 38- Mô hình chi trả: với mục tiêu chính bảo vệ sự an toàn tài sản của người gửi tiền thông qua việc hình thành cơ chế bồi thường30
- Mô hình giảm thiểu rủi ro: Với mô hình giảm thiểu rủi ro, tổ chức BHTG có thể phát huy một cách tối đa các chức năng và vai trò vốn có của BHTG đối với đời sống kinh tế - xã hội Nói cách khác, hoạt động theo mô hình giảm thiểu rủi ro, tổ chức BHTG sẽ hoạt động theo cơ chế thị trường Mô hình nay có một số nghiệp vụ nổi trội hơn so với 2 mô hình trước như: can thiệp sớm trong việc lựa chọn giải pháp và triển khai hổ trợ tài chính; ngăn ngừa khủng hoảng tài chính quốc gia; tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ tiếp nhận, xử lý tổ chức tham gia BHTG bị phá sản và một số chức năng khác
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Theo khoản 1 Điều 29 Luật Bảo hiểm tiền gửi và quy định trước đó tại
Nghị định 109/2005/NĐ-CP quy định “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài
chính do Thủ tướng Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ” Như
vậy, với trách nhiệm của mình Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ cấu tổ chức của BHTG thông qua Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28 tháng 6 năm 2000 về việc phê duyệt điều lệ về tổ chức và hoạt động của bảo hiểm tiền gửi (Sau đây gọi chung là Quyết định 75/2000/QĐ-TTg) Cụ thể,
Điều 10 Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg Việt Nam quy định: “Bộ máy tổ chức
của BHTGVN gồm có Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và bộ máy điều hành gồm Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc”
Theo Điều 10 Quyết định này chúng ta có cơ cấu tổ chức cụ thể như sau:
- Hội đồng quản trị là bộ phận thực hiện chức năng cao nhất của BHTGVN,
chịu trách nhiệm quản trị về hoạt động hàng năm của BHTGVN, quyết định các vấn đề quan trọng của tổ chức Hội đồng quản trị của tổ chức BHTGVN hiện nay
có 4 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Hội đồng quản trị được thành lập bộ phận giúp việc cho các thành viên Hội đồng quản trị kiêm nhiệm31
30 Đinh Sỹ Dũng “ Địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam” xem tại www.vnba.org.vn
31
Điều 14 Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg
Trang 39- Ban điều hành của BHTGVN bao gồm Tổng giám đốc và bộ máy giúp
việc Tổng giám đốc là đại diện theo pháp luật của BHTGVN, được Chính phủ bổ nhiệm dưới sự đề nghị của Thống đốc NHNN, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về điều hành hoạt động của BHTGVN32 Bộ máy giúp việc gồm văn phòng, các ban, phòng chuyên môn, nghiệp vụ, có chức năng tham mưu, giúp Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành công việc Ban điều hành có chức năng tổ chức điều hành tổ chức BHTG, thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ Hội đồng quản trị đề ra; xây dựng chiến lược phát triển về BHTG cùng các chức năng, nhiệm vụ khác33
- Ban kiểm soát được thành lập bởi Hội đồng quản trị nhằm giúp Hội đồng
quản trị thực hiện việc giám sát, kiểm tra mọi hoạt động của BHTGVN Ban Kiểm soát có 03 thành viên chuyên trách và một số thành viên kiêm nhiệm khác Ngoài trưởng ban, các thành viên khác của Ban kiểm soát do Chủ tịch Hội đồng quản trị
bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở đề nghị của Trưởng ban Kiểm soát Nhiệm vụ chính của Ban kiểm soát là kiểm tra, giám sát việc chấp hành chủ trương, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và pháp luật trong hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam nhằm mục đích nâng cao ý thức trách nhiệm của tổ chức BHTG và nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của tổ chức, bảo đảm an toàn tài sản của Nhà nước, quyền lợi của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi34;
Giữa các cơ quan trong bộ máy của tổ chức BHTG luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Hội đồng quản trị quyết định những vấn đề quan trọng nhất của
tổ chức, Ban điều hành triển khai những quyết định đó cùng với việc điều hành phát triển tổ chức, Ban kiểm soát là cơ quan khách quan kiểm tra tính trung thực cùng việc thực hiện các quy định của pháp luật, các quy định của Hội đồng quản trị để báo cáo kết quả với Hội đồng quản trị Thông qua kết quả kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát, Hội đồng quản trị có những đánh giá đúng đắn và kịp thời về
sự phát triển của tổ chức, để từ đó có những quyết định giúp tổ chức hoạt động ngày càng hiệu quả và ngày càng phát triển Để có được cái nhìn cụ thể hơn về tổ
Trang 40chức BHTG và thấy được sự gắn kết mật thiết giữa các cơ quan, chúng ta có thể
cụ thể cơ cấu hoạt động của tổ chức thông qua mô hình sau35:
35 Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV)