Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan ðể hiểu rõ hơn tình hình phân ñịnh biên giới của nước ta trong thời gian qua, ñặc biệt là vấn ñ
Trang 1TRƯỜNG ðẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
- -
Luận Văn Tốt Nghiệp
ðề tài:
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM
VỀ VẤN ðỀ PHÂN ðỊNH BIỂN VỚI CÁC QUỐC GIA HỮU QUAN
LỚP: LUẬT THƯƠNG MẠI 02-K31
Cần Thơ, 04/ 2009
Trang 2Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
- -………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
- -
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
LỜI CẢM TẠ
- - Sau bốn năm học tại Khoa Luật – Trường ðại Học Cần Thơ, ñược sự tận tình giảng dạy, truyền ñạt kiến thức cũng như giáo dục ñạo ñức nghề nghiệp của quý thầy
cô trong Khoa, trong Trường Nay tôi ñã hoàn thành chương trình giáo dục ñại học của mình bằng luận văn tốt nghiệp với ñề tài “Pháp luật quốc tế và Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan” này
Bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi ñã nhận ñược sự hướng dẫn tận tình của thầy Kim Oanh Na ñể hoàn thiện ñược bài luận văn này
Nay tôi xin chân thành giử lời cảm ơn ñến:
- Thầy Kim Oanh Na, giáo viên ñã tận tình hướng dẫn tôi trong qua trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
- Quý thầy cô trong Khoa Luật cũng như các khoa khác trong Trường ðại Học cần Thơ ñã tạo nền tảng kiến thức cho tôi trong bốn năm qua
- Thư viện Khoa Luật, Thư viện Thành phố Cần Thơ ñã giúp tôi có ñược những tài liệu tham khảo có giá trị ñáp ứng cho việc thực hiện dề tài này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện:
Võ Thị ðậm Tiên
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ðẦU - 01
1 Tính cấp thiết của ñề tài - 01
2 Mục ñích nghiên cứu và ý nghĩa của ñề tài - 02
3 Phạm vi nghiên cứu - 02
4 Phương pháp nghiên cứu - 02
5 Kết cấu tiểu luận - 02
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂN VÀ VẤN ðỀ PHÂN ðỊNH BIỂN - 03
1.1 Biển và khái quát chung về biển - 03
1.1.1 Biển và ñại dương thế giới - 03
1.1.2 Biển cả - 04
1.1.3 Biển Việt Nam - 05
1.2 Sự cần thiết của việc phân ñịnh biển - 07
1.3 Khái quát luật lệ quốc tế về biển và phân ñịnh biển - 10
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG ðỀ XUẤT PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VỀ PHÂN ðỊNH BIỂN - 14
2.1 Nguyên tắc và phương pháp về phân ñịnh biển - 14
2.1.1 Các nguyên tắc về phân ñịnh biển - 14
2.1.2 Các phương pháp về phân ñịnh biển - 16
2.2 Luật quốc tế về biển và phân ñịnh biển - 23
2.2.1 Nội thủy - 26
2.2.2 Lãnh hải - 26
2.2.3 Tiếp giáp lãnh hải - 28
2.2.4 ðặc quyền kinh tế - 29
2.2.5 Thềm lục ñịa - 30
2.2.6 Vùng biển quốc tế - 31
2.2.7 Vùng (ñáy biển và lòng ñất dưới ñáy biển) - 32
2.3 Việt Nam và vấn ñề phân ñịnh biển - 32
2.3.1 Các cơ sở pháp lý về biển và phân ñịnh biển của Việt Nam - 32
Trang 6Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
2.3.2 Việt Nam và vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan - 38
2.4 Những tồn tại và hướng ñề xuất - 56
KẾT LUẬN - 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 66
Trang 7LỜI NÓI ðẦU -
1 Tính cấp thiết của ñề tài
Lãnh thổ quốc gia là vấn ñề rất thiêng liêng và vô cùng quan trọng ñối với mỗi dân tộc Nó là nền tảng vật chất cho quốc gia tồn tại và phát triển, là một phần của trái ñất trong ñó chủ quyền của quốc gia ñược thực hiện Lãnh thổ quốc gia không chỉ có ý nghĩa quan trọng với bản than quốc gia, mà nó còn là ý tố không thể thiếu trong quan
hệ quốc tế Một trong bốn yếu tố cơ bản ñầu tiên ñể quốc gia ñược cộng ñồng quốc tế thừa nhận trong sinh hoạt quốc tế ñó phải có lãnh thổ (lãnh thổ, dân số, chính quyền ñiều hành, có khả năng tham gia quan hệ quốc tế), lãnh thổ này phải ñược xác ñịnh cụ thể theo các quy ñịnh của luật quốc tế ñể mỗi quốc gia ñược tự do thực hiện chủ quyền của mình trên lãnh thổ và ñồng thời ñể các quốc gia khác biết và tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của quốc gia mình
ðể xác ñịnh ñược lãnh thổ quốc gia thì vấn ñề ñầu tiên là phải xác ñịnh ñược biên giới quốc gia Có thể nói lãnh thổ quốc gia và biên giới quốc gia là hai yếu tố gắn
bó chặt chẽ với nhau “như hình với bóng” Tất cả các quốc gia ñều mong muốn có ñược một ñường biên giới dứt khoát và ổn ñịnh về mặt pháp lý cũng như thực tiễn với các quốc gia láng giềng, do ñó mỗi quốc gia ñều xác ñịnh vấn ñề biên giới là vấn ñề trọng ñại của quốc gia
Việc xác ñịnh biên giới quốc gia thông qua công tác phân ñịnh với các nước láng giềng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và bức thiết ñối với mỗi quốc gia dân tộc Nó không những tạo sự thống nhất về mặt pháp lý và thực tiễn ñể khẳng ñịnh phạm vi chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia ñối với cộng ñồng quốc tế mà còn tạo ñiều kiện thuận lợi ñể giữ vững an ninh biên giới, phát triển kinh tế vùng biên giới ñặc biệt là khai thác các tài nguyên tại khu vực biên giới, ổn ñịnh xã hội… Chính vì tính cấp thiết, tầm quan trọng cũng như lợi ích của việc phân ñịnh biên giới ñã thúc ñẩy các quốc gia có chung ñường biên giới ñẩy nhanh qua trình ñàm phán, ký kết, phân ñịnh biên giới với nhau và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung ñó
Trong thời gian qua, ðảng và Chính phủ ta ñã, ñang và sẽ tiếp tục tiến hành phân ñịnh biên giới với các nước láng giềng ñể hoàn thiện hóa ñường biên giới về mặt pháp lý cũng như thực tiễn với mục ñích tạo ñiều kiện thuận lợi cho việc giữ vững an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế, ổn ñịnh ñời sống xã hội cho nhân dân
Trang 8Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
ðể hiểu rõ hơn tình hình phân ñịnh biên giới của nước ta trong thời gian qua, ñặc biệt là vấn ñề phân ñịnh biển cũng như hướng tiến triển tiếp theo của công tác phân ñịnh trong thời gian tới, tôi ñã chọn ñề tài “Pháp luật quốc tế và Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan” ñể làm luận văn tốt nghiệp Với mong muốn có ñược sự ñánh giá chính xác nhất về thực trạng phân ñịnh biển của Việt Nam
ñể từ ñó thấy ñược những thành tựu và tồn tại của công tác phân ñịnh mà có những ý kiến ñóng góp mang tính tham khảo cho các nhà hoạch ñịnh biên giới ñể sớm hoàn thiện ñường biên giới trên biển của nước ta về mặt pháp lý cũng như thực tiễn
2 Mục ñích nghiên cứu và ý nghĩa của ñề tài
Việc nghiên cứu ñề tài này nhằm mục tiêu là tìm hiểu và phân tích các văn bản pháp lý liên quan ñến vấn ñề phân ñịnh biển ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay Thông qua việc nghiên cứu ñề tài, từ ñó phát hiện những vướng mắc, khó khăn mà công tác phân ñịnh ñang gặp phải cũng như trong quá trình áp dụng các văn bản pháp luật về phân ñịnh biển ðồng thời, ñưa ra những ý kiến ñóng góp cũng như rút ra những kết luận,ñánh giá nhằm hoàn thiện vấn ñề phân ñịnh biển của Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu
Do kiến thức khoa học còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều, mặt khác ñây là một ñề tài mang tính ñặc thù nên tôi chỉ nghiên cứu xoay quanh những vấn ñề cơ bản của ñề tài các vản bản pháp luật Việt Nam và quốc tế về vấn ñề phân ñịnh biển, do
dó không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận ñược sự ñóng góp ý kiến của quý thầy cô, các bạn sinh viên và bạn ñọc ñể ñề tài ñược hoàn thiện hơn
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp ñược dùng trong luận văn này là phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp so sánh ðồng thời, dựa trên những quy ñịnh của pháp luật hiện hành về vấn ñề phân ñịnh biển của quốc gia và quốc tế ñể làm sáng tỏ ñề tài nghiên cứu
5 Kết cấu tiểu luận
Lời nói ñầu
Chương 1 Cơ sở lý luận về biển và vấn ñề phân ñịnh biển
Chương 2 Thực trạng và hướng ñề xuất pháp luật quốc tế và Việt Nam về phân ñịnh biển
Kết luận
Trang 9CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂN VÀ VẤN ðỀ PHÂN ðỊNH BIỂN
1.1 BIỂN VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỂN
Về phương diện phạm vi ñịa lý, biển là toàn bộ vùng nước biển của Trái ñất với tất cả những gì có trong ñó Biển của một quốc gia có thể ñược hiểu là một vùng của biển, ñại dương và trải rộng từ bờ biển và các hải ñảo cho tới ranh giới trên biển ñược thoả thuận hoặc tới giới hạn 200 hải lý của vùng ñặc quyền kinh tế hoặc tới ranh giới ngoài cùng của thềm lục ñịa của quốc gia ñó1
Phân tích ñịnh nghĩa trên cho thấy, biển là vùng tại ñó con người khai thác các tài nguyên sinh vật và không sinh vật, là nơi ñược sử dụng ñể giao tiếp, nghỉ ngơi, giải trí và trút bỏ chất thải và ñó là nơi ñóng một vai trò cơ bản trong việc duy trì các ñiều kiện sống trên trái ñất Biển là hệ thống tại ñó các quá trình lý, hóa, sinh tương tác
và hoạt ñộng ñảm bảo cân bằng hệ sinh thái ñộng thực vật biển và ñảm bảo cho các mục ñích sử dụng biển khác nhau của con người
Biển bao gồm không chỉ các vùng biển với các ñặc trưng lý hóa của chúng
mà còn cả các nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật của vùng cửa sông, các vùng ngập mặn bao gồm cả trầm tích, các vùng thủy triều lên xuống, các vùng ñầm lầy, bãi triều, ñất ướt… Trong khi biển cả là thành phần chính của môi trường biển và cần ñược giữ gìn, thì sự quan tâm tới các vùng ñó cũng không thể bỏ qua Bất kỳ một
sự suy thoái nào trong các vùng cửa sông, ñầm phá, ven biển hay phát triển không có kiểm soát, ñều có thể tác ñộng xấu tới toàn bộ hệ thống biển
Biển và ñại dương cũng không nên ñược xem là một thực thể ñộc lập vì chúng cũng tương tác với bầu khí quyển ở trên biển, với ñáy biển và với các lục ñịa mà
từ ñó có các chất liệu ñổ vào biển Xét trên khía cạnh này, ñịnh nghĩa biển có thể ñược
mở rộng, ñể ñáp ứng ñược yêu cầu ñánh giá các nguồn gây ô nhiễm biển, các tác nhân làm suy thoái hoặc hủy hoại biển
Biển và ñại dương thế giới chiếm 71% diện tích trái ñất ðể dễ hình dung, nếu ñem trải 1,5 tỷ km khối nước của ñại dương lên bề mặt trái ñất ta một lớp nước bao bọc dày trung bình km khối Biển ñược cấu tạo từ ba thành phần ñược quan tâm nhiều: Khối lượng nước có nhiều tài nguyên sinh vật quý giá cũng như các tài nguyên không
1
TS Nguyễn Hồng Thao, Bảo vệ môi trường biển vấn ñề và giải ñáp, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2004.
Trang 10Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ựề phân ựịnh biển với các quốc gia hữu quan
sinh vật hoà tan trong nước biển (trên 40 thành phần hoá chất trong nước biển); thềm lục ựịa chứa 90% trữ lượng dầu khắ ngoài khơi; ựáy ựại dương và các dãy núi ựại dương nơi chứa ựựng các quặng ựa kim2
Sản lượng ựánh bắt cá biển của thế giới từ những năm 1990 là vào khoảng
90 triệu tấn/năm Sản lượng sản xuất thực vật biển khoảng 300 tỷ tấn/năm, trong ựó ựộng vật ăn cỏ tiêu thụ 70 tỷ tấn, con người tiêu thụ trực tiếp 250 - 300 triệu tấn Tài nguyên không sinh vật của biển có thể chia làm ba loại: các tài nguyên của ựáy biển và lòng ựất dưới ựáy biển: cát, sỏi, san hô, trai ngọc, than, dầu khắ,Ầ; Các tài nguyên do các dòng sông và hiện tượng xói lở của bờ biển ựưa ra biển như các hạt khoáng sản hoặc các bụi kim loại có nguồn gốc từ ựất liền; các hoá chất kết tủa của biển như muối, các á kim và các quặng ựa kim Các quặng ựa kim này lần ựầu tiên ựược tàu nghiên cứu Challenger pháp hiện tại ựộ sâu 3.000 mét vào năm 1872 Ờ 1876 đánh giá trữ lượng hiện nay vào khoảng 60.000 km2 trong một số vùng của Thái bình Dương Các quặng này chứa ựồng, côban, titan, nhưng phần lớn là sắt và mangan Vì vậy, là ựối tượng tranh giành vào năm 1970, ngày nay chúng ựã ựược bớt quan tâm hơn về phương diện kinh tế
Dầu khơi ựược khai thác ựầu tiên trên thế giới vào năm 1923 tại Louisian, sau ựó là Venezuela Năm 1960, các giàn khoan biển chỉ dừng lại ở ựộ sâu 30 mét Ngày nay các mũi khoan thắ nghiệm có thể thực hiện ở ựộ sâu 3.000 Ờ 4.000 mét Năm
1990, thềm lục ựịa cung cấp khoảng 30% sản lượng dầu khắ thế giới
Biển cả ựược ựể ngỏ cho tất cả các quốc gia dù có biển hay không có biển theo nguyên tắc Ộtự do biển cảỢ Quyền tự do trên biển cả ựược thực hiện trong những ựiều kiện do Công ước 1982 và những quy phạm khác của Luật quốc tế quy ựịnh
Mọi quốc gia dù có biển hay không có biển, ựiều có quyền cho các tàu thuyền treo cờ của mình ựi trên biển cả, và các tàu thuyền của các quốc gia ựều có ựịa
2
TS Nguyễn Hồng Thao, Những ựiều cần biết về luật biển, NXB Công an nhân dân Hà Nội 1997.
Trang 11vị pháp lý như nhau, và chỉ chịu quyền tài phán của quốc gia mà tàu ựó mang cờ Do
ựó, trong trường hợp xảy ra tai nạn, hay bất kỳ sự cố hàng hải nào thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự, hay các trách nhiệm pháp lý khác, ựều phải do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia mà tàu ựó mang cờ tiến hành
Tuy vậy, Công ước 1982 cũng cho phép tàu chiến của bất kỳ quốc gia nào ựược quyền khám xét và bắt giữ các tàu thuyền trong vùng biển cả nếu có ựầy ựủ lý do chứng minh như tàu thuyền ựó ựang tiến hành hoạt ựộng cướp biển; buôn bán; chuyên chở nô lệ; tàu không có quốc tịch; treo cờ nước ngoài hoặc không treo cờ
Ngoài ra, nếu quốc gia ven biển có ựầy ựủ lý do ựể chứng minh rằng một tàu nước ngoài ựã vi phạm pháp luật của mình, thì quốc gia ựó có quyền truy ựuổi ựến tận biển cả với những ựiều kiện quy ựịnh trong Công ước 1982 và chỉ khi chiếc tàu vi phạm ựó loạt vào vùng biển của quốc gia khác thì quyền truy ựuổi sẽ kết thúc
Tất cả các quốc gia hoạt ựộng trên biển cả nhằm mục ựắch hòa bình Do ựó, các quốc gia không ựược ựặt các căn cứ quân sự ở vùng biển quốc tế này
Như vậy, chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển ựược khẳng ựịnh khá rõ ràng và ựầy ựủ ựối với các vùng: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ựặc quyền kinh tế và thềm lục ựịa Các tranh chấp trên thế giới hiện nay về ranh giới giữa các vùng biển ựang còn diễn ra rất phức tạp, mặc dù các nước cũng ựã có những thỏa thuận với nhau nhưng ựều không ựi ựến kết quả gì
Vị trắ của biển đông: diện tắch 3.447.000 km2 (648.000 hải lý vuông) một trong sáu biển lớn nhất thế giới, nối hai ựại dương là Thái Bình Dương và Ấn độ Dương, có 11 quốc gia và thực thể bao bọc: Việt Nam, Trung Quốc, Brunei, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Inựônêsia, Hồng Kông, Ma Cao, đài Loan và Philippin4
Việt Nam có 29 tỉnh ven biển trên 64 tỉnh, thành phố và gần một nửa dân số sống tại các tỉnh ven biển Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, ựứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các ựảo quốc và các lãnh thổ trên thế giới5, có chỉ số tắch biển (chiều dài bờ biển-diện tắch ựất liền) là 0.01 ựứng ựầu đông Dương, trên Thái Lan (0.07) và xấp xỉ Malaysia6 Diện tắch biển Việt Nam gần 1 triệu km2
Trang 12Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
Ven bờ biển Việt Nam có 2.779 hòn ñảo lớn nhỏ hợp thành một hệ thống với tổng diện tích 1.636 km2 Do ñặc ñiểm kiến tạo các ñảo này phân bố không ñều, chủ yếu tập trung ở hai khu vực biển Vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ Trong 2.779 hòn ñảo ven
bờ Việt Nam có 82 ñảo có diện tích lớn hơn 1 km2 chiếm 92% tổng diện tích, trong ñó
có 32 ñảo có diện tích lớn hơn 10 km2 và 3 ñảo có diện tích lớn hơn 100 km2 và 1.295 ñảo nhỏ chưa có tên Tuy phân bố không ñều nhưng trên tất cả các vùng biển ven bờ Việt Nam ñều có các ñảo che chắn ở mức ñộ khác nhau7 Việt Nam có hai quần ñảo xa
bờ là Hoàng Sa và Trường Sa
Hải sản: Có khoảng 2040 loài cá, trong ñó khoảng 110 loài có giá trị kinh tế Trữ lượng ñánh bắt khoảng 3,5 triệu tấn, khả năng ñánh bắt khoảng 1,3 triệu tấn Sản lượng ñánh bắt hiện nay theo ñánh giá của Bộ thủy sản, tổng sản lượng năm 1995 là 1,2 triệu tấn, trong ñó 780.000 tấn có ñược nhờ khai thác hải sản Năm 1997, ñạt 1,25 triệu tấn, tăng trưởng hàng năm về sản lượng là 4 – 7%, tạo việc làm cho khoảng 2 triệu người, ñóng góp 9% GDP và khoảng 10 - 15% xuất khẩu8 Năm 1995 ñạt sản lượng ñạt 1.3 triệu tấn, trong ñó kim ngạch xuất khẩu là 560 triệu USD, tăng 213,57%
so với năm 19919
Dầu khí: tổng trữ lượng dự báo ñịa chất của toàn thềm lục ñịa Việt Nam xấp
xỉ 10 tỷ tấn dầu quy ñổi, trữ lượng khai thác 4 – 5 tỷ tấn Trữ lượng khí ñồng hành 250 – 300 tỷ m3 Sản lượng dầu thô khai thác từ năm 1986 ñến năm 1995 tăng nhanh, hiện ñạt xấp xỉ 8 triệu tấn một năm
Theo Tuyên bố của Chính phủ ngày 12/5/1977 về các vùng biển thì Việt Nam có một lãnh hải 12 hải lý tính ñường cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải
“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền ñầy ñủ và toàn vẹn ñối với vùng trời phía trên, ñáy biển và lòng ñất dưới ñáy biển của lãnh hải” Bên ngoài lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải tiếp liền với lãnh hải và tạo với lãnh hải một vùng biển rộng 24 hải lý tính từ ñường cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải Trong vùng biển này, Chính phủ Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế và nhằm bảo ñảm sự tuân thủ các quy ñịnh về y
tế, di cư và nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam Việt Nam cũng bảo
Trang 13lưu quyền cứu hộ các tàu thuyền, máy bay bị nạn, có thể gây ô nhiễm biển trong vùng tiếp giáp lãnh hải và lãnh hải
Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Việt Nam còn xác lập vùng ñặc quyền kinh tế của mình tiếp liền với lãnh hải và tạo với lãnh hải một vùng rộng 200 hải
lý tính từ ñường cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở ñáy biển và trong lòng ñất dưới ñáy biển trong vùng ñặc quyền về kinh tế Việt Nam, có các quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt ñộng khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng ñặc quyền về kinh tế nhằm mục ñích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học biển trong vùng ñặc quyền về kinh tế của Việt Nam, có thẩm quyền riêng biệt trong việc thiết lập, lắp ñặt và sử dụng các công trình, các ñảo nhân tạo, các thẩm quyền riêng biệt
về bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường biển
Việt Nam còn có thềm lục ñịa bao gồm ñáy biển và lòng ñất dưới ñáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục ñịa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho ñến bờ ngoài của rìa lục ñịa; nơi nào ở bờ ngoài của rìa lục ñịa cách ñường cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không ñến 200 hải lý thì thềm lục ñịa nơi ấy
mở rộng ra 200 hải lý kể từ ñường cơ sở ñó Nhà nước Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục ñịa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật thuộc loài ñịnh cư ở thềm lục ñịa Việt Nam Tại thềm lục ñịa, Việt Nam thực hiện quyền tài phán về bảo vệ biển như trên vùng ñặc quyền kinh tế Tuyên bố cũng nhấn mạnh các ñảo, các quần ñảo xa bờ thuộc chủ quyền Việt Nam (Hoàng Sa và Trường Sa) ñều có lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ñặc quyền kinh tế và thềm lục ñịa riêng, sẽ ñược công bố vào thời gian thích hợp trong một văn bản khác
1.2 Sự cần thiết của việc phân ñịnh biển
Như chúng ta ñã biết biển rất quan trọng ñối với mỗi quốc gia trên thế giới
Di sản chung của loài người ñã chính thức hình thành, biển là khối tài sản chung không thể phân chia, thuộc quyền sở hữu của cộng ñồng quốc tế, thay mặt cho cả các quốc gia Nó có lợi cho các quốc gia ñang phát triển, tạo ñiều kiện cho các quốc gia này tham gia vào việc quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên của vùng ñáy biển và lòng ñất dưới ñáy biển Riêng ñối với quốc gia không có biển có thể nói ñó là một thiệt thòi lớn Tuy nhiên, ñối với quốc gia có biển thì việc xác ñịnh như thế nào ñể ñó là biển thuộc
Trang 14Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ựề phân ựịnh biển với các quốc gia hữu quan
chủ quyền hoàn toàn và tuyệt ựối của quốc gia mình thì ựó lại là một vấn ựề phức tạp Bởi lợi ắch mà biển mang lại cho quốc gia rất lớn nên trên thế giới hiện nay còn ựang diễn ra rất nhiều cuộc tranh chấp liên quan ựến biển Do ựó, vấn ựề ựặt ra hiện nay là: các quốc gia có biển phải phân ựịnh biển
Những năm cuối thế kỷ XX ựánh dấu sự chuyển mình tiến ra biển mạnh mẽ của nhân loại Việc Công ước Luật biển năm 1982 có hiệu lực ngày 16/11/1994 ựã góp phần thiết lập một trật tự pháp lý mới trên biển, với nhiều vùng biển có quy chế pháp lý khác nhau Theo Công ước 1982 về Luật biển, các quốc gia ven biển ựều có danh nghĩa pháp lý quy ựịnh các vùng biển của mình như nội thủy, lãnh hải 12 hải lý, vùng ựặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục ựịa Khi thực hiện quyền mở rộng của mình trong các vùng biển hẹp (bề rộng không quá 400 hải lý), các quốc gia có bờ biển tiếp giáp hay ựối diện nhau ựều có một mối quan tâm chung: phân ựịnh các vùng biển chồng lấn Trong những trường hợp như vậy, hoạt ựộng phân ựịnh biển không chỉ phụ thuộc vào ý chắ duy nhất của một quốc gia mà là một hành ựộng mang tắnh quốc tế, song phương hoặc ựa phương, thể hiện sự phân chia, phù hợp với luật pháp quốc tế, các danh nghĩa pháp lý tương ứng của mỗi quốc gia trên các vùng biển chồng lấn Giải quyết tốt vấn
ựề phân ựịnh sẽ góp phần giảm bớt xung ựột, tạo môi trường ổn ựịnh và phạm vi biển
rõ ràng cho phát triển, bảo vệ, quản lý, khai thác tài nguyên thiên nhiên biển10
Theo thống kê có tới gần 400 ựường biên giới phải phân chia trên thế giới nhưng mới chỉ có 1/3 con số này ựược giải quyết thông qua thỏa thuận song phương hoặc qua các quyết ựịnh tài phán11 Khu vực biển đông, với khoảng 20 tranh chấp biên giới biển, là một trong những ựiểm nóng trên thế giới Vì vậy, một trong những vấn ựề
ưu tiên hàng ựầu trong khu vực này, nhằm tạo ựiều kiện cho phát triển kinh tế, ựó là việc giải quyết các tranh chấp trên biển và phân ựịnh các ựường biên giới biển càng sớm càng tốt
Công ước 1982 ựã quy ựịnh khá rõ việc phân ựịnh ựối với các quốc gia có biển Theo ựó, các quốc gia phải xác ựịnh các vùng của biển thuộc quốc gia mình theo ựúng tinh thần của Công ước 1982 ựã quy ựịnh Ta có thể hiểu nếu việc phân ựịnh ựó không theo ựúng Công ước 1982 thì việc phân ựịnh sẽ không có ý nghĩa về mặt pháp
lý Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay vẫn có một số nước phân ựịnh biển nhưng không ựúng theo Công ước 1982 quy ựịnh (Chẳng hạn như Việt Nam), nhưng nếu việc phân
Trang 15ñịnh ñó không trái với tập quán quốc tế và hơn nữa không có một quốc gia nào trên thế giới phản ñối, thì việc phân ñịnh ñó cũng xem như hợp pháp Vậy ta hiểu như thế nào
về phân ñịnh biển?
Phân ñịnh biển là quá trình hoạch ñịnh ñường ranh giới giữa hai hay nhiều quốc gia có các vùng biển tiếp giáp hoặc ñối diện nhau cũng như việc xác ñịnh ranh giới phía ngoài của vùng ñặc quyền kinh tế và thềm lục ñịa (tiếp giáp với biển cả hoặc ñáy biển – di sản chung của loài người) luôn là vấn ñề trung tâm của Luật quốc tế hiện ñại Sau khi Công ước Luật biển năm 1982 ñược ban hành, vấn ñề phân ñịnh biển càng trở nên bức thiết, bởi nó liên quan ñến chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích kinh tế, an ninh, quốc phòng của các quốc gia cũng như quyền tự do biển cả của cộng ñồng quốc tế12
Trên thực tế và theo pháp luật quốc tế, tất cả các quốc gia ven biển ñều ñược quyền hoạch ñịnh các vùng biển của mình như nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải,… Trong trường hợp vùng biển của quốc gia tồn tại ñộc lập, không có liên quan ñến lợi ích của quốc gia khác thì ranh giới của các vùng biển này do quốc gia ven biển
tự xác ñịnh phù hợp với các nguyên tắc chung và thực tiễn pháp luật quốc tế Còn trong trường hợp khi vùng biển của các quốc gia ven biển nằm tiếp liền và ñối diện với các vùng biển của quốc gia khác, thì việc hoạch ñịnh ranh giới biển không thể chỉ phụ thuộc vào ý chí duy nhất của một quốc gia, mà nó còn phải có ñược sự thoả thuận giữa các quốc gia hữu quan
Vấn ñề phân ñịnh biển ñược ñặt ra cho các quốc gia có các vùng biển tiếp liền, hoặc ñối diện nhau, và việc phân ñịnh nhằm mục ñích xác ñịnh rõ ñường biên giới biển phân chia vùng biển thuộc chủ quyền, và quyền chủ quyền của quốc gia Do ñó, nếu quá trình phân ñịnh không ñược tiến hành một cách hợp pháp thì sẽ rất dễ dẫn ñến
sự xung ñột giữa các biển Chính vì vậy, ñể thực hiện chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển trong việc bảo vệ, quản lý và khai thác các tài nguyên thiên nhiên trên các vùng biển tiếp liền hoặc ñối diện nhau, ñòi hỏi các quốc gia hữu quan phải có sự thoả thuận cụ thể, chi tiết nhằm phân ñịnh các vùng biển này một cách rõ ràng, nhanh chóng
12
PGS TS, Nguyễn bá Diến, Khoa Luật ðại học Quốc gia Hà Nội - Vấn ñề phân ñịnh biển trong Luật quốc tế hiện ñại – Tạp chí khoa học ðHQGHN, kinh tế luật, T.XXIII, số 1, 2007
Trang 16Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ựề phân ựịnh biển với các quốc gia hữu quan
1.3 Khái quát luật lệ quốc tế về biển và phân ựịnh biển
Trên tiến trình toàn cầu hoá hiện nay, vấn ựề phân ựịnh biển ựã trở thành một vấn ựề cấp thiết, rất cần sự quan tâm và hợp tác của mỗi quốc gia trên thế giới Vì thế, vấn ựề hoàn thiện khung pháp lý ựể việc phân ựịnh biển ngày càng quan trọng ựối với mỗi quốc gia nói chung và ựối với Việt Nam nói riêng ựang rất cấp thiết Tình hình tranh chấp các vùng biển ựang diễn ra hết sức phức tạp trên phạm vi toàn cầu, có nguy
cơ gây ra chiến tranh và làm nguy hại ựến các tài nguyên biển, hậu quả hết sức nặng
nề Nguyên nhân dẫn ựến tình trạng này là do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan mang lại Song, trong ựó việc không tuân thủ ựúng pháp luật về quá trình phân ựịnh biển là một trong những nguyên nhân cần ựề cập ựến
Hiện tại, trên thế giới có nhiều văn bản quy ựịnh khung pháp lý chung về việc phân ựịnh biển, nhưng do các quốc gia chưa tuân thủ hoặc tuân thủ chưa ựúng các quy ựịnh này nên dẫn ựến các tranh chấp ựối với biển Nhiều vụ tranh chấp diễn ra nhưng vẫn chưa giải quyết triệt ựể (chẳng hạn Việt Nam và Trung Quốc) Mức ựộ tranh chấp ngày càng nhiều là do ý thức tuân thủ các quy ựịnh về biển của mỗi quốc gia còn thấp và văn bản quy phạm pháp luật ựiều chỉnh vấn ựề này còn hạn chế và chưa thật sự phổ biến
Văn kiện phân chia biển ựầu tiên là Sắc chỉ ỘInter CoeteraỢ của Giáo hoàng Alexander VI ngày 4/5/1493 đường chia của giáo hoàng cách phắa Tây của ựảo Cap Vert 100 liên13, phân ựại dương thành hai khu vực ảnh hưởng cho Tây Ban Nha và Bồ đào Nha Thực chất ựó là ựường phân chia khu vực tuyền ựạo mà hai quốc gia này ựã nhanh chóng chuyển thành khu vực ảnh hưởng của họ Ngày 7/6/1494, Tây Ban Nha
và Bồ đào Nha ựã ký Hiệp Ước Tordesillas phân chia vùng biển, ựường phân chia dịch cách ựường của giáo hoàng 370 liên về phắa ngoài của ựảo Cap Vert14
Ngày 26/2/1942, hiệp ựịnh Anh (nhân danh Trinite và Tobago) Venezuela phân chia Vịnh Paria, hiệp ựịnh phân ựịnh ựầu tiên phân chia Ộựáy biển và lòng ựất dưới ựáy biển nằm ngoài lãnh hảiỢ
Ngày 28/9/1945, Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman mở rộng quyền tài phán của Hoa kỳ trên các nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản trên thềm lục ựịa tiếp giáp với bờ biển
13
Một liên bằng 1/10 hải lý Hải lý-ựơn vị ựo khoảng cách trên biển=1.852met
Trang 17Năm 1947, Chile, Peru và Equerteur yêu sách lãnh hải rộng 200 hải lý Các tuyên bố Senti ago ngày 18/8/1952, Lima ngày 8/8/1970 và Saint Ờ Domingue ngày 7/6/1972, các quốc gia Mỹ Latinh yêu sách vùng biển rộng 200 hải lý Equerteur, Peru, Panama, Brazil yêu sách vùng Ộbiển di sảnỢ rộng 200 hải lý
Năm 1956, Liên Hiêp Quốc tổ chức Hội nghị về Luật biển ựầu tiên ở Geneva (Thụy Sĩ), Hội nghị này ựạt ựược bốn Hiệp ựịnh ký kết năm 195815
- Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực từ ngày 10/9/1964)
- Công ước về thềm lục ựịa (có hiệu lực từ ngày 20/9/1962)
- Công ước về Hải phận quốc tế (có hiệu lực từ ngày 30/9/1962)
- Công ước về ựánh cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật ở biển (có hiệu lực
từ ngày 20/3/1966)
Các công ước này tuy ựã ựặt nền móng cho việc pháp ựiển hóa trong phân ựịnh biển nhưng còn hạn chế Vì vậy mỗi công ước chỉ ựược khoảng 40 nước phê chuẩn Phần lớn các nước ựang phát triển mới ựược giải phóng khỏi chế ựộ thực dân trong mấy chục năm gần ựây ựã không tham gia Mãi cho ựến năm 1967 Ờ 1972 công ước quốc tế mới ra ựời
- Công ước 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật biển (United Nations
Convention on Law of the Sea - UNCLOS) ựược các quốc gia ký kết kể từ ngày 7 ựến
ngày 11/12/1982 tại Mongtego Bay Ờ Giamaica Công ước có hiệu lực ngày 16/11/1994 Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 gồm 17 phần, 320 ựiều,
9 phụ lục và 4 nghị quyết16 - là văn kiện tổng hợp toàn diện, ựề cập tới tất cả vấn ựề thuộc lĩnh vực pháp lý, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, môi trường,Ầ nó phản ánh một sự nhất trắ rộng rãi và hầu hết các vấn ựề liên quan ựến biển, và nhằm mục ựắch xác lập một trật tự pháp lý ựể ựiều chỉnh hoạt ựộng của các quốc gia trong quá trình khai thác,
sử dụng và bảo vệ biển và ựại dương Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ựã ra nghị quyết phê chuẩn Công ước này (Việt Nam ựăng ký lưu chiểu theo phê chuẩn Công ước ngày 14/7/1994 tại Liên Hiệp Quốc)
Tuyên bố 1977 của Chắnh phủ ngày 12/5/1977 về các vùng biển, Việt Nam
ựã trở thành nước ựầu tiên trong khu vực đông Nam Á thiết lập ựầy ựủ các vùng biển: nội thủy, lãnh hải, vùng ựặc quyền kinh tế và thềm lục ựịa, theo ựúng các quy ựịnh của
Trang 18Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
Công ước 1982 của Liên Hiệp Quốc về Luật biển Theo Tuyên bố này thì “Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền ñầy ñủ và toàn vẹn ñối với các vùng biển thuộc quốc gia mình
ðể xác ñịnh các vùng biển của mình, Chính phủ Việt Nam ra Tuyên bố ngày 12/11/1982 về ñường cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải Hệ thống ñường cơ sở ven bờ lục ñịa Việt Nam gồm 10 ñoạn nối 11 ñiểm Hệ thống này chưa ñược khép kín ðiểm khởi ñầu còn chưa ñược xác ñịnh ðây là giao ñiểm của ñoạn thẳng nối liền quần ñảo Thổ Chu (Việt Nam) và ñảo Poulo Wai (Campuchia) và ñường biên giới phân ñịnh vùng biển của hai nước trong vùng nước lịch sử chung Việt – Campuchia (Hiệp ước 7/7/1982), sẽ ñược hai nước bàn ñến vào thời gian thích hợp ðiểm A11 nằm tại ñảo Cồn Cỏ
Luật biên giới quốc gia ñược thông qua trong kỳ hợp thứ 3 khóa XI từ ngày 3/5 ñến ngày 19/6 và luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2004 Lần ñầu tiên trong cùng một văn bản pháp luật, các vấn ñề quy ñịnh về biên giới quốc gia: chế ñộ pháp lý về biên giới, xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia và khu vực biên giới của Việt Nam ñược ñề cập ñến trong Luật biên giới quốc gia năm 2003 ðồng thời, cách xác ñịnh biên giới của Việt Nam trên ñất liền, trên biển, các ñảo, quần ñảo, trên không, lòng ñất cũng như quy chế pháp lý cho các vùng này tuy không mới nhưng một lần nữa ñược khẳng ñịnh, cụ thể hóa và hệ thống lại trong Luật biên giới quốc gia năm 2003 Một lần nữa khẳng ñịnh rằng, lập trường của Việt Nam về chủ quyền ñối với quần ñảo Hoàng Sa và Trường Sa nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong các cuộc ñàm phán với các bên liên quan trong vấn ñề tranh chấp hai quần ñảo này
Hiệp ñịnh phân ñịnh Vịnh Bắc Bộ là thỏa hiệp ký ngày 25 tháng 12 năm
2000 giữa chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh nhằm xác ñịnh biên giới lãnh hải, thềm lục ñịa và vùng ñặc quyền kinh tế trong Vịnh Bắc Bộ ðây là kết quả sau nhiều ñợt ñàm phán kể từ năm 1973 Hiệp ñịnh này thay thế Công ước Pháp – Thanh 1887 Hiệp ước có 11 ðiều, trong ñó ðiều 2 xác ñịnh 21 ñiểm nối tuần tự từ cửa sông Bắc Luân ra ñến cửa Vịnh chia Vịnh Bắc Bộ ra làm hai Cửa Vịnh lấy ñường thẳng từ ñảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam ñến mũi Oanh Ca, ñảo Hải Nam, Trung Hoa
Hiệp ñịnh phân ñịnh thềm lục ñịa giữa Việt Nam và Indonesia mà hai nước bắt ñầu ñàm phán từ năm 1978 ñược ký kết ngày 26/6/2003 tại Hà Nội, hiệp ñịnh có hiệu lực thi hành ngày 29/5/2007 Hiệp ñịnh phân ñịnh ranh giới thềm lục ñịa Việt
Trang 19Nam - Indonesia" có hiệu lực, tạo thuận lợi cho hai nước thực hiện các quyền chủ quyền, quyền tài phán, quản lý và khai thác phần thềm lục ñịa của mình Hai bên khẳng ñịnh cam kết tuân thủ nghiêm chỉnh các quy ñịnh của Hiệp ñịnh, các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Trang 20Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG ðỀ XUẤT PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT
NAM VỀ PHÂN ðỊNH BIỂN 2.1 NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP VỀ PHÂN ðỊNH BIỂN
Nguyên tắc thỏa thuận
Thỏa thuận là một nguyên tắc cơ bản, có tính tập quán của Luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp quốc tế Khi hai quốc gia có bờ biển ñối diện hay tiếp giáp nhau và có các danh nghĩa pháp lý chồng nhau thì họ có nghĩa vụ ñàm phán một cách thiện chí và có ý ñịnh thực sự ñể tới một kết quả thực ñịnh Nguyên tắc này ñược
áp dụng cho tất cả các dạng phân ñịnh nội thuỷ, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, thềm lục ñịa hay vùng ñặc quyền kinh tế Nguyên tắc này ñược thể hiện trong ñiều 15, 74, 83 của Công ước Luật biển 1982 Thỏa thuận của các bên về phân ñịnh biển chỉ có giá trị với bên thứ ba nếu nó tuân thủ ñúng các nguyên tắc và quy ñịnh của Luật pháp quốc tế Các bên ñược tự do thỏa thuận với ñiều kiện các thỏa thuận ñạt ñược không vi phạm các nguyên tắc của Luật quốc tế hay làm tổn hại ñến quyền lợi chính ñáng của các quốc gia khác
Nguyên tắc trung tuyến hay cách ñều
Trước khi có phán quyết thềm lục ñịa Biển Bắc của Tòa án Công lý quốc tế
1969, luật quốc tế về biển coi nguyên tắc trung tuyến hay cách ñều là nguyên tắc ưu tiên, áp dụng chung cho phân ñịnh lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải và thềm lục ñịa Tại ðiều 12.1 của Công ước Giơnevơ 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp có quy ñịnh: “Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc ñối diện nhau, không một quốc gia nào ñược quyền
mở rộng lãnh hải ra quá ñường trung tuyến mà mọi ñiểm nằm trên ñó cách ñều các ñiểm gần nhất của các ñường cơ sở ñể tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại Tuy nhiên, quy ñịnh này lại không áp dụng trong trường hợp có các danh nghĩa lịch sử hoặc các hoàn cảnh ñặc biệt khi cần hoạch ñịnh biên giới lãnh hải của hai quốc gia một cách không trù ñịnh trong các ñiều khoản này” Trong ñiều 6 Công ước Giơnevơ 1958 về thềm lục ñịa cũng quy ñịnh: “Trong trường hợp thềm lục ñịa tiếp giáp với lãnh thổ của hai hay nhiều quốc gia có bờ biển ñối diện (tiếp liền), việc phân ñịnh thềm lục ñịa giữa các quốc gia ñược thực hiện bằng con ñường thỏa thuận giữa các quốc gia ñó Trong trường hợp không có thỏa thuận, và trừ phi các hoàn cảnh ñặc biệt biện minh cho một giải pháp khác, việc phân ñịnh ñược tiến
Trang 21hành bởi ñường trung tuyến (cách ñều) mà mọi ñiểm nằm trên ñó cách ñều các ñiểm gần nhất của ñường cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia”
Ta thấy, trong phần lớn các trường hợp phân ñịnh, phương pháp ñường trung tuyến thể hiện sự tiện ích, thực tiễn, công bằng hơn hẳn các phương pháp khác Phương pháp này lại tiếp tục quy ñịnh tại ñiều 15 của Công ước Luật biển 1982 Tuy nhiên, Phương pháp này không phải lúc nào cũng ñem lại kết quả công bằng Trong các trường hợp hình thái bờ biển lồi lõm, có sự hiện diện giữa các ñảo hay luồng hàng hải trong khu vực phân ñịnh, phương pháp này ñưa ñến kết quả không công bằng Phương pháp trung tuyến cũng như các phương pháp khác chỉ có thể áp dụng khi nó mang lại một kết quả công bằng cho các bên phân ñịnh
ðiều15, ðiều 59, ðiều 74.1 và ðiều 83.1 của Công ước Luật biển năm
1982 quy ñịnh: “Việc hoạch ñịnh ranh giới vùng ñặc quyền kinh tế (thềm lục ñịa) giữa các quốc gia có bờ biển liền hay ñối diện nhau ñược thực hiện bằng con ñường thoả thuận theo ñúng pháp luật quốc tế ñể ñi tới một giải pháp công bằng”
Công ước Giơnevơ năm 1958 về Thềm lục ñịa nêu ra phương thức ñường cách ñều ñường trung tuyến như một phương thức ñảm bảo tính công bằng trong phân ñịnh thềm lục ñịa (trừ trường hợp có hoàn cảnh ñặc biệt)17
Công bằng trong phân ñịnh là xem xét, cân nhắc tất cả các hoàn cảnh hữu quan như hình dạng bờ biển, ñảo, luồng hàng hải, tài nguyên,… ñể tìm ra một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận
Muốn ñạt ñược kết quả công bằng, cần phải áp dụng các nguyên tắc công bằng của luật phân ñịnh biển phù hợp với thực tế và các hoàn cảnh hữu quan của khu vực phân ñịnh, trong ñó các yếu tố ñịa lí là trọng ñiểm xem xét của quá trình phân ñịnh
Công ước Luật biển 1982 quy ñịnh: Trong khi chờ ñợi thoả thuận kết quả phân ñịnh công bằng các vùng biển, các quốc gia hữu quan, trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình ñể ñi ñến các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và ñể không làm phương hại hay cản trở việc ký kết các thoả thuận dứt khoác trong giai ñoạn
17
Khoản 1 ðiều 6 công ước Giơnevơ năm 1958 về thềm lục ñịa
Trang 22Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
quá ñộ này Các dàn xếp tạm thời không làm phương hại ñến hoạch ñịnh cuối cùng18 Tuy nhiên, Công ước Luật biển năm 1982 không nói rõ các loại dàn xếp tạm thời nào
Như vậy, luật quốc tế khuyến khích các bên tìm ra các giải pháp tạm thời
áp dụng cho những nơi tranh chấp chưa ñược giải quyết dứt ñiểm bằng các quyết ñịnh chính thức giữa các bên ðiều này sẽ tạo ñiều kiện thuận lợi cho việc giải quyết sau này, tránh tình trạng làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp giữa các bên tạo ñiều kiện cho việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên trong khu vực tranh chấp trong giai ñoạn chuyển tiếp mà không có sự phản ñối của các bên hữu quan
Qua thực tiễn phân ñịnh biển quốc tế cho thấy, việc thành lập các vùng thăm dò khai thác chung (Joint Development) là phổ biến hơn cả Có thể tìm thấy các
mô hình về dàn xếp tạm thời trong một số trường hợp sau như: Thỏa thuận 22/2/1958 giữa Baren và Arập Xêut; Thỏa thuận Pháp – Tây Ban Nha 29/1/1974, Thỏa thuận Malaysia và Thái Lan trong Vịnh Thái Lan 21/2/1979… Việt Nam cũng ñã có hai ñiều ước quốc tế về khai thác chung vùng chồng lấn trong Vịnh Thái Lan giữa Việt Nam và Malaysia ngày 5/6/1992 (Việt Nam và Malaysia ñã ký kết thỏa thuận thương mại giữa Petrovietnam và Petronas ngày 9/7/1992 triển khai công việc thăm dò và khai thác chung trong vùng chồng lấn giữa hai nước) và Hiệp ñịnh hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ Việt Nam – Trung Quốc ngày 25/12/200019
2.1.2 Các phương pháp về phân ñịnh biển
Phân ñịnh biển là một hành vi mang tính quốc tế, vì vậy cần có sự thừa nhận của cộng ñồng quốc tế Do ñó, việc phân ñịnh phải ñược thực hiện dựa trên những phương pháp của pháp luật quốc tế Theo quy ñịnh của Công ước Luật biển năm 1982 (các ðiều 15, ðiều 74, ðiều 83) và tham khảo các phán quyết Tòa án công lý quốc tế liên quan vấn ñề phân ñịnh có thể thấy nổi lên hai phương pháp cơ bản về phân ñịnh biển là: Phương pháp thỏa thuận và phương pháp công bằng20
Quá trình phân ñịnh biển rất phức tạp, nó có thể do ñịa hình bờ biển, lập trường, thái ñộ của các bên hữu quan, … Vì vậy các quốc gia khi tiến hành phân ñịnh biển, dù là nội thuỷ hay lãnh hãi… cũng phải dựa trên nguyên tắc thoả thuận
Phương pháp thoả thuận
Trang 23Phân ñịnh biển là vấn ñề phức tạp, liên quan tới việc xác ñịnh giới hạn thụ ñắc các vùng biển trên cơ sở pháp luật quốc tế của ít nhất hai quốc gia Vì vậy, các quốc gia liên quan cần thông qua ñàm phán, thương lượng ñể thỏa thuận các phương pháp và tiêu chuẩn phân ñịnh Công ước Luật biển năm 1982 khi quy ñịnh về phân ñịnh các vùng biển giữa các quốc gia có bờ biển ñối diện hay tiếp giáp tại các ðiều 15,
74, 83, ñều ñưa phương pháp thỏa thuận lên hàng ñầu
- ðược nêu trong ðiều 6 khoản 1 – 2 của Công ước Giơnevơ năm
1958 về thềm lục ñịa
- Nguyên tắc này ñã trở thành nguyên tắc mang tính tập quán
- Vụ thềm lục ñịa Biển Bắc ñã mang tới một sắc thái mới: nghĩa vụ phải ñàm phán ñể ñi ñến một kết quả, chứ không phải là ñàm phán hình thức: “các bên phải tiến hành nhằm ñi ñến một thoả thuận chớ không phải ñơn thuần tiến hành một cuộc ñàm phán hình thức, nay là một dạng ñiều kiện tiên quyết áp dụng tự ñộng trong trường hợp không có thoả thuận; các bên có nghĩa vụ xử sự sao cho ñàm phán có ý nghĩa, ñó không phải là trường hợp một khi một trong các bên khăng khăng giữ lập trường riêng của mình mà không trù liệu một sự ñiều chỉnh nào”21
- Vụ thềm lục ñịa Vịnh Maine năm 1984 giữa Mỹ và Canada22:
“Không một sự phân ñịnh biển nào giữa hai quốc gia có bờ biển tiếp
giáp hoặc ñói diện có thể ñược thực hiện ñơn phương bởi một trong hai quốc gia Phân ñịnh biển phải ñược nghiên cứu và thực hiện thông qua thoả thuận tiếp theo một cuộc ñàm phán thiện chí và có ý ñịnh thực sự ñạt tới một kết quả thực ñịnh.Tuy nhiên, trong trường hợp một thoả thuận như vậy không thể thoả thuận ñược, việc phân ñịnh cần phải ñược thực hiện nhờ cậy bên thứ ba có thẩm quyền cần thiết ñể làm ñiều ñó Trong trường hợp ñầu cũng như trong trường hợp hai việc phân ñịnh phải ñược thực hiện bằng việc áp dụng các tiêu chuẩn công bằng và bằng việc thực hiện các phương pháp thực tiễn, có tính ñến hình thái ñịa lý của khu vực và các hoàn cảnh hữu quan khác, ñể ñảm bảo có ñược một kết quả công bằng”
Các phán quyết của Tòa án công lý quốc tế ghi nhận nguyên tắc thỏa thuận
như “Sự phân ñịnh này phải ñược mưu cầu và thực hiện qua một thỏa thuận tiếp theo
phải tiến hành ñàm phán nhằm ñi ñến một thỏa thuận chứ không phải ñơn thuần tiến
Trang 24Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
hành một cuộc ñàm phán hình thức, […]; các bên có nghĩa vụ xử sự sao cho ñàm phán
có ý nghĩa, ñó không phải là trường hợp một khi một trong các bên khăng khăng giữ
kết quả, các bên trong qua trình ñàm phán có thể nêu lên các yếu tố và hoàn cảnh cụ thể ñể cũng cố lập luận của mình Tuy nhiên, cần phải dựa trên nguyên tắc công bằng, hợp lý, hợp tình và có chú ý ñến tất cả mọi hoàn cảnh thích ñáng, có tính ñến tầm quan trọng của các lợi ích có liên quan ñối với các bên tranh chấp và với cộng ñồng quốc tế
Phương pháp công bằng
ðiều 6 của Công ước Giơnevơ năm 1958 về thềm lục ñịa nêu ra phương pháp ñường cách ñều và ñường trung tuyến như một phương thức ñảm bảo tính công bằng trong phân ñịnh thềm lục ñịa (trừ trường hợp có hoàn cảnh ñặc biệt):
Việc phân ñịnh biển ñược tiến hành theo ba bước:
pháp lý quốc tế trong vụ thềm lục ñịa Biển Bắc ngày 20/02/1969 ñã phán: “Phân ñịnh
là một hoạt ñộng ñể xác ñịnh ranh giới của một vùng về nguyên tắc ñã thuộc về quốc gia ven biển chứ không phải là hoạt ñộng xác ñịnh một vùng mới,… Hoạt ñộng phân ñịnh chủ yếu là vạch ñường ranh giới giữa các vùng ñã từng thuộc quốc gia này hay
như một sự “phân ñịnh tuyên bố”, nó không cần sự can thiệp của các luật gia Nó là một hoạt ñộng của các nhà kỹ thuật nhằm xác ñịnh sự kéo dài tự nhiên của ñất liền ra biển kết thúc ở ñâu thì ở ñó là ranh giới thềm lục ñịa của quốc gia ven biển Nguyên tắc này có các yếu ñiểm sau:
- Nguyên tắc này ñược phát biểu hết sức mơ hồ, nhất là trong trường hợp hai quốc gia cùng nằm trên một thềm lục ñịa, nguyên tắc này không thể cho ñược kết quả công bằng
24
Tuyển tập các phán quyết, quyết ñịnh, các ý kiến tư vấn của Tòa ICJ năm 1984, tr.85 khoản 6.
Trang 25- Nguyên tắc này không cho ñược kết quả trong trường hợp các ñảo của quốc gia này lại nằm trên thềm lục ñịa của quốc gia khác
- Từ năm 1982, ngoài danh nghĩa sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ ñất liền ra biển, thềm lục ñịa còn có một danh nghĩa khác Dù cấu tạo tự nhiên của ñáy biển và lòng ñất dưới ñáy biển có như thế nào, thềm lục ñịa pháp lý của quốc gia ven biển vẫn kéo dài ra tới 200 hải lý
Các nguyên tắc công bằng: trong vụ phân ñịnh biên giới biển trong Vịnh Main 1984, Toà án pháp lý quốc tế phát biểu năm tiêu chuẩn công bằng26:
- ðất thống trị biển
- Phân chia ñồng ñiều, trong trường hợp không có các hoàn cảnh ñặc biệt, các vùng chồng lấn cả vùng biển và vùng ñáy biển một cách tương ứng với bờ biển của quốc gia láng giềng
- Không ngăn cản ñược bờ biển của một quốc gia chiếu ra biển trên phần biển nằm gần với bờ biển của một trong các quốc gia hữu quan
- Cần thiết phải tránh hiệu lực cắt cụt sự chiếu ra biển của bờ biển hoặc một phần bờ biển của một trong các quốc gia hữu quan
- Tính hữu ích rút ra, trong một số ñiều kiện, những hậu quả thích ñáng của việc không công bằng có thể xảy ra trong việc mở rộng các bờ biển của hai quốc gia trong cùng một khu vực phân ñịnh
Vụ thềm lục ñịa Libi – Malta năm 1985 ñưa ra năm nguyên tắc công bằng27:
- Nguyên tắc không làm lại toàn bộ ñịa lý cũng như nắn lại các sự không bình ñẳng của thiên nhiên
- Nguyên tắc không làm cản trở một bên trên sự kéo dài tự nhiên của bên khác mà sự kéo dài tự nhiên này chỉ là sự thể hiện tiêu cực quy tắc theo ñó quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền trên thềm lục ñịa tiếp giáp với bờ biển của
nó trong tất cả các mức ñộ mà luật quốc tế cho phép theo các hoàn cảnh hữu quan
- Nguyên tắc tôn trọng tất cả các hoàn cảnh hữu quan
- Nguyên tắc theo ñó mặc dù các quốc gia ñiều bình ñẳng về quyền
và có thể yêu cầu có một sự ñối xử ngang bằng, “ngang bằng không hàm ý nhất thiết
phải công bằng”, cũng như không chia ñiều cái mà ñã làm cho tự nhiên ñã làm cho
Trang 26Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
Khái niệm công bằng trong phân ñịnh biển: Khái niệm công bằng như ta thấy hết sức trừu tượng Một cách ñơn giản chúng ta có thể phát biểu là, công bằng trong phân ñịnh là xem xét và ñặc lên bàn cân tất cả các hoàn cảnh hữu quan ñể tìm ra một giải pháp mà các bên có thể chấp nhận, các bên có thể coi kết quả mà nó mang lại
là công bằng, chứ không phải sự áp dụng máy móc, khe khắt một loạt các nguyên tắc hình thức Muốn ñạt ñược kết quả công bằng cần phải áp dụng, ñiều chỉnh các quy tắc
và nguyên tắc công bằng của luật phân ñịnh biển phù hợp với thực tế và các hoàn cảnh hữu quan của khu vực phân ñịnh
Các hoàn cảnh hữu quan: Công ước Giơnevơ năm 1958 về thềm lục ñịa và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 ñều không ñưa ra ñịnh nghĩa chính xác thế nào là các hoàn cảnh hữu quan hay các hoàn cảnh ñặc biệt cần tính ñến trong phân ñịnh Không có một giới hạn pháp lý nào về việc ñịnh ra các hoàn cảnh hữu quan Danh sách các hoàn cảnh hữu quan xác lập theo quyết ñịnh của Toà án và Trọng tài quốc tế cũng như lập luận của các bên cứ kéo dài ra tiếp không chấm dứt:
- Các yếu tố ñịa lý và ñịa mạo
- Yếu tố hiện diện của một vùng mỏ duy nhất nằm trong khu vực ñược phân ñịnh
- Yếu tố hình dạng bờ biển nhất là sự lồi lõm của bờ biển
- Yếu tố về ñịa lý vĩ mô
- Yếu tố tính tỉ lệ bờ biển trong khu vực phân ñịnh
- Yếu tố các ñảo
- Yếu tố tỉ lệ chiều dài bờ biển, diện tích vùng bờ biển
- Sự thay ñổi xu thế của bờ biển
- ðiểm mút của biên giới ñất liền
- Thái ñộ của các bên hữu quan
- Yếu tố ñịnh vị các nguồn tài nguyên hay cấu trúc
- Yếu tố quốc gia bất lợi về mặt ñịa lý
Trang 27- Yếu tố an ninh
- Yếu tố văn hoá
- Giao thông hàng hải
- Các quyền lợi hợp thức
Luật phân ñịnh biển ñã loại bỏ dần nhiều yếu tố trong danh sách kể trên như ñối với yếu tố kinh tế Toà án quốc tế vụ thềm lục ñịa Libi – Malta năm 1958 ñã phán:
“Phân ñịnh không ñược bị ảnh hưởng bởi tình trạng kinh tế tương ứng bởi hai quốc
gia hữu quan theo kiểu là nước ít giàu hơn trong số hai quốc gia sẽ ñược thấy phần thềm lục ñịa xem như thuộc họ sẽ ñược tăng lên một chút ñể bù ñắp sự thua thiệt của
họ về các nguồn tài nguyên kinh tế Những suy xét kiểu vậy là hoàn toàn xa lạ với ñịnh hướng tới các quy tắc có thể áp dụng của luật pháp quốc tế Rõ ràng không có quy tắc nào xác ñịnh sự hợp thức của một danh nghĩa trên thềm lục ñịa, không có quy tắc nào
vè sự phân ñịnh các nước láng giềng lại tạo ra một vị trí bé nhỏ nào cho các suy xét về
sự phát triển kinh tế của các quốc gia hữu quan Nếu khái niệm vùng ñặc quyền kinh tế ñược ñưa vào là nguồn gốc của một số các ñiều khoản ñưa ñặc biệt có lợi cho các quốc gia ñang phát triển, thì các ñiều khoản này cũng không nói gì tới sự mở rộng của các vùng biển cũng như tới sự phân ñịnh chúng giữa các quốc gia láng giềng mà chỉ
Cũng trong vụ này, khẳng ñịnh lại ý chí của Toà án, Trọng tài vụ thềm lục ñịa Anh – Pháp năm 1977, Toà án pháp lý quốc tế ñã bác bỏ dứt khoát việc tính tới yếu
tố an ninh trong phân ñịnh: “Dù sao ñi nữa, ñường ranh giới là kết quả của phán quyết
này chúng ta sẽ thấy, sẽ không nằm gần bờ biển của bên này hay bên kia, ñể vấn ñề an
kết luận: “Các ñặc trưng ñịa lý là trọng ñiểm của qúa trình phân ñịnh”30
Theo phương pháp này, ñể phân ñịnh biển, các bên hữu quan cần phải xem xét, cân nhắc các yếu tố cụ thể như: hình dạng của bờ biển, các ñảo và yếu tố hàng hải…ñể từ ñó tìm ra ñược những giải pháp ñược các bên chấp nhận và mang lại kết quả công bằng
Trong phân ñịnh biển, áp dụng công bằng không có nghĩa là sửa chữa lại tự nhiên mà là ñảm bảo cho mỗi quốc gia ven biển ñược hưởng một vùng biển ñúng và
Trang 28Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
công bằng, có tính ñên các hoàn cảnh hữu quan Nguyên tắc công bằng trong phân ñịnh
ñã ñược ñề cập trong Phán quyết và thềm lục ñịa biển Bắc năm 1969 và hàng loạt các phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế Nó cũng ñược thể hiện trong thực tiễn quốc tế, trong sự thắng thế của nhóm công bằng ñối với nhóm cách ñều trong hội nghị lần thứ ba của liên Hiệp Quốc về Luật biển
Thực tiễn phân ñịnh biển trong thời gian qua cho thấy, các quốc gia liên quan thường thoả thuận áp dụng một số phương pháp phân ñịnh cơ bản sau:
Phương pháp ñường cách ñều và ñường trung tuyến
Theo phương pháp này, ñường ranh giới ñể phân ñịnh biển, chính là ñường
mà tất cả các ñiểm nằm trên ñường ñó ñều cách ñều các ñiểm gần nhất của ñường cơ
sở của mỗi quốc gia31
Phương pháp ñường cách ñều hoặc ñường trung tuyến thường ñược áp dụng
ñể phân ñịnh lãnh hải, tuy nhiên, ñể áp dụng phương pháp này phải xem xét một cách thích ñáng ñến những hoàn cảnh cụ thể ñể ñi ñến một kết quả công bằng
Sự bác bỏ tính ưu tiên của phương pháp ñường cách ñều trong phân ñịnh Toà án quốc tế trong vụ thềm lục ñịa Biển Bắc 02/2/1969 và sau ñó phán quyết trọng tài vụ thềm lục ñịa Anh – Pháp ngày 30/6/1977 ñã bác bỏ tính ưu tiên của phương pháp cách ñều trong phân ñịnh Phương pháp này cũng ngang bằng với các phương pháp khác Nó chỉ dược áp dụng khi nó cho một kết quả công bằng Theo thực tiễn xét xử, phương pháp ñường cách ñều thường bị loại bỏ trong các trường hợp sau:
- Tính lồi lõm của hình thái bờ biển (vụ thềm lục ñịa Biển Bắc ngày 20/2/1969)
- Sự hiện diện của các ñảo (vụ thềm lục ñịa Anh – Pháp ngày 30/61977, vụ thềm lục ñịa Tuynidi – Libi năm 1982, phân ñịnh biên giới biển trong Vịnh Maine năm 1984, phân ñịnh biên giới biển giữa Guinee và Bisssau năm 1985)
- Sự hiện diện của các luồng hàng hải trong khu vực phân ñịnh ðối với Việt Nam, hiện tại ñang có vấn ñề phân ñịnh biển giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Cambodia, Thái Lan, Indonesia, Malaysia Tuy vậy, Việt Nam ñã chủ trương giải quyết các vấn ñề phân ñịnh biển thông qua ñàm phán, thoả thuận trên cơ sở tôn trọng ñộc lập chủ quyền của nhau, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế
Trang 29
2.2 LUẬT QUỐC TẾ VỀ BIỂN VÀ PHÂN ðỊNH BIỂN
Ngay từ thời cổ ñại các tập quán về biển ñã xuất hiện ở các vùng Hy Lạp, Ai Cập – La Mã ðến thế kỷ XIII một số nguyên tắc về Luật biển ở vùng biển Bắc ñã hình thành, sau ñó phổ biến sang khu vực ðịa Trung Hải Thời bấy giờ, vấn ñề biển cả ñược dựa trên nguyên tắc tự do trên biển cả Chế ñộ này có nguồn gốc tập quán và ñã ñược pháp ñiển hóa trong các Công ước quốc tế hiện hành về biển Nguyên tắc này có nội dung, biển cả ñược ñể ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù là những quốc gia có biển hay không có biển Nguyên tắc tự do biển cả không cho phép bất cứ quốc gia nào có thể áp ñặt một cách hợp pháp một bộ phận nào ñó của biển cả thuộc chủ quyền của mình Với
ý nghĩa ñó, trong biển cả, tất cả các quốc gia ñều ñược hưởng các quyền tự do Song, mỗi quốc gia, khi thực hiện các quyền tự do biển cả phải thừa nhận và tính ñến lợi ích của việc thực hiện quyền tự do trên biển cả của các quốc gia khác32
Ngoài ra, tập quán quốc tế còn thừa nhận nguyên tắc ñất thống trị biển (học thuyết Resnullius) thể hiện trong phân ñịnh biển bằng yêu cầu không ñược sửa chữa lại
tự nhiên Theo ñó, mỗi quốc gia ñược quyền hưởng phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ của mình ra biển Ngay cả khi một vùng ñáy biển gần lãnh thổ của một quốc gia hơn là lãnh thổ của mọi quốc gia khác người ta cũng không thể coi rằng nó thuộc quốc gia này nếu nó không phải là phần mở rộng tự nhiên của lãnh thổ ñất liền của quốc gia ñó ra biển Tuy nhiên, các quốc gia cũng không thể lạm dụng nguyên tắc ñất thống trị biển
ñể mở rộng mãi thẫm quyền của mình ra biển hoặc ñơn phương yêu sách những vùng biển rộng lớn hơn, không phù hợp với luật quốc tế
Trong thời ñại ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các hoạt ñộng mọi mặt trên biển ñã ñược triển khai một cách mạnh mẽ và quy mô ngày càng lớn Lợi ích của biển và ñại dương ñem ñến cho quốc gia ven biển ngày càng có ý nghĩa quan trọng và ña dạng, từ ñó các mâu thuẫn về biển giữa các quốc gia cũng bắt ñầu nãy sinh và diễn ra gay gắt Những mâu thuẩn này diễn ra giữa tất cả các nước trên thế giới, giữa các nước phát triển với các nước ñang phát triển, giữa các nước có hệ thống kinh tế – chính trị khác nhau, giữa các nước có biển và các nước không có biển hoặc có ñịa lý bất lợi về biển Các quốc gia này luôn muốn làm thế nào ñể có một vùng biển thuộc chủ quyền hoàn toàn và tuyệt ñối của quốc gia mình Và vấn ñề càng trở nên khó khăn hơn khi các quốc gia hiện nay không thể tự ñàm phán, thỏa thuận với nhau ñể tìm ra một giải pháp tốt cho cả hai bên Chính vì vậy, chính những triển vọng
32
Giáo trình Luật quốc tế, Trường ðại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân Hà Nội 2006
Trang 30Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ựề phân ựịnh biển với các quốc gia hữu quan
to lớn về biển ựã trở thành một trong các vấn ựề nóng bỏng của thời ựại, ựụng chạm tới quyền lợi chắnh trị, kinh tế, thương mại, pháp luật và quốc phòng của các quốc gia Bởi vậy, Biển quốc tế ựã trải qua một thời kỳ phát triển ựầy sóng gió Nếu trong lĩnh vực chiến tranh và hòa bình, cuộc ựấu tranh ựược tiến hành giữa hai lực lượng: yêu chuộng hòa bình và gây chiến thì trong lĩnh vực phân chia lợi ắch trên biển, các quốc gia ựụng chạm nhau vì lợi ắch của mỗi quốc gia Việc tìm ra tiếng nói chung là vô cùng nan giải Biển ựược vắ như một chiếc bánh không thể chia ựều cho mọi người và do ựó phải dựa vào những nguyên tắc ựược mọi người thừa nhận
để giải quyết những mâu thuẫn này, cần phải xây dựng những quy ựịnh pháp
lý chung nhằm ựiều chỉnh quan hệ giữa các nước liên quan ựến biển, cần phải có một trật tự pháp lý quốc tế ựể góp phần xây dựng và phát triển sự hợp tác quốc tế, ựảm bảo duy trì hoà bình và an ninh cho các dân tộc trên thế giới ở phương diện biển và ựại dương Một quy ựịnh này hay quy ựịnh khác ựều có thể mang lợi ựến cho nước này và thiệt hại cho nước kia Vấn ựề là phải thỏa hiệp và nhường nhịn lẫn nhau Các nguyên tắc và các quy phạm ựều chỉnh về biển hiện tại ựược xây dựng trên cơ sở ựó, dù rằng, công việc này gặp không ắt khó khăn
Trãi dài từ năm 1930, Hội nghị quốc tế ựầu tiên về luật biển cho ựến ngày 10/12/1982 tại Mongtego-Bay, Giamaica Hội nghị quốc tế về luật biển mới chấm dứt33
Và Công ước Luật biển năm 1982 ra ựời - đó là một thành công to lớn của các quốc gia Hội nghị ựã thông qua ựược Công ước về luật biển hoàn chỉnh ựầu tiên cho việc phân ựịnh biển Từ ựây, các quốc gia trên thế giới ựã có một văn bản pháp lý chung khi tiến hành phân ựịnh biển, nó phản ánh một sự nhất trắ rộng rãi về hầu hết các vấn ựề liên quan ựến biển và nhằm mục ựắch xác lập một trật tự pháp lý ựể ựiều chỉnh hoạt ựộng của các quốc gia trong quá trình phân ựịnh biển
Trang 31
Các bộ phận hợp thành vùng biển của một quốc gia34:
Các bộ phận hợp thành vùng biển của một quốc gia (Nguồn: Ban biên giới quốc gia)
34
http://www.onthi.com/chuyen-de/dia-ly/cac-bo-phan-hop-thanh-vung-bien-cua-mot-quoc-gia_555.html
Trang 32Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
Là vùng nước biển ñược giới hạn bởi một bên là ñường bờ biển của quốc gia với một bên là ñường cơ sở dùng ñể xác ñịnh lãnh hải và các vùng biển khác của quốc gia ðối với các quốc gia quần ñảo thì vùng nước này là vùng nước quần ñảo – vùng nước ñược giới hạn bởi ñường cơ sở của quốc gia quần ñảo Nội thủy là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia ven biển thuộc chủ quyền hoàn toàn và ñầy ñủ của quốc gia ðiều 8 khoản 1 Công ước Luật biển 1982 của Liên Hiệp Quốc quy ñịnh: “… Các vùng nước ở phía bên trong ñường cơ sở của lãnh hải thuộc nội thủy của quốc gia”
Trên cơ sở luật biển quốc gia hiện nay và thực tiễn pháp luật của các quốc gia chúng ta thấy vùng nội thủy bao gồm nhiều bộ phận khác nhau như: Vịnh thiên nhiên, Vịnh lịch sử, Vùng nước lịch sử, các cảng biển, vũng ñậu tàu… những bộ phận này có ñặc ñiểm riêng liên quan trực tiếp tới các hoạt ñộng của tàu thuyền nước ngoài
và việc bảo vệ chủ quyền, an ninh của quốc gia ven biển
Nội thủy là một bộ phận gắn bó mật thiết với phần lục ñịa của quốc gia ven biển, ñược ñặt dưới chủ quyền ñầy ñủ, toàn vẹn và tuyệt ñối của quốc gia Ở vùng nội thủy áp dụng gần như hoàn toàn những luật lệ áp dụng cho lãnh hải ñát liền, hoặc với các vùng nước nội ñịa khác thuộc hồ, song ngòi… của quốc gia ven biển Chủ quyền hoàn toàn và triệt ñể của quốc gia ñược áp dụng ở các phần nước, ở ñáy biển và vùng ñất dưới ñáy biển cũng như vùng trời trên vùng nội thủy
Khái niệm lãnh hải ñã xuất hiện từ xa xưa ðến ñầu thế kỷ XX lãnh hải vẫn còn ñược quan niệm một cách ñơn giản là phần nước nằm ở giữa, một bên là vùng nước nội thủy, một bên là biển cả Công ước Giơnevơ về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải ñịnh nghĩa lãnh hải như sau: Chủ quyền của một quốc gia ñược mở rộng ra ngoài phạm vi lãnh thổ và nội thủy của quốc gia ñó ñến một vùng tiếp giáp với bờ biển gọi tên là lãnh hải ðịnh nghĩa này mới chỉ xác ñịnh ñược ranh giới phía trong của lãnh hải còn ranh giới phía ngoài vẫn chưa ñược xác ñịnh Trong Công ước Luật biển năm
1982 lãnh hải ñược xác ñịnh như sau:
1 Chủ quyền của quốc gia ven biển ñược mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình và trong trường hợp một quốc gia quần ñảo, ra ngoài vùng nước quần ñảo, ñến một vùng biển tiếp liền gọi là lãnh hải
Trang 332 Chủ quyền này ñược mở rộng ñến vùng trời trên lãnh hải, cũng như ñến ñáy và lòng ñất dưới ñáy của vùng biển này35
Vậy lãnh hải là một vùng biển có chiều rộng nhất ñịnh nằm ở phía ngoài ñường cơ sở dọc theo bờ biển, thuộc chủ quyền hoàn toàn và ñầy ñủ của quốc gia ven biển, chủ quyền của quốc gia bao trùm cả ñối với vùng trời ở phía trên, ñáy biển và lòng ñất dưới ñáy biển ở phía dưới ðường ranh giới ở phía ngoài của lãnh hải cũng chính là ñường biên giới của quốc gia trên biển
Vấn ñề xác ñịnh lãnh hải là một vấn ñề có ý nghĩa rất quan trọng, ñược ñề cập và tranh cải rất nhiều trong các Hội nghị quốc tế về biển Việc xác ñịnh chiều rộng lãnh hải rộng hay hẹp có liên quan mật thiết ñến quyền lợi chính trị, kinh tế, hang hải,
an ninh quốc phòng của quốc gia ven biển, ñến quyền lợi của các nước khác, trước tiên
là các nước láng giềng
Từ xa xưa các quốc gia xác ñịnh chiều rộng lãnh hải của mình theo những tiêu chí khác nhau như tầm nhìn xa bờ, khoảng cách mà tàu thuyền ñi từ bờ trong một thời gian nhất ñịnh Từ thế kỷ XVIII tiêu chí “tầm súng tấn công” ñược các quốc gia áp dụng rộng rãi (khoảng cách từ bờ ra ngoài khơi là 3 hải lý) Từ ñó nguyên tắc xác ñịnh lãnh hải 3 hải lý ñược thừa nhận khá phổ biến Dần dần do sự phát triển của khoa học
kỷ thuật quân sự, ña số các quốc gia muốn mở rộng hơn nữa lãnh hải của mình nhằm ñáp ứng lợi ích kinh tế, an ninh…
Những quốc gia tích cực ñấu tranh nhất nhằm mở rộng vùng lãnh hải của mình là một số nước châu Mỹ La-tinh Các nước này tuyên bố vùng lãnh hải của họ có chiều rộng là 200 hải lý, với mong muốn giành ñộc quyền ñánh cá ở một vùng biển rộng lớn (trước Công ước lần thứ ba về Luật biển chưa có quy ñịnh vùng ñặc quyefn kinh tế)
Trong Công ước năm 1958 tuy có ñịnh nghĩa về lãnh hải nhưng không rõ ràng về chiều rộng lãnh hải nên sau khi có hiệu lực (1964) các quốc gia vẫn tùy tiện quy ñịnh chiều rộng lãnh hải của mình không có chuẫn mực nào cả Trên thực tế quy ñịnh của một số quốc gia về chiều rộng lãnh hải cách nhau qua lớn
Công ước Luật biển năm 1982 quy ñịnh chiều rộng lãnh hải một cách thống nhất: “Mọi quốc gia ñều có quyền ấn ñịnh chiều rộng lãnh hải của mình, chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ ñường cơ sở vạch ra theo ñúng Công ước”36
Trang 34Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ñề phân ñịnh biển với các quốc gia hữu quan
Trên nguyên tắc chủ quyền quốc gia, ñể dảm bảo an ninh quốc phòng, bảo
vệ các quyền lợi kinh tế chính ñáng của mình và phù hợp với những quy phạm ñã ñược thừa nhận chung của Luật quốc tế, ngày 12 tháng 5 năm 1977 chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ñã tuyên bố: “lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý ở phía ngoài ñường cơ sở nối liền các ñảo nhô ra nhất của bờ biển và các ñiểm ngoài cùng của các ñảo ven bờ biển của Việt Nam tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất”37
Khái niệm tiếp giáp lãnh hải xuất hiện từ Hội nghị LaHay 1930 về Luật biển quốc tế ðây là một vùng biển nằm bên ngoài và sát ngay với lãnh hải của nước ven biển
Trên thực tế người ta thấy rằng ở các vùng biển nằm phía ngoài sát với lãnh hải cần phải có một chế ñộ pháp lý khác vói các vùng biển khác vì các lý do về an ninh, kiểm soát thuế quan, vệ sinh dịch tễ, nhập cư… một số quốc gia ñã tự mình quy ñịnh vùng biển này theo các ñặc ñiểm và nhu cầu của mình, hoặc là ký kết với nhau các quy ñịnh quy chế pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải Tuy nhiên, trong quan hệ quốc tế các quốc gia ven biển không thể mở rộng vùng nội thủy hay lãnh hải của mình ra biển
và ñại dương Việc quy ñịnh chung về chiều rộng của vùng lãnh hải ñã làm cho nhiều quốc gia ven biển không thỏa mãn ñiều kiện về không gian trên biển ñể bảo vệ một số lợi ích chính ñáng của mình
ðến Công ước 1958 về Luật biển thì vùng tiếp giáp lãnh hải ñược chính thức quy ñịnh là một vùng biển nằm giáp ngay phía ngoài của lãnh hải và có chiều rộng không quá 12 hải lý kể từ ñường cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải
Công ước Luật biển năm 1982 quy ñịnh vùng tiếp giáp lãnh hải không ñược
mở rộng quá 24 hải lý kể từ ñường cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải38 Như vậy vùng tiếp giáp lãnh hải còn ñược tiếp tục chấp nhận vả chiều rộng của nó ñược mở rộng hơn
Tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy ñịnh: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng 12
37
ðiều 1 Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng ñặc quyền kinh tế và thềm lục ñịa Việt Nam
Trang 35hải lý, hợp với ñường lãnh hải Việt Nam thành vùng biển rộng 24 hải lý kể từ ñường
cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải”39
Vùng ñặc quyền kinh tế là một vấn ñề mới xuất hiện gần ñây trong Luật biển quốc tế ðây là một vùng ñặc thù, không giống bất kỳ vùng biển cổ ñiển nào trước ñây Trong vùng ñặc quyền kinh tế, nước ven biển có những quyền chủ quyền về tài nguyên Vùng ñặc quyền kinh tế nằm ngoài lãnh hải những cũng không thuộc về biển
cả Công ước Luật biển năm 1982 quy ñịnh: “Vùng ñặc quyền kinh tế là một vùng nằm
ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải có quy chế pháp lý riêng Vùng ñặc quyền kinh tế không mở rộng ra quá 200 hải lý kể từ ñường cơ sở dùng ñể tính chiều rộng lãnh hải”
Bảng 1: So sánh số liệu chiều dài bờ biển, thềm lục ñịa và ñặc quyền kinh tế
Nước
Chiều dài bở biển (hải lý)
Thềm lục ñịa tới ñộ sâu 200 mét (hải lý vuông)
ðặc quyền kinh
tế 200 hải lý (hải lý vuông) Trung Quốc
210 1.853 6.997
28
470 1.299 1.247
230.110 2.800 809.600 16.200 108.900 52.000
100 23.500 75.100 177.800
280.000 7.100 1.577.300 16.200 138.700 520.700
100 114.440 25.000 210.600
Như vậy, có thể nói rằng quy chế pháp lý của vùng ñặc quyền kinh tế là bao gồm tổng thể các nguyên tắc và các quy phạm pháp luật quốc tế ñiều chỉnh các quan hệ
US Geographer, Limits in the sea, n o 36
D.J Attard, The Economic Exclusive Zone in International Law, Oxford, Clarenden Press, 1987, tr XXXI
Trang 36Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về vấn ựề phân ựịnh biển với các quốc gia hữu quan
liên quan tới vùng ựặc quyền kinh tế và việc ban hành các quy phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan tới vùng này phải dựa trên cơ sở phù hợp với luật quốc tế hiện ựại
Các quy phạm của pháp luật nước ta về vùng ựặc quyền kinh tế ựược ghi nhận trong các văn bản pháp luật sau ựây:
1 Tuyên bố của Chắnh phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng ựặc quyề kinh tế và thềm lục ựịa của Việt nam ngày 12 tháng 5 năm 1977
2 Thông tư số 30 ngày 29/1/1980 của Hội ựồng Chắnh phủ về trật tự qua lại của tàu thuyền nước ngoài ở vùng biển Việt nam
3 Thông tư số 31 ngày 29/1/1980 của Hội ựồng chắnh phủ về các quy ựịnh
về tiến hành nghề cá của tàu thuyền nước ngoài ở vùng biển Việt Nam
4 Bộ luật Hàng Hải Việt Nam ngày 12/7/1990
đã từ lâu, người ta phát hiện từ ven bờ lục ựịa và các ựảo, mặt ựáy biển thoai thoải dần ra phắa ngoài khơi cho ựến ựộ sâu khoản vài ba trăm mét mới tụt hẳn xuống một ựộ sâu lớn, mặt vát tụt sâu hình thành rất rõ rệt Vùng này bao quanh toàn bộ bờ biển lục ựịa trên thế giới dài chừng 250.000km Trước những vùng ựồng bằng, bờ biển bằng phẳng, vùng này trãi ra rất xa Ở những vùng bờ biển khúc khuỷu, nhiều núi non, vùng này co hẹp lại hơn nhưng không nơi nào không có Người ta gọi vùng ựó là thềm lục ựịa
Việc phân ựịnh dứt khoát giới hạn của các thềm, dốc, và bờ lục ựịa có rất nhiều khó khăn vì cấu tạo hình thể của võ trái ựất không phải nơi nào cũng giống nhau, khó ghi nhận Trong phạm vi tìm kiếm và khai thác tài nguyên ở lớp trầm tắch thì thông thường thềm lục ựịa ựược gộp chung lại gọi là hành lang lục ựịa (hoặc lề lục ựịa)
Công ước năm 1958 về Luật biển ựịnh nghĩa thềm lục ựịa như sau: Thềm lục ựịa là phần ựáy biển và lòng ựất dưới ựáy biển tiếp giáp với bờ biển, các hải ựảo nhưng nằm ở ngoài lãnh hải ựến ựộ sâu 200m hoặc sâu hơn nữa, tới mức ựộ cho phép khai thác các tài nguyên thiên nhiên ở ựó
Công ước Luật biển năm 1982 ựịnh nghĩa về thềm lục ựịa khác hơn ựịnh nghĩa trên: Thềm lục ựịa của một quốc gia ven biển bao gồm phần ựáy biển và lòng ựất dưới ựáy biển ngoài lãnh hải của quốc gia ựó cho ựến bề ngoài của rìa lục ựịa hoặc ựến cách ựường cơ sở dùng ựể tắnh chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục