CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT NUÔI CON NUÔI Theo người viết để đi sâu vào phân tích những điểm mới của Luật nuôi con nuôi năm 2010 so với chế định nuôi con nuôi trong Luật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
- -
Trang 2
………
Trang 3
/
Trang 4Lời nói đầu
Trang
1 Tính cấp thuyết của đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT NUÔI CON NUÔI 1.1 Khái niệm nuôi con nuôi 4
1.2 Bản chất của việc nuôi con nuôi 5
1.2.1 Bản chất xã hội của việc nuôi con nuôi 5
1.2.2 Bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi 6
1.3 Nguyên nhân, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi 7
1.3.1 Nguyên nhân của việc nuôi con nuôi 7
1.3.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi 8
1.4 Sơ lược nguồn gốc ra đời của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi 9
1.4.1 Thời kỳ từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1959 9
1.4.2 Thời kỳ từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980 10
1.4.3 Thời kỳ từ Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp năm 1992 12
1.4.4 Thời kỳ từ Hiến pháp năm 1992 đến nay 13
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI
CỦA LUẬT NUÔI CON NUÔI NĂM 2010 SO VỚI LUẬT HÔN NHÂN VÀ
Trang 52.1 Các nguyên tắc để đảm bảo giải quyết việc nuôi con nuôi 16
2.1.1 Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc 16
2.1.2 Việc nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội 17
2.1.3 Chỉ cho làm con nuôi của người nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế trong nước 22
2.2 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi 23
2.2.1 Người nhận nuôi là cá nhân độc thân 24
2.2.2 Người nhận nuôi là một cặp vợ chồng 25
2.3 Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi 28
2.4 Trình tự, thủ tục nhận con nuôi 30
2.4.1 Nộp hồ sơ 30
2.4.2 Xem xét hồ sơ 32
2.4.3 Đăng ký và giao nhận 33
2.5 Nuôi con nuôi thực tế 34
2.6 Hiệu lực của việc nuôi con nuôi 36
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT NUÔI CON NUÔI NĂM 2010 VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN 3.1 Những mặt tích cực khi áp dụng Luật nuôi con nuôi vào cuộc sống 40
3.2 Những bất cập về các quy định mới ban hành trong Luật nuôi con nuôi năm 2010 và giải pháp hoàn thiện 41
3.2.1 Trường hợp vợ chồng nhận nuôi con nuôi 41
Trang 63.2.3 Thời hạn đăng ký đối với nuôi con nuôi thực tế 43 3.2.4 Mối quan hệ con nuôi với cha mẹ nuôi và các thành viên khác trong gia đình người nuôi 44 3.2.5 Điều kiện về tư cách đạo đức đối với người nhận nuôi con nuôi 47 3.2.6 Trường hợp quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi chấm dứt theo quy định của khoản 4 Điều 25 Luật nuôi con nuôi 48
KẾT LUẬN 50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi con nuôi là chế định pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia và trong pháp luật quốc tế Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em đã khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng thành trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm” Với tư cách là một quốc gia thành viên của Công ước, Nhà nước ta luôn có những chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em, luôn quan tâm đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhất là trẻ em mồ côi, bị tàn tật, bị cha mẹ bỏ rơi, không được sống trong môi trường gốc của mình
Việc nuôi con nuôi phải xuất phát từ mục đích quan trọng là vì lợi ích của người được nhận làm con nuôi, nhằm mang lại cho đứa trẻ được nhận làm con nuôi một mái ấm gia đình, được yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và cũng từ nhu cầu tình cảm của người nhận nuôi, nhằm thiết lập quan hệ tình cảm gắn bó giữa cha mẹ và con cái Bên cạnh đó, vấn đề tạo điều kiện cho mọi trẻ em điều có quyền bình đẳng được sống và phát triển lành mạnh sẽ góp phần tích cực vào sự phát triển của trẻ Tuy nhiên, như chúng ta đã biết không phải bất kỳ trẻ em nào được sinh ra cũng có một mái ấm gia đình đầy hạnh phúc và yêu thương Vì vậy, việc quan tâm, chăm sóc và bảo vệ đối với những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn lại càng có ý nghĩa thiết thực
Xuất phát từ ý nghĩa xã hội và mục đích nhân đạo của việc nhận nuôi con nuôi, là giúp cho trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ bị bỏ rơi làm con nuôi, nên Nhà nước
ta đã ban hành Luật nuôi con nuôi năm 2010, tạo điều kiện và cơ chế pháp lý cho trẻ em được nhận làm con nuôi và cũng như tạo điều kiện cho các em có được cuộc sống ổn định vừa giảm bớt gánh nặng cho xã hội
Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời được đánh giá là có nhiều điểm mới, đã góp phần đáp ứng đầy đủ được những nhu cầu cấp thiết của thực tế hiện nay So với các đạo luật trước kia chẳng hạn như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, thì Luật nuôi con nuôi đã thể hiện được sự tiến bộ của mình trong vấn đề điều chỉnh chế định nuôi con nuôi Và để hiểu rõ thêm về sự tiến bộ đó nên người viết đã chọn đề
tài “Những điểm mới của Luật nuôi con nuôi năm 2010 so với chế định nuôi con
nuôi trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000” làm luận văn tốt nghiệp của
mình
Trang 82 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian:
Đề tài nghiên cứu này được thực hiện trong khoảng thời gian từ: tháng 01/2012 đến tháng 04/2012
- Nguồn thông tin và tài liệu:
Chủ yếu từ các văn bản luật, giáo trình các trường đại học, báo tạp chí chuyên ngành và internet
- Về nội dung:
Đề tài chỉ nghiên cứu giới hạn trong phạm vi chế định nuôi con nuôi không
có yếu tố nước ngoài
3 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài “Những điểm mới của Luật nuôi con nuôi năm 2010 so với chế định nuôi con nuôi trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000” người viết nghiên
cứu nhằm mục tiêu:
- Tìm hiểu những vấn đề chung về nuôi con nuôi ở Việt Nam
- Đi sâu tập trung phân tích từng điều luật cụ thể, tính hiệu quả, những mặt hạn chế về các điểm mới và khác của chế định nuôi con nuôi Từ đó, đưa ra kiến nghị cũng như hướng giải quyết nhằm góp phần hoàn thiện Luật nuôi con nuôi
- Đồng thời, trao dồi và ôn lại những kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học tập
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành tốt bài viết, tác giả đã chọn các phương pháp phân tích truyền thống như: phương pháp phân tích luật viết, kết hợp với phân tích phát triển và phân tích lịch sử Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp diễn dịch, quy nạp, so sánh, đối chiếu… nhằm đi sâu vào từng điều luật hiện hành để tìm ra những điểm mới và khác cũng như mặt hạn chế Từ đó có những kiến nghị và hướng giải quyết cho vấn
Trang 9Chương 2 Quy định của pháp luật hiện hành và những điểm mới của Luật nuôi con nuôi năm 2010 so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Chương 3 Đánh giá về những điểm mới trong Luật nuôi con nuôi năm 2010
và một số đề xuất nhằm hoàn thiện
Qua đây, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý thầy cô Khoa Luật, trường Đại Học Cần Thơ đặc biệt là cô Nguyễn Thị Mỹ Linh – người đã tận tình hướng dẫn người viết hoàn thành đề tài nghiên cứu này Mặc dù, đã có nhiều cố gắng, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được của đề tài vẫn còn những thiếu sót nhất định do người viết còn hạn chế về trình độ, khả năng và điều kiện nghiên cứu Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng bạn đọc!
Chân thành cảm ơn!
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LUẬT NUÔI CON NUÔI
Theo người viết để đi sâu vào phân tích những điểm mới của Luật nuôi con nuôi năm 2010 so với chế định nuôi con nuôi trong Luật hôn nhân và gia đình năm
2000, thì trước tiên cần phải làm rõ khái niệm liên quan đến nuôi con nuôi, cũng như bản chất, ý nghĩa và sơ lược về nguồn gốc ra đời của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi
1.1 Khái niệm nuôi con nuôi
Nuôi con nuôi là một khái niệm mang tính chất gia đình, khi phát sinh quan
hệ này xuất hiện hai chủ thể người nhận nuôi con nuôi và người được nhận nuôi con nuôi, cùng xác lập mối quan hệ gia đình Nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật
và tuân thủ các điều kiện về nuôi con nuôi Nuôi con nuôi là một quyền và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ1 Đồng thời quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật khác
Nuôi con nuôi – một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi…; dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi2
Theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:
“Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con
nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội”
Theo Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Nuôi con nuôi là việc
xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký” Quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con là quan hệ cha mẹ và con đặc biệt, vì quan hệ này không phát sinh trên cơ sở quan hệ huyết thống mà được thiết lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo nguyện vọng của các đương sự và sự tuân thủ các quy định của pháp luật về các điều kiện xác lập quan hệ
1 Điều 44 – Luật dân sự năm 2005
2 Tập thể tác giả, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình – Đại học luật Hà Nội, trang 171
Trang 11giữa cha mẹ nuôi và con nuôi Như vậy, quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi là quan hệ ràng buộc một người vào một hoặc hai người khác, những người có liên quan không
có quan hệ huyết thống với nhau như cha mẹ - con ruột, nhưng người nuôi xem như cha mẹ của người được nuôi, dù không sinh ra người được nuôi; người được nuôi
về phần mình, coi người nuôi như cha mẹ ruột Đó là quan hệ cha mẹ con không được xác lập bằng con đường sinh sản mà theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng của các đương sự, đặc biệt là của người nuôi3 Việc xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ giữa hai bên và việc nuôi con nuôi chỉ có giá trị pháp lý khi đã được đăng ký theo quy định của pháp luật
1.2 Bản chất của việc nuôi con nuôi
1.2.1 Bản chất xã hội của việc nuôi con nuôi
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Là câu nói quen thuộc để nói đến vai
trò quan trọng của trẻ em trong việc xây dựng và phát triển thế giới tương lai Trẻ
em là điểm tựa vững chắc là trụ cột trong việc đào tạo nguồn nhân lực của đất nước Ngày nay khi mà đời sống của con người ngày càng được nâng cao vị thế con người ngày càng được khẳng định thì việc quan tâm, chăm sóc trẻ em ngày càng được chú trọng Đây là trách nhiệm không chỉ riêng của mỗi người mà còn là mối quan tâm của xã hội Bất kỳ ai trong chúng ta điều có trách nhiệm trong việc chăm sóc và bảo
vệ quyền lợi của trẻ em
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 cũng khẳng định: “Trẻ em được gia đình, nhà nước và xã hội bảo vệ chăm sóc và giáo dục” Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, thể hiện tấm lòng nhân đạo, tình thương người, giúp các em có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi, lang thang, sống cơ nhỡ không được chăm sóc và giáo dục Với việc nhận các em này làm con nuôi sẽ tạo cho các em có một mái ấm gia đình, một môi trường ổn định để phát triển
Mặt khác việc nuôi con nuôi không chỉ thể hiện tính nhân đạo mà qua đó thấy được sự quan tâm của nhà nước đối với những chủ nhân tương lai sau này Nhận nuôi con nuôi còn giúp cho Nhà nước tạo môi trường xã hội ổn định nhằm tránh được những tệ nạn xã hội có thể xảy ra
3 Ts Nguyễn Ngọc Điện, Bình Luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập 1 – Gia đình, trang
197
Trang 121.2.2 Bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi
Bản chất pháp lý của việc nhận con nuôi là một sự kiện pháp lý phát sinh trong quan hệ nuôi con nuôi Sự kiện đó thể hiện ý chí của hai bên cha mẹ nuôi – con nuôi bao gồm: ý chí của người nhận nuôi con nuôi; cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ; người được nhận làm con nuôi, với sự thể hiện ý chí đó sẽ xác lập nên mối quan
hệ cha mẹ nuôi – con nuôi Cụ thể:
- Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi Người nhận nuôi con nuôi phải thể hiện ý chí của mình trong việc mong muốn nhận nuôi đứa trẻ và thiết lập quan hệ cha mẹ và con với đứa trẻ đó Ý chí, mong muốn đó của người nhận nuôi thể hiện qua đơn xin nhận nuôi con nuôi;
- Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi Ý chí của những người này trong việc cho trẻ em làm con nuôi phải minh bạch, và xuất phát từ sự tự nguyện thật sự của bản thân họ mà không có bất cứ
sự tác động, thúc ép, dụ dỗ, hứa hẹn hoặc một áp lực nào Nói cách khác, ý chí đó phải hoàn toàn độc lập Nội dung của ý chí đó là đồng ý cho con mình làm con nuôi của người khác Sự đồng ý đó có thể thể hiện bất cứ lúc nào nhưng nó chỉ có ý nghĩa sau khi đứa trẻ sinh ra được còn sống;
- Sự thể hiện ý chí của bản thân người con nuôi Khoản 2 Điều 71 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Việc nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm
con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó” Trong trường hợp này đứa trẻ tuy chưa được coi là có năng lực hành vi đầy đủ nhưng có khả năng nhận thức nhất định
về cuộc sống, có thể nhận biết và bày tỏ thái độ của mình mong muốn hay không mong muốn làm con nuôi của người khác, cũng như cảm nhận được sự an toàn hay không an toàn khi được cho làm con nuôi của người khác, khi phải thay đổi môi trường sống… Do đó, pháp luật quy định đứa trẻ từ đủ 09 tuổi trở lên có quyền thể hiện ý chí độc lập, quyết định vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình;
sự đồng ý làm con nuôi của đứa trẻ từ đủ 09 tuổi trở lên là điều kiện bắt buộc để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lý;
- Trên cơ sở đó nhà nước sẽ xem xét ý chí của các bên và các điều kiện cần thiết về phía người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi cũng như mục đích trước khi nhà nước công nhận việc nuôi con nuôi Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sẽ đăng ký việc nuôi con nuôi và ra quyết định công nhận nuôi con nuôi, với quyết định công nhận này sẽ phát sinh quan hệ pháp luật cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và đứa trẻ được nhận nuôi
Trang 131.3 Nguyên nhân, ý nghĩa của việc nuôi con nuôi
1.3.1 Nguyên nhân của việc nuôi con nuôi
* Nguyên nhân của việc cho làm con nuôi
- Do sinh đẻ nhiều nhưng hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn không đủ điều kiện để chăm sóc và dạy dỗ con cái Vì vậy, họ buộc lòng cho con đẻ của mình cho người khác làm con nuôi Tuy nhiên cũng không phải do sinh đẻ nhiều mà do gia đình nghèo khó quá, họ cho con mình làm con nuôi mong cuộc sống sẽ bớt nghèo khó hơn Các trường hợp này thường xảy ra ở vùng núi hoặc nông thôn
- Do đời sống hiện nay ngày càng phát triển, con người trong xã hội cũng phát triển theo, những lối sống của phương tây dần dần được gia nhập điển hình là lối “sống thử” hoặc do những nguyên nhân khác như: bị cưỡng hiếp, hiếp dâm… dẫn đến nhiều cô gái chưa có chồng mà đã có con hoặc mang thai ngoài ý muốn và không thể phá thai được nên khi sinh con ra họ muốn cho con đi Đây là những trường hợp thường gặp xảy ra đối với thành thị Sau khi sinh con ra họ thường để con ở những nơi đông người qua lại hoặc ở những nhà có lòng hảo tâm để nhặt về nuôi hoặc để lại ở nhà hộ sinh và ra đi để họ dễ dàng trong việc lập gia đình sau này
* Nguyên nhân của việc nhận con nuôi
- Do những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm con Họ muốn nhận con nuôi để tạo
sự gắn bó giữa vợ chồng
- Các cặp vợ chồng tuy đã có con do kinh tế gia đình khá giả và có lòng thương trẻ con, nên khi gặp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn như: mồ côi cha mẹ, gia đình đông anh em nhưng mức thu nhập của gia đình thấp Xuất phát từ lòng thương người nên họ xin những đứa trẻ này về làm con nuôi
- Có một số người vì một lý do nào đó mà không muốn kết hôn, nên họ muốn xin con nuôi về nuôi để cuộc sống của họ sau này bớt hiu quạnh
- Có những gia đình tuy đã có con nhưng sinh toàn con trai hoặc con gái nên
họ xin con trai hay con gái về nuôi, để gia đình có trai gái đầy đủ
- Cũng có trường hợp những gia đình vì ít con mà nhất là con một trong gia đình, do phải đi học hay đi làm xa không ở bên cạnh nên họ nhận con nuôi để lấp khoảng trống gia đình
Trang 14- Một số người khi gặp hoàn cảnh khó khăn như: mồ côi, bị bỏ rơi… khi nhận được sự giúp đỡ của người nhận nuôi nên họ muốn được nhận làm con nuôi của người nuôi với mong ước là để trả ơn
- Bên cạnh việc nhận nuôi con nuôi vì lòng nhân đạo, tình thương người, giúp các em có được mái ấm gia đình, một môi trường giáo dục tốt, thì có một số người lợi dụng việc nuôi con nuôi để nhằm bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục, buôn bán trẻ em Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của trẻ em nên cần sự bảo vệ của pháp luật
1.3.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi
So với pháp luật dưới chế độ phong kiến, thì ý nghĩa của việc nhận con nuôi trong Luật nuôi con nuôi Việt Nam là sự phát triển vượt bậc Nuôi con nuôi ở các gia đình trong triều đại nhà Lê chủ yếu là nhằm đảm bảo sự kế tục trong việc thờ cúng tổ tiên, nối dõi tông đường; khuyếch trương quyền thế gia đình; nhận con nuôi
để trừ nợ; nuôi con nuôi vì mê tín dị đoan, để người con nuôi gánh vận đen của gia đình Có thể nhận thấy rõ ràng, dưới chế độ phong kiến nuôi con nuôi trước hết vì lợi ích của người nhận nuôi con nuôi, chứ không xuất phát từ quyền lợi của người nuôi
Nuôi con nuôi với ý nghĩa chính là đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục phù hợp với đạo đức, với truyền thống tốt đẹp của nhân nhân ta đó là tình yêu thương, lòng nhân đạo, mối quan hệ tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa con người với con người, cùng với sự quan tâm sâu sắc của Đảng và nhà nước Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại Điều 65 đã quy định: “Trẻ em được gia đình, nhà
nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” Với quy định trên đã tạo nền tảng vững chắc cho việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, thể hiện tinh thần trách nhiệm của toàn xã hội đối với những chủ nhân tương lai của đất nước
Kế thừa những quy định của Hiến pháp, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em nêu rõ: “Trẻ em không phân biệt gái, trai, con trong giá thú, con ngoài giá
thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, thành phần tôn giáo, thành phần địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng,
đều được bảo vệ chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của
pháp luật” Và tại Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
quy định:
Trang 15“Việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà
trường cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em”.4
Hiện nay, do nền kinh tế xã hội nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn, mức bình quân thu nhập của người dân còn thấp, nhiều trẻ em khi sinh ra bị bố mẹ bỏ rơi, nhiều em bị dị tật bẩm sinh hoặc vì hậu quả của chiến tranh… Các em phải sớm
tự lo cho cuộc sống của mình, không có một môi trường giáo dục để phát triển tốt
và biết bao gia đình quá nghèo không đủ điều kiện để chăm sóc, giáo dục các em, với môi trường đó các em dễ dàng gây ra các tệ nạn cho xã hội như: móc túi, trộm cắp… và sẽ trở thành gánh nặng cho xã hội Nếu như các em đó được nhận làm con nuôi, được hưởng sự chăm sóc và nuôi dưỡng tốt từ phía cha mẹ nuôi thì sẽ đảm bảo sự phát triển toàn diện, tránh đi vào con đường lầm lỡ Việc nhận nuôi con nuôi không chỉ có ý nghĩa tạo mái ấm cho các em mà còn có ý nghĩa lớn đối với toàn xã hội
Vì vậy, trong bất cứ điều kiện và hoàn cảnh nào thì việc nuôi con nuôi điều
phải đảm bảo mục đích là “nhằm xác lập mối quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền
vững, vì lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho con nuôi
được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình”5 Bên cạnh việc tạo mái ấm cho trẻ em, việc nuôi con nuôi còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng nhận nuôi con nuôi, nhất là những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm con, những người sống cuộc sống một mình
1.4 Sơ lược nguồn gốc ra đời của pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi
1.4.1 Thời kì từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1959
Hiến pháp là cơ sở lý luận quan trọng trong việc bảo vệ quyền của con người Trong đó có quyền của trẻ em, xác định được trách nhiệm pháp lý của toàn
xã hội đối với trẻ em Trong thời kỳ từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm
1959 đây là thời kỳ mang tính chất khai hóa trong pháp luật Việt Nam về vấn đề nuôi con nuôi, sau cách mạng năm 1945 thắng lợi Hiến pháp năm 1946 ra đời đã ghi nhận quyền của trẻ em được chăm sóc và bảo vệ và điều đó được quy định
“…trẻ em cần được chăm sóc về mặt giáo dưỡng”6, từ cơ sở quy định trách nhiệm
4 Điều 2, 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
5 Điều 2, Luật nuôi con nuôi năm 2010
6 Điều 14, Hiến pháp năm 1946
Trang 16của xã hội về vấn đề quyền lợi của trẻ em được ghi nhận trong bản Hiến pháp chế định nuôi con nuôi cũng được chú trọng Bản Hiến pháp đã cho thấy được tầm quan trọng đó vì đây là vấn khá mới mẻ nên cần được sự quan tâm của toàn xã hội
Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp lần đầu tiên của nước Việt Nam nên vấn đề nuôi con nuôi chưa được quy định cụ thể chỉ xoay quanh vấn đề quyền lợi của trẻ em Tuy chưa thật sự đầy đủ nhưng bản Hiến pháp đã tạo một bước tiến thuận lợi cho các chế định về hôn nhân và gia đình trong đó có chế định nuôi con nuôi Với lòng thương người, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, sống lang thang cơ nhỡ thì việc nhận các em về làm con nuôi càng có ý nghĩa hơn, vấn đề về nuôi con nuôi không dừng lại ở Hiến pháp năm 1946 mà nó cũng được ghi nhận trong các văn bản như: Thông tư 30-NV/DC năm 1958 thi hành điều lệ đăng ký hộ tịch đơn giản tại vùng dân tộc ít người do Bộ nội vụ ban hành; Thông tư 87-NV/DC năm 1958 ấn định thể thức và hướng dẫn thi hành; Nghị định 767/Ttg ngày 08/06/1956 ban hành bản đăng ký hộ tịch; Thông tư số 06/NV-DC-TT ngày 25/05/1956 về việc thi hành đăng ký hộ tịch mới do Bội nội vụ ban hành
Trong thời kỳ từ năm 1946 đến năm 1959, đây là khoảng thời gian mà đất nước ta đang trong tình trạng chiến tranh nhân dân cả nước phải cùng nhau chiến đấu để giành độc lập cho dân tộc Việc chăm sóc, bảo vệ quyền trẻ em đã được quan tâm nhưng vấn đề đó chưa được quy định cụ thể, chi tiết Vì cả nước đang tập trung nhiệm vụ giải phóng nước nhà
1.4.2 Thời kỳ từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980
Đây là thời kỳ mà nhân dân cả nước cùng nhau đứng lên chống giặc ngoại xâm, giành độc lập cho đất nước Bên cạnh đó, các mối quan hệ xã hội, trong lĩnh vực hôn nhân gia đình được điều chỉnh chủ yếu bằng Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 Sự ra đời Hiến pháp năm 1959 đã đánh dấu được bước phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và vấn đề nuôi con nuôi nói riêng, đã được nhà nước
ta quan tâm hơn “…nhà nước bảo hộ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em, bảo đảm phát
triển, nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”7, với các quy định về quyền của trẻ
em, hôn nhân và gia đình việc nuôi con nuôi ngày càng được củng cố nhiều hơn chính bằng sự ra đời của Hiến pháp năm 1959 là sự ra đời của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 khẳng định tính quan trọng trong việc điều chỉnh vấn đề hôn nhân và gia đình, đồng thời vấn đề nuôi con nuôi cũng đã được đề cập đến Luật hôn nhân
và gia đình năm 1959 đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa khóa thứ
7 Điều 24, Hiến pháp năm 1959
Trang 17nhất, kỳ họp thứ 11, thông qua trong phiên họp ngày 29 tháng 12 năm 1959 và được công bố vào ngày 13/01/1960 là cơ sở đầu tiên cho việc ghi nhận việc nuôi con nuôi được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình Luật gồm có 35 Điều, 6 Chương quy định những vấn đề về nguyên tắc chung; kết hôn; nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; ly hôn Mặt dù đất nước ta trong hoàn cảnh còn gặp nhiều khó khăn nhưng trên tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường bảo vệ độc lập của nhân dân ta, vẫn thể hiện được sự quan tâm sâu sắc đến quyền và lợi ích của trẻ
em Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 bắt đầu ghi nhận sự bình đẳng giữa con
trai và con gái “Con trai và con gái có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình”8 Vấn đề nuôi con nuôi cũng được chú ý đến với những quy định rất tiến bộ
như: “con nuôi có quyền và nghĩa vụ như con đẻ”; “Cha mẹ không được hành hạ
con cái, không được đối xử tàn tệ với con dâu, con riêng, con nuôi”9
Trong luật này, chế định nuôi con nuôi được quy định: “Việc nhận nuôi con
nuôi phải được ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch Tòa án nhân dân có thể hủy bỏ việc công nhận
đó, khi bản thân người con nuôi hoặc bất cứ người nào, tổ chức nào yêu cầu vì lợi
ích của người con nuôi”10 Tuy nhiên, luật chưa quy định gì về các điều kiện cũng như các quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc nhận nuôi con nuôi, cùng với Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 là các văn bản pháp lý liên quan như: Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 quy định bản điều lệ đăng ký hộ tịch do hội đồng Chính phủ ban hành; Thông tư 05/NV ngày 21/01/1961 của Bộ nội vụ hướng dẫn thi hành điều lệ đăng ký hộ tịch mới Các quy định này đã cụ thể hóa các quy định
và điều kiện nuôi con nuôi so với trước đây
Ngày 30/04/1975 đất nước ta được hoàn toàn giải phóng do mới giành được độc lập nên còn gặp nhiều khó khăn, các quy định về quyền trẻ em được giáo dục và chăm sóc được thừa nhận nhưng trên thực tế quyền lợi của trẻ em còn chưa được quan tâm đúng mức Vấn đề nhận nuôi con nuôi còn rất hiếm mặc dù trong xã hội
có rất nhiều đứa trẻ sớm mồ côi, bệnh tật, hoàn cảnh khó khăn Đặc biệt là nước ta đang trong thời kỳ xây dựng đất nước
8 Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
9 Điều 18, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
10 Điều 24, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
Trang 181.4.3 Thời kỳ từ Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp năm 1992
Trong giai đoạn này đất nước ta đã hoàn toàn độc lập, nhiều chính sách được Đảng và nhà nước đưa ra để phát triển xã hội Hiến pháp năm 1980 của nhà nước Cộng hòa xã hội Việt Nam cũng đã ra đời, đất nước thống nhất đòi hỏi phải có pháp luật thống nhất Vấn đề về bảo vệ và chăm sóc trẻ em ngày càng được quan tâm và chú trọng Điều đó khẳng định nhà nước ta đã quan tâm đến quyền lợi của trẻ em đặc biệt là vấn đề nuôi con nuôi được quy định ngày càng rõ ràng Việc nhận nuôi con nuôi nhằm giúp cho các em được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, một môi trường đầy đủ tình thương để phát triển tốt nhất Trong khi nền kinh tế của nước ta còn nhiều biến động, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 không còn phù hợp nữa đòi hỏi cần ban hành văn bản mới để điều chỉnh
Trước tình hình đó, tiếp bước Hiến pháp năm 1980, ngày 29/12/1986 là sự ra đời của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã được Quốc hội khóa VII thông qua Trong Luật này gồm 10 Chương, 57 Điều, việc nuôi con nuôi được quy định ở Chương VI, gồm 6 Điều Trong đó việc nuôi con nuôi được quy định thành một Chương riêng từ Điều 34 đến Điều 39 quy định một cách cụ thể các vấn đề về nguyên tắc, điều kiện cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc nhận nuôi
con nuôi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định: “Người từ 15 tuổi trở
xuống mới được nhận làm con nuôi Trong trường hợp con là thương binh, người tàn tật hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn thì con nuôi có thể trên 15 tuổi Người nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên”11
Ngoài ra, luật còn quy định việc nhận nuôi con nuôi phải dựa trên sự thỏa
thuận của cả hai vợ chồng và tôn trọng ý chí của người được nuôi “Việc nhận nuôi
con nuôi phải được sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng người nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên Nếu nhận nuôi người từ 09 tuổi trở lên thì còn phải có sự đồng ý của người đó”12 Với những quy định rất tiến
bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã góp phần hoàn thiện chính sách nuôi con nuôi của nước ta Cùng với sự tiến bộ đó nhà nước ta không ngừng ban hành các văn bản có liên quan đến nuôi con nuôi để điều chỉnh như: Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 20/01/1988 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân
và gia đình; Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế; Luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em năm 1990 và Nghị định số 374 của Hội đồng bộ trưởng
11 Điều 35, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
12 Điều 36, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
Trang 19ngày 14/01/1991 quy định chi tiết Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em… Các văn bản quy định khá chi tiết về trình tự thủ tục, thẩm quyền, nhiệm vụ của cơ quan thụ lý
và cả vấn đề về điều kiện cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nuôi con nuôi
Mặc dù vấn đề nuôi con nuôi trong thời gian này có nhiều bước phát triển hơn so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, đã tạo điều kiện cho nhiều trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn được nhận làm con nuôi nhưng do luật được ban hành trong thời gian đất nước ta còn nhiều khó khăn, đời sống xã hội chưa ổn định, đặc biệt nền kinh tế nước ta đang trong thời kì phát triển, nên luật nhanh chóng đi vào lạc hậu và không còn phù hợp nữa
1.4.4 Thời kỳ từ Hiến pháp năm 1992 đến nay
* Từ Hiến pháp năm 1992 đến năm 2000
Đây là thời kỳ đánh dấu bước phát triển của đất nước cũng như các vấn đề xã hội được pháp luật điều chỉnh Trong thời kỳ này vấn đề nuôi con nuôi không còn là vấn đề mới mẻ mà nó là vấn đề được sự quan tâm sâu sắc và phổ biến rộng rãi trong đời sống xã hội Cùng với sự quan tâm đó, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định cụ thể về vấn đề nuôi con nuôi Đánh dấu bước phát triển của pháp luật nước ta nói chung và sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 1995 nói riêng, nhằm thay thế cho một số văn bản trước kia như: Pháp lệnh thừa kế; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi đã hết hiệu lực Bộ luật dân sự năm
1995 quy định “Việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo
các điều kiện, trình tự thủ tục do pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về hộ tịch quy định”13 Các quy định về thừa kế cho phép con đẻ và con nuôi có quyền thừa kế theo pháp luật đối với di sản do cha mẹ để lại Con nuôi và cha mẹ nuôi có quyền thừa kế di sản của nhau Việc ban hành Nghị định 83/1998 NĐ-CP ngày 10/10/1998 thay thế cho Nghị định số 04/ CP ngày 16/01/1961 của Chính phủ đã tạo cơ sở cho việc đăng ký và nuôi nhận con nuôi phù hợp với tình hình mới
13 Điều 40, Bộ luật dân sự năm 1995
Trang 20* Từ năm 2000 đến nay
Đây là thời kỳ đánh dấu bước phát triển của nước ta cũng như các vấn đề xã hội được pháp luật điều chỉnh, bằng sự kiện Quốc hội khóa X nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã họp lần thứ 07 từ ngày 09/05/2000 đến ngày 09/06/2000 đã thông qua Luật hôn nhân và gia đình và có hiệu lực 01/01/2001, Luật gồm 13 Chương, 110 Điều Bên cạnh đó có những ngành luật ra đời như: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004; Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị định 158/2005/NĐ-CP có hiệu lực ngày 01/04/2006 thay thế Nghị định 83/1998 NĐ-CP ngày 10/10/1998 Từ đây quy chế pháp lý về chế định nuôi con nuôi đã được cụ thể và hoàn chỉnh hơn Trong
đó việc nuôi con nuôi được quy định trong Chương VIII với 11 Điều, từ Điều 67 đến Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định một cách rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, nguyên tắc, đối tượng được nhận làm con nuôi cũng như điều kiện của các bên trong việc nhận nuôi con nuôi Luật quy định:
“Người được nhận làm con nuôi phải là người từ 15 tuổi trở xuống Người trên 15
tuổi có thể được nhận làm con nuôi, nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn Một người chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của hai người là vợ chồng”14 Cũng giống trong quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 là phải tôn trọng ý
chí của người được nhận nuôi “Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con
nuôi phải được sự đồng ý của trẻ đó” 15
Thời kỳ này đã đánh dấu sự tiến bộ trong quan hệ nuôi con nuôi Tuy nhiên đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển, pháp luật điều chỉnh vấn đề nuôi con nuôi không còn phù hợp nữa, nhiều vấn đề liên quan đến quyền nuôi con nuôi, quyền được nhận làm con nuôi chưa được quy định đầy đủ, các quy định về nuôi con nuôi còn nằm trong nhiều văn bản khác nhau sẽ gây khó khăn cho việc áp dụng, hoạt động quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực nuôi con nuôi còn nhiều hạn chế như: việc nhận nuôi con nuôi không đăng ký tại cơ có thẩm quyền, nên không có cơ
sở pháp lý bảo đảm quyền và lợi ích của người được nhận làm con nuôi, của cha mẹ nuôi
Do đó, Luật nuôi con nuôi ra đời nhằm tạo ra khung pháp lý thống nhất, ổn định, có giá trị áp dụng lâu dài để thu hút sự quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ của toàn xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em Luật nuôi con nuôi đã được nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua
14 Điều 68, Luật hôn nhân và gia định năm 2000
15 Điều 71, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 21ngày 17 tháng 06 năm 2010 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 gồm 05 Chương với
52 Điều, so với các quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về nuôi con nuôi, Luật nuôi con nuôi có nhiều điểm mới Luật đã dành Chương 2 từ Điều 14 đến Điều 27 để quy định cụ thể các điều kiện và nguyên tắc trong việc nhận nuôi con nuôi Bên cạnh đó để khắc phục tình trạng trên thực tế vẫn tồn tại việc nuôi con nuôi chưa đăng ký Luật quy định nếu nhận nuôi con nuôi mà chưa đăng ký thì kể từ thời điểm luật này có hiệu lực (ngày 01/01/2011) thì sẽ được đăng ký trong thời hạn
05 năm nếu các bên thỏa các điều kiện được quy định trong luật tại thời điểm phát sinh quan hệ nuôi con nuôi Luật nuôi con nuôi đã dành Chương VIII để quy định
về vấn đề nuôi con nuôi Trên cơ sở kế thừa Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật nuôi con nuôi đã quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc nhận nuôi con nuôi, việc nhận cũng phải dựa trên sự thỏa thuận ý chí của cả hai vợ
và chồng và có sự tôn trọng ý chí của người nuôi
Luật nuôi con nuôi năm 2010 với những đổi mới đã góp phần tạo nên sự thống nhất trong việc điều chỉnh nuôi con nuôi, giúp cho nhiều trẻ em có được mái
ấm gia đình được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt
Trang 22CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT NUÔI CON NUÔI NĂM 2010 SO VỚI LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH NĂM 2000
Luật nuôi con nuôi năm 2010 đã được nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 07 thông qua ngày 17 tháng 06 năm 2010 và có hiệu lực ngày 01/01/2011, so với các đạo luật trước kia như Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 thì Luật nuôi con nuôi đã đánh dấu được bước tiến quan trọng trong việc điều chỉnh chế định về nuôi con nuôi Bên cạnh sự phát triển của luật thì trong quá trình nghiên cứu người viết đã thấy được Luật nuôi con nuôi năm 2010 có một số điểm mới và khác biệt hơn so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, cụ thể sẽ được trình bày trong phần Chương 2 này
2.1 Các nguyên tắc để đảm bảo giải quyết việc nuôi con nuôi
2.1.1 Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em
được sống trong môi trường gia đình gốc
Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách của mỗi trẻ em Do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, nên trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt trong bầu không khí yêu thương, hạnh phúc và cảm thông của những thành viên trong gia đình Trong Lời nói đầu của Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em đã
khẳng định: “tin tưởng rằng, gia đình với tư cách là nhóm xã hội cơ bản và là
môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của tất cả các thành viên gia đình, đặc biệt là trẻ em cần có sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết có thể đảm
đương đầy đủ các trách nhiệm của mình trong cộng đồng”
Về nguyên tắc khi giải quyết việc nuôi con nuôi phải tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc, theo khoản 8 Điều 3
Luật nuôi con nuôi: “Gia đình gốc là gia đình của những người có quan hệ
huyết thống”. Điều này cũng được thừa nhận chung trong cộng đồng quốc tế Điều 3, tuyên bố của Liên hiệp quốc về các nguyên tắc pháp lý và xã hội liên
quan đến phúc lợi và bảo vệ trẻ em ghi nhận: “Ưu tiên hàng đầu đối với trẻ
em là phải được cha mẹ đẻ chăm sóc”. Quyền của trẻ em được sống chung với cha mẹ của mình còn được ghi nhận tại Điều 13 Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em có quyền chung sống với cha mẹ Không
ai có quyền cách ly trẻ em với cha mẹ, trừ trường hợp việc cách ly như thế là
Trang 23vì lợi ích tốt nhất cho trẻ em”. Ngoài ra, khoản 1 Điều 5 Luật nuôi con nuôi cũng quy định thứ tự ưu tiên khi lựa chọn gia đình thay thế bao gồm: Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi được lựa chọn đầu tiên khi cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, em ruột của người được nuôi không có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc Vì những người này sẽ đảm
bảo được nguồn gốc cũng như gia đình gốc của đứa trẻ
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 11 Luật nuôi con nuôi còn quy định: “Con
nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình Không ai được cản trở con nuôi được biết về nguồn gốc của mình”. Đây là điều rất cần thiết, vì thực tế,
có nhiều trường hợp nhận nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi không cho con nuôi biết
về nguồn gốc của mình, vì họ sợ quan hệ giữa họ sẽ bị rạn nứt Tuy nhiên, việc người nhận nuôi không cho biết nguồn gốc cũng nhằm giúp cho con nuôi tránh được những cú sốc tâm lý, nhưng việc không cho các em biết được nguồn gốc của mình sẽ làm cho các em mất đi cội nguồn, mất đi truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam là tìm về cội nguồn của mình, người đã sinh thành ra mình,… Biết được nguồn gốc còn giúp cho đứa trẻ tránh được những mối quan hệ sau này có thể xảy ra như: đứa trẻ có tình cảm hoặc kết hôn với một người nào đó nhưng không may người đó có họ hàng trong phạm vi ba đời, có cùng dòng máu trực hệ với đứa trẻ, đây không những là điều mà pháp luật cấm mà nó còn ảnh hưởng đến con cháu sau này Và điều đó sẽ gây ảnh
hưởng lớn đến tâm lý của người con nuôi
2.1.2 Việc nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình
đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội
Nuôi con nuôi là một hiện tượng xã hội mang tính nhân đạo, làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con lâu dài, ổn định giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi (trẻ em không có gia đình) được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục một cách tốt nhất trong môi trường gia đình Vì vậy, việc nhận trẻ em làm con nuôi, không kể là trẻ em trai hay trẻ em gái, đều phải hướng đến mục đích đó Trong quá trình nuôi con nuôi, lợi ích của trẻ em phải tính đến trước tiên trong mối tương quan với lợi ích của cha mẹ Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận một người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều
Trang 24kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất16 Việc nuôi con nuôi phải thực hiện trên tinh thần tự nguyện của các bên liên quan, không phân biệt giữa người nhận nuôi là nam hay nữ, độc thân hay đã kết hôn nếu có đủ điều kiện thì đều được nhận nuôi con nuôi; đồng thời không phân biệt giữa con nuôi là trai hay gái nếu có đủ điều kiện và đúng đối tượng thì có thể được nhận làm con nuôi Tham khảo pháp luật của các nước cho thấy, không nước nào phân biệt trẻ em là trai hay gái khi được nhận làm con nuôi, cũng không
có quy định ưu tiên cho trẻ em thuộc một giới cụ thể nào Tương tự, pháp luật các nước cũng không có quy định phân biệt về điều kiện nuôi con nuôi đối với người nhận con nuôi là phụ nữ hay đàn ông, cũng không có quy định thuận lợi hay ưu tiên hơn khi giải quyết việc nuôi con nuôi cho người nhận con nuôi độc thân thuộc phái nam hay phái nữ Giống như các lĩnh vực khác, mọi quy định về nuôi con nuôi điều được áp dụng chung trên nguyên tắc bình đẳng đối với mọi công dân
Việc cho trẻ em làm con nuôi, cũng phải đảm bảo quyền được thể hiện
ý kiến, quyền được lựa chọn của trẻ em để tránh tư tưởng áp đặt từ phía người lớn theo kiểu “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”; đồng thời cũng tính đến nguyện vọng và lợi ích chính đáng của người nhận con nuôi Do đó, nếu người nhận con nuôi thể hiện nguyện vọng chính đáng là muốn nhận trẻ em thuộc một giới tính nào đó (nam hoặc nữ) làm con nuôi, thì nguyện vọng đó cũng phải được tôn trọng mà không nên coi đó là sự phân biệt đối xử
Bên cạnh việc nuôi con nuôi phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ Việc nuôi con nuôi còn phải đảm bảo không trái pháp luật và đạo đức xã hội Điều 13 Luật nuôi con nuôi quy định các hành vi
bị cấm, đây là một trong những quy định mới được đưa vào, song các hành vi
bị cấm không phải là hành vi mới Các hành vi bị cấm trước đây được quy định một cách tản mạn, không làm toát lên được tính phòng ngừa, răn đe của pháp luật đối với những hành vi xâm hại tới quyền và lợi ích của trẻ em được cho làm con nuôi, dẫn đến tình trạng vi phạm các quy định của pháp luật nhằm mục đích trục lợi, mua bán trẻ em Tất cả những xu hướng và hiện tượng đó cần phải được phòng ngừa, ngăn chặn một cách dứt khoát, triệt để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em, bảo vệ chế độ hôn nhân và
16 Khoản 2 Điều 5 Luật nuôi con nuôi năm 2010
Trang 25gia đình nói chung Luật nuôi con nuôi đã đưa ra các hành vi bị cấm được quy định cụ thể như sau:
- Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em Hành vi này đã được quy định tại Điều 2 17của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình năm
200018 Hiện tượng nhận trẻ em làm con nuôi sau đó bắt buộc trẻ em lao động cũng là một hành vi đáng lên án và cần có biện pháp chế tài Luật nuôi con nuôi kết hợp quy định cấm này với chế định theo dõi tình hình nuôi con nuôi trong nước19 là một biện pháp pháp lý an toàn và bảo đảm cho quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em Nhất là khi hành vi trục lợi từ giới thiệu trẻ em làm con nuôi chưa được xử lý hình sự
- Giả mạo giấy tờ, hồ sơ để giải quyết việc nuôi con nuôi. Hiện tại, một
số những chủ thể cơ hội, lợi dụng chức vụ hoặc quyền hạn để phát hành những loại giấy tờ, hồ sơ làm sai lệch nhân thân, nguồn gốc của trẻ em được cho làm con nuôi Do vậy, đây là một hiện tượng cần ngăn chặn kịp thời
- Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi. Việc nhận nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa các bên, vì vậy, quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng là quyền và nghĩa vụ giữa cha
mẹ và con Con nuôi cũng có đầy đủ mọi nghĩa vụ và quyền trong quan hệ với cha mẹ nuôi như con đẻ, không có bất kì sự phân biệt nào giữa con nuôi và con đẻ
- Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số Theo quy định của pháp luật thì mỗi cặp vợ chồng chỉ có thể có hai đứa con, nhằm đảm bảo điều kiện để chăm sóc và giáo dục con tốt hơn, nhưng theo căn cứ Pháp lệnh số 03/2003/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 09/01/2003 về dân số và Nghị định số 20/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 03 năm
18 Khoản 3 Điều 67 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi
để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác”
19 Điều 23 Luật nuôi con nuôi quy định thông báo tình hình phát triển của con nuôi và theo dõi việc nuôi con nuôi: “Sáu tháng một lần trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ nuôi có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ thường trú về tình trạng sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự hòa nhập của con nuôi với cha mẹ nuôi, gia đình, cộng đồng Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cha mẹ nuôi thường trú
có trách nhiệm kiểm tra, theo dõi tình hình thực hiện việc nuôi con nuôi”
Trang 262010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số đã quy định những trường hợp sinh một hoặc hai con mà không vi phạm20 Việt Nam là nước có dân số đông đứng thứ 13 trên thế giới,
tỷ lệ phát triển dân số là 1,21%, hàng năm tăng hơn 1 triệu người21 Hiện nay, vấn đề sinh con thứ ba ngày càng tăng do có sự chênh lệch về giới tính nên việc cho trẻ làm con nuôi cũng là hành vi vi phạm pháp luật về dân số và kế hoạch hóa gia đình (mỗi gia đình chỉ có hai con, trừ trường hợp thuộc quy định tại Điều 2 Nghị định 20/2010/NĐ-CP ngày 08/03/2010) Do đó, người dân đã lách luật sinh con thứ ba bằng cách cho con mình làm con nuôi, đều này cần phải được ngăn chặn nhằm giảm hiện tượng phân biệt đối xử giữa con trai và con gái Nhận thức được vấn đề trên nên các nhà làm luật đã đưa hành
vi “lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số” vào hành vi bị
cấm khi cho con làm con nuôi người khác và được quy định cụ thể trong Điều
13 Luật nuôi con nuôi năm 2010
- Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách
mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của nhà nước. Bảo vệ và hỗ trợ thương binh, người có công với cách mạng và đồng bào thuộc dân tộc ít người là những chính sách lớn của Đảng và nhà nước Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 cho phép người thành niên được nhận làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người già yếu, cô đơn Song trong quá trình áp dụng pháp luật, đã có những biểu hiện lạm dụng chính sách đó bằng cách cho trẻ em làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người già yếu, cô đơn hoặc làm con nuôi của người thuộc dân tộc ít người để hưởng chế độ và chính sách như: để được cộng điểm thi vào các trường đại học, hưởng chế độ ưu đãi về bảo hiểm xã hội, miễn giảm học phí22… Đây là một hiện tượng đã phát sinh tại một số địa
20 Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn hoặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cặp vợ chồng sinh con lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên Cặp vợ chồng sinh con lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính duy truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận Cặp vợ chồng mà một hoặc cả hai người đã có con riêng (con đẻ), chỉ sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh Quy định này không áp dụng cho trường hợp tái hôn giữa hai người đã từng có hai con chung trở lên và hiện đang còn sống Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh
21 Bản thuyết minh về dự án Luật nuôi con nuôi, Bộ Tư pháp ngày 30 tháng 09 năm 2009, http://duthaoonline.quochoi.vn/du-thao-luat/du-thao-luat-nuoi-con-nuoi/ban-thuyet-minh.DOC
22 Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 29 tháng 06 năm 2005 Thông tư số 23/2001/TTLT/BTC-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện
Trang 27phương, nhiều cơ quan, ban ngành đã phản ánh Trong báo cáo tổng kết tình hình nuôi con nuôi trong nước, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố cũng đã nêu lên vấn đề này23 Đây là một vấn đề cần phải được giải quyết không những bằng cách đưa thành hành vi bị cấm mà còn được quy định chặt chẽ hơn, rõ ràng hơn về quyền và nghĩa vụ giữa con nuôi và cha, mẹ nuôi
- Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi Hành vi này được quy định tại Thông tư số 01/2008/TT-BTP của Bộ
Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch Trước khi quy định này được đưa vào văn bản pháp luật, hiện tượng này
đã xảy ra tại một số địa phương Đã có những hiện tượng ông bà nhận cháu làm con nuôi khi cha mẹ đẻ của cháu mất, hoặc anh rể và chị gái nhận em gái (của vợ) làm con nuôi Việc nuôi con nuôi đã được đăng ký trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vậy những trường hợp đăng ký trước ngày Thông tư có hiệu lực có giá trị pháp lý không Vấn đề này cần được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về nuôi con nuôi xem xét lại Thực tế cho thấy, những trường hợp nuôi con nuôi như vậy đã làm đảo lộn thứ bậc trong các quan hệ gia đình (như việc ông bà nhận cháu làm con nuôi thì người cháu lại trở thành
“con”; ông bà trở thành “cha mẹ” hoặc anh chị em lại trở thành “cha mẹ và con” là điều trái pháp luật, trái đạo lý – ảnh hưởng đến cả quan hệ thừa kế sau này, do đó cần phải bị nghiêm cấm) Ở đây cần phân biệt rõ việc nuôi con nuôi với việc nuôi dưỡng Việc nuôi con nuôi phải làm phát sinh quan hệ cha
mẹ và con; còn việc nuôi dưỡng chỉ là nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình Trường hợp cha mẹ bị chết, thì ông bà (nội, ngoại) có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cháu hoặc anh, chị có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc em, đó
là trách nhiệm nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, không cần phải xác lập quan hệ nuôi con nuôi thì mới ràng buộc được trách nhiệm của các bên
- Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Quy định này là hết sức cần thiết, nhằm ngăn chặn các hành vi muốn lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm các chính sách pháp luật của nhà nước như chính sách về dân số, kế
Trang 28hoạch hóa gia đình và các chính sách khác Trong lời nói đầu, Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, cho phép áp dụng các phong tục tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình Nghị định số 32/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số đã ban hành 10 phong tục tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình Cụ thể như: Phong tục cho phép được nhận người khác làm con nuôi hoặc làm con nuôi người khác mà không phân biệt họ hàng, dân tộc Người nhận nuôi con nuôi phải là người đang có vợ hoặc chồng Người được nhận làm con nuôi phải là trẻ em không có nơi nương tựa và không tự nuôi sống được bản thân; phong tục, tập quán nhận trẻ
em mồ côi cha mẹ làm con nuôi, chăm sóc con nuôi, coi con nuôi như con đẻ, con nuôi và con đẻ coi nhau như anh em ruột thịt, con nuôi được hưởng các quyền như con đẻ Nhà nước khuyến khích các dân tộc phát huy tập quán về việc nhận những trẻ em mồ côi, sống lang thang, không nơi nương tựa làm con nuôi, nếu đáp ứng các điều kiện nhận nuôi con nuôi mà luật quy định
Đồng thời, xóa bỏ các tập quán nhận nuôi con nuôi để lấy phúc hay nhận nuôi con nuôi trên danh nghĩa… Nhằm đảm bảo và giữ gìn bản sắc văn hóa của người Việt Nam
2.1.3 Chỉ cho làm con nuôi của người nước ngoài khi không thể tìm
được gia đình thay thế trong nước
Đây cũng là nguyên tắc được thừa nhận trong các văn kiện pháp lý quốc
tế Lời nói đầu của Công ước Lahay về nuôi con nuôi quốc tế: “Công nhận
rằng, nuôi con nuôi quốc tế có lợi thế là đem lại mái ấm gia đình lâu dài cho trẻ em không tìm được một gia đình thích hợp tại nước gốc của mình”, và
“nhắc lại rằng, mỗi nước cần ưu tiên tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ
em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình” Nếu việc nuôi dưỡng trong phạm vi gia đình không thể thực hiện được thì phải tính đến các biện pháp chăm sóc thay thế ở trong nước, trong đó có việc nuôi con nuôi Chỉ sau khi đã xem xét thỏa đáng các giải pháp trong nước mà vẫn không tìm được mái ấm cho trẻ thì mới tính đến việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, và việc đó phải vì lợi ích tốt nhất của trẻ em
Nhằm tăng cường việc nuôi con nuôi trong nước, Luật nuôi con nuôi (Điều 15) quy định biện pháp tìm gia đình thay thế như một biện pháp bắt
Trang 29buộc đối với trẻ em trước khi giải quyết cho làm con nuôi người nước ngoài, nhằm đảm bảo trẻ em có cơ hội được nhận làm con nuôi trong nước Việc tìm mái ấm được thực hiện ở ba cấp: xã, tỉnh và Trung ương Ở cấp xã, việc tìm gia đình thay thế được thực hiện bằng cách niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nhân trong thời hạn 60 ngày; ở cấp tỉnh, được thực hiện bằng cách thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh trong thời hạn 60 ngày;
ở Trung ương được thực hiện bằng việc đăng trên cổng thông tin điện tử của
Bộ Tư pháp Nếu hết thời hạn này mà không có người trong nước nhận làm con nuôi, thì trẻ em mới được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài
Ngoài ra, Điều 36 Luật nuôi con nuôi còn quy định, nếu hết thời hạn nêu trên, trẻ em đang được xem xét để giới thiệu cho làm con nuôi người nước ngoài nhưng Sở Tư pháp chưa giới thiệu cho người xin con nuôi cụ thể nào đó, mà có người trong nước nhận trẻ em làm con nuôi thì vẫn được xem xét giải quyết Như vậy, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được tạo cơ hội đến mức tối đa để tìm được mái
ấm gia đình thay thế Luật nuôi con nuôi còn quy định công dân trong nước có nhu cầu và nguyện vọng nhận trẻ em làm con nuôi mà chưa xác định được trẻ em cần nhận làm con nuôi, thì có thể đăng ký nhu cầu với Sở Tư pháp nơi thường trú (Điều 16), nếu có trẻ em để giới thiệu thì Sở Tư pháp giới thiệu người đó đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú để xem xét giải quyết Đây là biện pháp tích cực nhằm đảm bảo việc nuôi con nuôi trong nước, bảo đảm trẻ em có cơ hội tìm được mái ấm gia đình thay thế ngay trên lảnh thổ Việt Nam Đồng thời, Luật nuôi con nuôi còn đổi mới cách thức giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài (Điều 36) nhằm tránh việc các cơ sở nuôi dưỡng vừa tiếp nhận trẻ em để nuôi dưỡng, vừa tiếp nhận các khoản hỗ trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài và trực tiếp giới thiệu trẻ em làm con nuôi, dễ dẫn đến tiêu cực, thỏa thuận ngầm trong việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi
2.2 Điều kiện đối với người nhận nuôi con nuôi
Người nuôi trước hết phải là cá nhân, chứ không phải là một pháp nhân, một hộ gia đình hay một tổ hợp tác Đó có thể là vợ và chồng hoặc một cá nhân độc thân Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, về mặt lý thuyết, cá nhân đang có vợ (chồng) có thể nhận con nuôi mà không cần có sự tham gia hoặc sự đồng ý của vợ (chồng); tuy nhiên thực tiễn hầu như không ghi nhận trường hợp này24 Theo Luật
24 Ts Nguyễn Ngọc Điện, Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Tập 1 – Gia đình, trang
198