Quyền đối với giống cây trồng không được xuất hiện với một ý nghĩa là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ trong các định nghĩa về sở hữu trí tuệ của WIPO, điều này được cụ thể tại Điều
Trang 1KHOA LUẬT - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 35
Đề Tài
NHẬP KHẨU SONG SONG DƯỢC PHẨM
VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.s Nguyễn Phan Khôi Đoàn Thị Mỹ Tiên
Mã số sinh viên: 5095477
Lớp: Thương mại 2 – K35
Cần Thơ, tháng 11/2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN!
Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp và tham gia buổi báo cáo ngày hôm nay em đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều
từ Thầy Cô, gia đình và bè bạn Chính vì thế:
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô đặc biệt là quý Thầy Cô của Khoa Luật Trường Đại học Cần Thơ - những người bạn đường trên hành trình đi tìm tri thức, những người đã hướng dẫn, hỗ trợ em trong suốt bốn năm trên giảng đường đại học
Tiếp theo em xin gủi lời biết ơn sâu sắc nhất đến Thạc sĩ
Nguyễn Phan Khôi - người đã dành nhiều thời gian và tâm
huyết để tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành luật văn tốt nghiệp này
Và cuối cùng em xin cảm ơn đến cha mẹ và tất cả những người bạn của em - những người đã cùng em vượt qua khó khăn vui buồn của thời sinh viên cũng như những lời động viên của cha mẹ và các bạn đã tạo thêm động lực giúp em hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Cần thơ
Bắng tất cả sự nổ lực và cố gắng của bản thân trong suốt quá trình tìm tòi, nghiêm cứu để hoàn thành luận văn này nhưng do kiến thức còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong được sự đóng góp tận tình và quý báu của Thầy Cô và các bạn
Trân trọng cảm ơn.!
Trang 4
Trang 5
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 6
Lời nói đầu 3
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU SONG SONG VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Lý luận chung về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ 4
1.1.1 Khái niệm về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ 4
1.1.2 Phân loại quyền sở hữu trí tuệ 6
1.1.2.1 Phân loại theo pháp luật quốc tế 6
1.1.2.2 Phân loại theo pháp luật Việt Nam 7
1.1.3 Nguyên tắc của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 8
1.1.3.1 Vai trò của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 8
1.1.3.2 Nguyên tắc của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 9
1.2 Giới thiệu học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ 10
1.2.1 Giới thiệu học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ 10
1.2.2 Mối quan hệ giữa học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song 11
1.2.3 Quan điểm một số nước về áp dụng học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song 12
1.2.3.1 Quan điểm của Liên minh Châu Âu 12
1.2.3.2 Quan điểm của Mỹ 13
1.3 Nhập khẩu song song 14
1.3.1 Nhập khẩu song song 14
1.3.1.1 Khái niệm nhập khẩu song song 14
1.3.1.2 Đối tượng của nhập khẩu song song 16
1.3.1.3 Đặc điểm của nhập khẩu song song 16
1.3.1.4 Nguyên nhân của nhập khẩu song song 17
1.3.1.5 Cơ sở pháp lý cho hoạt động nhập khẩu song song 18
1.3.2 Mối quan hệ giữa nhập khẩu song song và quyền sở hữu trí tuệ 18
1.3.3 Mối quan hệ giữa nhập khẩu song song và thương mại quốc tế 20
1.4 Nhập khẩu song song ở Việt Nam 21
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHẬP KHẨU SONG SONG DƯỢC PHẨM Ở VIỆT NAM 2.1 Cơ sở thực tiễn nhập khẩu song song dược phẩm ở Việt Nam 24
2.1.1 Khái quát tình hình giá thuốc ở Việt Nam 24
2.1.1.1 Vai trò của dược phẩm 24
2.1.1.2 Tình hình giá thuốc tại Việt Nam 25
2.1.2 Một số yếu tố tác động đến sự tăng giá thuốc tại Việt Nam 27
2.1.2.1 Do sự độc quyền trong sản xuất và phân phối 27
Trang 72.1.2.3 Tâm lý người tiêu dùng 28
2.1.2.4 Công nghệ sản xuất tại Việt Nam chưa phát triển 28
2.1.2.5 Cơ chế quản lý kinh doanh trong ngành dược còn yếu kém 29
2.1.3 Các biện pháp bình ổn giá thuốc của nhà nước 30
2.1.3.1 Nhập khẩu 30
2.1.3.2 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm 30
2.1.3.3 Tuyên truyền, giáo dục 31
2.1.3.4 Kiểm soát giá thuốc 31
2.2 Cơ sở lý luận của nhập khẩu song song dược phẩm ở Việt Nam 33
2.2.1 Khái niệm li-xăng bắt buộc 33
2.2.1.1 Khái niệm li-xăng bắt buộc 33
2.2.1.2 Mục đích của li-xăng bắt buộc 34
2.2.1.3 Đối tượng của li-xăng bắt buộc 35
2.2.2.1 Li-xăng bắt buộc theo Công ước Paris 35
2.2.2.2 Li-xăng bắt buộc theo Hiệp định TRIPS 36
2.2.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về li-xăng bắt buộc 38
2.2.3.1 Căn cứ của li-xăng bắt buộc 38
2.2.3.2 Điều kiện của việc cấp li-xăng bắt buộc 39
2.2.3.3 Thẩm quyền cấp phép li-xăng bắt buộc 41
2.2.4 Khả năng áp dụng li-xăng bắt buộc đối với sáng chế dược phẩm 42
2.2.4.1 Mặt tích cực của li-xăng bắt buộc đối với sáng chế dược phẩm 42
2.2.4.2 Khả năng áp dụng li-xăng bắt buộc đối với sáng chế dược phẩm 43
2.2.5 Quy định của pháp luật về nhập khẩu song song 45
2.5.1 Quy định của Hiệp định TRIPS 45
2.5.2 Tuyên bố Doha về y tế công cộng 47
Chương 3 THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU SONG SONG DƯỢC PHẨM Ở VIỆT NAM 3.1 Quy định của pháp luật về nhập khẩu song song dược phẩm 50
3.1.1 Tính hợp pháp của nhập khẩu song song thuốc ở Việt Nam 50
3.1.1.1 Tính hợp pháp của nhập khẩu song song thuốc ở Việt Nam 50
3.1.1.2 Đặc điểm của nhập khẩu song song thuốc 52
3.1.1.3 Mục đích của nhập khẩu song song thuốc 53
3.1.2 Quy định của Bộ Y tế về nhập khẩu song song thuốc 54
3.1.2.1 Điều kiện đối với thuốc được nhập khẩu song song 54
3.1.2.2 Điều kiện đối với doanh nghiệp nhập khẩu song song thuốc 55
3.2 Thực trạng nhập khẩu song song ở Việt Nam 56
Trang 83.2.2 Tác động của nhập khẩu song song thuốc 58
3.2.2.1 Mặt tích cực trong hoạt động nhập khẩu song song thuốc 58
3.2.2.2 Mặt tiêu cực trong hoạt động nhập khẩu song song thuốc 58
3.2.2.3 Đánh giá hoạt động nhập khẩu song song thuốc 59
3.2.3 Những ấn đề còn hạn chế trong quy định của pháp luật về nhập khẩu song song thuốc 60
3.2.3.1 Trong việc cấp phép nhập khẩu song song dược phẩm 60
3.2.2.2 Hạn chế trong quy định về giá thuốc 60
3.2.2.3 Cách phân biệt thuốc nhập khẩu song song và thuốc chính thức 62
3.2.2.4 Hạn chế trong quy định về chất lượng thuốc nhập khẩu song song 62
3.3 Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện quy định của pháp luật về nhập khẩu song song dược phẩm 63
3.3.1 Cần quy định rõ ràng nhập khẩu song song thuốc trong luật 64
3.3.2 Cải cách trong thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu song song 64
3.3.3 Về vấn đề cơ chế quản lý giá và danh mục thuốc nhập khẩu song song 65
3.3.4 Về cơ chế kiểm tra chất lượng thuốc nhập khẩu song song 66
Kết luận 68
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 91 Công uớc Pariss về quyền sở hữu công nghiệp: Công ước Paris
2 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại: GATT
3 Hiệp định các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ: Hiệp định TRIPS
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu, những thành quả sáng tạo của con người được thừa nhận đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội và văn hóa của mỗi quốc gia Các nhà kinh tế cổ điển học và hiện đại đều thống nhất rằng, quá trình tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy bởi hai nguồn chính đó là: vốn lao động và công nghệ (trong đó bao gồm tài sản trí tuệ) Tương quan giữa hai nguồn này đang dần thay đổi
“Tài sản hữu hình như đất đai, lao động và tiền vốn đã từng là tiêu chuẩn so sánh tình
trạng kinh tế, điều đó nay không còn đúng nữa Động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội đương thời là tài sản dựa trên tri thức”.1 Trước tình hình đó, thừa nhận và bảo vệ tài sản trí tuệ và quyền đối với tài sản trí tuệ luôn là một trong những yêu cầu cần thiết ở mỗi thời đại Mục đích của việc công nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là nhằm khuyến khích sáng tạo, phân chia và sử dụng hiệu quả nguồn tài sản trí tuệ, hài hòa chủ thể sáng tạo và các chủ thể khác trong xã hội Ý nghĩa và vai trò của sở hữu trí tuệ được khẳng định mạnh mẽ nhất bằng sự xuất hiện các quy định về vấn đề này trong Hiệp định tổng quát về thương mại và thuế quan (GATT) được 117 nước ký kết ngày 25/12/1994 Các điều khoản về sở hữu trí tuệ như vậy đã tạo thành một trong 10 nội dung cơ bản của GATT (được gọi là thỏa thuận về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, kể cả thương mại hàng giả - Trade – Related Aspects of TRIPS) Hiệp định TRIPS quy định các tiêu chuẩn tối thiếu về bảo hộ sở hữu trí tuệ mà bất cứ thành viên nào của GATT cũng phải đạt được, trong đó có các điều khoản về sáng chế, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật thương mại và bản quyền Trong lĩnh vực sáng chế, Hiệp định TRIPS yêu cầu các quốc gia thành viên phải bảo hộ sáng chế trong tất cả các lĩnh vực công nghệ, trong đó có bảo hộ sáng chế dược phẩm2 với thời hạn bảo hộ tối thiểu đối với bằng sáng chế là 20 năm Điều này, đã tạo động lực cho các nhà khoa học, những nhà phát minh tìm tòi, sáng tạo ra những sáng tạo khoa học kĩ thuật mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực dược phẩm – một ngành công nghiệp đòi hỏi
sự cao độ của sáng tạo tri óc và kinh phí đầu tư lớn cho việc nghiên cứu và phát triền ra một loại thuốc mới
Trong lĩnh vực dược phẩm một khi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) được xác lập và bảo hộ theo pháp luật SHTT, không ai ngoài chủ sở hữu quyền SHTT có thể sử dụng và khai thác các đối tượng SHTT trong phạm vi và thời hạn bảo hộ nếu không có sự cho phép của chủ sở hữu đó Với tư cách là chủ sở hữu sáng chế có quyền ngăn cấm người
Trang 11khác sử dụng sáng chế; có thể sản xuất ra dược phẩm theo sáng chế và bán với giá cao nhằm thu hồi chi phí đầu tư nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa thành quả của sáng tạo, điều này là động lực, sự kích thích cho sự nghiên cứu và phát triển từ đó cho ra đời các loại thuốc mới và thuốc đặc trị Kết quả của sự bảo hộ này dẫn đến sự độc quyền dược phẩm và nâng cao giá thuốc Điều này, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dược phẩm của những người nghèo, và đặc biệt là những người nghèo ở các quốc gia kém và đang phát triển Trong khi đó, người bệnh cần phải được sử dụng các dược phẩm mới này với giá hợp lý, có thể chấp nhận được so với thu nhập của họ Đây là một nghịch lý mà các quốc gia và các tổ chức quốc tế đang phải đối mặt Hoạt động nhập khẩu song song ra đời đã giải quyết vấn đề này, được quy định trong hiệp định TRIPS, tuy nhiên nó không quy định cụ thể mà dành quyền này cho các nước thành thành viên Bởi vì thực thi quyền SHTT phải đóng góp cho việc thúc đẩy phát minh - sáng tạo kỹ thuật cũng như chuyển giao và phổ biến công nghệ, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa người phát minh - sáng tạo và người sử dụng đối tượng SHTT, qua đó đẩy mạnh lợi ích kinh tế, xã hội của việc bảo hộ quyền SHTT Tuy nhiên, chính vì sự trao quyền cho các quốc gia đã dẫn đến sự không thống nhất trong vấn đề nhập khẩu song song dược phẩm giữa các quốc gia Về vấn đề này, thực sự đã có nhiều tranh cãi giữa những người ủng hộ và phản đối xung quanh tính hợp pháp của việc nhập khẩu song song dược phẩm Chính vì vậy để tìm hiểu rõ hơn về
vấn đề nhập khẩu song song song dược phẩm, người viết chọn đề tài: “Nhập khẩu song
song dược phẩm và quyền sở hữu trí tuệ” để làm khóa luận tốt nghiệp
2 Phạm vi nghiên cứu
Nhập khẩu song song có được thừa nhận hay không phụ thuộc vào cơ chế hết quyền
mà quốc gia sử dụng Về vấn đề này, thực sự đã có nhiều tranh cãi giữa những người ủng
hộ và phản đối xung quanh tính hợp pháp của việc nhập khẩu song song dược phẩm Nhập khẩu song song dược phẩm có được thừa nhận hay không còn phụ thuộc vào chính sách của mỗi quốc gia Để đảm bảo cân bằng lợi ích của quyền sở hữu trí tuệ và quyền tiếp cận dược phẩm của người dân trong hoạt động nhập khẩu song song , các quốc gia đã xây dựng cho mình cơ chế hết quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với từng điều kiện kinh tế, xã hội của quốc gia cũng như trong khu vực Riêng ở Việt Nam nhập khẩu song song nói chung và nhập khẩu song song dược phẩm nói riêng là một vấn đề còn khá mới mẻ, quy định pháp luật của luật sở hữu trí tuệ còn khá ít và quyết định về nhập khẩu song song thuốc phòng và chữa bệnh cho người mới chỉ có một văn bản Với nội dung
nghiên cứu “Nhập khẩu song song dược phẩm và quyền sở hữu trí tuệ”, do đó phạm vi
nghiên cứu của luận văn là:
- Những vấn đề cơ sở lý luận của nhập khẩu song song, quy định pháp luật hiện hành về nhập khẩu song song dược phẩm, mối quan hệ giữa nhập khẩu song song và quyền sở hữu trí tuệ; và nhập khẩu song song trong thương mại quốc tế hiện nay;
Trang 12- Thực trạng nhập khẩu song song dược phẩm ở Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về hoạt động nhập khẩu song song nói chung và nhập khẩu song song dược phẩm nói riêng, những quy định pháp luật hiện hành về vấn đề nhập khẩu song song dược phẩm, thực tiễn áp dụng của những quy định pháp luật này ở Việt Nam như
thế nào, từ đó thấy được những vấn đề còn tồn tại và đề ra những phương hướng nhằm
hoàn thiện hơn nữa quy định pháp luật về nhập khẩu song song dược phẩm ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nhập khâủ song song dược phẩm, người viết đã sử dụng phương pháp nghiên cứu như sau: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, dẫn chứng các điều luật, luận văn đánh giá khái quát tình trạng nhập khẩu song song dược phẩm ở Việt Nam, đồng thời kiến nghị những biện pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về nhập khẩu song song dược phẩm thông qua đó góp phần làm giảm giá thuốc ở Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU SONG SONG
VÀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Nhập khẩu song song liên quan trực tiếp đến hai mảng quan trọng của thương mại quốc tế hiện đại đó là: tự do thương mại và việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Nhập khẩu song song làm xuất hiện lợi ích của hai bên liên quan Do có hành vi nhập khẩu song song mà bên có quyền đối với đối tượng sở trí tuệ (thường là sở hữu công nghiệp) không khai thác được hết quyền của mình đối với đối tượng sở hữu công nghiệp Nhưng nhập khẩu song song lại đem lại lợi ích thiết thực đối với thị trường: khuyến khích tự do cạnh tranh Do đó, để làm rõ hơn vấn đề này ở chương 1 - những vấn đề lý luận chung về nhập khẩu song song và thương mại quốc tế, người viết sẽ trình bày những vấn đề liên quan đến nhập khẩu song song và thương mại như quốc tế như sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ; tìm hiểu về nhập khẩu song, trong đó có mối liên hệ của nó với vấn đề sở hữu trí tuệ cũng như thương mại quốc tế; và học thuyết hết quyền được áp dụng cho nhập khẩu song song cũng như quan điểm một số nước về việc áp dụng học thuyết hết quyền
và nhập khẩu song song; tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện tại để từ
đó xem xét nước ta đang áp dụng học thuyết hết quyền nào cho vấn đề nhập khẩu song song
1.1 Lý luận chung về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1 Khái niệm về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ
Từ lâu, hoạt động sáng tạo trí tuệ của con người có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với
sự phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội - tri thức luôn là một trong những yếu
tố quyết định sự tồn tại và phát triển Những thành quả từ hoạt động do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo được thừa nhận là tài sản và được gọi là tài sản trí tuệ Sở hữu các tài sản trí tuệ thường được gọi tắt là Sở hữu trí tuệ (hay còn gọi là sở hữu tri thức)
Trên thực tế có rất nhiều sản phẩm của trí tuệ Việc huấn luyện viên Weigang tuyển chọn được Hồng Sơn, Huỳnh Đức vào đội tuyện Việt Nam, sắp xếp đội hình thi đấu ở Seagame 18 chắc chắn là một sản phẩm trí tuệ Tuy nhiên, Weigang không được hưởng quyền “sở hữu” sản phẩm trí tuệ của mình Ngược lại, hai chữ cái (ví dụ nhãn hiệu kem đánh răng P/S) không có gì là “trí tuệ” thì lại được coi là đối tượng của sở hữu trí tuệ.3Như vậy, đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất - là sản phẩm trí tuệ, tinh thần của con người nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng
3
Lê Nết, Tài liệu bài giảng sở hữu trí tuệ, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh năm 2006, trang 13
Trang 14trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại Đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kỹ thuật ứng dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại
Khác với các loại tài sản vật chất (động sản hay bất động sản) khác, tài sản trí tuệ là loại tài sản đặc biệt bởi thuộc tính vô hình của nó, tức là tài sản trí tuệ không thể được xác định bằng các vật chất chính nó mà nó cần thể hiện ra theo một cách thức nào đó bằng một hình thức cụ thể có thể nhận biết được
Tài sản trí tuệ có khả năng chia sẽ và mang tính xã hội rất cao Có nghĩa là mỗi thành quả được tạo ra từ hoạt động trí tuệ của con người sẽ đem đến cho toàn xã hội, toàn nhân loại bước tiến mới về tinh thần, về tri thức Đồng thời nó cũng thụ hưởng bởi tất cả mọi người vì khác với những tài sản thông thường khác, thuộc tính vô hình của loại tài sản này khiến cho việc sử dụng, khai thác sản phẩm trí tuệ từ người này không làm hao giảm hoặc ảnh hưởng đến việc sử dụng của người khác cũng như của những người sáng tạo ra chúng
Vì vậy, tài sản trí tuệ được coi là sức mạnh của sự sáng tạo và cải tiến, liên quan đến mọi khía cạnh đời sống xã hội, có khả năng làm giàu, làm phong phú thêm cuộc sống cá nhân, và tương lai của các quốc gia về vật chất, văn hóa và xã hội Đặc biệt, khi nền kinh
tế ngày nay giá trị của một ngành kinh doanh ngày càng ít nằm trong các tài sản vật chất hay tài chính thể hiện trên bản quyết toán, mà nằm trong tài sản vô hình quyền sở hữu trí tuệ, chương trình nghiên cứu Với giá trị kinh tế to lớn, các đối tượng sở hữu công nghiệp được sử dụng làm vốn góp trong công ty, làm tài sản thế chấp vay vốn, chuyển nhượng quyền sở hữu Các đối tượng sở hữu công nghiệp trở thành “hàng hóa” thông qua các hoạt động chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp, theo đó chủ sở hữu có khả năng thu lợi bằng cách cho phép người khác khai thác các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ Điều này khiến cho hoạt động sáng tạo cần được trân trọng và khuyến khích phát triển
Tuy nhiên, xuất phát từ tính vô hình của tài sản trí tuệ nên nó không thể bị chiếm hữu về mặt thực tế và có khả năng lan truyền rất nhanh cũng như rất khó để kiểm soát
Từ đó ta có thể thấy tài sản trí tuệ khi đã được công bố, nó cũng dễ dàng bị sao chép, sử dụng và khai thác rộng rãi ở bất kì nơi nào, bởi bất kì ai mà có thể không cần xét đến ý kiến cũng như lợi ích của những người tạo ra chúng Vì vậy, ngày nay hệ thống pháp luật thế giới cũng như quốc gia đã có sự can thiệp để bảo hộ quyền của những người có công trong việc sáng tạo ra các tài sản trí tuệ thông qua đặc quyền về nhân thân và kinh tế Điều này thể hiện sự khuyến khích các hoạt động sáng tạo, tôn vinh và bù đắp công sức của những người đã sáng tạo ra chúng
Tóm lại, quyền sở hữu trí tuệ được hiểu một cách khái quát và đơn giản nhất là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với các sản phẩm trí tuệ do con người sáng tạo Còn
Trang 15theo nghĩa hẹp, đó là độc quyền được công nhận cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức, cho phép họ được sử dụng hay khai thác các khía cạnh thương mại của một sản phẩm sáng tạo
1.1.2 Phân loại quyền sở hữu trí tuệ
1.1.2.1 Phân loại theo pháp luật quốc tế
Theo công ước Thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) được thành lập vào 14 tháng 7 năm 1967 được kí kết tại Stockholm – một tổ chức sở hữu trí tuệ quan trọng nhất trên phạm vi toàn cầu thì quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và quyền liên quan Quyền đối với giống cây trồng không được xuất hiện với một ý nghĩa là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ trong các định nghĩa
về sở hữu trí tuệ của WIPO, điều này được cụ thể tại (Điều 2(viii)) quy định rằng “sở hữu trí tuệ sẽ bao gồm các quyền liên quan tới:
- Các tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học,
- Các chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình,
- Sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người,
- Các phát minh khoa học, kiểu dáng công nghiệp,
- Nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại,
- Bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh,
Và tất cả những quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học, hoặc nghệ thuật”
Những lĩnh vực được đề cập như các tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học thuộc về nhánh bản quyền tác giả tróng sở hữu trí tuệ Những lĩnh vực được đề cập như chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bản ghi âm và việc phát thanh, truyền hình thường được gọi là “các quyền liên quan”, đó là các quyền liên quan tới bản quyền Những lĩnh vực được đề cập như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại tạo nên nhánh sở hữu công nghiệp của sở hữu trí tuệ Lĩnh vực được đề cập tới như bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh, cũng có thể được xem thuộc về nhánh đó, như Điều 1(2) Công ước Paris về bảo hộ quyền công nghiệp (đạo luật Stockholm năm 1967) (“Công ước Paris”) quy định
“việc chống cạnh tranh không lành mạnh” là một trong các lĩnh vực “bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp”; Công ước tuyên bố rằng “bất kì hành vi cạnh tranh nào trái với thông
lệ chính đáng trong hoạt động thương mại và công nghiệp được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh” (Điều 10bis(2))
Trong các hiệp ước quốc tế về bảo vệ quyền sở trí tuệ thì Hiệp định các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) được 117 nước ký kết ngày 25/12/1994 là một Hiệp định quốc tế mang tính chất toàn cầu và toàn ven nhất về các
Trang 16khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ Một quốc gia muốn gia nhập Tổ chức thương mại thế giới thì phải tuân thủ các điều khoản về sở hữu trí tuệ trong TRIPS Hiệp định TRIPS quy định các tiêu chuẩn tối thiếu về bảo hộ tối thiểu về bảo hộ sở hữu trí tuệ mà bất cứ thành viên nào của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cũng phải đạt được, trong đó có các điều khoản về sáng chế, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật thương mại và bản quyền Tuy nhiên, hiệp định cũng quy định những ngoại lệ của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo các vấn đề như về sức khỏe, dinh dưỡng cho nhân dân, các trường khẩn cấp quốc gia hay y tế công cộng bằng các biện pháp như cấp phép li-xăng bắt buộc hay nhập khẩu song song
1.1.2.2 Phân loại theo pháp luật Việt Nam
Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức,
cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng (khoản 1, Điều 4)
Trong đó, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo
ra hoặc sở hữu (khoản 2, Điều 4); Quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi là quyền liên
quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa (khoản 3, Điều 4)
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa
lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh (khoản 4, Điều 4) Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá
nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu (khoản 5, Điều 4)
Như vậy, cách tiếp cận của Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ cơ bản giống cách tiếp cận của thế giới, đó là quyền sở hữu bao gồm: thứ nhất, quyền tác giả và các quyền liên quan đến quyền tác giả; thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp Tuy nhiên, có một điểm
khác biệt là Việt Nam đã cụ thể hóa “những quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ
trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật” thành một nhánh khác,
theo đó quyền sở hữu trí tuệ bao gồm cả quyền đối với giống cây trồng Quyền đối với giống cây trồng theo quy định của Hiệp định của Hiệp định TRIPS được bảo hộ bởi bằng sáng chế.4
1.1.3 Nguyên tắc của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
1.1.3.1 Vai trò của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Xác lập quyền sở hữu trí tuệ là bước đầu tiên để chủ thể quyền được hưởng các quyền lợi phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa
4
Điều 27, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
Trang 17quan trọng không chỉ với chủ thể quyền sở hữu trí tuệ mà còn có ý nghĩa quan trọng đối
với chủ thể khác và còn liên quan đến sự phát triển quốc gia
Thứ nhất, bảo hộ quyền sử dụng là nhằm tăng cường pháp chế Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo cho các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ vê được thi hành nghiêm chỉnh, có hiệu lực, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền, của nhà nước và xã hội
Thứ hai, bảo vệ tốt quyền sở hữu trí tuệ chính là bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ trong đó các quyền tái sản chiếm một vị trí quan trọng Phần lớn các tài sản này là tài sản của doanh nghiệp hoặc tài sản cá nhân được bảo vệ bởi luật dân sự Bảo vệ tốt quyền sở hữu trí tuệ sẽ giúp khuyến khích sự sáng tạo, thúc đẩy những nổ lực, cống hiến của các cá nhân vào hoạt động nghiên cứu khoa học, cải tiến kĩ thuật tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội
Thứ ba, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhầm góp phần giảm thiểu tổn thất cho các nhà sản xuất kinh doanh và thúc đẩy họ sản xuất kinh doanh hợp pháp, và bảo vệ người tiêu dùng Ví dụ, việc tồn tại hàng giả, hàng kém chất lượng sẽ gây ảnh hưởng lợi ích và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc bảo vệ tốt quyền sở hữu trí tuệ sẽ thúc đẩy họ phát triển sản xuất đồng thời bảo vệ người tiêu dùng trước hàng kém chất lượng
Hơn hết, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được xem như là công cụ để hữu hiệu để thúc đẩy sự phát triển kinh tế Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả sẽ tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh, là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, thu hút chuyển giao công nghệ và đầu tư nước ngoài Ví dụ: nhà kinh doanh cũng có thể thay đổi những phương án kinh doanh của mình do những hạn chế trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Ban đầu anh ta có thể triển khai phương án kinh doanh nhưng nếu nhận ra những khiếm khuyết trong việc bảo hộ bí mật kinh doanh anh ta sẽ từ bỏ ý định này
Xét một khía cạnh của vấn đề: bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có thể là đòn bẩy để phát triển kinh tế, đó là ưu điểm của việc quyền sở hữu trí tuệ, song bảo hộ quá lâu, quá nhiều hay chưa đúng lúc có thể cản trở sự phát triển của nền kinh tế
Quyền sở hữu là quyền cao nhất, đầy đủ nhất của chủ thể đối với một vật Vì thế khi trao quyền sở hữu cho một chủ thể, các nhà làm luật phả suy tính rất kỹ các mặt lợi hại của vấn đề này, sao cho việc trao quyền sở hữu không làm phát sinh các hậu quả bất lợi cho xã hội Đối với sở hữu tài sản vô hình - tài sản trí tuệ, một loại sở hữu theo luật định, việc hạn chế quyền sở hữu - pháp luật cũng quy định những trường hợp hạn chế quyền sở hữu để khỏi gây ra những khía cạnh bất lợi cho xã hội là điều không thể tránh khỏi.5
Trang 181.1.3.2 Nguyên tắc của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Xét về tổng thể tài sản trí tuệ chỉ có giá trị khi phổ biến, nhân rộng và phát triển, từ
đó đem lại lợi ích khai thác chung cho toàn xã hội Cơ chế bảo hộ chỉ đặt ra khi nhà nước thấy cần thiết phải tạo động lực cho các cá nhân sáng tạo, trao cho họ phần thưởng để khuyến khích họ tiếp tục tạo ra những tài sản trí tuệ khác Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ không phát sinh một cách mặc nhiên với quá trình sáng tạo mà được nhà nước tạo lập, công nhận và trao cho chủ sở hữu kèm theo những điều kiện nhất định
Nội dung quyền sở hữu trí tuệ cho phép chủ sở hữu độc quyền khai thác thương mại
và hưởng lợi từ các tài sản trí tuệ Đồng thời, ngăn cản người khác tự do tiếp cận các đối tượng này Sự hạn chế công chúng tiếp cận tài sản trí tuệ, mặt khác gây ảnh hưởng chung lợi ích của toàn xã hội
Như vậy, việc sử dụng quyền sở hữu không phải không có khía cạnh tiêu cực, đó là việc tập trung quá nhiều tài sản vào tay thiểu số có quyền lực, dẫn tới việc các thiểu số này có khả năng lạm dụng quyền sở hữu.Ví dụ điển hình nhất là việc tập trung tư liệu sản xuất vào một số công ty sẽ dẫn đến việc các công ty này trở nên độc quyền, nâng giá sản phẩm và kìm hãm sự phát triển của các công ty khác
Vì vậy, trong quá trình bảo hộ sở hữu trí tuệ, pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật của mỗi quốc gia luôn phải xem xét cân bằng lợi ích giữa quyền lợi của chủ sở hữu
và quyền lợi của cộng đồng trong việc tiếp cận, sử dụng tài sản trí tuệ Trong mọi trường
hợp việc khai thác, sử dụng các sở hữu trí tuệ phục vụ xã hội luôn được các nước quan tâm và đặt thành ưu tiên hàng đầu.6
Pháp luật sở hữu trí tuệ ở nước ta công nhận và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan 7 và trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền
sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.8
Tóm lại, pháp luật về sở hữu trí tuệ luôn đảm bảo sự cân bằng giữa quyền chủ sở hữu trí tuệ với quyền lợi của cộng đồng và để tránh sự lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ,
6 Bộ Công thương cục quản lý cạnh tranh, Báo cáo thực thi pháp luật cạnh tranh liên quan đến bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ, chương trình hỗ trợ kĩ thuật hậu gia nhập WTO, Hà Nội, năm 2010
7 Khoản 2, Điều 7, Luật sở hữu trí tuệ 2005
8
Khoản 3, Điều 7, Luật sở hữu trí tuệ 2005
Trang 19chính bản thân nội tại của nó đã có những điều khoản ngoại lệ như: loại trừ cấp bằng sáng chế, li-xăng bắt buộc, nhập khẩu song song…
1.2 Giới thiệu học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song
1.2.1 Giới thiệu học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ
Hết quyền sở hữu trí tuệ là khái niệm bất nguồn từ học thuyết hết quyền.9 Học thuyết đề cập quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ (thông thường là chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp) được kiểm soát, quyết định việc phân phối hàng hóa, dịch
vụ mang đối tượng sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ
Học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ là sự xác định giới hạn cho quyền sở hữu trí tuệ mang tính độc quyền và cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với đảm bảo sự lưu thông của thị trường cũng như cân bằng cạnh tranh lành mạnh; cân bằng giữa bảo vệ lợi ích của người nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích của người tiêu dùng.10
Theo thuyết hết quyền, khi sản phẩm mang đối tượng sở hữu trí tuệ được đưa ra thị trường do chính chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, chủ thể sở hữu trí tuệ không còn quyền kiểm soát đối với việc khai thác và phân phối thương mại sản phẩm
Khai thác hết quyền sở hữu công nghiệp được xác định trên yếu tố mang tính quyết định, đó là liệu sản phẩm được đưa vào thị trường có sự đồng ý của người nắm quyền hay không? Nếu sản phẩm được đưa vào thị trường với sự đồng ý của người nắm giữ quyền, thì quyền sở hữu công nghiệp đã bị khai thác hết Nghĩa là, khi chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ bán sản phẩm mang đối tượng sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ, họ buộc phải cho phép cá nhân khác bán lại sản phẩm đó bởi vì quyền sở hữu trí tuệ của họ đã hết từ lần đầu tiên bán sản phẩm ra thị trường Nếu sản phẩm được đưa vào thị trường mà không có
sự đồng ý của người nắm giữ quyền, thì người nắm giữ có quyền đòi thực hiện quyền sở hữu công nghiệp của mình
Ví dụ: Hãng sản xuất nước giải khát nổi tiếng là Coca- Cola sau khi bán chai
nước có ga mang nhãn hiệu Coca- Cola cho khách hàng thì quyền của hãng đối với chai nước này không còn nữa Công ty không có quyền ngăn cản khách hàng uống, tặng, hay bán sản phẩm này cho người khác Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khách hàng không thể sử dụng nhãn hiệu Coca- Cola cho sản phẩm đồ uống mà họ sản xuất hay chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu này cho người khác
Lý thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ được chia thành 3 loại: hết quyền quốc gia (nationnal exhausiton), hết quyền khu vực (regional exhausiton) và hết quyền quốc tế
(international exhausiton)
9 Trong tiếng Anh thuyết hết quyền là “the exhausiton doctrine” hay “the first doctrine” Học thuyết này được áp dụng phổ biến ở EU
10 Th.s Nguyễn Như Quỳnh, Pháp luật về hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song ở một số nước Asean,
Tạp chí luật học, số 12, năm 2009, tr 28-36, trang 28
Trang 201.2.2 Mối quan hệ giữa học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song
Lý thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mối quan hệ này thể hiện ở hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, lý thuyết hết quyền là cơ sở cho việc thừa nhận hoạt động nhập khẩu song
song.11 Nhập khẩu song song có được thừa nhận hay không phụ thuộc vào cơ chế hết quyền mà quốc gia nhập khẩu lựa chọn
Các quốc gia áp dụng lý thuyết hết quyền khu vực và lý thuyết hết quyền quốc tế đồng nghĩa với việc thừa nhận hoạt động nhập khẩu song song Còn các quốc gia áp dụng
lý thuyết hết quyền quốc gia không thừa nhận nhập khẩu song song Khi chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ bị coi là hết quyền kể từ lần bán đầu tiên của sản phẩm mang đối tượng sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ được đưa ra trên thị trường thì nhà nhập khẩu có quyền nhập khẩu song song sản phẩm này mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu Ngược lại, nếu chủ sở hữu đối tượng sở hữu trí tuệ không bị coi là hết quyền sở hữu trí tuệ từ lần đầu tiên bán sản phẩm mang đối tượng sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ thì nhà nhập khẩu không được phép nhập khẩu song song nếu không được phép của chủ sở hữu, chỉ được nhập khẩu song song khi có sự cho phép của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
Thứ hai, lý thuyết hết quyền sở hữu công nghiệp còn quyết định tính chất, phạm vi của hoạt động nhập khẩu song song Khía cạnh thứ hai của mối thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song thể hiện rõ ở ba loại: hết quyền quốc gia, hết quyền khu vực và hết quyền quốc tế.12
Ở các nước nhập khẩu áp dụng lý thuyết hết quyền quốc gia, chủ thể nắm quyền sở hữu trí tuệ mất quyền phân phối và khai thác thương mại sản phẩm trong phạm vi lãnh thổ nước này khi sản phẩm đã được bảo hộ được đưa ra bán lần đầu tiên trên thị trường
Do đó nhập khẩu song song không được thừa nhận
Ví dụ: Công ty sản xuất M là chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa X Công ty M
đã bán X lần đầu tiên ở nước C ( nước C áp dụng thuyết hết quyền quốc gia) , và sau đó bán ở cả nước C2 Công ty M không có quyền ngăn cắm việc phân phối hàng hóa X trong phạm vi nước C, nhưng có quyền ngăn cấm việc nhập khẩu hàng hóa X từ nước C2 hoặc nước khác vào nước C mà không có sự đồng ý của công ty M
Đối với các nước áp dụng lý thuyết hết quyền khu vực, chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ mất quyền kiểm soát việc phân phối và khai thác thương mại sản phẩm trong
Trang 21phạm vi khu vực nhất định khi sản phẩm đã được bảo hộ đưa ra thị trường, trong đó có nước mà sản phẩm được đưa ra bán lần đầu tiên Tuy nhiên, họ vẫn có quyền kiểm soát việc phân phối và khai thác thương mại của sản phẩm bên ngoài phạm vi khu vưc Do đó nhập khẩu song song chỉ được thừa nhận trong phạm vi khu vực giữa các nước nhất định
Ví dụ: Công ty sản xuất M là chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa X (nhãn hiệu đã được bảo hộ) Công ty M đã bán hàng hóa X lần đầu tiên ở nước Đức Sau đó lại bán hàng hóa X cho các nước thuộc Liên minh Châu Âu như Pháp, Anh và nước nằm ngoài Liên minh Châu Âu là Nga, Braxin Theo lý thuyết hết quyền khu vực thì công ty M không có quyền ngăn cấm việc phân hàng hóa X trong phạm vi Châu Âu, nhưng có quyền ngăn cấm việc nhập khẩu hàng X từ Nga, Braxin hay bất kì một nước nào khác nằm ngoài Liên minh Châu Âu nhập khẩu vào Đức hay một trong các nước thuộc phạm vi Liên minh Châu Âu nếu không có sự đồng ý của công ty M
Nếu nước nhập khẩu song song áp dụng cơ chế hết quyền quốc tế, chủ thể nắm quyền sở hữu trí tuệ không có quyền kiểm soát việc phân phối và khai thác thương mại sản phẩm trên phạm vi toàn thế giới Do đó nhập khẩu song song được thừa nhận
Ví dụ: Công ty sản xuất M là chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa X (nhãn hiệu đã được bảo hộ) Công ty M bán hàng hóa X lần đầu tiên ở C, sau đó bán ở nước C2 Theo thuyết hết quyền quốc tế, thì M hết quyền ngăn cấm việc phân phối sản phẩm trên phạm vi thế giới Do đó, nhà nhập khẩu có quyền nhập khẩu hàng hóa X ở C2 vào C mà không cần sự đồng ý của công ty M
Như vậy, nhập khẩu song song có được thừa nhận ở một nước hay không phụ thuộc vào chế độ hết quyền mà pháp luật sở hữu trí tuệ của quốc gia đó quy định
1.2.3 Quan điểm một số nước về áp dụng học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ và nhập khẩu song song
1.2.3.1 Quan điểm của Liên minh Châu Âu
Theo quan điểm của Liên minh Châu Âu, sau khi hàng hóa chứa đựng đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ được chính chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp, hoặc được người được cấp li-xăng đưa ra thị trường lần đầu tiên, thì đối tượng sở hữu công nghiệp này đã ở trong trạng thái “khai thác hết quyền sở hữu công nghiệp” do đó không còn là đối tượng công nghiệp được bảo hộ
Mọi hoạt động tiếp theo đối với hàng hóa chứa đựng đối tượng sở hữu công nghiệp
đó như sử dụng, buôn bán Đều không còn thuộc phạm vi ngăn cấm của chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp Vì vậy trong trường hợp bên thứ ba nhập khẩu hàng hóa chứa đựng đối tượng sở hữu công nghiệp đã bị “khai thác hết quyền sở hữu công nghiệp”, thì hành vi nhập khẩu đó, hành vi nhập khẩu song song không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu công nghiệp và không bị cấm Thể hiện trong nguyên tắc tự do di chuyển
Trang 22hàng hóa của cộng đồng Châu Âu - một nguyên tắc tối cao của pháp luật thương mại Châu Âu Điều này cho phép mọi cá nhân, doanh nghiệp mua bán hàng hóa tự do qua biên giới mà không cần sự đồng ý của nhà sản xuất Việc viện dẫn quyền sở hữu công nghiệp để ngăn cản nhập khẩu song song là vi phạm nguyên tắc cạnh tranh tự do, tòa án Châu Âu sẽ bảo vệ hành vi nhập khẩu song song như bảo vệ nguyên tắc tự do cạnh tramh.13
Tuy nhiên quan điểm này chỉ được áp dụng trong phạm vi nội bộ của Liên minh Châu Âu (các nước nằm trong khu vực Liên minh Châu Âu), còn đối với các nước nằm ngoài khu vực thì nhập khẩu song song là hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp Như vậy, học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ mà Liên minh Châu Âu áp dụng là học thuyết hết quyền khu vực Nguyên tắc hết quyền khu vực được pháp điển hóa và được quy định tại điều 7 Nghị quyết số 89/104/EEC ngày 21/12/1988 của Hội đồng Châu Âu
về hài hòa pháp luật của các thành viên liên quan nhãn hiệu hàng hóa.14
Quy định hết quyền khu vực của Liên minh Châu Âu có sự phân biệt đối xử hàng hóa, dịch vụ lần đầu tiên được đưa ra lưu thông trong thị trường liên minh và ngoài thị trường liên minh nhằm bảo vệ các chủ đối tượng sở hữu trí tuệ, các nhà sản xuất kinh doanh của liên minh Điều này tạo ra sự không công bằng và rào cản trong hoạt động nhập khẩu song song
1.2.3.2 Quan điểm của Mỹ
Ở Mỹ không áp dụng thống nhất một chế độ hết quyền sở hữu trí tuệ mà tùy vào loại từng loại hình sở hữu trí tuệ: bản quyền, nhãn hiệu, bằng sáng chế và trong từng loại cũng có thể áp dụng khác nhau.15
Cơ sở pháp lý cho việc nhập khẩu song song ở Mỹ là án lệ và hai văn bản luật, bao gồm Luật nhãn hiệu hàng hóa và luật thương mại.16
Trong những phán quyết đầu tiên về nhập khẩu song song, tòa án Mỹ khẳng định rằng khi một sản phẩm hàng hóa được đưa vào thị trường, chủ sở hữu hàng hóa không được tiếp tục kiểm soát, quyết định những điểm đến tiếp theo của sản phẩm Những án lệ đầu tiên về nhập khẩu song song đã được pháp điển hóa và đưa vào trong các quy định pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa, đó là đạo luật Laham.17
Mỹ thừa nhận nhập khẩu song song nhưng khác với Liên minh Châu Âu,
17 Đạo luật Laham về nhãn hiệu hàng hóa của Mĩ có tên tiếng Anh là: “Laham Act” theo Th.s Nguyễn Như Quỳnh,
Lý thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ và vấn đề nhập khẩu song song, Tạp chí luật học số 1 năm 2006, tr 47- 53, trang
51
Trang 23Mỹ áp dụng học thuyết hết quyền quốc tế Cụ thể, khi một sản phẩm mang nhãn hiệu hàng hóa được đưa vào thị trường ở bất kì nơi nào trên thế giới với sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, thì không còn quyền tiếp tục được kiểm soát, quyết định việc phân phối tiếp theo đối với hàng hóa đó
Từ năm 1936, cục Hải quan Hoa Kì đã giải thích pháp luật theo hướng cho phép nhập khẩu song song hàng hóa gắn nhãn hiệu, nếu các chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa nước ngoài và trong nước là một, hoặc có quan hệ chi nhánh.18 Tương tự kể từ khi chuyển giao nhãn hiệu hàng hóa trở thành một thực tiễn chấp nhận trong thương mại quốc tế, cục Hải quan đã không cấm nhập khẩu hàng hóa theo li-xăng của một chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa Hoa Kỳ
Quy chế hiện hành của Hoa Kỳ, cấm nhập khẩu hàng hóa gắn một nhãn hiệu hàng hóa giống hệt một hàng hóa nội địa.19 Trừ trường hợp các chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa nước ngoài và nội địa là một, hoặc có quan hệ chi nhánh hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa nội địa cho phép nhà sản xuất nước ngoài sử dụng nhãn hiệu hàng hàng hóa của mình
1.3 Nhập khẩu song song và các vấn đề có liên quan
1.3.1 Nhập khẩu song song
1.3.1.1 Khái niệm nhập khẩu song song
Trong sự “va đập” giữa quyền sở hữu công nghiệp và nguyên tắc tự do cạnh tranh, thường xuất hiện một vấn đề được gọi là nhập khẩu “song song”.20 Khi một nhà sản xuất muốn bán sản phẩm gắn nhãn hiệu của mình ở nước ngoài, nhà sản xuất thường chỉ định một nhà phân phối độc quyền ở quốc gia nước ngoài và bán sản phẩm thông qua nhà phân phối ấy, thường với hai hình thức là cấp li-xăng, hoặc là nhượng quyền nhãn hiệu hàng hóa của mình cho nhà phân phối
Nhập khẩu song song sẽ xuất hiện khi một bên thứ ba mua sản phẩm gắn nhãn hiệu hàng hóa tại nước chủ nhà của nhà sản xuất, hoặc một nước nào đó, rồi nhập khẩu sản phẩm vào quốc gia nước ngoài đó, mà không có sự đồng ý của nhà phân phối hoặc chủ thể nắm quyền sở hữu trí tuệ
Nhập khẩu song song, còn gọi là thị trường “nhập khẩu xám”, hàng hóa được sản xuất dưới sự bảo hộ của nhãn hiệu, bằng sáng chế, bản quyền, chúng được đặt vào lưu thông trong một thị trường, và sau đó được đưa vào thị trường thứ hai mà không được phép của chủ sở hữu tài sản trí tuệ của địa phương đó Các chủ sở hữu này thường là một
Trang 24đại lý địa phương được các nhà sản xuất cấp phép phân phối cho sản phẩm của mình Một cách ngắn gọn, nhập khẩu song song là việc nhập một hàng hóa chính hiệu chứa đựng đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ, được tiến hành bởi nhà nhập khẩu mà nhà nhập khẩu này không có mối quan hệ nào với chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp
Ví dụ: Nhãn hiệu CoCa-Cola được gắn vào sản phẩm nước giải khát của Thái Lan, với sự cho phép của chủ sở hữu hàng hóa ở Hoa Kì Việc dụng nhãn hiệu CoCa-CoLa trên sản phẩm là hợp pháp và việc bán sản phẩm tại Thái lan cũng là hợp pháp Sau đó sản phẩm CoCa-Cola này được bán vào Việt Nam, nhưng chủ sở hữu nhãn hiệu CoCa-CoLa ở Hoa kì không đồng ý.CoCa-CoLa Thái lan được bán ở Việt Nam và cạnh tranh với CoCa-Cola ở Việt Nam- sản phẩm của chủ doanh nghiệp do chủ sở hữu nhãn hiệu CoCa-CoLa đầu tư Việc phía Việt Nam cho phép nhập khẩu sản phẩm CoCa-CoLa Thái Lan, thường là với giá rẻ hơn CoCa- CoLa Việt Nam,được gọi là nhập khẩu song song
Xét ví dụ trên lý lẽ để chống lại nhập khẩu song song là rất dễ hiểu Nhà phân phối Hoa Kì đã tốn nhiều thời gian và tiền của để quảng cáo và nâng cao uy tín đối với sản phẩm nhằm thiết lập tốt với khách hàng, nhà phân phối này phải được độc quyền khai thác nhãn hiệu đã được bảo hộ Nếu nhập khẩu song song diễn ra thì nhà nhập khẩu song song (doanh nghiệp Việt Nam) có thể thu được lợi nhuận dựa trên nổ lực của nhà phân phối Hoa Kì, thông qua khai thác uy tín do nhà phân phối Hoa Kì tạo ra Một khi xuất hiện nhà nhập khẩu song song, thì sản phẩm của nhà phân phối và nhà nhập khẩu song song sẽ cạnh tranh với nhau về giá cả
Có nhiều cách phát sinh để phát sinh vấn đề nhập khẩu song song Thứ nhất, một nhà sản xuất có thể cho phép chi nhánh của mình hoặc bên nhận li-xăng được sản xuất hàng hóa gắn nhãn hiệu hàng hóa của mình Sau đó, một bên thứ ba có thể mua các hàng hóa này ở một quốc gia nước ngoài và bán lại hàng hóa đó vào trong nước của nhà sản xuất ban đầu Trong trường hợp này, chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp (hoặc nhà sản xuất) là người phản đối nhập khẩu song song Thứ hai, một nhà nhập khẩu độc lập có thể mua sản phẩm của một nhà sản xuất nước ngoài và đưa sản phẩm vào nước của nhà sản xuất ban đầu Hàng hóa này được bán trên thị trường và cạnh tranh với hàng nhập khẩu được cấp li-xăng Trong trường hợp này nhà phân phối độc quyền là người phản đối nhập khẩu song song
Trên thực tế khái niệm “nhập khẩu song song” chỉ được nói đến trong các học thuyết, các văn bản pháp luật của các nước trên thế giới đều không ghi trực tiếp thuật ngữ
“nhập khẩu song song” mà thể hiên nó theo nhiều cách khac nhau Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì nhập khẩu song song được thể hiện ở khoản 2 điểm b điều 125 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 thể hiện: chủ sở hữu quyền sở
Trang 25hữu công nghiệp không có quyền ngăn cấm người khác nhập khẩu sản phẩm đã đưa ra thi trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài
Thị trường xám
Ở Hoa Kì nhập khẩu song song được gọi là “thị trường xám”, hàng hóa ở “thị trường xám” được gắn nhãn hiệu chính hãng mà nhà nhập khẩu đã mua trên một thị trường hợp pháp tại nước ngoài và bán lại ở Hoa Kì, không cần có sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa Nhà nhập khẩu của “thị trường xám” chi phí ít hơn các nhà phân phối được cấp li-xăng, bởi vì nhà nhập khẩu này có thể có lợi từ sự biến động từ tỷ giá hối đoái Các nhà phân phối được cấp li-xăng phải duy trì số lượng hàng hóa trong kho
ổn định để đáp ứng nhu cầu khách hàng và không thể trông chờ vào một tỷ giá hối đối ưu đãi Còn nhà nhập khẩu chợ xám chỉ tiến hành việc mua hàng khi đồng đô-la tương đối mạnh Hàng hóa của nhà phân phối được cấp li-xăng sẽ được bán với giá cao và có bảo hành của nhà sản xuất, còn hàng hóa tại thị trường “thị trường xám” có giá thấp hơn và chỉ có bảo hành của cửa hàng, có khi sự chênh lệch này lên đến 40%.21
Như vậy, người tiêu dùng ở Hoa Kì có thể lựa chọn một hàng hóa phù hợp với khả năng tài chính của mình thông qua kênh “thị trường xám” Hơn nữa “thị trường xám” không những mang lại lợi ích cho người tiêu dùng mà còn đem lại lợi ích cho chủ sở hữu hàng hóa theo hai cách Thứ nhất, chủ sở hữu hàng hóa có lợi nhuận khi mà nhà nhập khẩu song song mua hàng hóa để bán lại, bởi vì nhà nhập khẩu này phải mua hàng hóa từ chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa hoặc các chi nhánh của chủ sở hữu Thứ hai, cạnh tranh gia tăng trong lĩnh vực phân phối làm lợi cho nhà sản xuất, bởi vì ngày càng có hàng hóa giá rẻ Hơn nữa, hoạt động nhập khẩu song song làm lợi cho nền kinh tế Hoa Kì, bởi sự cạnh tranh làm tăng hiệu quả của thị trường Sự gia tăng cạnh tranh cũng khuyến khích lợi ích của Chính phủ Hoa Kì trong nền thương mại tự do
1.3.1.2 Đối tượng của nhập khẩu song song
Nhập khẩu song song gắn liền đến đối tượng sở hữu công nghiệp và thường là nhãn hiệu Tuy nhiên, các hàng hóa chứa đựng các đối tượng sở hữu công nghiệp khác như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp cũng có thể được nhập khẩu song song Các hàng hóa được nhập khẩu song song thường là trong lĩnh vực dược phẩm và cũng đang gây nhiều tranh cãi hiện nay
1.3.1.3 Đặc điểm của nhập khẩu song song
Nhập khẩu song song thể hiện những đặc điểm sau đây:
21 TS Nguyễn Thành Tâm, Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội
năm 2006, trang 56
Trang 26Thứ nhất, nhập khẩu song song là một hiện tượng kinh tế và hiện tượng này xảy ra với tất cả hàng hóa
Thứ hai, hàng hóa chính hiệu được đưa ra thị trường nước ngoài bởi chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác được chủ sở hữu cho phép
Thứ ba, trong hoạt động nhập khẩu song song có từ hai nhà kinh doanh, đó là nhà kinh doanh được ủy quyền và nhà kinh doanh không được ủy quyền
Thứ tư, hoạt động nhập khẩu song song xảy ra giữa hai nước trở lên
1.3.1.4 Nguyên nhân của nhập khẩu song song
Nhập khẩu song song chỉ xảy ra khi một trong những nhà sản xuất hoặc phân phối định giá khác biệt cho sản phẩm của họ tại các thị trường khác nhau - sự khác biệt về giá của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự chênh lệch giá này có thể do người nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ họ thực hiện một chính sách thương mại đó là bán hàng với các mức giá khác nhau tại thị trường khác nhau Có nhiều lý do
để nhà kinh doanh duy trì mức giá chênh lệch tại các thị trường khác nhau có thể phản
ánh qua một số yếu tố sau:
Thứ nhất, do sự khác biệt trong chi phí sản xuất hoặc phân phối, ví dụ: một chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ cho phép các chi nhánh của mình hoặc bên nhận li-xăng sản xuất hàng hóa ở nước có chi phí sản xuất thấp sẽ dẫn đến giá thành phẩm thấp hơn so với sản xuất ở nơi có chi phí cao
Thứ hai, sự khác biệt về khả năng chi trả của người tiêu dùng cho hàng hóa ở các nước phát triển và đang phát triển, như nhiều nhà kinh doanh bán hàng hóa của họ tại “thị trường mới nổi” với giá thấp hơn giá họ bán ở thị trường phát triển cho cùng một loại hàng hóa để tạo ra một thị trường sản phẩm của họ, ví dụ: các doanh nghiệp sẽ định mức giá bán lẻ tại các thị trường khác nhau tùy theo đặc điểm của từng thị trường để tối đa hóa lợi nhuận thu được họ phải bán hàng hóa ở hai thị trường với giá khác nhau như ở nước nghèo sẽ có giá rẻ hơn ở những nước giàu vì người tiêu dùng ở nước nghèo không thể mua hàng hóa vượt quá mức thu nhập của họ
Thứ ba, tỷ giá hối đoái thay đổi, sự chênh lệch giá trị tiền tệ giữa các nước
Thứ tư, sự kiểm soát giá cả của từng quốc gia cho sản phẩm là khác nhau, đặc biệt trong lĩnh vực dược phẩm các chính phủ thường thực hiện kiểm soát giá cả với loại “hàng hóa” đặc biệt này
Thứ năm, sự khác biệt trong việc đầu tư cho thương hiệu tại thị trường bán, tức là sự khác biệt trong chi phí quảng cáo, quảng bá sản phẩm mới vào một thị trường ; v.v Nguyên nhân của hoạt động thương mại này là sự khác biệt về giá cho cùng một hàng hóa, dịch vụ giữa các nước Nhà kinh doanh trong trường hợp này có thể thu lợi nhuận bằng cách nhập khẩu hàng hóa song song với các kênh chính thức Cần lưu ý rằng, hàng hóa nhập khẩu song song là hàng hóa hợp pháp tại thị trường ban đầu, không phải là
Trang 27hàng giả mạo hay hàng lậu mà nó hoàn toàn giống với sản phẩm của nước sở tại Tuy nhiên, hàng hóa nhập khẩu theo dạng này có thể đóng gói hoặc dán nhãn một cách khác biệt và có thể không có bảo hành của nhà sản xuất chính gốc.22
Tóm lại, có thể thấy hai thành phần cấu thành sự xuất hiện của nhập khẩu song song
đó là: sự chênh lệch giá và quyền sở hữu trí tuệ
1.3.1.5 Cơ sở pháp lý cho hoạt động nhập khẩu song song
Cơ sở pháp lý cho hoạt động nhập khẩu song song là Hiệp định các khía cạnh về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) và Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), hai hiệp định này đã bao gồm tất cả các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ trong đó có vấn đề nhập khẩu song song Tuy nhiên, Tổ chức thương mại thế giới – cơ quan ban hành hiệp định TRIPS và GATT- không quy định cụ thể về vấn đề nhập khẩu song song mà
dành quyền này cho các nước thành viên Cụ thể ở hiệp định TRIPs “Nhằm mục đích giải
quyết tranh chấp theo Hiệp định này, phù hợp với quy định của các Điều 3 và 4, không được sử dụng một quy định nào trong Hiệp định này để đề cập đến trạng thái đã khai thác hết của quyền sở hữu trí tuệ” 23
Điều này được tái khẳng định trong tuyên bố Doha ngày 14 tháng 11 năm 2001 về sức khỏe y tế công cộng, cho phép các nước được nhập khẩu song song nhằm bảo vệ lợi ích y tế công cộng
Do thiếu sự đồng thuận của quốc tế nên quy định về nhập khẩu song song ở các quốc gia không thống nhất Pháp luật một số nước quy định cấm nhập khẩu song song trong những trường hợp nhất định, để bảo vệ độc quyền của chủ sở hữu công nghiệp Tuy nhiên, theo quan điểm của một số nước khác thì việc cấm nhập khẩu song song chính là lạm dụng quyền sở hữu công nghiệp để cản trở thương mại quốc tế điều này đã ảnh
hưởng không nhỏ đến dòng chảy tự do thương mại quốc tế
1.3.2 Mối quan hệ giữa nhập khẩu song song và quyền sở hữu trí tuệ
Các cuộc tranh luận về nhập khẩu song song và các quan điểm khác nhau về tác động của chúng trong nền kinh tế toàn cầu đã gây tranh cãi trong những năm gần đây.24Đặc biệt khi vai trò của các loại quyền sở hữu trí tuệ ngày càng to lớn trong nền kinh tế toàn cầu hóa, ngày nay với sự xuất hiện ngày càng nhiều của các công ty xuyên quốc gia thì quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành yếu tố hấp dẫn đầu tư quan trọng trong các cuộc cạnh tranh thì nhập khẩu song song diễn ra ngày càng mạnh mẽ
22 Keith E Maskus, Parallel imports in pharmaceuticals: implications for competition and prices in developing
countries, http://www.wipo.int/about-ip/en/studies/pdf/ssa_maskus_pi.pdf , [ truy cập ngày 15/9/2012]
23 Điều 6, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
24 Keith E Maskus, Parallel imports in pharmaceuticals: implications for competition and prices in developing
countries, http://www.wipo.int/about-ip/en/studies/pdf/ssa_maskus_pi.pdf , [ truy cập ngày 15/9/2012]
Trang 28Đặc biệt trong thị trường dược phẩm, nhập khẩu song song trở thành một vấn đề quan trọng trong hệ thống thương mại toàn cầu Dưới góc độ kinh tế, quyền SHTT được xem là phần thưởng hay động lực cho hoạt động phát minh - sáng tạo.Đây là quyền do nhà nước thông qua pháp luật xác lập, trao cho chủ sở hữu quyền, qua đó có thể ngăn cấm người khác sử dụng các đối tượng được bảo hộ Quyền SHTT là động lực quan trọng cho hoạt động nghiên cứu và triển khai, thương mại hóa các sáng tạo trong lĩnh vực dược phẩm, nhằm cung cấp các dược phẩm mới cho phòng chống bệnh tật Dưới góc độ của ngành công nghiệp dược phẩm, việc ấn định và thay đổi giá dược phẩm được xem là thuộc quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh quy luật cung cầu của thị trường Đối với các dược phẩm mới phát minh còn trong thời hạn được bảo
hộ theo pháp luật sáng chế, các công ty dược với tư cách là chủ sở hữu sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế; có thể sản xuất ra dược phẩm theo sáng chế và bán với giá cao nhằm thu hồi chi phí đầu tư nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa thành quả của sáng tạo đó Hiện nay, hầu hết các sáng chế mới trong lĩnh vực dược phẩm do các công ty dược đa quốc gia có trụ sở chính ở các nước phát triển nắm giữ Các công ty này thường lập luận rằng, họ phải định giá dược phẩm mới ở mức cao nhằm thu hồi chi phí đầu tư cho nghiên cứu và triển khai Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dược phẩm mới này của người bệnh ở các nước đang và kém phát triển.dưới góc
độ của người bệnh, nhất là những người bị các bệnh hiểm nghèo, phải điều trị trong thời gian dài thì chi phí cho dược phẩm chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí bảo
vệ và chăm sóc sức khỏe đặc biệt đối với những căn bệnh với giá thuốc cao như HIV/AIDS, ung thư, viêm gan, tim mạch, thận mãn tính Nếu người bệnh không được
sử dụng dược phẩm đúng, đầy đủ và hợp lý, việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của họ
sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng như vậy có thể thấy giá thuốc cao cản trở quá trình chữa bệnh của họ, khiến tính mạng của họ có thể bị đe dọa Ngoài ra, nếu phải chi trả một số tiền lớn cho thuốc chữa bệnh trong thời gian dài có thể đẩy bệnh nhân và gia đình của
họ vào tình trạng đói nghèo
Trong khi đó, người bệnh cần phải được sử dụng các dược phẩm mới này với giá hợp lý, có thể chấp nhận được so với thu nhập của họ Đây là một nghịch lý mà các quốc gia và các tổ chức quốc tế đang phải đối mặt Vì ảnh hưởng của nó đến tính mạng, sức khỏe của con người, nên quyền tiếp cận dược phẩm có thể được xem như là ngoại
lệ của quyền SHTT, tức quyền SHTT có những giới hạn và ngoại lệ nhất định nhằm phục vụ lợi ích chung, bảo vệ sức khỏe cộng đồng Do đó, Hiệp định TRIPS cũng như Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và sức khỏe cộng đồng năm 2001 đã khẳng định, các thành viên của WTO có thể áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm hạn chế quyền SHTT để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, thúc đẩy việc tiếp cận dược phẩm cho người dân,
Trang 29một trong những biện pháp đó là các quốc gia có thể tự do áp dụng học thuyết hết quyền sở hữu trí tuệ cho vấn đề nhập khẩu song song dược phẩm
Từ những phân tích trên có thể thấy, với sự ra đời của hoạt động nhập khẩu song song là một ngoại lệ của quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và hạn chế tình trạng độc quyền,25 phù hợp với mục tiêu của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là việc bảo hộ và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ phải góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, góp phần đem lại lợi ích chung cho người tạo ra và người sử dụng kiến thức công nghệ, đem lại lợi ích xã hội và lợi ích kinh tế, và tạo sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ.26
1.3.3 Mối quan hệ giữa nhập khẩu song song và thương mại quốc tế
Nhập khẩu song song liên quan trực tiếp đến hai mảng quan trọng của thương mại quốc tế hiện đại đó là: tự do thương mại và việc bảo hộ quyền sở trí tuệ trong đó chủ yếu
là sở hữu công nghiệp Nhập khẩu song song làm xuất hiện lợi ích của hai bên liên quan
Do có hành vi nhập khẩu song song mà bên có quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp không khai thác được hết quyền của mình đối với đối tượng sở hữu công nghiệp.27
Nó được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Thứ nhất, nhập khẩu song song điều chỉnh mức độ mà chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có thể khai thác sức mạnh độc quyền của mình và cụ thể là được thể hiện trong các quyết định giá cả Việc ngăn cấm nhập khẩu song song của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hay bởi pháp luật của một quốc gia sẽ làm cho các công ty những người nắm phần lớn trong tay tài sản trí tuệ thực hiện việc phân khúc thị trường - áp đặc các mức giá khác nhau cho từng thị trường cụ thể Sự phân khúc này cho phép nhà sản xuất tính phí (và thực thi) các mức giá khác nhau cho cùng một sản phẩm tại các thị trường khác nhau, cho phép họ đạt được tổng doanh thu cao bằng cách điều chỉnh giá theo điều kiện của từng quốc gia, chẳng hạn, thu phí người tiêu dùng ở quốc gia giàu có với mức cao hơn so với người tiêu dùng ở quốc gia ít giàu có hơn - đây cũng là lí do để họ phản đối việc nhập khẩu song song Việc áp đặt mức giá khác biệt tại các thị trường khác nhau được xem là dấu hiệu của sự độc quyền.28
Điều này xảy ra khi các doanh nghiệp sản xuất xác định được sức mạnh thị trường khác nhau tại các nước khác nhau Sức mạnh thị trường về một loại hàng hóa nào đó - ví dụ như thuốc - sự hỗ trợ bởi sự tách biệt thị trường các nước, tức là không có giao dịch thương mại của loại thuốc đó giữa các nước hay nhà nước
25 TS Nguyễn Thành Tâm, Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội
năm 2006, trang 86
26
Điều 7, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
27 TS Nguyễn Thành Tâm, Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội
năm 2006, trang 85
28 Ts Lê Khương Ninh, kinh tế học vi mô lý thuyết và thực tiễn kinh doanh, Nhà xuất bản giáo duc, năm 2008, trang
221
Trang 30không cho phép nhập khẩu song song Việc phân khúc thị trường này được xem như là một rào cản của thương mại quốc tế
Thứ hai, chính sách cạnh tranh ảnh hưởng đến chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đáp trả lại với thương mại song song Ví dụ, một phản ứng phổ biến là hạn chế nguồn cung trong một đất nước có nguồn cung cấp cho sản phẩm song song hoặc sử dụng các hợp đồng hạn chế cho các nhà bán buôn hoặc nhà phân phối để hạn chế bán lại Hành động như vậy có thể xem là phản cạnh tranh
Từ những phân tích trên có thể thấy việc phản đối nhập khẩu song song sẽ trái ngược với mục tiêu của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là giảm thiểu rào cản đối với thương mại và dịch vụ trong thị trường quốc tế, nâng cao nâng suất toàn cầu như đã thể hiện trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) tại điều XI và điều III - đó là cấm các biện pháp hạn chế nhập khẩu hoặc phân biệt đối xử và gánh nặng nhập khẩu không công bằng liên quan đến sản xuất hàng hóa trong nước
Hơn nữa, nhập khẩu song song mở ra sẽ làm cho người tiêu dùng tiếp cận với hàng hóa có mức rẻ hơn Ví dụ: Nếu một người bán lẻ có thể có được các hàng hóa tương tự ở một mức giá thấp hơn từ nhà phân phối A người bán lẻ sẽ mua và nhập khẩu các sản phẩm từ một nhà phân phối A này, thay vì mua hàng hóa như vậy có giá đắt hơn của B Điều này cho phép các nhà bán lẻ để tính một mức giá thấp hơn cho người tiêu dùng, và
để cạnh tranh tốt hơn với các nhà bán lẻ khác Như vậy, có thể thấy nhập khẩu song song đem lai lợi ích cho người tiêu dùng toàn cầu tiếp cận với hàng hóa ở mức rẻ nhất, điều này phù hợp với các tiền đề cơ bản của tự do hóa thương mại: đó là khuyến khích hiệu quả sản xuất hàng hóa và dịch vụ vì lợi ích của người tiêu dùng.29
Tóm lại, cho phép nhập khẩu song song là phù hợp với tự do hóa thương mại toàn cầu Nhập khẩu song song mang lại một lợi ích thiết thực cho thị trường, đó là đẩy mạnh
sự cạnh tranh cao độ trong hoạt động thương mại, chấp nhận hành vi nhập khẩu song song có nghĩa là khuyến khích tự do cạnh tranh.30 Điều này khuyến khích, năng cao hiệu quả hiệu quả của sản xuất hàng hoá và dịch vụ vì lợi ích của người tiêu dùng; phù hợp với mục tiêu của WTO là giảm thiểu rào cản đối với thương mại và dịch vụ trong thị trường quốc tế và phù hợp với mong muốn của Hiệp định các khía cạnh thương mại của
quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) là ”các biện pháp và thủ tục thực thi các quyền sở hữu trí
tuệ không trở thành rào cản đối với hoạt động thương mại hợp pháp”
29
International Institute for Sustainable Development (IISD), Parallel Importation: Economic and social welfare
dimensions, http://www.iisd.org/pdf/2007/parallel_importation.pdf , [truy cập ngày 18/9/2012].
30 Nguyễn Thành Tâm, Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội
năm 2006, trang 86
Trang 311.4 Nhập khẩu song song ở Việt Nam
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì nhập khẩu song song sẽ diễn ra một cách tất yếu Nhập khẩu song song đem lại lợi ích thiết thực cho thị trường, đó là đẩy mạnh sự cạnh tranh trong hoạt động thương mại Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), việc thừa nhận nhập khẩu song song phù hợp với mục tiêu của WTO là giảm thiểu rào cản thương mại và đem lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng tiếp cận hàng hóa với mức giá rẻ
Theo pháp luật Việt Nam việc tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi nhập khẩu song song không bị xử phạt vi phạm hành chính.31
Như vậy hành vi nhập khẩu song song ở
Việt Nam là hợp pháp, và không bị xem là xâm phạm độc quyền của chủ sở hữu quyền
sở hữu trí tuệ Quy định quan trọng nhất cho vấn đề hết quyền nhập khẩu song song được
thể hiện ở điểm b khoản 2 điều 125 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 là “chủ sở hữu quyền sở
hữu công nghiệp không có quyền ngăn cấm người khác nhập khẩu sản phẩm đã đưa ra thị trường, kể cả thị trường một cách hợp pháp, trừ sản phẩm do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu đưa ra thị trường nước ngoài”
Từ quy định trên thì chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp không thể ngăn chặn chủ thể khác lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm đã được đưa ra thị trường bất kì trên thế giới nhưng có quyền ngăn chặn chủ thể khác thực hiện hành vi này với những sản phẩm mà không phải chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu đồng ý đưa
ra thị trường – trong trường hợp này thì bị xem là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp,
điều này được được quy định rõ như sau: “Sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị
trường nước ngoài một cách hợp pháp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 125 của Luật Sở hữu trí tuệ được hiểu là sản phẩm do chính chủ sở hữu, người được chuyển giao quyền
sử dụng, kể cả chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc, người có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp đã đưa ra thị trường trong nước hoặc nước ngoài”.32
Có thể thấy, theo quy định trên, yếu tố hết quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp nhấn mạnh yếu tố “nhãn hiệu” và chủ sở hữu sẽ hết quyền khi thỏa hai điều kiện:
là sản phẩm được đưa ra thị trường bất kể trong nước hay ngoài nước và chủ thể đưa sản phẩm ra thị trường là sở hữu quyền sở hữu công nghiệp, người được chuyển giao quyền
sở hữu trí tuệ hoặc người có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp
31 Khoản 2, Điều 10, Thông tư 37/2011/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 97/NĐ-CP ngày
21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
32 Khoản 2, Điều 21, Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành mộ số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
Trang 32Về quy định trên, có thể còn có tranh cãi về các trường hợp hết quyền, do nó quá nhấn mạnh vào yếu tố “nhãn hiệu”.33 Nhưng xem xét quy định này trong mối tương quan với quy định tương tự về hết quyền đối với giống cây trồng được thừa nhận tại khoản 2
Điều 190 “quyền đối với giống cây trồng không được áp dụng đối với các hành vi liên
quan đến vật liệu của giống cây trồng được bảo hộ do chủ bằng bảo hộ hoặc người được chủ bằng bảo hộ cho phép bán hoặc bằng cách khác đưa ra thị trường Việt Nam hoặc thị trường nước ngoài” Như vậy, có thể thấy từ quy định này thì nước ta áp dụng chế độ hết
quyền quốc tế
Như vậy, theo pháp luật nước ta, chế độ hết quyền sở hữu trí tuệ cho vấn đề nhập khẩu song song xảy ra kể cả trong trường hợp bất buộc chuyển giao quyền sử dụng và nhập khẩu song song là việc tổ chức, cá nhân nhập khẩu sản phẩm do chính chủ sở hữu hoặc tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền sử dụng, kể cả chuyển giao quyền sử dụng theo quyết định bắt buộc, người có quyền sử dụng trước đối tượng sở hữu công nghiệp đã đưa ra thị trường nước ngoài, mặc dù không được sự đồng ý của chủ thể quyền
sở hữu công nghiệp.34
Từ quy định này có thể thấy, nhập khẩu song song ở nước ta không chỉ được được thừa nhận trong yếu tố nhãn hiệu mà là trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động sở hữu trí tuệ như: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và tên gọi
và là giải pháp tốt cho vấn đề giá cao ở thị trường nội địa
Từ những phân tích trên, có thể thấy nhập khẩu song song mang lại lợi ích thiết thực cho thị trường và người tiêu dùng Hiệp định TRIPS cho phép nhập khẩu song, điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc giải quyết các vấn đề sức khỏe và y tế công cộng, đặc biệt trong lĩnh vực dược phẩm, có thể nói nó được xem là “ngoại lệ” của quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này giữa các quốc gia vì vậy, Hiệp định TRIPS đã để lại quyền cho phép nhập khẩu song song hay không phụ thuộc vào quy định của pháp luật của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, nhập khẩu song song được thừa nhận trong quy định của pháp luật quốc gia Và một trong những vấn đề mà Việt Nam thực hiện áp dụng trong hoạt động nhập khẩu song song đó là lĩnh
vực dược phẩm
33 T.s Lê Huy Hồng, PGS,T.s Nguyễn Thanh Tú, Quyền sở hữu trí tuệ và quyền tiếp cận dược phẩm dưới góc độ
quyền con người, Tạp chí ngiên cứu lập pháp số 17(202) tháng 9 năm 2011, tr 33-42, trang 35
34 Khoản 2, Điều 10, Thông tư 37/2011/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 97/ NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Trang 33CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHẬP KHẨU SONG SONG
DƯỢC PHẨM Ở VIỆT NAM
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của nhập khẩu song song và thương mại quốc tế, thấy được những lợi ích của hoạt động nhập khẩu song song Đặc biệt, nhập khẩu song song được thừa nhận trong một Hiệp định toàn cầu về quyền sở hữu trí tuệ - Hiệp định TRIPS, điều này đã giúp không ít các nước kém và đang phát triển giải quyết vấn đề nan giải về bài toán giá thuốc cao - mà chủ yếu là do sự độc quyền của các công ty dược trong hệ thống sản xuất và phân phối, trong đó có Việt Nam Ở Việt Nam, trước tình hình giá thuốc không ngừng tăng cao, trên cơ sở của pháp luật quốc tế - Hiệp định TRIPS cho phép các thành viên áp dụng các ngoại lệ của quyền sở hữu trí tuệ đó là li-xăng bắt buộc và nhập khẩu song song để để giải quyết vấn đề sức khỏe, y tế công cộng Ở chương 2, sẽ phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn cho hoạt động nhập khẩu song song dược phẩm ở Việt Nam Trong đó, ngoài việc tìm hiểu tình hình giá thuốc, các
cơ chế tác động đến giá thuốc còn tìm hiểu những quy định pháp luật về li-xăng bắt buộc
và nhập khẩu song song, và làm rõ tại sao Việt Nam không áp dụng li-xăng bắt buộc để giải quyết vấn đề giá thuốc tăng cao
2.1 Cơ sở thực tiễn của nhập khẩu song song dược phẩm ở Việt Nam
2.1.1 Khái quát tình hình giá thuốc ở Việt Nam
2.1.1.1 Vai trò, vị trí của dược phẩm của dược phẩm
Từ xa xưa cho đến nay, sử dụng thuốc trong phòng, chữa bệnh và tăng cường sức khoẻ đã trở thành một nhu cầu tất yếu quan trọng đối với đời sống con người Theo sự phát triển của ngành dược, nhiều loại thuốc mới đã được tìm ra và nhiều loại dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo đã được khắc phục Ngày nay thuốc đã trở thành một vũ khí quan trọng không thể thiếu trong cuộc đấu tranh của con người nhằm chống lại bệnh tật tăng cường sức khoẻ
và kéo dài tuổi thọ
Vấn đề đảm bảo thuốc chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân còn là một trong những vấn đề quan trọng của một quốc gia.Việc đảm bảo thuốc chữa bệnh trong nhiều trường hợp gắn liền với việc cứu sống hoặc tử vong của con người Việc thiếu hụt thuốc men có thể gây nên tâm lí lo lắng, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị - xã hội, bởi vậy vấn
đề đảm bảo thuốc còn là vấn đề xã hội nhạy cảm mà lãnh đạo của bất kì quốc gia nào đều quan tâm
Trang 34
2.1.1.2 Tình hình giá thuốc tại Việt Nam
Đối với các sản phẩm thuốc chữa bệnh, giá cung được quy định trước hết bởi các doanh nghiệp sản xuất thuốc, sau khi đã trừ đi các chi phí sản xuất thuốc và lợi nhuận cho doanh nghiệp Tuy nhiên, giá cung của các doanh nghiệp sản xuất thuốc đưa ra chưa phải
là giá cung cuối cùng, mà còn phụ thuộc vào chi phí và lợi nhuận của các khâu phân phối trung gian Do vậy, nếu các khâu phân phối trung gian càng phức tạp, qua nhiều tầng nấc thì chi phí càng cao hoặc có hiện tượng độc quyền trong phân phối với lợi nhuận càng cao thì điều tất yếu xảy ra là giá thuốc được cung ra trong thị trường sẽ tăng lên
Theo cách hiểu thông thường, giá cầu thuốc phụ thuộc vào khả năng chi trả của người bệnh Tuy nhiên, thuốc là một sản phẩm đặc biệt nhạy cảm bởi nó liên quan tới sức khỏe con người và ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội Do đó các quốc gia đều có chính sách can thiệp đối với thị trường thuốc chữa bệnh như chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách kiểm soát giá thuốc, chính sách sử dụng thuốc từ hệ thống bảo hiểm y tế, tất
cả các chính sách của nhà nước sẽ tác động đến sự thay đổi giá thuốc trên thị trường
trong phạm vi quốc gia
b) Tình hình giá thuốc ở Việt Nam
Tính đến tháng 12 năm 2006 thì Việt Nam vẫn chưa cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào phân phối thuốc chữa bệnh trực tiếp bán buôn, bán lẻ tại thị trường Việt Nam thể hiện trong Thông tư 06/2006/TT-BYT của Bộ Y tế về hướng dẫn việc xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và mỹ phẩm Chính sách này nhằm bảo hộ hệ thống phân phối cho các doanh nghiêp trong nước, tuy nhiên tác động tiêu cực đến chất lượng phân phối thuốc bởi các doanh nghiệp phân phối thuốc của nước ngoài có quá trình phát triển lâu dài, có quy mô lớn hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp trong nước, có khả năng cung cấp chuyên nghiệp hơn so với các doanh nghiệp Việt Nam
Tuy nhiên, chính sách này buộc các doanh nghiệp nước ngoài liên kết với các doanh nghiệp Việt Nam để thâm nhập thị trường, đặc biệt sự thỏa thuận giữa các công ty đa quốc gia về phân phối độc quyền cho một số doanh nghiệp phân phối chuyên nghiệp nghiệp ở nước ngoài Như vậy, nhiều loại thuốc tiên tiến đã được sản xuất bởi các doanh
35
Trần Bình Trọng, giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nhà xuất bản Thống Kê 2003, trang 202
Trang 35nghiệp nước ngoài nhập khẩu vào thị trường Việt Nam phải qua nhiều khâu trung gian điều này dẫn nhiều loại thuốc dẫn đến giá thuốc giá thuốc ở Việt Nam đã không ngừng
tăng cao trong những năm qua do Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004 thì giá
thuốc trên thị trường không ngừng tăng cao Đặc biệt trong năm 2004 theo nhận định của Cục quản lý dược của Việt Nam giá thuốc tăng khá cao so với năm 2003 là 9,1% chỉ đứng sau mặt hàng mặt hàng lương thực, thực phẩm.36
Tuy đến ngày 1/1/2009 các doanh nghiệp nước ngoài ngoài được tham gia vào phân phối thuốc chữa bệnh trực tiếp bán buôn, bán lẻ tại thị trường Việt Nam theo Quyết định
số 10/2007/QĐ-BTM của Bộ thương mại về công bố lộ trình mua bán thực hiện hàng hóa
và các hoạt động liên quan đến trực tiếp mua bán hàng hóa nhưng giá thuốc Việt Nam vẫn khá cao so với khu vực Cụ thể theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ở Việt Nam, giá thuốc đại trà hiện đang cao gấp 11,41 lần giá thuốc trung bình trên thế giới, giá thuốc đặc trị thì cao gấp 46,58 lần trung bình thế giới trong khi người dân Việt Nam chỉ mới vừa qua ngưỡng thu nhập thấp Giá thuốc đã quá cao là một nguyên nhân quan trọng khiến cho tỷ lệ bệnh nhân có khả năng tiếp cận thuốc hiện rất thấp: chỉ có 20% số người
có nhu cầu có thể tiếp cận thuốc (nói chung), và chỉ có 13% đối tượng có nhu cầu có thể tiếp cận được thuốc dành cho bà mẹ, trẻ em.37 Hiện nay, giá thuốc ở nước ta vẫn còn tăng
khá cao và còn nhiều biến động Ví dụ, cụ thể thuốc Trafedin 1 vỉ có giá tháng 3 là
12.500 đồng đến tháng 4 đã tăng lên đến 18.000 đồng với tỷ lệ tăng 44%, hay một số loại thuốc được thể hiện trong biểu bảng sau chỉ trong một tháng mà một số loại thuốc đã tăng lên từ 30% đến 44%
Sự tăng giá của một số loại thuốc trong tháng 3 đến tháng 4 năm 2012 38
Stt Tên thuốc Đơn vị
tính
Giá (VND) Tỷ lệ
(%) Tháng 3/2012 Tháng
36 Công văn số 1435/QLD-GN của Cục quản lý dược Việt Nam ngày 02 tháng 3 năm 2005
37Văn phòng WHO tại Việt Nam, Báo cáo “Giá thuốc khiến người dân ốm yếu hơn và nghèo hơn”, Hà Nội, năm
2010
38 Hiệp hội doanh nghiệp dược Việt Nam, Báo cáo tình hình thị trường dược phẩm từ ngày 21/3/2012 đến ngày
20/4/2012, http://vnpca.org.vn/story/tinh-hinh-thi-truong-du-c-pham-tu-21032012-en-20042012 , [truy cập ngày 1/11/2012]
Trang 36Tóm lại, thuốc là mặt hàng thiết yếu, việc giá thuốc tăng cao đã gây ảnh hưởng đến lợi ích của người dân trong việc chữa trị bệnh tật Cùng với giá vàng, giá xăng dầu, giá sữa, giá sắt thép thì giá thuốc là một trong những vấn đề đang được bàn luận và quan tâm nhất trong thời gian trở lại đây
2.1.2 Một số yếu tố tác động đến sự tăng giá thuốc tại Việt Nam
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng trong giá thuốc như biến động tỷ giá hối đối, chi phí quản cáo, tiếp thị sản phẩm, thương hiệu, sự độc quyền, do chi phí khổng lồ trong nghiên cứu và phát triển các loại thuốc mới Theo WHO (Tổ chức Y tế thế giới) giá thuốc ở Việt Nam tăng lên do các nguyên nhân chủ yếu sau:
2.1.2.1 Do sự độc quyền trong sản xuất và phân phối
Vấn đề độc quyền trong sản xuất và phân phối dược phẩm được quy định trong Hiệp định các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) Trong đó thị trường thuốc được bảo hộ bởi bằng độc quyền sáng chế dược phẩm, sự độc quyền này chi phối giá thuốc trên thị trường qua các hình thức:
- Độc quyền trong sản xuất: một loại thuốc mới được công ty đầu tư và nghiên cứu ra, quyền sở hữu trí tuệ bảo hộ họ bằng cách cấp bằng sáng chế độc quyền và họ được hưởng
sự độc quyền sản xuất này trong thời gian 20 năm theo điều 33 của Hiệp định TRIPS;
- Độc quyền cho một nhóm người bán: chỉ có một số công ty được phép sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa;
- Các công ty sản xuất đa quốc gia luôn có xu hướng thực hiện áp dụng giá chiến lược tại các nước có thu nhập trên đầu người thấp và giá cao tại các nước có thu nhập trên đầu người cao;
- Các thông tin và dữ liệu thí nghiệm về thuốc do công ty phát minh sở hữu và được bảo
hộ bởi luật pháp về sở hữu trí tuệ Người khác không được quyền tiếp cận thông tin và
sử dụng;
Hệ thống phân phối bán buôn tồn tại hiện tượng độc quyền phân phối các sản phẩm các sản thuốc điều trị tiên tiến bởi một số công ty đa quốc gia, tình trạng nhập khẩu độc quyền bởi các công ty nhập khẩu thuốc đã làm phát sinh tình trạng kết hợp theo chiều dọc giữa doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp phân phối tạo sức mạnh độc quyền trên thị trường và nâng giá thuốc cao vô lý so với thuốc cùng loại tại các nước có thu nhập bình quân đầu người cao hơn ở Việt Nam Trong khi đó, như phân tích, các công ty sản xuất
đa quốc gia luôn có xu hướng thực hiện áp dụng giá chiến lược tại các nước có thu nhập trên đầu người thấp và giá cao tại các nước có thu nhập trên đầu người cao Tình trạng độc quyền phân phối và độc quyền nhập khẩu và thủ tục cấp giấy phép lưu hành thuốc tại thị trường Việt Nam kéo dài đã tạo lợi thế cho các doanh nghiệp phân phối và nhập khẩu
áp đặt thuốc giá cao trên thị trường
Trang 37Điển hình của vấn đề độc quyền trong phân phối là vụ công ty Zuellig Pharma Việt
Nam (ZPV) Công ty này là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài duy nhất được hoạt
động phân phối thuốc nhập khẩu (trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến năm 2004) công ty này đã lợi dụng sự độc quyền về hoạt chất, công thức thuốc, độc quyền về tên thương mại của thuốc và đẩy giá thuốc lên cao gấp nhiều lần so với giá ban đầu.39
2.1.2.2 Thiếu thông tin về tình hình dược phẩm
Thuốc là loại hàng hóa mang tính chất đặc biệt ở điểm bệnh nhân không có quyền quyết định loại thuốc sẽ sử dụng, bác sĩ kê đơn, dược sĩ cung cấp thuốc theo đơn, bênh nhân chỉ có thể tuân thủ điều trị theo y lệnh của bác sĩ Nếu người kê đơn đặt lợi ích bệnh nhân lên hàng đầu thì người bệnh đuợc kê đơn thuốc hợp lý, sử dụng an toàn, hiệu quả và phù hợp với kinh tế của mỗi người Nhưng trên thực tế có một bộ phận bác sĩ đã không thực hiện quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn, bị các công ty dược dùng vật chất, hoa hồng để khuyến khích kê đơn thuốc Đây cũng chính là nguyên nhân khiến người dân phải mua thuốc với giá cao Nếu người dân được tư vấn, cung cấp đầy đủ thông tin về thuốc thì chắc chắn họ có thể giảm một phần kinh phí lớn trả cho dựoc phẩm
2.1.2.3 Tâm lý người tiêu dùng
Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người bệnh nên người mua thuốc thường có tâm lý muốn mua những thuốc có chất lượng tốt Người dân hiện vẫn có tâm lý thuốc đắt tiền, thuốc ngoại và giá cao sẽ nhanh chữa khỏi bệnh Đó cũng chính là lý do để các cửa hàng, công ty lợi dụng để tăng giá thuốc cao hơn so với giá trị và chất lượng thực sự của thuốc
2.1.2.4 Công nghệ sản xuất tại Việt Nam chưa phát triển
Với một nước có dân số đông như Việt Nam thì số lượng thuốc sản xuất trong nước
vẫn chưa đủ đáp ứng yêu cầu của người dân Tỷ lệ thuốc trong nước mới đạt gần 50% so
với tổng giá trị thuốc sử dụng của toàn xã hội Ngành công nghiệp dược phẩm ở nước ta còn non trẻ, theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì công nghiệp dược phẩm ở Việt Nam đang ở mức từ 2,5 đến 3 (WHO chia mức độ phát triển ngành công nghiệp dược phẩm của các nước ra làm 4 cấp độ: cấp độ 1 – hoàn toàn nhập khẩu; cấp độ 2 – sản xuất thuốc một số thuốc generic,40
đa số phải nhập khẩu; cấp độ 3 – có công nghiệp dược nội địa sản xuất generic, xuất khẩu được một số dược phẩm; cấp độ 4 – sản xuất được nguyên liệu và phát minh thuốc mới), nghĩa là công nghiệp dược phẩm ở Việt Nam mới trong giai đoạn sản xuất được một số thuốc generic xuất khẩu và đa số phải nhập khẩu (nhập khẩu hơn
Trang 3850% thuốc thành phẩm và gần 90% nguyên liệu để sản xuất thuốc generic).41 Công nghiệp dược phẩm ở nước ta mới chỉ đầu tư sản xuất các loại thuốc thông thường, đơn giản với 51% dây chuyền sản xuất thuốc viên thông thường, nguồn nhân lực thiếu về số lượng với trình độ chuyên môn chưa đáp ứng nhu cầu và phân bố không đồng đều, chưa hợp lý.42
Theo WHO, tại các quốc gia có nền công nghiệp dược phẩm chưa phát triển việc sản xuất trong quốc gia đó vì thế cũng chậm phát triển so với quốc gia khác, làm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm dược phẩm sản xuất trong nước kém là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng giá thuốc
2.1.2.5 Cơ chế quản lý kinh doanh trong ngành dược còn yếu kém
Dược phẩm là một “hàng hóa” đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến y tế công cộng, sức khỏe của người dân, chính vì vậy bất kì một Chính phủ nào trên thế giới cũng có sự kiểm soát đối với đối với hoạt động kinh doanh hàng hóa này Ở nước ta,cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh trong ngành dược còn yếu kém, trong công tác đấu thầu thuốc xảy
ra tình trạng mua bán lòng vòng, các chi phí cho các kênh phân phối Dược phẩm được
phân phối qua hai kênh phân phối chính: phân phối qua các bệnh viện, các chương trình
và phân phối qua các cửa hàng, quầy thuốc bên ngoài
Để phân phối sản phẩm vào bệnh viện, các chương trình, các công ty dược phẩm phải thực hiện đấu thầu Phương thức đấu thầu cung ứng thuốc chỉ cho phép doanh nghiệp nhà nước tham gia dự thầu theo gói thầu, dẫn đến hiện tượng mua bán thuốc “lòng vòng” giữa các doanh nghiệp nhà nước, các công ty trách nhiệm hữu hạn, nhà thuốc Và đó là nguyên nhân chính của việc chênh lệch lớn giữa giá nhập khẩu và giá bán ra, vì mỗi khâu đều phải cộng thêm chi phí, một số loại thuốc khi đến tay người tiêu dùng đôi khi đã
chênh lệch lên đến 347% như thuốc Curomin có giá bán ban đầu là 40.183đồng/hộp khi
đến tay người tiêu dùng thì lên đến 180.000đồng/hộp, được thể hiện qua biểu đồ bên dưới
Trang 39Biểu đồ thể hiện giá thuốc chênh lệch giữa mua ra và bán vào của một số công
Mặt khác, để phân phối sản phẩm qua các cửa hàng, quầy thuốc bên ngoài, các công ty có thể thực hiện xây dựng kênh phân phối trực tiếp của mình hoặc thực hiện thông qua các công ty phân phối Chi phí phân phối ở Việt Nam chiếm tùy theo uy tín và chất lượng của dịch vụ công ty phân phối Với hoạt động này, chính sách hoa hồng cho đại lý và quảng bá thương hiệu, chi phí cho các bác sĩ kê toa thuốc là yếu tố quyết định đến sự thành công của doanh nghiệp Như vậy các loại thuốc ở nước ngoài khi nhập khẩu vào thị trường Việt Nam phải qua nhiều kênh phân phối trung gian và các chi phí cho các kênh phân phối này Từ đó dẫn tới giá nhiều loại thuốc nhập khẩu khi tới tay người tiêu dùng đã nâng lên rất nhiều Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng chi trả về thuốc của người tiêu dùng
2.1.3 Các biện pháp bình ổn giá thuốc của nhà nước
Thị trường thuốc chữa bệnh về cơ bản vận động theo quy luật cung cầu giống như
các loại hàng hóa thông thường Tuy nhiên, thuốc là một “ hàng hóa” đặc biệt ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe người dân và phúc lợi xã hội Vì vậy các quốc gia ít hoặc nhiều luôn có những chính sách để can thiệp đối với thị trường này
Ở nước ta, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh cho người được nhà nước can thiệp bằng
một trong những biện pháp là bình ổn giá Trong đó “bình ổn giá là việc Nhà nước áp
dụng biện pháp thích hợp về điều hòa cung cầu, tài chính, tiền tệ và biện pháp kinh tế, hành chính cần thiết khác để tác động vào sự hình thành và vận động của giá, không để giá hàng hóa, dịch vụ tăng quá cao hoặc giảm quá thấp bất hợp lý”.44
Trang 40Trước tình trạng giá thuốc tăng và diễn ra liên tục đã gây ra sự chú ý và bức xúc của nhiều tầng lớp người dân, nhà nước đã đưa ra các biện pháp nhằm bình ổn thị trường giá
thuốc Các biện pháp bình ổn giá thuốc của nhà nước:
pháp dựa vào giá bán lẻ để tính thuế nhập khẩu
2.1.3.2 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Kiểm tra và xử lý nghiêm hành vi trốn thuế, lậu thuế, kiểm tra liên ngành về giá thuốc trên thị trường Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc kê khai giá thuốc tại các quầy thuốc, cơ sở kinh doanh thuốc Xử lý nghiêm minh và phạt nặng những hành vi không kê khai giá thuốc hoặc kê khai không đúng giá Bên cạnh đó ban hành các quy định về đấu
thầu thuốc cung ứng cho bệnh viện và chế tài xử phạt những hành vi phạm về giá thuốc
2.1.3.3 Tuyên truyền, giáo dục
Hoạt động kê đơn thuốc và sử dụng thuốc qua mối liên hệ chủ yếu giữa thầy thuốc bệnh nhân - nhà thuốc Tình trạng kê đơn thuốc gồm cả những loại thuốc không thật sự cần thiết cho người bệnh với mục đích có lợi cho mình (do nhận hoa hồng từ các công ty dươc) hoặc tình trạng kê các loại thuốc ngoại đắt tiền trong khi có thể sử dụng thuốc rẻ hơn mà vẫn hiệu quả, hoặc chiều theo đòi hỏi của người bệnh khi kê đơn thuốc Ngược lại, người bệnh hoặc người thân của họ trong nhiều trường hợp cũng chạy theo tâm lý dùng thuốc ngoại đắt tiền, hoặc thậm chí mua thuốc thuộc loại bán theo đơn mà không cần đơn của bác sĩ, lại theo chỉ dẫn của người bán thuốc để sử dụng Không ít trường hợp giữa nhà thuốc và bác sĩ thông đồng với nhau kê đơn bán thuốc cho bệnh nhân để kiếm lời Để khắc phục tình trạng “chạy theo” thuốc ngoại và hoạt động kê đơn thuốc, tại điều
-45 và điều 47 của Luật dược năm 2005 quy định cụ thể những vấn đề mà người thầy thuốc phải tuân thủ khi kê đơn thuốc và những việc người tiêu dùng thuốc cần phải thực hiện khi sử dụng thuốc Những quy định này nhằm mục tiêu đảm bảo cho người dân sử dụng thuốc hợp lý, hiệu quả, an toàn Bên cạnh những quy định này bộ Y Tế đã tích cực thực hiện công tác tuyên, vận động nâng cao y đức của cán bộ, viên chức ngành y tế và tuyên truyền nâng cao nhận thức trong việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, giúp người dân hiểu chất lượng thuốc sản xuất trong nước, khắc phục thị hiếu chuộng thuốc ngoại