1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại NGHIÊN cứu về THUẾ TIÊU THỤ đặc BIỆT

82 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 762,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo thống nhất về thuế giữa hàng nhập khẩu với hàng sản suất trong nước, phù hợp với cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết cho nên đưa ôtô lắp ráp sản xuất trong nước vào đối tượn

Trang 1

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

-LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐẶC BIỆT

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS Lê Thị Nguyệt Châu Dương Trương Phương Tú

Trang 2

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 3

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Kết cấu của đề tài 2

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lược sử hình thành của thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) 4

1.1 Trên thế giới 4

1.2 Ở Việt Nam 5

2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt 12

2.1 Khái niệm 12

2.2 Đặc điểm 13

2.3 Vai trò 15

PHẦN NỘI DUNG 18

CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ, ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ CỦA LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT 18

1 Đối tượng nộp thuế 18

2 Đối tượng chịu thuế 18

2.1 Thuốc lá điếu, xì gà 20

2.2 Rượu 23

2.3 Bia 25

2.4 Ôtô 28

2.5 Xăng các loại, nap-ta, chế phẩm tái hợp và các chế phẩm khác dùng để pha chế xăng 36

2.6 Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống 40

2.7 Bài lá 41

2.8 Vàng mã, hàng mã 41

2.9 Kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê 42

2.10 Kinh doanh ca-si-nô, trò chơi bằng máy giắc-pót 43

2.11 Kinh doanh giải trí có đặt cược 44

2.12 Kinh doanh gôn 46

2.13 Kinh doanh xổ số 46

CHƯƠNG 2: CĂN CỨ TÍNH THUẾ VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN, GIẢM THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT 48

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

1 Căn cứ tính thuế 48

1.1 Giá tính thuế 48

1.1.1 Đối với hàng hóa sản xuất trong nước 48

1.1.2 Đối với hàng hóa nhập khẩu 52

1.1.3 Đối với hàng hóa gia công 52

1.1.4 Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp 53

1.1.5 Đối với dịch vụ chịu thuế TTĐB 54

1.2 Thuế suất thuế TTĐB 56

2 Chế độ miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt 62

PHẦN KẾT LUẬN 69

1 Mở rộng đối tượng chịu thuế 69

2 Thay đổi cách đánh thuế 72

3 Công khai minh bạch trên hóa đơn bán hàng 73

4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 6

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhiều chuyên gia cho rằng hệ thống thuế và phí của nước ta hiện nay vẫn

có sự khác biệt rất lớn so với quốc tế, chúng ta còn quá lệ thuộc vào nguồn thuế gián thu Thật vậy, thu ngân sách từ thuế gián thu bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách Nhà nước.1 Trong đó, số thu từ thuế tiêu đặc biệt thường chiếm khoảng 24% trong tổng thu từ thuế gián thu.2 Tuy chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu nguồn thu ngân sách nói chung, trong các loại thuế gián thu nói riêng, thế nhưng thuế tiêu thụ đặc biệt ít được mọi người quan tâm và biết đến Thuế tiêu thụ đặc biệt không là sắc thuế có lịch sử phát triển lâu đời như thuế xuất nhập khẩu, cũng không có diện đánh thuế rộng bao trùm tất cả hàng hóa, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng, luật thuế này có đối tượng chịu thuế rất hẹp, chỉ bao gồm một số hàng hoá, dịch vụ “đặc biệt”, nhu cầu tiêu dùng không nhiều cho nên cũng không có nhiều sự quan tâm dành cho sắc thuế này Hiện nay, nhiều người tiêu dùng Việt Nam kể cả người đang sử dụng hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cũng không biết đến sự tồn tại của luật thuế này trong hệ thống thuế

“Nghệ thuật của việc đánh thuế cũng như nhổ lông ngỗng, làm sao có thể nhổ được một lượng lông nhiều nhất với ít tiếng kêu nhất” (Jean B.Collbert)3 Nếu nhà nước sử dụng nghệ thuật đánh thuế như trên thì nhà nước có thể thu được nhiều tiền thuế vì người dân không biết được số tiền thuế mà họ phải trả, không cảm nhận được sự mất mát và như vậy họ cũng không tìm cách trốn thuế Tuy nhiên đối với thuế tiêu thụ đặc biệt thiết nghĩ nhà nước không nên sử dụng nghệ thuật này Để thực hiện tốt mục đích hạn chế, điều tiết của mình nhà nước càng phải làm cho người dân thấy được sự mất mát, phải làm cho nhà sản xuất biết rõ chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt, về sự “cứng rắn” của nhà nước trong việc xét miễn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt; từ đó buộc nhà đầu tư phải cân nhắc trước khi bắt tay vào sản xuất, kinh doanh đồng thời người tiêu dùng cũng phải suy nghĩ trước khi sử dụng những hàng hóa, dịch vụ có tính hạn chế cao này

Việc xây dựng và áp dụng chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt phải đáp ứng hài hòa nhu cầu chi tiêu của ngân sách, vừa phải đảm bảo được mục đích của nhà nước nhưng không được gây tác động tiêu cực tới nền kinh tế, đến đời sống xã hội Chính vì vậy, việc nắm được những quy định cơ bản về thuế tiêu thụ đặc biệt

là một yêu cầu bức thiết cho nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng để từ

đó có định hướng đầu tư, kinh doanh, tiêu dùng không đi ngược lại mục đích đánh thuế của nhà nước Song song đó, việc nghiên cứu các quy định pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt cũng đóng vai trò quan trọng, qua việc nghiên cứu sẽ nhìn thấy những vấn đề còn hạn chế cũng như những vấn đề phát sinh để có hướng khắc phục, điều chỉnh làm cho sắc thuế này ngày càng hoàn thiện hơn Và đây

Trang 7

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cũng chính là lý do tác giả đã chọn đề tài luận văn “Nghiên cứu về thuế tiêu thụ đặc biệt”

2 Tình hình nghiên cứu

Do luật thuế tiêu thụ đặc biệt ít được mọi người quan tâm và biết đến, đối tượng điều chỉnh của luật khá hẹp nên luật thuế này suốt thời gian qua như đã bị lãng quên, hiện các bài viết, tác phẩm nghiên cứu dành cho loại thuế này là không nhiều Vì vậy tác giả đã gặp một số khó khăn trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài.

Nghiên cứu đề tài sẽ làm rõ những quy định cơ bản về pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt, biết được vai trò của luật thuế này trong nền kinh tế và đời sống xã hội Từ những vấn đề được phân tích, xem xét sẽ đem lại cách nhìn tổng quát về từng đối tượng chịu thuế để từ đó đưa ra những kiến nghị xây dựng các mức thuế, cách xác định giá tính thuế cho luật thuế tiêu thụ đặc biệt sắp được sửa đổi,

bổ sung Góp phần làm cho luật thuế mới được hoàn thiện hơn, đáp ứng được những yêu cầu mà nhà nước đặt ra cho luật thuế này

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong phạm vi đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những quy định cơ bản nhất

về thuế tiêu thụ đặc biệt như: đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứ tính thuế và các trường hợp miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình viết luận văn người viết đã dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để xem xét các vấn

6 Kết cấu của đề tài.

Đề tài được nghiên cứu theo cấu trúc gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận

Phần mở đầu: Tìm hiểu lịch sử phát triển luật thuế tiêu thụ đặc biệt ở nước ta qua các giai đoạn, tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, vai trò của luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Phần nội dung: Nghiên cứu những quy định cơ bản của luật thuế tiêu thụ đặc biệt, phần này gồm có 2 chương:

- Chương 1: Tìm hiểu đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế của luật thuế tiêu thụ đặc biệt Nghiên cứu về 8 loại hàng hóa và 5 loại hình dịch vụ đang chịu thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay

1.1 Đối tượng nộp thuế 1.2 Đối tượng chịu thuế

- Chương 2: Nghiên cứu về căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt, chế độ miễn giảm thuế

2.1 Căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt 2.2 Chế độ miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt

Trang 8

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Phần kết luận: Đánh giá tổng quát quá trình áp dụng luật thuế tiêu thụ đặc biệt từ năm 1998 đến nay, đồng thời mở ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Tác giả xin gởi lời cám ơn đến giáo viên hướng dẫn cô Lê Thị Nguyệt Châu Nhờ sự hướng dẫn tận tình của Cô trong suốt thời gian qua đã giúp tác giả rất nhiều trong việc hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Mặc dù đã rất cố gắng thế nhưng trong bài viết chắc chắn sẽ mắc phải không ít những thiếu sót trong nội dung phân tích cũng như cách lập luận, dùng từ Vì vậy, rất mong nhận được sự đóng góp từ quý Thầy, Cô và các bạn sinh viên

Sinh viên thực hiện

Dương Trương Phương Tú

Trang 9

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

cả vào hoạt động kinh doanh sòng bạc, dịch vụ du lịch, xổ số Cách thu thuế ở các nước cũng giống nhau, thu 1 lần ở khâu sản xuất hay khi mới nhập khẩu So với các loại thuế khác, thuế tiêu thụ đặc biệt có mức thuế suất cao vì đánh vào một số mặt hàng, dịch vụ có ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhiều thế hệ trong xã hội, hoặc chưa cần thiết cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của đông đảo dânchúng Cho nên người ta gọi thuế này là công cụ hướng dẫn và điều tiết tiêu dùng.6

Trong lịch sử, Thuế tiêu thụ đặc biệt đã xuất hiện từ rất sớm Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, các loại thuế đánh vào việc tiêu dùng hàng hoá như thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu (thuế nhập khẩu) và thuế tiêu thụ đặc biệt đã được

áp dụng Tuy nhiên, vào thời kỳ đó thuế tiêu thụ đặc biệt không có vai trò quan trọng bằng thuế nhập khẩu trong việc tạo ra thu nhập cho nhà nước

Theo thời gian, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội dẫn đến nhu cầu và tâm lý tiêu dùng đã ngày càng thay đổi, chính vì lẽ đó mà thuế tiêu thụ đặc biệt

đã ngày càng được coi trọng hơn Ở Mỹ, ba năm sau khi Quốc Hội Mỹ được trao quyền thu thuế từ công dân Mỹ, vào năm 1792 sắc thuế đầu tiên được ban hành chính là thuế tiêu thụ đặc biệt, đánh vào rượu whisky Ở Úc, để tăng thu cho ngân sách, năm 1824, chính quyền New South Wales đã đặt ra hai thứ thuế đó là thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt, cùng đánh vào các mặt hàng như: rượu,

4 Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Tài chính Nhà nước, Bộ môn Thuế Ngân sách,

Viện Nghiên cứu Tài chính phân viện Nghiên cứu tài chính Thành phố Hồ Chí Minh - GS.TS.Nguyễn

Thanh Tuyền, TS Nguyễn Ngọc Thanh - Giáo Trình Thuế - NXB Thống Kê 2001 - trang 166

5 Hồ Ngọc Cẩn - Chế độ thuế và lệ phí hiện hành ở nước ta - NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1997 - trang

73

6 Nguyễn Hồng Thắng - Thuế - NXB Thống Kê 1998 - trang 147

Trang 10

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

bia, thuốc lá sợi, thuốc lá điếu và xì gà Suốt thế kỉ XIX Thuế tiêu thụ đặc biệt là một trong hai sắc thuế đem lại nguồn thu quan trọng nhất cho các chính quyền thuộc địa.7

Ngày nay hầu hết các quốc gia đã xem loại thuế này như một công cụ cần thiết nhằm tạo lập và tăng cường nguồn thu thuế cho ngân sách nhà nước

1.2 Ở Việt Nam

Ở nước ta sự hình thành và phát triển của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được chia làm 3 giai đoạn

 Giai đoạn từ năm 1859 đến năm 1951

Thuế tiêu thụ đặc biệt được xem là manh nha vào thời phong kiến nửa thuộc địa (từ năm 1858 đến tháng 8 năm 1945) Ngay sau khi nổ tiếng súng xâm lược đầu tiên ở Đà Nẵng, thực dân Pháp mở sòng bạc, bán rượu, bán thuốc phiện một mặt đầu độc dân ta làm suy thoái cả dân tộc, mặt khác triệt để bòn rút dân ta Năm 1862 Đô đốc Bonard quy định thuế rượu, rượu vang, bia mỗi lít 2

xu, rượu trắng 4 xu, rượu mạnh 5 xu, rượu áp xanh 10 xu Thuế môn bài thu vào quán rượu, tiệm nhảy là 100 đồng, cửa hàng rượu nhỏ 50 đồng, thuốc phiện thu thuế 10% vào giá bán

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, nước ta huỷ bỏ công quản rượu, muối, thuốc phiện; miễn và giảm một số loại thuế: thuế môn bài, thuế ruộng đất Do vậy, để bù đắp những thiếu hụt nghiêm trọng cho nguồn tiền thu từ thuế, đầu năm

1946 Chính Phủ đặt ra một số tạp thuế đánh vào các hoạt động cao cấp xa xỉ và một số hoạt động khác như: Thuế đánh vào các hoạt động du hý công cộng: rạp xiếc, rạp hát, rạp chiếu phim, tiệm nhảy, đua ngựa với thuế suất từ 15% đến 35% giá vé Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào xe vận tải tính theo chỗ ngồi hoặctrọng tải, dùng vào sửa chữa đường xá và cầu cống

Sau đó, bằng các sắc lệnh và nghị định, Nhà nước lần lượt tăng thuế lưu hành thuốc lào, thuốc lá, phụ thuế đánh vào rượu tây, rượu tàu, bia, tăng 4 lần đánh thuế vào bài lá.8

Đến ngày 28/2/1947 bằng sắc lệnh số 27/SL nhà nước ta bãi bỏ một số thuế trong đó có thuế đánh vào các hoạt động du hý công cộng, thuế đánh vào hoạt động vận tải Như vậy, đến giai đoạn này thuế gián thu còn: thuế quan, thuế thuốc lào, thuế muối

7 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình thuế 2005 - NXB CAND 2005 - trang 97

8 Nguyễn Hồng Thắng - Thuế - NXB Thống Kê 1998 - từ trang 13 đến trang 19

Trang 11

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Giai đoạn từ năm 1951 đến trước cải cách thuế năm 1990

Năm 1951, thuế hàng hoá được ban hành, đây được xem là tiền thân của thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành.9

Thuế hàng hoá đánh vào một số hàng hoá nhất định nhằm khuyến khích sản xuất, bảo hộ công thương nghiệp, điều tiết tiêu thụ, bảo vệ chính sách giá Thuế suất cao hay thấp tuỳ thuộc vào hàng hoá thuộc loại tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng cần thiết hay xa xỉ 10

Lúc bấy giờ, để khuyến khích sản xuất thuế hàng hoá không thu hoặc chỉ thu rất nhẹ vào tư liệu sản xuất như: bông, quặng, máy móc thuế đánh nhẹ vào các mặt hàng tiêu dùng cần thiết: mỹ phẩm, tượng nến, vàng mã, cà phê, thuốc lá, rượu, hải sản đặc biệt (yến, vây cá, bào ngư, hải sâm )

Lúc đầu thuế hàng hoá thu vào 50 nhóm mặt hàng với thuế suất từ 5% đến 50% rồi được UBTVQH ban hành dưới dạng điều lệ bởi nghị quyết số 487-NQ/QH/K4 ngày 26/9/1974.11 Theo đó các các mặt hàng chịu thuế là hàng hoá

do khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sản xuất và một số mặt hàng nhập cảnh theo người hoặc nhập cảnh dưới hình thức quà biếu, tặng phẩm.12

Đến ngày 26/2/1983, thuế hàng hoá được nâng lên thành pháp lệnh và thuế suất giảm từ 50 mặt hàng xuống còn 29 mặt hàng với các mức thuế suất 10%, 15%, 20%, 25%, 30%, 40% và 50% Bằng các pháp lệnh ngày 17/11/1987, ngày 3/3/1989 thuế hàng hoá tiếp tục được sửa đổi, bổ sung các nhóm hàng giảm xuống còn 22, với các mức thuế suất 10%, 20%, 25%, 30%, 40%, 50%, 60%, 70% Như vậy, nhìn chung danh mục mặt hàng thuộc diện chịu thuế qua nhiều lần sửa đổi đã giảm đi rất nhiều song thuế suất lại tăng lên rất cao, mức thuế suất cao nhất là 70% Trong khoảng thời gian này thuế hàng hoá bao gồm cả thuế xuất, nhập khẩu hàng phi mậu dịch

 Giai đoạn từ năm 1990 đến nay

Cải cách thuế năm 1990 với việc ban hành ba luật thuế mới: thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế doanh thu, và sau đó là hàng loạt các luật thuế khác Đây được xem là một cuộc cải cách thuế toàn diện, sâu sắc và căn bản nhất

từ trước đến nay

9 Hồ Ngọc Cẩn - Chế độ thuế và lệ phí hiện hành ở nước ta - NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1997 - trang

73

10 Nguyễn Hồng Thắng - Thuế - NXB Thống Kê 1998 - trang 18

11 Nguyễn Hồng Thắng - Thuế - NXB Thống Kê 1998 - trang 147

12 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình thuế 2005 - NXB CAND 2005 - trang 98

Trang 12

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Từ năm 1989 đến năm 1990, Bộ Tài Chính soạn thảo dự án luật thuế mới, các chuyên gia tài chính và thuế cho rằng, hợp lý hơn cả là đổi thuật ngữ “thuế hàng hoá” thành “thuế tiêu thụ đặc biệt” vì các lý do:

+ Thuế này chỉ đánh vào việc tiêu thụ một số ít mặt hàng đặc biệt

+ Với tên gọi “thuế tiêu thụ đặc biệt” hoàn toàn phù hợp với thuật ngữ đang

sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới

Thuế tiêu thụ đặc biệt 1990 là sắc thuế lần đầu tiên được ban hành ở nước ta với diện đánh thuế hẹp, chủ yếu là những mặt hàng “đặc biệt” không khuyến khích tiêu thụ Thuế tiêu thụ đặc biệt được ban hành dưới dạng luật Luật này được Quốc Hội khoá 8, kỳ họp thứ VII thông qua ngày 30/6/1990, được Chủ tịch Hội Đồng Nhà Nước ký công bố bằng nghị quyết số 270B-NQ/HĐNN8 ngày 08/8/1990.13

Luật thuế tiêu thụ đặt biệt năm 1990 ra đời góp phần hoàn chỉnh hệ thống thuế nước ta, mở ra một hướng mới trong việc dùng thuế tiêu thụ đặc biệt như một công cụ hữu hiệu để hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng cho ngân sách nhà nước một cách hợp lý

Đạo luật đầu tiên về thuế tiêu thụ đặc biệt này chỉ nhắm vào 6 mặt hàng: thuốc hút, rượu, bia, pháo các loại, bài lá các loại và vàng mã

- Sau đó, tại kỳ họp thứ 3 Quốc Hội khoá IX và được thông qua ngày 5/7/1993, ngày 19/7/1993 Chủ Tịch Nước ký lệnh công bố Luật sửa đổi, bổ sung luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1993 Luật này đã thu hẹp diện các mặt hàng chịu thuế, chỉ còn thuốc lá điếu, rượu, bia và pháo

- Tiếp theo đó luật thuế tiêu thụ đặc biệt lại được sửa đổi và bổ sung lần nữa vào tháng 10 năm 1995 Lần sửa đổi này đánh dấu một bước phát triển trong quá trình hoàn thiện pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt Thể hiện ở chỗ đạo luật thuế này

đã mở rộng diện các mặt hàng chịu thuế, không chỉ đánh thuế vào những hàng hoá sản xuất trong nước mà còn đánh vào hàng hoá nhập khẩu Cụ thể các mặt hàng chịu thuế gồm: thuốc lá điếu, rượu, bia, pháo, xăng, ôtô nhập khẩu từ 24 chỗ ngồi trở xuống Xăng và ôtô nhập khẩu từ 24 chỗ ngồi trở xuống là 2 mặt hàng mới được đưa vào danh mục mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Việc đưa mặt hàng ôtô nhập khẩu vào diện chịu thuế góp phần làm tăng thu cho ngân sách nhưng số thu không đáng kể vì nhu cầu sử dụng ôtô tại thời điểm này là không nhiều Vì vậy, mục đích chính của nhà nước là bảo hộ ngành sản xuất ôtô trong nước giai đoạn này còn non trẻ

13 Nguyễn Hồng Thắng - Thuế - NXB Thống Kê 1998 - trang 148

Trang 13

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Để thực hiện Nghị quyết hội nghị lần 4 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khoá VIII về việc mở rộng diện đánh thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc tăng mức thuế suất đối với những mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng, đồng thời phối hợp đồng bộ với luật thuế giá trị gia tăng bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 Ngày 20/5/1998 Quốc Hội đã thông qua luật thuế tiêu thụ đặc biệt mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay thế toàn bộ các luật và luật sửa đổi, bổ sung trước đây.14

Sự ra đời của luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 do 2 tác động lớn:

+ Thuế giá trị gia tăng là loại thuế tiên tiến với những ưu điểm nổi bật được

áp dụng trên hơn 100 nước trên thế giới Thuế này khắc phục được những hạn chế của thuế doanh thu đồng thời tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Chính vì lẽ

đó, năm 1999 lần đầu tiên luật thuế giá trị gia tăng được đưa vào áp dụng ở nước

ta, áp dụng thuế này dẫn đến thuế giá trị gia tăng đầu vào của nguyên liệu sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt lớn hơn thuế doanh thu phải nộp theo luật thuế doanh thu trước đây Để không ảnh hưởng lớn tới giá cả mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nên việc điều chỉnh giảm bớt thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm tránh gây biến động lớn đến giá cả hàng hoá khi luật thuế giá trị gia tăng bắt đầu được áp dụng là điều hết sức cần thiết

+ Năm 1995 Việt Nam bắt đầu quá trình đàm phán và chuẩn bị mọi điều kiện cho việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới Trong quá trình hội nhập Việt Nam cần phải cắt giảm thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng, từ đó số thu cho ngân sách từ nhập khẩu bị giảm đáng kể Để không ảnh hưởng đến thu ngân sách, đảm bảo tỷ lệ động viên thì cần phải bù lại khoản thu bị mất do việc cắt giảm thuế nhập khẩu Do đó giải pháp khả thi là mở rộng diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số hàng hoá và dịch vụ

Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được ban hành với những điểm mới:

+ Đối với các mặt hàng: thuốc lá điếu, xì gà, bia, rượu (trừ rượu thuốc) mức thuế suất giảm, nhưng vẫn giữ nguyên mức thuế đối với mặt hàng xăng và ôtô Để đảm bảo thống nhất về thuế giữa hàng nhập khẩu với hàng sản suất trong nước, phù hợp với cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết cho nên đưa ôtô lắp ráp sản xuất trong nước vào đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như đối với ôtô nhập khẩu, tuy nhiên thuế suất đối với mặt hàng này vẫn được giữ nguyên để bảo

hộ sản xuất trong nước một cách có hiệu quả Như vậy luật thuế tiêu thụ đặc biệt

1998 không còn sự phân biệt nguồn gốc hàng hoá Bất kể hàng hoá được sản xuất

14 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình thuế 2005 - NXB CAND 2005 - trang 99

Trang 14

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trong nước hay được nhập khẩu, nếu thuộc danh mục chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đều làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế của cơ sở sản suất hoặc nhập khẩu mặt hàng

1998 là khắc phục được hạn chế của luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1990 đó là chỉ thu vào một số hàng hoá được coi là đặc biệt, không thật sự cần thiết cho đời sống

mà chưa thu vào những dịch vụ không thiết yếu, không khuyến khích tiêu dùng Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 đưa thêm vào 4 nhóm dịch vụ phải chịu thuế: kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê; kinh doanh ca-si-nô, trò chơi bằng máy giắc-pót; kinh doanh vé đặt cược như đua ngựa, đua xe; kinh doanh gôn

- Tuy nhiên, luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 sau một thời gian áp dụng vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định Chính vì điều đó mà tại kỳ họp thứ 3, Quốc Hội khoá XI ngày 17/6/2003 luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 được sửa đổi,

bổ sung lần đầu tiên bởi các lý do:

+ Đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt còn hẹp, chưa bao quát được hàng hoá, dịch vụ cần hạn chế tiêu dùng và điều tiết thu nhập Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 quy định các loại hình trò chơi có đặt cược chỉ giới hạn: đua ngựa, đua

xe nhưng đến thời điểm hiện tại đã xuất hiện thêm các loại hình mới như; đua chó, chọi gà, do đó cần phải sửa đổi luật để luật điều chỉnh đi cùng với cuộc sống

+ Thuế suất còn phân biệt mức thuế suất giữa bia chai (75%) và bia hộp (65%) trong khi chất bia là như nhau Đối với ôtô lắp ráp trong nước được bảo hộ cao như thu thuế nhập khẩu với thuế suất rất cao (100%) Thuế tiêu thụ đặc biệt

15 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình thuế 2005 - NXB CAND 2005 - trang 101

Trang 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

với mức thuế suất 100%, 60%, 30% trong khi đó ôtô lắp ráp trong nước được giảm đến 95% mức thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp; Quy định này chưa thúc đẩy việc nội địa hoá sản xuất ôtô trong nước, đảm bảo công bằng về nghĩa vụ nộp thuế, chưa phù hợp với cam kết quốc tế về đối xử quốc gia Còn phân biệt thuế suất giữa thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu (65%) và thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất bằng nguyên liệu trong nước (45%)

+ Về giá tính thuế: chưa đảm bảo công bằng về giá tính thuế Đối với rượu, bia chai sản xuất trong nước được trừ giá trị vỏ chai nhưng bia hộp không được trừ giá trị vỏ hộp Trong luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 chưa quy định mức giá khống chế để làm căn cứ tính thuế nên một số cơ sở sản xuất đã lợi dụng chuyển giá sang cơ sở thương mại để giảm thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp, gây thất thu thuế, dẫn đến cạnh tranh không bình đẳng.16

+ Luật thuế giá trị gia tăng 1997 được sửa đổi bổ sung, theo đó tại khoản 3 điều 8 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế giá trị gia tăng 2003 sẽ chuyển hàng hoá và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vào đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng với mức thuế suất 10% Để tạo sự thống nhất, đồng bộ với luật thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung ta cần phải sửa đổi luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 nhằm phù hợp nguyên tắc: tổng số thu về thuế tiêu thụ đặc biệt

và thuế giá trị gia tăng không tăng so với trước đây

+ Hội nhập quốc tế Việt Nam cần thiết đặt ra lộ trình xoá bỏ sự bảo hộ cho sản xuất trong nước đối với một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Chính vì những lý do trên mà luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 đã được sửa đổi, bổ sung Luật sửa đổi bổ sung luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003 có một số quy định mới như:

+ Đưa thêm dịch vụ kinh doanh xổ số vào danh mục dịch vụ chịu thuế với thuế suất 15%

+ Mở rộng diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt bằng cách mở rộng loại hình kinh doanh giải trí có đặt cược phải chịu thuế

+ Đặt ra lộ trình miễn giảm thuế đối với ôtô sản xuất, lắp ráp trong nướcđến hết năm 2006

+ Đơn giản hoá việc tính thuế đối với một số hàng hoá dịch vụ như: bia, rượu

16 Nguyễn Thanh - Hướng dẫn thực hiện pháp luật thuế Việt Nam - NXB Lao động xã hội 2005 - trang

323

Trang 16

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

- Tại kỳ họp thứ 8 khoá XI năm 2005 luật thuế tiêu thụ đặc biệt tiếp tục sửa đổi, bổ sung lần nữa Sau gần 2 năm thi hành, những nội dung của luật thuế tiêu thụ đặc biệt (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2003) cơ bản phù hợp với tình hình thực tế và đã phát huy tác dụng tích cực góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khuyến khích sản xuất và định hướng tiêu dùng Tuy nhiên, thuế suất được quy định tại đạo luật nói trên còn có sự khác nhau giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước đối với một số mặt hàng: ôtô, bia, thuốc lá điếu Do đó, để đẩy nhanh tiến độ gia nhập tổ chức WTO cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điểm của luật thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm xoá bỏ hoàn toàn bảo hộ đối với sản xuất trong nước, không phân biệt hàng trong nước và hàng nhập khẩu, thống nhất về thuế suất đảm bảo phù hợp với nguyên tắc của tổ chức thương mại thế giới 17

Thuế tiêu thụ đặc biệt ngoài mục tiêu điều tiết thu nhập, hướng dẫn tiêu dùng còn đáp ứng yêu cầu tạo ra số thu tương đối lớn cho ngân sách nhà nước

Để làm được điều đó ngoài việc quy định thuế suất cao, thuế suất còn phải thoả điều kiện không nên có quá 3 mức thuế suất cho cùng một loại hàng hoá.18Điều

đó làm cho biểu thuế gọn nhẹ đảm bảo công tác quản lý thuế đơn giản hơn, nguồn thu cho ngân sách tương đối ổn định và nhiều hơn, giảm được tình trạng tránh thuế

Nhìn lại luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 đối với một loại hàng hoá có những mức thuế suất khác nhau như: thuốc lá (3 mức), rượu (5 mức), bia (3 mức) Đến luật thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, bổ sung năm 2003 thuốc lá vẫn giữ nguyên 3 mức thuế suất, rượu giảm còn 4 mức, bia giảm còn 2 mức Luật thuế sửa đổi, bổ sung năm 2005 rõ ràng so với luật thuế 1998, mức thuế suất giảm đi rất nhiều tối đa cũng chỉ còn 3 mức thuế suất; thuốc lá (2 mức), rượu (3 mức), bia (3 mức) Thêm vào đó, luật thuế 2005 đã xoá bỏ hoàn toàn bảo hộ đối với sản xuất ôtô trong nước, không còn sự phân biệt thuế suất theo nguồn nguyên liệu hình thành Đây là điểm tiến bộ đáng kể của lần sửa đổi, bổ sung luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2005

- Theo thông tin của Bộ Tài Chính, năm 2008 Chính Phủ sẽ trình Quốc Hội

dự án sửa đổi 3 sắc thuế quan trọng: Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, luật thuế Giá trị gia tăng, và luật thuế Tiêu thụ đặc biệt, Ông Nguyễn Văn Phụng – vụ phó

Vụ Chính sách thuế - Bộ Tài Chính cho biết: Sự điều chỉnh 3 sắc thuế không

Trang 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nhằm mục đích nào khác là tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp phát triển, khuyến khích đầu tư, tăng sự hấp dẫn môi trường đầu tư…trên cơ sở bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nuớc Theo cơ sở đó, thuế thu nhập doanh nghiệp

sẽ giảm từ 28% xuống còn 25%; thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt cũng được xây dựng trên cơ sở phù hợp với xu hướng chung của thế giới và phù hợp với lộ trình cắt giảm thuế khi gia nhập WTO Đáng chú ý là việc sửa đổi luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Bộ Tài Chính đang tham khảo ý kiến để xem xét giảm thuế đối với mặt hàng ôtô, thuốc lá và rượu bia.19 Theo cam kết WTO, Việt Nam chịu ràng buộc nhiều về thuế xuất khẩu, còn các loại thuế gián thu như thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt do các nước tự quyết định sao cho không phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước và hàng ngoại nhập Việt Nam đánh thuế tiêu thụ đặc biệt cao đối với mặt hàng thuốc lá vì nó ảnh hưởng sức khỏe con người, còn

lý do đối với ôtô là cơ sở hạ tầng không đảm bảo Tuy nhiên các mức thuế hiện hành sẽ không thể giữ lâu dài, vì làm ảnh hưởng đến quyền được hưởng hàng hóa, dịch vụ giá rẻ của người dân.20 Trong lần sửa đổi này, luật thuế tiêu thụ đặc biệt rất được quan tâm Người tiêu dùng quan tâm, mong chờ thuế suất thấp để được sử dụng những hàng hóa, dịch vụ với giá rẻ; người nước ngoài thì trông đợi vào luật thuế mới để hàng hóa của các doanh nghiệp nước ngoài có thể vào thị trường Việt Nam dễ dàng hơn so với trước đây Tuy nhiên, thuế suất giảm dự báo: “hàng hóa nước ngoài sẽ ồ ạt vào thị trường Việt Nam gây khó khăn cho sản xuất trong nước”, “Việt Nam sẽ trở thành bãi rác nhập khẩu xe cũ của các nước”,

“các hàng hóa không khuyến khích sẽ tràn vào Việt Nam”…Chính vì điều đó, trong việc sửa đổi luật thuế lần này, công tác soạn thảo cần được thực hiện cân nhắc hơn đảm bảo có lợi cho người tiêu dùng, thúc đẩy nền sản xuất trong nước, tăng khả năng cạnh tranh đem lại nguồn thu ổn định cho ngân sách Vì vậy, hiện nay Bộ Tài Chính đang tham khảo ý kiến của các chuyên gia, học hỏi kinh nghiệm của các nước để xem xét giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho một số mặt hàng

“nhạy cảm” cao đặc biệt là ôtô - một mặt hàng chiếm tỷ trọng đáng kể trong nền công nghiệp nước ta Theo dự kiến, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ được trình Quốc Hội vào kỳ họp cuối năm 2008

2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế tiêu thụ đặc biệt.

Trang 18

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

quát và thể hiện được đặc trưng của loại thuế đó như: đối tượng chịu thuế hoặc nội dung chủ yếu của sắc thuế giúp ta phân biệt được dễ dàng đạo thuế này với đạo thuế khác “Thuế tiêu thụ đặc biệt” tên gọi bắt đầu được ghi nhận từ năm

1990 đã giúp ta có cách hiểu sơ lược nhất về sắc thuế này “ Tiêu thụ” được hiểu

là hành vi tiêu dùng, “đặc biệt” là những hàng hóa, dịch vụ đặc biệt không phải là hàng hóa, dịch vụ được sử dụng phổ biến trong đời sống nhân dân

Thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế gián thu đánh vào giá trị của một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt có tỷ suất lợi nhuận cao hoặc không được khuyến khích kinh doanh, tiêu dùng nhằm hướng dẫn tiêu dùng xã hội, hướng dẫn sản xuất, điều tiết thu nhập của người tiêu dùng đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.21

kỳ chiến tranh và thời hậu chiến, hoặc để hạn chế tiêu thụ những xa xỉ phẩm và các sản phẩm độc hại.23

Đặc điểm chung của đạo luật thuế này là đối tượng chịu thuế ở các nước thường quy định giống nhau:(i) Có diện đánh thuế rất hẹp so với các loại thuế gián thu khác, thuế này chỉ tập trung điều tiết một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, (ii) Những mặt hàng, dịch vụ này không được khuyến khích tiêu dùng do hành vi tiêu dùng và sử dụng làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến môi trường (thuốc lá, rượu, bia, máy điều hòa nhiệt độ, ôtô…), có khả năng kéo theo bất ổn về an ninh, trật tự, an toàn xã hội (bài lá, hàng mã, vàng mã, casino, vũ trường…), hoặc những hàng hóa, dịch vụ xa xỉ chỉ có đối tượng có thu nhập cao tiêu dùng (chơi gôn, mát-xa, máy điều hòa nhiệt độ, ôtô…).24

Tùy theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi quốc gia mà danh mục hàng hóa và dịch vụ phải chịu thuế này có thể rất khác nhau Chẳng hạn, ở Thụy Điển luật quy định có 19 nhóm mặt hàng, dịch vụ phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như:

Trang 19

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

rượu, bia, thuốc lá, ôtô, cassett, video, năng lượng, quảng cáo, xăng dầu…25 Điều này được lý giải bởi chủ trương, chính sách của nhà nước trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng cũng như trong lĩnh vực điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư ở từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội và bởi phong tục tập quán của mỗi nước.26

* Về thuế suấtThuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt có thể là thuế suất cố định hoặc tỷ lệ Đối với các loại thuế gián thu khác như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế doanh thu, luật pháp các nước thường quy định hệ thống thuế suất tỷ lệ làm căn cứ để tính thuế Riêng đối với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt

có thể là thuế suất cố định hoặc thuế suất tỷ lệ, tùy theo quan điểm của các nhà làm luật ở mỗi nước.27

Đặc điểm chung của thứ thuế này là các nước thường quy định thuế suất áp dụng rất cao Thuế suất áp dụng đối với doanh số bán vé xổ số của công ty tư nhân ở Thụy Điển là 30% 28

Thuế suất cố định là thuế mà mức thu được ấn định bằng một đơn vị tuyệt đối trên đơn vị hàng hoá chịu thuế Những nước áp dụng biểu thuế cố định như

Mỹ, Nhật, một số nước Châu Âu và Philipines, mức thu được ấn định bằng một lượng tuyệt đối trên đơn vị hàng hóa chịu thuế Ví dụ: ở Mỹ, mức thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá là 39 xen/bao, mức thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu dao động từ 1, 07 đến 3, 40 đôla/galông Ở Nhật, mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với 1.000 điếu thuốc lá là 3.126 yên

Thuế suất tỷ lệ, theo đó mức thu quy định bằng tỷ lệ % tính trên giá tính thuế hàng hóa, dịch vụ Trung Quốc và Việt Nam là những ví dụ về quốc gia áp dụng biểu thuế suất tỷ lệ cho thuế tiêu thụ đặc biệt Ở Việt Nam luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 và các luật sửa đổi, bổ sung sau này vẫn chủ yếu chọn lựa thuế suất

tỷ lệ cho biểu thuế của mình vì hai lý do chính:

Thứ nhất: thực hiện đúng cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về thuế tiêu

thụ đặc biệt Rượu và bia Việt Nam có thời gian không quá 3 năm để điều chỉnh lại thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng này cho phù hợp với WTO Hướng sửa đổi là: đối với rượu trên 20 độ cồn, Việt Nam sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối

25 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình tài chính Việt Nam - NXB CAND 2005 - trang 111

26 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình thuế 2005 - NXB CAND 2005 - trang 102

27 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình thuế 2005 - NXB CAND 2005 - trang 103

28 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình tài chính Việt Nam - NXB CAND 2005 - trang 111

Trang 20

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hoặc một mức thuế phần trăm; đối với bia Việt Nam chỉ áp dụng một mức thuế

%.29

Thứ hai: Kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập sẽ có nhiều biến đổi lớn, bên

cạnh những mặt tích cực chúng ta còn phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề mà đặt biệt là tình trạng lạm phát, sẽ gây ảnh hưởng rất lớn, biến động cả nền kinh

tế Nếu áp dụng thuế suất cố định thì đồng thời khi chúng ta điều chỉnh mức thu theo chủ trương của nhà nước: thay đổi chính sách hướng dẫn phát triển, sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng xã hội hoặc cần thay đổi tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước thì cần phải chú ý đến mức độ lạm phát để điều chỉnh sửa đổi mức thuế cho phù hợp với từng giai đoạn Điều đó gây khó khăn và phức tạp cho các nhà làm luật khi mà vừa phải nghiên cứu sửa đổi luật vừa phải thường xuyên điều chỉnh mức thu để theo kịp với biến động giá trị của đồng tiền

* Về nguyên tắc thuNguyên tắc chung của chế độ thu thuế tiêu thụ đặc biệt là mỗi mặt hàng thuộc diện chịu thuế chỉ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt 1 lần ở khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ, không thu trong quá trình lưu thông Đặc điểm này cho thấy thuế tiêu thụ đặc biệt có cách thu gần giống thuế xuất nhập khẩu nhưng khác với thuế doanh thu và thuế giá trị gia tăng khi mà cả 2 loại thuế này đánh trên doanh thu bán hàng hoặc trên giá trị gia tăng của hàng hóa ở mỗi khâu trong lưu thông Cách thu thuế này ưu điểm là đem lại nguồn thu lớn chỉ cần 1 lần thu ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu đơn giản bộ máy thu đối với loại thuế này Tuy nhiên cũng có nhược điểm là thu 1 lần ở khâu nhập khẩu với số tiền làm căn cứ tính thuế bao gồm cả thuế nhập khẩu, dẫn đến việc số tiền đóng thuế nhiều dễ làm cho các đối tượng nhập khẩu hàng hóa thuộc diện chịu thuế tìm mọi cách trốn thuế

2.3 Vai trò

* Góp phần ổn định và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nướcKhông trực tiếp điều tiết mạnh thu nhập như thuế trực thu, không có diện đánh thuế rộng như các loại thuế gián thu khác, nhưng với thuế suất cao nên số tiền thu được từ thuế tiêu thụ đặc biệt đóng góp một khoản đáng kể cho ngân sách nhà nước Tỷ trọng số thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt lớn thứ 4 trong tỷ trọng các số thu của từng sắc thuế hiện hành, chiếm từ 15-18% trong tổng số thu từ thuế gián thu, chiếm từ 7-10% trong tổng thu thuế và phí, tốc độ tăng trưởng bình quân của số thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt từ 12-14%/năm.30 Kể từ khi được ban

29 http://vietnamnet.vn/kinhte/2006/11/630916/

30 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình thuế 2005 - NXB CAND 2005 - trang 107

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hành, luật thuế tiêu thụ đặc biệt luôn đóng vai trò là một công cụ hiệu quả giúp nhà nước động viên thu nhập nhằm ổn định và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

* Giúp nhà nước tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh đối với một số hàng hóa, dịch vụ nhất định

Thông qua cách thu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu

mà nhà nước thực hiện được vai trò quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ loại hàng hóa, dịch vụ có tính “ nhạy cảm cao” trong xã hội

Việc thu thuế ở khâu sản xuất giúp nhà nước nắm bắt chính xác số lượng mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt do các cơ sở sản xuất, cũng như năng lực của từng cơ sở Để từ đó nhà nước có thể sắp xếp các hoạt động sản xuất kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ này một cách có hiệu quả và có chính sách điều chỉnh hợp

lý đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh này

Thu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu nhập khẩu giúp nhà nước quản lý được hoạt động nhập khẩu hàng hóa “đặc biệt” Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt còn bao gồm cả thuế nhập khẩu làm cho giá hàng hóa đội lên rất cao, là một biện pháp để thông qua đó nhà nước hạn chế việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ được nhập khẩu

từ nước ngoài nhằm hướng dẫn tiêu dùng, khuyến khích việc tiêu dùng hàng hóa cùng loại sản xuất trong nước Như vậy, thuế tiêu thụ đặc biệt còn có thể gánh một phần trách nhiệm bảo hộ đối với sản xuất trong nước, đối với hàng hóa cần cạnh tranh với hàng nhập khẩu.31 Và đây cũng là việc làm có ý nghĩa quan trọng

mà hầu hết các quốc gia đang theo đuổi.32

* Điều tiết thu nhập của người tiêu dùng cho ngân sách một cách hợp lý Tất cả đạo luật thuế được ban hành đều đóng góp vào vai trò chung đối với nền kinh tế Tuy nhiên, ở từng sắc thuế khác nhau và theo từng mục đích mà nhà nước muốn đạt được khi ban hành mà đối tượng chịu thuế, thuế suất, cách thu thuế cũng khác nhau cho nên dẫn đến mức độ đóng góp của từng vai trò ở từng luật thuế đối với nền kinh tế cũng khác nhau Có những vai trò chiếm vị trí chủ yếu ở luật thuế này nhưng lại giữ vị trí thứ yếu ở luật thuế khác

Nói đến điều tiết mạnh thu nhập của tầng lớp dân cư người ta nghĩ ngay tới vai trò hàng đầu của thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân Tuy nhiên, thuế gián thu điển hình là thuế tiêu thụ đặc biệt cũng phần nào đảm đương được vai trò điều tiết thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Chính đặc trưng

31 PTS Nguyễn Thị Kim Tuyển, PTS Phan Mỹ Hạnh, Ths Trần Trung Nhân - Hệ thống chính sách thuế

Việt Nam hiện hành - NXB TPHCM - trang 129

32 Trường Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình thuế 2005 - NXB CAND 2005 - trang 106

Trang 22

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt mang tính chất xa xỉ đã quyết định đối tượng chịu thuế thường là những người có thu nhập cao, không phải là quảng đại quần chúng lao động, hàng hóa này chủ yếu phục vụ cho tầng lớp khá giả trong xã hội Vì vậy, với việc quy định thuế suất cao qua đó thể hiện mức độ động viên thu nhập của nhà nước đối với nhóm người tiêu dùng này là rất cao để góp phần điều tiết lại thu nhập, nhà nước sẽ sử dụng khoản thu cho những mục tiêu công cộng, góp phần đảm bảo công bằng cho xã hội

* Hướng dẫn tiêu dùngThuế tiêu thụ đặc biệt không đánh trên tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ mà chỉ đánh trên một số đối tượng nhất định, thuế suất góp phần hình thành nên giá

cả hàng hóa và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng Cho nên với thuế suất cao

sẽ làm cho giá bán hàng hóa dịch vụ chịu thuế tăng lên, hệ quả là đối tượng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ ngày càng thu hẹp lại Thông qua đó nhà nước thực hiện được mục đích của mình là hạn chế việc tiêu dùng một số loại hàng hóa mà nhà nước cần hạn chế hoặc không khuyến khích trong từng thời kỳ phù hợp với tình

hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Trong nền kinh tế thị trường, mặc dù nhà nước khuyến khích hoạt động sản suất, kinh doanh phát triển nhưng bên cạnh đó một số hàng hoá, dịch vụ nhất định trong quá trình tiêu thụ nếu không có sự điều tiết của nhà nước sẽ ảnh hưởng không tốt cho đời sống kinh tế - xã hội Vì vậy ngoài việc thực hiện chức năng vốn có của mình là tăng thu cho ngân sách nhà nước, thuế tiêu thụ đặc biệt còn hướng dẫn tiêu dùng xã hội, quản lý sản xuất đối với một số mặt hàng đặc biệt

So với các nước có hệ thống thuế đã được xây dựng từ rất lâu, nước ta chỉ mới có hệ thống thuế tương đối hoàn chỉnh từ năm 1990 Do đó kinh nghiệm chúng ta chưa có nhiều trong việc áp dụng, thay đổi, điều chỉnh các chính sách thuế Mỗi lần thay đổi chính sách thuế là một lần gây tác động lớn đến tình hình kinh tế xã hội Đòi hỏi công tác soạn thảo và ban hành phải hết sức cẩn trọng do vậy các nhà lập pháp Việt Nam nên học hỏi tham khảo kinh nghiệm các nước khi sửa đổi luật thuế tiêu thụ đặc biệt lần này (2008) để đảm bảo luật thuế mới khi ban hành đạt được hiệu quả cao nhất

Trang 23

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ, ĐỐI TƯỢNG CHỊU THUẾ CỦA

LUẬT THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT

1 Đối tượng nộp thuế

Điểm khác nhau cơ bản của thuế gián thu và thuế trực thu là thuế trực thu người chịu thuế đồng thời là người nộp thuế còn thuế gián thu người chịu thuế là người tiêu dùng sản phẩm hàng hóa dịch vụ, còn người nộp thuế là cơ sở sản xuất kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa dịch vụ đó Cũng giống như các loại thuế gián thu khác người chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và người nộp thuế là 2 đối tượng khác nhau

Đối tượng nộp thuế của luật thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân (gọi chung là cơ sở) có sản xuất, nhập khẩu hàng hoá và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

- Tổ chức sản xuất, nhập khẩu hàng hoá, kinh doanh dịch vụ bao gồm:

+ Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh Nghiệp, Luật Doanh Nghiệp Nhà Nước, Luật Hợp tác xã;

+ Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác;

+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

- Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

2 Đối tượng chịu thuế

Những yếu tố cấu thành nên một sắc thuế gồm có: tên gọi, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thuế suất…Trong các yếu tố đó, đối tượng chịu thuế là căn cứ quan trọng nhất để tính thuế, phản ánh nội dung kinh tế xã hội, nguồn gốc của bộ phận của cải được tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước, thể hiện tính độc lập của một loại thuế trong hệ thống thuế Do đó trong các luật thuế quy định

về đối tượng tính thuế có tính độc lập Chẳng hạn, đối tượng chịu thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế, thuế giá trị gia tăng là đánh trên

Trang 24

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ; thuế xuất nhập khẩu là hàng hóa ra vào lãnh thổ hải quan của một quốc gia…33

Mặc dù đối tượng chịu thuế là cơ sở để phân biệt loại thuế này với loại thuế khác, nhưng điều đó không có nghĩa là đối tượng chịu thuế theo quy định của luật thuế này không phải là đối tượng chịu thuế của luật thuế khác Việc đánh thuế nhiều lần lên một loại đối tượng thường xảy ra trong những hoàn cảnh đặc biệt và theo những mục tiêu điều chỉnh cụ thể của nhà nước.34 Với những đặc điểm đó cho nên đối tượng chịu thuế của luật thuế tiêu thụ đặc biệt không chỉ chịu sự điều chỉnh của mỗi luật thuế tiêu thụ đặc biệt mà còn bởi nhiều loại thuế khác Ngoài việc chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu còn chịu thêm thuế giá trị gia tăng trong quá trình lưu thông Nếu là hàng nhập khẩu còn chịu thêm thuế nhập khẩu được cộng vào giá làm căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt Việc lựa chọn mặt hàng, dịch vụ nào thuộc danh mục chịu thuế tiêu thụ đặc biệt phản ánh ý chí của nhà nước đối với kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh - tiêu dùng những hàng hóa dịch vụ này trong từng thời kỳ trên cơ sở xem xét đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội

Trừ các trường hợp hàng hóa không phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Đối tượng chịu thuế của luật thuế tiêu thụ đặc biệt là các mặt hàng nhập khẩu, sản xuất trong nước và hoạt động kinh doanh một số loại hình dịch vụ, bao gồm các hàng hóa và dịch vụ sau đây:

+ Kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê

+ Kinh doanh ca-si-nô, trò chơi bằng máy giắc-pót

+ Kinh doanh giải trí có đặt cược

33 TS Lê Thị Nguyệt Châu - Giáo trình thuế - năm 2006 trang 93

34 TS Lê Thị Nguyệt Châu - Giáo trình thuế - năm 2006 trang 13

Trang 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

+ Kinh doanh gôn: bán thẻ hội viên, vé chơi gôn

+ Kinh doanh xổ số

2.1 Thuốc lá điếu, xì gà

Thuốc lá điếu, xì gà là các sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá và được chế biến để hút Cùng với rượu, thuốc lá được đưa vào danh mục mặt hàng chịu thuế từ rất sớm ngay khi luật thuế hàng hóa được ban hành năm 1951 và cho đến nay luôn được duy trì với mức thuế suất rất cao Không giống những đối tượng chịu thuế khác như ôtô, bài lá, vàng mã , thuế suất phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế, tình hình xã hội và mục đích điều chỉnh riêng của từng quốc gia cho nên ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ quy định thuế suất cao thấp khác nhau Đối với mặt hàng thuốc lá theo Công ước Khung

về kiểm soát thuốc lá (FCTC) của tổ chức thế giới mà Việt Nam là thành viên thì đây là mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng trên toàn cầu do ảnh hưởng của

nó rất lớn đến sức khỏe của con người Các công trình nghiên cứu trên toàn thế giới đều kết luận rằng thuốc lá có hại cho sức khỏe, không chỉ cho những người hút thuốc mà còn ảnh hưởng đến những người xung quanh Chỉ tính riêng Việt Nam, hàng năm đã có khoảng 4 vạn người chết vì thuốc lá, 80% bệnh nhân bị ung thư phổi do sử dụng thuốc lá, 35 chi phí bỏ ra cho việc chữa bệnh rất lớn Do vậy không chỉ Việt Nam mà các nước đều đánh thuế mạnh vào mặt hàng này như Thái Lan 75%, Singapore 60% 36 nhằm mục đích hạn chế tối đa việc tiêu dùng loại hàng hoá độc hại này

Trước đây tại luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1990 do mục đích bảo hộ sản xuất trong nước nhằm tạo công ăn việc làm cho nông dân và công nhân tại các nhà máy sản xuất thuốc lá nên thuế TTĐB chưa đánh mạnh vào hàng sản xuất trong nước Thuế suất được phân ra 4 mức: thuốc lá điếu có đầu lọc, không có đầu lọc; thuốc lá nhập khẩu; thuốc lá sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu; thuốc

lá sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu trong nước Theo cách xác định dựa vào nguồn nguyên liệu hình thành thì thuốc lá được xem là sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sợi thuốc nhập khẩu là thuốc lá sử dụng từ 51% trở lên so với nguyên liệu thuốc lá cần dùng để sản xuất ra sản phẩm Năm 1995 với quy định nhằm hạn chế tối đa việc nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà, hướng doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu có sẵn trong nước nên biểu thuế ở luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1995 quy định thuốc lá điếu nhập khẩu có thuế suất 70% bằng với thuốc lá sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu Đến năm 1998 Việt Nam đưa mặt

35 http://vietnamnet.vn/xahoi/doisong/2006/07/589605/

36 http://www.dautuchungkhoan.com

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hàng thuốc lá điếu, xì gà vào diện cấm nhập khẩu, và mở cửa cấp giấy phép đầu

tư phát triển công nghệ sản xuất thuốc lá ở trong nước Một trong những lý do chính là nguồn thu ngân sách và giải quyết việc làm cho nguồn lao động dôi dư ở trong nước Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 đối với mặt hàng này chỉ còn 3 mức thuế suất: thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu,

xì gà (65%) , thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu trong nước (45%) và thuốc lá điếu không có đầu lọc (25%) Năm 2005 luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã được sửa đổi, trước khi luật thuế được ban hành cũng gặp phải một số vấn đề khó khăn khi quyết định thay đổi mức thuế suất, đánh đồng thuế suất giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước (năm 2006-2007 thuế suất 55%, năm 2008 thuế suất 65%) Thuế suất mới sẽ gây khó khăn cho sản xuất trong nước, theo bà Phạm Thị Mùi – Phó tổng giám đốc công ty thuốc lá Việt Nam thì nếu đánh thuế suất 65% sẽ có 13 trong số 17 nhà máy sản xuất thuốc lá trong cả nước bị thua lỗ, trong đó có nhà máy lỗ tới 24 tỷ đồng ảnh hưởng đến việc làm của 15.000 công nhân và 200.000 nông dân trồng thuốc lá.37 Hàng năm doanh thu từ thuốc lá khoảng 8.300 tỷ nhưng chi phí khám và chữa bệnh do thuốc lá mất 9.000 tỷ đồng.38 Đứng trên góc độ quản lý nguồn thu chi ngân sách thì nguồn thu không đủ khoảng chi đòi hỏi nhà nước phải thay đổi chính sách thuế, tăng thuế suất tác động mạnh hạn chế hành vi tiêu dùng, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Mặt khác mục tiêu quan trọng hơn hết là phải tạo mọi điều kiện để được hội nhập Những khó khăn về sản xuất và việc làm được thống nhất giải quyết theo hướng chính phủ có chính sách hỗ trợ cho nông dân chuyển sang trồng cây khác, nuôi con khác; riêng các doanh nghiệp thì biểu thuế được chia theo lộ trình tăng thuế có khoản thời gian để doanh nghiệp chuyển đổi dần cơ cấu sang kinh doanh ngành nghề khác

Đối với thuốc lá, xì gà nhập khẩu, Việt Nam bãi bỏ quy định cấm nhập khẩu theo cam kết gia nhập WTO nhưng nhà nước vẫn thống nhất quản lý sản xuất, nhập khẩu Theo đó chỉ định Tổng công ty thuốc lá Việt Nam (Vinataba) được làm đầu mối nhập khẩu thuốc lá để kinh doanh trong nước Đồng thời với việc bãi bỏ quy định Chính phủ đã quyết định tăng thuế suất nhập khẩu lên 150% thay cho mức 100% mục đích giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất trong nước và tác động đến nhu cầu tiêu dùng Ngoài ra, để thực hiện công ước Khung, Việt Nam cũng quy định các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá trong nước phải ghi dòng chữ “Hút Thuốc Là Có Hại Cho Sức Khỏe” trên sản phẩm Vì vậy

37 http://www.tienphongonline.com/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=22401&ChannelID=3

38 http://www.sggp.org.vn/thoisu/nam2005/thang11/75732/

Trang 27

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

khi thuốc lá, xì gà được nhập khẩu vào thị trường nhưng lại không có dòng chữ này thì trong thời gian tới cần phải có văn bản hướng dẫn, quy định thuốc lá nhập khẩu phải có dòng chữ cảnh báo bằng tiếng Việt, đúng kích cỡ và vị trí quy định

để được lưu thông tại Việt Nam

Sau gần 3 năm thi hành luật thuế 2005 một vấn đề nhìn nhận là tăng thuế thì phải đi đôi với chống buôn lậu Một nghiên cứu của trường Đại học Thương Mại và Bộ Y Tế cho thấy: Việc tăng thuế thuốc lá lên 65-70% có thể làm giảm 3,1% - 7,2% lượng thuốc lá tiêu thụ.39 Tuy nhiên, đây có lẽ là số liệu được điều tra trên số thuốc lá sản xuất và tiêu thụ chính thức có khai báo thuế còn con số thực tế thì khó có thể nói là giảm khi mà số lượng thuốc lá nhập khẩu lậu đang tràn lan khắp nơi trên cả nước Đến biên giới Tây Nam sẽ thấy cảnh tượng dòng người lũ lượt vác thuốc lá lậu qua biên giới, hay đi qua phố Hàng Hành, Nguyễn Siêu, Tạ Hiền .sẽ thấy dãy người ngồi bày bán thuốc lá, xì gà không có tem thuốc lá nhập khẩu theo quy định của Bộ Tài Chính.40 Trước thực trạng buôn bán nhập khẩu thuốc lá lậu hiện nay nhà nước phải đặt ra câu hỏi là tăng thuế trên thuốc lá có góp phần làm giảm tổng thể lượng thuốc lá tiêu thụ hay chỉ làm giảm lượng thuốc lá sản xuất chính thức và tạo điều kiện cho nạn buôn bán thuốc lá lậu trở nên mạnh mẽ hơn Trong kinh tế học có khái niệm là chính sách thuế để tối

đa hóa số thuế thu được dựa trên thay đổi lượng tiêu dùng so với thuế suất (còn gọi là độ co giãn tiêu dùng) Nếu thuế suất tăng 2% mà lượng tiêu dùng chỉ giảm 1% thì số thuế thu được sẽ giảm, ngược lại, nếu thuế suất tăng 1% mà lượng tiêu dùng lại giảm đi 2% thì số thu sẽ giảm.41 Với tình trạng buôn lậu như hiện nay khó đảm bảo nếu duy trì mức thuế suất (65%) hoặc tăng lên thì nguồn thu cho ngân sách sẽ tăng hay chỉ làm cho việc kiểm soát lượng thuốc lá lậu càng trở nên khó khăn và phức tạp hơn Chính vì điều đó mà thuế suất thuế tiêu thụ đặt biệt đối với mặt hàng này sẽ được điều chỉnh vào năm 2008 Theo một số quan chức

Bộ Tài Chính cho biết hướng sửa đổi là sẽ giảm thuế suất để giải quyết tình trạng buôn lậu hiện nay

Theo công ước Khung mà Việt Nam cam kết thực hiện, giai đoạn

2007-2010 áp dụng nâng thuế lên 60% Như vậy theo cam kết này thì hướng sửa đổi của luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 không thể giảm đến mức dưới 60% Mặt khác nếu giảm thuế suất đột ngột xuống quá thấp sẽ dễ gây cho người tiêu dùng tâm lý thoải mái, như vậy sẽ phá vỡ mọi cố gắng của các bộ ngành trong công tác tuyên

39 http://vietnamnet.vn/nhandinh/2005/08/480827/

40 http://beta.baomoi.com/Home/PhapLuat/www.ktdt.com.vn/Thuoc_la_lau_Ha_Thanh/1231962

41 http://vietnamnet.vn/nhandinh/2005/08/480827/

Trang 28

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

truyền phòng chống thuốc lá, giáo dục ý thức tiêu dùng suốt thời gian qua Đồng thời mức thuế suất mới không điều chỉnh quá thấp vì còn phải đảm bảo cân đối nguồn thu ngân sách Để vừa đảm bảo ngăn chặn được nạn buôn lậu tránh thất thu cho ngân sách, giảm chi phí cho cơ quan hải quan, cho cơ quan quản lý thuế trong công tác phòng chóng buôn lậu, vừa đảm bảo không gây “tác động ngược” đến tâm lý tiêu dùng đòi hỏi mức thuế đưa ra tại luật thuế 2008 phải hết sức hợp

lý Dự đoán mức thuế mới có khả năng sẽ được điều chỉnh giảm 5% thuế suất

Mục đích quan trọng nhất của nhà nước khi đưa thuốc lá, xì gà vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là nhằm hạn chế tiêu dùng Tuy nhiên có thể thấy nếu chỉ dùng biện pháp đánh thuế cao thôi là không hiệu quả, thiết nghĩ nhà nước cần

có những biện pháp mạnh mẽ, cứng rắn hơn bằng cách trực tiếp tác động đến tâm

lý tiêu dùng của người dân mới làm giảm mức tiêu thụ sản phẩm độc hại này Việt Nam có thể tham khảo học hỏi kinh nghiệm ở một số nước tiên tiến như Thụy Điển, Mỹ, Thụy Sĩ Theo đó tất cả cơ quan, xí nghiệp đều nghiêm cấm hút thuốc lá, xây dựng phòng đặc biệt cách ly ở mỗi cơ quan, xí nghiệp để phục vụ mỗi khi có nhu cầu hút thuốc Do những hạn chế ngặt nghèo này, dần dần người dân nhận thức rõ sự nguy hại của thuốc lá đồng thời nhận ra mình bị cách ly với cộng đồng nên sẽ có ý thức từ bỏ thuốc lá42 Hay cách làm của người Anh trong việc cấp giấy phép hút thuốc Giấy phép chỉ được cấp cho người trên 18 tuổi bao gồm ảnh của người hút thuốc và sẽ trình cho người bán thuốc lá mỗi khi mua Mỗi người sẽ buộc phải nộp tiền để có giấy phép mua thuốc lá để hút Những quy định về thủ tục làm đơn, nộp hình, đóng phí để được cấp giấy phép cũng như cách thức mua bán sẽ làm cho họ hạn chế hút thuốc và dần dần bỏ thuốc.43

2.2 Rượu

Cũng như thuốc lá, rượu là mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng do sản phẩm này ảnh hưởng đến sức khỏe, gây mất an ninh trật tự…Tại biểu thuế luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2005, rượu được phân ra làm 3 loại với các mức thuế suất khác nhau chủ yếu đánh trên nồng độ cồn (trừ rượu hoa quả, rượu thuốc) Rượu từ 40 độ trở lên mức thuế suất 65%; rượu từ 20 độ đến 40 độ chịu thuế 30%; rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả, rượu thuốc là 20% Từ luật thuế tiêu thụ đặc biệt 1998 đến luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2003, 2005 mức thuế suất được điều chỉnh giảm dần 5 mức giảm còn

4 mức và hiện tại là 3 mức Quy định tại luật thuế 2005 theo hướng giảm dần sự chia nhỏ các mức thuế suất theo nồng độ cồn, làm đơn giản hóa công tác kê khai

42 http://www.vietnamnet.vn/nhandinh/2005/11/507967/

43 http://vietbao.vn/The-gioi/Giay-phep-hut-thuoc/45272095/159/

Trang 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

và tính thuế, giảm tình trạng tránh thuế Cũng tại luật thuế này mặt hàng rượu thuốc được đưa lên cùng một mức thuế suất với rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả Suy cho cùng rượu thuốc hay rượu hoa quả, rượu dưới 20 độ đều là loại rượu uống có lợi cho sức khỏe vì vậy với mục đích sử dụng là như nhau, công dụng như nhau không nên tách rượu thuốc áp dụng riêng một mức thuế suất Với cách phân chia mới thể hiện sự tiến bộ trong biểu thuế tiêu thụ đặc biệt 2005 đảm bảo biểu thuế được đơn giản và hợp lý hơn

Đa số các loại rượu đều được đánh thuế dựa vào nồng độ cồn, nồng độ cồn càng cao thì thuế suất càng cao Tuy nhiên đối với rượu thuốc lại không đánh thuế theo cách này, bất kể nồng độ cao hay thấp nhưng nếu được xem là rượu thuốc thì chỉ phải chịu thuế suất 20% Để tránh trường hợp các cơ sở sản xuất, nhập khẩu lợi dụng kê khai tùy tiện nhà nước đã ban hành quy định rất chặt chẽ Loại rượu được xếp nhóm rượu thuốc không được xem xét một cách tùy tiện, không phải chỉ thêm một ít dược liệu vào rượu thì được xem là rượu thuốc mà phải có chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền Cụ thể cơ sở sản xuất rượu thuốc phải có giấy phép sản xuất rượu thuốc và giấy chứng nhận đăng ký tên, nhãn mác, chất lượng do cơ quan y tế hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp Đối với rượu thuốc nhập khẩu phải được cơ quan có thẩm quyền xác định là rượu thuốc, cấp giấy phép nhập khẩu Nếu không có đủ các điều kiện đó thì cơ sở sản xuất, nhập khẩu phải nộp thuế suất của loại rượu có nồng độ cồn tương ứng

Thông thường các loại hàng dịch vụ có mức độ hạn chế tiêu dùng càng nhiều thì thuế suất đối với hàng hóa dịch vụ đó càng cao Chính vì vậy loại rượu

có nồng độ cồn từ 40 độ trở lên có khả năng kích thích cao, sử dụng rất có hại cho sức khỏe nên luôn được áp dụng thuế suất cao 70% (1998), 75% (2003), 65% (2005) thể hiện mức độ hạn chế tiêu dùng của nhà nước cao hơn so với các loại rượu khác Nguyên nhân giảm thuế suất xuống còn 65% ở luật thuế 2005 không nhằm mục đích nhà nước giảm tính hạn chế mà do thuế suất 75% là rất cao dẫn đến tình trạng trốn thuế, tránh thuế ngày càng tăng Do vậy nhà nước giảm thuế suất nhằm giảm bớt tình trạng buôn lậu, giảm bớt chi phí trong công tác phòng chống buôn lậu làm cho việc áp dụng thuế đạt hiệu quả cao hơn

Theo dự thảo sửa đổi, bổ sung luật năm 2008 mặt hàng này có thể sẽ được điều chỉnh giảm thuế do thời gian vừa qua sự chênh lệch lớn thuế suất giữa rượu cồn trên 40 độ (65%) và rượu cồn dưới 40 độ (30%) làm phát sinh nhiều trường hợp gian lận thương mại Các doanh nghiệp kinh doanh rượu nhập khẩu có thể lợi dụng tránh thuế bằng cách lấy tem loại rượu nhập khẩu có nồng độ cồn thấp

rẻ tiền dán cho loại rượu đắt tiền được nhập lậu Đồng thời với mức thuế suất cao

Trang 30

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tiền đóng thuế nhiều dẫn đến tình trạng trốn thuế làm cho công tác kiểm tra, quản

lý của cơ quan Hải Quan và cơ quan Thuế càng trở nên khó khăn hơn Đồng thời thuế suất đối với rượu có nồng độ cồn từ 20 độ đến dưới 40 độ sẽ được điều chỉnh tăng thuế để giảm mức độ chênh lệch thuế suất giảm tình trạng tránh thuế Trước đây mặt hàng rượu từ 20 độ cồn đến dưới 40 độ ở dự thảo sửa đổi bổ sung luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2003 có định hướng tăng thuế nhưng do mặt hàng này chủ yếu doanh nghiệp trong nước sản xuất với quy mô vừa và nhỏ, còn rượu được nhập khẩu rất ít Do đó để tránh ảnh hưởng đến công việc làm ăn của họ Nhà nước muốn bảo hộ thêm một thời gian nên ở luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2003 vẫn duy trì thuế suất (30%) Tuy nhiên hiện nay mặt hàng này đang được hưởng thuế suất thấp người dân có nhu cầu tiêu dùng nhiều gây mất trật tự xã hội, tai nạn giao thông do sử dụng rượu khi điều khiển phương tiện ngày càng tăng Để

bù đắp cho khoản ngân sách cắt giảm do việc giảm thuế rượu trên 40 độ, giảm sự chênh lệch với mức thuế loại rượu trên 40 độ và hạn chế tiêu dùng thuế suất đối với loại rượu này sẽ được điều chỉnh tăng từ 5%-10%

Đối với mặt hàng rượu dưới 20 độ, rượu hoa quả, rượu thuốc sẽ được điều chỉnh giảm thuế suất do rượu này ít có hại nếu sử dụng vừa phải còn có lợi cho sức khỏe nên sẽ được điều chỉnh mức thuế suất có thể là 15% phối hợp với mức thuế mới của loại rượu dưới 40 độ được điều chỉnh tăng thuế để dần thay đổi định hướng tiêu dùng của người dân

2.3 Bia

Thuế suất hiện nay áp dụng cho mặt hàng bia được chia làm 2 nhóm: bia chai, bia hộp (75%); bia hơi và bia tươi (40%) Trong đó mặt hàng bia hơi và bia tươi thực hiện theo lộ trình thuế suất 30% vào năm 2006-2007 đến năm 2008 là 40% So với luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2003 thuế suất bia tươi được giảm mạnh

từ 75% xuống còn 30% Với mức thuế này gây khó khăn cho ngành sản xuất bia hơi trong nước bởi vì lượng hàng bia tươi nhập khẩu sẽ tăng và về lâu dài sẽ làm thay đổi định hướng tiêu dùng Tuy nhiên luật quy định lịch trình tăng thuế là sau thời gian 2 năm giúp cho doanh nghiệp sản xuất bia quy mô nhỏ ít bị ảnh hưởng

và có thêm thời gian sắp xếp tổ chức lại sản xuất chuẩn bị hội nhập

Nguyên nhân Chính Phủ điều chỉnh áp dụng thống nhất thuế suất giữa hai mặt hàng bia hơi và bia tươi vì khi đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, các nước muốn Việt Nam thôi bảo hộ sản xuất bia hơi trong nước để bia tươi nhập khẩu có mức thuế cạnh tranh bình đẳng với bia hơi Hiện nay các nước chỉ có một mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt với bia tươi nhưng Việt Nam phân hai mức thuế giữa bia tươi và bia hơi Vì vậy họ cho là bia hơi, bia tươi là

Trang 31

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

một loại sản phẩm nên quy định của nước ta đã vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp với quy định các nước Việc sửa đổi áp dụng thuế suất bia hơi bằng thuế suất bia tươi ngân sách nhà nước vẫn được đảm bảo Thị phần bia hơi lớn hơn bia tươi nên giai đoạn đầu 2006-2007 ngân sách nhà nước sẽ giảm nhưng không đáng kể bù lại năm 2008 ngân sách sẽ được bổ sung thêm nguồn thu từ bia hơi Thêm một lý do để chỉnh thuế suất là bia hơi được sản xuất trong nước với quy mô nhỏ, công nghệ kém, sản phẩm đa số là không chất lượng Áp dụng chung mức thuế sẽ kích thích doanh nghiệp trong nước tăng khả năng cạnh tranh bằng cách cải tiến công nghệ, sản xuất ra loại bia chất lượng đảm bảo vệ sinh, bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng Mặc khác sản phẩm bia hơi và bia tươi có hình thức sản phẩm gần giống nhau nên khi khai báo thuế các doanh nghiệp sản xuất bia tươi thường kê khai là bia hơi để được hưởng thuế suất 30% gây thất thu cho ngân sách nhà nước Do đó việc quy định thuế suất mới sẽ làm đơn giản hóa công tác kiểm tra, quản lý của cơ quan thuế đối với hai sản phẩm bia này

So với luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 thì các luật sửa đổi bổ sung luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003, 2005 được điều chỉnh theo hướng giảm dần bảo

hộ và đồng thời cách phân loại sản phẩm ngày càng hợp lý hơn Luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 có sự phân biệt thuế suất giữa bia chai và bia hộp, bia chai 75%, bia hộp 65% Sự bất hợp lý ở cách phân chia này là chất bia ở hai sản phẩm này là như nhau giống nhau về công nghệ sản xuất, cùng thời gian lên men và đều được thanh trùng chỉ khác nhau ở vỏ hộp đựng bia Cho nên kể từ năm 2003 hai sản phẩm này được đưa vào áp dụng cùng chung một mức thuế suất là 75% Nếu như mục đích chính đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu, thuốc lá của nhà nước là hạn chế tiêu dùng thì hướng đánh thuế chính đối với mặt hàng bia là động viên sản phẩm tiêu dùng không thiết yếu này vào ngân sách Ở lần giảm thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003 đối với sản phẩm bia hơi từ 50% giảm xuống còn 30% không vì lý do nhà nước giảm tỉ lệ động viên mà do mặt hàng này bắt đầu từ năm 2003 phải chịu thêm 10% thuế giá trị gia tăng, đồng thời thời gian miễn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với cơ sở sản xuất bia quy mô nhỏ đã hết, khoảng 60% cơ sở này vẫn còn khó khăn Do đó để tạo điều kiện cho những cơ sở sản xuất bia quy mô nhỏ sản xuất được ổn định và phát triển, Chính Phủ đã quyết định giảm thuế

Với việc áp dụng thuế suất bia tươi là 40% như hiện nay thay vì mức thuế phải chịu là 75% nguồn thu của nhà nước đã bị giảm Do vậy để dần ổn định và tăng thu cho ngân sách luật thuế mới 2008 có xu hướng tăng thuế suất đối với sản

Trang 32

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

phẩm bia hơi và bia tươi Tuy nhiên xu hướng tiêu dùng của người dân đang dần xem hai loại sản phẩm này như mặt hàng nước giải khát thông dụng nên mức điều chỉnh có thể xem xét tăng nhưng không cao, khoảng từ 5-10%

Đối với mặt hàng bia lon, bia chai sẽ có xu hướng giảm thuế suất do thuế suất hiện nay khá cao dẫn đến tình trạng trốn thuế khi nhập khẩu mặt hàng này ngày càng tăng Tuy nhiên do thị phần bia chai, bia lon cũng tương đối lớn giảm thuế suất nhiều sẽ ảnh hưởng nguồn thu đồng thời biểu thuế mới năm 2008 dự báo có nhiều mặt hàng được cắt giảm thuế nên để vừa đảm bảo cân đối ngân sách vừa giải quyết được tình trạng buôn lậu thuế suất mặt hàng có thể sẽ giảm nhưng không nhiều

Những mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng như rượu, bia bên cạnh việc dùng thuế suất để hạn chế, thay đổi thói quen tiêu dùng, bảo vệ sức khỏe nhà nước cần tăng cường chiến dịch giáo dục cộng đồng như đang áp dụng với mặt hàng thuốc

lá Mục đích đánh thuế mặt hàng này là nhằm hạn chế tiêu dùng hơn là tạo nguồn thu cho ngân sách Do vậy trong thời gian tới khi mà thuế suất được điều chỉnh giảm đồng loạt nhà nước chỉ thực hiện tốt được mục đích này khi những giải pháp hạn chế tiêu dùng đạt hiệu quả Trước thực trạng tai nạn giao thông đang diễn ra ngày càng nhiều và trong số đó đa phần là do có sử dụng rượu bia quá nồng độ cho phép không làm chủ được tay lái Vì vậy có một giải pháp nhằm giảm và ngăn chặn tình trạng xảy ra có thể không khả thi nhưng nên xem xét vì tính hiệu quả của nó khi được áp dụng

Thông thường Cảnh Sát Giao Thông kiểm tra nồng độ rượu khi thấy người đang điều khiển phương tiện trên đường có dấu hiệu nghi ngờ dư nồng độ cồn cho phép (40mg/1 lít khi thở hoặc 80 mg/100ml máu) Thì với cách làm mới họ

có thể kiểm tra gần những điểm bán rượu, bia cho các đối tượng này ngay sau khi

họ chạy xe rời khỏi quán và đang điều khiền phương tiện, tiến hành kiểm tra khi

có dấu hiệu nghi ngờ vượt quá nồng độ Địa điểm giám sát có thể tiến hành một thời gian ngắn hoặc liên tục thay đổi Tính không cố định sẽ giải quyết được yêu cầu về việc bố nhân lực và làm cho đối tượng vi phạm luôn ý thức tự kiểm sóat nồng độ của mình vì họ không thể lường trước được lúc nào, địa điểm nào có lực lượng cảnh sát Đây là một bước làm đầu tiên tránh được việc bỏ sót đối tượng vi phạm và khả năng gây tai nạn trên đoạn đường trước khi bị Cảnh Sát Giao Thông phát hiện Đồng thời việc kiểm tra này sẽ làm cho tâm lý người tiêu dùng tự hạn chế không để vượt quá nồng độ cho phép để tránh gặp rắc rối và dần dần họ sẽ tự

ý thức hạn chế đối với những sản phẩm có hại này

Trang 33

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.4 Ôtô

Sau năm 1986 nền kinh tế nước ta vừa mới mở cửa nên thu nhập của người dân chưa cao dẫn đến nhu cầu sử dụng ôtô trong nước cũng không nhiều, tất cả ôtô trong nước đều phải nhập khẩu Cho nên ngay khi luật thuế tiêu thụ đặc biệt đưa vào áp dụng lần đầu tiên ở nước ta vào năm 1990 đã không đưa mặt hàng ôtô vào diện phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Nhận thấy được tiềm năng của ngành công nghiệp ôtô và nguồn thu mà nền công nghiệp này sẽ mang lại cho ngân sách cũng như tỉ trọng của nó trong nền công nghiệp quốc gia nên vào năm

1992 nhà nước đã quyết định cho ra đời ngành công nghiệp sản xuất ôtô Việt Nam Đến luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1995 lần đầu tiên luật thuế đưa mặt hàng ôtô từ 24 chỗ ngồi trở xuống vào danh mục mặt hàng chịu thuế Thế nhưng việc đánh thuế chỉ áp dụng đối với mặt hàng ôtô nhập khẩu còn ôtô sản xuất trong nước thì vẫn chưa được đưa vào danh mục Việc đánh thuế đã phần nào phản ánh được chính sách bảo hộ ngành sản xuất ôtô trong nước của chính phủ trong giai đoạn này Tuy nhiên, trước xu thế mới của thế giới đòi hỏi các quốc gia phải mở cửa và hội nhập để cùng phát triển Vì vậy để đạt được những mục tiêu quan trọng và lâu dài nước ta cần phải từng bước thay đổi tạo mọi điều kiện

để được hội nhập vào nền kinh tế thế giới Chính vì điều đó nhằm để xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu, phù hợp với thông lệ quốc tế chính phủ buộc phải đưa ôtô sản xuất trong nước vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt cùng với ôtô nhập khẩu tại luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 Tuy nhiên với nền công nghiệp ôtô Việt Nam còn quá non trẻ nên ở luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998, ôtô sản xuất trong nước được giảm đến 95% mức thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp, trong khi đó ôtô nhập khẩu chịu 100% thuế nhập khẩu cộng thêm thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt với các mức là 100%, 60%, 30% cho từng chủng loại xe Theo quy định thời hạn giảm thuế là đến hết năm 2003, tuy nhiên lo ngại trước các khó khăn mà các doanh nghiệp sản xuất ôtô trong nước

có thể gặp phải khi nhà nước bỏ chính sách ưu đãi nên ở luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2005 Quốc Hội đã cho phép kéo dài thời gian ưu đãi theo hướng sẽ giảm dần ưu đãi cho đến hết năm 2007 và được thực hiện theo lộ trình cắt giảm

Từ năm 2004 giảm 70% thuế suất, năm 2005 mức giảm là 50%, năm 2006 giảm 30% và đến năm 2007 phải nộp đúng thuế suất luật quy định

Quy định giảm thuế ở luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 là một quy định

mở Về thuế suất, luật không đưa ra một mức thuế suất cố định được giảm mà chỉ quy định khung miễn giảm là từ 60% đến 100% Thời hạn miễn giảm không đưa

ra lộ trình, chỉ quy định thời hạn là 5 năm Tuy nhiên luật còn mở ra hướng “hết

Trang 34

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

thời hạn 5 năm sẽ được xem xét kéo dài thêm thời hạn từ 1 đến 5 năm” Nguyên

do của việc ban hành quy định này có thể được lý giải:

- Về thuế suất: ngành công nghiệp ôtô Việt Nam giai đoạn này còn quá yếu, nhà nước muốn bảo hộ nhiều tạo mọi điều kiện cho ngành tập trung đủ lực

để phát triển Thế nhưng trước yêu cầu của nền kinh tế trong giai đoạn mới buộc chính phủ phải xóa bỏ dần phân biệt đối xử Tuy nhiên để tìm ra một mức thuế suất phù hợp đáp ứng được mục đích bảo hộ của nhà nước, phù hợp với tình hình sản xuất trong nước nhưng vẫn đảm bảo được tiến trình hội nhập là rất khó Với việc quy định khung thuế suất và không có lộ trình cụ thể là quy định mở, Chính phủ có thể linh hoạt tùy theo điều kiện gia nhập WTO và tình hình sản suất trong nước mà ban hành nghị định hướng dẫn phù hợp

- Về thời hạn miễn giảm: Quy định “cứng” là được miễn giảm trong thời hạn là 5 năm Tuy vậy để tạo sự an tâm cho các doanh nghiệp vừa được cấp phép đầu tư, quy định này còn dự trù khả năng sẽ tiếp tục được miễn giảm sau khi hết thời hạn Đây có thể là một “hứa hẹn” của nhà nước dành cho doanh nghiệp để

họ mạnh dạn khi đầu tư và quyết định mở rộng quy mô sản xuất

Thật vậy, với mục tiêu khuyến khích sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước theo chiến lược phát triển nền công nghiệp ôtô đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020

và tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh chuyển đổi thích nghi dần, không gây tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh, nên luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003 không chấm dứt việc giảm thuế đối với ôtô sản xuất lắp ráp trong nước như luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 1998 đã quy định Ở luật thuế mới chính phủ tiếp tục giảm thuế nhưng đưa ra lộ trình và thuế suất cụ thể trong việc áp dụng để phối hợp chặt chẽ cùng chiến lược phát triển ngành sản xuất ôtô nước ta Đồng thời luật thuế còn điều chỉnh giảm thuế suất xuống còn mức 80%, 50%, 25% áp dụng chung cho cả xe nhập khẩu và xe sản xuất trong nước Một trong những nguyên nhân giảm thuế suất vì song song với luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003, luật thuế giá trị gia tăng cũng được soạn thảo và ban hành Theo đó luật thuế giá trịgia tăng năm 2003 đã chuyển hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vào đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng với mức thuế suất 10% Vì vậy để đảm bảo cho nguyên tắc: tổng số thu về thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là không tăng so với trước đây nên luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2003 cần phải được điều chỉnh theo hướng

Trang 35

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

giảm thuế suất để phối hợp cùng luật thuế giá trị gia tăng tránh gây biến động lớn đến giá cả44

Đến năm 2005 khi luật thuế tiêu thụ đặc biệt được sửa đổi và ban hành, đây được xem là luật thuế làm thay đổi lớn đến ngành sản xuất ôtô Việt Nam từ trước đến nay Với quy định mới việc bảo hộ về thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt

đã được gỡ bỏ hoàn toàn Không như dự đoán của một số doanh nghiệp sản xuất ôtô trong nước, mức thuế chung sẽ được áp dụng là 50%, 30% 15% cho từng loại

xe Ôtô sản xuất trong nước vẫn áp dụng lộ trình giảm thuế, như vậy kể từ năm

2007 trở đi, ôtô trong nước sẽ chịu thuế suất thống nhất như đối với ôtô nhập khẩu Mức thuế chung tương đương thuế suất của Thái Lan, Philipine và thấp hơn Malaysia Với quy định giảm thuế suất, nhà nước muốn tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam, kích thích nhu cầu tiêu dùng, bảo vệ quyền lợi được sử dụng hàng hóa giá rẻ của người dân Nhưng thực

tế trong suốt thời gian qua giá cả cũng như nền sản xuất trong nước cũng chưa được cải thiện đáng kể Điều đó đặt ra yêu cầu nhà nước cần phải xem xét lại tất

cả chính sách thuế trước đây và hiện nay được áp dụng đối với mặt hàng này để

có hướng điều chỉnh phù hợp Tác động đến giá cả ôtô, thị trường, và dẫn đến sự trì trệ của nền công nghiệp sản xuất ôtô Việt Nam trong suốt thời gian qua không chỉ là luật thuế nhập khẩu mà thực chất là luật thuế tiêu thụ đặc biệt

Sau hơn 15 năm thực hiện đầu tư, cho đến nay Việt Nam đã có 11 liên doanh tham gia hoạt động trong lĩnh vực lắp ráp ôtô với tổng vốn đầu tư là 526 triệu USD, trong đó có sự góp mặt của các hãng sản xuất ôtô tên tuổi trên thế giới như Mercedes-Benz, Suzuki, Ford, Toyota… Bên cạnh các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn có 20 cơ sở sản xuất lắp ráp và trên 60 đơn vị sản xuất phụ tùng trong nước tham gia vào lĩnh vực này Tuy nhiên ngoại trừ một số Tổng công ty lớn, các doanh nghiệp chủ yếu chỉ sản xuất một số phụ tùng phục vụ cho dịch vụ sửa chữa Xét về quy mô tổng thể thì thị trường ôtô việt Nam đến thời điểm hiện tại còn quá nhỏ bé.45 Nền công nghiệp ôtô Việt nam sau một thời gian dài đầu tư và sản xuất, mặc dù được nhà nước bảo hộ rất nhiều nhưng đến thời điểm hiện nay những gì mà ngành sản xuất lắp ráp ôtô nước ta đạt được chưa tương xứng với sự ưu đãi mà nhà nước đã dành cho họ

Các chính sách không phù hợp là một trong những yếu tố kiềm hãm sức phát triển cùa ngành công nghiệp ôtô Việt Nam Chính sách bảo hộ của nhà nước

44 Nguyễn Thanh - Hướng dẫn thực hiện pháp luật thuế Việt Nam - NXB Lao động xã hội 2005 – trang

334

45 http://vietbao.vn/Kinh-te/Cong-nghiep-oto-Viet-Nam-Nuong-qua-hoa-hu/20347135/87/

Trang 36

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

là một trong những nguyên do chính yếu, từ khi ra đời cho đến nay các liên doanh sản xuất ôtô được hưởng quá nhiều ưu đãi Cụ thể như:

- Thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi chỉ ở mức 15% hoặc 20% thuế suất trong khi các ngành khác bị áp thuế suất 28% Đồng thời được miễn giảm trong thời gian 4 năm, giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 8 năm kể từ khi kinh doanh có lãi

- Doanh nghiệp dược miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng, vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được, linh kiên, bộ phận rời… để tạo tài sản cố định Các hoạt động sản xuất ôtô bán ra trước năm 2003 cũng không phải chịu thuế giá trị gia tăng

- Doanh nghiệp được hưởng lợi từ các chính sách bảo hộ của nhà nướcdành cho ôtô: chính sách miễn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt, chính sách thuế nhập khẩu linh kiện ôtô, áp thuế suất thuế nhập khẩu cao đối với ôtô nhập khẩu nguyên chiếc làm căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt

- Nhiều giai đoạn nhà nước còn ban bố lệnh cấm nhập khẩu xe nguyên chiếc mới và cũ nhằm tạo điều kiện cho việc tiêu dùng xe trong nước

- Yêu cầu các cơ quan dùng tiền ngân sách để mua xe phải mua ôtô con trong nước để khuyến khích sản xuất…

Với mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với đối thủ bên ngoài, Việt Nam đã đi theo mô hình của Malaysia bằng cách dựng lên hàng rào bảo hộ bằng thuế quan rất cao Giải pháp này thực tế là một con dao 2 lưỡi.46

Mục đích của chính sách bảo hộ là nhà nước muốn tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất lắp ráp ôtô Việt Nam để họ dần tăng tỷ lệ nội địa hóa như cam kết khi được cấp phép là trong vòng 10 năm phải thực hiện được tỉ lệ nội địa hóa là 30-40% Thực tế cho đến nay tỉ lệ này chỉ đạt được 2-10% và tập trung ở công đoạn giản đơn Chuyển giao công nghệ cũng rất hạn chế các liên doanh dừng ở lắp ráp dạng CKD1 và CKD2 với dây chuyền công nghệ gần giống nhau hoặc ở dạng IKD.47 Hệ quả của chính sách bảo hộ là khả năng cạnh tranh của công nghiệp ôtô Việt Nam rất thấp.48 Giá bán xe sản xuất trong nước cao gấp 1,5 - 2 lần so với Thái lan, 2,5 lần so với sản xuất tại chính hãng, gấp 2 - 3 lần so với giá

xe tại Mỹ…Giá ôtô cao do doanh nghiệp đã triệt để lợi dụng chính sách bảo hộ

để thu lãi kép: lãi ở giá nhập khẩu linh kiện cao và ở việc các liên doanh nâng giá bán lên cao do nguồn hàng cung cấp chủ yếu cho nhu cầu sử dụng ôtô của người

46 http://vietbao.vn/O-to-xe-may/Loi-di-nao-cho-nganh-o-to/30184473350/

47 http://vietbao.vn/Kinh-te/Nguoi-tieu-dung-phai-chiu-giao-o-to-cao-do-bao-ho/20376427/87/

48http://vietbao.vn/Kinh-te/Cong-nghiep-oto-Viet-Nam-Nuong-qua-hoa-hu/20347135/87/

Trang 37

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

dân là ôtô sản xuất trong nước Toyota có thời điểm lãi 10 triệu USD/năm, Ford lãi 5 triệu USD/ năm.49 Điều đó đã cho thấy bảo hộ quá mức, quá lâu đã tạo nên

sự trì trệ làm hạn chế đầu tư, đổi mới công nghệ Đồng thời chính sự thiếu sót của nhà nước khi cấp phép đầu tư, hứa hẹn cho doanh nghiệp nhiều ưu đãi thế nhưng không có chế tài nào ràng buộc họ vào các cam kết thực hiện tỉ lệ nội địa hóa mà nhà nước đưa ra Tất cả những điều đó đã làm cho định hướng phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2010 đến nay chưa thu được kết quả như mong đợi Quyết định giải thể công ty ôtô Vindaco sau khi nhà nước rút bỏ dần “phao ưu đãi” phần nào cho thấy chính sách bảo hộ của nhà nước trong hơn

13 năm qua chưa phải là giải pháp đúng để phát triển nền công nghiệp ôtô Việt Nam Có thể sẽ còn nhiều doanh nghiệp khác nối gót Vindaco sau khi Việt Nam rút toàn bộ ưu đãi, hoàn tất cắt giảm thuế theo cam kết WTO.50

Nhận thấy được sai lầm cũng như hậu quả của chính sách bảo hộ, nhà nước đã không còn nhân nhượng với các doanh nghiệp Bằng chính sách thuế, nhà nước tác động mạnh vào doanh nghiệp buộc doanh nghiệp phải sản xuất, vận hành theo ý đồ của nhà nước Mở cửa thị trường nhập khẩu ôtô mới nguyên chiếc

và ôtô cũ, đánh thuế cố định lên xe cũ nhập khẩu thay vì đánh cả 2 loại thế suất

% và cố định, giảm thuế nhập khẩu xe cũ lẫn mới, tăng thuế nhập khẩu bộ linh kiện, thay đổi biểu thuế nhập khẩu linh kiện chi tiết thay cho biểu thuế nhập khẩu

bộ linh kiện trước đây Đáp trả lại những chính sách đó doanh nghiệp tăng giá xe khi thuế nhập khẩu bộ linh kiện tăng, không giảm giá bán xe trong nước khi xe nhập khẩu cũ và mới được giảm thuế ồ ạt vào thị trường với mức giá ngày càng cạnh tranh hơn, không đầu tư sản xuất linh kiện chi tiết khi thay đổi biểu thuế nhập khẩu linh kiện mới…Sự tác động của nhà nước đến thời điểm này gần như không hiệu quả

Nhìn chung những yếu tố hình thành nên giá xe, tác động đến thị trường ôtô Việt Nam gồm các loại thuế: thuế nhập khẩu ôtô mới nguyên chiếc, thuế nhập khẩu ôtô cũ đã qua sử dụng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu linh kiện Thế nhưng thời gian qua chính phủ chưa tác động lên chính sách thuế này một cách đồng bộ Cụ thể có giai đoạn nhà nước không đá động gì đến thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc, nhưng có lúc lại liên tục giảm thuế nhằm gây sức ép cạnh tranh lên doanh nghiệp trong nước rồi mới đây lại đột ngột tăng thuế nhập khẩu trở lại vì lo ngại mặt hàng này sẽ trở nên nhập siêu Trong một giai đoạn rất lâu

49 http://vietbao.vn/Kinh-te/Cong-nghiep-oto-Viet-Nam-Nuong-qua-hoa-hu/20347135/87/

50

http://vietbao.vn/O-to-xe-may/Loi-di-nao-cho-nganh-o-to/30184473350/

Trang 38

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

tất cả chính sách đều không có sự thay đổi đáng kể, đến khi muốn tác động thì lại làm quá nhanh, riêng lẽ, dẫn đến hiệu quả đem lại không được như mong muốn

Với tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay khi mà mức độ lạm phát cao, chi phí sản xuất tăng thì dù nhà nước có giảm thuế nhập khẩu nhằm gây áp lực để ôtô trong nước giảm giá đầu tư sản xuất là điều không thể Sức ép quá lớn doanh nghiệp sản xuất ôtô Việt Nam hoặc sẽ chyển sang nhập khẩu xe thay vì tiến hành đầu tư tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm giá thành sản phẩm hoặc sẽ đẩy mạnh sản xuất những dòng xe mới có tính cạnh tranh cao với xe nhập khẩu Theo lộ trình cam kết gia nhập WTO đến năm 2009 các liên doanh ôtô trong nước sẽ có quyền nhập khẩu xe mới nguyên chiếc.51 Mercedes-Benz đang lên kế hoạch đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại tại Việt Nam thế nhưng công việc này bị dừng lại chỉ vì chính sách thuế không ổn định Hướng tới nếu doanh nghiệp lựa chọn đẩy mạnh sản xuất hay chuyển sang nhập khẩu thì đứng về góc độ kinh tế cả 2 đều có lợi Nếu doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển sẽ đẩy mạnh sản xuất và họ sẽ có cơ hội bước sang một giai đoạn khác với nền công nghiệp phụ trợ được đẩy mạnh Ngược lại nhập khẩu xe nguyên chiếc thì nguồn thu cho ngân sách vẫn đảm bảo bằng thuế nhập khẩu.52 Áp dụng một chính sách mà buộc nền kinh tế phải lựa chọn 1 trong 2 hướng Một hướng hoàn toàn có lợi nhưng khả năng xảy ra không cao vì (i) chính sách thuế hiện nay chưa ổn định làm doanh nghiệp không cảm thấy an tâm khi đầu tư, (ii) Với một thị trường mà lượng xe tiêu thụ chỉ vài chục ngàn chiếc mỗi năm, chủng loại xe lại đa dạng thì không ai dám bỏ số tiền đầu tư

để mỗi năm chỉ sản xuất được vài ngàn linh kiện Đối với hướng còn lại sẽ làm sai lệch định hướng phát triển ngành công nghiệp ôtô nuớc ta và mọi chính sách cũng như cố gắng của nhà nước trong suốt 13 năm qua sẽ không mang lại được kết quả gì Thay vì vậy nhà nước nên điều chỉnh giảm biểu thuế nhập khẩu linh kiện trên cơ sở xem xét giảm thuế những linh kiện Việt Nam chưa sản xuất được cần vốn đầu tư lớn; đánh thuế cao những linh kiện đơn giản trong nước có thể đầu tư sản xuất được và những linh kiện có lợi thế Mở cửa kêu gọi các doanh nghiệp khác nhảy vào đầu tư tăng khả năng cạnh tranh tuy nhiên cần xác định rõ các doanh nghiệp tham gia vào ngành sản xuất phụ tùng một cách có chọn lọc, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả sản xuất ra những sản phẩm không đạt chuẩn chất lượng quốc tế Vì xu thế chung của thế giới hiện nay là chỉ đặt mua sản phẩm chất lượng ở nơi có chi phí thấp và thật sự có thế mạnh Đồng thời

51 http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=240559&channelID=11

52 http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=221447& channelID=11

Trang 39

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

nhà nước cần phải ràng buộc doanh nghiệp bằng chế tài nếu vi phạm cam kết khi cấp phép đầu tư

Nhưng trước khi làm được điều này, giải pháp hiệu quả nhất cho thị trường ôtô Việt nam là cần sửa đổi luật thuế tiêu thụ đặc biệt với hướng giảm thuế suất để mở rộng thị trường Thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng mức thuế suất cao là tác động đến giá cả ôtô và làm hạn chế nhu cầu tiêu dùng của người dân Suốt một thời gian dài nhà nước chưa có một tác động đáng kể với loại thuế này làm cho nền sản xuất ôtô rơi vào lẫn quẩn giữa thị trường và yêu cầu sản xuất Một mặt nhà nước xem ôtô là ngành công nghiệp quan trọng cần ưu tiên phát triển nhưng mặt khác lại lo ngại sự phát triển thị trường ôtô sẽ dẫn đến sự quá tải của hệ thống giao thông đường bộ Việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt cùng với thuế nhập khẩu với thuế suất cao lên mặt hàng ôtô là để thực hiện mục tiêu hạn chế và chính điều đó đồng nghĩa với việc bóp chết nền công nghiệp ôtô từ trong trứng nước.53 Hậu quả là cho tới nay Việt Nam vẫn không có một ngành công nghiệp ôtô theo đúng nghĩa do thị trường quá nhỏ bé Thị trường nhỏ chủ yếu là do sức mua kém, do giá xe quá cao so với thu nhập trung bình của người dân chứ không phải họ không có nhu cầu Giá xe cao là do 3 loại thuế gồm: Thuế nhập khẩu nhằm mục đích bảo hộ công nghiệp xe hơi trong nước; Thuế giá trị gia tăng nhằm mục đích thu ngân sách; Thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm điều tiết tiêu thụ, nó chính là công cụ hạn chế việc mua ôtô Áp hai hoặc ba loai thuế với thuế suất cao nhất là thuế tiêu thụ đặc biệt lên cùng một đối tượng chịu thuế sẽ làm giảm mạnh nhu cầu tiêu dùng và như vậy sẽ gián tiếp kiềm chế sự phát triển của nền công nghiệp quan trọng này Thực tế đã chứng minh cho điều đó Lý do chính yếu để đánh thuế không chỉ vì mục đích điều tiết thu nhập mà còn có lý do cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ Nhưng thực tế tắc nghẽn giao thông là do công tác quản lý hành chính kém, quy hoạch chiến lược phát triển khu công nghiệp, đô thị chưa làm tốt, với những quy định và giải pháp mới được ban hành tình hình giao thông hiện nay chắc chắn sẽ được khắc phục đáng kể Tuy nhiên tình trạng nói trên không phổ biến ở mọi địa phương mà chỉ cá biệt ở một số thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, ở nông thôn hay các tỉnh thành khác ít khi lại xảy ra tình trạng kẹt xe hay thiếu chỗ đậu xe Như vậy chỉ vì tình trạng cá biệt ở hai thành phố lớn mà chính sách thuế của luật thếu tiêu thụ đặc biệt lại điều chỉnh chung cho cả nước thì không hợp lý nó làm ảnh hưởng quyền lợi của người dân

và nền sản xuất trong nước Và mới đây theo ông Chu Mạnh Hùng, phó vụ

53 http://vietbao.vn/O-to-xe-may/Loi-di-nao-cho-nganh-o-to/30184473350/

Trang 40

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

trưởng Vụ Khoa Học Công Nghệ, Bộ Giao thông Vận Tải “Cả nước mới có khoảng 1 triệu xe con lưu hành, con số này quá nhỏ so với con số trên 80 triệu dân Chúng tôi khẳng định cơ sở hạ tầng đủ sức chứa cho các loại xe cơ giới”.54Như vậy không còn lý do để tiếp tục giữ quan điểm đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất cao lên mặt hàng ôtô nữa Riêng đối với tình trạng tắt nghẽn giao thông một số đề xuất là: nên tăng lệ phí đăng ký xe hơi tại các thành phố đông dân cư lên 7%; đồng thời có thể thu phí lưu hành xe trong cả nước đặc biệt thu phí cao hơn ở các thành phố lớn và sẽ dùng tiền thu được để đầu tư phát triển giao thông đường bộ, cải thiện môi trường

Để cứu sống nền công nghiệp ôtô Việt Nam, bảo vệ quyền lợi cho nguời tiêu dùng dự đoán luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 sẽ giảm thuế suất, mức giảm có thể thực hiện theo lộ trình giảm dần thuế suất và mức thuế ngay khi được áp dụng sẽ giảm không nhiều để tránh việc tăng nhu cầu sử dụng ôtô lên đột biến gây sức ép lớn lên cơ sở hạ tầng giao thông, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách ngay khi cắt giảm vì sự đóng góp của mặt hàng ôtô trong nguồn thu thuế tiêu thụ đặc biệt là rất lớn Tuy nhiên mức thuế này vẫn đảm bảo có lợi cho người tiêu dùng, kích thích được sự phát triển của thị trường Với lộ trình cắt giảm thuế rõ ràng sẽ làm cho doanh nghiệp cảm thấy yên tâm hơn khi quyết định đầu tư Các chuyên gia nuớc ngoài dự đoán nếu thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ôtô được giảm thì với số dân trên 80 triệu, mức GDP liên tục tăng, Việt Nam vẫn là một thị trường đầy tiềm năng

Tóm lại để hoàn thành tốt chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam nhà nước kiên định mục tiêu không áp dụng chuỗi giá trị toàn cầu hay kiểu mẫu xe quốc gia như một số nước đang áp dụng hiện nay Bởi vì mô hình chuỗi giá trị toàn cầu chỉ tham gia sản xuất một hoặc một số linh kiện để xuất khẩu và như vậy chỉ giải quyết được vấn đề việc làm và thu nguồn lợi trước mắt, nền công nghiệp nước ta đi theo hướng này chắc chắn sẽ lập lại như đối với nền công nghiệp khai khoán dầu mỏ của nước ta trước đây Hoặc đi theo hướng sản xuất kiểu mẫu xe quốc gia sẽ làm mất đi yếu tố cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa và một khi người tiêu dùng thay đổi thị hiếu chuyển sang tiêu dùng một loại

xe khác kiểu mẫu xe của Việt Nam sản xuất sẽ gây khó khăn cho hàng loạt doanh nghiệp sản xuất cũng như những ngành nghề ăn theo ảnh hưởng đến cả nền kinh

tế Vì vậy chỉ có đầu tư tăng tỷ lệ nội địa hoá Việt Nam mới có ngành công nghiệp sản xuất ôtô theo đúng nghĩa Để đạt được những mục tiêu đã đề ra nó

54 http://vietbao.vn/kinh-te/tai-hoi-thao-ve-quy-hoach-o-to-Lai-keu-gao-bao-ho/45259546/87

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm