Cụ thể WTO có 3 mục tiêu sau: Thứ nhất, thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường; Thứ hai, thú
Trang 1Đề tài: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CƠ CHẾ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Bộ môn Luật Thương mại MSSV: 5075100
Lớp: Thương mại 1 Khóa 33
Cần Thơ, 4/2011
Trang 2GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 3
GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DSB : Dispute Settlement Body - Cơ quan giải quyết tranh chấp
DSU : Dispute Settlement Understanding - Thỏa thuận về các Qui tắc và thủ tục về giải quyết tranh chấp
GATS : General Agreement on Trade in Services - Hiệp định chung về thương mại
và dịch vụ
GATT : General Agreement on Tariffs and Trade - Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1947
GDP : Gross Domestic product - Tổng thu nhập quốc dân
IMF : International Monetery Fund - Quỹ tiền tệ Quốc tế
ITO : International Trade Organization - Tổ chức thương mại Quốc tế
MFN : Most Favored Nation - Đối xử tối huệ quốc
NGOs : Non-Governmental Organization - Tổ chức phi chính phủ
TRIMS : Trade - Related Investment Measures - Các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
TRIPS : Trade - Related Intellectual Propecty rights - Khía cạnh về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
WTO : World Trade Organization - Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 4GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Phạm vi nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
5 Cơ cấu đề tài: 3
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO 4
1.1 Sự ra đời của WTO: 4
1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT - Tổ chức tiền thân của WTO: 4
1.1.2 Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO: 8
1.2 Mục tiêu,chức năng và các nguyên tắc của WTO: 12
1.2.1 Mục tiêu: 12
1.2.2 Chức năng: 12
1.2.3 Nguyên tắc: 13
1.3 Sự hoàn chỉnh của WTO từ tổ chức tiền thân GATT: 14
1.3.1 WTO là một khuôn khổ để đàm phán: 14
1.3.2 WTO và các hiệp định mang tính thường trực lâu dài: 15
1.3.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính tự động và nhanh chóng: 16 Chương 2: CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO 18
2.1 Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947: 18
2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO: 21
2.2.1 Phạm vi điều chỉnh của Cơ chế giải quyết tranh chấp: 21
2.2.2 Các nguyên tắc, đối tượng giải quyết tranh chấp: 22
2.2.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp: 24
2.2.4 Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB): 25
2.2.5 Quy chế Nhóm chuyên gia: 28
2.2.6 Cơ quan phúc thẩm thường trực (Appellate Body): 30
2.2.7 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp: 32
2.2.8 Thủ tục đặc biệt dành cho các nước đang phát triển: 43
Chương 3: THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP WTO VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 51
3.1 Đánh giá thực tiễn: 51
3.2 Những vấn đề còn tồn tại và một số hướng cải cách cơ chế: 67
3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: 69
Trang 5GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
3.3.1 Đối với Chinh phủ và cơ quan quản lý Nhà nước: 69
3.3.2 Đối với Hiệp hội các Doanh nghiệp: 70
3.3.3 Đối với sinh viên hiện nay: 71
KẾT LUẬN 72
Trang 6GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Tổ chức thương mại Thế giới (viết tắt tiếng Anh là WTO), ra đời ngày 01 tháng
01 năm 1995, là tổ chức có quy mô lớn nhất trên thế giới trong lĩnh vực thương mại Với số lượng thành viên hiện nay là 153 và chiếm trên 95% tổng giá trị trao đổi thương mại toàn cầu, WTO thực sự đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế Quá trình hình thành WTO là một quá trình lâu dài, với những cuộc thương lượng khó khăn giữa các quốc gia, đặc biệt là trong vòng đàm phán Uruguay, kéo dài từ năm 1986 tới năm 1994 Trước khi WTO ra đời, thương mại thế giới được điều chỉnh bởi các quy định của Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT) GATT chỉ là một cơ chế tạm thời, có nhiều lỗ hổng, và phạm vi điều chỉnh chỉ giới hạn ở thương mại hàng hoá Ngày nay, WTO là một tổ chức thường trực, có đầy đủ các cơ quan và phương tiện cần thiết, cũng như các quy định chi tiết, tạo một khung pháp lý hoàn chỉnh cho các quan hệ thương mại giữa các quốc gia Phạm vi điều chỉnh của WTO không chỉ giới hạn ở thương mại hàng hoá, mà còn mở rộng ra cả thương mại dịch vụ, các khía cạnh đầu tư và sở hữu trí tuệ liên quan tới thương mại
Khi nhắc đến những thành tựu của vòng đàm phán Uruguay, người ta hay nhắc tới sự phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT/WTO Từ chỗ chỉ là một
cơ chế mang tính lỏng lẻo, thiếu độ tin cậy, đã hình thành một cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả và có tính chuyên nghiệp cao Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã thực sự góp phần vào quá trình điều chỉnh pháp lý các hoạt động thương mại thế giới, tạo niềm tin cho các nước khi tham gia vào tự do hoá thương mại Mặc dù vậy, cơ chế này chưa thể nói là hoàn thiện Hoạt động thực tiễn trong những năm qua đã làm bộc lộ một số tồn tại cần phải được khắc phục trong thời gian tới Với tư cách là một nước đang phát triển đã gia nhập WTO, Việt Nam đã bước vào một cuộc chơi lớn với những đối thủ cạnh tranh lớn Do đó, chúng ta không chỉ cần nắm vững các luật lệ của WTO để tránh dẫn đến vi phạm các luật này, mà còn phải hiểu rõ hoạt động của cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức này, bởi đó chính
là một công cụ hữu hiệu giúp chúng ta bảo vệ lợi ích của mình chống lại hành vi bất hợp pháp của các nước khác Từ khi gia nhập đến nay Việt Nam đã có 28 lần bị các quốc gia khác kiện
Vì tính cấp thiết trên nên người viết chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO” để thấy rõ được những quy định của “luật chơi
chung” và thực tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp có những mặt tích cực, hạn chế
Trang 7GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
cần khắc phục và thông qua những vụ kiện sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam chúng ta
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Là một đề tài nghiên cứu khoa học ở một gốc độ tương đối nhỏ, do đó mục tiêu nghiên cứu của đề tài này cũng nhằm vào những yếu tố nói trên Qua quá trình theo sát học tập, nghiên cứu người viết mang công sức và tâm quyết của mình muốn đem lại tác dụng trong quá trình xây dựng, nghiên cứu cũng như là điều kiện quan trọng để Sinh Viên nói lên suy nghĩ, ý kiến mình Mặt khác, qua đề tài để hiểu rỏ được tính cần thiết khi chúng ta đi nghiên cứu sâu về cơ chế này, nhằm đem lại sự hiểu biết cần thiết cho người đọc Qua đó, góp phần vào việc hoàn thiện cũng như nâng cao kiến thức, trình độ pháp lý cho mọi tầng lớp nhân dân, từ đó thấy được những hạn chế để rút ra những phương pháp đúng đắn, thiết yếu trong quá trình hoạt động Đồng thời cho ta thấy được Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã thực sự góp phần vào quá trình điều chỉnh pháp lý các hoạt động thương mại thế giới, tạo niềm tin cho các nước khi tham gia vào tự do hóa thương mại Tuy nhiên, thưc tiễn hoạt động của cơ chế này trong thời gian qua cũng bộc lộ một số nhược điểm cần khắc phục
4 Phương pháp nghiên cứu:
Nhằm hoàn thiện đề tài của mình một cách tốt nhất, người viết vận dụng một vài phương pháp nghiên cứu để làm công cụ phục vụ cho việc nghiên cứu của mình
Ở đây chúng ta vận dụng các biện pháp để đi nghiên cứu và mổ xẻ nó, cụ thể bằng các phương pháp nghiên cứu phân tích luật viết, chứng minh, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, liệt kê… với những kiến thức đã học kết hợp với sách báo, tài liệu có liên quan nhằm phân tích những điều kiện cụ thể, đi sâu nghiên cứu quá trình hình thành và thực tiễn hoạt động của cơ chế này
Một là, phương pháp phân tích luật viết dùng để tìm hiểu các qui định của của Cơ
chế giải quyết tranh chấp WTO
Trang 8GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Hai là, phương pháp chứng minh, so sánh, đối chiếu vận dụng các Hiệp định liên
quan vấn đề giải quyết tranh chấp đồng thời kế thừa các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng
Ba là, phương pháp tổng hợp, thống kê và sử dụng các trang web để tìm kiếm tài
liệu đồng thời vận dụng các tài liệu của các nhà luật học, bài báo và ý kiến chủ quan của người viết.Qua đó rút ra được những hạn chế cần hoàn thiện để cơ chế hoạt động sao cho có hiệu quả nhất, đồng thời cũng rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Do kiến thức trong lĩnh vực quốc tế còn hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến quý báu của thầy cô và các bạn
5 Cơ cấu đề tài
Đề tài được chia làm ba chương cụ thể trong phần nội dung như sau:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO
CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP WTO
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP WTO VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Mặc dù người thực hiện đề tài đã có rất nhiều cố gắng trong việc tìm và nghiên cứu tài liệu, cũng như tìm hiểu thực tiễn nhưng do đề tài thuộc lĩnh vực Quốc tế, song kiến thức còn hạn chế nên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, sai sót
Xin ghi nhận những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Chân thành cảm ơn Thầy – Thạch Huôn - đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đề tài luận văn này
Trang 9GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO
1.1 Sự ra đời của WTO
1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT - Tổ chức tiền thân của WTO:
Thương mại quốc tế có lịch sử lâu đời Từ thời trung cổ đã có hoạt động giao lưu buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi từng khu vực cũng như giữa Đông và Tây
Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến sự bùng nổ của thương mại quốc tế, gắn liền với chủ nghĩa thực dân cũ cướp bóc và nô dịch thuộc địa Trong suốt các thế kỷ 16, 17 và 18, lý thuyết trọng thương có vai trò thống trị trong việc giải thích
về thương mại quốc tế Thế kỷ 19 với sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, nhất là lý thuyết lợi thế so sánh của D Ricardo, thương mại thế giới đã được dẫn dắt theo một chiều hướng khác: chuyên môn hóa và trao đổi, điều đó sẽ mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia thương mại quốc tế và cho nền kinh tế thế giới1
Hệ thống thương mại đa phương đã được thiết lập cùng với việc ký kết Hiệp định Chung về Thuế quan và Thương mại vào năm 1947 (GATT 1947) Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT (General agreements on Tariff & Trade) là Tổ chức
tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
Sau chiến tranh Thế giới thứ 2, nhằm khôi phục sự phát triển kinh tế và thương mại, hơn 50 nước trên thế giới đã cùng nhau nỗ lực kiến tạo một tổ chức mới điều chỉnh hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế, đồng thời với sự ra đời của các định chế tài chính quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và gắn
bó chặt chẽ với các định chế này Ban đầu, các nước dự kiến thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là một tổ chức chuyên môn thuộc Liên hiệp quốc Tháng 2/1946, Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên hợp quốc triệu tập một "Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Việc làm" với mục tiêu dự thảo Hiến chương cho Tổ chức Thương mại Quốc tế Dự thảo Hiến chương thành lập ITO không những chỉ điều chỉnh các quy tắc thương mại thế giới mà còn mở rộng ra cả các quy định về công ăn việc làm, các hành vi hạn chế thương mại, đầu tư quốc tế và dịch vụ
Ngay trước khi kết thúc thảo luận vào năm 1946, hai mươi ba trong số hơn 50 nước tham dự đã tiến hành đàm phán để giảm và thực hiện ràng buộc thuế quan Cuộc chiến thế giới thứ hai vừa kết thúc và các nước này mong muốn thúc đẩy ngay lập tức
1
PGS.TS.Nguyễn Như Bình – Khoa Kinh tế & Kinh doanh Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội [Cập nhật web thongtinphapluatdansu.wordpress 20/2/2011]
Trang 10GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
tiến trình tự do hóa thương mại, đồng thời bắt tay vào việc loại bỏ nhiều biện pháp bảo
hộ vẫn được áp dụng từ đầu những năm 1930
Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại thế giới cuối cùng cũng được thông qua tại Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và việc làm tổ chức tại La Havana năm
1948, song nó lại không được nghị viện một số nước phê chuẩn, đặc biệt là Hạ viện Hoa Kỳ phản đối mạnh mẽ nhất, bất chấp nỗ lực đấu tranh thành lập ITO của chính quyền nước này Năm 1950, chính phủ Hoa kỳ tuyên bố rằng Hạ viện nước này đã quyết định không phê chuẩn Hiến chương La Havana, điều này đồng nghĩa với việc ITO không thể trở thành hiện thực Tuy nhiên kết quả của cuộc đàm phán cũng đem lại
sự thành công nhất định; đã có 45.000 nhượng bộ về thuế quan, ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trị giá 10 tỉ đô la Mỹ tức là gần 1/5 tổng thương mại trên thế giới Hai mươi ba nước này đều cùng nhất trí chấp nhận ủng hộ một số quy định trong hiến chương của ITO Các quy định này sẽ được thực hiện hết sức nhanh chóng một cách tạm thời để có thể bảo vệ được thành quả của những cam kết thuế quan đã được đàm phán Kết hợp của những qui định thương mại và cam kết thuế quan được biết đến dưới tên gọi Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 11/1/1948 Các nước tham gia trở thành những thành viên sáng lập GATT (với tên gọi chính thức là “các bên ký kết”) Mặc dù GATT chỉ mang tính tạm thời nhưng đây vẫn là công cụ duy nhất mang tính đa biên điều tiết thương mại thế giới kể từ năm 1948 cho đến khi WTO được thành lập vào năm 1995 và trong suốt thời gian gần 1/2 thế kỷ, phần lớn các văn bản pháp lý cơ bản của GATT đều là những văn bản được quy định từ năm 1948 Có thêm một số văn bản mới được đưa vào dưới dạng hiệp định "đa biên"2 và các nỗ lực cắt giảm thế quan vẫn được tiếp tục Tất cả những bước tiến lớn của thương mại quốc tế đã diễn ra thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa biên được biết đến dưới cái tên "vòng đàm phán thương mại"
Bảng 1: Các vòng đàm phán của GATT3
Trang 11Thuế quan và các biện
pháp phi thuế, các hiệp định khung
đã được mở rộng: đưa ra đàm phán về hiệp định chống bán phá giá, số nước tham gia
là 62 nước Tiếp theo là vòng đàm phán Tokyo, kéo dài từ năm 1973 đến năm 1979 với sự tham gia của 102 nước Kết quả vòng đàm phán này bao gồm 9 thị trường công nghiệp hàng đầu trên thế giới cắt giảm trung bình 1/3 mức thuế quan và do đó mức thuế bình quân áp dụng đối với hàng công nghiệp giảm xuống ở mức 4,7% Việc cắt giảm thuế quan sẽ được thực hiện trong vòng 8 năm bao gồm cả vấn đề điều hoà thuế - thuế càng cao thì cắt giảm càng lớn theo tỷ lệ
Ngoài những kết quả trên thì vòng đàm phán Tokyo đã không thu được kết quả nào: không giải quyết được vấn đề cơ bản liên quan đến thương mại hàng nông sản, cũng không đi tới ký kết một hiệp định sửa đổi liên quan đến các biện pháp bảo hộ Tuy nhiên, đã có nhiều hiệp định về hàng rào phi thuế quan đã xuất hiện tại vòng đàm phán này (một vài hiệp định mới hoàn toàn, một vài hiệp định tiếp tục bổ sung thêm từ các quy định của GATT) Trong phần lớn các trường hợp thì chỉ có một số nước rất nhỏ, chủ yếu là các nước công nghiệp phát triển chấp nhận tham gia vào các hiêp định mới này vì họ là những người được lợi ích nhiều nhất Do đó, các hiệp định này chỉ
được gọi là "hệ thống qui tắc" Những qui tắc này không mang tính chất “đa biên”,
nhưng đây là một bước khởi đầu mới
Các "hệ thống qui tắc" của vòng Tokyo bao gồm:
Trợ cấp và các biện pháp đổi kháng - diễn giải điều 6.16 và điều 23 của hiệp
Trang 12GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Định giá hải quan - diễn giải điều 7
Chống phá giá - diễn giải điều 6, thay cho qui định vòng Kenedy
Thoả thuận về sữa quốc tế
Thương mại máy bay dân dụng
Một số hệ thống qui tắc sau vòng đàm phán Uuguay đã được điều chỉnh lại và được cam kết mang tính chất đa biên buộc các nước thành viên phải cùng nhau thực hiện Chỉ có 4 hiệp định: mua sắm chính phủ, máy bay dân dụng cho đến hiện nay vẫn mang tính nhiều bên Vào năm 1997, hai Hiệp định về thịt bò và sữa đã được huỷ bỏ Cho đến hết vòng đàm phán Tokyo, GATT chỉ là một hiệp định mang tính chất tạm thời và phạm vi hoạt động hạn chế, song không thể phủ nhận rằng trong suốt 47 năm tồn tại GATT đã GATT đã đem lại những thành công rất lớn trong việc thúc đẩy
và đảm bảo tự do hoá phần lớn thương mại quốc tế Chỉ riêng việc cắt giảm liên tục thuế nhập khẩu cũng đã góp phần duy trì mức tăng trưởng rất sôi động của mậu dịch thế giới, trung bình khoảng 8%/năm trong những năm 50 và 604 Chính tốc độ tự do hoá mậu dịch đã giúp cho tốc độ tăng trưởng của thương mại luôn luôn vượt qua tốc
độ tăng trưởng kinh tế trong suốt thời kỳ GATT tồn tại, điều này chứng tỏ rằng số các nước tham gia trao đổi thương mại với nhau và thu được lợi nhuận ngày càng gia tăng
Từ đó, ngày càng nhiều nước đệ đơn tham gia xin gia nhập đã cho thấy hệ thống thương mại đa biên đã được công nhận như một công cụ để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, thương mại của cả Thế giới nói chung và của từng quốc gia nói riêng Nhưng không có cái gì là hoàn hảo cả Cùng với thời gian này, một số vấn đề mới cũng nảy sinh vào những năm 70 Vòng đàm phán Tokyo đã cố gắng giải quyết một số vấn đề đó nhưng kết quả mang lại còn khá hạn chế, song cũng là một dự báo cho thấy sẽ còn có nhiều khó khăn Những khó khăn rất lớn mà GATT phải đối mặt: Thứ nhất, thành công của GATT trong việc cắt giảm thuế quan xuống mức thấp cộng với tác động của suy thoái kinh tế trong suốt thập niên 70 và 80 đã dẫn đến việc chính phủ các nước đã tiến hành điều chỉnh các hình thức bảo hộ đối với các lĩnh vực đang phải cạnh tranh với nước ngoài nhằm có thể giữ được ổn định cho nền kinh tế của họ
Tỷ lệ thất nghiệp cao cùng với việc phải đóng cửa liên tục nhiều nhà máy đã buộc chính phủ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ phải đi đến thoả thuận song phương về chia sẻ thị trường với các nhà cạnh tranh và ngày càng tăng dần mức độ trợ cấp nhằm duy trì được vị trí của mình, nhất là trong thương mại hàng nông sản Những thay đổi này có nguy cơ làm giảm và mất đi những giá trị của việc giảm thuế quan đã mang lại cho thương mại quốc tế, vì vậy hiệu quả và độ tin cậy của GATT bị suy giảm
4
Về nguyên tắc, mức thuế quan được cắt giảm có gí trị cho đến khi nào các Bên ký kết đạt được mức cắt giảm thuế quan mới trong vòng đám phán đa phương.
Trang 13GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Thứ hai, đến thập niên 80 thì Hiệp định chung không còn đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn của thương mại quốc tế như ở thập niên 40 nữa Ít nhất thì hệ thống thương mại thế giới đã trở nên phức tạp, đa dạng và quan trọng hơn rất nhiều so với 40 năm trước Phần lớn GATT chỉ điều tiết thương mại hàng hoá hữu hình nhưng ngày nay nền kinh tế thế giới đang trong quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ, thương mại quốc
tế đã phát triển nhanh chóng, thương mại dịch vụ - lĩnh vực không được hiệp định GATT điều chỉnh đã trở thành lợi ích cơ bản của các nước ngày càng nhiều Từ ngân hàng, bảo hiểm, vận tải biển, tư vấn đã phát triển không ngừng; đầu tư quốc tế cũng được mở rộng Thương mại dịch vụ phát triển cũng kéo theo sự gia tăng hơn nữa của thương mại hàng hoá
Thứ ba, trong một số lĩnh vực của thương mại hàng hoá GATT cũng còn nhiều bất cập, ví dụ đối với lĩnh vực nông nghiệp, những lỗ hổng của hệ thống thương mại đa biên đã bị lợi dụng triệt để và mọi nỗ lực nhằm tự do hoá hàng nông sản đã không đạt được thành công Trong lĩnh vực hàng dệt may cũng vậy, một điều khoản ngoại lệ của GATT đã được đàm phán trong những năm 60 và đầu 70, dẫn tới sự ra đời của Hiệp định đa sợi
Thứ tư, cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng gây ra nhiều lo ngại GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia không mang tính chất bắt buộc do vậy các nước có thể tuân theo và cũng có thể không Bên cạnh đó, thương mại quốc tế trong những năm 80 trở đi đòi hỏi phải có một tổ chức cố định, có nền tảng pháp lý vững chắc để có thể đảm bảo thực thi các quy định, các nguyên tắc chung của thương mại quốc tế Về hệ thống các quy chế giải quyết tranh chấp, GATT cũng chưa
có cơ chế chặt chẽ, chưa có thời gian biểu nhất định do vậy các cuộc tranh chấp thường bị kéo dài, dễ đi vào ách tắc
Tất cả những nhân tố này cùng một số yếu tố khác đã khiến cho các thành viên của GATT tin rằng phải có những nỗ lực mới nhằm củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên Những nỗ lực đó đã thể hiện ở vòng đàm phán Uruguay, tuyên bố Marrakesh và sự ra đời của Tổ chức Thương mại thế giới WTO
1.1.2 Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO:
Vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán lớn nhất cả về thời gian và các lĩnh vực thương mại Vòng này kéo dài 7 năm rưỡi, gần bằng 2 lần thời gian dự định ban đầu Đến cuối vòng đàm phán số nước tham dự đã lên tới 123 nước; đây thực sự là vòng đàm phán thương mại lớn nhất từ trước tới nay và có lẽ đây cũng là cuộc đàm phán thuộc loại lớn nhất trong lịch sử
Một số thời điểm chủ chốt của vòng Uruguay:
Tháng 9/86 Punta del Este: bắt đầu
Tháng 12/88 Montreal: rà soát giữa kỳ của các bộ trưởng
Trang 14GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Tháng 4/89 Geneva: Rà soát giữa kỳ hoàn thành
Tháng 12/90 Brussels: bế mạc hội nghị bộ trưởng trong bế tắc
Tháng 12/91 Geneva: Dự thảo đầu tiên của "Hiệp định cuối cùng" được hoàn thành
Tháng 11/92 Washington: Mỹ và EU đạt được mức đột phá mang tên "Blair House" trong lĩnh vực nông nghiệp5
Tháng 7/93 Tokyo: Nhóm Quad đạt được bước đột phá về mở cửa thị trường tại hội nghị thượng đỉnh G7
Tháng 12/93 Geneva: Phần lớn các cuộc đàm phán kết thúc (một số cuộc thương thảo về mở cửa thị trường được tiếp tục)
Tháng 4/94 Marrakesh: Các hiệp định được ký
Tháng 1/95 Geneva: WTO được thành lập và các hiệp định bắt đầu có hiệu lực Các cuộc thảo luận đề cập hầu hết các lĩnh vực của trao đổi quốc tế, có những lúc vòng đàm phán này tưởng như cầm chắc một thất bại, song tổng kết lại thì nó đã đem lại sự cải tổ lớn nhất từ trước tới nay đối với hệ thống thương mại quốc tế
Cơ sở cho chương trình nghị sự của vòng đàm phán Uruguay đã được khởi đầu ngay từ tháng 11 năm 1982 tại Geneva, tuy nhiên phải mất đến 4 năm để thăm dò làm
rõ các vấn đề và xây dựng sự nhất trí thì các Bộ trưởng mới đi đến thống nhất trong việc đưa ra 1 vòng đàm phán mới Cuộc đàm phán được bắt đầu tại Punta del Este Uruguay (1986) Chương trình đàm phán bao gồm hầu hết các vấn đề chính sách thương mại còn chưa được điều chỉnh, nhằm mở rộng hệ thống thương mại đa biên sang một số lĩnh vực mới Trong đó, quan trọng nhất là: dịch vụ, sở hữu trí tuệ và cải
tổ hệ thống thương mại trong một số lĩnh vực có tính nhạy cảm cao như hàng nông sản
và hàng dệt may, mọi nguyên tắc về điều khoản ban đầu của GATT đều được rà soát lại
Hai năm sau đó, vào tháng 12 năm 1988, các vị Bộ trưởng lại một làn nữa nhóm họp tại Montreal (Canada) nhằm đánh giá lại những tiến bộ đã đạt được sau nữa chặn đường thực hiện vòng đàn phán và đề ra nhiệm vụ cho hai năm còn lại của lịch trình đàm phán là xây dựng kế hoạch hành động Tuy nhiên các cuộc thương thảo đã đi vào ngõ cụt và mãi tới tháng 4 năm 1989, các quan chức cấp cao mới gặp nhau tại Geneva
để trạnh luận một cách bình tĩnh hơn Tại hội nghị Montreal, bất chấp những khó khăn tồn tại, các vị bộ trưởng đều thống nhất thông qua hầu hết các kết quả ban đầu gồm: các nhượng bộ mở cửa thị trường cho hàng nhiệt đới nhằm mục đích giúp đỡ các nước đang phát triển; Cơ chế giải quyết tranh chấp được đơn giản hóa và một cơ chế rà soát
Trang 15GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
chính sách thương mại Đây là lần đầu tiên đưa ra được một cơ chế thường xuyên, mang tính hệ thống và toàn diện để rà soát chính sách và thực hành thương mại đối với các nước thành viên của GATT Vòng đàm phán này đã dự định kết thúc tại Brussels vào tháng 12 năm 1990, nhưng do bất đồng quan điểm giữa các bên về cách thức tiến hành cải cách hệ thống thương mại hàng nông phẩm nên đã quyết định kéo dài thời gian tranh luận Vòng đàm phán Uruguay lúc này bước vào giai đoạn tồi tệ nhất Cho
dù viễn cảnh chính trị không mấy lạc quan, công tác chuẩn bị vẫn được tiếp tục khẩn trương để cho ra đời bản dự thảo công cụ có hiệu lực pháp lý cuối cùng Dự thảo đã hoàn tất được tất cả các mục tiêu đề ra tại Punta del Este, ngoại trừ danh mục cam kết cắt giảm thuế quan và mở cửa thị trường dịch vụ của các nước Bản dự thảo này được trình bày trước các bên tham gia đàm phán tại Geneva tháng 12 năm 1991 có tên gọi là
“Văn kiện cuối cùng” do Arthur Dunkel Tổng giám đốc GATT soạn thảo 6
Trong vòng hai năm tiếp theo, các cuộc đàm phán đã đứng giữa hai ngả giữa thành công và thất bại đều hết sức mong manh Tiến trình đàm phán thường chậm hơn
so vói tiến độ Tại vòng đàm phán đã nảy sinh những bất đồng quan điểm bên cạnh vấn đề nông nghiệp còn có dịch vụ, mở cửa thị trường, các qui tắc chống bán phá giá
và đề xuất về việc thành lập một tổ chức thương mại mới Trong đó, bất đồng quan điểm của Mỹ và EU chính là nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho vòng đàm phán chưa thể kết thúc thành công được
Tháng 11 năm 1992, Mỹ và EU đã thống nhất được phần lớn sự khác biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, cả hai đã đưa ra được một thỏa thuận mang tên “Thỏa thuận Blair House” Đến tháng 7 năm 1993, các nước trong bộ tứ ( Mỹ, EU, Nhật, Canada ) tuyên bố đã đạt được những thỏa thuận đáng kể trong đàm phán thuế quan và các vấn
đề liên quan đến mở cửa thị trường Đến ngày 15 tháng 12 năm 1993 thì tất cả mọi vấn
đề đều được giải quyết và đàm phán về mở cửa thị trường cho hàng hóa và dịch vụ được kết thúc Ngày 15/4/1994, thỏa thuận đã được đại diện của gần 123 nước tham gia hội nghị ký kết tại Marrakesh (Marốc) Sự chậm trễ liên tiếp trong các cuộc đàm phán cũng có mặt tích cực của nó Đối với một số vấn đề về dịch vụ, sở hữu trí tuệ hay thậm chí việc hình thành tổ chức thương mại thế giới sẽ không thể tiến xa đến thế nếu vòng đàm phán được tiến hành vào năm 1990 Tuy nhiên việc phải làm còn quá nhiều
và những nhân vật chịu trách nhiệm về các vấn đề thương mại của các quốc gia bắt đầu mỏi gối chùn chân Việc đi đến một hiệp định chung cho hầu hết các vấn đề thương mại tỏ ra hết sức khó khăn khiến cho một số người cho rằng tổ chức một vòng đàm phán ở quy mô lớn đến thế là điều không tưởng Mặc dù, khó khăn rất lớn ở các
6
Văn kiện cuối cùng của vòng đàm phán Uruguay gồm 500 trang và hơn 20.000 trang các cam kết của các nước thành viên về mở cửa thị trường cho hàng hóa, dịch vụ Văn kiên này bao gồm những quyết định, Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng, Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới và một loạt các hiệp định đa biên, đa phương
Trang 16GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
vòng đàm phán nhưng với ý chí và quyết tâm thì cuối cùng Tổ chức Thương mại thế giới - World Trade Organization - viết tắt là WTO chính thức được thành lập tháng 1 năm 1995; các hiệp định được kí kết tại vòng đàm phàn Uruguay bắt đầu có hiệu lực Nhìn chung tại một số thời điểm, vòng Uruguay có vẻ như đã thất bại, tuy nhiên cuối cùng thì vòng Uruguay đã đem lại sự cải tổ lớn nhất, là bước tiến quan trọng nhất đối với hệ thống thương mại thế giới kể từ ngày GATT được thành lập sau Đại chiến thế giới lần thứ hai Phải gặp nhiều vấn đề khó khăn nhưng vòng Uruguay đã đem lại một số kết quả ngay từ những ngày đầu: Trong vòng 2 năm các nước tham dự đã nhất trí cắt giảm thuế nhập khẩu với hàng nhiệt đới - những sản phẩm chủ yếu do các nước đang phát triển xuất khẩu Các nước cũng đã nhất trí điều chỉnh các qui định về giải quyết tranh chấp, trong đó một số biện pháp đã được thực hiện ngay lập tức Các nước cũng yêu cầu cần có báo cáo thường xuyên về hệ thống chính sách thương mại của các nước thành viên, đây là một bước tiến hết sức quan trọng nhằm làm minh bạch hóa hệ thống chính sách của các nước trên thế giới
Với kết quả của vòng đàm phán Uruguay người ta ước tính thuế quan nói chung
sẽ giảm đi trung bình khoảng 40% Dự kiến Mỹ sẽ giảm 35%, Canada 45%, ấn Độ 55%, Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) 41%, Đài Loan giảm khoảng 30 - 50% cho hàng công nghiệp và nông sản Với mức thuế hàng nông sản nói riêng, trong vòng 6 năm tới tính từ năm 1995 sẽ giảm 36% và mức trợ cấp gây phương hại cho thương mại bình đẳng cũng sẽ giảm 20% Do đó, người ta dự đoán rằng từ năm 1995 đến năm 2002, buôn bán quốc tế sẽ tăng thêm từ 213 - 272 tỷ đô la mỗi năm, xuất khẩu thế giới mỗi năm tăng 5% nhập khẩu tăng 3,5%
* Chương trình nghị sự năm 1986: 15 chủ đề tại vòng đàm phán Uruguay7
Thuế quan
Hàng rào phi thuế quan
Sản phẩm tài nguyên thiên nhiên
Hàng dệt may
Nông nghiệp
Sản phẩm nhiệt đới
Các điều khoản của GATT
Các hệ thống qui định của vòng đàm phán Tokyo
Trang 17GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Các biện pháp đầu tư
Giải quyết tranh chấp
Hệ thống GATT
Dịch vụ
1.2 Mục tiêu,chức năng và các nguyên tắc của WTO
1.2.1 Mục tiêu:
WTO với tư cách là một Tổ chức Thương mại thế giới, thực hiện những mục tiêu
đã được nêu trong Lời nói đầu của Hiệp định GATT 1947 là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành viên, đảm bảo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thương mại, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của thế giới Cụ thể WTO có 3 mục tiêu sau:
Thứ nhất, thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới
phục vụ cho sự phát triển, ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường;
Thứ hai, thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và
tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế, bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được thụ hưởng những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới;
Thứ ba, nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành
viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng
1.2.2 Chức năng:
Theo ghi nhận tại Ðiều III, Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, có năm chức năng
Thứ nhất: Là tổ chức các cuộc đàm phán mậu dịch đa biên mà nội dung của nó
rất đa dạng đề cập lớn tới nhiều lĩnh vực khác nhau Thông qua các cuộc đàm phán như vậy, việc tự do hoá mậu dịch của các nước trên thế giới được phát triển, đồng thời những qui tắc quốc tế mới cũng được xây dựng và sửa đổi theo yêu cầu của thời đại
Thứ hai: Là một luật lệ quốc tế chung được các nước thành viên cùng nhau ký
kết WTO đề ra những qui tắc quốc tế về thương mại và đảm bảo các nước thành viên của WTO phải thực hiện các nguyên tắc đó Đặc trưng của các quyết định và qui tắc của WTO là nó có hiệu lực bắt buộc tất cả các thành viên và có khả năng làm cho mọi thành viên có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện Bất cứ một nước thành viên nào một khi đã thừa nhận "Hiệp định WTO" và những hiệp định phụ khác của WTO thì nước
đó cần phải điều chỉnh hay chuyển các quy định pháp luật và các thủ tục hành chính của mình theo các quy định của WTO
Trang 18GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Thứ ba: Là khả năng giải quyết các mâu thuẫn và tranh chấp mậu dịch quốc tế
WTO có chức năng như là một toà án giải quyết các tranh chấp nảy sinh giữa các thành viên trong các lĩnh vực liên quan Bất cứ một thành viên nào của WTO khi thấy lợi ích của nước mình đang bị xâm hại trong hoạt động kinh tế ở một thị trường nào đó
vì có thành viên khác đang thực hiện chính sách trái với các qui tắc của WTO thì có quyền khởi tố lên cơ quan giải quyết mâu thuẫn mậu dịch của WTO và yêu cầu nước
đó ngừng các hoạt động kinh tế xâm hại đến lợi ích của mình Bất cứ thành viên nào cũng phải chấp nhận khi bị các thành viên khác khởi tố lên WTO vì đây là một trong những nghĩa vụ của mọi thành viên, không nước nào có thể tránh khỏi
Thứ tư: Là phát triển nền kinh tế thị trường Để nền kinh tế thị trường hoạt động
và nâng cao được hiệu quả, WTO xúc tiến việc giảm nhẹ qui chế Phần lớn các nước trước kia theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung hiện nay đều đang chuyển sang nền kinh tế thị trường đã và đang làm thủ tục để xin gia nhập WTO Qua các cuộc đàm phán cần thiết để gia nhập WTO, các nước này có thể tìm hiểu được về hệ thống kinh tế thị trường và đồng thời xắp xếp lại những chế độ và qui tắc để có thể
quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường
Thứ năm, Ðể đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan điểm trong việc tạo lập các
chính sách kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới và các cơ quan trực thuộc của nó
1.2.3 Nguyên tắc:
Các hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) rất nhiều và phức tạp bao gồm cả nông nghiệp, dệt may, ngân hàng, viễn thông, nông nghiệp và cả thực phẩm Tuy nhiên, xuyên suốt các hiệp định này là những nguyên tắc, và chúng được coi là nền tảng của hệ thống thương mại đa phương WTO hoạt động dựa trên năm nguyên tắc chính là:
Thứ nhất, thương mại không phân biệt đối xử Mỗi thành viên sẽ dành cho sản
phẩm của một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho sản phẩm của một nước thứ 3 (Đãi ngộ Tối huệ quốc - MFN) 8 Tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ trong nguyên tắc này Chẳng hạn, các nước có thể thiết lập một hiệp định thương mại tự do áp dụng đối với những hàng hoá giao dịch trong một nhóm quốc gia, phân biệt với hàng từ bên ngoài nhóm
Thứ hai, tạo dựng nền tản ổn định cho thương mại Đôi khi cam kết không tăng
một cách tuỳ tiện các hàng rào thương mại (thuế quan và phi thuế quan khác) đem lại
sự an tâm rất lớn cho các nhà đầu tư Với sự ổn định, dễ dự đoán, thì việc đầu tư sẽ
Trang 19GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
được khuyến khích, việc làm sẽ được tạo ra nhiều hơn và khách hàng sẽ được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường Hệ thống thương mại đa phương là một
nỗ lực lớn của các chính phủ để tạo ra một môi trường thương mại ổn định và có thể
dự đoán Hệ thống thương mại này cũng cố gắng cải thiện khả năng dễ dự đoán và sự
ổn định theo những cách khác Một trong những cách làm phổ biến là ngăn chặn việc
sử dụng hạn ngạch và các biện pháp khác của các nước hạn chế số lượng hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, WTO cũng giúp các nguyên tắc thương mại của các nước trở nên
rõ ràng và minh bạch hơn Rất nhiều hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công khai chính sách
Thứ ba, bảo đảm thương mại ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán.Các
hàng rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương
Thứ tư, tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng WTO đôi khi được
miêu tả như là một hệ thống "thương mại tự do"9
, tuy nhiên điều đó không hoàn toàn chính xác Hệ thống này vẫn cho phép có sự tồn tại của thuế quan và, trong một số trường hợp nhất định, vẫn cho phép có các biện pháp bảo hộ Như vậy, nói một cách chính xác hơn thì WTO đem lại một sự cạnh tranh lành mạnh và công bằng hơn WTO cũng có thể hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định
Thứ năm, điều kiện đặc biệt dành cho các thành viên đang phát triển Các ưu đãi
này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một số quyền và không phải thực hiện một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụ hay thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách
1.3 Sự hoàn chỉnh của WTO từ tổ chức tiền thân GATT
1.3.1 WTO là một khuôn khổ để đàm phán:
Người ta thường nói, bản thân sự ra đời của WTO là kết quả của các cuộc đàm phán Sau khi ra đời, WTO đang tiếp tục tổ chức các cuộc đàm phán mới “Tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán” Có thể nói, WTO chính là một diễn đàn để các quốc gia, các thành viên tiến hành thoả thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên Các
bị lạm dụng bởi các nước giàu có
Trang 20GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
hoạt động mà WTO đang xúc tiến hiện nay chủ yếu xuất phát từ những cuộc đàm phán diễn ra năm 1986 đến 1994 mang tên Vòng đàm phán Uruguay, và từ những cuộc trước đó trong khuôn khổ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)
Hiện nay, WTO đang tổ chức rất nhiều cuộc đàm phán mới trong khuôn khổ
“Chương trình phát triển Doha” được khởi xướng từ năm 200110
Đối với nước gặp phải những rào cản trong thương mại và muốn vượt qua chúng, thì đàm phán góp phần thúc đẩy tự do hóa thương mại Tuy nhiên, WTO không chỉ tập trung vào mục tiêu tự do hóa thương mại, trong một số trường hợp,WTO còn đề ra những quy định ủng hộ việc duy trì rào cản thương mại, ví vụ như trong trường hợp
bảo vệ người tiêu dùng hay ngăn chặn sự lan tràn của một dịch bệnh nào đó
1.3.2 WTO và các hiệp định mang tính thường trực lâu dài:
Nếu như GATT chỉ mang tính chất tạm thời Hiệp định chung về thương mại và thuế quan chưa bao giờ được quốc hội các nước phê chuẩn; nó không có qui định nào
về việc thành lập một tổ chức nhất định thì WTO là một tổ chức quốc tế được thành lập bởi sự nhất trí của các quốc gia cường quốc thương mại WTO có nền tảng pháp lý vững chắc, chủ yếu là những hợp đồng theo đó chính phủ các nước cam kết chính sách thương mại trong khuôn khổ nhưng vấn đề đã thỏa thuận Mặc dù do các chính phủ đàm phán và ký kết, song những bản hiệp định này là để giúp đỡ các nhà sản xuất hàng hóa, dịch vụ cũng như các nhà sản xuất, nhập khẩu triển khai các hoạt động của mình, đồng thời vẫn cho phép chính phủ các nước đáp ứng được mục tiêu xã hội và tiêu chuẩn môi trường
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT chỉ giải quyết các vấn đề liên quan đến thương mại hàng hoá do “các bên tham gia ký kết” Trong khi đó WTO
là tổ chức kế thừa và phát triển GATT, hiệp định GATT tồn tại cùng với các hiệp định khác của WTO như hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS); hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) WTO đã đưa 3 hiệp định này vào chung một tổ chức
Hệ thống các hiệp định thương mại đa biên đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho tự do thương mại mà vẫn tránh được những tác hại không mong muốn Đó là xóa
bỏ những rào cản, thông báo những quy định thương mại hiện hành trên thế giới cho các cá nhân , doanh nghiệp và cơ quan nhà nước đồng thời đảm bảo với họ rằng sẽ không có thay đổi đột ngột nào trong các chính sách đang được áp dụng
10
Chương trình nghị sự của Vòng đàm phán Doha đề cập bảy nhóm vấn đề: nông nghiệp; dịch vụ; sản phẩm phi nông nghiệp; chống bán phá giá; thương mại môi trường; và các vấn đề mới đặt ra tại Hội nghị Bộ trưởng WTO đầu tiên họp tại Singapo như đầu tư, chính sách cạnh tranh Vòng đàm phán Doha sẽ là bước đi tích cực nhằm tự
do hóa thương mại toàn cầu một cách toàn diên và sâu sắc hơn
Trang 21GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
1.3.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO mang tính tự động và nhanh chóng:
Quan hệ thương mại thường làm nảy sinh những lợi ích mâu thuẫn nhau Tất cả các hiệp định kể cả các hiệp định được các nước thành viên đàm phán một cách kỹ lưỡng cũng cần phải được giải thích Cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp là đưa ra một thủ tục trung gian dựa trên cơ sở pháp lý đã thỏa thuận Đây chính là mục tiêu của quá trình giải quyết tranh chấp nêu trong các Hiệp định của WTO
Trước đây việc giải quyết tranh chấp giữa các nước ký kết GATT được dựa vào hai cơ chế chủ yếu :
Theo điều khoản tham vấn và điều khoản Bảo vệ các ưu đãi và lợi ích
Cơ chế giải quyết tranh chấp của mỗi hiệp định đa phương
Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT còn bị những hạn chế:
Các nghị quyết đạt được không giải quyết được những tranh chấp phát sinh, thường dẫn đến việc các bên thương lượng hoà giải là chính
Cơ chế giải quyết tranh chấp không mang tính tự động do vậy bên bị kiện có thể dễ dàng gây khó khăn để ngăn cản một nhóm chuyên trách (Nhóm chuyên gia) tiến hành hoạt động của mình
Thời hạn tiến hành qui trình giải quyết tranh chấp quá dài
Hệ thống không có cơ chế bảo đảm cho các nghị quyết được thực hiện
Những khiếm khuyết trên làm giảm bớt những giá trị của tự do hoá thương mại mà
hệ thống thương maị đa phương đem lại các nước đã vấp phải nhiều khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp với các đối tác mạnh hơn mình
Đối với WTO, Tổ chức Thương mại Thế giới đã đưa ra được một Cơ chế giải quyết tranh chấp hoàn chỉnh hơn, cho phép các mối quan hệ trong thương mại quốc tế được giải quyết một cách công bằng hơn, hạn chế được những hành động đơn phương, độc đoán của các cường quốc thương mại, cho phép nhanh chóng tháo gỡ những ách tắc thường xảy ra và khó giải quyết trước đây Các thủ tục của WTO dựa trên qui định luật pháp và giúp cho hệ thống thương mại an toàn và dễ dự báo hơn Hệ thống này dựa trên các qui tắc được xác định rõ ràng với cả biểu thời gian để hoàn thành một vụ tranh chấp Một nhóm chuyên gia sẽ được thành lập cho mỗi tranh chấp Nhóm này sẽ đưa ra các qui định đầu tiên và các thành viên WTO có thể ủng hộ hay phản đối, các kháng cáo dựa trên luật là có thể chấp nhận được Các thành viên WTO đều nhất trí rằng khi mà một nước thành viên khác đang vi phạm qui tắc thương mại, họ sẽ sử dụng hệ thống thương mại đa biên để giải quyết tranh chấp thay cho việc thực hiện các hành động đơn phương
Trước đây GATT có thủ tục để giải quyết tranh chấp nhưng nó chưa đưa ra được thời gian biểu cụ thể, các qui định dễ bị cản trở và nhiều vụ vẫn không giải quyết được sau một thời gian dài WTO đã đưa ra một quy trình giải quyết tranh chấp với thời gian
Trang 22GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
và thủ tục được xác định rõ ràng hơn Khoảng thời gian để giải quyết một vụ tranh chấp dài hơn trước kia Thời hạn cuối cùng cho mỗi giai đoạn giải quyết tranh chấp rất linh hoạt Hiệp định nhấn mạnh việc giải quyết nhanh chóng là cần thiết Các thủ tục
và thời gian biểu phải được tuân theo trong quá trình giải quyết
Vòng đàm phán Uruguay cũng cho phép các nước bị thua trong các tranh chấp không thông qua quyết định Theo thủ tục của GATT các quyết định chỉ có thể được thông qua theo các thoả hiệp Điều đó có nghĩa là chỉ cần một sự phản đối nào đó cũng
có thể ngăn việc thi hành quyết nghị Nhưng hiện nay các quyết nghị được thông qua một cách tự động, trừ khi có một thoả hiệp để từ chối một quyết nghị Bất kỳ một nước nào muốn ngăn cản một quyết nghị cũng cần phải thuyết phục các thành viên khác (kể
cả đối thủ) đồng ý với quan điểm của mình
Có thể nói, Cơ chế giải quyết tranh chấp được coi là một trong những thành tựu lớn nhất của WTO
Trang 23GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
CHƯƠNG 2
CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP WTO
Là một tổ chức quốc tế dựa trên các nghĩa vụ pháp lý (rule-based), GATT trước kia cũng như WTO hiện nay đều cần có một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả và công bằng, nhằm bảo đảm tất cả các nước thành viên, dù lớn hay nhỏ dù là nước phát triển hay đang phát triển cũng phải tuân thủ “luật chơi chung” của thương mại quốc tế
Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 đã được hầu hết các chuyên gia về thương mại quốc tế đánh giá rất cao và được công nhận như là một thành công quan trong nhất của GATT sau gần 50 năm tồn tại Giáo sư luật kinh tế quốc tế Ernst-Ulrich petersmann, một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về GATT/WTO đã
có nhận xét như sau “cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT có tầm quan trọng sống còn đối với việc duy trì một hệ thống thương mại quốc tế mở cửa, bởi vì cơ chế đó không đơn thuần giải quyết êm thấm các tranh chấp mà nó còn là công cụ bảo đảm sự tin cậy về mặt pháp lý đối các cam kết đối với chính phủ và quan trọng hơn cả đó là một vũ khí dùng để răng đe những nước chủ trương chính sách thương mại dựa trên sức mạnh”11 Những nguyên tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp của GATT đã được WTO kế thừa và phát triển Từ khi được thành lập 1/1995 đến nay, Cơ quan giải quyết tranh chấp thật sự đã trở thành một trong những chế định có quyền nhất trên thế giới Ngay cả các siêu cương như EU, Mỹ cũng phải đưa các tranh chấp của họ ra giải quyết trước WTO và chấp nhận thực hiện các quyết định của Cơ quan giải quyêt tranh chấp, mặc dù đôi lúc các siêu cường này công khai phản đối lại các quyết định này, một điều khó có thể tưởng tượng tại một tổ chức quốc tế khác như Liên hợp quốc12
2.1 Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được coi là một đổi mới quan trọng trong thương mại quốc tế Cơ chế này là một sự kế thừa của cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại đa biên trong Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan GATT
Thực vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 tồn tại và phát triển dựa trên các Điều XXII và Điều XXIII Hiệp định GATT Một số nguyên tắc và thực tiễn của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT đã được pháp chế hóa trong các quyết định và hiệp định của các Bên ký kết Hiệp định GATT 194713
. Cơ chế giải quyết tranh chấp hiện nay của WTO về cơ bản vẫn dựa trên và tuân thủ những nguyên tắc giải
Ví dụ như phản ứng gay gắt của EU về một số quyết định gần đây của cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO
về vụ tranh chấp về chuối và thịt bò với Mỹ
13
Sổ tay về Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO, Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, NXB chính trị Quốc gia 2005, trang 2
Trang 24GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
quyết tranh chấp đã được áp dụng theo các Điều XXII và XIII của GATT 1947 Tuy nhiên, Vòng đàm phán Uruguay đã có những sửa đổi và chi tiết hóa hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT trước đó Điều XXII quy định về thủ tục tư vấn
(consultation) giữa các bên ký kết liên quan đến việc áp dụng và thực hiện GATT
Điều XXIII quy định về thủ tục hòa giải giữa các bên có tranh chấp trong trường hợp
quyền lợi thương mại của một nước bị vô hiệu hóa (nullification) hoặc bị suy giảm (impairment) do hành vi của một bên ký kết khác Hiệp định GATT 1947 quy định cơ
quan thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Đại hội đồng GATT Trên thực tế phần lớn công việc giải quyết tranh chấp được Đại hội đồng GATT giao phó vào thời gian đầu cho các nhóm công tác bao gồm đại diện của tất cả các Bên ký kết có liên quan, bao gồm cả các bên tranh chấp để giải quyết Các nhóm công tác này thông qua báo cáo trên cơ sở quyết định đồng thuận Không lâu sau đó nhóm công tác đã bị thay thế bởi nhóm chuyên gia gồm từ ba tới năm chuyên gia độc lập không liên quan tới các bên tranh chấp Các nhóm chuyên gia này viết những báo cáo độc lập kèm theo khuyến nghị và phán quyết nhằm giải quyết tranh chấp và chuyển tới Hội đồng GATT Những báo cáo này có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên tranh chấp một khi được
sự chấp nhận của Hội đồng GATT Vì vậy các Bên ký kết GATT đã tạo ra một hệ thống án lệ và áp dụng cách tiếp cận ngày càng phụ thuộc vào các quy tắc pháp luật được thông qua trước đó và phương thức lập luận như của toà án trong các báo cáo của
họ
Các Bên ký kết GATT 1947 đã dần dần pháp chế hóa và đôi khi cũng sửa đổi những thực tiễn giải quyết tranh chấp khi có thủ tục phát sinh Những quyết định và thỏa thuận quan trọng nhất về giải quyết tranh chấp trước Vòng đàm phán Uruguay bao gồm:
Quyết định về các thủ tục theo Điều XXIII (5/4/1966);
Thỏa thuận về thông báo, tham vấn, giải quyết tranh chấp và giám sát (28/11/1979);
Quyết định về giải quyết tranh chấp trong Tuyên bố cấp Bộ trưởng (29/11/1982);
Quyết định về giải quyết tranh chấp (30/11/1984)
Cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT mang tính chất “hòa giải” nhiều hơn là
“tranh tụng”, có mục đích làm cho các bên tranh chấp hiểu nhau hơn nhằm đi đến một giải pháp mà hai bên điều chấp nhận được
Trang 25GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Nhiệm vụ hòa giải được giao cho nhóm chuyên gia (Panel)14
, bao gồm 3 hoặc 5 thành viên thường được chọn trong số những nhà ngoại giao làm việc tại phái đoàn đại diện ở Geneva hoặc quan chức chính phủ của những nước thứ ba, có kinh nghiệm nhiều năm về những vấn đề của GATT Nhóm chuyên gia có nhiệm vụ xem xét một cách khách quan thực chất nội dung tranh chấp,việc vi phạm Hiệp định nếu có và những thiệt hại có thể có đối với một bên tranh chấp và sẽ soạn thảo một báo cáo để trình lên Đại hội đồng GATT xem xét Việc thông qua báo cáo được thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận Đó là nguyên tắc quan trọng nhất trong GATT 1947, kể cả khi chuyển một tranh chấp tới nhóm chyên gia cũng cần có sự đồng thuận Sự đồng thuận
có nghĩa là không có sự phản đối từ bất kỳ Bên ký kết nào đối với quyết định đó Đây chính là một điểm yếu trong hệ thống này nếu bên bị khiếu kiện có thể cản trở việc thành lập Nhóm chuyên gia Hơn nữa, việc thông qua báo cáo của Nhóm chuyên gia và việc cho phép thực hiện biện pháp trả đũa đối với việc không thực hiện của bên bị khiếu kiện cũng cần phải có sự đồng thuận Những quyết định như vậy cũng có thể bị bên bị khiếu kiện cản trở
Từ đây nhiều vấn đề có thể phát sinh khi bên bị khiếu kiện dùng quyền của mình
để ngăn cản việc thành lập Nhóm chuyên gia, nếu họ nghĩ rằng họ có thể thua kiện Ngoài ra, cũng có thể dùng quyền phủ quyết của mình chống lại việc cho phép sử dụng biện pháp trả đũa kinh tế nhằm vào họ Những hành động này cần phải được loại bỏ, chúng ta có thể đặt vào phạm vi là một quốc gia, nếu các hệ thống xét xử trong một nước phải hoạt động trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận như vậy thì có lẽ hầu hết các vụ xét xử theo hệ thống này sẽ thất bại Để loại bỏ được hành động này là một nhiệm vụ hết sức nhiều khó khăn vì, về lý thuyết bất kỳ bên ký kết nào cũng có thể phản đối hoặc trì hoãn việc thành lập Nhóm chuyên gia và phong toả việc thông qua báo cáo
Lý thuyết là vậy, thực tế thì cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 không đến mức quá bi quan Các bên ký kết là bị đơn thường không ngăn cản các quyết định đồng thuận và cho phép tiến hành giải quyết các tranh chấp với sự tham gia của họ, ngay cả khi quyết định đó của họ trước mắt sẽ có hại cho họ Họ làm như vậy vì những lợi ích lâu dài của mình vì biết rằng việc sử dụng thái quá quyền phủ quyết thì sẽ bị các bên khác trả đũa lại tương tự Vì vậy, các Nhóm chuyên gia cũng đã được thành lập và các báo cáo của họ thường được thông qua mặc dù cũng bị trì hoãn (dù chỉ áp dụng biện pháp trả đũa một lần)
14
Thuật ngữ Panel (trong tiếng pháp gọi là groupe special) không có nghĩa là bồi thẩm đoàn (Jury) như trong một số tài liệu đã dịch, vì về mặt pháp lý thì Panel của GATT/WTO không có chức năng xét xử, chức năng này thuộc về DSB (Dispute Settlement Body – Cơ quan quan giải quyết tranh chấp) Panel chỉ có nghĩa vụ xem xét mọi khía cạnh của vụ tranh chấp trên cơ sở quy định có liên quan dự thảo một báo cáo để trình lên DSB quyết định
Trang 26GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Trên cơ sở nghiên cứu thực tế, người ta đã kết luận rằng trong phần lớn các trường hợp, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947 cũng đã mang lại những giải pháp thoả đáng cho các bên Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng thực chất những thống kê như vậy chỉ mới tính đến những đơn kiện thực tế đã được đưa ra Có rất nhiều tranh chấp chưa từng được đưa ra trước GATT vì bên khiếu kiện nghi ngờ rằng bên bị khiếu kiện sẽ dùng quyền phủ quyết Vì vậy, nguy cơ của việc dùng quyền phủ quyết cũng
đã làm suy yếu cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT Ngoài ra, trong thực tế việc sử dụng quyền phủ quyết đã diễn ra, đặc biệt là trong những lĩnh vực nhạy cảm về chính trị hoặc quan trọng về kinh tế, như chống bán phá giá Kết quả là vào những năm 1980
hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT đã bị suy yếu dần vì các bên ký kết ngày càng hay cản trở việc thành lập Nhóm chuyên gia và việc thông qua các báo cáo của Nhóm chuyên gia
Ngay cả khi các báo cáo của Nhóm chuyên gia được thông qua thì nguy cơ một bên cản trở việc thông qua báo cáo chắc chắn ảnh hưởng tới nội dung các phán quyết của Nhóm chuyên gia Nhóm chuyên gia biết trước rằng báo cáo của họ cũng phải được bên thua kiện chấp thuận thì mới được thông qua Vì vậy, động cơ đưa ra phán quyết không chỉ dựa trên cơ sở giá trị pháp lý của vụ kiện, mà còn phải tính đến một giải pháp mang “tính ngoại giao” thông qua việc đưa ra một thoả hiệp mà cả hai bên (bên nguyên và bên bị) đều có thể chấp nhận được
Ngoài ra, việc thông qua một số ''bộ luật'' của Vòng Tokyo 1979 với những cơ chế giải quyết tranh chấp riêng rẽ (mua sắm chính phủ, hàng không dân dụng ) đã làm ảnh hưởng đến tính thống nhất và làm suy yếu cơ chế giải quyết tranh chấp chung của GATT Một số tranh chấp mới nảy sinh như tranh chấp về những biện pháp thương mại liên quan đến đầu tư, về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, về thương mại dịch vụ… lại không thuộc thẩm quyền của GATT 1947 và việc giải quyết những tranh chấp đó bên ngoài hệ thống thương mại đa phương nhiều khi đã dẫn đến các biện pháp trừng phạt đơn phương đối với các nước đang phát triển
Vì thế những yếu kém về mặt cơ cấu của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT
là rất đáng kể, mặc dù cuối cùng nhiều tranh chấp cũng đã được giải quyết
2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO
2.2.1 Phạm vi điều chỉnh của Cơ chế giải quyết tranh chấp:
Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO áp dụng đối với tất cả các tranh chấp được đưa ra trong khuôn khổ các hiệp định của WTO được liệt kê trong Phụ lục I của DSU
Trong DSU, những hiệp định này được nhắc tới như là “các Hiệp định điều chỉnh”, bản thân DSU và Hiệp định WTO (liên quan đến các điều I - XVI) cũng nằm trong số các hiệp định điều chỉnh Trong nhiều vụ kiện được đưa ra cơ chế giải quyết
Trang 27DSU cho phép có một cơ chế giải quyết tranh chấp thống nhất và chặt chẽ cho việc áp dụng chung đối với tất cả các hiệp định điều chỉnh Nó cũng kết thúc “GATT theo món” trước đó khi mà các hiệp định khác nhau thì không chỉ có số lượng các chữ
ký khác nhau mà còn có các nguyên tắc giải quyết tranh chấp riêng biệt nhau Trừ một
số trường hợp ngoại lệ, DSU được áp dụng thống nhất đối với các tranh chấp trong khuôn khổ tất cả các hiệp định của WTO15
2.2.2 Các nguyên tắc, đối tượng giải quyết tranh chấp:
Tranh chấp trong WTO thường là về vi phạm cam kết Các Thành viên WTO nhất trí nếu họ tin rằng các thành viên đối tác vi phạm nguyên tắc thương mại, họ sẽ sử dụng hệ thống đa phương về giải quyết tranh chấp thay vì thực hiện các hành vi đơn phương Điều này có nghĩa là không thay đổi những quy trình đã cam kết và tôn trọng các phán quyết
Để bảo vệ cho sự tôn nghiêm của pháp luật, sự vững chắc hơn của hệ thống thương mại quốc tế, Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xây dựng trên bốn nguyên tắc: công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được đối với các bên tranh chấp, phù hợp với mục tiêu bảo toàn các quyền và nghĩa, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan trên cơ sở tuân thủ các quy phạm của luật tập quán quốc
tế về giải thích điều ước quốc tế
Ngoài ra, WTO cũng sẽ tiếp tục áp dụng cách giải quyết tranh chấp của GATT
1947 như: tái lập sự cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ; giải quyết tích cực các tranh chấp; cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trả đũa khi chưa được phép của WTO Nguyên tắc cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trừng phạt có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của hệ thống thương mại toàn cầu Tuy nhiên, nguyên tắc này không bào hàm rõ ràng ý có cấm các nước thành viên không được đơn phương xác định các hành vi của nước thành viên khác có vi phạm các hiệp định của WTO hay không Lợi dụng sự không rõ ràng này nên một số nước thành viên phát triển như Mỹ, EU vẫn tiếp
15
Ví dụ về ngoại lệ an ninh, xem “ Thương mại và ngoại lệ về an ninh trong WTO”, Lý vân Anh – Nguyễn Thị
Hồng Liên, Nghiên cứu Quốc tế - số 74 năm 2008, trang 67 – 81
Trang 28GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
tục đơn phương áp dụng các đạo luật của riêng mình như điều khoản Super 301 trong luật thương mại Mỹ hoặc quy định 384/96 của Hội đồng châu Âu để “kết án” và trừng phạt các nước thành viên WTO khác
Các tranh chấp được WTO giải quyết chủ yếu liên tới việc không giữ lời hứa các thành viên sẽ sử dụng cơ chế đa phương để giải quyết các tranh chấp thay vì thực thi các biện pháp đơn phương nếu họ cho rằng các thành viên khác vi phạm các qui tắc thương mại Nói cách khác họ sẽ áp dụng các thủ tục đã được thỏa thuận và tôn trọng các phán quyết được đưa ra
Các khiếu kiện có thể được giải quyết theo Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO được qui định tại Điều XXIII.1 GATT 1994 bao gồm:
Khiếu kiện có vi phạm (violation complaint): là loại đơn kiện phổ biến được gọi là “đơn kiện vi phạm” theo Điều XXIII:1(a) của GATT 1994 Loại đơn kiện này yêu cầu phải có “sự triệt tiêu hoặc làm suy giảm lợi ích” do “một thành viên khác không thực hiện nghĩa vụ của mình” theo GATT 1994 Nếu bên khiếu kiện chứng minh được trước Nhóm chuyên gia và Cơ quan phúc thẩm rằng đã thỏa mãn hai điều kiện này thì sẽ “thắng” kiện
Khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaint): là loại khiếu kiện phát sinh khi một quốc gia ban hành một biện pháp thương mại gây thiệt hại (làm mất hay phương hại đến) các lợi ích mà quốc gia khiếu kiện có được từ Hiệp định hoặc cản trở việc thực hiện một trong các mục tiêu của Hiệp định, không phụ thuộc vào việc biện pháp đó có vi phạm Hiệp định hay không Điều 26.1 trong DSU đề cập cụ thể những khiếu kiện không vi phạm theo nghĩa của Điều XXIII:1(b) của GATT 1994 và yêu cầu bên khiếu kiện phải đưa ra “bản giải trình chi tiết lý lẽ biện hộ cho bất kỳ khiếu kiện nào liên quan tới một biện pháp mà biện pháp này không mâu thuẫn với hiệp định thích hợp có liên quan”
Khiếu kiện dựa trên “sự tồn tại một tình huống” (“situation” complaint): trong trường hợp này, quốc gia khiếu kiện cũng phải chứng minh về thiệt hại mà mình phải chịu hoặc trở ngại gây ra đối với việc đạt được một mục tiêu của Hiệp định Lịch sử đàm phán cho thấy Điều XXIII:1(c) của GATT 1994 về cái được gọi là “khiếu kiện tình huống” có mục đích nhằm đóng một vai trò trong các tình huống khẩn cấp về kinh
tế vĩ mô như các cuộc suy thoái chung, thất nghiệp cao, giá cả hàng hóa suy giảm, khó khăn về cán cân thanh toán
Như vậy, tranh chấp trong khuôn khổ WTO không nhất thiết phát sinh từ một hành vi vi phạm các qui định tại các Hiệp định của tổ chức này của một hoặc nhiều quốc gia thành viên (thông qua việc ban hành/thực thi một biện pháp thương mại vi phạm nghĩa vụ của quốc gia đó theo WTO) Tranh chấp có thể phát sinh từ một “tình huống” khác hoặc khi một biện pháp thương mại do một quốc gia thành viên ban hành
Trang 29GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
tuy không vi phạm qui định của WTO nhưng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quốc gia thành viên khác
Qui định này thực chất là sự kế thừa qui định trước đây của GATT 1947 về phạm
vi áp dụng của cơ chế giải quyết tranh chấp: một qui định phản ánh sự mềm dẻo trong các qui định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO theo đó một bên có thể phải nhượng bộ trong một vấn đề cụ thể (mà mình có quyền hoặc chí ít là không bị cấm) để tránh gây thiệt hại cho bên (các bên) khác hoặc nhằm đạt được một mục tiêu nhất định của Hiệp định liên quan
Một vấn đề cần lưu ý, khi vụ kiện xảy ra thi ai sẽ là người tham gia Chỉ hai nhóm đối tượng có thể tham gia:
Các bên tranh chấp và bên thứ ba
Chỉ có các quốc gia thành viên WTO mới là các bên tham gia vào Cơ chế giải quyết tranh chấp và có thể tham gia cơ chế này với tư cách là các bên tranh chấp hoặc bên thứ ba Ban Thư ký WTO, các nước quan sát viên của WTO, các tổ chức quốc tế khác và các chính quyền địa phương và khu vực không được phép khởi kiện thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO
DSU gọi thành viên đưa ra tranh chấp là “bên khởi kiện” hoặc “bên khiếu kiện”,
do vậy đối tượng còn lại có thể dùng là “bên bị khiếu kiện” hoặc “bên bị kiện” Không
có thuật ngữ nào cho cụm từ “bên được đề nghị tham vấn”
Các đối tượng phi chính phủ
Chỉ các chính phủ thành viên WTO mới có thể đưa tranh chấp nên các cá nhân hoặc công ty tư nhân không trực tiếp tiếp cận với cơ chế giải quyết tranh chấp, ngay cả khi họ chính là những người bị tác động tiêu cực trực tiếp (với tư cách là nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu) bởi các biện pháp bị cho là đã vi phạm Hiệp định WTO Điều này cũng áp dụng cho các tổ chức phi chính phủ khác có sự quan tâm chung tới vấn đề được xử lý trong cơ chế giải quyết tranh chấp (các tổ chức phi chính phủ thường được nhắc đến như các NGOs) và họ cũng không thể khởi kiện theo các thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO
Tuy nhiên, các tổ chức này có thể gây ảnh hưởng hoặc thậm chí gây áp lực lên chính phủ của một thành viên WTO liên quan đến việc đưa ra tranh chấp Trên thực tế, nhiều thành viên WTO đã chính thức thông qua luật pháp trong nước mà theo đó các bên tư nhân có thể đệ đơn lên chính phủ của họ đề nghị đưa tranh chấp ra WTO
2.2.3 Các phương thức giải quyết tranh chấp:
Ngoài cơ chế của DSU, các nước thành viên WTO còn có thể sử dụng những phương thức giải quyết tranh chấp khác trong Công pháp quốc tế như trọng tài16 liên
16
Trong phân xử trọng tài như vậy, một hướng dẫn cho trọng tài là thời hạn hợp lý để thực hiện các khuyến cáo của Nhóm chuyên gia hoặc Cơ quan Phúc thẩm không được vượt quá 15 tháng kể từ ngày thông qua báo cáo của
Trang 30GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
quốc gia (interstate arbitration), trung gian17 (mediation) và hoà giải (conciliation) Điều 25 Thoả thuận DSU quy định các nước thành viên có thể giải quyết tranh chấp với nhau thông qua trọng tài đối với những tranh chấp nếu các nước này thoả thuận nhất trí sử dụng cơ chế này và chấp nhận tuân thủ quyết định của trọng tài
Các nước cũng có thể sử dụng cơ chế trung gian hoặc hoà giải của một bên thứ
ba Riêng đối với những tranh chấp mà một bên là nước kém phát triển nhất thì Tổng giám đốc có thể đứng ra làm trung gian hoặc hoà giải
Ngoài cơ chế giải quyết tranh chấp chung ra, một số hiệp định thương mại đa biên của WTO cũng quy định những cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt Ví dụ như Hiệp định về trợ cấp có quy định thủ tục riêng về giải quyết tranh chấp liên quan đến hàng dệt trước Cơ quan giám sát hàng dệt Trong trường hợp các quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp đặc biệt khác với những quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp chung thì những quy định trong cơ chế đặc biệt thắng thế
2.2.4 Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB:)
Một cơ quan giải quyết tranh chấp hiệu quả là yếu tố quyết định đối với hoạt động của một tổ chức được vận hành trên cơ sở các luật chơi được thoả thuận trước
Cơ sở pháp lý của Cơ quan giải quyết tranh chấp hiện nay của WTO là Thoả thuận về giải quyết tranh chấp của WTO (DSU) và cơ chế này được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển án lệ của GATT 1947 dựa trên Điều XXII và XXIII Hiệp định GATT 1947
DSU lập ra DSB để giám sát việc vận dụng và thực thi chức năng của DSU Tất
cả các Thành viên của WTO đều có mặt trong DSB Tuy nhiên, chỉ những chính phủ
là thành viên của một hiệp định đa biên cụ thể mới có thể tham gia vào các quyết định của DSB liên quan đến hiệp định cụ thể đó18
Theo khoản 3 Điều IV Hiệp định thành lập WTO, “khi cần thiết Đại hội đồng (General Council) sẽ được triệu tập để đảm nhiệm phần trách nhiệm của cơ quan giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Body) được quy định tại Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding) Cơ quan giải quyết tranh chấp
có thể có chủ tịch riêng và tự xây dựng những nguyên tắc về thủ tục mà cơ quan này cho là cần thiết để hoàn thành trách nhiệm của họ”
Nhóm chuyên gia hoặc Cơ quan Phúc thẩm Tuy nhiên, như quy định rõ ràng tại Điều 21.3(c), thời hạn này có thể ngắn hoặc dài hơn, phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Cần lưu ý là nếu các bên không thể nhất trí về một trọng tài trong vòng 10 ngày sau khi đưa vấn đề ra trọng tài, Tổng Giám đốc là người chỉ định trọng tài trong vòng 10 ngày sau khi đã tham vấn với các bên
17
Cần lưu ý có một số tài liệu sử dụng thuật ngữ “can giải”
18
Cần lưu ý rằng các Thành viên WTO là các bên tham gia tất cả các Hiệp định Đa phương, nhưng chỉ giới hạn
ở Hiệp định Đa biên mà họ đã ký Hơn nữa, bảo lưu đối với các Hiệp định WTO là điều không thể nhưng có thể đối với các Hiệp định Đa phương và Đa biên ở chừng mực cho phép theo quy định của các hiệp định này
Trang 31GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Như vậy, WTO không thành lập một cơ quan giải quyết tranh chấp hoàn toàn độc lập và tách rời khỏi cơ cấu tổ chức chung của WTO Đại hội đồng vừa là cơ quan thường trực của WTO vừa là cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO Đại hội đồng gồm đại diện của tất cả các nước thành viên WTO sẽ họp khi cần thiết Cũng như Đại hội đồng, Cơ quan giải quyết tranh chấp – DSB bao gồm đại diện của tất cả các nước thành viên WTO Đó là những đại diện ngoại giao tại Geneva (trụ sở của WTO) hoặc những người đại diện thuộc Bộ Thương mại hoặc Bộ Ngoại giao của nước thành viên WTO Với tư cách là các công chức nhà nước, họ nhận các chỉ đạo từ thủ đô về lập trường và ý kiến đưa ra trong DSB Xét về chức năng thì Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO là một loại cơ quan tài phán quốc tế theo nghĩa là một cơ quan có thẩm quyền đưa ra những quyết định có tính chất ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên tranh chấp So với Tòa án công lý Quốc tế (ICJ) nơi mà các quốc gia có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận thẩm quyền tài phán của ICJ19, tại WTO tất cả các thành viên đều phải chấp nhận quyền tài phán của Cơ quan giải quyết tranh chấp Theo quy
định tại Khoản 1 Điều 2 của Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp – DSU “Cơ quan giải quyết tranh chấp được thành lập để thực hiện những quy tắc và thủ tục của Thỏa thuận này và các điều khoản về tham vấn và giải quyết tranh chấp của các hiệp định
có liên quan, trừ khi trong hiệp định có liên quan quy định khác Theo đó, DSB sẽ có thẩm quyền thành lập Nhóm chuyên gia và Cơ quan phúc thẩm, thông qua các báo của Nhóm chuyên gia và Cơ quan phúc thẩm, duy trì sự giám sát và thực hiện các phán quyết và khuyến nghị, cho phép đình chỉ việc thi hành những nhượng bộ và các nghĩa vụ khác theo các hiệp định có liên quan” Như vậy trong cơ chế giải quyết tranh
chấp của WTO thì những chức năng chính thức quan trọng nhất thuộc về DSB DSB
có quyền thành lập Nhóm chuyên gia, thông qua báo cáo của Nhóm chuyên gia và Cơ quan phúc thẩm, duy trì giám sát việc thực hiện các phán quyết và khuyến nghị, cho phép tạm hoãn những ưu đãi và các nghĩa vụ khác theo các hiệp định có liên quan
Để đảm bảo cho cơ chế vận hành được nhanh chóng và thực hiện đúng chức năng thì phải có một người đứng đầu DSB với chức danh Chủ tịch, được bổ nhiệm theo quyết định đồng thuận của các nước thành viên WTO Chủ tịch DSB có các chức năng mang tính thủ tục như thông báo tin tức cho các thành viên, chủ trì các cuộc họp, đưa ra và giới thiệu các mục trong chương trình nghị sự, dành quyền phát biểu cho các đại biểu muốn phát biểu, đề xuất quyết định và nếu quyết định được thông qua thì
19
ICJ là Toà án Quốc tế vì Công lý (International Court of Justice – ICJ) là một phân ban trực thuộc Liên Hiệp
Quốc, được thành lập vào năm 1945 với tiền thân là Toà án Thường trực Công lý Quốc tế (Permanent Court of
International Justice) có từ năm 1922 Tòa bắt đầu chính thức nhận hồ sơ, thụ lý và giải quyết tranh chấp các
vấn đề giữa các quốc gia thành viên có liên quan, cũng như làm công tác cố vấn pháp luật cho Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, cũng như các ủy ban khác trực thuộc Liên Hiệp Quốc như
đã ghi rõ trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc từ 1946
Trang 32bổ sung” mâu thuẫn nhau nếu các bên không nhất trí với thủ tục này trong vòng 20 ngày; Gia hạn thời gian tham vấn liên quan đến biện pháp mà một nước thành viên đang phát triển áp dụng, nếu các bên tranh chấp không thể nhất trí rằng các cuộc tham vấn đã kết thúc; Làm người môi giới, người hòa giải hoặc trung gian nhằm giúp các bên giải quyết tranh chấp trước khi đưa vụ kiện ra Nhóm chuyên gia theo yêu cầu của thành viên kém phát triển liên quan đến tranh chấp; được tham vấn trước khi Tổng giám đốc quyết định thành phần của Nhóm chuyên gia và trước khi Cơ quan phúc thẩm thông qua hoặc sửa đổi Quy chế về thủ tục làm việc của mình
Mọi quyết định của DBS được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận (consensus) Tuy nhiên điểm đặc biệt của nguyên tắc đồng thuận của DBS là ở chỗ nguyên tắc này được thực hiện theo chiều ngược lại với nguyên tắc đồng thuận thông thường, cụ thể là quyết định sẽ được coi là thông qua trừ khi có một sự đồng thuận không thông qua quyết định này Nguyên tắc "reverse consensus" (tạm dịch là đồng thuận ngược)20 này là một trong những điểm đặc biệt nhất giữa WTO và các tổ chức quốc tế khác Nguyên tắc này đã dẫn đến một hệ quả pháp lý cực kỳ quan trọng trong
đó là mọi quyết định của WTO hầu như chắc chắn được thông qua một khi cơ quan có thẩm quyền khuyến nghị việc thông qua đệ trình dự thảo quyết định ra trước tất cả các thành viên Nói cách khác, việc DSB quyết định các vấn đề trên cơ sở đồng thuận ngược làm ảnh hưởng của DSB đối với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO có phần hạn chế Tuy nhiên, sự tham gia của DSB trong từng giai đoạn của thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO sẽ giúp các nước thành viên WTO nắm bắt thông tin về tình hình giải quyết tranh chấp, đồng thời tạo diễn đàn chính trị để các nước thành viên trao đổi khi nảy sinh vấn đề liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO có 2 cấp gồm Nhóm chuyên gia và Cơ quan phúc thẩm (Appellate Body) DSB không trực tiếp tham gia vào quá trình xét xử tranh chấp mà chỉ là nơi đưa ra quyết định chính trị trong giải quyết tranh chấp tại WTO Nhóm chuyên gia và Cơ quan phúc thẩm giữ vai trò là các thiết chế pháp lý để đánh giá các khía cạnh pháp lý của vụ tranh chấp
20
Lưu ý, có một số tài liệu sử dụng thuật ngữ “đồng thuận tiêu cực” hay “đồng thuận phủ quyết” nhằm chỉ ra sự khác biệt với đồng thuận thông thường, ví dụ như đồng thuận thông qua một Nghị quyết, một bản Báo cáo
Trang 33GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
2.2.5 Quy chế Nhóm chuyên gia:
Theo Điều 6 của DSU, khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của nguyên đơn, Nhóm chuyên gia sẽ được thành lập chậm nhất vào ngày cuộc họp tiếp theo của DSB mà tại
đó yêu cầu này, lần đầu tiên được đưa ra như một mục của chương trình nghị sự DSB, trừ khi tại cuộc họp đó DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thành lập Nhóm chuyên gia Chú thích của quy định này chỉ rõ, nếu nguyên đơn yêu cầu, một cuộc họp DSB phải được tổ chức với mục đích này trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu, với điều kiện là phải thông báo cuộc họp trước 10 ngày Điều này có nghĩa là không có Nhóm chuyên gia thường trực tại WTO, mỗi Nhóm chuyên gia khác nhau sẽ được thành lập cho một tranh chấp Việc thành lập Nhóm chuyên gia được tiến hành
một cách tự động theo cách thức vừa nêu
Khi có hai hay nhiều thành viên yêu cầu thành lập Nhóm chuyên gia để giải quyết cùng một vấn đề thì một Nhóm chuyên gia duy nhất có thể được thành lập để xem xét những đơn kiện này có tính đến quyền của tất cả các thành viên có liên quan Một Nhóm chuyên gia duy nhất cần phải được thành lập để xem xét những đơn như vậy nếu khả thi (khoản 1 Điều 9 DSU)
Theo khoản 5 Điều 8 DSU, Nhóm chuyên gia gồm ba người, trừ khi các bên tranh chấp đồng ý một Nhóm chuyên gia gồm năm người trong vòng 10 ngày kể từ ngày thành lập Nhóm chuyên gia Các nước thành viên phải nhanh chóng được thông báo về thành phần của Nhóm chuyên gia
Nhóm chuyên gia bao gồm các cá nhân có đủ năng lực trong hoặc ngoài chính phủ, bao gồm cả những người đã từng tham gia các Nhóm chuyên gia trước đây hoặc từng đệ trình trường hợp cho Nhóm chuyên gia, là đại diện của một Thành viên hoặc một bên ký kết Hiệp định GATT 1947 hoặc đại diện cho Hội đồng hay Ủy ban của bất
kỳ một hiệp định có liên quan nào hoặc của hiệp định tương ứng trước đây, hoặc trong Ban Thư ký, giảng dạy hoặc xuất bản về luật pháp hoặc chính sách thương mại quốc
tế, hoặc là một viên chức cấp cao về chính sách thương mại của một Thành viên
Để hỗ trợ việc lựa chọn các thành viên Nhóm chuyên gia, Ban Thư ký lưu giữ một danh sách các cá nhân trong và ngoài chính phủ có các trình độ cần thiết để lựa chọn ra các thành viên Nhóm chuyên gia thích hợp21
Các chuyên viên được DSB lựa chọn trên cơ sở danh sách các chuyên gia do Ban
thư ký WTO giới thiệu Tuy nhiên, theo ghi chú khoản 3 Điều 8 của DSU, “trong trường hợp các liên minh thuế quan hay các thị trường chung là các bên trong tranh chấp, điều khoản này áp dụng đối với công dân của tất cả các nước thành viên liên
21
Khác với cơ cấu nhóm chuyên gia thời kỳ GATT 1947 chủ yếu được ưu tiên lựa chọn trong các quan chức chính phủ các nước thành viên
Trang 34GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
minh thuế quan hay thị trường chung này” Điều khoản này chỉ có ý nghĩa với EC
Thực tế, trong khi EC có rất nhiều cá nhân đủ tiêu chuẩn nằm trong danh sách của của Ban Thư ký, họ hiếm khi được lựa chọn vào Nhóm chuyên gia, mặc dù EC tham gia rất nhiều vào các thủ tục giải quyết tranh chấp (với tư cách bên khiếu kiện, bên bị khiếu kiện hay một bên có quyền lợi liên quan) Tình huống này đã khiến một vài Thành viên yêu cầu có những thay đổi về hệ thống lựa chọn thành viên Nhóm chuyên gia
Để bảo vệ quyền lợi cho các nước thành viên là nước đang phát triển, khoản 10 Điều 8 DSU quy định trong vụ tranh chấp xảy ra giữa một nước thành viên phát triển
và một thành viên đang phát triển, thì Nhóm chuyên gia phải có ít nhất một chuyên viên từ một thành viên đang phát triển Tuy nhiên, bất kỳ ai được chỉ định làm chuyên viên đều làm việc độc lập và với tư cách cá nhân và không phải là đại diện cho chính phủ hoặc đại diện cho bất kỳ tổ chức nào (khoản 9 Điều 8 DSU) Thủ tục làm việc (working procedures) của Nhóm chuyên gia được quy định tại Phụ lục 3 của DSU Phụ lục này gồm 12 quy định, trong đó có những quy định có tính chất như nguyên tắc làm việc Các nguyên tắc này bao gồm: Nhóm chuyên gia sẽ họp kín, các bên có tranh chấp và những bên thứ ba có quyền lợi liên quan chỉ có mặt tại các cuộc họp khi được Nhóm chuyên gia mời dự, việc nghị án của Nhóm chuyên gia, những tài liệu được đệ trình lên phải được giữ bí mật Tạo quyền bình đẳng ngang nhau cho các bên trong tranh chấp và tạo cơ hội cho bên thứ ba có quyền lợi liên quan đến vụ tranh chấp trình bày quan điểm của họ
Chức năng của Nhóm chuyên gia là giúp cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO làm sáng tỏ nội dung tranh chấp và khuyến nghị một giải pháp để các bên hữu quan giải quyết tranh chấp của họ, phù hợp với các hiệp định thương mại có liên quan Trong quá trình xem xét sự việc, nhóm chuyên gia có quyền tìm kiếm thông tin từ mọi nguồn và trưng cầu ý kiến giám định của các chuyên gia bên ngoài về những vấn đề kỹ
thuật được quy định tại Điều 11 DSU như sau: “Chức năng của Nhóm chuyên gia là giúp DSB hoàn thành trách nhiệm theo Thỏa thuận này và các hiệp định có liên quan
Do đó, Nhóm chuyên gia cần phải đánh giá một cách khách quan về các vấn đề đặt ra cho mình, gồm cả việc đánh giá khách quan các tình tiết của vụ việc và khả năng áp dụng và sự phù hợp với các hiệp định có liên quan, và đưa ra những nhận xét, khuyến nghị hoặc các phán quyết được quy định trong các hiệp định có liên quan Nhóm chuyên gia cần phải đều đặn tham vấn với các bên tranh chấp và tạo cho họ những cơ hội thích hợp để đưa ra một giải pháp thỏa đáng đối với các bên”
Trang 35GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Như vậy, Nhóm chuyên gia không phải là một cơ quan xét xử như tòa án hay trọng tài.22 Nhiệm vụ của Nhóm chuyên gia chỉ dừng lại ở việc điều tra thực tế, chỉ ra các cơ sở pháp lý có liên quan để giải quyết vụ viêc và kiến nghị các biện pháp giải quyết khi cần thiết Kết quả làm việc của Nhóm chuyên gia là một báo cáo trình lên DSB Báo cáo này khi được DSB thông qua thì được coi là phán quyết của DSB và có giá trị pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp phải thi hành Nếu không chấp nhận phán quyết này thi có thể kháng cáo lên cơ quan phúc thẩm
2.2.6 Cơ quan phúc thẩm thường trực (Appellate Body):
Cơ quan Phúc thẩm là một thiết chế mới trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, cho phép báo cáo của Nhóm chuyên gia được xem xét lại (khi có yêu cầu), đảm bảo tính đúng đắn của báo cáo giải quyết tranh chấp Sự ra đời của cơ quan này cũng
cho thấy rõ hơn tính chất xét xử của thủ tục giải quyết tranh chấp mới23
Theo khoản 1 Điều 17 DSU, Cơ quan phúc thẩm thường trực do DSB thành lập
Cơ quan phúc thẩm gồm bảy thành viên và mỗi vụ việc sẽ do ba người trong số bảy người đó xét xử Những người làm việc ở Cơ quan phúc thẩm sẽ làm việc luân phiên Việc luân phiên như vậy sẽ được xác định trong văn bản về thủ tục làm việc của Cơ quan phúc thẩm
DSB sẽ chỉ định người làm việc ở Cơ quan phúc thẩm trong nhiệm kỳ 4 năm và mỗi kỳ có thể được tái bổ nhiệm một lần Tuy nhiên, nhiệm kỳ của ba trong số bảy người được bổ nhiệm ngay sau khi Hiệp định WTO có hiệu lực phải hết hạn sau hai năm, được xác định bằng cách bắt thăm Chỗ khuyết, nếu có, phải được bổ sung Người được bổ nhiệm thay thế một người mà nhiệm kỳ chưa hết sẽ giữ vị trí đó trong thời gian nhiệm kỳ còn lại của người tiền nhiệm (khoản 2 Điều 17 DSU) Quy định này nhằm đảm bảo cho Cơ quan phúc thẩm luôn có sự luân phiên giữa người cũ và người mới, nhờ vậy duy trì được quá trình làm việc bình thường của Cơ quan phúc thẩm Các thành viên cơ quan phúc thẩm được lựa chọn trong số những nhân vật có uy tín và có chuyên môn được công nhận trong lĩnh vực luật pháp, thương mại quốc tế và trong những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của các hiệp định liên quan Không được liên kết với bất kỳ một chính phủ nào Cơ cấu thành viên của Cơ quan phúc thẩm phải phản ánh rộng rãi cơ cấu thành viên trong WTO, phải sẵn sàng làm việc bất cứ lúc nào
và chỉ được thông báo ngắn và phải cập nhật theo kịp các hoạt động giải quyết tranh chấp và hoạt động có liên quan khác của WTO Không tham gia vào việc xem xét các tranh chấp khi có thể tạo ra xung đột quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp (Khoản 3 Điều
Trang 36GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
Đây có thể xem như những điều kiện để được bổ nhiệm là thành viên của Cơ quan phúc thẩm Năm 1995, Cơ quan phúc thẩm được thành lập với 7 thành viên đầu tiên là công dân của Ai Cập, Nhật Bản, Đức, New Zealand, Philippines, Mỹ và Uruguay Đến nay, hầu hết các thành viên Cơ quan phúc thẩm đều là các giáo sư đại học, các luật sư đang hành nghề, các quan chức trước đây của chính phủ hoặc các thẩm phán cao cấp Bảy thành viên hiện nay là công dân của Ai Cập, Brazil, Ấn Độ,
Mỹ, Italy, Nhật Bản, Nam Phi, Chủ tịch Cơ quan phúc thẩm hiện nay là ông Giorgio Sacerdoti, người Italy (xem bảng)
Bảng 2: Nhiệm kỳ của thành viên Cơ quan phúc thẩm24
01/6/2000 – 31/5/2004
11/12/2001 – 11/12/2005 Arumugamanggalam
Là cơ quan thường trực của DSB, Cơ quan phúc thẩm có chức năng xem xét các kháng cáo về báo cáo của Nhóm chuyên gia (khoản 1 Điều 17 DSU) Cần lưu ý là chỉ các bên tranh chấp, không phải bên thứ 3, mới có quyền kháng cáo báo cáo của Nhóm chuyên gia Tuy nhiên, bên thứ ba đã thông báo cho DSB về lợi ích đáng kể đối với vấn đề tranh chấp theo khoản 2 Điều 10, có thể đệ trình văn bản cho Cơ quan phúc thẩm và phải được tạo cơ hội trình bày với Cơ quan phúc thẩm
Sau khi xem xét các kháng cáo, Cơ quan phúc thẩm có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ (reverse) các ý kiến và kết luận của Nhóm chuyên gia Tuy nhiên, giống như báo cáo của Nhóm chuyên gia, báo cáo của Cơ quan phúc thẩm chỉ có giá trị pháp
lý khi được DSB thông qua
Thủ tục làm việc của Cơ quan phúc thẩm sẽ được soạn thảo với sự tham vấn của Chủ tịch DSB và Tổng Thư ký và được thông báo các thành viên để cung cấp thông
24
Nguồn: http://www.wto.org/english/tratop_e/dispu_e/ab_members_descrp_e.htm [Truy cập 25/2/2011]
Trang 37Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm phải được DSB thông qua và được các bên chấp
nhận vô điều kiện trừ khi DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thông qua báo
cáo của Cơ quan phúc thẩm trong vòng 30 ngày sau khi báo cáo đó được chuyển đến các thành viên
Tóm lại, Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO – DSB là một bộ phận thuộc
cơ cấu tổ chức của WTO, bao gồm đại diện của các tất cá nước thành viên WTO Giúp việc cho DSB thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp Nhóm chuyên gia và Cơ quan phúc thẩm Nhóm chuyên gia chỉ được thành lập khi có nước khởi kiện Kết quả hoạt động của Nhóm chuyên gia là Báo cáo của Nhóm chuyên gia, khi báo cáo này được DSB thông qua sẽ có giá trị ràng buộc các bên Tuy nhiên, các bên tranh chấp có thể kháng cáo Báo cáo của Nhóm chuyên gia lên Cơ quan phúc thẩm Cơ quan phúc thẩm
là cơ quan thường trực của DSB Cơ quan phúc thẩm chỉ xem xét các nội dung kháng cáo chứ không điều tra lại các yếu tố thực tiễn của tranh chấp Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm có thể là giữ nguyên, sửa đổi hay hủy bỏ các ý kiến và kết luận của Nhóm chuyên gia Khi được DSB thông qua, Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm là phán quyết cuối cùng, các bên phải chấp nhận không điều kiện
2.2.7 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp:
Quy trình giải quyết tranh chấp thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới là một trong những điều kiện thiết yếu bảo đảm hiệu lực của các quy định chung Quá đó, WTO thể hiện rõ vai trò của mình đối với sự ổn định của nền kinh tế toàn cầu, giảm nguy cơ tranh chấp thương mại leo thang thành xung đột chính trị hoặc quân sự
Tranh chấp xuất hiện khi một nước thành viên áp dụng một biện pháp, chính sách thương mại mà một hoặc một số thành viên khác coi là vi phạm các quyền của họ được quy định trong các hiệp định WTO Khi một khiếu kiện đã được đệ trình lên WTO, có hai cách để giải quyết tranh chấp: các bên tìm ra một giải pháp hòa giải thống nhất với nhau, đặc biệt trong quá trình tham vấn song phương và thông qua phán
xử bao gồm cả quá trình thực thi các báo cáo của Nhóm chuyên gia và Cơ quan phúc thẩm đã được DSB thông qua Quá trình giải quyết tranh chấp của WTO có thể chia làm 3 giai đoạn như sau: tham vấn, xét xử và thực thi phán quyết
Giai đoạn tham vấn
Khoản 7 Điều 3 DSU quy định “trước khi khởi kiện, thành viên phải tự xem xét, đánh giá là liệu việc khiến kiện theo những thủ tục này có kết quả không Mục đích
Trang 38GVHD: Ths Thạch Huôn SVTH: Hồ Giúp Đở
của cơ chế giải quyết tranh chấp là để bảo đảm có một giải pháp tích cực đối với vụ tranh chấp Một giải pháp mà các bên tranh chấp có thể chấp nhận được và phù hợp với các hiệp định có liên quan thì rõ ràng cần được ưu tiên.” Tham vấn (consultation)
chính là việc các bên tranh chấp tiến hành đàm phán với nhau để đưa ra một thỏa thuận thống nhất về việc giải quyết tranh chấp Do đó, tham vấn song phương giữa các
bên là giai đoạn giải quyết tranh chấp chính thức đầu tiên “Mỗi thành viên WTO cam kết dành những cân nhắc thiện chí và tạo cơ hội thỏa đáng cho việc tham vấn về bất kỳ
ý kiến nào do một thành viên khác đưa ra có liên quan đến những biện pháp ảnh hưởng tới hoạt động của bất cứ hiệp định có liên quan nào được thực hiện trên lãnh thổ của thành viên này” (Khoản 2 Điều 4 DSU)
Thành viên yêu cầu tham vấn phải thông báo bằng văn bản cho DSB và các Ủy ban có liên quan của WTO và đưa ra lý do yêu cầu, bao gồm cả việc xác định các biện pháp đang tranh chấp và chỉ ra cơ sở pháp lý của việc khiếu kiện (including identificaton of measures at issue and an indication of legal basis for the complaint) Với quy định này cho phép các bên làm rõ những tình tiết thực tế của vấn đề và các khiếu kiện của bên khởi kiện, có thể loại bỏ được những hiểu lầm về bản chất thực tế của vấn đề đang tranh cãi Quá trình tham vấn phải được giữ bí mật và không được gây phương hại đến quyền của bất kỳ thành viên nào trong bất kỳ một quy trình tố tụng tiếp theo nào Như vậy, tham vấn vừa có vai trò đặt nền móng cho việc hòa giải tranh chấp lại vừa chuẩn bị cho các bước tiếp theo theo quy định của DSU
Trừ khi có thỏa thuận khác, thành viên được yêu cầu phải trả lời yêu cầu này trong vòng 10 ngày sau ngày nhận được yêu cầu tham vấn, và tham gia vào cuộc tham vấn một cách thiện chí trong thời hạn không quá 30 ngày sau ngày nhận được yêu cầu
để cố gắng đạt được giải pháp thỏa đáng cho các bên25 Nếu thành viên này không trả lời trong thời hạn 10 ngày sau ngày nhận được yêu cầu hoặc không tham gia tham vấn trong thời hạn không quá 30 ngày, hoặc sau một thời gian khác được các bên thoả thuận, thì thành viên đã yêu cầu tham vấn có thể trực tiếp yêu cầu thành lập Nhóm chuyên gia
Nếu tham vấn không giải quyết được tranh chấp trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, nguyên đơn (the complaining party) có thể yêu cầu thành lập Nhóm chuyên gia Bên nguyên đơn cũng có thể yêu cầu thành lập Nhóm chuyên gia trong thời hạn 60 ngày nói trên nếu các bên tham vấn cùng cho rằng việc tham vấn
đã không giải quyết được tranh chấp Trong trường hợp khẩn cấp, kể cả trường hợp liên quan đến hàng hóa dễ hư hỏng, nếu việc tham vấn đã không giải quyết được tranh
25
Trong các trường hợp khẩn cấp (ví dụ đối với hàng hóa dễ thối rữa), việc tham vấn phải bắt đầu không quá 10 ngày sau khi nhận được yêu cầu, và nếu không giải quyết trong vòng 20 ngày sau khi nhận được yêu cầu, thì Thành viên yêu cầu có quyền yêu cầu thành lập một Nhóm chuyên gia
Trang 39 Giai đoạn xét xử
Giai đoạn hội thẩm
Sau giai đoạn tham vấn không đưa đến một giải pháp hòa giải thỏa mãn, nguyên đơn mới có quyền yêu cầu thành lập Nhóm chuyên gia Các quy định về thành lập, thành phần, chức năng và nguyên tắc làm việc của Nhóm chuyên gia, như đã trình bày
ở phần trước
Giai đoạn xét xử tại Nhóm chuyên gia là giai đoạn thứ hai của tiến trình giải quyết tranh chấp theo cơ chế của WTO, bao gồm các bước:
Bước 1: Trước phiên họp đầu tiên
Các bên tranh chấp gửi văn bản trình bày các tình tiết của vụ kiện và lập luận của mình cho Nhóm chuyên gia Tất cả tài liệu đệ trình này phải được giữ bí mật Nhóm chuyên gia xem xét, trên cơ sở các điều khoản có liên quan (tên của các hiệp định có liên quan do các bên tranh chấp trích dẫn), vấn đề được đưa ra DSB bởi (tên của một bên) trong văn bản và đưa ra những ý kiến nhận xét, kết luận giúp DSB đưa ra các khuyến nghị hoặc các phán quyết được quy định trong các hiệp định Nhóm chuyên gia phải xử lý các điều khoản liên quan trong bất kỳ hiệp định nào hoặc các hiệp định được các bên tranh chấp dẫn chiếu tới (khoản 1, 2 Điều 7 DSU)
Bước 2: Các phiên xét xử
Sau khi trao đổi các tài liệu đệ trình đầu tiên, Nhóm chuyên gia triệu tập phiên xét xử đầu tiên, gọi là cuộc họp chính thức đầu tiên Cuộc họp này diễn ra tại trụ sở WTO, Geneva và giống như phiên xét xử tại tòa án, nhưng thủ tục thì không chính thức Cuộc họp này không công khai, chỉ có các bên, bên thứ ba trong tranh chấp, thành viên Nhóm chuyên gia, nhân viên Ban thư ký hỗ trợ Nhóm chuyên gia và phiên dịch có quyền tham dự cuộc họp này Đoạn 2 Phụ lục 3 về Thủ tục làm việc của DSU
quy định rõ “Nhóm chuyên gia họp kín Các bên có tranh chấp, và những bên có quan tâm, chỉ có mặt tại các buổi họp khi được Nhóm chuyên gia mời tham dự”