Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài; một số quy định của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(NIÊN KHÓA: 2009 – 2013)
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁP LÝ NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
MSSV : 5095485
Cần Thơ, tháng 11 năm 2012
Trang 2GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 2
NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 4
BẢNG VIẾT TẮT
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trước hết, Người viết xin dành lời cảm ơn trân trọng nhất tới các giảng viên khoa Luật trường Đại học Cần Thơ đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho Người viết những kiến thức quý báu và giúp đỡ Người viết trong quá trình học tập tại trường Đặc biệt, Người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Thạc sĩ Lê Minh Trung, người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, giúp Người viết hoàn thành luận văn
Đồng thời, Người viết cũng xin cảm ơn các bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ để Người viết có thể hoàn thành luận văn này
Mặc dù, Người viết đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 6GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 6
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu đề tài 2
CHƯƠNG 1 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 4
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM 4
TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Quyền phụ nữ 4
1.1.2 Bảo vệ quyền phụ nữ 5
1.1.3 Hôn nhân và quan hệ hôn nhân 8
1.1.3.1 Hôn nhân 8
1.1.3.2 Quan hệ hôn nhân 10
1.1.4 Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 11
1.2 Các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài .12
1.2.1 Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của quốc gia trong việc xác định pháp luật áp dụng trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 12
1.2.1.1 Áp dụng dấu hiệu quốc tịch để xác định 13
1.2.1.2 Dùng dấu hiệu nơi cư trú của chủ thể để xác định 14
Trang 71.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phải phù hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế
mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập 15
1.2.3 Nguyên tắc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân trên tinh thần tôn trọng pháp luật nước sở tại, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế 17
1.3 Lịch sử phát triển 18
1.3.1 Trước năm 1945 18
1.3.2 Từ năm 1945 đến năm 1959 20
1.3.3 Từ năm 1959 đến năm 1986 21
1.3.4 Từ năm 1986 đến năm 2000 23
1.3.5 Từ năm 2000 đến nay 25
1.4 Ý nghĩa 26
CHƯƠNG 2 28
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 28
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM 28
TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 28
2.1 Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài 28
2.2 Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ vợ chồng có yếu tố nước ngoài 32
2.2.1 Bảo vệ quyền nhân thân 33
2.2.2 Bảo vệ quyền về tài sản 35
2.3 Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 38
2.3.1 Bảo vệ quyền nhân thân 39
2.3.2 Bảo vệ quyền về tài sản 40
CHƯƠNG 3 43
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 43
NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM 43
Trang 8GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 8
TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 43
3.1 Thực trạng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng 43
3.1.1 Kết quả thực hiện 43
3.1.2 Những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân 47
3.1.2.1 Những vướng mắc, bất cập 47
3.1.2.2 Nguyên nhân 48
3.2 Kiến nghị và giải pháp 48
3.2.1 Kiến nghị 48
3.2.2 Giải pháp 50
KẾT LUẬN 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước cùng với sự tác động của xu thế toàn cầu hóa đã làm cho các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến Trong những năm gần đây, số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài có xu hướng gia tăng, làm phát sinh không ít vấn đề, ảnh hưởng không nhỏ tới gia đình và xã hội Đặc biệt, một bộ phận phụ nữ Việt Nam sau khi kết hôn với người nước ngoài đã không tìm được hạnh phúc, họ rơi vào những hoàn cảnh éo le, bị xâm hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; qua đó tạo ra sự bất bình và lên án mạnh mẽ trong dư luận xã hội Trước thực trạng trên, nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết, đòi hỏi cần được quan tâm một cách đúng mức
Mặt khác, để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói riêng, trong thời gian qua Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Các văn bản pháp luật này đã tạo cơ sở pháp lý cho các tổ chức, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền thực hiện hoạt động hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, trải qua quá trình áp dụng những văn bản pháp luật này đã bộc
lộ một số vướng mắc, hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn
Vì những lý do trên mà việc nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp pháp lý nhằm
bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài” có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài; một số quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, Người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu một số quy định trong LHN&GĐ Việt Nam năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) gọi tắt là LHN&GĐ Việt Nam hiện hành; và thực tiễn bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ
Trang 10GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 10
hôn nhân có yếu tố nước ngoài hiện nay, cụ thể Người viết tìm hiểu thực trạng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng; trên sơ sở đó người viết đưa ra một số kiến nghị và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài Người viết nghiên cứu nhằm một số mục tiêu sau:
Thứ nhất, Tiếp cận được một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ
Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, trên cơ sở đó xây dựng được một số khái niệm về quyền phụ nữ, bảo vệ quyền phụ nữ, bảo vệ quyền phụ nữ trong quan hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Thứ hai, Đánh giá khách quan một số quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và thực tiễn áp dụng các quy định này hiện nay
Thứ ba, Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, người viết đề xuất một số
kiến nghị và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
4 Phương pháp nghiên cứu
Người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Lịch sử, phân tích
và tổng hợp
Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu phương pháp này nhằm làm rõ sự phát triển có
tính kế thừa của pháp luật Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam
trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Phương pháp phân tích: Các vấn đề mà đề tài đặt ra sẽ được phân tích về mặt lý
luận để thấy rõ tính khoa học của việc điều chỉnh về việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong phạm vi quốc gia
Phương pháp tổng hợp: Nghiên cứu phương pháp này nhằm rút ra một số vấn đề
cơ bản về mặt lý luận, nhằm tìm ra những ưu điểm và hạn chế trong việc quy định của pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần Lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 Chương như sau:
Trang 11Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Trong Chương này, Người viết tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo vệ quyền lợi phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài; cụ thể Người viết xây dựng một số khái niệm, đưa ra một số nguyên tắc, khái quát lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và ý nghĩa về việc bảo vệ quyền lợi của phụ
nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Trong Chương này, Người viết tập trung phân tích một số quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, chủ yếu là một số quy định trong LHN&GĐ Việt Nam hiện hành và một số văn bản pháp luật có liên quan về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài hiện nay
Chương 3: Thực trạng và giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Trong Chương này, Người viết trình bày về thực trạng bảo vệ quyền lợi của phụ
nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng hiện nay Trên cơ sở đó, Người viết đưa ra một số kiến nghị và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam quy định về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Trang 12GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 12
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Quyền phụ nữ
Theo định nghĩa thông thường thì quyền phụ nữ được hiểu là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho họ được hưởng, được làm và được đòi hỏi1 Trong khoa học luật, khái niệm về quyền phụ nữ chưa được làm sáng tỏ Để tiếp cận khái niệm về quyền phụ nữ không thể tách rời nghiên cứu khái niệm về quyền con người
Quyền con người là những đặc quyền hay quyền tự nhiên của con người được pháp luật công nhận, điều chỉnh, do cá nhân con người nắm giữ trong mối liên hệ với nhà nước và những cá nhân con người khác Nội dung quyền con người được thể hiện thông qua các quyền như quyền tự do dân chủ về chính trị, quyền dân sự và quyền kinh tế xã hội2
Trên cơ sở khái niệm quyền con người thì khái niệm quyền phụ nữ phải được nghiên cứu trong mối quan hệ khăng khít với quyền con người Quyền phụ nữ là khái niệm dùng để chỉ quyền con người của phụ nữ
Phụ nữ là một nhóm đối tượng trong xã hội dễ bị tổn thương, do đó việc xác định
và ghi nhận các quyền con người cho họ đặc biệt và bảo đảm trên cơ sở tiêu chí bình đẳng cần thiết
Trong quan hệ hôn nhân quyền phụ nữ được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, gồm những quyền cơ bản sau:
Thứ nhất, Quyền tự do kết hôn
Quyền tự do kết hôn là một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhằm để đảm bảo quyền phụ nữ trong quan hệ hôn nhân một cách đầy đủ.Bộ luật Dân sự năm
1 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, 2003, tr 28
đại”, Nhà in viên thông tin hoa học xã hội, 1995, tr 92
Trang 132005 ghi nhận quyền kết hôn tại Điều 39 như sau: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn” Theo quy định này, khi phụ nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì có quyền tự do kết hôn mà không ai có quyền cưỡng ép hay cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ của họ
Thứ hai, Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng
Bình đẳng nam, nữ là quyền quan trọng nhất được quy định trong hệ thống các quyền của phụ nữ trong xã hội nói chung và trong quan hệ hôn nhân nói riêng Điều 63 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) gọi tắt là Hiến pháp hiện hành quy định: “Công dân nữ và nam ngang quyền nhau về mọi mặt chính trị, văn hoá, xã hội và gia đình” Theo đó, phụ nữ có quyền bình đẳng với nam về mọi mặt trong gia đình và được cụ thể hóa tại Điều 19 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành như sau: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”
Thứ ba, Quyền ly hôn
Quyền ly hôn của phụ nữ được pháp luật ghi nhận tại khoản 1 Điều 85
LHN&GĐ Việt Nam hiện hành: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa
án giải quyết việc ly hôn” Theo đó, nếu tình trạng của vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được thì phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn
Ngoài ra, Phụ nữ còn có quyền được bảo hộ về hôn nhân và gia đình
Quyền này được Hiến pháp hiện hành ghi nhận tại Điều 64 như sau: “Gia đình là
tế bào của xã hội Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” Và được cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 4 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành: “Quan hệ hôn nhân và gia đình thực hiện theo quy định của Luật này được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ” Bên cạnh
đó, quyền được Nhà nước bảo hộ ở nước ngoài của phụ nữ Việt Nam cũng được ghi nhận tại Điều 6 Luật quốc tịch năm 2008: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài; các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó”
Như vậy, xét ở khía cạnh quan hệ hôn nhân thì quyền phụ nữ có các quyền cơ
bản sau: quyền tự do kết hôn, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng và quyền ly hôn Bên cạnh đó, phụ nữ còn có quyền được bảo hộ về hôn nhân và gia đình
Trang 14GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 14
1.1.2 Bảo vệ quyền phụ nữ
Tiếp cận khái niệm “quyền con người” chúng ta nhận thấy, khi xét quyền con người phải xuất phát từ mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước Vì lẽ đó, quyền con người, một mặt mang tính chất tự nhiên “quyền con người vốn có, không ai ban tặng cho họ” nhưng mặt khác các đặc quyền “quyền tự nhiên” phải được pháp luật chấp nhận thì mới trở thành “quyền con người”
Như vậy, có nhiều phương thức để bảo vệ quyền con người, song phương thức quan trọng và không thể thiếu chính là việc bảo vệ quyền con người bằng pháp luật Theo đó, bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật nói riêng trước hết phải được sự ghi nhận các quyền con người bằng pháp luật và phải bảo đảm các quyền đó được thực hiện Mặt khác, do phụ nữ là một nhóm đối tượng trong xã hội dễ bị tổn thương, bởi vậy quyền phụ nữ phải được xem xét và ghi nhận dựa trên cơ sở của những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp luật ghi nhận quyền phụ
nữ dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng giới Chính vì vậy, bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng phải kể đến vai trò vô cùng quan trọng của Nhà nước Nhà nước ghi nhận các quyền con người, quyền phụ nữ và bảo đảm cho những quyền này được thực hiện, đó chính là nội dung bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình Việt Nam luôn gắn với vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ3 Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ là nhiệm vụ trọng tâm, là mục tiêu phong trào đấu tranh giải phóng phụ nữ Nhận thức của con người về vai trò của phụ nữ và đặt ra vấn đề bảo vệ quyền lợi của họ đã xuất hiện từ rất sớm nhưng chỉ thực sự được coi như một trách nhiệm, một yêu cầu cấp thiết khi Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ra đời (1948) Tuyên ngôn đã nhấn mạnh “bà mẹ
và trẻ em được đảm bảo chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” (khoản 2 Điều 25) Đây là sự thừa nhận của xã hội đối với chức năng làm mẹ của người phụ nữ Với chức năng này người mẹ được coi là chủ thể đặc biệt trong xã hội, họ có quyền được ưu tiên chăm sóc, giúp đỡ và bảo vệ Sau Tuyên ngôn nhân quyền, sự quan tâm của nhân loại đối với phụ nữ và việc bảo vệ quyền lợi của họ đã được thể hiện ngày càng rõ trong các Công ước quốc tế, như Công ước ngày 29/01/1957 về quốc tịch của người phụ nữ lấy chồng nước ngoài do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua, Công ước 1979 về loại trừ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ,…
thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 86
Trang 15Nội dung của các Công ước quốc tế này về bảo vệ quyền của người phụ nữ đã được thể hiện trong văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam
Điều 1 Công ước 1957 về quốc tịch của người phụ nữ lấy chồng quy định: “Mỗi nước ký kết thỏa thuận rằng không vì việc kết hôn, ly hôn giữa công dân và người nước ngoài, không vì việc thay đổi quốc tịch của người chồng trong thời gian hôn nhân mà có thể đương nhiên có hiệu lực với quốc tịch của người vợ,…”
Phù hợp với tinh thần của Công ước, Điều 10 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Việc vợ hoặc chồng nhập, trở lại hoặc mất quốc tịch Việt Nam không làm thay đổi quốc tịch của người kia” Vấn đề bảo vệ quyền của người phụ nữ được quy định cụ thể trong Công ước 1979 về loại trừ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ Theo Công ước “Các quốc gia thành viên của Công ước cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ đối với tất cả các quyền kinh tế, xã hội,…mà Công ước này đề ra” (Điều 3) Quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong Công ước đã được cụ thể hóa qua các bản Hiến pháp của Việt Nam và trong lĩnh vực gia đình được quy định trong LHN&GĐ hiện hành (các Điều 19, 20, 21, 22, 23)
Pháp luật hôn nhân và gia đình ngoài việc bảo vệ quyền của người phụ nữ bằng việc quy định quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng còn bảo vệ quyền làm mẹ thông qua việc nuôi con nuôi Trong vai trò của một người mẹ, quyền và nghĩa
vụ về nhân thân, tài sản giữa mẹ nuôi và con nuôi được pháp luật bảo vệ như con đẻ Người chồng, gia đình, xã hội có trách nhiệm giúp cho người phụ nữ thực hiện quyền này Với mục đích tạo mọi điều kiện tốt nhất để giúp các bà mẹ hoàn thành tốt chức năng làm mẹ, pháp luật hôn nhân và gia đình còn đặc biệt bảo vệ quyền lợi của bà mẹ trong trường hợp ly hôn Pháp luật bảo vệ quyền lợi của bà mẹ trong chế định ly hôn thể hiện trong việc quy định về điều kiện hạn chế ly hôn của người chồng Tuy nhiên, trong trường hợp nếu người vợ nhận thấy hôn nhân của họ chỉ còn là hình thức, việc duy trì quan hệ hôn nhân đó ảnh hưởng đến quyền lợi của bản thân, nếu họ yêu cầu được ly hôn thì quyền xin ly hôn của họ không bị hạn chế Pháp luật hôn nhân và gia đình còn bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn Việc phân chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp này được giải quyết theo Điều 95 LHN&GĐ hiện hành Đồng thời, pháp luật còn quy định khi phân chia tài sản chung của vợ chồng phải “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người vợ và con chưa thành niên…” Như vậy, với tư cách là người vợ, người mẹ trong gia đình, quyền lợi của người phụ nữ luôn được pháp luật bảo vệ
Trang 16GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 16
Tóm lại, pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
luôn gắn với vấn đề bảo vệ quyền con người Quyền phụ nữ là nội dung cơ bản của quyền con người, không tách khỏi quyền con người Phụ nữ có quyền thực hiện chức năng làm mẹ của mình, được xã hội chăm sóc, giúp đỡ Bảo vệ quyền phụ nữ là mục tiêu, trách nhiệm của nhân loại trong quá trình thực hiện quyền con người
1.1.3 Hôn nhân và quan hệ hôn nhân
1.1.3.1 Hôn nhân
Hôn nhân là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là sự liên kết giữa đàn ông và đàn
bà Sự liên kết đó làm phát sinh, hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng; trong đó các bên gắn kết với nhau nhằm tạo dựng một tế bào của xã hội là gia đình Khác với các quan hệ dân sự bình thường, mục đích của các bên trong quan hệ hôn nhân không phải là nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần trong một thời điểm nhất định mà nhằm xác lập mối quan hệ lâu dài Thông thường hôn nhân là kết quả của tình yêu và dựa trên sự
tự nguyện của các bên nhằm xây dựng mối quan hệ bền vững, là cơ sở tạo nên quan hệ
vợ chồng
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển - Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1994 thì khái niệm hôn nhân được hiểu là “việc nam, nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng”
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì
“hôn nhân là sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng theo điều kiện và trình tự luật định nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hòa thuận”
Và theo quy định của khoản 6 Điều 8 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành thì “hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” Theo cách hiểu này, hôn nhân
là quan hệ giữa vợ và chồng được xác lập từ thời điểm kết hôn đến trước khi chấm dứt quan hệ hôn nhân
Từ định nghĩa của hôn nhân có thể rút ra một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, tính chất một vợ một chồng;
Trang 17Trong xu thế tiến bộ xã hội đặc biệt là sự bình quyền giữa nam và nữ, sự khẳng định cá nhân con người ngày càng lớn, đạo đức mới của con người không những phủ nhận kiểu hôn nhân một chồng nhiều vợ như trước mà đòi hỏi tình yêu nam, nữ phải biểu hiện trong mối quan hệ thuỷ chung một vợ, một chồng Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành coi chế độ hôn nhân một vợ, một chồng là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình và là một trong các điều kiện để thừa nhận việc kết hôn hợp pháp được ghi nhận tại Điều 2 và khoản 1 Điều 9
LHN&GĐ Việt Nam hiện hành
Thứ hai, tính tự nguyện trong hôn nhân;
Tính tự nguyện trong hôn nhân là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, được thể hiện tại khoản 2 Điều 9 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành quy định: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở”
Tuy nhiên, tự nguyện trong hôn nhân là tự nguyện xuất phát từ tình cảm giữa nam và nữ, không thừa nhận chế độ đại diện trong kết hôn mà việc kết hôn phải do chính các bên nam và nữ quyết định Mặt khác, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình không vì mục đích tạo lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ dân sự; đồng thời để tránh những trường hợp hôn nhân dựa trên sự tính toán kinh tế, pháp luật Việt Nam không thừa nhận chế độ tài sản theo thoả thuận giữa vợ và chồng mà chỉ thừa nhận chế
độ tài sản pháp định dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng được quy định từ điều 27 đến điều 33 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành
Thứ ba, tính bình đẳng trong hôn nhân;
Tính bình đẳng trong hôn nhân được Hiến pháp hiện hành quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” Ở phạm vi xã hội, nam và nữ có quyền và nghĩa
vụ ngang nhau trên mọi phương diện, và ở phạm vi gia đình thì vợ và chồng bình đẳng mọi mặt về quyền và nghĩa vụ
Thứ tư, tính bền vững hay tính suốt đời của hôn nhân;
Tính bền vững của hôn nhân được thể hiện dựa trên yếu tố tình cảm giữa các chủ thể trong quan hệ hôn nhân, và hôn nhân có mục đích là xây dựng gia đình do gia đình thường bắt đầu từ hôn nhân, từ quan hệ vợ chồng về tình cảm,… đó là những điều kiện đảm bảo cho sự liên kết hạnh phúc, bền vững trong hôn nhân
Trang 18GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 18
Pháp LHN&GĐ Việt Nam luôn coi trọng tính bền vững của hôn nhân vì truyền thống gia đình Việt Nam và xuất phát từ vai trò hôn nhân là cơ sở xây dựng gia đình
no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững được ghi nhận tại Điều 1 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành
Thứ năm, tính chịu sự quy định của pháp luật
LHN&GĐ Việt Nam hiện hành đã quy định đầy đủ và chi tiết về vấn đề kết hôn bao gồm điều kiện kết hôn, ghi thức kết hôn, huỷ kết hôn trái pháp luật tại Chương II
từ Điều 9 đến Điều 17; quy định các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng tại Chương III từ Điều 18 đến Điều 33 và chấm dứt hôn nhân tại Chương X – Ly hôn từ Điều 85 đến Điều 99
Nam và nữ có quyền tự do kết hôn nhưng phải tuân theo quy định của pháp luật
về hôn nhân thì hôn nhân đó mới được pháp luật công nhận và bảo vệ Hôn nhân không phải là hợp đồng mà là sự liên kết đặc biệt giữa nam và nữ nhằm mục đích xây dựng mối quan hệ vợ chồng bền vững, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vật chất của đôi bên trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng
1.1.3.2 Quan hệ hôn nhân
Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa các chủ thể trong hôn nhân được xác lập từ khi các bên nam và nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng và chấm dứt khi các bên không còn quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật Có thể nói, việc xác lập và chấm dứt quan hệ hôn nhân trước hết hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cá nhân trong hôn nhân phù hợp với quy định của pháp luật
Quan hệ hôn nhân là loại quan hệ pháp luật dân sự đặc biệt4 Tính chất dân sự và tính chất đặc biệt trong quan hệ hôn nhân được thể hiện như sau:
Thứ nhất, tính chất dân sự trong quan hệ hôn nhân được biểu hiện ở ba điểm cơ
bản: Một là, đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hôn nhân giống như đối tượng điều
chỉnh của pháp luật dân sự Khi quan hệ hôn nhân được xác lập thì các quan hệ về nhân thân như danh dự, nhân phẩm, uy tín, và quan hệ tài sản như tài sản chung, tài sản riêng, của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân cũng được xác lập và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Về nguyên tắc, các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản là đối
tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự Hai là, phương pháp điều chỉnh quan hệ hôn
nhân được dựa trên phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự5 Ví dụ, ở Việt Nam
thời kỳ hội nhập quốc tế, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 11
Trang 19mặc dù trong phương pháp điều chỉnh của quan hệ hôn nhân có những điểm đặc thù nhưng vì được tách ra từ quan hệ dân sự nên phương pháp điều chỉnh của quan hệ hôn
nhân được dựa trên phương pháp điều chỉnh của pháp luật dân sự Ba là, các quy định
có tính nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hôn nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự
Ví dụ, trong Bộ luật Dân sự của Việt Nam năm 2005, các quy định về hôn nhân được ghi
nhận tại các điều như Điều 39 (quyền kết hôn), Điều 40 (quyền bình đẳng của vợ
chồng), Điều 42 (quyền ly hôn),
Thứ hai, tính đặc biệt trong quan hệ hôn nhân được thể hiện ở yếu tố tình cảm
của các bên chủ thể Có thể nói, tình cảm của các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân đối với nhau được coi là cơ sở cơ bản và phổ biến trong việc xác lập quan hệ hôn nhân Dựa trên yếu tố tình cảm mà quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững lâu dài, không mang tính chất nhất thời
Quan hệ hôn nhân là quan hệ được hình thành trên cơ sở của hôn nhân và được thể hiện ở sự liên kết giữa các chủ thể trong quan hệ hôn nhân Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân không phải tự nhiên được hình thành mà chỉ được hình thành khi có sự liên kết của các chủ thể với những điều kiện nhất định, đồng thời quan hệ hôn nhân không tồn tại vĩnh viễn mà sẽ bị chấm dứt trong những trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật
Trên cơ sở mức độ liên kết giữa các chủ thể trong quan hệ hôn nhân có thể chia quan hệ hôn nhân thành ba giai đoạn: Giai đoạn xác lập quan hệ vợ chồng, giai đoạn tồn tại quan hệ vợ chồng và giai đoạn chấm dứt quan hệ vợ chồng Giai đoạn xác lập quan hệ vợ chồng là giai đoạn được xác lập trên cơ sở của việc kết hôn, giai đoạn quan
hệ vợ chồng là giai đoạn sau khi kết hôn và giai đoạn chấm dứt quan hệ vợ chồng là giai đoạn thường được đánh dấu bằng sự kiện chết của một bên hoặc bằng việc ly hôn Như vậy, quan hệ hôn nhân bao gồm tổng thể ba quan hệ đó là quan hệ kết hôn, quan hệ vợ chồng và chấm dứt quan hệ vợ chồng
1.1.4 Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các dấu hiệu để xác định quan hệ hôn nhân
có yếu tố nước ngoài được ghi nhận trong LHN&GĐ Việt Nam hiện hành
Khi giải thích từ ngữ trong LHN&GĐ, khoản 14 Điều 8 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành quy định:
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:
Trang 20GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 20
a- Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;
b- Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
c- Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”
Khi đề cập đến các vấn đề pháp lý trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Chương XI của LHN&GĐ Việt Nam hiện hành, khoản 4 Điều 100 quy định: “Các quy định của chương này cũng được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài”
Từ nội dung các quy định trên đây của LHN&GĐ Việt Nam hiện hành, có thể nói theo quy định của pháp luật Việt Nam thì cơ sở để xác định yếu tố nước ngoài dựa vào ba dấu hiệu sau đây:
Một là, các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân có quốc tịch khác nhau Nội
dung này được ghi nhận tại khoản 14(a) Điều 8 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành khi công dân Việt Nam có quan hệ hôn nhân với người nước ngoài
Hai là, các bên chủ thể cùng quốc tịch nhưng sự kiện pháp lý liên quan tới quan
hệ đó xảy ra ở nước ngoài Nội dung này được thể hiện rõ trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất, khi người nước ngoài có quan hệ hôn nhân với nhau tại Việt Nam được ghi nhận tại khoản 14(b) Điều 8 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành Trường hợp thứ hai, khi công dân Việt Nam có quan hệ hôn nhân với nhau mà căn cứ xác lập thay đổi chấm dứt quan hệ hôn nhân ở nước ngoài được ghi nhận tại khoản 14(c) Điều 8 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành hoặc một trong các bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài được ghi nhận tại khoản 4 Điều 100 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành
Ba là, tài sản liên quan tới quan hệ hôn nhân ở nước ngoài Nội dung này được
ghi nhận tại Điều 8 khoản 14(c) LHN&GĐ Việt Nam hiện hành
Tóm lại, từ cơ sở lý luận cũng như mặt pháp lý trên đây, có thể rút ra khái niệm
về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như sau: “Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân được xác lập giữa các bên chủ thể khác quốc tịch hoặc sự kiện làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan tới quan hệ hôn nhân ở nước ngoài”
1.2 Các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Trang 211.2.1 Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của quốc gia trong việc xác định pháp luật áp dụng trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính chính trị pháp lý của quốc gia với hai nội dung chủ yếu là quyền tối cao của quốc gia trong lĩnh vực đối nội và trong lĩnh vực đối ngoại Thực hiện chủ quyền này, quốc gia thông qua các hoạt động của các cơ quan nhà nước như cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp để điều chỉnh các quan hệ pháp lý trong đó có quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia thể hiện rất rõ trong việc áp dụng luật nhân thân của các đương sự để điều chỉnh quan hệ hôn nhân của họ Luật nhân thân là một phạm trù pháp lý gắn liền với sự tồn tại của một con người cụ thể Luật nhân thân bao gồm luật quốc tịch và luật nơi cư trú của đương sự Luật quốc tịch là pháp luật xác định trên cơ sở quốc tịch của đương
sự, và luật nơi cư trú là pháp luật xác định trên cơ sở nơi cư trú của đương sự Theo
đó, đương sự mang quốc tịch nước nào hoặc có nơi cư trú ở nước nào thì pháp luật của nước ấy sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự của họ trong đó có quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Việc xác định luật quốc tịch và luật nơi cư trú của đương sự được xem xét như sau:
1.2.1.1 Áp dụng dấu hiệu quốc tịch để xác định
Một trong những vấn đề pháp lý quan trọng trong việc xác định tính hợp pháp của một cuộc hôn nhân đó là điều kiện kết hôn phải hợp pháp Không giống quan hệ kết hôn trong nước, trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài cùng một lúc có ít
nhất hai hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh Ví dụ: Trong trường hợp các bên chủ
thể khác quốc tịch thì có ít nhất hai hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh để xác định tính hợp pháp về điều kiện kết hôn, đó là hệ thống pháp luật của các bên chủ thể mang quốc tịch Nói cách khác, trong trường hợp này đã có xung đột pháp luật về việc xác định điều kiện kết hôn
Để giải quyết hiện tượng xung đột trong việc xác định tính hợp pháp của điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài, pháp luật hầu hết các nước đều quy định áp dụng
hệ thuộc luật quốc tịch của các bên chủ thể Theo hệ thuộc này thì đương sự mang quốc tịch nước nào thì pháp luật nước ấy sẽ được áp dụng để điều chỉnh điều kiện kết hôn của đương sự đó Quy định này ghi nhận trong pháp luật của các nước đã thể hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
Có thể nói, dùng dấu hiệu quốc tịch của đương sự để xác định điều kiện kết hôn của họ là thể hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia bởi vì hai lý do sau đây:
Trang 22GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 22
Thứ nhất, quốc tịch của một người là mối quan hệ chính trị pháp lý của người đó
với một nhà nước nhất định Đây là mối quan hệ giữa công dân với nhà nước theo đó
công dân có nghĩa vụ với nhà nước, đồng thời nhà nước cũng có nghĩa vụ đối với công dân Như vậy, một người với tư cách chủ thể trong quan hệ dân sự nói chung và quan
hệ hôn nhân nói riêng phải chịu sự chi phối bởi pháp luật của nước mình mang quốc tịch Sự chi phối này là tất yếu mà không phụ thuộc vào nơi cư trú của người đó Do
đó, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định việc xác định điều kiện kết hôn của các bên trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là sẽ theo luật của nước mà họ mang quốc tịch Theo đó, pháp luật của nước mà chủ thể là công dân sẽ điều chỉnh điều kiện kết hôn của họ mà không phụ thuộc vào pháp luật của nước khác Nội dung quy định này thể hiện quyền lực của Nhà nước đối với công dân của mình
Thứ hai, Nhà nước có quyền tối cao trong việc điều chỉnh tất cả các quan hệ đối
nội cũng như đối ngoại của mình trong đó có quan hệ hôn nhân Pháp luật của một nước quy định áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch để xác định điều kiện kết hôn của công dân nước mình trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã thể hiện chủ quyền quốc gia trong việc thực hiện chức năng của Nhà nước
Theo quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, khoản 1 Điều 103 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành quy định: “Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, các bên phải tuân theo pháp luật nước mình về điều kiện kết hôn” Từ nội dung của quy định trên đây có thể thấy việc xem xét điều kiện kết hôn của bên chủ thể là công dân Việt Nam sẽ căn
cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam, xem xét điều kiện kết hôn của người nước ngoài sẽ căn cứ vào pháp luật mà người nước ngoài đó mang quốc tịch
Tuy nhiên, trong trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài bên cạnh phải tuân theo quy định pháp luật của nước mình thì còn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 103 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành Nội dung quy định này của pháp luật Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam buộc các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài phải tuân theo
1.2.1.2 Dùng dấu hiệu nơi cư trú của chủ thể để xác định
Trong Tư pháp quốc tế nói chung và trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói riêng, bên cạnh việc dùng dấu hiệu quốc tịch của đương sự hầu hết các nước còn dùng dấu hiệu nơi cư trú của đương sự để xác định pháp luật áp dụng Theo đó,
Trang 23đương sự cư trú ở đâu thì pháp luật của nước đó sẽ được áp dụng Việc áp dụng dấu hiệu nơi cư trú của đương sự để xác định luật áp dụng nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thể hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia đối với nước mà đương sự đang cư trú
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, dấu hiệu nơi cư trú của đương sự được áp dụng để xác định pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong trường hợp không áp dụng dấu hiệu quốc tịch của các bên Khoản 1 và khoản 2 Điều
104 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành quy định: “Trong trường hợp các bên trong quan hệ
ly hôn thường trú tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam; trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì giải quyết theo pháp luật nước nơi thường trú chung của vợ và chồng”
Như vậy, trong các trường hợp trên đây pháp luật Việt Nam đã lấy dấu hiệu nơi
cư trú của chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài để xác định pháp luật
áp dụng Nói cách khác, nơi cư trú của đương sự là một trong những dấu hiệu quan trọng để xác định pháp luật áp dụng mà không phụ thuộc vào đương sự đó đang cư trú tại Việt Nam hay cư trú ở nước ngoài Việc lấy dấu hiệu nơi cư trú của chủ thể để xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đã thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc chủ quyền quốc gia của Nhà nước Việt Nam
1.2.2 Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự trong quan hệ hôn nhân
có yếu tố nước ngoài phải phù hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập
Theo pháp luật của hầu hết các nước đều quy định, để áp dụng hệ thống pháp luật
đã được quy phạm xung đột dẫn chiếu đến nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì phải tuân theo một số nguyên tắc hoặc điều kiện nhất định Nhìn chung, pháp luật các nước thường quy định hệ thống pháp luật được quy phạm dẫn chiếu chỉ được áp dụng khi pháp luật trong nước có quy định áp dụng hoặc điều ước quốc tế có liên quan có quy định áp dụng Giải thích cho việc pháp luật các nước có quy định nội dung này được dựa trên các cơ sở lý luận sau đây:
Thứ nhất, pháp luật được dẫn chiếu chỉ có thể được áp dụng khi pháp luật trong
nước có quy định áp dụng Với tư cách là nguồn của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, pháp luật trong nước được coi là nguồn pháp luật cơ bản
và phổ biến, do đó pháp luật trong nước là cơ sở pháp lý để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong đó bao gồm cả việc quy định việc áp dụng hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến
Trang 24GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 24
Thứ hai, pháp luật được dẫn chiếu chỉ được áp dụng khi điều ước quốc tế có liên
quan quy định áp dụng Điều này dựa trên cơ sở lý luận cho rằng điều ước quốc tế về
hôn nhân được xem là nguồn pháp luật quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Trong các điều ước quốc tế, các nước thường quy định nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng Theo đó các nguyên tắc và điều kiện chọn pháp
luật của nước ký kết này để áp dụng trên lãnh thổ nước ký kết kia Ví dụ, khoản 2 Điều
23 của HĐTTTP giữa Việt Nam và Cộng hòa Ba Lan quy định: “Về điều kiện kết hôn, mỗi bên đương sự phải tuân theo pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân” Theo nội dung của quy định này thì điều kiện kết hôn của công dân Việt Nam đang cư trú trên lãnh thổ của Ba Lan sẽ do pháp luật Việt Nam điều chỉnh và ngược lại đối với trường hợp đương sự là công dân Ba Lan cư trú trên lãnh thổ Việt Nam thì pháp luật của Ba Lan sẽ điều chỉnh điều kiện kết hôn của người đó
Trong trường hợp cả quy phạm pháp luật trong nước và quy phạm trong điều ước quốc tế có liên quan cùng có thể được áp dụng để giải quyết một quan hệ cụ thể nhưng nội dung quy định của các quy phạm này ở mỗi văn bản lại khác nhau, thậm chí trái ngược nhau thì các quy định của điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, về vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài trên cơ sở quy định của pháp luật trong nước và điều ước quốc tế có liên quan cũng như tính ưu tiên áp dụng quy định của điều ước quốc tế được quy định cụ thể trong LHN&GĐ Việt Nam hiện hành Khoản 1 Điều 100 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành quy định: “Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã
ký kết hoặc gia nhập” Sự phù hợp ở quy định này được hiểu là pháp luật nước ngoài khi áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và các quy định trong điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập
Về nguyên tắc ưu tiên áp dụng giữa quy định của pháp luật trong nước với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập để điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, khoản 2 Điều 7 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành quy định: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của LHN&GĐ thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế”
Từ quy định của khoản 1 Điều 100, khoản 2 Điều 7 và Điều 101 của LHN&GĐ Việt Nam hiện hành, việc bảo vệ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam được thể hiện ở một số nội dung chính sau đây:
Trang 25Thứ nhất, khi bảo vệ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thì các quy định của
pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập phải được áp dụng (khoản 1 Điều 100 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành) Trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường xảy ra hiện tượng xung đột pháp luật Để giải quyết hiện tượng này, các phương pháp giải quyết xung đột pháp luật sẽ được áp dụng do đó việc chọn pháp luật áp dụng sẽ được đặt ra Tuy nhiên, việc chọn hệ thống pháp luật
áp dụng sẽ không nằm ngoài các quy định của khoản 1 Điều 100 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành Xét về mặt lý luận thì pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập là hai loại nguồn pháp luật phổ biến và quan trọng điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Việc áp dụng các quy định được ghi nhận trong các nguồn này để bảo vệ quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài không những khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam mà còn thể hiện quan điểm của Việt Nam trong mối quan hệ quốc tế thông qua việc thực hiện các điều ước quốc tế về hôn nhân mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập
Thứ hai, trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có
quy định khác với quy định của pháp luật trong nước thì áp dụng các quy định của điều ước quốc tế (khoản 2 Điều 7 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành) Nội dung này không có nghĩa là quy định trong điều ước quốc tế có giá trị pháp lý cao hơn và có thể phủ nhận hiệu lực của quy định pháp luật trong nước mà ở đây nội dung quy định chỉ xác định tính ưu tiên áp dụng Bởi vì, việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế dựa trên các quy định của pháp luật trong nước với mục đích thực hiện chức năng của Nhà nước được xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia
Thứ ba, trong trường hợp LHN&GĐ, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam
có quy định hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia viện dẫn việc
áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài sẽ được áp dụng nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (Điều 101 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành)
Thứ tư, trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt
Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam (Điều 101 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành) Nội dung của Điều này được hiểu là trong trường hợp pháp luật Việt Nam dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài mà pháp luật nước ngoài đó lại dẫn chiếu đến pháp luật Việt Nam thì sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam để điều chỉnh quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Quy định này của pháp luật Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tiễn của đời sống quốc tế
Trang 26GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 26
1.2.3 Nguyên tắc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân trên tinh thần tôn trọng pháp luật nước sở tại, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế
Một trong những đặc điểm quan trọng trong quan hệ hôn nhân là chủ thể luôn là
cá nhân Cá nhân với tư cách là chủ thể trong quan hệ hôn nhân luôn được hưởng quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ cụ thể theo quy định của pháp luật Trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, quyền lợi của các chủ thể luôn được pháp luật Việt Nam bảo vệ Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể việc bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như sau:
Khoản 3 Điều 100 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành quy định: “Nhà nước Việt Nam bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan
hệ hôn nhân phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật quốc tế
và tập quán quốc tế” Từ nội dung của quy định này, có hai điểm pháp lý cần được lưu
ý đó là chủ thể trong quan hệ hôn nhân và nguồn pháp luật được áp dụng để bảo vệ quyền của chủ thể trong quan hệ hôn nhân đó
Về chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là công dân Việt Nam
Về mặt pháp lý cũng như thực tiễn, công dân của một nước sẽ được pháp luật của nước người đó mang quốc tịch bảo vệ Theo quy định tại khoản 3 Điều 100 LHN&GĐ Việt Nam hiện hành, trong trường hợp khi công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài thì quyền và lợi ích chính đáng của họ trong quan hệ hôn nhân sẽ được Nhà nước Việt Nam bảo hộ Cơ chế bảo hộ này sẽ dựa trên các điều ước quốc tế có liên quan quy định, đồng thời việc thực hiện cơ chế này sẽ do các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài như Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán của Việt Nam tiến hành trong phạm vi quyền hạn và chức năng của mình
Về nguồn pháp luật được áp dụng Theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của LHN&GĐ Việt Nam hiện hành thì các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài bao gồm pháp luật trong nước (pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại), điều ước quốc tế và tập quán quốc tế sẽ được áp dụng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài Nói cách khác, quy định được ghi nhận trong các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu
tố nước ngoài đã được Việt Nam tuyên bố áp dụng để bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực hôn nhân Việc ghi nhận quy định này không những khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài mà nó còn thể hiện sự tôn trọng của Việt Nam đối với pháp luật nước sở tại, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế
Trang 27Tóm lại, có thể nói, việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại
Việt Nam phải tuân theo một số nguyên tắc pháp lý nhất định Những nguyên tắc này được cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam Việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này không chỉ bảo vệ lợi ích của quốc gia trong quan hệ quốc tế mà còn bảo vệ các nguyên tắc pháp lý trong quan hệ hôn nhân đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân
có yếu tố nước ngoài
1.3 Lịch sử phát triển
1.3.1 Trước năm 1945
Trước năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến, quan hệ hôn nhân trong thời kỳ này được điều chỉnh tiêu biểu nhất là hai Bộ luật, đó là Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ
Quốc triều hình luật còn gọi là Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới triều Lê6
Bộ luật Hồng Đức là một công trình vĩ đại đã kế thừa các di sản lập pháp của các đời vua trước, đồng thời tiếp thu có gạn lọc Bộ luật nhà Đường (Trung Quốc) mà vẫn giữ được nét độc đáo của nền cổ luật Việt Nam, thể hiện phong tục tập quán lâu đời và truyền thống văn hóa dân tộc
Hoàng Việt luật lệ còn gọi là Bộ luật Gia Long được ban hành vào đầu thời Nguyễn7
Hai Bộ luật này quy định khá cụ thể việc điều chỉnh quan hệ pháp lý giữa vợ và chồng, quan hệ tài sản của vợ và chồng Song hai Bộ luật này cũng không tránh khỏi hạn chế phong kiến đang suy tàn, xu hướng duy trì chế độ phụ hệ cứng nhắc, triệt tiêu
sự bình đẳng giữa vợ và chồng
Dưới thời Pháp thuộc đất nước ta bị chia làm ba kỳ là: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Sau khi xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã ban hành Bộ dân luật giản yếu Nam Kỳ áp dụng ở Nam Kỳ và ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng Bộ dân luật Bắc Kỳ được ban hành vào ngày 30/3/1931 theo Nghị định của Thống sứ Bắc
Kỳ để thi hành trên toàn Bắc Kỳ từ ngày 01/7/1931 thay cho Bộ luật Gia Long Hoàng Việt Trung Kỳ là hộ luật được ban hành năm 1939 thi hành trên toàn Trung Kỳ Về thực chất vẫn là phiên bản của Bộ dân luật Bắc Kỳ có sửa đổi, bổ sung một số điều cho phù hợp với các tỉnh Trung Kỳ và triều đình Huế Về quan hệ hôn nhân, các Bộ luật này đã quy định về quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng và chế độ tài sản của vợ chồng
6 Viện Sử học, Quốc triều hình luật, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1991, tr 18
7 Hoàng Việt luật lệ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1994, tr 9.
Trang 28GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 28
Song pháp luật dân sự thời kỳ này có những mặt hạn chế nhất định, đáng kể nhất đó là các quy định về gia đình vẫn mang tư tưởng phong kiến, đề cao nho giáo, trọng nam khinh nữ và đề cao quyền gia trưởng
Trong thời kỳ Pháp thuộc mặc dù cả ba Bộ luật áp dụng điều chỉnh quan hệ dân
sự nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng ở ba miền Bắc – Trung – Nam nhưng không có Bộ luật nào có quy phạm quy định một cách cụ thể việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Thực tế trong gần một thế kỷ dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, ở Việt Nam có không ít quan hệ hôn nhân được xác lập giữa người Việt Nam với người nước ngoài đặc biệt là với người Pháp nhưng không hề có quy phạm pháp luật cụ thể nào điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Trên thực tế, các Bộ luật này có một số quy phạm đề cập tới vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng thực chất các quy phạm này không nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài mà chỉ nhằm điều chỉnh vấn đề quốc tịch
Ví dụ, tại Điều thứ 15 Dân pháp điển Bắc kỳ (1931) quy định: “Đàn bà quốc dân
An nam kết hôn với người Đại Pháp hay người ngoại quốc thì sẽ theo quốc tịch người chồng trừ khi quốc luật của người ngoại quốc ấy không nhận cho vào quốc tịch người chồng thì không kể Khi ấy người đàn bà vẫn thuộc luật An Nam”; hoặc Điều thứ 16 của Bộ luật này quy định: “Đàn bà Pháp hay ngoại quốc mà kết hôn theo pháp luật với một quốc dân An Nam thì cũng trở thành quốc dân An Nam trừ trường hợp pháp luật của nước người đàn bà ấy không nhận cho theo quốc tịch người chồng hoặc người đàn
bà ấy không muốn theo quốc tịch người chồng”
Vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ Pháp thuộc tại Việt Nam không được quy định trong các Bộ luật dân sự cũng như các văn bản pháp luật khác của Việt Nam lúc bấy giờ là hoàn toàn dễ hiểu, bởi vì quyền lợi của công dân Pháp nói chung và quyền lợi của công dân Pháp trong quan hệ hôn nhân với dân “xứ An nam” nói riêng đã được coi là vấn đề rất quan trọng mà đã là vấn đề quan trọng thì không thể
bị điều chỉnh bởi pháp luật của một nước thuộc địa
1.3.2 Từ năm 1945 đến năm 1959
Cách mạng tháng tám thành công, ngày 02 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình chính thức khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Là một nhà nước non trẻ vừa được lột xác từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, trong thời kỳ non trẻ đó Việt Nam phải đối phó với thù trong giặc ngoài trong đó có cuộc kháng chiến thần thánh chín năm chống thực dân
Trang 29Pháp và kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ nên rất ít văn bản pháp luật riêng lẻ được ban hành để điều chỉnh các quan hệ dân sự trong đó có quan hệ hôn nhân
Cho tới tháng 5 năm 1950, các vấn đề liên quan tới quan hệ dân sự trong đó có quan hệ hôn nhân đều chịu sự điều chỉnh của các quy định được ghi nhận trong ba Bộ dân luật, đó là Dân luật pháp điển Bắc Kỳ (1931), Dân pháp điển Trung Kỳ (1936) và Pháp quy giản yếu (1883)
Trong giai đoạn này có một văn bản pháp luật có giá trị cao nhất đầu tiên đề cập gián tiếp đến quan hệ hôn nhân đó là bản Hiến pháp năm 1946 Bản Hiến pháp này được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua ngày 09/11/1946 Tại điều
9 Hiến pháp quy định: “ Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Có thể nói đây là nội dung tiến bộ thể hiện bản chất tốt đẹp của một xã hội văn minh, một
xã hội mà trong đó mọi người được bình đẳng với nhau ở mọi lĩnh vực trong đó có đời sống hôn nhân
Ngày 22/05/1950, chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ký Sắc lệnh số
97-SL Sắc lệnh đưa ra các quy định tiến bộ điều chỉnh quan hệ dân sự trong đó có quan
hệ hôn nhân và gia đình, đồng thời tuyên bố bãi bỏ việc thi hành những quy định trái với nguyên tắc tiến bộ trong quan hệ hôn nhân và gia đình của nước Việt Nam dân chủ
Cộng hòa Ví dụ, từ Điều 2 đến Điều 5 Sắc lệnh quy định: “Người đàn bà ly dị có thể
lấy chồng khác ngay sau khi có án tuyên ly dị nếu dẫn chứng được rằng mình không
có thai hoặc đang có thai, chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình,…”
Văn bản pháp lý riêng biệt đầu tiên đề cập đến lĩnh vực hôn nhân là Sắc lệnh 159-SL được ban hành ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn Trong Sắc lệnh này các duyên cớ ly hôn, thủ tục ly hôn và hiệu lực của việc ly hôn được quy định tuy không nhiều nhưng tương đối cụ thể Sự ra đời của Sắc lệnh 159- SL quy định riêng biệt các vấn đề ly hôn đã thể hiện phần nào quan điểm cho rằng hôn nhân là quan hệ đặc biệt có thể được tách ra khỏi quan hệ dân sự thông thường Trên thực tế quan điểm này đã được thực hiện khi Nhà nước ta ban hành LHN&GĐ năm 1959
Sự ra đời của Sắc lệnh 97-SL đã hủy bỏ các quy định lạc hậu được ghi nhận trong ba Bộ dân luật, đồng thời ghi nhận những nội dung tiến bộ điều chỉnh quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hôn nhân nói riêng Trong giai đoạn này các vấn đề liên quan đến kết hôn sẽ tuân theo quy định của Sắc lệnh 97-SL ngày 22/05/1950, các vấn
đề về ly hôn sẽ tuân theo quy định của Sắc lệnh 159-SL ngày 17/11/1950 Trong tất cả các quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân trong giai đoạn này không có một quy phạm nào ghi nhận việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Trang 30GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 30
Tuy chưa có quy định riêng điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng vấn đề này đã được quy định trong một số văn bản khác Chẳng hạn, trong Sắc lệnh 53-SL ngày 20/10/1945 về quốc tịch Việt Nam; Điều 5, Điều 6 đã trực tiếp công nhận một thực tế khách quan đó là có tồn tại quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài Hiến pháp 1959 là cơ sở pháp lý quan trọng để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời kỳ này, tuy vậy vẫn chưa có quy định cụ thể điều chỉnh trực tiếp quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
1.3.3 Từ năm 1959 đến trước năm 1986
Trong giai đoạn này, Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 31/12/1959 tiếp tục khẳng định và ghi nhận quyền bình đẳng của nam và nữ (Điều 24) Xuất phát từ tình hình thực tế của quan hệ hôn nhân trong thời kỳ mới LHN&GĐ năm 1959 đã được Quốc hội thông qua tại kỳ hợp thứ 11 ngày 29/12/1959 và được Chủ tịch nước ký Sắc lệnh số 02/Sắc lệnh 97-SL công bố ngày 13/01/1960 Về quan hệ hôn nhân, Luật đã điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng Tuy nhiên, LHN&GĐ năm 1959 không có quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong giai đoạn này
đã có sự phát triển nhất định so với giai đoạn trước biểu hiện ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, pháp luật đã điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Ở miền Bắc, trong năm 1961 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04 ngày 16/01/1961 kèm theo Điều lệ về đăng ký hộ tịch trong đó có quy định về kết hôn.Ngày 21/06/1961, Bộ nội vụ ban hành Thông tư số 05/NV hướng dẫn thi hành Điều lệ về đăng ký hộ tịch nói trên Tuy nhiên, trong văn bản pháp luật này chưa quy định điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đầy đủ nhưng những quy định đó sẽ là nền móng cơ bản để chúng ta giải quyết quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Ở miền nam dưới sự cai trị của bộ máy ngụy quân ngụy quyền miền Nam, các quan hệ dân sự nói chung và các quan hệ hôn nhân nói riêng trong thời kỳ này vẫn chịu sự điều chỉnh của Pháp quy giản yếu (1883) cho đến năm 1959
Dưới sự cai trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, ngày 02/01/1959, Luật gia đình của chế độ họ Ngô được công bố Về mặt pháp lý, Luật gia đình này đã chấm dứt sự điều chỉnh của Pháp quy giản yếu (1883) đối với các quan hệ hôn nhân trong khu vực tạm thời nằm dưới sự cai trị của chính quyền ngụy quân ngụy quyền miền Nam Sự ra
Trang 31đời của Luật này đã đánh dấu một bước tiến bộ trong việc xây dựng các quy định về hôn nhân
Tháng 11 năm 1963, chính quyền họ Ngô đã bị lật đổ chính quyền bù nhìn mới lên thay đã ban hành Sắc luật số 15/64 thay thế cho Luật gia đình năm 1959 của chế độ gia đình trị họ Ngô Nội dung của Sắc luật số 15/64 có những cải cách tiến bộ hơn so với Luật gia đình 1959 nhưng Sắc luật này không tránh khỏi những khiếm khuyết về
kỹ thuật cũng như về nội dung Trong quá trình áp dụng cho đến cuối tháng 12 năm
1972, Sắc luật 15/64 đã được bổ sung bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau
Ngày 20/12/1972 Bộ dân luật được ban hành Bộ dân luật này đã thay thế cho Sắc luật 15/64 cùng các văn bản sửa đổi và bổ sung Sắc luật này trước đó Về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, Bộ dân luật quy định tại điều 125 như sau : ‘‘Trong trường hợp hôn thú lập ở ngoại quốc, trong vòng 3 tháng sau khi trở về lãnh thổ Việt Nam, người có quốc tịch Việt Nam phải xuất trình một bản sao chứng thư hôn thú cũ nhất là 3 tháng gửi cho biện lý Tòa án nơi trú ngụ Biện lý sẽ ra lệnh đăng ký vào sổ giá thú đương nhiên và ghi chú vào lề chứng thư khai sinh của đương sự, ở sổ chánh cũng như ở sổ kép’’ Cũng như nội dung của các điều 24,25,70 của Luật gia đình 1959 dưới thời họ Ngô, Điều 125 của Bộ dân luật dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu chỉ quy định các điều kiện và thủ tục để một hôn thú được lập ở nước ngoài có giá trị tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ
Nhìn chung các văn bản pháp luật dưới chế độ ngụy quân ngụy quyền miền Nam
là các văn bản có nội dung đi ngược lại lợi ích của quốc gia và dân tộc Mặc dù đã xóa
bỏ chế độ đa thê nhưng vẫn thể hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ và chồng, cấm
vợ chồng ly hôn,…
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước ngày càng được mở rộng làm phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ xã hội trong
đó có quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đòi hỏi phải có pháp luật điều chỉnh Để
xử lý tình hình này, CHXHCNVN đã tiến hành đàm phán và ký kết các HĐTTTP với Cộng hòa dân chủ Đức (1980), Liên Xô (1981), Tiệp Khắc (1982), Cu Ba (1984), Hungari (1985), Bungari (1986) Các hiệp định này đã tạo một khung pháp lý khá hoàn chỉnh điều chỉnh quan hệ hôn nhân giữa các nước ký kết hiệp định Song song với việc ký kết các hiệp định, Nhà nước cũng ban hành một số văn bản để điều chỉnh một số vấn đề riêng lẻ trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Thứ hai, ngoài quan hệ hợp tác quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam
đã dần dần mở rộng quan hệ với các nước khác, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước
Trang 32GVHD: ThS Lê Minh Trung SVTH: Trần Quốc Trung 32
ngoài cũng dần dần trở nên phức tạp hơn Tuy vậy trong giai đoạn này, HĐTTTP chỉ được ký giữa các nước xã hội chủ nghĩa được thực hiện trên các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa và có nội dung cơ bản giống nhau
Các HĐTTTP này đã điều chỉnh khá toàn diện các vấn đề quan hệ hôn nhân như quan hệ kết hôn, ly hôn, quan hệ pháp lý giữa vợ chồng,…được giải quyết khá cụ thể Việc thiết lập điều ước quốc tế như vậy cũng đặt ra khả năng đàm phán và ký với các nước khác những hiệp định tương tự và cũng đặt ra yêu cầu cần thiết hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở nước ta trong giai đoạn sau đó
1.3.4 Từ năm 1986 đến năm 2000
Để đáp ứng với tình hình mới khi mà điều kiện kinh tế của Việt Nam có nhiều thay đổi, các quy định của LHN&GĐ năm 1959 có nhiều quy phạm không còn phù hợp với thực tế, do đó tại kỳ họp lần thứ 12 Quốc hội khóa VII đã thông qua
LHN&GĐ ngày 29/12/1986 LHN&GĐ 1986 gồm 10 chương với 57 điều quy định các nguyên tắc tiến bộ điều chỉnh quan hệ hôn nhân Việt Nam
Đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, LHN&GĐ Việt Nam 1986 đã quy định một chương riêng (chương IX) quy định về quan hệ hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Chương này gồm ba điều đó là các Điều 52, 53, 54 với các nội dung sau:
- Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài thì mỗi bên tuân theo những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành ở Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định ở Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986
- Quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản của vợ chồng, hủy việc kết hôn, ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài do Hội đồng Nhà nước quy định
- Trường hợp đã có HĐTTTP về quan hệ hôn nhân giữa Việt Nam và nước ngoài thì tuân theo những quy định của các Hiệp định đó
Trong giai đoạn này có một văn bản pháp luật quan trọng liên quan tới quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài đó là Pháp lệnh lãnh sự 1990 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1991) Trong Pháp lệnh này, về vấn đề liên quan tới quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 22 như sau: ‘‘Trường hợp công dân Việt Nam kết hôn với công dân nước ngoài thì lãnh sự chỉ đăng ký khi nước tiếp nhận đồng
Trang 33ý’’ Quy định này thể hiện sự tôn trọng của Việt Nam đối với nhà nước nước ngoài trong việc giải quyết các quan hệ về hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Điểm đáng chú ý nhất trong giai đoạn từ năm 1993 cho tới năm 2000 là sự ra đời của Pháp lệnh Hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 02/12/1993 và có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/03/1994 Đây là văn bản pháp luật riêng biệt đầu tiên điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
Để quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 184-CP ngày 30/11/1994 trong đó có quy định về thủ tục kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
Bên cạnh sự ra đời của hai văn bản pháp luật trên đây, trong giai đoạn 1993 - 2000 một số văn bản pháp luật liên quan khác cũng được ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tiêu biểu nhất là Bộ luật Dân sự năm 1995 và Luật quốc tịch 1998:
Thứ nhất, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 Bộ luật Dân sự Việt Nam được
Quốc hội nước CHXHCNVN khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995 Về quan hệ hôn nhân, Bộ luật Dân sự quy định tại các Điều từ Điều 35 đến Điều 38 như sau:
- Về quyền kết hôn, Điều 35 quy định: “Hôn nhân được xây dựng trên nguyên tắc một vợ một chồng; nam, nữ khi đủ điều kiện kết hôn thì có quyền tự do kết hôn mà không ai được cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ và không được cưỡng ép kết hôn”
- Về quan hệ giữa vợ và chồng, Điều 36 quy định: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt của cuộc sống gia đình và trong giao lưu dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, bền vững, hòa thuận và hạnh phúc’’
- Về quyền ly hôn, Điều 38 quy định: “Ly hôn được coi là quyền của mỗi bên vợ chồng, theo đó vợ hoặc chồng hoặc cả hai bên vợ chồng có quyền yêu cầu tòa án cho chấm dứt quan hệ hôn nhân khi có lý do chính đáng”
Thứ hai, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 Luật Quốc tịch Việt Nam số
07/1998/QH10 được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/5/1998 Về vấn đề liên quan đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài, Luật Quốc tịch quy định tại Điều 9 và Điều 10 như sau: “Việc kết hôn, ly hôn và hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài không làm thay đổi quốc