Đảm bảo tín dụng là tuyến phòng thủ của ngân hàng, khi thực hiện ký kết hợp đồng thế chấp và cầm cố, hay hợp đồng bảo lãnh là thiết lập cơ sở pháp lý của tín dụng đã cấp với những tài sả
Trang 1Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS Nguyễn Minh Tâm Họ và tên: Nguyễn Hoài Lâm MSSV: 5085966
Lớp: Luật Thương mại 2-K34
C Ầ N TH Ơ , THÁNG 5/2012
Trang 2L Ờ I C Ả M Ơ N
Lời đầu tiên người viết xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Cô Nguyễn Minh Tâm – cán bộ Bộ môn Luật kinh doanh –Thương mại, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ người viết tận tình trong suốt thời gian người viết nghiên cứu đề tài Luận văn tốt nghiệp của mình
Người viết cũng gởi lời cảm ơn chân thành đến tất cả quý thầy, cô Khoa
Luật – Trường Đại học Cần thơ đã hết lòng dìu dắt, dạy bảo, truyền thụ cho
người viết những kiến thức cơ bản nhất về luật học cũng như những đóng góp quý báu để giúp em hoàn thành tốt bài Luận văn này và đặc biệt người
viết xin gửi lời cảm ơn đến cố vấn học tập, Cô Lê Huỳnh Phương Chinh
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu đề tài khoa học này nhưng do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan nên chắc chắn đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được sự giúp đỡ
và đóng góp ý kiến của quý thầy, cô Người viết xin chân thành cảm ơn và xin kính chúc quý thầy, cô nhiều sức khỏe, thành công trong công việc và cuộc
sống
Sinh viên Nguyễn Hoài Lâm
Trang 3Nh ậ n xét c ủ a gi ả ng viên h ướ ng d ẫ n
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
…… ………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
Trang 4……… ………
Nh ậ n xét c ủ a H ộ i đồ ng ph ả n bi ệ n ………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
…… ………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
……… ………
………
………
………
………
………
………
……… ………
Trang 5MỤC LỤC
Số trang
LỜI MỞĐẦU……….1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI……… 9
1.1 Bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng 9
1.1.1 Tín dụng ngân hàng 9 1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 9
1.1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng 10
1.1.1.3 Nguyên tắc của hoạt động tín dụng ngân hàng 4
1.1.2 Vai trò của bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng 12 1.2 Quy chế pháp lý về bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng….7 1.2.1 Các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng 7 1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của bảo đảm tiền vay 8 1.2.2.1 Khái niệm về bảo đảm tiền vay 8
1.2.2.2 Các nguyên tắc và đặc trưng của bảo đảm tiền vay 9
1.2.3 Hình thức của bảo đảm tiền vay 171 1.2.3.1 Các biện pháp cho vay có bảo đảm tiền vay bằng tài sản 11
1.2.3.2 Biện pháp cho vay không có tài sản bảo đảm……… …… 23
1.2.4 Hợp đồng cho vay và quy trình xét duyệt cho vay 304 1.2.4.1 Khái niệm, phân loại hợp đồng cho vay 304
1.2.4.2 Căn cứ xác lập hợp đồng 315
1.2.4.3 Nghĩa vụ được bảo đảm 315
1.2.4.4 Thẩm định tài sản và giao kết hợp đồng 25
1.2.4.5 xử lý tài sản bảo đảm 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY TẠI CHI NHÁNH NHNN & PTNN HUYỆN NGÃ NĂM 27
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh NHNN & PTNT Huyện Ngã Năm 27
2.1.1 Khái quát chung về NHNN & PTNT Việt Nam 27 2.1.1.1 Sự ra đời của NHNN & PTNT Việt Nam 27
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý của NHNN & PTNT Việt Nam 28 2.1.2 Chi nhánh NHNN & PTNT Ngã Năm 29 2.1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh 29
Trang 62.1.2.2 Tổ chức bộ máy điều hành tại chi nhánh 383
2.1.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong 3 năm 2009, 2010, 2011 393
2.2 Thực trạng công tác bảo đảm tiền vay tại chi nhánh 39
2.2.1 Cơ sở pháp lý về bảo đảm tiền vay đang được chi nhánh áp dụng 39 2.2.2 Quy trình bảo đảm tiền vay tại chi nhánh 40 2.2.3 Thực trạng các hình thức đảm bảo thực hiện tại chi nhánh 45 2.2.4 Các tranh chấp trong kinh doanh và việc giải quyết tranh chấp 560 2.3 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay tại chi nhánh NHNN&PTNT huyện Ngã Năm 51
2.3.1 Định hướng phát triển chung của chi nhánh NHNN&PTNT huyện Ngã Năm trong năm 2012 51
2.3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay tại chi nhánh NHNN&PTNT huyện Ngã Năm 53 2.3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay tại chi nhánh NHNN&PTNT huyện Ngã Năm 55 2.3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 55
2.3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 59
2.3.3.3 Kiến nghị với NHNN&PTNT Việt Nam 59
2.3.3.4 Kiến nghị với chi nhánh NHNN&PTNT Ngã Năm 660
KẾT LUẬN……… 61
Agribank: Tên viết tắt của Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
Trang 7L Ờ I M Ở ĐẦ U
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng và hoạt động ngân hàng từ lúc mới ra đời cho tới nay, vẫn đang ngày càng phát triển và thể hiện vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế của các quốc gia Hoạt động ngân hàng nói chung là một dịch vụ liên quan đến tiền tệ, nó bao gồm các hoạt động từ nhận tiền gửi đến cho vay và các dịch vụ kinh doanh khác Là một hoạt động đặc biệt có sự tham gia của ‘tiền tệ” nên hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với nhiều rủi ro Ở nước ta hiện nay, hệ thống ngân hàng thương mại đang ngày càng mở rộng và phát triển, phục vụ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Với chủ trương của Đảng và nhà nước ta là đi lên từ con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, vì thế ngành nông nghiệp hiện vẫn đang giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà, với chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn, Đảng và nhà nước ta đã tạo điều kiện cho người dân và khách hàng khác ở nông thôn tiếp cận với nguồn vốn một cách hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống của người dân Gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động ngân hàng từ đó càng thể hiện vai trò quan trọng của mình là kênh điều tiết vốn hữu hiệu cho nền kinh tế Tuy nhiên, khi kinh tế càng phát triển thì hoạt động ngân hàng cũng không thể bị động trước tác động của vòng xoáy thị trường, từ đó làm cho hoạt động ngân hàng hàm chứa nhiều rủi ro và rủi ro tín dụng là không thể loại trừ trong hoạt động ngân hàng hiện nay Để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, một trong những biện pháp mà các ngân hàng thường áp dụng là sử dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay Với một hành lang pháp lý được Nhà nước ta ban hành bao gồm các văn bản pháp luật về giao dịch bảo đảm trong đó có các biện pháp về bảo đảm tiền vay nhằm tạo cơ
sở pháp lý cho các tổ chức tín dụng (TCTD), giúp các TCTD phòng ngừa rủi ro, có thể thu hồi các khoản nợ đã cho khách hàng vay
Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Ngã Năm, người viết được tiếp xúc và tìm hiểu các hoạt động tín dụng tại chi nhánh Hiện nay, tại chi nhánh nhìn chung hoạt động cho vay phần lớn
là tín dụng nông nghiệp, nông thôn Cho nên, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay còn nhiều bất cập, chưa phát huy hết vai trò cũng như tác dụng của các biện pháp bảo đảm này Với những kiến thức đã học, cùng với khoảng thời gian được thực tập tại
chi nhánh đã giúp người viết chọn đề tài “Lý luận chung về hoạt động bảo đảm tiền vay và thực tiển pháp lý tại chi nhánh NHNN&PTNN huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng” Đề tài tập trung nghiên cứu về mặt pháp lý hoạt động bảo đảm tiền vay cũng
Trang 8như thực trạng hiện nay tại chi nhánh, từ đó rút ra kết luận và những kiến nghị cùng giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động bảo đảm tiền vay tại chi nhánh hiện nay
2 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, cũng như kiến thức người viết có giới hạn, người viết chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về hoạt động bảo đảm bằng tiền vay, và phân tích các hình thức bảo đảm tiền vay như bảo đảm tiền vay bằng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh…Và những số liệu thực tế người viết chỉ xoay quanh chi nhánh NHNN&PTNN huyện Ngã Năm tỉnh Sóc Trăng
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được xây dựng trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và những nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài, đồng thời vận dụng những kiến thức có được trong quá trình học tập để làm sang tỏ nội dung Những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của người viết đó là:
- Các phương pháp chuyên ngành như: phương pháp phân tích luật viết, phân tích
số liệu, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy luận logic để làm sáng tỏ các vấn đề
- Ngoài ra người viết còn vận dụng các phương pháp sưu tầm, thống kê, tham khảo tài liệu, nghiên cứu, chọn lọc các bài viết từ sách báo, tạp chí, internet
Trang 9CH ƯƠ NG 1 LÝ LU Ậ N CHUNG V Ề HO Ạ T ĐỘ NG B Ả O ĐẢ M
1.1 Bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng
1.1.1 Tín dụng ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng xuất phát từ gốc từ Latinh “Gredittum”, tức là tin tưởng, tín nhiệm, trong tiếng Anh gọi là “Credit” Tín dụng là một hoạt động ra đời và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hóa Tín dụng là một quan hệ kinh tế thể hiện dưới hình thức vay mượn và có hoàn trả
Tín dụng có thể được hiểu theo các định nghĩa như là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định Hoặc tín dụng là phạm trù kinh tế, phản ánh quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế hàng hóa Tín dụng cũng có thể được hiểu là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (người cho vay) cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ, chứng khoán… dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của bên kia (người đi vay) Tóm lại, dù được hiểu như thế nào thì tín dụng vẫn là hoạt động cho vay và đi vay và quan hệ này được ràng buộc trên cơ
Có nhiều hình thức tín dụng nhưng thông thường, tín dụng ngân hàng phân theo thời gian khách hàng vay vốn, bao gồm các loại sau1:
Một là, tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm thường
được dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh nghiệp
và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân
1
ThS Thái Văn Đại, Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thương mại, Nxb Trường Đại học Cần Thơ, 2008, t 48
Trang 10Hai là, tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm dùng để
cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh
Ba là, tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng
để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
1.1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Ngân hàng được coi là huyết mạch trong bộ máy tài chính của đất nước, đặc biệt trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, hoạt động của hệ thống ngân hàng càng khẳng định hơn nữa vai trò quan trọng của mình Các vai trò mà hoạt động tín dụng
ngân hàng thường thể hiện đó là:
Thứ nhất, tín dụng cung cấp vốn đầy đủ và kịp thời tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hiệu quả
và còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho các tổ chức kinh tế Nó là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, có thể nói trong mọi nền kinh tế xã hội tín dụng được phát huy vai trò
to lớn của nó, tạo động lực phát triển mạnh mẽ mà không một công cụ nào có thể thay thế được
Thứ hai, tín dụng thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa, phát triển sản xuất Thật
vậy, trong thời kì đầu tiền tệ lưu thông là hóa tệ cho đến khi tín dụng phát triển các giấy nợ đã thay thế cho bộ phận tiền trong lưu thông Ngày nay, Ngân hàng cung cấp tiền cho lưu thông chủ yếu thực hiện qua con đường tín dụng Đây là cơ sở đảm bảo cho lưu thông tiền tệ được ổn định, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, thu hút nhiều lực lượng sản suất mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội
Thứ ba, tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá, làm giảm áp lực lạm
phát Ngoài ra tín dụng còn tạo điều kiện cho phát triển kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới, mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế
1.1.1.3 Nguyên tắc của hoạt động tín dụng ngân hàng 2
Trong bất kỳ một hoạt động gì, mọi người đều phải tuân theo một nguyên tắc nhất định, và trong hoạt động tín dụng ngân hàng cũng vậy Ở Việt Nam hiện nay, nguyên tắc của hoạt động tín dụng ngân hàng đặt ra đó là:
2
ThS Thái Văn Đại: Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thương mại, Nxb Trường Đại học Cần Thơ, 2008, t
42-43
Trang 11Nguyên tắc thứ 1: Tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trên hợp
đồng tín dụng Theo nguyên tắc này, tiền vay phải được sử dụng đúng theo mục đích
đã được người đi vay thỏa thuận với ngân hàng và ngân hàng đã đồng ý Đối tượng ngân hàng xem xét cho vay là các khoản chi phí mà người đi vay cần thực hiện phù hợp với nhu cầu đầu tư vào sản xuất kinh doanh Nói đến nguyên tắc là nói đến sự bắt buộc tuân thủ Chính vì vậy, người đi vay phải sử dụng vốn vay đúng mục đích ghi trên hợp đồng tín dụng Trường hợp ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng vốn sai mục đích thì ngân hàng có quyền thu hồi vốn trước thời hạn để tránh tình trạng rủi ro
do sự thất tín của người đi vay
Nếu khách hàng tuân thủ đúng nguyên tắc này của ngân hàng thì cũng có nghĩa giúp cho khách hàng sử dụng vốn vào sản xuất kinh doanh theo thỏa thuận và như vậy
sẽ được lợi nhuận Khi đó người đi vay đảm bảo được uy tín với ngân hàng, giúp ngân hàng thực hiện được sứ mệnh của mình là góp phần phát triển sản xuất đồng thời cũng tạo ra lợi nhuận cho chính mình
Nguyên tắc 2: Tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn đã
thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng Như mọi người biết, ngân hàng cũng là một đơn vị kinh doanh và mục tiêu của ngân hàng cũng là lợi nhuận có được từ các khoản đầu tư – tín dụng Một ngân hàng không thể tồn tại nếu các khoản cho vay của mình chỉ thu
về được gốc hoặc chỉ có tiền lãi vì vốn mà ngân hàng sử dụng cho vay cũng là nguồn vốn ngân hàng đi vay, phải trả lãi Như vậy, điều kiện vật chất để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển là có thể thu về gốc và lãi sau khoảng thời gian cấp tín dụng cho khách hàng
Theo nguyên tắc bắt buộc, người đi vay phải chủ động trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng sau khi đáo hạn Nếu đáo hạn người đi vay không chủ động trả nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ chủ động phong tỏa tài khoản tiền gửi của khách hàng (trường hợp khách hàng có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng), chuyển nợ quá hạn (trường hợp không được cơ cấu lại thời hạn), hoặc ngân hàng có thể sử dụng biện pháp cứng gắn hơn như phát mãi tài sản để thu hồi nợ
Bất kỳ rủi ro sai hẹn nào của người đi vay cũng có thể gây ra ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Trường hợp nhiều khách hàng không có khả năng thực hiện được hoặc không muốn thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình có thể tác động làm cho ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí phá sản Điều đó cũng có nghĩa sẽ tác động đến hoạt động kinh tế xã hội vì hoạt động của ngân hàng có ảnh hưởng dây chuyền, có thể lây lang tới nhiều ngân hàng khác
Trang 121.1.2 Vai trò của bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng 3
Bảo đảm tiền vay sẽ tạo động lực cho người vay trả nợ ngân hàng
Vì giá trị của một khoản vay thường nhỏ hơn giá trị của tài sản làm đảm bảo nên một ngân hàng chỉ cho một khách hàng vay tối đa 70% giá trị tài sản thế chấp, cũng có khi thấp hơn, khoảng 50% giá trị của tài sản thế chấp Tùy thuộc vào từng loại tài sản đảm bảo (trên thực tế còn xét trên các khía cạnh khác của khách hàng vay vốn,
có thể là uy tín của khách hàng vay hoặc nó có thể là do khách hàng lần đầu vay vốn tại ngân hàng…) cũng ảnh hưởng đến giá trị của món vay Như vậy trong trường hợp người đi vay không chủ động trả nợ cho ngân hàng thì khi ngân hàng phát mãi tài sản của khách hàng thì họ cũng chỉ có thiệt hại đi kèm
Bảo đảm tiền vay là cơ sở pháp lý trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng
và khách hàng
Đảm bảo tín dụng sẽ làm nản lòng những người đi vay có ý định giật nợ, đối với những người đi vay có ý định lừa đảo nếu ngân hàng cho vay tín chấp thì điều đó đối với họ sẽ dễ thực hiện hơn, nhưng một khi ngân hàng đặt ra yêu cầu người đi vay phải có tài sản làm đảm bảo thì làm cho ý định lừa đảo không còn vì ngân hàng đã có phần tài sản làm đảm bảo cho lợi ích của mình
Đảm bảo tín dụng là tuyến phòng thủ của ngân hàng, khi thực hiện ký kết hợp đồng thế chấp và cầm cố, hay hợp đồng bảo lãnh là thiết lập cơ sở pháp lý của tín dụng
đã cấp với những tài sản của người vay hay người thứ ba để không thu được nợ sẽ có thể dựa vào việc bán tài sản đó để thu hồi nợ Người đi vay phải có trách nhiệm chủ động thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng dòng tiền thu về được khi đầu tư sản xuất kinh doanh Khi đánh giá hoạt động tín dụng của khách hàng chưa đem lại nguồn thu chắc chắn, ngân hàng buộc phải dùng đến những hình thức đảm bảo tín dụng là các giá trị tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba làm điều kiện vay vốn
Bảo đảm tiền vay có vai trò quan trọng trong việc hạn chế tranh chấp xảy
ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia trong quan hệ tín dụng ngân hàng
Đây là một trong những vai trò quan trọng mà các biện pháp bảo đảm tiền vay thể hiện tác dụng, bảo đảm quyền lợi của ngân hàng và khách hàng trong hoạt động tín dụng Bảo đảm tiền vay bằng tài sản được thể hiện bằng các hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh…Trước đây đã được quy định tại Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày
3 ThS Thái Văn Đại: Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thương mại, Nxb Trường Đại học Cần Thơ, 2008, t 56
Trang 1319/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm nay được thay thế bởi Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 163) Nghị định số 163 bãi bỏ Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng Các bên trong hợp đồng tín dụng ngân hàng có quyền thoả thuận áp dụng biện pháp bảo đảm cũng như thoả thuận các điều khoản trong giao dịch bảo đảm Các giao dịch bảo đảm này là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng ngân hàng Trên tinh thần của Nghị định số 163 cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước ta là bảo vệ quyền và lợi ích của ngân hàng và khách hàng theo khuôn khổ của pháp luật về bảo đảm tiền vay, việc xử lý tài sản bảo đảm đó Đồng thời, ngân hàng cũng hạn chế được các tranh chấp phát sinh, tạo điều kiện cho hoạt động vay vốn
ngày càng thuận lợi hơn, đảm bảo sự phát triển kinh tế, xã hội
1.2 Quy chế pháp lý về bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng
1.2.1 Các quy định pháp luật về bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng
Hiện nay, hệ thống ngân hàng là huyết mạch trong nền kinh tế, ngân hàng là kênh cung cấp tiền tệ chủ yếu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân cần vốn Ngân hàng đang làm rất tốt nghiệp vụ tín dụng chính của mình, tuy nhiên không phải lúc nào việc cấp vốn cũng đồng nghĩa với việc khách hàng hoàn trả theo mục tiêu mà ngân hàng tổ chức hoạt động, Khoản 16 Điều 2 Luật Các tổ chức tín
dụng 2010 “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Cho vay là
nghiệp vụ sinh lời nhiều nhất của ngân hàng, nhưng việc cho vay càng nhiều thì rủi ro
mà ngân hàng phải đối mặt càng cao Đối với bất kỳ một ngân hàng nào, không phải lúc nào cũng có thể đồng thời đạt được hai mục đích: Phát triển thị trường, khách hàng
và bảo đảm an toàn đối với các khoản cho vay, để làm được điều này thì việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay được xem như công cụ hiệu quả và an toàn đối với các ngân hàng, làm giảm thiểu các rủi ro tín dụng gặp phải4 Trước đây, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay còn nhiều bất cập, chưa được các ngân hàng và người đi vay xem trọng Hiện nay, hệ thống pháp luật nước ta quy định khá cụ thể về các giao dịch bảo đảm, từ Bộ luật Dân sự 2005 đến các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Bộ, ngành liên quan mà đặc biệt trong đó là việc Nghị định số 163 được ban hành về giao
4
ThS Nguyễn Thùy Trang: Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thương mại: Một số nhận định nhìn từ góc độ pháp lý đến thực tiển, Tạp chí ngân hàng số 23 năm 2010
Trang 14dịch bảo đảm Điều này xuất phát từ nhu cầu thực tế nhằm tạo ra một hành lang pháp
lý bình ổn cho các bên Các TCTD đã và đang thực hiện theo quy định cũng như hướng dẫn của các văn bản này để áp dụng vào ngân hàng như:
• Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 14/6/2005 (thay thế Bộ luật Dân sự ban hành ngày 28/10/1995)
• Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 ban hành ngày 16/06/2010
• Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 163), được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ – CP, có hiệu lực ngày 10 tháng 4 năm 2012
• Nghị định số 83/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09 tháng 9 năm
2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm
• Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Ngân hàng Nhà nước về quy chế bảo lãnh ngân hàng
• Thông tư liên tịch số 20/2011/TTLT/BTP-BTNMT được ban hành ngày 18/11/2011 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (có hiệu lực từ ngày 15/01/2012)
• Thông tư liên tịch số 03/TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐT ngày 23/4/2001 hướng dẫn xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ của các TCTD
Ngoài những văn bản nói trên, thì tùy vào từng ngân hàng có các quy định hướng dẫn cụ thể cho từng loại hình biện pháp đảm bảo khác nhau, trên tinh thần hướng dẫn trong các quy định do các cơ quan ban ngành liên quan ban hành
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc của bảo đảm tiền vay
1.2.2.1 Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Trong xu thế thị trường, một ngân hàng thương mại muốn tồn tại và phát triển thì cần phải đẩy mạnh hoạt động tín dụng, là hoạt động kinh doanh chính yếu đến từ ngân hàng Ở nước ta hiện nay hoạt động ngân hàng mà chủ yếu đến từ hoạt động tín dụng vẫn nắm vai trò quan trọng tạo lợi nhuận cho các ngân hàng Nhưng không phải lúc nào ngân hàng cũng gặp thuận lợi, vì lợi nhuận luôn đi cùng với rủi ro, đặc biệt nó lại đến từ loại hình kinh doanh “tiền tệ”, các ngân hàng đều biết đến điều đó nên luôn tìm cách hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro mà mình phải đối mặt Đồng thời với
nó, các ngân hàng đã từng bước thiết lập một tuyến phòng thủ cho ngân hàng bằng các biện pháp nhằm bảo đảm rằng sẽ giảm thấp nhất nguy cơ tác động xấu đến hoạt động
Trang 15kinh doanh của ngân hàng, bảo đảm tiền vay là biện pháp hữu hiệu và có lợi nhất mà một ngân hàng có thể lựa chọn làm công cụ giúp bảo đảm an toàn cho các khoản vay cung như cho ngân hàng
Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP trước đây, thì bảo đảm
tiền vay được hiểu “là việc tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay” Hiện nay, tuy Nghị định số 178 đã được Nghị định số 163 thay thế, nhưng về
bản chất thì bảo đảm tiền vay vẫn được hiểu là các biện pháp bảo đảm an toàn mà TCTD áp dụng nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo tính thanh khoản cho các khoản vay, tạo
cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi nợ vay
1.2.2.2 Các nguyên tắc và đặc trưng của bảo đảm tiền vay
Nguyên tắc của bảo đảm tiền vay
Sau khi Nghị định số 178 hết hiệu lực, thì các nguyên tắc của bảo đảm tiền vay không được định nghĩa rõ ràng trong Nghị định số 163 về giao dịch bảo đảm, trong đó
có quy định về bảo đảm tiền vay của các TCTD Tuy nhiên, theo quy định của Thông
tư số 07/2003/TT-NHNN về hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền vay tại các TCTD, thì bảo đảm tiền vay trên thực tế, được hiểu và thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn quyết định cho vay có đảm bảo bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm theo quy định của thông tư số 07/2003/TT-NHNN và chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của chính phủ, thì tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản vay này được Chính phủ xử lý
Trường hợp khách hàng vay được TCTD lựa chọn cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, TCTD phát hiện khách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì TCTD có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn
TCTD có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của nghị định này
và quy định của pháp luật có liên quan để thu hồi nợ khi khách vay hoặc bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết
Sau khi xử lý tài sản bảo đảm bằng tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc hoặc bên bảo lãnh vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết
Trang 16• Đặc trưng của bảo đảm tiền vay5
Cũng giống như bất kỳ một quy định nào khác, khi liên quan đến hoạt động tín dụng, thì tài sản luôn là một điều kiện quan trọng để bảo đảm cho các khoản vay được đảm bảo an toàn Vì vậy, để một tài sản trở thành tài sản đảm bảo tín dụng thì phải có
đủ các đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm Đây là
một đặc trưng quan trọng, thể hiện vai trò của biện pháp bảo đảm mà các ngân hàng hướng tới Nhằm mục đích an toàn cho một món vay mà ở đó ngân hàng luôn gặp bất lợi nếu tài sản bảo đảm có giá trị nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm, khi đó giá trị phòng ngừa rủi ro mà biện pháp bảo đảm được áp dụng cũng không còn khả thi Với đặc trưng này, ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi trong việc giảm các khoản nợ khó đòi, vì khách hàng sẽ không có lựa chọn khác mà phải thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trả nợ của mình để được ngân hàng hoàn trả tài sản bảo đảm
Thứ hai, tài sản đảm bảo có sẵn thị trường tiêu thụ Lợi nhuận của ngân hàng
phần lớn đều dựa trên hoạt động tín dụng, chính vì thế khi cho vay ngân hàng luôn chú trọng đến tài sản mà khách hàng dùng để bảo đảm cho các khoản vay Điều này xuất phát từ thực tế, khi nhận định không đúng về khả năng thu hồi vốn từ một khoản vay, bắt buộc ngân hàng phải áp dụng các biện pháp xử lý tài sản nhằm hạn chế rủi ro phát sinh thêm Do đó, các ngân hàng thường xem xét mức độ thanh khoản của tài sản có quan hệ đến lợi ích của người cho vay Tài sản có độ thanh khoản cao sẽ mất ít chi phí khi xử lý hơn và có thể thu hồi được vốn nhanh hơn, dễ dàng được ngân hàng chấp nhận làm đảm bảo Ngược lại, mức độ thanh khoản thấp tức tài sản khó bán, khả năng thu hồi vốn thấp sẽ khó được ngân hàng chấp nhận làm đảm bảo vay vốn Tài sản có mức độ thanh khoản trung bình có thể được ngân hàng chấp nhận nhưng phải tính đến chi phí do kéo dài thời gian xử lý
Thứ ba, tài sản phải có đầy đủ giấy chứng nhận sở hữu hợp pháp và được phép giao dịch Đây là một đòi hỏi chung cho một tài sản bảo đảm, một tài sản muốn làm tài
sản đảm bảo phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của người vay hoặc người bảo lãnh Tài sản này phải có đủ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp, đồng thời với nó là khả năng tham gia hoạt động chuyển nhượng của tài sản trường hợp tài sản không được phép chuyển nhượng, chẳng hạn như đất đai, nhà cửa trong vùng quy hoạch thì không thể dùng làm đảm bảo tín dụng Đối với ngân hàng, khi tài sản vay có
5
ThS Thái Văn Đại: Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thương mại, Nxb Đại học Cần Thơ, 2008, tr 57-58
Trang 17đủ cơ sở pháp lý nêu trên, thì khi đó chủ thể cho vay được quyền ưu tiên xử lý tài sản khi người đi vay không thanh toán đúng hạn
Dựa trên các nguyên tắc và đặc trưng nói trên, ngân hàng sẽ xem xét và áp dụng cho từng trường hợp khách hàng cụ thể đối với từng khoản vay khác nhau Đồng thời, cũng giúp khách hàng vay hiểu thêm về quyền lợi và nghĩa vụ của mình để thực hiện đúng như hợp đồng bảo đảm tiền vay đã ký kết
1.2.3 Hình thức của bảo đảm tiền vay
Theo Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp Đây là những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực mà pháp luật Việt Nam quy định, trong số 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: thì các biện pháp: cầm cố, thế chấp và bão lãnh được ngân hàng sử dụng nhiều hơn cả Trong
hoạt động ngân hàng, các biện pháp bảo đảm tiền vay của TCTD bao gồm: Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản, biện pháp này có các hình thức chủ yếu (cầm cố, thế
chấp bằng tài sản của khách hàng vay; bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba; bảo đảm
bằng tài sản hình thành từ vốn vay) Đối với biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản (do TCTD lựa chọn; theo chỉ định của
1.2.3.1 Các biện pháp cho vay có bảo đảm tiền vay bằng tài sản
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản là hình thức mà ngân hàng với vai trò là “chủ nợ” được hưởng một số quyền lợi nhất định đối với tài sản của khách hàng là “con nợ” Như vậy, việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro mất hoàn toàn vốn, đồng thời đem lại cho ngân hàng quyền ưu tiên khi phát mại tài sản
so với các chủ nợ khác của khách hàng nếu khách hàng vay không có khả năng trả được các khoản nợ đã vay Thực tiễn cho thấy, không phải bất kỳ tài sản nào cũng có thể dùng làm tài sản bảo đảm tiền vay được ngân hàng chấp nhận Theo pháp luật về
Trang 18bảo đảm tiền vay, tài sản dùng để bảo đảm tiền vay phải đáp ứng đủ bốn điều kiện sau6:
Đầu tiên, tài sản phải thuộc quyền sở hữu, quyền quản lý, sử dụng của khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh Để chứng minh được điều kiện này, khách hàng vay hoặc
bên bảo lãnh phải xuất trình Giấy chứng nhận sở hữu, quyền quản lý sử dụng tài sản Trường hợp thế chấp quyền sử dùng đất, khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được thế chấp theo quy định của pháp luật về đất đai Đối với tài sản mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp nhà nước quản lý, sử dụng, doanh nghiệp phải chứng minh được quyền được cầm cố thế chấp hoặc bảo lãnh
tài sản đó
Tiếp theo, tài sản phải được phép giao dịch Tài sản được phép giao dịch được
hiểu là các tài sản mà pháp luật cho phép hoặc không cấm mua, bán, tặng, cho, chuyển nhượng, chuyển đổi, cầm cố thế chấp, bảo lãnh và các giao dịch khác
Kế đến, tài sản không có tranh chấp tại thời điểm ký hợp đồng bảo đảm Ngân
hàng yêu cầu khách hàng vay, bên bảo lãnh cam kết bằng văn bản về việc tài sản không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, quản lý tài sản đó và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về cam kết của mình
các tài sản mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm, thì TCTD yêu cầu khách hàng xuất trình hợp đồng mua bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố
(i) Khái niệm cầm cố
Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam, Điều 326 định nghĩa: “cầm cố là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”
Như vậy, bản chất của cầm cố là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự Theo đó trong quan hệ tín dụng ngân hàng, cầm cố tài sản được hiểu là việc khách hàng (bên vay vốn) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình giao cho tổ chức tín dụng (bên cho vay) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Trang 19(ii) Đối tượng của cầm cố 8
Tài sản cầm cố, theo thông tư số 07/2003/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ngày 19/5/2003 về hướng dẫn một số quy định về bảo đảm tiền vay của các TCTD bao gồm:
Máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý, và các vật liệu có giá trị khác
Ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản tiền gửi tại tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán bằn tiền Việt Nam và ngoại tệ
Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, các giấy tờ trị giá được bằng tiền Riêng đối với cổ phiếu của TCTD phát hành, khách hàng vay không được cầm cố ở chính TCTD đó
Quyền đòi tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền được nhận só tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc từ các căn cứ pháp lý khác
Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật
Tàu biển theo quy định của Bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định của Bộ luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố
Tài sản hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên cầm cố có quyền nhận
Các tài sản khác theo quy định của pháp luật
Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định; trường hợp tài sản cầm cố được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố
(iii) Chủ thể trong quan hệ cầm cố
Chủ thể trong quan hệ cầm cố là chủ thể của quan hệ tín dụng ngân hàng Quan hệ cầm
cố có thể coi là quan hệ phụ, hình thành khi phát sinh quan hệ tín dụng Theo định
8 Mục 3 Chương I Thông tư số 07/2003/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ngày 19/5/2003 về hướng dẫn một số quy định về bảo đảm tiền vay của các TCTD
Trang 20nghĩa từ Điều 326 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Thông tư số 07/2003/TT-NHNN quy định chủ thể tham gia vào quan hệ cầm cố gồm:
Bên cầm cố (bên phải dùng tài sản của mình giao cho bên nhận cầm cố để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ) là khách hàng vay vốn bao gồm các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, pháp nhân Việt Nam và cá nhân, pháp nhân nước ngoài có đủ điều kiện vay vốn tại TCTD theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Bên nhận cầm cố là các TCTD bao gồm TCTD Nhà nước, TCTD cổ phần, TCTD hợp tác (ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng), TCTD liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tai Việt Nam, TCTD phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam
(iv) Nội dung của quan hệ cầm cố:
Nội dung của quan hệ cầm cố trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, là việc bên cầm cố (bên đi vay) giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố (TCTD cho vay) để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ Trong bất kỳ mối quan hệ nào các bên cũng có quyền và nghĩa vụ nhất định Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 và thông tư số 07/2003/TT-NHNN, các chủ thể trong quan hệ cầm cố có các quyền và nghĩa vụ sau:
Quyền của khách hàng vay vốn 9
Yêu cầu TCTD (bên nhận cầm cố) đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố, nếu do
sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị
Được bán tài sản cầm cố nếu được TCTD đồng ý
Được thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu có thỏa thuận với TCTD
Yêu cầu TCTD giữ tài sản cầm cố trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt
Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố
Giao tài sản cầm cố cho TCTD theo đúng thỏa thuận
Trang 21Báo cho TCTD về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố nếu có, trong trường hợp không thông báo thì TCTD có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố
Thanh toán cho TCTD biết chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Trong trường hợp có bên thứ ba tham gia vào quan hệ cầm cố thì:
Bên thứ ba giữ tài sản cầm cố có quyền: Nhận thù lao và thanh toán chi phí giữ gìn, bảo quản tài sản theo thỏa thuận của mỗi bên Được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp lợi tức vẫn thuộc tài sản cầm cố
Trang 22Nghĩa vụ của bên thứ ba giữ tài sản cầm cố như nghĩa vụ của TCTD giữ tài sản cầm cố theo quy định của thông tư số 07/2003/TT-NHNN
(v) Hình thức cầm cố tài sản
Theo quy định tại điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2005 và mục 1 chương II của thông tư số 07/2003/TT-NHNN: “Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng tín dụng” Theo thông tư này, hợp đồng cầm cố tài sản có các nội dung chủ yếu sau:
Tên và địa chỉ các bên, ngày tháng năm; nghĩa vụ đươc bảo đảm; mô tả tài sản cầm cố, giá trị của tài sản cầm cố, riêng tài sản cầm cố là tài sản hình thành trong tương lai có thể mô tả khái quát về tài sản; nên giữ tài sản, giấy tờ của tài sảm cầm cố; quyền và nghĩa vụ của các bên; các thỏa thuận về trường hợp xử lý và phương thức xử
lý tài sản cầm cố; các thỏa thuận khác
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp
(i) Khái niệm thế chấp tài sản
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay là một biện pháp bảo đảm tiền vay mà các TCTD thường áp dụng Theo quy định của điều 342, Bộ luật
Dân sự năm 2005: “Thế chấp tài sản là viêc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc
sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng khách hàng vay vốn dùng tài sản đã có thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo cho khoản vay Bên cạnh đó theo quy định của pháp luật khách hàng vay cũng có thể dùng chính tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo cho khoản vay, nói cách khác trong trường hợp này tài sản thế chấp được hình thành từ việc sử dụng khoản tiền vay và hợp đồng thế chấp được ký khi tài sản đã hình thành
Trang 23Bên thế chấp là khách hàng vay bao gồm cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, pháp nhân Việt Nam và cá nhân, pháp nhân nước ngoài có đủ điều kiện vay vốn tại TCTD theo quy định của NHNN Việt Nam13
Bên nhận thế chấp là các TCTD đã cấp tín dụng dưới hình thức cho vay đối với khách hàng vay theo quy định của luật các TCTD
(iii) Đối tượng của thế chấp
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, tài sản dùng để thế chấp phải là bất động sản thuộc sở hữu của khách hàng vay Đây là một quy định chưa tiến bộ, không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế, ảnh hưởng tới quyền lợi của khách hàng
và TCTD Sự ra đời của Bộ luật dân sự năm 2005, đã khắc phục những bất cập kể trên, theo đó tài sản dùng để thế chấp không còn ràng buộc mà mở rộng ra cả động sản và bất động sản đều được phép giao dịch theo quy định của pháp luật dùng làm tài sản thế chấp Theo quy định, tài sản thế chấp bao gồm 14:
Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất, kể cả các tài sản gắn liền với nhà
ở, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất
Giá trị quyền sử dụng đất mà pháp luật về đất đai quy định được thế chấp Tàu biển theo quy định của bộ luật Hàng hải Việt Nam, tàu bay theo quy định của luật Hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được thế chấp
Tài sản hình thành trong tương lai là bất động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng, các bất động sản khác mà bên thế chấp có quyền nhận
Các tài sản khác theo quy định của pháp luật
(iv) Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong thế chấp tài sản
Phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đối với tổ chức tín dụng Nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay đối với tổ chức tín dụng bao gồm tiền vay (nợ gốc), lãi vay, lãi quá hạn, các khoản phí (nếu có) được ghi trong hợp đồng tín dụng mà khách hàng vay phải trả theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thoả thuận lãi vay, lãi quá hạn, các khoản phí (nếu có) không thuộc phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (Chương III Mục 1 Thông tư số 07/2003/TT-NHNN) Nghĩa vụ trả nợ ghi trong hợp đồng tín dụng có thể được bảo đảm bằng một hoặc
Trang 24nhiều tài sản thế chấp của khách vay với điều kiện tổng giá trị các tài sản thế chấp phải lớn hơn nghĩa vụ trả nợ được bảo đảm (Điều 347 Bộ luật Dân sự năm 2005)
Một tài sản của khách hàng vay có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ trả nợ tại một hoặc nhiều TCTD, với điều kiện giá trị tài sản thế chấp được xác định tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp phải lớn hơn các nghĩa vụ trả nợ được bảo đảm trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Chương III Mục 3,4 Thông tư số 07/2003/TT-NHNN)
(v)Nội dung của thế chấp tài sản
Đối với bên thế chấp
Giao giấy tờ về tài sản thế chấp cho TCTD
Bảo quản giữ gìn tài sản thế chấp
Áp dụng các biện pháp cần thiết để tránh sự gây thiệt hại, làm giảm giá trị tài sản bảo đảm
Thông báo cho TCTD về quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp nếu
có Trong trường hợp không thông báo cho TCTD, thì TCTD có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp
Không được bán, trao đổi tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 349 của Bộ luật Dân sự
Được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức cũng thuộc tài sản thế chấp theo thỏa thuận
Được đầu tư để làm tăng giá trị của tài sản thế chấp
Được bán, thay thế tài sản thế chấp nếu tài sản đó là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh
Được bán trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh nếu được TCTD đồng ý
Trang 25Được cho thuê, mượn tài sản nhưng phải thông báo cho bên thuê mượn biết về việc tài sản cho thuê, mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho TCTD biết
Nhận lại tài sản thế chấp do người thứ ba giữ, khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác
Bên thứ ba có nghĩa vụ bảo quản giữ gìn tài sản thế chấp như tài sản của chính mình, nếu làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị thì phải bồi thường Đồng thời người thứ ba giữ tài sản thế chấp được hưởng chi phí giữ tài sản thế chấp; được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản thế chấp và một số quyền khác như trường hợp khách hàng vay giữ tài sản thế chấp nếu các bên có thỏa thuận
Bên nhận thế chấp tài sản-tổ chức tín dụng
Yêu cầu bên thuê, bên mượn tài sản thế chấp phải chấm dứt việc sử dụng tài sản thế chấp, nếu việc sử dụng làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản đó
Được xem xét, kiểm tra trực tiếp tài sản thế chấp, nhưng không được cản trở hoặc gây khó khăn cho việc sử dụng khai thác tài sản thế chấp
Yêu cầu bên thế chấp phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp Yêu cầu bên thế chấp áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, giá trị tài sản trong trường hợp có nguy cơ làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị của tài sản do việc khai thác, sử dụng
Yêu cầu bên thế chấp (khách hàng vay) hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý trong trường hợp đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên
có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Giám sát, kiểm tra quá trình hình thành tài sản trong trường hợp nhận thế chấp bằng tài sản hình thành trong tương lai
Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định và được ưu tiên thanh toán
17
Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2005
Trang 26Nghĩa vụ của bên nhận thế chấp 18:
Trong trường hợp các bên thỏa thuận bên nhận thế chấp (TCTD) giữ giấy tờ về tài sản thế chấp thì khi chấm dứt thế chấp phải hoàn trả cho bên thế chấp (khách hàng vay) giấy tờ về tài sản thế chấp
Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm xóa đăng
ký trong các trường hợp nghĩa vụ bảo đảm chấm dứt theo quy định
(vi) Hình thức thế chấp tài sản bảo đảm tiền vay
Theo quy định tại điều 343 bộ luật dân sự năm 2005 và mục 1 chương II thông tư
số 07/2003/TT-NHNN, việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính-hợp đồng tín dụng Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký
Nội dung của hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại mục 1.1 chương II thông tư
số 07/2003/TT-NHNN tương tự như các nội dung của hợp đồng cầm cố tài sản
Bảo đảm tiền vay theo phương thức bảo lãnh
(i) Khái niệm
Theo quy định trong Bộ luật Dân sự Điều 361 thì: “Bảo lãnh là việc người thứ
ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”
(ii) Đối tượng của bảo lãnh
Theo khái niệm trên, ta có ba chủ thể tham gia vào hình thức bảo lãnh Như
vậy đối tượng nhắm đến ở đây là cam kết về việc trả nợ thay của bên thứ ba Về tài sản dùng để bảo lãnh có thể là các tài sản có thể thế chấp, cầm cố nó có đặc trưng của tài sản bảo đảm là được phép giao dịch và không có tranh chấp Ngoài ra đối với một số tài sản mà pháp luật quy định phải bảo hiểm thì bên bảo lãnh bắt buộc phải mua bảo hiểm tài sản trong thời hạn bảo đảm tiền vay, ví dụ như máy bay, tàu biển
(iii) Chủ thể tham gia vào bảo lãnh: có ba chủ thể trong quan hệ bảo lãnh, bao
gồm: Khách hàng vay là người thụ trái được bảo lãnh, Ngân hàng là chủ nợ được thụ
18
Điều 350 Bộ luật Dân sự 2005
Trang 27hưởng sự bảo lãnh, Người bảo lãnh là người thứ ba cam kết trả nợ thay khi người được bảo lãnh không trả được nợ
(iv) Nội dung trong quan hệ bảo lãnh
Bộ luật Dân sự năm 2005 và thông tư số 07/2003/TT-NHNN quy định các chủ thể trong quan hệ bảo lãnh có quyền và nghĩa vụ:
Quyền của bên bảo lãnh:
Trong trường hợp bên bảo lãnh cầm cố, thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, thì có các quyền như của khách hàng vay khi cầm cố, thế chấp tài sản
Bên bảo lãnh có quyền phản đối việc TCTD cho vay yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho khách hàng khi nghĩa vụ chưa đến hạn
Bên bảo lãnh có quyền không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nếu bên nhận bảo lãnh (TCTD cho vay) có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh
Nghĩa vụ của bên bảo lãnh:
Trả nợ thay cho khách hàng vay như đã cam kết, nếu đến hạn mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ
Trong trường hợp bên bảo lãnh cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì có các nghĩa vụ khác như nghĩa vụ của khách hàng vay khi cầm
cố, thế chấp tài sản
Quyền và nghĩa vụ của TCTD nhận bảo lãnh:
Yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay cho khách hàng như đã cam kết, nếu đến hạn
mà khách hàng vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ
Trong trường hợp bên bảo lãnh cầm cố, thế chấp tài sản để bảo thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh thì có các quyền như của TCTD khi nhận cầm cố, thế chấp tài sản
Trong trường hợp bên bảo lãnh cầm cố thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì có các nghĩa vụ như nghĩa vụ của TCTD nhận cầm cố thế chấp tài sản
Trong trường hợp TCTD là bên bảo lãnh, quyền và nghĩa vụ các bên theo quy định tại Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 26 của Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN về quy chế bảo lãnh ngân hàng
(v) Hình thức của bảo lãnh vay vốn
Trang 28Việc bảo lãnh nói chung và trong vay vốn ngân hàng nói riêng, bắt buộc phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính-hợp đồng tín dụng (điều
362 Bộ luật Dân sự năm 2005
Theo mục 1.2 chương II của Thông tư số 07/2003/TT-NHNN hợp đồng bảo lãnh có nội dung chủ yếu sau: Tên và địa chỉ các bên, ngày tháng năm; cam kết của bên bảo lãnh về viêc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh; nghĩa vụ được bảo lãnh, phạt vi phạm bảo lãnh và bên được bảo lãnh; tài sản bảo lãnh, giá trị tài sản bảo lãnh, trừ trường hợp bên bảo lãnh là TCTD và cơ quan quản lý ngân sách Nhà nước, riêng tài sản bảo lãnh là tài sản hình thành trong tương lai có thể mô tả khái quát
về tài sản; quyền và nghĩa vụ của bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh; các thỏa thuận về trường hợp xử lý và phương thức xử lý tài sản bảo lãnh; các thỏa
thuận khác
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay
(i) Khái niệm
Khoản 5 điều 2 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP thì “bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay dùng tài sản hình thành từ vốn vay
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với TCTD” Nghị
định số 163 thay thế Nghị định số 178/1999/NĐ-CP không đề cập trực tiếp về bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay, nhưng chiếu theo quy định Tại tiểu mục 2.1, 2.2 – mục I.1 Thông tư số 07/2003/ TT-NHNN ngày 19/5/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ – CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163 về giao dịch bảo đảm có quy định: Tài sản hình thành từ tương lai bao gồm: hoa lợi, lợi tức, tài sản hình thành từ vốn vay, các tài sản khác mà bên bảo đảm có quyền nhận là các đối tượng mà TCTD cho vay được phép nhận cầm cố, thế chấp, bảo lãnh để bảo đảm tiền vay khi có đủ điều kiện khác, chiếu theo các quy định
thì “bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay là việc khách hàng vay dùng tài sản thuộc sở hữu của mình sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chính khoản vay đó đối với TCTD”
(ii) Đối tượng
Như vậy, từ khái niệm trên ta có đối tượng của việc bảo đảm tiền vay hình thành từ vốn vay là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được ký kết (trước đây, theo quy định tại Khoản 4 điều
2 nghị định 178/1999/NĐ-CP định nghĩa “tài sản hình thành từ vốn vay là tài sản của
Trang 29khách hàng vay mà giá trị tài sản được tạo nên bởi một phần hoặc toàn bộ khoản vay của TCTD”)
(iii) Chủ thể trong quan hệ bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Bên nhận tài sản bảo đảm hay bên cho vay chính là TCTD
Bên giao tài sản bảo đảm hay khách hàng vay là cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Ngoài những điều kiện bắt buộc theo quy chế của TCTD, thì Thông tư số 03/2003/TT-NHNN còn phải thỏa điều kiện Có mức vốn tự có tham gia vào dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh, đời sống và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay bằng các biện pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 15% vốn đầu
tư của dự án
(iv) Nội dung quan hệ bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Mặc dù biện pháp bảo đảm dùng tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay, nhưng vẫn xét trên cơ sở của các cầm cố, thế chấp để thực hiện việc bảo đảm Vì vậy, về quyền và nghĩa vụ thực hiện tương tự như các biện pháp bảo đảm đã nói ở trên
(v) Hình thức của bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Về hình thức hợp đồng, phải được lập thành văn bản, có thể ghi vào hợp đồng tín dụng hoặc lập thành văn bản riêng do các bên thỏa thuận Khi tài sản được hình thành đưa vào sử dụng, các bên phải lập phụ lục hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, trong đó mô tả đặc điểm xác định giá trị tài sản đã được hình
thành (xem lại NĐ số 11/2012)
Nội dung của hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay tương tự như hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản vay vốn như đã được trình bày ở phần trên
1.2.3.2 Biện pháp cho vay không có tài sản bảo đảm
Cho vay không có tài sản bảo đảm là việc ngân hàng cho khách hàng vay dựa trên uy tín của khách hàng, hoặc các trường hợp có sự bảo đảm của các tổ chức chính trị - xã hội theo quy định của Chính phủ
Một số trường hợp cho vay không cần có bảo đảm theo quy định của pháp luật: Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ Quy định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó quy định cụ thể về mức cho vay tối đa trong trường hợp cho vay không có bảo đảm đối với cá nhân, tổ chức:
Trang 30Tối đa đến 50 triệu đồng đối với đối tượng là các cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; tối đa đến 200 triệu đồng đối với các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn; tối đa đến 500 triệu đồng đối với đối tượng là các hợp tác xã, chủ trang trại
Tổ chức tín dụng xem xét cho vay tín chấp đối với các đối tượng khách hàng là
cá nhân, hộ gia đình trên cơ sở có bảo đảm của các tổ chức chính trị-xã hội ở nông thôn theo quy định hiện hành Tổ chức chính trị-xã hội phối hợp và được thực hiện toàn bộ hoặc một số khâu của nghiệp vụ tín dụng sau khi đã thỏa thuận với tổ chức tín dụng cho vay19
Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg ngày 8/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ: Quy định về tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn, theo đó mức cho vay tối đa không có bảo đảm tiền vay được Thủ tướng Chính phủ như sau:
Thương nhân vay vốn đến 30 triệu đồng không phải thực hiện bảo đảm tiền vay
Thương nhân vay vốn trên 30 triệu đồng phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm và hướng dẫn của Ngân hàng Chính sách
xã hội20
Các văn bản quy định về mức trần cho vay không cần có bảo đảm nêu trên là một chính sách ưu đãi và hỗ trợ tín dụng của Nhà nước đối với một số đối tượng kinh doanh trong những ngành nghề, lĩnh vực nhà nước khuyến khích phát triển như nông, lâm, ngư nghiệp, vùng sâu, vùng xa hoặc vùng kinh tế khó khăn, quy định này nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của các cá nhân, tổ chức để phát triển sản xuất kinh doanh nếu họ chứng minh được mình thuộc diện ưu đãi vay vốn theo quy định của pháp luật21
1.2.4 Hợp đồng cho vay và quy trình xét duyệt cho vay
1.2.4.1 Khái niệm, phân loại hợp đồng cho vay
Hợp đồng cho vay của ngân hàng, xét về bản chất là một dạng của hợp đồng
cho vay tài sản theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự 2005 “Hợp đồng vay tài sản
là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến
19 Xem thêm: Điều 8 - Nghị định 41/ 2010/ NĐ - CP ngày 12/ 4/ 2010
20 Xem thêm: Điều 12 – Quyết định số 92/ 2009/ QĐ – TTg ngày 8/ 7/ 2009
21ThS Nguyễn Thùy Trang: Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thương mại: Một số nhận định nhìn từ góc độ pháp lý đến thực tiển, Tạp chí ngân hàng số 23 năm 2010, t 9
Trang 31hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”
Theo pháp luật hiện hành, hợp đồng bảo đảm tiền vay bao gồm: hợp đồng thế chấp tài sản, hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng cầm cố thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay, hợp đồng bảo lãnh bằng tài sản (không gắn liền với quyền sử dụng đất) Văn bản bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể bằng tổ chức đoàn thể chính trị xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
Hợp đồng do bên thứ ba cầm cố, thế chấp
1.2.4.2 Căn cứ xác lập hợp đồng
Hợp đồng bảo đảm tiền vay được xác lập dựa trên hai căn cứ, đó là:
Căn cứ pháp lý dựa trên các quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng của Chính phủ, các bộ ngành, ngân hàng Nhà nước; các quy định nội bộ (nếu có)
Căn cứ thực tiễn: Tùy vào trường hợp cụ thể mà hợp đồng bảo đảm tiền vay được xác lập dựa trên:
Hồ sơ vay vốn hoặc giấy yêu cầu bảo lãnh và kết quả thẩm định; các giấy tờ văn bản khác theo quy định của pháp luật; sự thoả thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng
1.2.4.3 Nghĩa vụ được bảo đảm
“Nghĩa vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ dân sự hoặc một phần, có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện mà việc thực hiện nghĩa vụ đó được bảo đảm bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm” theo Khoản
5 Điều 3 Nghị định số 163 Trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ được bảo đảm trong đó cần nêu rõ rằng một phần hay toàn bộ khoản vay bao gồm cả nợ gốc, nợ lãi, lãi phạt và phí nếu có đã được bảo đảm, bao gồm: số ngày tháng hợp đồng tín dụng, giá trị khoản cấp tín dụng, lãi suất thời hạn, mục đích vay vốn, tổng dư nợ tối đa được bảo đảm
1.2.4.4 Thẩm định tài sản và giao kết hợp đồng
Trong cho vay có bảo đảm bằng tài sản, công việc quan trọng cần làm đối với TCTD là thẩm định tài sản mà khách hàng đem ra bảo đảm cho khoản vay Để thẩm định được tài sản bảo đảm cần biết các thông tin về tài sản như tên tài sản, chủng loại,
Trang 32số lượng, diện tích, đặc điểm kỹ thuật, giá trị tài sản Đây là những thông tin được cung cấp bởi khách hàng vay vốn và quá trình thu thập thông tin của cán bộ tín dụng
Hợp đồng bảo đảm tiền vay sau khi được cán bộ tín dụng và khách hàng soạn thảo, được trưởng phòng tín dụng kiểm tra lại và phê chuẩn trước khi trình lên cho Giám đốc phê duyệt và quyết định có cho khách hàng vay hay không Sau khi ngân hàng và khách hàng đã xem xét lại các điều khoản trong hợp đồng, các bên đều đồng
ý, hợp đồng bảo đảm tiền vay sẽ được ký kết bởi người đại diện có thẩm quyền của tất
cả các bên Ngày ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay cũng đồng thời là ngày hợp đồng bắt đầu có hiệu lực
Hợp đồng bảo đảm thường được lập thành bốn bản có giá trị như nhau, mỗi bên giữ hai bản và chịu trách nhiệm thi hành
1.2.4.5 Xử lý tài sản bảo đảm
Xử lý tài sản bảo đảm là một khâu mà bất cứ một TCTD nào cũng đều không mong muốn trải qua trong quá trình cho vay, vì nếu đến giai đoạn xử lý tài sản có nghĩa là giữa khách hàng và ngân hàng đã không đạt được những lợi ích mà mình đã thỏa thuận và hướng tới Ngân hàng sẽ gặp bất lợi nhiều nhất, nó bao gồm cả khả năng thu hồi vốn đã bỏ ra và uy tín của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng Theo quy định của
Bộ luật Dân sự 2005, Nghị định số 163 về giao dịch bảo đảm (đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 11/2012/NĐ-CP), thì việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ trên phương thức các bên đã thỏa thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật, ưu tiên thanh toán cho TCTD
Trang 33CH ƯƠ NG 2: TH Ự C TR Ạ NG ÁP D Ụ NG VÀ M Ộ T S Ố GI Ả I
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh NHNN & PTNT Huyện Ngã Năm
2.1.1 Khái quát chung về NHNN & PTNT Việt Nam
2.1.1.1 Sự ra đời của NHNN & PTNT Việt Nam22
Trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay là quá trình đổi mới căn bản và toàn diện
hệ thống Ngân hàng Việt Nam, với định hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh Ngày 26/3/1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam; ngoài chức năng của một ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Agribank là ngân hàng lớn nhất, dẫn đầu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam về vốn, tài sản, nguồn nhân lực, màng lưới hoạt động, số lượng khách hàng Đến tháng
22
Trang web NHNN & PTNT Việt Nam Agribank - Những cột mốc và chặng đường lịch sử
http://www.agribank.com.vn/101/784/gioi-thieu/lich-su.aspx
Trang 349/2011, Agribank có tổng tài sản 524.000 tỷ đồng; vốn tự có 22.176 tỷ đồng; tổng nguồn vốn 478.000 tỷ đồng; tổng dư nợ 414.464 tỷ đồng;
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý của NHNN & PTNT Việt Nam
Khi hệ thống ngân hàng chuyển đổi sang hoạt động kinh doanh, NHNN & PTNT Việt Nam được thành lập sau đó là việc hệ thống ngân hàng nước ta chuyển hẳn sang
mô hình hoạt động hai cấp (tháng 5/1990), trong đó Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật
Ngày 7/3/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ , Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước với cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bộ máy giúp việc bao gồm bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị thành viên bao gồm các đơn vị hạch toán phụ thuộc, hạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý và chức năng điều hành, Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm Tổng Giám đốc
Ngày 30/7/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóa bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/08/1994 xác định: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam
và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam sau này, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật
Đội ngũ cán bộ nhân viên 37.500 người; hơn 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch, chi nhánh Campuchia; quan hệ đại lý với 1.065 ngân hàng tại 97 quốc gia và vùng lãnh thổ; được trên 13 triệu khách hàng tin tưởng lựa chọn… Agribank cũng là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam tiếp nhận và triển khai các dự án nước ngoài, đặc biệt là các dự án của Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB)… Agribank đảm nhận vai trò Chủ tịch Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn châu Á- Thái Bình Dương (APRACA) nhiệm kỳ 2008 - 2010 Trong những năm gần đây, Agribank còn được biết