1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại KINH DOANH tái bảo HIỂM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

100 130 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt dù có vị trí nhỏ bé với một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất, nhưng ngành bảo hiểm Việt Nam đã góp phần đáng kể trong việc chia sẻ rủi ro của những ngành kinh tế quan trọng như ngoại t

Trang 1

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ĐOÀN NGUYỄN MINH THUẬN NGUYỄN VĂN TỐ HỮU

Cần Thơ, 5/2012

Trang 2

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ TÁI BẢO HIỂM 4 1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI 4

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm thương mại 4

1.1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.1.2 Ở Việt Nam 5

1.1.2 Khái niệm về bảo hiểm 7

1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm 8

1.1.4 Vai trò của bảo hiểm 10

1.2 TỔNG QUAN VỀ TÁI BẢO HIỂM 12

1.2.1 Sự ra đời và phát triển của tái bảo hiểm 12

1.2.2 Khái niệm về tái bảo hiểm 16

1.2.3 Sự cần thiết của tái bảo hiểm 18

1.2.4 Bản chất và vai trò của tái bảo hiểm 20

1.2.5 Chức năng của tái bảo hiểm 22

1.2.6 Phân loại tái bảo hiểm 23

1.2.6.1 Tái bảo hiểm tạm thời 23

1.2.6.2 Tái bảo hiểm cố định hay bắt buộc 25

1.2.6.3 Tái bảo hiểm mở hay tùy ý lựa chọn 26

1.3 PHÂN BIỆT TÁI BẢO HIỂM VỚI BẢO HIỂM VÀ ĐỒNG BẢO HIỂM 27 1.4 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM 31

Chương 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 34

2.1 KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM 34

2.1.1 Các phương thức tái bảo hiểm 34

2.1.1.1 Tái bảo hiểm số thành 35

2.1.1.2 Tái bảo hiểm mức dôi 35

2.1.1.3 Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường 36

2.1.1.4 Tái bảo hiểm vượt quá tỷ lệ bồi thường 36

2.1.1.5 Tái bảo hiểm kết hợp 36

2.1.2 Hoạt động tái bảo hiểm 37

Trang 5

2.1.2.1 Kế hoạch tái bảo hiểm 38

2.1.2.2 Xác định mức giữ lại 39

2.1.2.3 Quan hệ nhượng và nhận tái bảo hiểm 44

2.2 HỢP ĐỒNG TÁI BẢO HIỂM 45

2.2.1 Đặc trưng pháp lý của hợp đồng tái bảo hiểm 46

2.2.1.1 Khái niệm hợp đồng tái bảo hiểm 46

2.2.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tái bảo hiểm 47

2.2.1.3 Các loại hợp đồng tái bảo hiểm 49

2.2.2 Chủ thể của hợp đồng tái bảo hiểm 50

2.2.3 Đối tượng của hợp đồng tái bảo hiểm 56

2.2.4 Nội dung của hợp đồng tái bảo hiểm 56

2.2.5 Hình thức của hợp đồng tái bảo hiểm 62

2.3 XỬ LÝ VI PHẠM TRONG KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM 63

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM 66

3.1 Về các phương thức tái bảo hiểm 73

3.1.1 Tồn tại 73

3.1.2 Giải pháp 74

3.2 Về hoạt động tái bảo hiểm 74

3.2.1 Tồn tại 74

3.2.2 Giải pháp 77

3.3 Về chủ thể trong hợp đồng tái bảo hiểm 79

3.3.1 Tồn tại 79

3.3.2 Giải pháp 81

3.4 Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tái bảo hiểm 82

3.4.1 Tồn tại 82

3.4.2 Giải pháp 82

3.5 Về xử lý vi phạm trong kinh doanh tái bảo hiểm 83

3.5.1 Tồn tại 83

3.5.2 Giải pháp 83

KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU



1 Sự cần thiết của đề tài

Trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, con người luôn gặp phải những rủi ro bất thường không thể lường trước được, những rủi ro này thường gây hậu quả thiệt hại về mặt tài chính Và để đối phó được với những rủi ro này, từ trước đến nay con người đã áp dụng rất nhiều các biện pháp như tự tích luỹ, đi vay, hình thành các quỹ tương hỗ Tuy nhiên các biện pháp này không thể khắc phục được những hậu quả thiệt hại lớn Để khắc phục được hậu quả thiệt hại đó thì ngày nay các cá nhân thường chuyển giao rủi ro bằng cách mua bảo hiểm Điều này có nghĩa họ đã chuyển giao rủi ro của họ cho các doanh nghiệp bảo hiểm, thay vào đó họ phải trả cho doanh nghiệp bảo hiểm đó một khoản tiền nhất định phù hợp với những rủi ro mà họ gặp phải Là một doanh nghiệp trên thị trường, doanh nghiệp bảo hiểm cũng có thể gặp phải những rủi ro tương tự Để bảo vệ mình thì các doanh nghiệp bảo hiểm đã chọn giải pháp an toàn

để san sẻ rủi ro đó là đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm Nhưng biện pháp hiệu quả và hay được sử dụng hiện nay là tái bảo hiểm Tái bảo hiểm là hoạt động rộng lớn, mang tính chất quốc tế Thông qua hoạt động tái bảo hiểm rủi ro không chỉ được san sẻ giữa những người tham gia trong một quốc gia mà nó còn được san sẻ bởi rất nhiều người ở rất nhiều quốc gia khác nhau, mặt khác mong muốn của các doanh nghiệp bảo hiểm là tìm kiếm lợi nhuận từ việc tái bảo hiểm Và pháp luật cũng có quy định về vấn đề này Tuy nhiên, các quy định này còn ít, nhiều bất cập bên cạnh

đó là những thiếu sót mà pháp luật chưa dự liệu được dẫn đến việc áp dụng luật vào thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là chưa quy định cụ thể về hợp đồng tái bảo hiểm để các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng tái bảo hiểm cũng như các phương thức nào mà doanh nghiệp có thể áp dụng để tiến hành tái bảo hiểm

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, cùng với kiến thức đã học,

người viết chọn đề tài: “Kinh doanh tái bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam” để làm

đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình

2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về vấn đề kinh doanh tái bảo hiểm mà cụ thể là hoạt động tái bảo hiểm, hợp đồng tái bảo hiểm và vấn đề xử lý vi phạm trong kinh doanh tái bảo hiểm, vì vậy người viết chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các quy định của

Trang 7

pháp luật có liên quan đến vấn đề kinh doanh tái bảo hiểm mà cụ thể là Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Bộ luật dân sự 2005 và các văn bản có liên quan

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm giúp bản thân hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật về kinh doanh tái bảo hiểm Bên cạnh, người viết phân tích các quy định của pháp luật về kinh doanh tái bảo hiểm nhằm chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật Việt Nam cùng với những khó khăn trong quá trình thực hiện các quy định đó, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kinh doanh tái bảo hiểm Mục đích cuối cùng là đóng góp một phần nhỏ trong việc xây dựng hoàn thiện khung pháp lý hiệu quả hơn, khả thi hơn về tái bảo hiểm và người viết muốn hoàn thành tốt kế hoạch học tập đã đề ra

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong qua trình thực hiện luận văn người viết đã sử dụng các phương pháp như phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh tổng hợp và diễn giải, suy luận logic để hoàn thành đề tài nghiên cứu Cụ thể là quy định của pháp luật về hoạt động tái bảo hiểm rất ít, không bao quát hết thực tế hiện nay, vì vậy người viết đi phân tích từ quy định chung sau đó suy luận ra các nội dung mà người viết trình bày ở các chương bên dưới, ngoài ra người viết tự nhận xét vấn đề và nêu lên nội dung của vấn đề đó trên cơ sở lý luận và thực tiễn Cuối cùng, người viết tổng hợp các vấn đề trong một mối liên hệ thống nhất, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát và nhìn nhận đúng bản chất của vấn đề

5 Thực tiễn đóng góp của luận văn

Qua quá trình thực hiện luận văn người viết đã chỉ ra được các quy định còn bất cập của pháp luật về kinh doanh tái bảo hiểm và cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kinh doanh tái bảo hiểm hiện nay

6 Bố cục của đề tài

Ngoài lời nói đầu và kết luận thì nội dung chính của luận văn gồm có ba chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm và tái bảo hiểm

Chương 2: Quy chế pháp lý về kinh doanh tái bảo hiểm theo pháp luật Việt Nam

Chương 3: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh tái

Trang 8

Qua quá trình làm luận văn em đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của cô Đoàn Nguyễn Minh Thuận Bên cạnh đó em cũng nhận được sự giúp đỡ của thầy, cô trong Khoa Luật và các bạn của em đã giúp đỡ em rất nhiều để em hoàn thành bài viết này Tuy vậy, do kiến thức còn hạn chế cũng như còn thiếu nhiều kinh nghệm thực tế nên luận văn không tránh khỏi những sai sót mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cám ơn!

Trang 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM VÀ TÁI

BẢO HIỂM 1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm thương mại

1.1.1.1 Trên thế giới

Hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm đó là hình thức dự trữ để đề phòng những rủi ro có thể xảy ra, và sau này dần dần con người nhận thầy dự trữ có tổ chức và dự trữ theo nhóm có hiệu quả và thuận lợi hơn dự trữ cá nhân đơn thuần

Ở Ai Cập, khoảng 4500 năm trước Công nguyên, những người thợ kéo đá đã lập ra các quỹ tương hỗ để giúp đỡ, chia sẻ rủi ro cho những người gặp hoạn nạn Những người Trung Hoa cổ đại, thời nhà Chu vào khoảng 500 năm trước công nguyên cũng đã sử dụng kỹ thuật phân chia rủi ro đơn giản bằng cánh tổ chức các đoàn thuyền vận chuyển hàng hóa và súc vật trên dòng sông Dương Tử, trong đó hàng hóa của mỗi chủ hàng được chia nhỏ cho mỗi thuyền chuyên chở và nếu chiếc nào bị chìm thì các thương gia cùng nhau gánh chịu

Ở Babylone, vào khoảng 1700 năm trước công nguyên và ở Athens (Hy Lạp) khoảng 500 năm trước công nguyên đã xuất hiện quan hệ tín dụng với lãi suất rất cao trong lĩnh vực buôn bán Vận chuyển hàng hóa trên biển và qua sa mạc Điều đặc biệt trong quan hệ tín dụng này là nếu hàng hóa bị tổn thất thì người cho vay phải chịu rủi ro mất vốn và lãi Tại Rôme, hệ thống cho vay với điều kiện tương tự

đã ra đời lãi xuất có thể lên đến 50% Thực chất đó đã là một sự kết hợp giữa hoạt động tín dụng với ý đồ bảo hiểm và do đặc trưng bằng cơ chế lãi suất cao đi đôi với chấp nhận rủi ro nên được mệnh danh là “cho vay mạo hiểm lớn” Một phần lãi có thể hiểu như tiền thân của phí bảo hiểm Hoạt động cho vay bảo hiểm lớn hoạt động khá lâu và phổ biến trên nhiều khu vực trên thới Tại Rôme, kéo dài đến tận thời Trung cổ - thời kỳ thống trị của nhà thờ Thiên chúa giáo

Trước những đòi hỏi đó đã hình thành một hệ thống bảo đảm mới của bảo hiểm hàng hải: các nhà buôn chấp nhận một khoản tiền ấn định trước để nhận được bảo đảm giá trị tàu thuyền và hàng hóa chuyên chở trong trường hợp tổn thất Những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên được gắn liền với hoạt động thương mại và vận chuyển hàng hóa đường biển đã ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIV Bút tích của bản hợp đồng cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy được ký kết tại Gênes năm 1347 Đến năm 1424, cũng tại hải cảng Gênes, công ty bảo hiểm đầu tiên của ngành vận

Trang 10

tải đường biển và đường bộ cũng được thành lập

Sau bảo hiểm hàng hải, tiếp đến là sự ra đời của các loại bảo hiểm khác Tại Luân Đôn, ngày 2 tháng 9 năm 1666, hỏa hoạn đã xảy ra và kéo dài trong nhiều ngày, thiêu cháy khoảng 13.200 nóc nhà, trong đó 87 nhà thờ Mức độ nghiêm trọng của thảm họa đó đã khiến những nhà chức trách thành phố Luân Đôn mở văn phòng cháy đầu tiên ra đời, lấy tên là Friendly Society Fire Office Công ty hoạt động trên nguyên tắc tương hỗ với hệ thống phí bảo hiểm cố định, người được bảo hiểm phải chịu một phần thiệt hại xảy ra Sau đó, nhiều công ty bảo hiẻm cháy khác tiếp tục ra đời ở nước Anh, như là: Amicable (1969); Sun (1710); Union (1714); London (1714); Wesminister (1717) Tại Pháp, văn phòng bảo hiểm hỏa hoạn mang tên “La Royal Incedie” do CLAVER thành lập năm 1786 tại Paris, công ty bảo hiểm hàng hải đầu tiên ra đời năm 1686

Cuối thế kỷ 19, cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất đại công nghiệp cơ khí, hàng loạt các nghiệp vụ bảo hiểm xuất hiện và phát triển rất nhanh như bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm vỡ kính, bảo hiểm mưa đá và băng tuyết, bảo hiểm ôtô, bảo hiểm máy bay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự,… Ngày nay, bảo hiểm đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội và ngành bảo hiểm đang giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nhiều quốc gia, nhất là các nước phát triển.1

Có thể nói từ sự ra đời của bảo hiểm hàng hải đến bảo hiểm hỏa hoạn đã xuất hiện do mức độ rủi ro cao những tác động từ tự nhiên và con người mà hậu quả của những rủi ro ấy là rất lớn Chính vì vậy, đó là sự ra đời tự nhiên và tất yếu của bảo hiểm trong hoạt động thương mại

Ở miền Nam, vào năm 1926, chi nhánh đầu tiên của công ty Asietique Đến năm 1929, có công ty của Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn, đó là Việt Nam Bảo Hiểm Công ty, nhưng chỉ hoạt động về bảo hiểm xe ô tô Từ năm 1952 về

Trang 11

sau hoạt động bảo hiểm mới được mở rộng với nhiều hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều công ty bảo hiểm trong nước và ngoại quốc.2

Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975, ở miền Nam Việt Nam đã tồn tại 57 công

ty bảo hiểm dưới nhiều loại hình pháp lý: công ty cổ phần, công ty tương hỗ và công ty bảo hiểm nước ngoài Sau 1975, một số công ty bảo hiểm tư nhân ở miền Nam đã được quốc hữu hóa và sáp nhập vào Công ty Bảo hiểm Việt Nam.3

Ở miền Bắc, vào năm 1964, Chính phủ đã ký quyết định 1979/CP ngày

12-7-1964 cho phép thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch là Bảo Việt) trực thuộc Bộ Tài chính Bảo Việt chính thức hoạt động vào tháng 1 năm 1965, thực hiện hai chức năng quản lý nhà nước và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm Sự độc quyền khiến hoạt động bảo hiểm trước năm 1990 được biết đến dưới tên là bảo hiểm nhà nước Mặt dù có vị trí nhỏ bé với một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất, nhưng ngành bảo hiểm Việt Nam đã góp phần đáng kể trong việc chia sẻ rủi ro của những ngành kinh tế quan trọng như ngoại thương, vận tải biển thông qua hoạt động bảo hiểm hàng hải, tái bảo hiểm và hoạt động đại lý giám định cho các công ty bảo hiểm của các nước xã hội chủ nghĩa

Nghị định 100/1993/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/12/1993 về kinh doanh bảo hiểm được ban hành đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong nền kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam Độc quyền trong kinh doanh bảo hiểm của một doanh nghiệp nhà nước duy nhất đã chấm dứt với sự ra đời một loạt các doanh nghiệp bảo hiểm

Ngày 3/5/1999 Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ đã có quyết định phê duyệt Điều lệ của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam Hệ thống pháp luật kinh doanh bảo hiểm không ngừng được hoàn thiện, chỉnh sửa và bổ sung Ngày 9 tháng 12 năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 8, khóa X và có hiệu lực từ ngày 1/4/2001, đặt nền móng pháp lý cơ bản cho sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.4

Có thể nói, từ sự ra đời của bảo hiểm chẳng những trên thế giới mà tại Việt Nam thì hoạt động bảo hiểm phát triển một cách mạnh mẽ, tạo môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động bảo hiểm, góp phần đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cho thị trường trong nước và hội nhập quốc tế

2

PGS TS Phan Thị Cúc: Giáo trình Nguyên lý bảo hiểm, NXB Thống kê năm 2008

Trang 12

1.1.2 Khái niệm về bảo hiểm

Trong cuộc sống hàng ngày con người có rất nhiều hoạt đông như sinh hoạt, sản xuất kinh doanh, vui chơi giải trí, trong các hoạt động đó không thể tránh khỏi các rủi ro không thể lường trước được mặc dù con người đã cố ngăn ngừa Để hạn chế rủi ro cũng như giảm bớt gánh nặng về mặt tài chính thì bảo hiểm đã ra đời Hiện nay khoa học pháp lý chưa có một định nghĩa chính thức nào về bảo hiểm, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 chỉ có định nghĩa thế nào là hoạt động kinh

doanh bảo hiểm, “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm

nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.5 Đây là định nghĩa riêng trong bảo hiểm thương mại mà lĩnh vực nghiên cứu của bài viết cũng là một phần của bảo hiểm thương mại và người viết cũng sẽ không đề cập đến bảo hiểm xã hội trong bài viết này

Do đáp ứng nhu cầu đảm bảo an toàn của con người vốn dĩ rất phong phú và biến động, nên cũng rất đa dạng nên có nhiều định nghĩa về bảo hiểm cho nhiều góc nhìn khác nhau, tương ứng với các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội Các nhà nghiên cứu kinh tế, xã hội, các học giả bảo hiểm lần lượt đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau:

Theo góc độ xã hội, bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung

và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra

Theo góc độ kinh tế, bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro để nhận được một khoản tiền đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê Hay bảo hiểm đó là sự bảo đảm về mặt tài

Trang 13

chính khi gặp phải những thiệt hại, mất mát do biến cố rủi ro gây ra cho các chủ thể tham gia lập quỹ bảo hiểm

Theo góc độ pháp lý, có thể hiểu bảo hiểm là một loại hình dịch vụ theo đó người bảo hiểm sẽ trả tiền hay bồi thường cho người được bảo hiểm một khoản tiền khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thuộc đối tượng, phạm vi bảo hiểm thông qua hợp đồng bảo hiểm, bên cạnh đó thì người được bảo hiểm phải đóng một khoản phí gọi là phí bảo hiểm Từ các khái niệm về bảo hiểm ta có thấy được các đặc điểm cơ bản của bảo hiểm, qua đó hiểu rõ hơn về tác dụng và lợi ích của bảo hiểm trong đời sống kinh tế xã hội

1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm

Thứ nhất, bảo hiểm là một ngành dịch vụ đặc biệt

Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thức phi vật thể Như vậy, là một ngành dịch vụ bảo hiểm cũng mang đặc điểm là cung cấp sản phẩm dưới hình thức phi vật thể, các sản phẩm của bảo hiểm đều hình thành ở dạng vô hình nói đúng ra

là một lời hứa và bên cạnh đó người mua sản phẩm bảo hiểm cũng phải trả một khoản phí để được cung cấp dich vụ Tuy nhiên, không giống như các ngành dịch

vụ khác, dịch vụ mà các doanh nghiệp bảo hiểm mang lại là sự đảm bảo về mặt vật chất, tài chính trước rủi ro để đáp ứng nhu cầu an toàn của con người, của xã hội

Và người mua bảo hiểm cũng muốn được an tâm trước những tổn thất mà họ không thể biết trước

Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính cũng giống như những dịch vụ tài chính khác: tín dụng, chứng khoán, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính Tuy nhiên, xét ở khía cạnh người được bảo hiểm thì không có khái niệm lãi, lỗ Người tham gia bảo hiểm với mục đích bù đắp tổn thất cho họ nếu không may gặp rủi ro Nếu không gặp rủi

ro thì họ không được hoàn tiền phí bảo hiểm đã đóng

Thứ hai, bảo hiểm là sự đóng góp của số đông

Bản chất của bảo hiểm là sự phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Trong mối quan hệ của bảo hiểm không chỉ có người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm mà là tổng thể các mối quan hệ giữa người được bảo hiểm trong cùng một cộng đồng bảo hiểm Trong đó người tham gia bảo hiểm đồng ý đóng một khoản phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm hình thành nên quỹ bảo hiểm sẵn sàng bù đắp tổn thất bằng tiền

Trang 14

tham gia bảo hiểm, từng cá nhân sẽ góp phần chia sẽ rủi ro cho người không may gặp thiệt hại, và với vai trò là người nắm giữ quỹ bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm

sẽ thực hiện chi trả bồi thường Doanh nghiệp bảo hiểm muốn bảo đảm và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất trong hoạt động bảo hiểm thì phải thực hiện tốt nguyên tắc lấy số đông bù cho số ít Trong trường hợp có hợp đồng có giá trị lớn hoặc đối tượng bảo hiểm có nguy cơ dẫn đến rủi ro cao thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện các biện pháp phân tán rủi ro như đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm, mặt khác để giảm bớt chi phí bồi thường các doanh nghiệp phải tăng cường các biện pháp đề phòng, ngăn ngừa và hạn chế tổn thất bảo hiểm

Thứ ba, bảo hiểm gắn liền với yếu tố rủi ro

Rủi ro là khả năng xảy ra biến cố bất thường có hậu quả thiệt hại hoặc mang lại hậu quả không mong đợi Rủi ro chính là sự không chắc chắn, những gì chắn chắn xảy ra thì không phải là rủi ro Bảo hiểm chính là sự bù đắp, khắc phục hậu quả của rủi ro Chính vì con người không thể biết trước được những gì không may

sẽ đến với mình và đến lúc nào trong tương lai, nó hoàn toàn có thể xảy ra trong mọi mặt của đời sống xã hội, chẳng hạn như ốm đau, bệnh tật, va vẹt xe, cháy nhà, thiên tai,… nên họ mới mua bảo hiểm để đảm bảo rằng thiệt hại có thể được bù đắp thông qua bảo hiểm Do tính bất ngờ của rủi ro bảo hiểm cả không gian, thời gian

và quy mô nên doanh nghiệp phải xây dựng các quỹ dự phòng để thực hiện cam kết của mình trước bên tham gia bảo hiểm

Rủi ro là một khái niệm quan trọng, một thuật ngữ cơ bản trong bảo hiểm Suy cho cùng, nguyên lý của bảo hiểm là “không có rủi ro thì không có bảo hiểm” Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, trong thực tế, không những cần phải nghiên cứu, nắm bắt được quy luật của rủi ro, dự kiến được rủi ro, phát hiện rủi ro, nhận diện rủi ro mà còn phải biết đánh giá rủi ro và lựa chọn những rủi ro có thể bảo hiểm để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình Còn đối với nhà nước, là chủ thể quản lý hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm, phải dựa vào đối tượng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm mà có những quy định phù hợp nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương trong kinh doanh bảo hiểm Cụ thể, đối tượng kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm là rủi ro, là sự không chắc chắn, nên thực chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là bán các lời hứa trong tương lai Các lời hứa này chính là các cam kết chi trả về tài chính từ phía doanh nghiệp bảo hiểm

và do vậy, pháp luật phải có cơ chế phù hợp để doanh nghiệp bảo hiểm đảm bảo

Trang 15

Thứ tư, bảo hiểm hoạt động theo quy định của pháp luật

Bảo hiểm đóng vai trò là công cụ góp phần ổn định các hoạt động kinh tế xã hội đời sống của dân cư, thúc đẩy quá trình tích tụ vốn trong xã hội Để tránh thất thoát cho tài sản các cá nhân, tổ chức có thể tham gia bảo hiểm cho tài sản của mình

và nếu gặp rủi ro thì thiệt hại sẽ được bù đắp bằng tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm chi trả Đồng thời, cũng chính nhờ tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho các cá nhân, tổ chức có thể duy trì được hoạt động bình thường, ổn định đời sống khi gặp rủi ro Mặt khác an toàn về tính mạng, sức khoẻ là vấn đề được cá nhân, cộng đồng và Nhà nước quan tâm Hoạt động bảo hiểm đóng vai trò tích cực trong việc bù đắp vật chất trong các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, nó trở thành một trong những phương tiện bảo vệ tài sản của con người Vì vậy bảo hiểm đã sớm được pháp luật điều chỉnh cụ thể là trong Bộ luật dân sự, Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản có liên quan Các hoạt động của bảo hiểm phải theo một cơ chế do luật định để đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển Do bản chất và chức năng của nó mà pháp luật đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Nếu thiếu sự điều chỉnh của pháp luật thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm không thể tiến hành thuận lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ bảo hiểm sẽ không được bảo đảm thực hiện trong những trật tự phù hợp với lợi ích của Nhà nước và cộng đồng

1.1.4 Vai trò của bảo hiểm

Từ khi hình thành và phát triển cho đến ngày nay bảo hiểm đã cho thấy được tầm quan trọng nó trên thế giới hiện đại Ngày nay, ngành bảo hiểm đã có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Hoạt động bảo hiểm có mặt hầu hết trong mọi lĩnh vực, có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển toàn bộ nền kinh tế - xã hội Trong thời buổi kinh tế hội nhập chúng ta không thể phủ nhận giá trị to lớn của ngành bảo hiểm ở hiện tại và trong tương lai Vai trò của bảo hiểm nổi bật ở những điểm sau: Một là, bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong việc bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất kinh tế xã hội Thiệt hại xảy ra do sự không lường trước của rủi ro, rủi

ro có thể mang đến những thiệt hại bất thường, rủi ro tổn thất phát sinh làm thiệt hại đến các đối tượng: của cải vật chất do con người tạo ra và chính bản thân con người, làm gián đoạn quá trình sinh hoạt của dân cư ngừng trệ hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế Một sự cố xảy ra do thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán, sóng thần,… đã gây nên thiệt hại không nhỏ về con người và tài sản, hơn lúc nào hết các

Trang 16

tại và dần ổn định cuộc sống trong tương tai Sự có mặt của các công ty bảo hiểm đã đáp ứng được nhu cầu đó một cách nhanh chóng mà không cần đến sự hỗ trợ của các cơ quan nhà nước Dịch vụ mà các công ty bảo hiểm mang lại là đảm bảo về mặt tài chính vật chất trước rủi ro Không ngừng lại ở mặt tài chính vượt hơn cả là mang đến sự an tâm, giảm bớt lo âu của những người được bảo hiểm

Bên cạnh khả năng giải quyết các hậu quả như bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn góp phần hạn chế rủi ro thông qua việc đề phòng và hạn chế thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra Việc tham gia bảo hiểm có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy người tham gia bảo hiểm áp dụng các biện pháp phòng tránh rủi

ro và giảm bớt các hậu quả của rủi ro Bởi vì, phòng tránh và giảm bớt hậu quả của rủi ro là nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm được pháp luật ghi nhận và thường được các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm ghi thành các điều khoản hợp đồng Do mối quan hệ ràng buộc như vậy giữa người tham gia bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm nên hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vai trò tích cực trong việc bảo đảm

an toàn cho đời sống cộng đồng và cho nền kinh tế Nhờ đó những thiệt hại đáng tiết về người và tài sản được giảm thiểu, những hậu quả của nền kinh tế - xã hội cũng được chủ động phòng tránh

Hai là, bảo hiểm đóng vai trò trung gian tài chính trong hệ thống tài chính quốc gia Khi một cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm để được bù đắp tổn thất nói

cách khác là bồi thường thì phải đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để các doanh nghiệp có thể hoạt động tốt, từ đó doanh nghiệp có được một quỹ tài chính để bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Trong hoạt động kinh doanh mọi thành phần đều muốn kiếm được lợi nhuận để mở rộng sản xuất - kinh doanh và đương nhiên doanh nghiệp bảo hiểm cũng không ngoại lệ Quỹ tài chính mà các doanh nghiệp có được là một khoản tiền không nhỏ, có khả năng sinh lợi lớn nếu đem đầu

tư Với vai trò trung gian tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện các hoạt động thu hút, tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi, chuyển hóa vốn và đầu tư vốn

Ngày nay, các công ty bảo hiểm là một kênh huy động vốn không thể thiếu trong nền kinh tế và đang ngày càng được khai thác một cách có hiệu quả do phạm

vi hoạt động rộng, loại hình bảo hiểm phong phú Thông qua các hợp đồng bảo hiểm, các công ty bảo hiểm đã tập trung lượng tiền, phân tán rãi rác thành những quỹ tiền tệ khá lớn Quỹ bảo hiểm đã trở thành một định chế trung gian quan trọng trên thị trường vốn Như vậy, bảo hiểm đã và đang đáp ứng được nhu cầu không

Trang 17

trường Bảo hiểm không những đóng vai trò là một công cụ an toàn mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc luân chuyển vốn, nắm giữ phần quan trọng trong các doanh nghiệp công nghiệp và thương mại lớn Hoạt động đầu tư tài chính của các tổ chức bảo hiểm vì thế có ảnh hưởng lớn nhất là trên thị trường đầu tư trung và dài hạn Tuy nhiên để đầu tư có hiệu quả và an toàn các doanh nghiệp bảo hiểm phải thực hiện đúng quy định của pháp luật và chịu sự giám sát của nhà nước

Ba là, bảo hiểm cũng có vai trò tạo việc làm cho nguồn lao động Hoạt động

bảo hiểm ra đời từ đó huy động một số lớn lực lượng lao động, phân bố rải rác từ doanh nghiệp đến hệ thống đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và các nghề nghiệp liên quan như giám định tổn thất, giám định tài sản giám định sức khỏe, Cụ thể là: theo số liệu thống kê của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, số lượng đại lý mới tuyển dụng trong 6 tháng đầu năm 2010 là 46.185 người, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm ngoái Các doanh nghiệp có số lượng đại lý cao nhất là Prudential 76.195 người, Bảo Việt Nhân Thọ với 19.609 người, Dai-ichi Life Việt Nam 14.480 người.6 Sự gia tăng các đại lý bảo hiểm kéo theo sự tăng lên đáng kể của nhân sự trong ngành Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay thì nguy cơ thất nghiệp đang đe dọa không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn cầu, cùng với sự phát triển của bảo hiểm thì số lượng lao động ngày càng gia tăng, đóng vai trò không nhỏ trong giải quyết việc làm cũng như các vấn đề xã hội liên quan

1.2 TỔNG QUAN VỀ TÁI BẢO HIỂM

1.2.1 Sự ra đời và phát triển của tái bảo hiểm

Như chúng ta đều biết, nếu như bảo hiểm là hình thức dàn trải tổn thất của một ít người cho nhiều người cùng chịu thì tái bảo hiểm là hình thức dàn trải một lần nữa những tổn thất mà doanh nghiệp bảo hiểm phải gánh chịu Chính vì vậy, song song với sự ra đời và phát triển của bảo hiểm, tái bảo hiểm ra đời như một tất yếu khách quan và ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu trong sự phát triển của thị trường bảo hiểm thế giới nói chung

Vào giai đoạn cuối cùng của thời đại trung cổ, khi ngành bảo hiểm bắt đầu phát triển và mở rộng ở châu Âu thì nhu cầu tái bảo hiểm đã xuất hiện và ngày càng tăng nhanh cùng với sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Trước tiên, nghiệp vụ tái bảo hiểm được tiến hành cho loại hình bảo hiểm vận chuyển hàng hải, sau này dần dần được mở rộng sang bảo hiểm cháy, bảo hiểm nhân thọ

Trang 18

Nước Ý là nước đầu tiên chứng kiến sự ra đời của dịch vụ tái bảo hiểm Bản giao ước cổ nhất được biết đến với tính chất pháp lý như một hợp đồng tái bảo hiểm

đã được ký kết tại thành phố Genés vào năm 1370 giữa một bên là hai thương nhân hoạt động với tư cách là nhà tái bảo hiểm với một bên là đại diện cho một nhà bảo hiểm Hợp đồng tái bảo hiểm này được ký kết nhằm đảm bảo dịch vụ bảo hiểm cho các hàng hóa gửi đi bằng đường biển từ Genés đến Bruges Sau này với sự phát triển rộng rãi về những mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các thành phố của nước Ý và giữa các nước Bắc Âu, đặc biệt là nước Anh dịch vụ tái bảo hiểm đã phát triển lên một bước Nhưng sau đó đã xuất hiện nhiều vụ lạm dụng có tính cách con buôn gây ra nhiều phản ứng chống lại bản chất tái bảo hiểm Trong những vụ này các nhà bảo hiểm đã lợi dụng hình thức tái bảo hiểm để phân tán rủi ro nhưng theo

tỷ lệ phí thấp hơn nhiều so với phí bảo hiểm gốc để kiếm lời Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự ra đời đạo luật cấm các hoạt động tái bảo hiểm hàng hải ở nước Anh trong một thời gian dài từ 1746 đến 1864 Đạo luật này đã vô hình chung tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức Lloyd’s phát huy ảnh hưởng của mình bằng cách đồng bảo hiểm và sau 1864 đã hiển nhiên trở thành thị trường tái bảo hiểm quan trọng nhất thế giới Trong thời gian này các hình thức tái bảo hiểm khác cũng đã xuất hiện, ví dụ như tái bảo hiểm cháy Lúc đầu nghiệp vụ tái bảo hiểm được các công ty bảo hiểm tiến hành, điều đó có ý nghĩa là họ vừa tiến hành bảo hiểm gốc vừa đồng thời tiến hành cả tái bảo hiểm Hình thức tái bảo hiểm duy nhất được sử dụng đó là hình thức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn cho từng rủi ro riêng lẻ

Đến giữa thế kỷ thứ 19 nền kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa đã có những bước tiến nhảy vọt do áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học

kỹ thuật vào sản xuất Quan hệ thương mại giữa các nước được mở rộng và phát triển mạnh Do đó hình thức hợp đồng tái bảo hiểm trao đổi qua lại giữa các nhà bảo hiểm như trên không còn đáp ứng được nhu cầu Điều kiện này dẫn đến sự tất yếu khách quan cho việc thành lập các công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp Năm 1846 tại Kohn (Đức) công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp đầu tiên đã ra đời lấy tên là công ty tái bảo hiểm Kohn Tiếp theo đó là một số công ty tái bảo hiểm có tên tuổi trên thị trường thế giới hiện nay cũng đã được thành lập như công ty tái bảo hiểm Thụy Sĩ (Swiss Re) năm 1863, công ty tái bảo hiểm London (London Guarantee Reinsurance Co Ltd) năm 1869, công ty tái bảo hiểm Munich năm 1880

Việc thành lập các công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp là một sự kiện có tính

Trang 19

hiểm gốc đã có sẵn trong tay nguồn đảm bảo đắc lực cho hoạt động kinh doanh của

họ và nhờ đó các công ty bảo hiểm gốc không còn phải e ngại hoặc lo sợ khi phải cung cấp thông tin và số liệu cho việc chào các hợp đồng tái bảo hiểm Từ đó khả năng cạnh tranh của các công ty bảo hiểm gốc được tăng lên Như vậy sự chuyên môn hóa dịch vụ tái bảo hiểm đã có thể đáp ứng được những yêu cầu của công ty bảo hiểm gốc một cách thỏa đáng Khả năng phục vụ của các công ty tái bảo hiểm cũng được cải tiến thêm bằng việc mở rộng tái bảo hiểm ra các loại hình bảo hiểm khác và lan rộng ra các thị trường bảo hiểm nước ngoài thúc đẩy ngành bảo hiểm ngày càng phát triển Trong thời kỳ này kỹ thuật của tái bảo hiểm cũng được cải tiến Nhiều hình thức và phương pháp tái bảo hiểm đã được xây dựng

Trong giai đoạn này, hai cuộc chiến tranh thế giới cùng với các cuộc khủng hoảng kinh tế và lạm phát tiền tệ đã làm tổn hại lớn đến sự phát triển của ngành bảo hiểm nói chung và ngành tái bảo hiểm nói riêng Bị tổn hại nhiều nhất phải kể đến các công ty tái bảo hiểm Đức Trong hai cuộc chiến tranh thế giới này, các giới tư bản độc quyền đã lấy vốn và quỹ tiền tệ bảo hiểm (trong đó có dự trữ phí của bảo hiểm nhân thọ) của các công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm để chi phí cho chiến tranh Trong khi đó các công ty tái bảo hiểm của những nước không bị chiến tranh đe dọa

đã vươn lên, nắm lấy thị trường tái bảo hiểm quốc tế, ví dụ như công ty tái bảo hiểm Thụy Sĩ đã phát triển lên thành một công ty tái bảo hiểm đồ sộ Ngoài ra, trong thời gian này có rất nhiều công ty tái bảo hiểm đã ra đời nhất là ở Mỹ, Thụy Sĩ

Thế chiến thứ hai đã kết thúc năm 1945 với sự thắng lợi của Hồng quân Liên

Xô và phe đồng minh đánh bại chủ nghĩa phát xít đến tận gốc rễ Nó đã mở ra một giai đoạn mới của lịch sử loài người cũng như nền kinh tế và ngành bảo hiểm Hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời, phong trào giải phóng dân tộc của nhiều nước thuộc địa đã giành được thắng lợi Chủ nghĩa đế quốc lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế mới, cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước đầu sỏ ngày càng gay gắt, tất cả các sự kiện trên đều ảnh hưởng đến sự phát triển của tái bảo hiểm Giai đoạn này được đặc trưng qua các biến động lớn sau :

Thứ nhất, sự phục hồi nhanh chóng của các công ty tái bảo hiểm của Cộng hòa liên bang Đức Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, các công ty tái bảo hiểm Đức đã bị cắt đứt quan hệ với quốc tế và năm 1947 lại bị cấm không cho hoạt động

ở nướcngoài Nhưng ngay sau khi lệnh cấm này được bãi bỏ năm 1950 thì các công

ty tái bảo hiểm ở Cộng hòa liên bang Đức đã nhanh chóng khôi phục lại địa vị

Trang 20

bảo hiểm mới được thành lập Hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm được phát triển với tốc độ nhanh Đến những năm 70 tổng doanh thu phí của thị trường Cộng hòa liên bang Đức đã chiếm vị trí thứ ba trên thế giới, sau Nhật và Mỹ

Thứ hai, sự thành lập các công ty bảo hiểm nhà nước ở các nước xã hội chủ nghĩa: sự kiện này ảnh hưởng lớn đến chiều hướng phát triển của tái bảo hiểm quốc

tế Các nước xã hội chủ nghĩa đã tiến hành biện pháp độc quyền về tái bảo hiểm và hạn chế quan hệ với thị trường tái bảo hiểm tư bản chủ nghĩa Đồng thời ở các nước

xã hội chủ nghĩa không tiến hành tái bảo hiểm cho các loại hình bảo hiểm đối nội

Thứ ba, trong những nước chậm phát triển hoặc mới giành được độc lập những tổ chức độc quyền tái bảo hiểm, cục bộ hay toàn phần đã được thành lập nhằm bảo vệ lợi ích riêng của họ (Achentina, Braxin, Chile, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập)

Sự kiện này có tác dộng làm thu hẹp khả năng hoạt động của các công ty tái bảo hiểm quốc tế ở những nước đó

Thứ tư, nhiều công ty tái bảo hiểm mới được thành lập và càng ngày có nhiều công ty bảo hiểm tiến hành đồng thời dịch vụ tái bảo hiểm Do đó cuộc cạnh tranh giữa họ ngày càng gây gắt và dưới nhiều hình thức khác nhau

Trong thời gian này, hình thức tái bảo hiểm không theo tỷ lệ là hình thức tối

ưu nhất đáp ứng được nhu cầu đảm bảo của các công ty bảo hiểm gốc và ngày càng được phổ biến rộng rãi Điều này làm cho các nhà tái bảo hiểm, có khó khăn hơn trong việc tính phí phù hợp với phần rủi ro mà họ phải gánh chịu Thêm vào đó là khả năng xảy ra tổn thất ngày càng tăng Vì vậy, đặc điểm của giai đoạn này là chiều hướng ngày càng giảm của kết quả kinh doanh nghiệp vụ tái bảo hiểm thuần túy, nhưng đồng thời chiều hướng ngày càng tăng của kết quả kinh doanh đầu tư quỹ tiền tệ bảo hiểm thông qua lãi suất cao.7 Cho đến nay tái bảo hiểm đã trở nên hết sức quen thuộc và phổ biến trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Ngày nay, khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực thì tái bảo hiểm ngày càng có cơ hội phát triển Như vậy, ta có thể khẳng định rằng sự ra đời của tái bảo hiểm là một tất yếu khách quan nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của thị trường bảo hiểm đầy tiềm năng của các quốc gia nói riêng và thế giới nói chung

Trang 21

1.2.2 Khái niệm về tái bảo hiểm

Trong những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm thì hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm là một hoạt động không thể thiếu của doanh nghiệp bảo hiểm nếu muốn đứng vững trên thị trường, khả năng thích ứng cao đối với các sự kiện bảo hiểm lớn Do đó, sự phát triển bền vững, không rơi vào thế mạo hiểm trong kinh doanh và thỏa mãn nhu cầu tối đa về bảo hiểm đó là các yêu cầu đầu tiên mà doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm buộc phải tìm đến các phương pháp phân tán rủi

ro mà trong đó tái bảo hiểm lại là phương pháp hiệu quả

Từ khi xuất hiện tái bảo hiểm đã trở thành một mắt xích trong dây chuyền chuyển giao rủi ro và đã dần phát triển nhanh, tạo nên một bộ phận quan trọng không thể thiếu được của thị trường bảo hiểm của mỗi quốc gia và trên thế giới

Về phương diện kỹ thuật bảo hiểm, “Tái bảo hiểm là loại nghiệp vụ mà

doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để chuyển giao một phần trách nhiệm (rủi ro) đã chấp nhận với người được bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác, trên cơ sở nhượng lại cho doanh nghiệp bảo hiểm đó một phần phí bảo hiểm” Tái bảo hiểm

chỉ hình thành trên cơ sở bảo hiểm gốc ban đầu, nhưng các thỏa thuận của hợp đồng tái bảo hiểm thì độc lập với hợp đồng bảo hiểm gốc ban đầu

Sơ đồ 1: Mối quan hệ trong tái bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng chuyển nhượng tái bảo hiểm

Hợp đồng tái bảo hiểm

Người mua

bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm gốc

(doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm)

Doanh nghiệp bảo hiểm

(doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm)

Doanh nghiệp bảo hiểm

(doanh nghiệp nhận chuyển nhượng

tái bảo hiểm)

Trang 22

Như vậy, ta có thể thấy qua sơ đồ trên thể hiện rằng là cùng với việc ký kết hợp đồng bảo hiểm gốc ban đầu giữa người mua bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm, chấp nhận rủi ro với người mua bảo hiểm, đến giai đoạn doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp nhượng tái bảo hiểm để được bảo hiểm bằng việc ký kết hợp đồng tái bảo hiểm Đến đây quan hệ tái bảo hiểm vẫn còn tiếp tục thực hiện hợp đồng tái bảo hiểm một lần nữa

Do đó, quan hệ giữa người mua bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm được chi phối bởi hợp đồng bảo hiểm gốc, còn quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm gốc với doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm sẽ chi phối bởi hợp đồng tái bảo hiểm Về nguyên tắc, khi phát sinh sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi của hợp đồng bảo hiểm gốc ban đầu thì doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về toàn bộ cam kết của hợp đồng bảo hiểm gốc và nếu sự kiện bảo hiểm đó thuộc phạm vi của hợp đồng tái bảo hiểm thì doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm đối với doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm theo thỏa thuận của hợp đồng tái bảo hiểm Còn người mua bảo hiểm không thể khiếu nại bồi thường hay đòi chi trả tiền bảo hiểm trực tiếp đối với doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm

Về phương diện kinh tế, tái bảo hiểm được hiểu là: “Tái bảo hiểm là hoạt

động bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm, là hình thức mà thông qua đó doanh nghiệp bảo hiểm tăng khả năng nhận tái bảo hiểm và bảo vệ mình khỏi những tổn thất nghiêm trọng”

Về phương diện pháp lý, “Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh

nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm” 8 Trong tái bảo hiểm người mua bảo hiểm chỉ

cần biết doanh nghiệp bảo hiểm gốc ban đầu là người duy nhất chịu trách nhiệm đảm bảo cho các rủi ro của mình chứ người mua bảo hiểm không cần biết đến doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm

Nói tóm lại, cho dù tái bảo hiểm được hiều theo nhiều khía cạnh nhưng điều

cơ bản nhất, chung nhất thì tái bảo hiểm là việc một doanh nghiệp bảo hiểm có thể bảo vệ cho doanh nghiệp mình tránh khỏi những rủi ro tổn thất bằng việc chuyển giao rủi ro đó cho một doanh nghiệp bảo hiểm khác Hay nói cách khác thì tái bảo hiểm là hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp bảo hiểm bằng việc

Trang 23

ký kết hợp đồng tái bảo hiểm với doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm để cam kết bồi thường những rủi ro trách nhiệm đã nhận bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm trong phạm vi của hợp đồng

1.2.3 Sự cần thiết của tái bảo hiểm

Cùng với sự phát triển của xã hội, bảo hiểm ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Tuy nhiên, trong quá trình kinh doanh bảo hiểm các doanh nghiệp bảo hiểm thường xuyên bị đe dọa phá sản Điều đó do các nguyên nhân là đối tượng tham gia bảo hiểm có giá trị quá lớn mà khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm có hạn, những tổn thất lớn xảy ra liên tục trong một thời gian ngắn, việc xác định phí bảo hiểm không chính xác gây ra hiện tượng thu không đủ bù chi Chính vì thế, đứng trước những khó khăn đó, việc đưa ra các hình thức nhằm bảo vệ các doanh nghiệp bảo hiểm đã được đặt ra Trong đó, xuất hiện hình thức đồng bảo hiểm tức là nhiều doanh nghiệp cùng bảo hiểm cho một đối tượng tham gia, tuy nhiên khi áp dụng hình thức này có những hạn chế nhất định Đó là việc ký kết hợp đồng thường bị kéo dài mất hết cơ hội trong kinh doanh, mặt khác nếu tổn thất xảy ra, rất khó tập trung bồi thường dẫn đến tình trạng đối tượng tham gia bảo hiểm dễ nghi ngờ khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm Chính vì vậy cần có hình thức thích hợp hơn, đó chính là tái bảo hiểm, trong hình thức này doanh nghiệp bảo hiểm ban đầu là doanh nghiệp bảo hiểm gốc (hay doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm) các doanh nghiệp bảo hiểm còn lại là các doanh nghiệp tái bảo hiểm hay doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm

Vì vậy, đối với một tổ chức bảo hiểm dù năng lực tài chính dù có lớn đến mấy cũng vẫn có giới hạn và không thể mạo hiểm Trước sự đa dạng, phức tạp của nhu cầu bảo hiểm, các phương pháp phân tán rủi ro cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm phối hợp hoạt động đáp ứng tối đa các nhu cầu về bảo hiểm Thực tế, các nhà doanh nghiệp hiểm phải biết sử dụng biện pháp và hình thức nào có lợi cho mình nhất, hạn chế thấp nhất những hậu quả không mong muốn

Việc sử dụng tái bảo hiểm không chỉ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành kinh doanh bảo hiểm của mỗi quốc gia và thế giới Tác dụng của tái bảo hiểm được nhìn nhận trên nhiều phương diện, cụ thể như sau:

Trang 24

Thứ nhất, mở rộng phạm vi phân tán rủi ro

Tái bảo hiểm tạo nên mối liên kết giữa nhiều doanh nghiệp bảo hiểm, nhiều thị trường bảo hiểm lớn, nhỏ trên thế giới Nhờ đó, những tổn thất lớn, biến cố thảm họa ở một quốc gia được phân tán trên phạm vi quốc tế

Thứ hai, lý do an toàn

Một trong những lý do mua bảo hiểm là người được bảo hiểm muốn giảm bớt vế sự không chắc của tổn thất Vì vậy mua bảo hiểm tạo ra yếu tố an tâm Ngược lại, nhà bảo hiểm cũng tìm kiếm sự an toàn, phân tán rủi ro và đạt được những điều này thì cụ thể bằng việc sử dụng tái bảo hiểm

Thứ ba, bảo đảm sự ổn định trong kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm gốc có thể tránh sự biến động trong các khoản chi bồi thường quá lớn của rủi ro, của những thảm họa, sự cố bảo hiểm trong một năm

và qua nhiều năm bằng việc tái bảo hiểm

Thứ tư, tăng cường khả năng chấp nhận bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể giới hạn về tài chính đối với mức độ rủi ro mà

họ có thể chấp nhận Vì vậy, dịch vụ bảo hiểm có thể bị từ chối hay chỉ được chấp nhận một phần Bằng phương pháp tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm gốc có khả năng tăng năng lực tài chính của họ để chấp nhận nhiều dịch vụ, những đề nghị bảo hiểm có số tiền bảo hiểm lớn

Thứ năm, lợi ích cho doanh nghiệp bảo hiểm, thị trường bảo hiểm

Tái bảo hiểm trợ giúp các doanh nghiệp bảo hiểm, thị trường bảo hiểm nhất

là mới ra đời phát triển qua việc tăng cường khả năng chấp nhận bảo hiểm và sự tư vấn kỹ thuật nghiệp vụ của những doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm Những doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm lớn, chuyên nghiệp có một lợi thế đặc biệt về vị trí và cơ hội cho việc tập hợp các số liệu thống kê rủi ro, tổn thất; nắm bắt những diễn biến, thay đổi, xu hướng phát triển của thị trường bảo hiểm không chỉ giới hạn phạm vị một quốc gia Cộng với kinh nghiệm kỹ thuật nghiệp vụ được tích lũy qua nhiều năm, sự tư vấn của họ sẽ hết sức quý giá, nhất là đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, thị trường bảo hiểm còn non trẻ Tham gia vào thị trường bảo hiểm - thị trường không biên giới, các doanh nghiệp bảo hiểm, thị trường bảo hiểm được tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ bảo hiểm và cũng phải vượt lên để đạt các chuẩn mực, mức độ nghiệp vụ chuyên nghiệp và mặt bằng trình độ kỹ thuật nghiệp vụ của

Trang 25

1.2.4 Bản chất và vai trò của tái bảo hiểm

Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế mà mục đích chủ yếu là góp phần ổn định kinh tế cho người mua bảo hiểm từ đó khôi phục và phát triển đời sống, sản xuất Thực chất của hoạt động bảo hiểm là quá trình mà mọi người trong xã hội đều có thể được đảm bảo về mặt tài chính bởi mạng lưới bảo hiểm Ngược lại, đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, họ nhận lấy những rủi ro mà người mua bảo hiểm chuyển giao, những rủi ro đó đến lượt doanh nghiệp bảo hiểm nó cũng có thể gặp những rủi

ro bất thường không thể lường trước được Do vậy, nhu cầu bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phát sinh và một trong những giải pháp hữu hiệu để đảm bảo duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm chính là tái bảo hiểm

* Về bản chất của tái bảo hiểm

Nhiệm vụ chủ yếu của tái bảo hiểm là phân chia các rủi ro đã nhận bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm gốc cho những doanh nghiệp tái bảo hiểm và với nhiệm

vụ đó tạo sự ổn định trong kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm gốc và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này có khả năng nhận tái bảo hiểm cho những rủi ro vượt quá khả năng tài chính của mình Nhưng cho dù thế nào đi nữa, thì bản chất của tái bảo hiểm cũng thể hiện ở những đặc điểm sau:

Tái bảo hiểm là sự phân tán rủi ro cho các doanh nghiệp bảo hiểm, thay vì một doanh nghiệp bảo hiểm gánh chịu tất cả các rủi ro đó thì sẽ có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác cùng chia sẻ tổn thất đó với họ Chính vì vậy, giá trị rủi ro tổn thất mà doanh nghiệp bảo hiểm gánh chịu được giảm đi gấp nhiều lần

Hoạt động tái bảo hiểm chẳng những tạo được lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm bằng việc ký kết nhiều hợp đồng tái bảo hiểm mà còn tạo điều kiện đảm bảo ổn định trong chiến lược kinh doanh của họ

Hoạt động tái bảo hiểm là hoạt động mang tính chất quốc tế cao bởi vì một hợp đồng bảo hiểm gốc trong nước có thể được tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác ở nước ngoài bằng chính sách mở cửa thị trường, hợp tác quốc tế

* Về vai trò của tái bảo hiểm

Như đã biết, đối với các nước có nền kinh tế tập trung như Việt Nam, tái bảo hiểm là một lĩnh vực đặc biệt của hệ thống bảo hiểm nhà nước và đồng thời cũng là một bộ phận của ngành kinh tế đối ngoại Nghiệp vụ tái bảo hiểm là một hình thức bảo hiểm lại những rủi ro đã được bảo hiểm Cũng như đối với các loại hình bảo hiểm khác, việc tiến hành nghiệp vụ tái bảo hiểm có những vai trò cơ bản như sau:

Trang 26

Một là, đối với nền kinh tế

Nghiệp vụ tái bảo hiểm làm tăng thêm khả năng nhận bảo hiểm của thị trường bảo hiểm trong nước Như vậy, người được bảo hiểm sẽ không phải lo lắng

về việc tìm doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài để mua bảo hiểm Điều này giúp cho hoạt động kinh tế trong nước phát triển và hạn chế việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, hơn nữa còn tăng thu ngoại tệ thông qua việc bán bảo hiểm cho các cá nhân

và công ty nước ngoài

Hoạt động tái bảo hiểm diễn ra giữa nhiều tổ chức tái bảo hiểm của nhiều nước Như vậy, một thiệt hại có tính thảm họa ở một nước, qua tái bảo hiểm sẽ được

bù đắp từ những khoản tiền bồi thường mang tính quốc tế Tổn thất được phân tán trên một phạm vi rộng, việc gánh chịu trở nên dễ dàng hơn nhờ đó góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế giữa các nước

Hai là, đối với người mua bảo hiểm

Do bảo hiểm là hoạt động dịch vụ đặc thù, cung cấp sự cam kết bồi thường trên cơ sở phí bảo hiểm đóng trước nên có thể nói tái bảo hiểm là công cụ giúp người mua bảo hiểm yên tâm hơn trong việc đảm bảo khả năng thanh toán của các doanh nghiệp bảo hiểm Nhờ có hoạt động tái bảo hiểm mà người mua bảo hiểm có thể nhận được bồi thường chính xác, đầy đủ và kịp thời

Nghiệp vụ tái bảo hiểm sẽ hạn chế xu hướng gia tăng phí bảo hiểm, vì thế không có tái bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm gốc sẽ phải thu một khoản phí bảo hiểm rất lớn để đề phòng bị phá sản khi có thảm hoạ xảy ra, tạo sự an tâm cho người mua bảo hiểm với chi phí hợp lý khi muốn tham gia bảo hiểm

Ba là, đối với doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm

Tác dụng đầu tiên là tái bảo hiểm giúp cho doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm có thể tăng khả năng nhận bảo hiểm và có thể nhận bảo hiểm những rủi ro lớn

mà không cần phải tăng thêm vốn, tức là tăng khả năng ký kết của doanh nghiệp bảo hiểm, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp mới thành lập, vốn kinh doanh còn hạn chế

Thứ hai, tái bảo hiểm đảm bảo khả năng thanh toán tiền bồi thường trong trường hợp xảy ra những thiệt hại lớn hay những rủi ro mang tính thảm hoạ, chẳng hạn như một trận bão đánh vào hàng nghìn hợp đồng trong cùng một sự cố Nhờ đó tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm

ổn định hơn

Trang 27

Cuối cùng, sau khi chuyển phần phí tái bảo hiểm cho doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm gốc còn nhận được một khoản tiền hoa hồng cho các dịch vụ mà mình khai thác được Nhiều khi đây là yếu tố quan trọng để các doanh nghiệp bảo hiểm gốc quyết định sẽ ký kết hợp đồng tái bảo hiểm với doanh nghiệp tái bảo hiểm nào

Như vậy, tái bảo hiểm có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, chẳng những góp phần giúp cho các doanh nghiệp phân tán rủi ro, giải quyết vần đề tài chính khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên cạnh đó còn thu được khoản hoa hồng từ nghiệp vụ mà mình khai thác được

1.2.5 Chức năng của tái bảo hiểm

Khi khai thác nghiệp vụ tái bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải lựa chọn thích hợp cho mình loại hình khai thác nào của tái bảo hiểm Tái bảo hiểm như

đã giới thiệu thì bao gồm nhượng tái bảo hiểm và nhận tái bảo hiểm Đối với các loại hình khai thác khác nhau của tái bảo hiểm thì chức năng của chúng cũng khác nhau Chức năng của tái bảo hiểm đều chủ yếu nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp bảo hiểm gốc và sự đảm bảo này cũng phụ thuộc vào các dạng hợp đồng tái bảo hiểm được ký kết nhằm tìm kiếm lợi nhuận, gia tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp

Nhìn chung, nhượng tái bảo hiểm là một nghiệp vụ tốn kém, vì trong đó phí tái bảo hiểm có cả phần chi phí quản lý và lợi nhuận cho doanh nghiệp tái bảo hiểm Nên một điều cần phải chú ý là làm sao sử dụng được một cách tối ưu tái bảo hiểm

để vừa ổn định được kinh doanh vừa tiết kiệm được tài chính, có nghĩa là chỉ phân tán bớt rủi ro khi thật sự cần thiết Ngược lại, nhận tái bảo hiểm có chức năng hoàn toàn khác với nhượng tái bảo hiểm Ở đây doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh dịch

vụ bảo hiểm nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầy tiềm năng là khai thác hoạt động nhận tái bảo hiểm, doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm phải đảm bảo khả năng tài chính của mình khi đưa đến chấp nhận rủi ro do doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm

đã nhận trên cơ sở ký kết hợp đồng tái bảo hiểm

Do đó, từ những nhiệm vụ trên thông qua các hình thức khai thác tái bảo hiểm đối với nhà nước thì tái bảo hiểm có những chức năng chủ yếu như sau:

Một là, đảm bảo tính ổn định và sự chắc chắn cho quá trình kinh doanh và sản xuất của các doanh nghiệp, từ đó tạo điều kiện tốt cho họ phát triển kinh doanh

Trang 28

Hai là, đảm bảo tính ổn định của ngân sách ngoại tệ nhà nước có nghĩa là đảm bảo được kế hoạch chi tiêu ngoại tệ nhằm phát triển sản xuất một cách đồng

1.2.6 Phân loại tái bảo hiểm

Về khía cạnh kinh tế thì căn cứ vào các tính chất của tái bảo hiểm, tái bảo hiểm có ba loại như sau:

1.2.6.1 Tái bảo hiểm tạm thời

Đây là loại tái bảo hiểm giải quyết việc phân tán rủi ro một cách tạm thời và cũng là hình thức tái bảo hiểm cơ bản và cổ điển nhất ra đời đầu tiên trong lịch sử tái bảo hiểm và cho đến nay cũng được sử dụng khá phổ biến, theo phương pháp này doanh nghiệp bảo hiểm gốc chuyển nhượng cho doanh nghiệp tái bảo hiểm từng dịch vụ hay từng đơn bảo hiểm một cách riêng lẻ Doanh nghiệp tái bảo hiểm

về phần mình không có nghĩa vụ phải nhận tái bảo hiểm cho dịch vụ hay đơn bảo hiểm đó Doanh nghiệp bảo hiểm gốc cũng có toàn quyền quyết định đối với dịch

vụ nào, bao nhiêu và cho doanh nghiệp bảo hiểm nào Mặt khác doanh nghiệp tái bảo hiểm cũng có quyền từ chối nhận tái bảo hiểm cho dịch vụ hay chỉ nhận với một tỷ lệ mà họ cho là phù hợp Để tiến hành tái bảo hiểm tạm thời, doanh nghiệp bảo hiểm gốc phải cung cấp cho công ty tái bảo hiểm tất cả những thông tin có liên quan đến dịch vụ được bảo hiểm Họ có thể cung cấp thông tin bằng hình thức trao đổi hay bằng cách điền vào đơn đề nghị tái bảo hiểm

Với hình thức này chúng ta có thể nhận thấy điều đầu tiên là giúp cho doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm đặc biệt là các doanh nghiệp mới thành lập, các doanh nghiệp bảo hiểm ở thị trường mới, ít kinh nghiệm có thể hoàn thành việc nhận bảo hiểm cho những rủi ro có giá trị lớn vượt quá khả năng tài chính của họ trên cơ sở

sử dụng chuyên môn và khả năng của thị trường tái bảo hiểm quốc tế Bên cạnh, giúp cho doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm chủ động trong việc chấp nhận bảo hiểm, đặc biệt với những nhu cầu bảo hiểm mà không được chấp nhận trong các

Trang 29

hợp đồng tái bảo hiểm cố định như các rủi ro về động đất, chiến tranh, đình công hay những dịch vụ nằm ngoài phạm vi khả năng của mình

Tuy nhiên, khi thực hiện hợp đồng tái bảo hiểm này thì khối lượng công việc tương đối phức tạp, đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm phải xem xét kỹ trong lần ký kết hợp đồng đầu tiên cũng như lần kế tiếp nên thường tốn nhiều chi phí cho hai bên, tốn nhiều thời gian vì mỗi dịch vụ phải giải quyết riêng lẻ, doanh nghiệp bảo hiểm gốc phải thu xếp tái bảo hiểm tạm thời trước khi nhận một dịch vụ khác và thường doanh nghiệp bảo hiểm gốc có thể có khả năng nhường những dịch vụ đó cho đối thủ cạnh tranh khác; doanh nghiệp bảo hiểm phải liên lạc với doanh nghiệp tái bảo hiểm để cung cấp thông tin về thiết lập hợp đồng, trên thực tế làm lãng phí thời gian và chi phí vì họ thường liên lạc với nhiều doanh nghiệp tái bảo hiểm trong cùng một lúc cho một rủi ro; công tác đàm phán, soạn thảo, ký kết và thanh toán hợp đồng có thể rất nhiều dẫn đến lợi nhuận giảm đi; doanh nghiệp bảo hiểm gốc không thể bảo đảm ngay cho người được bảo hiểm những rủi ro vượt quá khả năng thanh toán khi doanh nghiệp tái bảo hiểm chưa chấp nhận bảo hiểm Vì vậy, không đảm bảo về mặt thời gian và sự chắc chắn trong việc phân tán rủi ro tái bảo hiểm Do đó, có thể sẽ bị mất cơ hội tranh thủ bảo hiểm hoặc không có khả năng để nhận bảo hiểm cho rủi ro có giá trị lớn, hay cũng làm cho doanh nghiệp bảo hiểm mất uy tín vì sự chậm trễ trả lời người được bảo hiểm Mặt khác, sự cần thiết tiết lộ thông tin về dịch vụ bảo hiểm khiến cho các doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm nắm được những thông tin nội bộ dẫn đến sự rò rĩ thông tin cho các đối thủ cạnh tranh

Với tất cả những đặc điểm nêu trên phương pháp tái bảo hiểm tạm thời đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải cung cấp các thông tin nhanh, đầy đủ và chính xác Đồng thời các doanh nghiệp tái bảo hiểm phải có nhiều kinh nghiệm, có trình độ chuyên môn cao và có khả năng xét đoán rủi ro chuẩn xác kịp thời Mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng lại có thể áp dụng được trong những trường hợp đặc biệt nên phương pháp tái bảo hiểm tạm thời vẫn được áp dụng khá phổ biến và tỏ ra rất hiệu quả khi kết hợp bổ sung cho phương pháp tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định

Trang 30

1.2.6.2 Tái bảo hiểm cố định hay bắt buộc

Có thể nói rằng, do tái bảo hiểm tạm thời có một số nhược điểm nên phương pháp tái bảo hiểm cố định đã ra đời và phát triển như là kết quả của những nỗ lực nhằm tìm ra phương pháp tái bảo hiểm hiệu quả hơn khắc phục các nhược điểm của phương pháp tái bảo hiểm tạm thời

Hình thức tái bảo hiểm này được thực hiện bằng hình thức hợp đồng cố định

Và hợp đồng cố định là sự thoả thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp bảo hiểm gốc và doanh nghiệp tái bảo hiểm Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm gốc thoả thuận

sẽ nhượng tái bảo hiểm một loại hình dịch vụ nhất định và công tác tái bảo hiểm sẽ nhận toàn bộ phần tái bảo hiểm đó Như vậy, hình thức tái bảo hiểm theo hợp đồng

cố định là việc doanh nghiệp bảo hiểm được bảo hiểm một cách tự động và các bên phải thực hiện nghĩa vụ nhất định đối với bên kia với những điều kiện đã ghi trong hợp đồng Mặc dù, đã có những điều khoản trong hợp đồng cố định, nhưng điều quan trọng là hai bên phải tin tưởng lẫn nhau Doanh nghiệp tái bảo hiểm phải tin tưởng vào doanh nghiệp bảo hiểm gốc chuyển nhượng cho mình những dịch vụ tốt

và doanh nghiệp bảo hiểm gốc cũng trông cậy vào doanh nghiệp tái bảo hiểm thanh toán bồi thường cho những rủi ro tổn thất phát sinh nếu có

Với hình thức này tạo ra sự chắc chắn do hợp đồng cố định mang lại vì doanh nghiệp tái bảo hiểm bị ràng buộc phải chấp nhận việc chuyển nhượng tái trong phạm vi đã quy định trong hợp đồng Theo phương pháp tái bảo hiểm bắt buộc, doanh nghiệp tái bảo hiểm sẽ hoàn toàn chia sẻ những vận may với doanh nghiệp bảo hiểm và sẽ chấp nhận thanh toán cho phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm đã thoả thuận mà công ty nhượng thay mặt họ giải quyết

Khi áp dụng hình thức này thì có những mặt thuận lợi như sau:

Một là, tái bảo hiểm theo hình thức này giúp cho doanh nghiệp bảo hiểm chủ động trong việc ký kết hợp đồng với người tham gia bảo hiểm

Hai là, khi doanh nghiệp tái bảo hiểm đã bị ràng buộc bởi hợp đồng tái bảo hiểm cố định thì không nhất thiết phải cân nhắc từng rủi ro Do đó, thủ tục ký kết hợp đồng cũng được tiến hành nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian, chi phí, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm

Ba là, theo hình thức tái bảo hiểm này, doanh nghiệp bảo hiểm được doanh nghiệp tái bảo hiểm bảo vệ cho mọi rủi ro thuộc phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm vì vậy độ an toàn cao

Trang 31

Bốn là, thông thường các hợp đồng tái bảo hiểm cố định mang tính liên tục

và sẽ được tái bảo hiểm liên tục tự động hàng năm (trừ trường hợp hai bên có ý định chấm dứt hợp đồng) Vì vậy, doanh nghiệp tái bảo hiểm sẽ có sự phân tán rủi ro tốt hơn, có lợi cho hoạt động kinh doanh để thực hiện đúng mục đích chức năng của bảo hiểm là chia sẻ rủi ro

Tuy nhiên, hợp đồng tái bảo hiểm cố định này giải quyết được những khó khăn cần thiết cho doanh nghiệp bảo hiểm còn có những hạn chế nhất định như nếu doanh nghiệp bảo hiểm còn non trẻ yếu kém, đặc biệt là trong việc đánh giá rủi ro bảo hiểm gốc thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của cả hai bên; doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm buộc phải nhận toàn bộ các dịch vụ nằm trong hợp đồng mà đây là vấn đề mà họ rất hạn chế, các hợp đông tái bảo hiểm cố định thường không thay đổi trong một thời gian nhất định Do vậy, nó cứng nhắc, thiếu linh hoạt doanh nghiệp bảo hiểm cũng tự ràng buộc mình trên một số phương tiện như thời gian trong khi đó việc thay đổi mức giữ lại, cách thức tiến hành đều cần sự chấp

nhận trước của bên nhận tái bảo hiểm

1.2.6.3 Tái bảo hiểm mở hay tùy ý lựa chọn

Đề khắc phục những hạn chế nhược điểm của hai hình thức trên thì doanh nghiệp bảo hiểm có thể sử dụng hinh thức tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn này Hình thức này hiện nay được áp dụng khá phổ biển ở thị trường Việt Nam Đây là loại tái bảo hiểm kết hợp giữa bảo hiểm tạm thời và bảo hiểm cố định Trên thực tế phương pháp tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn là sự thoả thuận theo đó doanh nghiệp bảo hiểm có quyền lựa chọn (chứ không phải là bắt buộc) chuyển nhượng một số rủi ro nhất định

và doanh nghiệp tái bảo hiểm có nghĩa vụ (chứ không phải tự ý lựa chọn) phải chấp nhận những rủi ro được chuyển nhượng Phương pháp tái bảo hiểm này không hẳn

là một dạng của phương pháp tái bảo hiểm cố định vì nó không có đầy đủ của phương pháp tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định, nhưng cũng không thể coi là một dạng của phương pháp tái bảo hiểm tạm thời vì doanh nghiệp bảo hiểm không có quyền từ chối những rủi ro được chuyển nhượng, nghĩa là việc nhận tái bảo hiểm của họ mang tính bắt buộc

Đây là sự kết hợp của hai hình thức trên và doanh nghiệp bảo hiểm đã lựa chọn rủi ro tái bảo hiểm đi thì chắc chắn nó sẽ được chấp nhận bởi doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm Mặc dù vây, cũng gây ra nhiều khó khăn yếu kém của loại hình này như doanh nghiệp tái bảo hiểm không có quyền từ chối nhận những rủi ro mà

Trang 32

với nội dung và điều khoản quy định trong hợp đồng tái bảo hiểm cố định và không thuận lợi cho doanh nghiệp tái bảo hiểm vì dịch vụ đưa vào hợp đồng không thường xuyên và không đồng đều tổn thất xảy ra thất thường Do vậy, các bên tham gia hợp đồng cần có sự trung thực tuyệt đối Ngoài ra, cách tái bảo hiểm này chỉ có thể thực hiện được bằng cách chào hàng cho các doanh nghiệp tái bảo hiểm có tiềm lực lớn mới có đủ khả năng nhận các rủi ro có giá trị cao

Tuy nhiên, trong hình thức này thì doanh nghiệp bảo hiểm không bắt buộc phải nhượng đi tất cả những dịch vụ Nhưng doanh nghiệp bảo hiểm không lợi dụng hình thức này để lựa chọn những rủi ro dễ tổn thất đưa vào hợp đồng và giữ lại cho mình những rủi ro có độ an toàn cao hơn Mặc khác, doanh nghiệp tái bảo hiểm có điều kiện thu được một nguồn phí tái bảo hiểm lớn

Tóm lại, doanh nghiệp phải đánh giá được mặt có lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm khi lựa chọn hình thức tái bảo hiểm nào, mỗi hình thức thì đều có những mặt mạnh và điểm hạn chế cơ bản và phải làm sao để sử dụng cho phù hợp với chiến lược kinh doanh bảo hiểm và phát triển hoạt động của doanh nghiệp mình

1.3 PHÂN BIỆT TÁI BẢO HIỂM VỚI BẢO HIỂM VÀ ĐỒNG BẢO HIỂM

Trong sự phân biệt này chúng ta có nhắc đến khái niệm đồng bảo hiểm và

đồng bảo hiểm được hiểu là “Đồng bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó nhiều doanh

nghiệp bảo hiểm cùng đảm bảo cho một rủi ro Mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm một phần đã thỏa thuận” 9 Về mặt pháp lý, người mua bảo hiểm phải biết tất cả các doanh nghiệp đồng bảo hiểm và khi xãy ra sự kiện bảo hiểm thì người mua bảo hiểm thực hiện việc yêu cầu bồi thường từ các doanh nghiệp đồng bảo hiểm tương ứng Mỗi doanh nghiệp đồng bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm cho phần của mình và không phải chịu trách nhiệm cho nhau Trên thực tế, nếu đồng bảo hiểm được thực hiện bằng nhiều hợp đồng riêng lẻ thì rất bất lợi cho người mua bảo hiểm Do đó, chỉ một hợp đồng duy nhất được thiết lập mang tên tất cả các doanh nghiệp đồng bảo hiểm và sẽ do một trong các doanh nghiệp đồng bảo hiểm đứng ra đại diện

Ngược lại, tái bảo hiểm là hoạt động mà doanh nghiệp bảo hiểm muốn chia

sẻ những rủi ro mà mình đã nhận cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác Còn bảo hiểm đơn thuần là hoạt động dịch vụ theo đó người bảo hiểm sẽ trả tiền hay bồi thường cho người được bảo hiểm một khoản tiền khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thuộc

Trang 33

đối tượng, phạm vi bảo hiểm thông qua hợp đồng bảo hiểm, bên cạnh đó thì người được bảo hiểm phải đóng một khoản phí gọi là phí bảo hiểm Do đó, ta thấy chúng cũng có những nét tương đồng nhất định và điểm giống nhau của chúng được thể hiện như sau: cả ba hoạt động này đều bảo vệ sự ổn định về tài chính cho người mua bảo hiểm; đều là hiện tượng phân tán rủi ro, chuyển giao tổn thất và đều là hoạt động dịch vụ về tài chính

Tuy nhiên, cả ba hoạt động này đều có những nét khác nhau cơ bản riêng nên người viết rút ra bảng so sánh như sau:

Trang 34

Phân loại

thể các quan hệ kinh tế - xã hội giữa bên tham gia

và bên bảo hiểm nhằm mục đích ổn định cuộc sống và sản xuất cho bên tham gia khi đối tượng bảo hiểm gặp những rủi ro bất ngờ gây hậu quả thiệt hại và đáp ứng một số nhu cầu khác của họ

Tái bảo hiểm là hoạt động bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm

Đồng bảo hiểm là một đối tượng bảo hiểm có thể được bảo hiểm bởi các doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau cùng một lúc

2 Đối tượng được

bảo hiểm

Bao gồm: tài sản, trách nhiệm dân

sự, con người

Bao gồm:

- Trách nhiệm, nghĩa vụ bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm gốc với tài sản, trách nhiệm, con người được bảo hiểm trong đơn bảo hiểm

- Giá trị hợp đồng bảo hiểm gốc

Bao gồm: tài sản, trách nhiệm dân

sự, con người

3 Mối liên hệ đối Một doanh nghiệp Không bao giờ tồn Nhiều doanh

Trang 35

gia bảo hiểm ban

đầu

trực tiếp với khách hàng

trực tiếp giữa khách hàng với doanh nghiệp tái bảo hiểm

cùng một lúc liên

hệ trực tiếp với khách hàng

4 Phương thức

bảo hiểm

Hầu hết là tự nguyện

Tự nguyện và bắt buộc tùy thuộc vào khả năng tài chính

và dòng sản phẩm

Hầu hết là tự nguyện

5 Khả năng sinh

lời

Hoạt động bảo hiểm mang lại lợi nhuận trực tiếp cho doanh nghiệp bảo hiểm

- Không trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm là hoạt động chia sẻ rủi ro

đã nhận cho doanh nghiệp tái bảo hiểm

- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp bảo hiểm nâng cao khả năng nhận bảo hiểm

Hoạt động đồng bảo hiểm cũng trực tiếp mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm dựa trên mức trách nhiệm mà họ nhận bảo hiểm

6 Bồi thường và

chi trả bảo hiểm

Bồi thường và chi trả trực tiếp cho khách hàng

Tùy thuộc vào thỏa thuận tái bảo hiểm

mà lựa chọn phương thức chi trả nào nhưng không bao giờ doanh nghiệp tái bảo hiểm được phép bồi thường trực tiếp cho người tham gia bảo hiểm

Bồi thường và chi trả trực tiếp cho khách hàng

Trang 36

1.4 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM

Pháp luật là công cụ đắc lực cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước Trong nền kinh tế thị trường thì chức năng quản lý của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, các cơ quan nhà nước ban hành pháp luật trong tất cả các ngành, lĩnh vực

và ngành bảo hiểm nói chung và kinh doanh tái bảo hiểm là một trong những nội dung hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm không nằm ngoài sự điều chỉnh đó

Từ những giai đoạn hình thành bảo hiểm tại Việt Nam nhà nước điều chỉnh lĩnh vực này theo khuôn khổ của pháp luật Đầu tiên là Quyết định 179 của Hội đồng Bộ trưởng ngày 17 tháng 12 năm 1964 về việc thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam, tại Quyết định này thì mới khái quát được hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung chứ chưa quy định cụ thể của từng loại nghiệp vụ, chưa quy định về kinh doanh tái bảo hiểm

Với sự chuyển biến của nền kinh tế thì vào ngày 18 tháng 12 năm 1993 Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 100/1993/NĐ-CP về kinh doanh bảo hiểm Đây là văn bản pháp lý chuyên ngành đầu tiên điều chỉnh hoạt động tái bảo hiểm, theo đó hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong Nghị định này bao gồm cả hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm và hoạt động trung gian bảo hiểm Tuy không có quy định nào cụ thể nói về tái bảo hiểm nhưng đó là dấu hiệu đầu tiên về việc phát triển thị trường tái bảo hiểm của Việt Nam

Ở Việt Nam thì Công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam được thành lập theo quyết định số 920 của Bộ Tài chính ngày 27 tháng 9 năm 1994 được phép hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 100104 ngày 06/10/1994 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 với số vốn ban đầu được cấp là 40 tỷ đồng.10 Và cũng vào thời điểm này, lần đầu tiên hoạt động tái bảo hiểm được điều chỉnh cụ thể trong Quyết định số 1235 của Bộ Tài chính ngày 9 tháng 12 năm 1995 về việc tái bảo hiểm bắt buộc Theo đó, các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam (doanh nghiệp bảo hiểm gốc) có trách nhiệm tái bảo hiểm bắt buộc cho Công ty tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam một phần trách nhiệm thuộc các nghiệp vụ có phát sinh tái bảo hiểm

10

http://vinare.com.vn/quatrinhphattrien/tabid/251/Default.aspx

Trang 37

Sau đó 5 năm, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa X ngày 09 tháng 12 năm

2000 của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm và luật này có hiệu lực ngày 01/4/2001 thì kinh doanh tái bảo hiểm cũng được quy định rãi rác tại khoản 2 Điều 3, 9, 27 và Điều 61 Tiếp theo đó, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2001 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 tại mục 3

từ Điều 21 đến Điêu 24 Nhằm cụ thể hóa Nghị định này ngày 28 tháng 8 năm 2001

Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 71 hướng dẫn thi hành Nghị định số 42 và Thông tư số 98/2004 hướng dẫn thi hành Nghị định số 42, Thông tư này thay thể Thông tư số 71

Do thị trường bảo hiểm cũng như tái bảo hiểm ngày càng phát triển, mở rộng nên yêu cầu các nhà lập pháp phải thay đổi khung pháp lý sao cho phù hợp với thực tiễn Chính vì vậy, ngày 27 tháng 3 năm 2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm thay thế Nghị định số 42/2001 tại mục 4 gồm Điều 23 và Điều 24 và kèm theo đó là Thông tư 155/2007/TT-BTC ngày 20 tháng 7 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 Bên cạnh đó thì đến năm 2009 thì Thông tư 86/2009 ra đời ngày 28 tháng 4 năm 2009 sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư 155/2007 tại mục VI

Cùng với sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 175/QĐ-TTg ngày 29 tháng 8 năm 2003 về việc phê duyệt chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010

Và với sự phát triển của xã hội thì một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm không còn phù hợp cho nên tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 24 tháng 10 năm 2010, có hiệu lực ngày 01 tháng 07 năm 2011

Bên cạnh khung pháp lý là Luật kinh doanh bảo hiểm điều chỉnh về hoạt động tái bảo hiểm ngoài ra, còn có một số văn bản liên quan điều chỉnh chẳng hạn như Luật Doanh nghiệp 2005 điều chỉnh về việc thành lập doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm

Không dừng lại ở đó, do hoạt động bảo hiểm nói chung và tái bảo hiểm nói riêng phát triển rất mạnh và phức tạp nên đến ngày 28 tháng 12 năm 2011 Chính

Trang 38

dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm tại mục 6 gồm Điều 43 và Điều 44 và Nghị định này

có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2012 Nhằm đẩy mạnh hơn nữa, thúc đẩy cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển hơn nữa thì cũng vào ngày 15 tháng 02 năm 2012 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 193/QĐ-TTg về chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nan giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020

Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động rất quan trọng đối với doanh nghiệp bảo hiểm và trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp muốn dẫn đầu, đi trước thì phải có kế hoạch phát triển cho doanh nghiệp mình thật hợp lý trong hoạt động bảo hiểm nói chung và kinh doanh tái bảo hiểm nói riêng

Và việc tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm

là điều rất cần thiết để doanh nghiệp phát triển tạo lòng tin cho khách hàng cũng như bên doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động được pháp luật quy định một cách cụ thể để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường tái bảo hiểm Các quy định về hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, cũng như những tồn tại và giải pháp hoàn thiện trong các quy định đó sẽ được người viết nếu ở chương tiếp theo

Trang 39

Chương 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ KINH DOANH TÁI BẢO

HIỂM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trong chương đầu tiên người viết đã nêu khái quát về bảo hiểm và nghiệp vụ kinh doanh tái bảo hiểm Cụ thể là làm rõ khái niệm, bản chất vai trò và sự cần thiết của tái bảo hiểm cũng như phân biệt tái bảo hiểm với bảo hiểm và đồng bảo hiểm, chương tiếp theo này người viết sẽ tiếp tục phân tích sâu hơn vào quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm cũng như quy định về hợp đồng tái bảo hiểm được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm Song song với những quy định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm thì người viết nêu lên vấn đề xử lý vi phạm trong kinh doanh tái bảo hiểm

đó là kết cấu của chương thứ hai này

2.1 KINH DOANH TÁI BẢO HIỂM

Đối với một doanh nghiệp bảo hiểm muốn phát triển và chiếm lĩnh trên thị trường thì ngoài đáp ứng những yêu cầu của nghiệp vụ bảo hiểm, tức là khả năng về vốn, có nguồn thị trường dồi dào để khai thác, có nguồn nhân lực đầy đủ và có kế hoạch phát triển của doanh nghiệp mình, đặc biệt là doanh nghiệp bảo hiểm phải nắm rõ tâm lý và nhu cầu của con người hiện nay Kinh doanh bảo hiểm nói chung

và tái bảo hiểm nói riêng thì đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải thực sự đủ mạnh

để cạnh tranh với doanh nghiệp khác

Để thực hiện tốt như vậy thì doanh nghiệp bảo hiểm có khai thác nghiệp vụ tái bảo hiểm phải có các phương thức tiến hành tái bảo hiểm cho phù hợp Sau đây, người viết sẽ giới thiệu về các phương thức tái bảo hiểm hiện nay

2.1.1 Các phương thức tái bảo hiểm

Về khía cạnh kinh tế, một trong những vấn đề kỹ thuật cơ bản của một hợp đồng tái bảo hiểm là phương pháp phân định trách nhiệm và quyền lợi của các bên trước những rủi ro của bảo hiểm Có nhiều phương thức khác nhau mà doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng trong từng hợp đồng cụ thể Trên thực tế, để tiến hành phân tán rủi ro các doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm thường vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp tái bảo hiểm khác nhau, tuỳ theo đặc điểm của từng phương pháp cũng như điều kiện cụ thể của doanh nghiệp Vì lý do đó mà tái bảo hiểm có những phương thức cụ thể như sau:

Trang 40

2.1.1.1 Tái bảo hiểm số thành

Phương pháp này là việc doanh nghiệp bảo hiểm (hay doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm) và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm buộc phải nhận một tỷ lệ đã được

ấn định trước đối với tất cả các dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm khai thác mà các bên đã thỏa thuận thông qua hợp đồng

Đối với phương pháp này, doanh nghiệp bảo hiểm có điều kiện thuận lợi là tái bảo hiểm một cách tự động Là phương thức tái bảo hiểm đơn giản, dễ thực hiện, chi phí quản lý hành chính và cách quản lý đơn giản, ít tốn kém Trong hợp đồng thì việc tái bảo hiểm là điều chia sẻ hoàn toàn cùng với doanh nghiệp bảo hiểm gốc những may rủi trong kinh doanh Đối với doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm đây là hình thức tương đối thuận lợi, vì doanh nghiệp bảo hiểm không được lựa chọn rủi ro

để chuyển tái bảo hiểm Do vậy nhận tái bảo hiểm theo hình thức này có tính cân đối và có khả năng phân tán rủi ro tốt hơn so với các phương thức tái bảo hiểm khác Bên cạnh đó, với doanh nghiệp bảo hiểm thì phương thức tái bảo hiểm này mang lại lượng thủ tục phí cao nhất

Tuy nhiên, cũng có một số hạn chế là doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không phát huy được hết khả năng tài chính của mình và uy tín của doanh nghiệp không được nâng cao Đồng thời thì việc giữ bí mật cho các doanh nghiệp bảo hiểm cũng là việc khó khăn Đây là phương pháp mà hầu như thiệt hại là doanh nghiệp bảo hiểm

2.1.1.2 Tái bảo hiểm mức dôi

Nếu doanh nghiệp bảo hiểm chỉ tái bảo hiểm số thành thì doanh nghiệp phải thường xuyên vận dụng hết tái bảo hiểm tạm thời vì có nhiều rủi ro lớn không thể lường trước được và nhằm phát huy ưu thế của doanh nghiệp mình thì doanh nghiệp bảo hiểm thu xếp một hợp đồng theo phương thức mức đôi trên phần tái bảo hiểm

số thành

Tái bảo hiểm mức dôi là phương thức tái bảo hiểm, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm gốc giữ lại cho mình một số tiền nhất định, phần vượt quá mức giữ lại sẽ chuyển tái cho các doanh nghiệp tái bảo hiểm Phí tái bảo hiểm được tính trên phần trách nhiệm được chuyển nhượng trong hợp đồng

Đối với phương pháp này cũng có những ưu điểm và hạn chế chẳng hạn như doanh nghiệp bảo hiểm có được sự ổn định trong mức giữ lại đối với mọi rủi ro; những hợp đồng có số tiền bồi thường nhỏ được giữ lại toàn bộ; trách nhiệm của doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm vẫn bị đe dọa bởi các trường hợp tích tụ rủi ro và

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w