1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH, NIÊM yết cổ PHIẾU của DOANH NGHIỆP NHÀ nước cổ PHẦN HOÁ

115 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, “tổng công ty Nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn với các doanh nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thàn

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn:

Ts LÊ THỊ NGUYỆT CHÂU

Sinh viên thực hiện:

NGUYỄN MINH VŨ MSSV: 5075082 Lớp: Luật Thương Mại 1- K33

Trang 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH, NIÊM

YẾT CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA 3

1.1 Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước. 3

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước .3

1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 3

1.1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo luật doanh nghiệp nhà nước 2003 6

1.1.1.3 Khái niêm doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp 2005 8

1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước 12

1.1.2.1 Về mặt chính trị 12

1.1.2.2 Về mặt xã hội 13

1.1.2.3 Về mặt kinh tế 13

1.2 Sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước vào thị trường chứng khoán. 14

1.2.1 Thị trường chứng khoán (TTCK) 14

1.2.2 Sự cần thiết của việc Doanh nghiệp nhà nước tham gia vào thị trường chứng khoán 15

1.3 Khái niệm, vai trò của hoạt động phát hành chứng khoán 17

1.3.1 Khái niệm hoạt động phát hành chứng khoán 17

1.3.2 Vai trò của hoạt động phát hành cổ phiếu 18

1.3.3 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 19

1.4 Khái niệm, vai trò của hoạt động niêm yết chứng khoán 23

1.4.1 Khái niệm hoạt động niêm yết chứng khoán 23

1.4.2 Vai trò của hoạt động niêm yết chứng khoán 23

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH, NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA 24

2.1 Quy định về hoạt động phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước 24

2.1.1 Điều kiện phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước 25

2.1.1.1 Các quy định chung về điều kiện phát hành cổ phiếu 25

2.1.1.2 Điều kiện phát hành cổ phiếu đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện cổ phần hóa 37

2.1.1.3 Điều kiện phát hành cổ phiếu đối với doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối 43

2.1.2 Thủ tục tiến hành phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước 43

Trang 3

2.1.2.2 Thủ tục phát hành cổ phiếu đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà

nước thực hiện cổ phần hóa 57

2.1.2.3 Thủ tục phát hành cổ phiếu đối với doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối 62

2.2 Quy định về hoạt động niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước 62

2.2.1 Điều kiện niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước 63

2.2.1.1 Điều kiện niêm yết cổ phiếu theo quy định chung 63

2.2.1.2 Điều kiện niêm yết cổ phiếu đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước cổ phần hóa 67

2.2.1.3 Điều kiện niêm yết đối với doanh nghiệp nhà nắm cổ phần chi phối 69

2.2.2 Thủ tục niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước 69

2.2.2.1 Thủ tục niêm yết theo quy định chung 69

2.2.2.2 Thủ tục niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước cổ phần hóa 72

2.2.2.3 Niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối 73

2.3 Xử lý vi phạm trong hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước. 73

2.3.1 Xử lý quy phạm trong hoạt đông phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước 73

2.3.2 Xử lý vi phạm trong hoạt động niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước 81

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG PHÁP HÀNH NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HIỆN NAY 83

3.1 Thực trạng hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam. 83

3.1.1 Những kết quả đạt được 83

3.1.1.1 Đối với bản thân doanh nghiệp phát hành, niêm yết cổ phiếu 83

3.1.1.2 Đối với nhà nước 85

3.1.1.3 Đối với thị trường chứng khoán và nền kinh tế 86

3.1.2 Những tồn tại trong hoạt động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước 87 3.1.2.1 Tồn tại trong hoạt động nghiệp phát hành cổ phiếu của doanh nhà

Trang 4

nước 93

3.2 Giải pháp hoàn thiện 95

3.2.1 Giải pháp chung về hoàn thiện các quy định pháp luật 95

3.2.2 Giải pháp riêng cho từng vấn đề 98

KẾT LUẬN 105 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

nghiệp nhà nước nói riêng và nền kinh tế nói chung người viết đã chọn đề tài hoạt

động phát hành, niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa cho

luận văn tốt nghiệp

Đã có một số luận văn nghiên cứu riêng về cổ phần hóa cũng như về thị trường chứng khoán Vì vậy người viết chủ yếu nghiên cứu về hoạt đông phát hành

và hoạt động niêm yết cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước và các văn bản pháp luật điều chỉnh về vấn đề nay Qua đó người viết đã nhận thấy một số tồn tại và đề xuất một số giải pháp hữu ích

Luận văn có kết cấu như sau:

Trang 6

Do kiến thức của bản thân còn hạn chế nên người viết không tránh được những sai sót trong quá trình làm luận văn Người viết hy vọng nhận được sự thông cảm

và góp ý của thấy cô và các bạn để hoàn thiện đề tài này

Để hoàn thành luận văn này, ngoài nỗ lực của bản thân, Người viết đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn- Ts Lê Thị Nguyệt Châu cùng sự giúp đỡ của bạn bè

Trước ngưỡng cửa cuối cùng của chương trình đại học, người viết xin gửi lời cảm ơn trân thành đến các thầy cô khoa Luật Trường đại học Cần Thơ đã truyền đạt cho Người viết kiến thức trong bốn năm ở giảng đường đại học Người viết cũng xin gửi lời tri ân đến gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ người viết trong những năm ngồi ghế nhà trường

Xin chân thành cảm ơn

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH, NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA 1.1 Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước

1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước

Loại hình doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp xuất hiện ở tất

cả các quốc gia trên thế giới Điều này cũng dễ hiểu vì đối với quốc gia sẽ có những ngành mà nhà nước không muốn tư nhân tham gia do có thể ảnh hưởng đến quốc

kế dân sinh của họ Đó có thể là những ngành về an ninh quốc phòng hay khai thác các khoáng sản đặc biệt là các khoáng sản đặc thù của quốc gia hay khoáng sản quý hiếm… Hay cũng có thể là nhà nước phải thành lập những doanh nghiệp ở những lĩnh vực mà tư nhân không đủ khả năng tham gia hoặc không muốn tham gia Đó

có thể là các ngành, lĩnh vực cần nhiều vốn mà tư nhân không đảm bảo đủ điều kiện hoặc những ngành hoạt động trong lĩnh vực công ích mà tư nhân không muốn tham gia do lợi nhuận không hấp dẫn Bằng cách tham gia vào nền kinh tế với vai trò là một chủ thể kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước có thể thực hiện đồng thời hai chức năng kinh tế và xã hội cũng như là góp phần quản lý vĩ mô nền kinh tế Ngoài ra doanh nghiệp nhà nước còn góp phần tạo việc làm, tạo ra thu nhập cho người lao động, làm giảm đói nghèo, tăng nguồn thu cho ngân sách Tuy lí do để doanh nghiệp nhà nước tồn tại ở các quốc gia có thể không giống nhau nhưng có thể khẳng định rằng doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp không thể thiếu ở các quốc gia

Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam ra đời cũng khá lâu, bắt đầu từ những xí nghiệp nhà nước được thành lập sau Cách mạng tháng Tám bằng con đường quốc hữu hóa Tuy nhiên, sự phát triển doanh nghiệp nhà nước ồ ạt về số lượng chỉ diễn

ra sau khi đất nước thống nhất Tính đến năm 1993 cả nước có hơn 12000 doanh nghiệp nhà nước

1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp nhà nước

1995

Để tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, tại kỳ họp thứ 7 ngày 20/04/1995 Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp nhà nước đầu tiên Với Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước có được sự phát triển mới để thực hiện các chức năng chính

Trang 8

trị, kinh tế xã hội của mình Theo điều 1 Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 quy định thì khái niệm doanh nghiệp nhà nước được hiểu như sau:

“Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập

và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao

Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý

Doanh nghiệp nhà nước có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.”

Điều 1 Nghị định số 56/1996/NĐ-CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ giải thích khái niệm doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích được hiểu như sau: “Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động công ích là DNNN độc lập hoặc DNNN là thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty Nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công cộng theo chính sách của Nhà nước, do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận.”

Với các quy định trong Luật doanh nghiệp nhà nước và các Nghị định hướng dẫn đi kèm ta có thể thấy nhà nước đã có sự phân biệt giữa hai loại hình doanh nghiệp nhà nước đó là doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Từ đó, Nhà nước có cơ chế quản lý và chính sách phù hợp với từng loại doanh nghiệp Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh được mở rộng quyền và trách nhiệm để thực hiện hoạt động trên cùng mặt bằng pháp lý và bình đẳng với các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác, từng bước nâng cao tính cạnh tranh của loại doanh nghiệp này Đây cũng là những động thái bước đầu rất quan trọng để từng bước xoá bỏ sự bao cấp đối với doanh nghiệp Nhà nước, tiến dần tới việc đưa loại doanh nghiệp này vào hoạt động cùng một đạo Luật doanh nghiệp thống nhất của nền kinh tế

Mô hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo điều 2 Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 bao gồm doanh nghiệp nhà nước tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tổng công ty

và quản lý phần vốn của Nhà nước đầu tư ở các doanh nghiệp” Như vậy, doanh

Trang 9

nghiệp Nhà nước chia thành doanh nghiệp độc lập và các Tổng công ty (90 và 91)1.Với mô hình Tổng công ty, Luật doanh nghiệp Nhà nước 1995 đã bước đầu đưa ra chủ trương xây dựng các doanh nghiệp quy mô lớn dưới hình thức các tập đoàn kinh tế mạnh Với việc quy định điều kiện để thành lập, tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp Nhà nước, xác định lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực hạn chế thành lập mới doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 1995 cũng đã thể chế hoá định hướng đổi mới và sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước Đồng thời sự xuất hiện của Hội đồng quản trị trong mô hình quản lý tại các Tổng công ty và doanh nghiệp Nhà nước độc lập có quy mô lớn là một bảo đảm cho việc thực hiện quyền chủ sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp có nhiều vốn và tài sản quan trọng

Ngoài ra, cơ chế quản lý tài chính của doanh nghiệp Nhà nước được quy định khá toàn diện, thể hiện sự cải cách phù hợp với cơ chế thị trường nên đã bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong quản lý vốn và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp nhưng vẫn mở rộng hơn quyền tự chủ của doanh nghiệp tạo sự chủ động, linh hoạt trong hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước

Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng , Luật doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ nhiều hạn chế như: Những quy định về giao vốn cho doanh nghiệp Nhà nước chưa

đủ điều kiện về tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm về tài sản để khẳng định doanh nghiệp Nhà nước có đủ tư cách pháp nhân như quy định trong Bộ Luật dân

sự Nói cách khác, vấn đề quyền của chủ sở hữu Nhà nước và quyền quản lý của doanh nghiệp đối với tài sản được Nhà nước giao cho doanh nghiệp còn nhiều nội dung không rõ ràng, khó xác định trách nhiệm trong những trường hợp thất thoát, lãng phí tài sản tại doanh nghiệp Nhà nước Định hướng thành lập và điều kiện, thủ tục thành lập doanh nghiệp Nhà nước chưa cụ thể, chi tiết nên việc thành lập rườm

rà, không gắn được trách nhiệm giữa người thực hiện đầu tư với người quản lý vận hành doanh nghiệp Từ đó tạo cơ sở cho sự lãng phí, thất thoát nhiều tài sản của Nhà nước Ví dụ như những lãng phí, kém hiệu quả trong việc quyết định đầu tư thành lập mới doanh nghiệp được thể hiện trong quá trình vận hành, quản lý doanh nghiệp Nhà nước

Hơn nữa, khái niệm dịch vụ, sản phẩm công ích, tiêu thức xác định doanh nghiệp công ích quy định chưa hợp lý, mang nặng tính độc quyền của doanh nghiệp Nhà nước với những ưu đãi có tính đặc quyền Vì thế tình trạng chuyển doanh nghiệp hoạt động kinh doanh sang loại doanh nghiệp hoạt động công ích và thành

1

Các tổng công ty 90 và 91 được thành lập theo Quyết định số 90/TTG ngaỳ 7-3-1994 cuả Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước và Quyết định số 91/TTG Ngày 7-3-1994 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh

Trang 10

lập mới doanh nghiệp hoạt động công ích diễn ra một cách tuỳ tiện nhằm được hưởng những ưu đãi của Nhà nước đối với loại doanh nghiệp này Tính đến tháng

11 năm 2002 cả nước có 732 doanh nghiệp công ích, chiếm 12,77% tổng số doanh nghiệp Nhà nước

Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995 mới chỉ quy định một số nội dung mang tính nguyên tắc về Tổng công ty Chưa có quy định cụ thể về việc thành lập, tổ chức lại và giải thể Tổng công ty và các đơn vị thành viên Vì thế Tổng công ty Nhà nước hiện tại thực chất là sự gán ghép theo quyết định hành chính các doanh nghiệp Nhà nước có quan hệ ngang với mục đích giảm bớt đầu mối quản lý Thẩm quyền và quan hệ làm việc của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, Ban kiểm soát trong các mô hình quản lý không rõ ràng, kém hiệu quả Chưa có quy định cụ thể, có hiệu lực về cơ chế trách nhiệm của bộ máy điều hành quản lý doanh nghiệp Nhà nước và của đại diện chủ sở hữu Đây cũng là cơ sở của việc quản lý kém hiệu quả về kinh tế của các doanh nghiệp Nhà nước và cũng là nguyên nhân của tệ nạn tham ô, tham nhũng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức liên quan đến tài sản Nhà nước Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước chưa bình đẳng đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.2

1.1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp nhà nước

2003

Từ những tồn tại của Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 đã dẫn đến sự ra đời của Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 đã đánh dấu một bước phát triển mới của loại hình doanh nghiệp nhà nước Góp phần nâng cao vai trò của doanh nghiệp nhà nước đối với các thành phần khác trong nền kinh tế Theo đó, khái niệm doanh nghiệp nhà nước cũng có sự thay đổi Điều 1 Luật doanh nghiệp nhà nước 2003

“Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.” Qua đó, ta thấy khái niệm doanh nghiệp Nhà nước đã mở rộng hơn, bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ và các doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần, vốn góp chi phối

Cùng với sự thay đổi về khái niệm Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 còn một số điểm mới:

2

Luật doanh nghiệp nhà nước và đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/02/25/5435/ [ ngày truy cập 16/02/2011]

Trang 11

Thứ nhất, Doanh nghiệp Nhà nước được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng

và phù hợp với các mô hình doanh nghiệp cơ bản thường có trong nền kinh tế thị trường như công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Phạm

vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp Nhà nước (sửa đổi) chủ yếu đối với các công

ty Nhà nước và quan hệ giữa chủ sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước

sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước Như vậy, việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước không phải là công ty Nhà nước sẽ áp dụng Luật doanh nghiệp 12/6/1999

Công ty Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức dưới hai hình thức công ty Nhà nước độc lập và Tổng công ty Nhà nước Trong đó, “tổng công ty Nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư, góp vốn với các doanh nghiệp khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức

và liên kết các đơn vị thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế- kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích của các đơn vị thành viên và toàn Tổng công ty” (Điều

46 Luật doanh nghiệp Nhà nước 26/11/2003) Có 3 loại hình Tổng công ty Nhà nước là:

+ Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập

+ Tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập

+ Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước

Hai loại Tổng công ty đầu là cơ sở của các Tập đoàn kinh tế mạnh mà Nhà nước ta hướng tới xây dựng

Thứ hai, bỏ loại doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, chuyển từ quản

lý doanh nghiệp Nhà nước độc quyền hoạt động công ích sang quản lý hoạt động công ích trên cơ sở mở rộng cơ chế đấu thầu hoạt động công ích Xác định rõ mục tiêu hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp Nhà nước là hoạt động kinh doanh

Thứ ba, việc thành lập công ty Nhà nước, quyết định thành lập mới công ty

Nhà nước đồng thời là quyết định dự án đầu tư thành lập công ty Nhà nước Công

ty Nhà nước mới được thành lập là chủ đầu tư đối với dự án này Những quy định mới trong thủ tục thành lập có mục đích khắc phục những bất cập của Luật doanh nghiệp Nhà nước cũ dẫn đến sự lãng phí, thất thoát và vô trách nhiệm trong quản lý tài sản và vốn của Nhà nước như trên đã đề cập

Thứ tư, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước nói chung và

do Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ quản lý ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện

Trang 12

đối với công ty Nhà nước Tại công ty Nhà nước có Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu Nhà nước và có quyền tuyển chọn

ký hợp đồng hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và quyết định mức lương đối với Tổng giám đốc

Thứ năm, dành một chương trong Luật để quy định các hình thức chuyển đổi

sở hữu đối với công ty Nhà nước Lần đầu tiên những vấn đề liên quan đến thay đổi quyền sở hữu tài sản Nhà nước đã được Luật hoá với những quy định có tính nguyên tắc về hình thức, mục tiêu và thẩm quyền quyết định khi thực hiện.3

Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp nhà nước 2003 vẫn không giải quyết được nhiều vấn đề của doanh nghiệp nhà nước Nhiều doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước cho thấy doanh nghiệp nhà nước làm ăn rất kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ kéo dài, 4/19 đơn vị được kiểm toán kinh doanh thua lỗ trong năm 2004; 11/19 đơn vị có lỗ lũy kế với tổng lỗ luỹ kế đến hết

2004 là 1.058 tỉ đồng Tỉ suất lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp được kiểm toán rất thấp (từ 0,18% đến 0,8%) trong đó có các tập đoàn có vẻ rất mạnh như Công nghiệp tàu thuỷ 0,42%, Dệt may 0,8% 4

1.1.1.3 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp 2005

Với những hạn chế nêu trên của Luật doanh nghiệp nhà nước 2003, Luật doanh nghiệp 2005 đã ra đời Đánh dấu một bước phát triển mới đối với các loại hình doanh nghiệp Luật doanh nghiệp 2005 đã bỏ hình thức doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và đưa các loại hình doanh nghiệp về một sân chơi chung Từ đây tạo

ra sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế mà cụ thể là giữa nhà nước và tư nhân Luật doanh nghiệp 2005 đã tạo ra động lực phát triển hơn nữa cho các doanh

nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước Như Ts.Đặng Văn Thanh - phó chủ

nhiệm Ủy ban Kinh tế và ngân sách QH nói: “Tôi cho rằng Luật doanh nghiệp ra đời sẽ là đòn bẩy, thúc bách các doanh nghiệp nhà nước phải nhanh chóng sắp xếp kinh doanh Bên cạnh đó, khối doanh nghiệp tư nhân, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng phải đổi mới các phương thức kinh doanh sao cho phù hợp nhất Bởi một khi áp Luật chung cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nước, mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng, tính cạnh tranh sẽ rất quyết liệt Do đó, muốn tồn tại thì

3

Doanh nghiệp nhà nước và đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/02/25/5435/ [Truy cập ngày 16/02/2011]

4

Nguyễn Quang A: Vì sao doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả?

http://www.tin247.com/vi_sao_doanh_nghiep_nha_nuoc_kem_hieu_qua-3-21336431.html [ Truy cập ngày 16/02/2011]

Trang 13

không còn đường nào khác, các doanh nghiệp phải tự đổi mới để từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.5

Theo điều 2 Luật doanh nghiệp 2005 quy định đối tượng áp dụng của Luật gồm:

(i) Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế

(ii) Tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp

Như vậy, không còn sự phân biệt thành phần kinh tế tư nhân và nhà nước nữa, không còn Luật doanh nghiệp nhà nước nữa mà chỉ có một Luật doanh nghiệp 2005 thống nhất cho tất cả các doanh nghiệp Điều này cũng được quy định rõ tại điều

169 Luật doanh nghiệp 2005 quy định về việc thành lập doanh nghiệp nhà nước

“Doanh nghiệp do Nhà nước thành lập kể từ ngày Luật này có hiệu lực phải được đăng ký, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.” Nội dung này của Luật Doanh nghiệp phù hợp với những điều ước mà nước ta đã cam kết trong các thỏa thuận đa phương và song phương, nhất là các nguyên tắc cơ bản như “Đối xử quốc gia” và “Tối huệ quốc” Đồng thời, phải đón trước được xu thế hội nhập, góp phần xây dựng và tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định, thông thoáng, đủ mức hấp dẫn và có sức cạnh tranh so với khu vực, là một bước tiến quan trọng trong lộ trình hội nhập WTO

Với sự ra đời của Luật doanh nghiệp 2005, định nghĩa doanh nghiệp nhà nước cũng có sự thay đổi Theo khoản 22 điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 thì “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ.” Ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được nêu tại điều 8 và 9 Luật doanh nghiệp 2005 còn có điều 10 nêu quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích Cụ thể là là các quyền và nghĩa vụ:

i) Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 8, Điều 9 và các quy định khác có liên quan của Luật này

ii) Được hạch toán và bù đắp chi phí theo giá thực hiện thầu hoặc thu phí sử dụng dịch vụ theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

iii) Được bảo đảm thời hạn sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ thích hợp để thu hồi vốn đầu tư và có lãi hợp lý

5

Xuân Toàn: Không chuyển đổi nhanh doanh nghiệp nhà nước có thể đổ vở hàng loạt

http://vietbao.vn/Kinh-te/Khong-chuyen-doi-nhanh-doanh-nghiep-nha-nuoc-co-the-do-vo-hang-loat/40106888/87/ [Truy cập ngày 16/02/2011]

Trang 14

iv) Sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ đủ số lượng, đúng chất lượng và thời hạn đã cam kết theo giá hoặc phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

v) Bảo đảm các điều kiện công bằng và thuận lợi như nhau cho mọi đối tượng khách hàng

vi) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và khách hàng về số lượng, chất lượng, điều kiện cung ứng và giá, phí sản phẩm, dịch vụ cung ứng

vii) Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Như vậy, theo Luật doanh nghiệp 2005 thì không có doanh nghiệp công ích

mà chỉ có doanh nghiệp có sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích Điều này cũng có nghĩa là mọi loại hình doanh nghiệp điều có thể tham gia sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích với các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005

Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp phục vụ quốc phòng, an ninh cũng chịu sự điều chỉnh của Luật này và các quy đinh riêng của chính phủ

Đồng thời, để phù hợp với các loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật doanh nghiệp 2005, tại điều 166 Luật này có quy định về việc chuyển đổi công ty nhà nước :

“ Thực hiện theo lộ trình chuyển đổi hằng năm, nhưng chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực, các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật này Chính phủ quy định và hướng dẫn trình tự, thủ tục chuyển đổi

Trong thời hạn chuyển đổi, những quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước năm

2003 được tiếp tục áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước nếu Luật này không có quy định.”

Riêng đối với các doanh nghiệp nhà nước không cần nắm 100% vốn thì việc chuyển công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ là bước đệm để chuyển các công ty nhà nước thành công ty cổ phần Mô hình công ty cổ phần là

mô hình doanh nghiệp mà Đảng và Chính phủ đang hướng tới cho các doanh nghiệp nhà nước Sở dĩ phải chuyển sang công ty trách nhiệm hữu hạn mà cụ thể là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu là vì việc chuyển đổi sang công ty cổ phần tốn nhiều thời gian và còn nhiều điều bất cập (sẽ nói ở phần sau) trong khi chuyển sang công ty trách nhiệm hữu hạn sau đó chuyển sang công ty cổ phần thì dễ dàng hơn Hơn nữa, thời hạn 4 năm (chính xác là đến ngày 1 tháng 7 năm 2010) mà Luật doanh nghiệp đưa ra không đủ để chuyển tất cả

Trang 15

các doanh nghiệp nhà nước không thuộc diện nhà nước nắm giữ 100% vốn thành công ty cổ phần trong khi Luật lại đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước phải có một

“thân phận” rõ ràng để chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp chung Và đến thời điểm 1/7/2010 theo thống kê có khoảng 1.500 cần chuyển sang Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Sau ngày này coi như các doanh nghiệp đã bình đẳng trên cùng một sân chơi Tất cả sẽ vận động theo cơ chế thị trường

Một điểm tiến bộ đáng lưu ý nữa của Luật doanh nghiệp 2005 là việc quy định cụ thể vai trò chủ sở hữu của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước Cụ thể tại điều 168 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: thực hiện quyền chủ sở hữu vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp

(1) Nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp theo các nguyên tắc sau đây:

a) Thực hiện quyền chủ sở hữu với vai trò là người đầu tư vốn;

b) Bảo toàn và phát triển vốn nhà nước;

c) Tách biệt chức năng thực hiện các quyền chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính nhà nước;

d) Tách biệt thực hiện quyền chủ sở hữu đối với quyền chủ động kinh doanh của doanh nghiệp; tôn trọng quyền kinh doanh của doanh nghiệp;

đ) Thực hiện thống nhất và tập trung các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu về vốn

(2) Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước;

cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu vốn nhà nước; cách thức và tiêu chí đánh giá hiệu quả và thực trạng bảo toàn, phát triển vốn nhà nước; cơ chế phối hợp, kiểm tra

và đánh giá đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước; các chủ trương, biện pháp sắp xếp, cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

có vốn nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật

(3) Định kỳ hằng năm, Chính phủ trình Quốc hội báo cáo tổng hợp về thực trạng kinh doanh vốn sở hữu nhà nước, thực trạng bảo toàn và phát triển giá trị vốn đầu

tư và tài sản sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp

Như vậy nhà nước sẽ có vị thế ngang bằng các chủ sở hữu khác và chỉ được can thiệp vào doanh nghiệp trong phạm vi số vốn và theo đúng các quy định của Luật và điều lệ công ty Hay nói cách khác nhà nước sở hữu phần vốn góp vào doanh nghiệp chứ không phải sở hữu doanh nghiệp Bản thân doanh nghiệp sẽ hoạt động theo quy định của pháp luật và quy Luật thị trường Sự can thiệp của nhà nước vào doanh nghiệp chỉ có thể được thực hiện thông qua người đại diện phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp Sẽ không có quyết định hành chính nào của

Trang 16

người hay đơn vị đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp

Tóm lại, doanh nghiệp nhà nước đã có sự thay đổi về mô hình, cách thức quản

lý, sự can thiệp của nhà nước… qua các thời kỳ qua các thời kỳ theo hướng ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhà nước đã đề ra Với Luật doanh nghiệp 2005, cách hiểu về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã có nhiều nét tương đồng với thế giới, qua đó góp phần thu hẹp sự khác biệt về loại hình doanh nghiệp nhà nước ở nước ta so với thế giới

1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Như đã nói ở trên, doanh nghiệp nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Vì vậy nó là loại hình doanh nghiệp mà hầu hết các quốc gia đều

có tuy vị trí, vai trò có khác nhau Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo theo nghĩa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh

tế Vai trò chủ đạo của nó gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường Đây là yêu cầu có tính quy Luật chung của sự phát triển kinh tế

xã hội, vì bản thân nền kinh tế thị trường chứa đựng những khuyết tật mà muốn khắc phục nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nước Vai trò của của doanh nghiệp nhà nước bao gồm vai trò về mặt chính trị, kinh tế, xã hội

1.1.2.1 Về mặt chính trị

Về mặt chính trị, doanh nghiệp nhà nước là công cụ đảm bảo sự quản lý vĩ

mô của nhà nước đối với nền kinh tế Thông qua doanh nghiệp nhà nước chính phủ

có thể kích thích một ngành hoặc một nhóm ngành nào đó phát triển bằng cách tăng cường đầu tư cho các doanh nghiệp kinh doanh các ngành đó Khi các sản phẩm, dịch vụ thuộc ngành mà nhà nước muốn kích thích phát triển thu hút được nhu cầu thị trường, đem lại lợi nhuận cao thì các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác sẽ đầu tư và phát triển ngành, nhóm ngành đó Như vậy mục tiêu của nhà nước đã được thực hiện Ngoài ra doanh nghiệp nhà nước còn tham gia bình ổn giá

cả Đó là khi có sự tăng giá những mặt hàng mà chính phủ muốn kiểm soát giá Để bình ổn giá, thông qua doanh nghiệp nhà nước chính phủ sẽ kiềm không cho giá các mặt hàng đó tăng lên khi đó sẽ đảm bảo được sự ổn định của thị trường Hơn nữa việc phát triển doanh nghiệp nhà nước sẽ giúp cho nền kinh tế của chúng ta độc lập hơn Chúng ta sẽ không phải phụ thuộc vào hàng hóa nước ngoài đặc biệt là các mặt hàng thiết yếu Vì nếu không tự chủ trong sản xuất các mặt hàng thiết yếu và phụ thuộc quá nhiều vào nước ngoài thì tình hình kinh tế xã hội của chúng ta sẽ dễ

Trang 17

bị ảnh hưởng khi nước ngoài cắt giảm nguồn xuất khẩu từ đó có thể dẫn đến những bất ổn về chính trị hoặc điều đó có thể đặt ta vào vị thế yếu hơn trước đối tác Ngoài ra, doanh nghiệp nhà nước còn đảm nhận một nhiệm vụ chính trị quan trong

là xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho an ninh quốc phòng Đây là những doanh nghiệp hết sức quan trọng đối với quốc gia Chúng đảm bảo cho chúng ta có một nền quốc phòng vững chắc Với vai trò đó không thể giao cho các thành phần kinh

tế khác sở hữu loại doanh nghiệp này Mà chỉ có nhà nước với các quyền năng và chức trách của mình mới có thể sở hữu các doanh nghiệp đó

1.1.2.2 Về mặt xã hội

Về mặt xã hội, doanh nghiệp nhà nước góp phần tạo việc làm, tạo thu nhập cho người lao động Với một số lượng lớn doanh nghiệp nhà nước thì số việc làm tạo ra là một đóng góp lớn cho nhu cầu việc làm của xã hội Và tại các doanh nghiệp nhà nước các chế độ về quyền lợi của người lao động được đảm bảo tốt đặc biệt là có sự hoạt động mạnh của tổ chức công đoàn Ngoài ra, bằng cách thành lập mới các doanh nghiệp nhà nước ở những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, nhà nước đã vực dậy tiềm năng kinh tế của vùng đó và qua đó cũng góp phần cải thiện đời sống kinh tế xã hội của vùng chẳng hạn như nhiều lao động sẽ có việc làm (bao gồm cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp), hệ thống cơ sở hạ tầng sẽ phát triển theo sự phát triển của các dự án, công trình Và đặc biệt một trong những chức năng xã hội của doanh nghiệp nhà nước là chức năng xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội, các công trình đòi hỏi vốn lớn nhưng thu hồi vốn chậm mà các thành phần kinh tế khác không muốn tham gia Đó có thể là đường sá, cầu cống, bệnh viện, trường học…Doanh nghiệp nhà nước còn đi đầu trong áp dụng khoa học công nghệ từ đó thúc đẩy việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất trong các ngành, lĩnh vực liên quan

1.1.2.3 Về mặt kinh tế

Về kinh tế, doanh nghiệp nhà nước đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách đồng thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển Đặc biệt đối với một số lĩnh vực như khai khoáng doanh nghiệp nhà nước còn đảm bảo khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên của quốc gia Nhiều doanh nghiệp nhà nước mạnh đã đưa sản phẩm của Việt Nam ra thương trường quốc tế qua đó góp phần làm tăng sức cạnh tranh của các mặt hàng của chúng ta so với thế giới từ đó nâng cao địa vị của chúng

ta trên thương trường quốc tế Với vai trò đảm bảo nhu cầu trong nước, tăng cường cho xuất khẩu doanh nghiệp nhà nước ngày càng trở thành một thành phần kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của đất nước Hơn nữa với tiềm lực kinh tế mạnh doanh nghiệp nhà nước đã đầu tư, phát triển các ngành đòi hỏi vốn lớn như công

Trang 18

nghiệp cơ kí, tàu thủy, dầu hỏa, …qua đó tạo ra thu nhập cao cho nhà nước cũng như thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Tóm lại, với vai trò chủ đạo doanh nghiệp nhà nước có tầm quan trọng lớn đối với nền kinh tế đặc biệt là với nền kinh tế thị trường có sự định hướng Xã hội chủ nghĩa của chúng ta Tuy nhà nước ngày càng tách biệt chức năng kinh tế và xã hội của doanh nghiệp nhà nước nhưng không thể phủ nhận rằng qua chức năng kinh tế nhà nước cũng đã thực hiện chức năng xã hội của doanh nghiệp nhà nước Tuy còn nhiều khó khăn nhưng doanh nghiệp nhà nước sẽ là đầu tàu, động lực lớn để đưa con tàu kinh tế Việt Nam vượt đại dương sánh vai cùng các cường quốc năm châu

1.2 Sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước vào thị trường chứng khoán 1.2.1 Thị trường chứng khoán (TTCK)

Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán (Stock exchange) Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter) Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử Giá trên thị trường này được hình thành theo phương thức thoả thuận Với Việt Nam, sau nhiều năm chuẩn bị và chờ đợi , ngày 11-7-1998 Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và TTCK chính thức khai sinh cho Thị trường chứng khoán Việt Nam

Cùng ngày, Chính phủ cũng ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội Việc chuẩn bị cho TTCKVN thực ra đã

do Uỷ Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời bằng Nghị định 75/1996/NĐ-CP ngày 28-11-1996

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11-7-1998 và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000 Qua 7 năm với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK thế giới, Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.HCM đã chính thức được Chính phủ ký Quyết định số:599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 chuyển đổi thành Sở giao dịch Chứng khoán Tp.HCM Ngày 08/08/2007, SGDCK TP.HCM đã chính thức được khai trương

Trang 19

Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức ra đời vào ngày 8/3/2005 Khác với TTGDCK TP.HCM (vốn là nơi niêm yết và giao dịch chứng khoán của các công ty lớn), TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các DN nhỏ và vừa (với vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng) Sau 4 năm hoạt động Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội được chuyển đổi, tổ chức lại theo Quyết định số 01/2009/QĐ-Ttg ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ trở thành Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội)

Sự ra đời của thị trường chứng khoán và hai sở giao dịch đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp huy động vốn và tăng cường quy mô sản xuất qua đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam theo các nguyên tắc:

i) Tôn trọng quyền tự do mua, bán, kinh doanh và dịch vụ chứng khoán của

tổ chức, cá nhân

ii) Công bằng, công khai, minh bạch

iii) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư

iv) Tự chịu trách nhiệm về rủi ro

v) Tuân thủ quy định của pháp luật

Các nguyên tắc đã nêu, cùng với chính sách khuyến khích phát triển thị trường chứng khoán là động lực lớn để thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển Tuy nhiên, không phải loại hình doanh nghiệp nào cũng có thể tham gia vào thị trường chứng khoán được mà chỉ có công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần mới có quyền tham gia Trong đó, chỉ có công ty cổ phần mới có thể phát hành cổ phiếu, một hình thức huy động vốn quan trong cho công ty

1.2.2 Sự cần thiết của việc Doanh nghiệp nhà nước tham gia vào thị trường

chứng khoán

Trước hết cần biết rằng, để tham gia vào thị trường chứng khoán thì doanh nghiệp nhà nước phải là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Tuy nhiên, mô hình công ty cổ phần là phù hợp nhất cho sự phát triển của doanh nghiệp nhà nước Với mô hình này doanh nghiệp nhà nước có thể tham gia vào thị trường chứng khoán với nhiều loại chứng khoán đặc biệt là cổ phiếu Điều này đem lại cho nhà nước và bản thân doanh nghiệp nhiều thuận lợi:

Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay có số lượng khá lớn trong

đó có nhiều doanh nghiệp có quy mô vốn lớn Vì vây việc đảm bảo vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh này là một vấn đề khó khăn cho nhà nước Hơn nữa không phải doanh nghiệp nào cũng làm ăn có hiệu quả, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đồng nghĩa với việc nhà nước mất tiền Trong hoàn cảnh đó thị trường

Trang 20

chứng khoán là một giải pháp tốt cho vấn đề Khi tham gia vào thị trường chứng khoán doanh nghiệp nhà nước có thể huy động vốn từ các thành phần kinh tế khác

và từ nhân dân Đây sẽ là một nguồn vốn khổng lồ mà thị trường chứng khoán mang lại cho doanh nghiệp qua đó làm giảm gánh nặng về vốn cho nhà nước Hơn nữa khi có được nguồn vốn hùng hậu doanh nghiệp sẽ có điều kiện thực hiện các

dự án, phát triển khoa học công nghệ, tăng cường đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ cao từ đó kinh doanh có hiệu quả hơn Thêm nữa khi doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả xảy ra thua lỗ thì nhà nước cũng được chia sẽ phần thua lỗ đó Còn nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả thì nhà nước ngoài có thêm nguồn thu từ doanh nghiệp, nhà nước còn có thêm nguồn thu từ các loại thuế

Thứ hai, ngoài vấn đề về vốn, sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước vào thị

trường chứng khoán còn giúp cải thiện chất lượng quản lý doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp hoạt động đúng với quy Luật thị trường Tại sao như vậy? Vì khi doanh nghiệp gia nhập thị trường chứng khoán có nghĩa là doanh nghiệp phải thực hiện công bố thông tin theo quy định của pháp luật về chứng khoán Khi đã công bố thông tin tức là doanh nghiệp đã chịu sự kiểm tra, giám sát của cổ đông, của nhà đầu tư có quan tâm Điều này buộc doanh nghiệp phải cẩn trọng trong kinh doanh

để không làm ảnh hưởng đến uy tín và lòng tin của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp Và cũng vì chịu sự giám sát của nhà đầu tư nên mọi quyết định của người quản lý doanh nghiệp đều phải minh bạch, phải xuất phát từ lợi ích của doanh nghiệp điều này sẽ hạn chế tình trạng “công tư bất phân” hoặc các hành vi trục lợi, tham ô của những người quản lý doanh nghiệp nhà nước Đây vốn là một vấn đề nhức nhối mà nhà nước đang cố tìm cách giải quyết Đồng thời doanh nghiệp có thể thu hút những cổ đông có trình độ quản lý cao vào bộ máy quản lý doanh nghiệp thay cho những người quản lý yếu kém

Thứ ba, việc đưa doanh nghiệp ra thị trường chứng khoán đồng nghĩa với việc

chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và kinh doanh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác Nhà nước không thể thực hiện bao cấp, cung cấp vốn hay các ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước như trước nữa vì nhà nước cũng chỉ là một trong số các chủ sở hữu vốn doanh nghiệp Doanh nghiệp

sẽ phải cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Đây cũng là cách thực hiện cam kết bình đẳng giữa các thành phần kinh tế mà chúng ta đã cam kết với các đối tác khi gia nhập WTO

Ngoài ra việc gia nhập thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp nhà nước sẽ đem lại cho thị trường chứng khoán nhiều hàng hoá Càng nhiều hàng hóa thị trường chứng khoán sẽ càng sôi động hơn, nhà đầu tư sẽ có nhiều cơ hội lựa

Trang 21

chọn hơn Từ đó thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước Qua đó đồng vốn trong xã hội sẽ được tận dụng tốt hơn

1.3 Khái niệm, vai trò của hoạt động phát hành chứng khoán

1.3.1 Khái niệm hoạt động phát hành chứng khoán

Theo quy định tại khoản 1 điều 6 Luật chứng khoán đã sửa đổi, bổ sung sẽ

có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2011 thì chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi

sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:

a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;

b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán;

c) Hợp đồng góp vốn đầu tư;

d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định

Trong phạm vi luận văn người viết chỉ nghiên cứu hoạt động phát hành đối với cổ phiếu Cổ phiếu là loại chứng khoán chủ yếu trên thị trường chứng khoán

Theo quy định tại khoản 2 điều 6 Luật chứng khoán thì “Cổ phiếu là loại chứng

khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn

cổ phần của tổ chức phát hành.” Cổ phiếu sẽ mang lại cho người nắm giữ nó những quyền nhất định như là quyền biểu quyết đối với các vấn đề quan trọng của công ty, quyền hưởng cổ tức và các quyền khác tùy theo loại cổ phần mà họ nắm giữ

Vậy làm sao để nhà đầu tư có thể nắm giữ cổ phiếu của một công ty? Điều đầu

tiên là công ty phải phát hành cổ phiếu Hoạt động phát hành cổ phiếu thực chất là

hoạt động chào bán cổ phiếu của công ty cổ phần đến nhà đầu tư Tuy nhiên,

không phải mọi đối tượng đều được phát hành cổ phiếu mà chỉ những chủ thể phát

hành mới có được quyền này Theo quy định tại khoản 12 điều 6 Luật chứng khoán

sửa đổi, bổ sung năm 2010 thì hoạt động phát hành hay chào bán chứng khoán được chia làm hai phương thức là chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ

Đối với tổ chức phát hành, sự phân biệt này xuất phát từ điều kiện, nhu cầu, mục đích khác nhau Chẳng hạn, công ty lựa chọn phương thức phát hành riêng lẻ bởi lẽ do một số nguyên nhân sau:

- Công ty không đủ tiêu chuẩn để phát hành ra công chúng

- Số lượng vốn cần huy động thấp Do đó nếu phát hành với hình thức ra công chúng thì chi phí huy động trên mỗi đồng vốn trở nên quá cao

Trang 22

- Công ty phát hành cổ phiếu nhằm duy trì các mối quan hệ kinh doanh Ví dụ như: phát hành cổ phiếu cho nhà cung cấp hay tiêu thụ sản phẩm

- Phát hành cho cán bộ công nhân viên chức của công ty

Trong khi đó, phát hành ra công chúng lại có những lợi thế khác như:

- Có tính khả mại cao hơn và các cổ đông hay các nhà đầu tư vào chứng khoán của công ty có thể chuyển góp vốn thành tiền bất cứ lúc nào

- Có lợi thế rất lớn trong việc quảng bá tên tuổi

- Giới kinh doanh đều coi các công ty được niêm yết trên thị trường tập trung

là những công ty có sự ổn định nhất định Việc này sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho công ty trong quá trình tìm bạn hàng và ký kết hợp đồng

- Chứng khoán được phát hành riêng lẻ khó có thể phản ánh được mối quan hệ cung cầu trên thị trường do số lượng người mua rất hạn chế Việc phát hành

ra công chúng với sự tham gia của hàng nghìn nhà đầu tư giúp công ty bán được chứng khoán của mình với mức giá hợp lý

Tuy nhiên, tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện một chế độ báo cáo, công bố thông tin công khai và chịu sự quản lý, giám sát riêng theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Về ý nghĩa, việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết Đồng thời, đây cũng

là điều kiện để xây dựng một thị trường chứng khoán an toàn, công khai và có hiệu quả

Về hình thức phát hành chứng khoán ra công chúng ta có hình thức chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng, chào bán thêm cổ phần hoặc quyền mua cổ phần ra công chúng và các hình thức khác Trong đó phát hành lần đầu ra công chúng (IPO): là việc phát hành trong đó cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được bán rộng rãi cho công chúng đầu tư Nếu cổ phần được bán lần đầu cho công chúng nhằm tăng vốn thì đó là IPO sơ cấp, còn khi cổ phần được bán lần đầu từ số cổ phần hiện hữu thì đó là IPO thứ cấp

Như vậy, hoạt động phát hành chứng khoán là việc chào bán chứng khoán của tổ chức phát hành đến nhà đầu tư với hai hình thức chào bán ra công chúng và chào bán riêng lẻ

1.3.2 Vai trò của hoạt động phát hành chứng khoán

Đối với doanh nghiệp, phát hành chứng khoán là một kênh huy động vốn hiệu quả Đặc biệt là loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu Vì khi đó doanh nghiệp sẽ

Trang 23

huy động được một lượng vốn phục vụ cho các mục đích kinh doanh nhưng không phải lo trả lãi định kỳ như các khoản vay tại các tổ chức tín dụng Nếu kinh doanh thua lỗ doanh nghiệp cũng không cần phải trả lại vốn Ngoài ra, khi phát hành cổ phiếu đặc biệt là phát hành ra công chúng thì danh tiếng của doanh nghiệp sẽ được các nhà đầu tư biết đến và quan tâm Điều này góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp Hơn nữa khi phát hành chứng khoán doanh nghiệp phải công bố thông tin theo quy định của pháp luật nên sẽ tạo áp Luật để doanh nghiệp nghiêm túc, minh bạch hơn trong kinh doanh nhằm lấy được lòng tin qua đó nhận được quan tâm của nhà đầu tư và như vậy mới đạt mục tiêu thu hút vốn của doanh nghiệp

Đối với nhà nước, việc phát hành chứng khoán nói chung và cổ phiếu nói riêng của doanh nghiệp sẽ giúp nhà nước dễ quản lý nền kinh tế hơn Vì khi phát hành buộc các doanh nghiệp phải công bố thông tin qua đó nhà nước có thể giám sát việc kinh doanh của các doanh nghiệp có đúng pháp luật, chính sách Hơn nữa dựa vào biến động của thị trường chứng khoán nhà nước sẽ nắm đươc xu hướng thị trường và tiến hành điều tiết nền kinh tế

Đối với thị trường chứng khoán và nhà đầu tư, việc tham gia phát hành chứng khoán của doanh nghiệp sẽ mang lại nguồn hàng hóa cho thị trường chứng khoán qua đó tăng sự lựa chon cho nhà đầu tư Thị trường càng nhiều hàng hóa càng sôi động thì sẽ càng hấp dẫn nhiều nhà đầu tư Và khi đó nó sẽ là một kênh huy động vốn quan trọng biến đồng tiền nhàn rỗi trong xã hội thành những nguồn vốn phát triển kinh tế, phát triển đất nước

Tuy nhiên, như đã đề cập để có thể phát hành cổ phiếu và tham gia vào thị trương chứng khoán thì doanh nghiệp nhà nước phải chuyển thành công ty cổ phần Đây cũng là cách giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn Ngoài ra chuyển sang công ty cổ phần còn nhằm thực hiện cam kết tự do hóa thị trường, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế với Quỹ tiền tệ thế giới IMF, tổ chức thương mại quốc tế WTO Với những mục tiêu đó chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã ra đời

1.3.3 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Việc phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước thực chất là một khâu của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Chính vì vậy thực hiện phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước cũng nhằm thực hiện việc cổ phần hóa với mục đích cải cách, đổi mới doanh nghiệp nhà nước Vậy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là gì? Vai trò của nó đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như thế nào?

Trang 24

 Hoàn cảnh lịch sử

Việc đổi mới tư duy quản lý kinh tế bắt đầu diễn ra mạnh sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 12 năm 1986 Một trong những thay đổi tư duy quản lý đó là cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, bao gồm tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, yêu cầu phải chuyển sang hình thức kinh doanh hạch toán kinh tế, lời ăn lỗ chịu

Để có thể tiến hành cải cách kinh tế, bắt đầu từ nửa sau của thập kỷ 1990, Việt Nam đã đề nghị sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật của các thể chế tài chính toàn cầu như Nhóm Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á và các nhà tài trợ mà hầu hết là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Một trong những điều kiện của các khoản vay là phải tiến hành một số cải cách theo đề nghị của những tổ chức và nhà tài trợ - những cải cách mà vào thời điểm đầu thập niên 1990 Việt Nam còn chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết và do đó rất miễn cưỡng thực hiện Trong số những cải cách miễn cưỡng này có tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước Để tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phận cán bộ

và nhân dân lo ngại về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, Chính phủ đã quyết định sẽ không bán đứt các doanh nghiệp của mình cho các cá nhân, thay vì

đó tiến hành chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần Tài sản của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu Tùy từng doanh nghiệp, phần cổ phần do nhà nước sở hữu có thể nhiều hay ít, từ 0% tới 100% Đó là tiền đề của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

 Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa doanh nghiệp là chuyển doanh nghiệp từ loại hình doanh nghiệp khác không phải là công ty cổ phần sang công ty cổ phần Chẳng hạn, như công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển sang công ty cổ phần sau khi được sự nhất trí của các thành viên và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp thuận Bản chất của cổ phần hóa là chuyển đổi cơ cấu sở hữu, quan hệ giữa các chủ sở hữu doanh nghiệp Thể hiện về mặt pháp lý của cổ phần hóa là sự chuyển đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp và các quy định điều chỉnh của pháp luật

Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp

thuộc sở hữu nhà nước (đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (đa sở hữu) Sự chuyển

đổi này được thể hiện ở hai mặt căn bản sau:

Thứ nhất, chuyển hóa quyền sở hữu từ đơn sở hữu sang đa sở hữu Điều này

kéo theo sự thay đổi quyền quản lý, quyền sử dụng và tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa ba quyền liên quan đến tài sản của doanh nghiệp

Trang 25

Thứ hai, thay đổi quy chế hoạt động của doanh nghiệp từ chỗ hoàn toàn bị nhà

nước chi phối sang tự chủ kinh doanh theo quy định của pháp luật.6

 Vai trò của cổ phần hóa

Theo PGS.Ts Tô Huy Rứa: “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trong những hướng quan trọng của quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước Trong đổi mới kinh tế, một vấn đề lớn được đặt ra là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất Để giải phóng lực lượng sản xuất, tất yếu phải phát triển mạnh

mẽ nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường và xây dựng thể chế kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo Muốn vậy, phải đổi mới mạnh mẽ các doanh nghiệp nhà nước Theo hướng đó, sau nhiều năm tìm tòi và thử nghiệm trong thực tế, Đảng ta đã lựa chọn cổ phần hóa như một phương thức có hiệu quả để đổi mới các doanh nghiệp nhà nước như các Nghị quyết 3 và Nghị quyết 9 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ.”7

Như đã nói cổ phần hóa là chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần bằng các hình thức theo quy định tại điều 4 Nghị định 109/2007 quy định về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần gồm:

- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều

lệ

- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn

bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

Có thể nhận thấy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có một sốt vai trò sau:

Thứ nhất, với việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần đã làm thay

đổi cơ bản quan hệ giữa nhà nước và công ty Từ chỗ là chủ sở hữu duy nhất nay nhà nước trở thành cổ đông của công ty, thực hiện quyền sở hữu của mình qua vai trò của một cổ đông Doanh nghiệp được tự chủ trong các quyết định kinh doanh theo quy Luật thị trường Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát huy tiềm năng, thế mạnh của mình đồng thời tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế

Trang 26

khác Thực tế ở Việt Nam, cổ phần hóa nhưng nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần chi phối ở một số ngành quan trọng Do đó dù thay đổi hình thức sở hữu nhưng nhà nước vẫn có thể kiểm soát doanh nghiệp thông qua vai trò của cổ đông có cổ phần chi phối đồng thời có thể giám sát việc tuân theo pháp luật, chính sách của nhà nước tại doanh nghiệp

Thứ hai, cổ phần hóa sẽ giúp nhà nước thu hồi lại một số vốn lớn đã đầu tư

cho doanh nghiệp thông qua việc định giá và bán cổ phần Qua cổ phần hóa nhà nước có thể sắp xếp lại các doanh nghiệp theo hướng chỉ giữ lại những doanh nghiệp cần thiết có sự kiểm soát của nhà nước, còn những doanh nghiệp khác sẽ chuyển sang tư nhân để thu hồi vốn và giảm bớt gánh nặng quản lý

Thứ ba, khi cổ phần hóa công nhân và người lao động tham gia mua cổ phiếu,

có cổ phần và có vị thế làm chủ của những người cổ đông Từ đó tạo động lực để

họ nhiệt tình hơn trong công việc, nâng cao năng suất góp phần tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống của họ

Từ những điều trên ta có thể thấy, cổ phần hóa có vai trò quan trong trong việc

khắc phục tình trạng doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, làm tăng vốn, tăng lợi

nhuận, giảm nợ xấu, chia sẻ rủi ro cho các chủ sở hữu riêng lẻ, tạo động lực làm chủ cho người lao động, tạo sức mạnh kinh tế để giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường…

 Sơ lược quá trình cổ phần hóa ở nước ta

Giai đoạn thí điểm (từ năm 1990 đến năm 1996): với sự ra đời của quyết định

số 143/HĐBT

Giai đoạn thí điểm mở rộng (Từ năm 1996 đến năm 1997): Với sự ra đời của Nghị định 28/1996/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 1996 và Nghị định 25/1997/NĐ-

CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 28 ngày 26 tháng 3 năm 1997

Giai đoạn đẩy mạnh (Từ năm 1998 đến năm 2001): Với sự ra đời của Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1998

Giai đoạn tiến hành ồ ạt (Từ năm 1998 đến năm 2001): Với sự ra đời của Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 sau đó là Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 và hiện tại là Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007

Trang 27

1.4 Khái niệm, vai trò của hoạt động niêm yết chứng khoán

1.4.1 Khái niệm hoạt động niêm yết chứng khoán

Theo quy định tại khoản 17 điều 6 Luật chứng khoán thì “Niêm yết chứng

khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch

chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán.”

Như vậy không phải doanh nghiệp nào cũng được phép niêm yết chứng khoán tại

Sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán mà chỉ có những doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật như các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính, số cổ đông hoặc số người sở hữu chứng khoán Và khi đó chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết sẽ được giao dịch tại một thị trường tập trung, có tổ chức là sở giao dịch hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán

1.4.2 Vai trò của hoạt động niêm yết chứng khoán

Việc niêm yết chứng khoán có vai trò lớn đối với bản thân doanh nghiệp, sự quản lý của nhà nước và thị trường chứng khoán

Đối với doanh nghiệp, khi được niêm yết có nghĩa là doanh nghiệp đó là những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả vì vậy niêm yết chứng khoán sẽ giúp cho

uy tín của doanh nghiệp được nâng lên, tăng cường lòng tin của nhà đầu tư điển hình là giá cổ phiếu của doanh nghiệp có thể tăng lên Ngoài ra niêm yết chứng khoán là cơ hội để đưa doanh nghiệp đến với đông đảo nhà đầu tư qua đó giúp doanh nghiệp có thể huy động vốn tốt hơn từ xã hội

Đối với nhà nước, khi niêm yết chứng khoán các doanh nghiệp phải công bố thông tin theo quy định, các giao dịch mua bán cổ phiếu của công ty được diễn ra trên sàn giao dịch tập trung nên nhà nước dễ dàng kiểm soát, nắm bắt tình hình diễn biến thị trường từ đó có thể điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các công cụ tài chính Bản thân doanh nghiệp chịu sự giám sát của nhiều nhà đầu tư và nhà nước nên sẽ phải kinh doanh minh bạch và tuân thủ nghiêm túc pháp luật, chính sách của nhà nước

Đối với thị trường chứng khoán, hoạt động niêm yết chứng khoán sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư dễ dàng thực hiện giao dịch, tăng tính thanh khoản, minh bạch hóa thị trường chứng khoán Đây sẽ là cách làm cho thị trường trở thành một kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế Góp phần thúc đẩy sự luân chuyển vốn trong nền kinh tế và tận dụng tốt nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân

Trang 28

CHƯƠNG 2

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH, NIÊM YẾT

CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA

Như đã đề cập ở chương trước, phát hành chứng khoán nói chung và phát hành cổ phiếu nói riêng là hoạt động quan trọng đối với bản thân doanh nghiệp, nhà nước và thị trường chứng khoán Với những vai trò đó, hoạt động phát hành chứng khoán đã được pháp luật của các quốc gia trên thế giới quan tâm đặc biệt Các quốc gia coi đây là điều cần thiết cho sự phát triển của thị trường chứng khoán, sự phát

triển của nền kinh tế

Do thị trường chứng khoán của ta còn non trẻ nên quy định pháp luật về hoạt động phát hành, niêm yết chứng khoán còn đang trong giai đoạn hoàn thiện Tuy nhiên, với những quy định hiện hành cũng đã tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho

sự phát triển của thị trường chứng khoán Nhìn lại quá trình 10 năm phát triển của thị trường chứng khoán với số lượng văn bản được ban hành điều chỉnh về chứng khoán và hoạt động của thị trường chứng khoán khá nhiều cũng đủ để thấy rằng sự quan tâm của nhà nước đối với việc phát triển thị trường chứng khoán là rất lớn

2.1 Quy định về hoạt động phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước

Vì hoạt động phát hành chứng khoán là khâu đầu tiên để đưa chứng khoán ra thị trường, đây là khâu tạo hàng hóa cho thị trường chứng khoán Nếu không có hoạt động này thì không thể có thị trường chứng khoán bởi không có hàng thì làm sao có chợ được Với lí do đó, từ khi ra đời thị trường chứng khoán thì hoạt động phát hành chứng khoán được pháp luật các nước quan tâm điều chỉnh

Pháp luật về hoạt động phát hành chứng khoán nói chung, cổ phiếu nói riêng

đã ra đời từ khá lâu trên thế giới cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Chẳng hạn ở Mỹ, để ngăn chặn và xử lý những sự gian dối của công ty phát hành chứng khoán, năm 1933 Quốc hội Mỹ đã ban hành Luật về phát hành chứng khoán.8

Đối với Việt Nam, do thị trường chứng khoán của chúng ta còn non trẻ nên pháp luật điều chỉnh về hoạt động này còn đang trong quá trình hoàn thiện Tuy nhiên, pháp luật về hoạt động phát hành chứng khoán nói chung và phát hành cổ phiếu nói riêng cũng đã ra đời kịp thời để điều chỉnh hoạt động này Thậm chí pháp luật về phát hành chứng khoán còn ra đời trước khi thị trường chứng khoán chính

8

PGS.TS Lê Văn Tề: Thị trường chứng khoán Việt Nam; tr91, NXB Thống Kê, năm 2007

Trang 29

thức ra đời Điển hình là sự ra đời của nghị đinh số 48/1998/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 48/1998) quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán

Riêng hoạt động phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam gắn liền với quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Ngoài ra, sau khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp sẽ chuyển sang mô hình công ty cổ phần hoặc cao hơn là công ty đại chúng, khi đó hoạt động chào bán cổ phần của doanh nghiệp được thực hiện như các công ty cổ phần bình thường Chính vì điều này mà pháp luật điều chỉnh hoạt động phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước có sự khác nhau giữa hai loại doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển thành công ty cổ phần và phát hành cổ phiếu lần đầu (có thể ra công chúng hoặc không) sẽ được điều chỉnh theo pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Đối với doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối được hình thành từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hoặc do nhà nước góp vốn, mua cổ phần thành lập sẽ được điều chỉnh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp (chào bán riêng lẻ) hoặc pháp luật về chứng khoán (chào bán ra công chúng, chào bán riêng lẻ của công ty đại chúng)

Đồng thời, đối với mỗi loại hình doanh nghiệp pháp luật lại quy định có sự khác biệt về điều kiện, thủ tục phát hành cổ phiếu

2.1.1 Điều kiện phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước

Như đã nói ở trên, điều kiện phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp nhà nước chịu sự chi phối của hai hệ thống văn bản: các quy định chung cho tất cả các doanh nghiệp và quy định riêng cho doanh nghiệp nhà nước Các quy định chung về điều kiện phát hành cổ phiếu nằm trong các văn bản của Luật doanh nghiệp và Luật chứng khoán, còn các điều kiện riêng được quy định trong các văn bản về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Do đó để nghiên cứu các quy định về điều kiện phát hành cổ phiếu cần nghiên cứu cả các quy định chung cho tất cả các doanh nghiệp cũng như các quy định riêng đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước cổ phần hóa

và doanh nghiệp nhà nước nắm cổ phần chi phối

2.1.1.1 Các quy định chung về điều kiện phát hành cổ phiếu

Hoạt động phát hành cổ phiếu đã được quy định từ khá lâu trong các văn bản

vi phạm pháp luật Tuy nhiên quy định về hoạt động này đã có nhiều thay đổi qua các thời kỳ đặc biệt là từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời Có thể chia các quy định về hoạt động này thành 3 giai đoạn: trước khi TTCK ra đời, sau khi TTCK ra đời đến khi Luật chứng khoán được ban hành và sau khi Luật chứng khoán được ban hành

Trang 30

Giai đoạn trước khi thị trường chứng khoán ra đời: Trước thời điểm các văn bản

về thị trường chứng khoán ra đời hoạt động phát hành cổ phiếu ở Việt Nam là phát hành riêng lẻ Điều kiện phát hành được quy định tại các văn bản pháp luật công ty

và cổ phần hóa

Giai đoạn từ khi TTCK Việt Nam ra đời đến trước khi Luật chứng khoán 2006 được

ban hành: Từ khi thị trường chứng khoán ra đời thì cùng với các văn bản quy định

về điều kiện phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp cũng được ban hành và thay đổi theo hướng thích nghi với sự thay đổi của chính sách, sự thay đổi của nền kinh tế Các văn bản quy định về điều kiện phát hành cổ phiếu trong giai đoạn này gồm Nghị định 48/1998/NĐ-CP, Nghị định 144/2003/NĐ-CP thay thế Nghị định 48/1998 quy định về hoạt động phát hành cổ phiếu ra công chúng Còn hoạt động phát hành cổ phiếu riêng lẻ thì tuân theo quy định về Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Giai đoạn từ khi Luật chứng khoán 2006 được ban hành: Đây là văn bản có giá trị

pháp lý cao nhất từ trước tới nay quy định về chứng khoán và hoạt động của thị trường chứng khoán Lần đầu tiên các quy định về chứng khoán và hoạt động của thị trường chứng khoán được nâng lên thành Luật Điều này cũng phản ánh được tầm quan trọng của thị trường chứng khoán và quyết tâm phát triển thị trường chứng khoán của nhà nước ta Sau Luật chứng khoán 2006 là Nghị định 14/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật chứng khoán, Nghị định 84/2010/NĐ-CP sửa đổi

bổ sung Nghị định 14/2007, Luật chứng khoán sửa đổi, bổ sung 2010 quy định về phát hành cổ phiếu ra công chúng Đặc biệt đối với hoạt động phát hành cổ phiếu riêng lẻ, Nghị định 01/2010/NĐ-CP và Luật chứng khoán sửa đổi, bổ sung ra đời

đã tạo nên sự thay đổi đáng kể đối với hoạt động này Đây là các văn bản pháp lý hiện hành điều chỉnh hoạt động phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp

 Điều kiện phát hành cổ phiếu ra công chúng theo Luật chứng khoán

2006 và Nghị định 14/2007/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 84/2010/NĐ-CP

Theo Luật chứng khoán 2006, về phát hành chứng khoán, Luật chỉ quy định hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Còn hoạt động phát hành riêng lẻ không được đề cập đến trong Luật Điều này có thể hiểu là hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn của Luật doanh nghiệp Tuy nhiên, trong Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn hoạt động phát hành này được đề cập rất mờ nhạt Theo quy định tại khoản 12 điều 6 quy đinh về giải thích từ ngữ thì “Chào bán chứng khoán ra

Trang 31

công chúng” là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây:

i) Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet;

ii) Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu

tư chứng khoán chuyên nghiệp;

iii) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định

Việc quy định số lượng nhà đầu tư bắt buộc là 100 nhằm tăng thêm tính minh bạch, bình đẳng trong công ty đại chúng Bởi vì có nhiều ông chủ, có nhiều người giám sát thì hoạt động của công ty sẽ phải càng minh bạch, tránh tình trang một số lượng lớn cổ phần nằm trong tay số ít ông chủ từ đó quyền lợi của cổ đông được đảm bảo đặc biệt là cổ đông thiểu số (cổ đông nắm giữ dưới 1% cổ phần)

Về hình thức chào bán cổ phiếu ra công chúng thì theo điều 11 Luật chứng khoán 2006 quy định “ Hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng bao gồm chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng, chào bán thêm cổ phần hoặc quyền mua cổ phần ra công chúng và các hình thức khác.” Theo nghị đinh 14/2007/NĐ-

CP ngày 19 tháng 1 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán thì các hình thức chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:

- Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng bao gồm:

i) Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để huy động vốn cho tổ chức phát hành;

ii) Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để trở thành công ty đại chúng thông qua thay đổi cơ cấu sở hữu nhưng không làm tăng vốn điều lệ của tổ chức phát hành

- Chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng bao gồm:

i) Công ty đại chúng chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng hoặc chào bán quyền mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn điều lệ;

ii) Công ty đại chúng chào bán tiếp cổ phiếu ra công chúng để thay đổi cơ cấu sở hữu nhưng không làm tăng vốn điều lệ;

iii) Công ty quản lý quỹ chào bán thêm chứng chỉ quỹ đóng ra công chúng; công ty đầu tư chứng khoán chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng

Trong đó chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng là việc doanh nghiệp thực hiện chào bán chứng khoán lần đầu cho trên 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp Sau đợt chào bán này doanh nghiệp sẽ trở thành công ty đại chúng Đối với doanh nghiệp điều này hết sức quan trọng vì nó

Trang 32

đem đến cho doanh nghiệp nhiều quyền cũng như cơ hội Trong đó nổi bật nhất là quyền được đưa cổ phiếu giao dich tại thị trường tập trung hay còn gọi là niêm yết

cổ phiếu Tuy nhiên nó cũng gắn liền với trách nhiệm là buộc doanh nghiệp phải cung cấp thông tin về hoạt động cho nhà đầu tư và cơ quan quản lý Còn hoạt động chào bán thêm cổ phần thường là hoạt động của các doanh nghiệp nhằm gọi thêm vốn Nếu việc chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư thì nó là chào bán riêng lẻ, còn trên 100 nhà đầu tư là chào bán ra công chúng Thường khi thực hiện chào bán thêm cổ phần các công ty hay chỉ dành bán cho cổ đông hiện hữu, các đối tác chiến lược của doanh nghiệp hoặc qua việc trả cổ tức bằng cổ phiếu hay thưởng cổ phiếu cho cổ đông

Về điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng, theo Luật chứng khoán 2006 quy định :

i) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán

từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; ii) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán;

iii) Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua

Việc quy định các điều kiện như trên nhằm đảm bảo các doanh nghiệp khi tham gia thị trường chứng khoán là những doanh nghiệp đủ năng lực và có chất lượng Từ đó có thể đảm bảo tốt quyền lợi của nhà đầu tư và giúp thị trường chứng khoán phát triển tốt Chẳng hạn, quy định về vốn điều lệ cao nhằm giúp cho thị trường chứng khoán có nhiều hàng hóa chất lượng tốt vì nếu cho phép các doanh nghiệp nhỏ, khả năng cạnh tranh yếu phát hành cổ phiếu ra công chúng chất lượng hàng hóa sẽ không đảm bảo Như vậy sẽ làm ảnh hưởng quyền lợi nhà đầu tư, giảm tính hấp dẫn và hiệu quả của thị trường chứng khoán Ngoài ra, Luật cũng tăng thêm quy định doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng thì không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán Đây cũng là một tiêu chí đánh giá tính hiệu quả trong kinh doanh của doanh nghiệp Điều này có nghĩa là ngoài việc kinh doanh tốt năm liền trước năm đăng ký phát hành Luật còn buộc doanh nghiệp phải kinh doanh tốt các năm trước

Ngoài điều kiện đã nêu trong Luật chứng khoán, tại Nghị định số 14/2007/NĐ-CP của chính phủ còn quy định thêm một số điều kiện phát hành cổ phiếu đối với các loại hình doanh nghiệp khác Cụ thể là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần kết hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng thì thực hiện theo quy định của pháp luật về việc chuyển công ty nhà nước

Trang 33

thành công ty cổ phần; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần kết hợp chào bán cổ phiếu ra công chúng và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chuyển đổi thành công ty cổ phần thì ngoài việc thỏa điều kiện quy định tại Luật chứng khoán còn phải có công ty chứng khoán tư vấn trong việc lập hồ sơ chào bán cổ phiếu Ngoài ra còn có hai loại doanh nghiệp được quy định điều kiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng khác các doanh nghiệp trên đó là doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng và doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực công nghệ cao Vì đây là hai loại doanh nghiệp

mà nhà nước khuyến khích kinh doanh nên chúng có những quy định riêng Cụ thể đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng thì điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng là:

i) Là doanh nghiệp làm chủ đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thuộc đề án phát triển kinh tế - xã hội của các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

ii) Có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

iii) Có cam kết chịu trách nhiệm liên đới của Hội đồng quản trị hoặc các cổ đông sáng lập đối với phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán;

iv) Có tổ chức bảo lãnh phát hành;

v) Có ngân hàng giám sát việc sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán

Còn đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực công nghệ cao thì điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng là: Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao được khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật và các điều kiện như đối với doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng trừ điều kiện i)

Nghị định 14/2007 cũng quy định đối tượng không được phép chào bán cổ phiếu ra công chúng Đó là các doanh nghiệp không đủ điều kiện theo quy định của Luật chứng khoán hoặc chào bán cổ phiếu ra công chúng để thành lập doanh nghiệp trừ hai loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng và doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực công nghệ cao

Ngoài quy định về chào bán chứng khoán theo Luật chứng khoán, Nghị định 14/2007 còn quy định về hoạt động chào bán cổ phiếu ra nước ngoài Vì có yếu tố nước ngoài nên ngoài những điều kiện chung đối với tất cả các doanh nghiệp thì tổ chức thực hiện chào bán cổ phiếu ra nước ngoài còn phải thỏa mãn một số điều kiện khác Ngoài các điều kiện trong nước, tổ chức còn phải thỏa điều kiện về chào bán cổ phiếu của nước mà tổ chức dự định chào bán Để có thể tiến hành chào bán

Trang 34

cổ phiếu ra một nước nào đó thì yêu cầu đầu tiên là cơ quan quản lý về chứng khoán của Việt Nam mà cụ thể là Ủy ban chứng khoán nhà nước có ký kết các thỏa thuận hợp tác với cơ quan quản lý chứng khoán nước đó Chằng hạn như Ủy ban chứng khoán Việt Nam ký thỏa thuận hợp tác với Sở giao dịch chứng khoán Singapore

Về điều kiện theo quy định của Việt Nam thì tại điều 6 Nghị định 14/2007 quy định tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán ra nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

i) Không thuộc danh mục ngành nghề mà pháp luật cấm bên nước ngoài tham gia và phải đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài theo quy định của pháp luật;

ii) Có quyết định thông qua việc chào bán chứng khoán ra nước ngoài và phương án sử dụng vốn thu được của Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng

cổ đông (đối với công ty cổ phần), của Hội đồng thành viên (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên), hoặc Chủ sở hữu công ty (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) hoặc của đại diện chủ sở hữu vốn (đối với công ty nhà nước);

iii) Đáp ứng các điều kiện chào bán theo quy định của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi tổ chức phát hành đăng ký chào bán

Với quy định này, Luật đã mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp thu hút nguồn vốn không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài Hơn nữa, bằng cách này, doanh nghiệp

có thể đưa thương hiệu mình đến với nhà đầu tư của các nước, qua đó quảng bá hình ảnh doanh nghiệp Qua việc phát hành cổ phiếu ở nước ngoài thì uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp sẽ được nâng lên tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội mới Đây cũng là cách đưa thị trường chứng khoán Việt Nam hòa nhập với thị trường chứng khoán quốc tế

Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 08 năm

2010 quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày

19 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán (sau đây gọi là nghị đinh 84/2010) Nghị định 84/2010 có nhiều quy định thay đổi theo hướng phù hợp với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Trong đó có một số thay đổi, bổ sung về hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng

Theo Nghị định này, tổ chức, cá nhân không được chào bán chứng khoán ra công chúng trong trường hợp doanh nghiệp không đủ điều kiện theo Điều 12 Luật Chứng khoán, hoặc chào bán chứng khoán ra công chúng để thành lập doanh

Trang 35

nghiệp, trừ một số trường hợp cụ thể của doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghệ cao theo quy định

Trường hợp chào bán chứng khoán ra công chúng của công ty cổ phần hình thành sau quá trình hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp thì phải có thời gian hoạt động

từ một năm trở lên và có kết quả hoạt động kinh doanh có lãi tính đến thời điểm đăng ký chào bán Quy định này nhằm đảm bảo chất lượng doanh nghiệp qua đó đảm bảo chất lượng cổ phiếu chào bán Hơn nữa quy định này nhằm giúp nhà đầu

tư có cơ sở cho quyết định đầu tư của mình

 Điều kiện phát hành cổ phiếu riêng lẻ theo quy định của Nghị định

số 01/2010/NĐ-CP và Luật chứng khoán sửa đổi bổ sung năm 2010

Sau Luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thị hành thì đến tháng 1 năm 2010, chính phủ đã thông qua Nghị định 01/2010/ NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2010 quy định về hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ Mặc dù hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ đã được đề cập đến trong các văn bản trước đây nhưng những quy định về hoạt động này khá mờ nhạt Các quy định này được đề cập trong Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn Ngoài ra, còn có công văn số 14285/BTC-UBCK hướng dẫn thực hiện một số điểm của chỉ thị 20/CT-TTg có quy định về hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ nhưng trong quá trình áp dụng các doanh nghiệp và cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn do thiếu các quy định chi tiết Vì vậy, đây là lần đầu tiên hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ được quy định cụ thể trong một văn bản riêng Đặc biệt, trong thị trường chứng khoán hiện nay, việc gia tăng đột biến các nhà đầu tư mới chưa có kinh nghiệm sẽ nảy sinh hình thức đầu tư theo kiểu phong trào Do vậy, những tổ chức đầu tư không muốn mua chứng khoán theo phương thức khớp lệnh, vì số lượng mua từng phiên không được nhiều, nhất là khi thị trường nóng

Đối tượng điều chỉnh của Nghị định này khá rộng bao gồm các công ty cổ phần, các doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần trừ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển thành công ty cổ phần vì loại doanh nghiệp này đã có quy định điều chỉnh riêng

Theo quy định tại điều 4 Nghị định 01/2010 thì hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau:

i) Các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp;

ii) Dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp Quy định này phù hợp với quy định của Luật chứng khoán về hoạt đông chào bán

cổ phần ra công chúng là chào bán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên Nghị định quy

Trang 36

định không được phép sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng Khi chào bán

cổ phiếu riêng lẻ doanh nghiệp thường xác định trước nhà đầu tư và số lượng là dưới 100 nên không được sử dụng phương tiên thông tin đại chúng Nếu đối với các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thì Nghị định không hạn chế số lượng

Về đối tượng này thì tại khoản 11 điều 6 Luật chứng khoán quy định “Nhà đầu tư

chứng khoán chuyên nghiệp là ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty

cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán” Cũng như chào bán cổ phần ra công chúng, mệnh giá cổ phần chào bán riêng lẻ là 10.000 đồng

Về cơ quan quản lý, Nghị định quy định khá nhiều cơ quan được phân theo lĩnh vực kinh doanh của tổ chức phát hành Các cơ quan bao gồm:

i) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: trong trường hợp tổ chức chào bán cổ phần riêng lẻ là tổ chức tín dụng;

ii) Bộ Tài chính: trong trường hợp tổ chức chào bán là doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần;

iii) Ủy ban Chứng khoán Nhà nước: trong trường hợp tổ chức chào bán là công ty cổ phần chứng khoán, công ty cổ phần quản lý quỹ, công ty đại chúng (trừ các công ty đại chúng là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, bảo hiểm);

iv) Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế: trong trường hợp tổ chức chào bán là công ty

cổ phần không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này Quy định này sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý dễ dàng thực hiện nhiệm vụ hơn Vì chào bán cổ phần riêng lẻ thủ tục, điều kiện không phức tạp như chào bán ra công chúng nên số lượng hồ sơ sẽ nhiều Nếu chỉ có một cơ quan giải quyết đăng ký chào bán riêng lẻ sẽ không giải quyết nổi Nghị định cũng quy định nếu hồ sơ của doanh nghiệp không hợp lệ thì trong 10 ngày cơ quan quản lý phải yêu cầu doanh nghiệp bổ sung, sửa đổi Trong thời hạn 15 kể từ ngày doanh nghiệp nộp đủ hồ sơ hợp lệ thì cơ quan quản lý phải thông báo cho tổ chức đăng ký biết và công bố trên trang thông tin điện tử (website) của cơ quan danh sách tổ chức đăng

ký chào bán

Về điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ, Nghị định quy định phải có quyết định thông qua phương án chào bán cổ phần riêng lẻ và phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị theo Điều lệ công ty hoặc ủy quyền của Đại hội đồng cổ đông cho Hội đồng quản trị (đối với công ty cổ phần); hoặc Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty (đối với

Trang 37

công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển thành công ty cổ phần); hoặc chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh (đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần)

Qua quy định trên ta có thể thấy tuy là chào bán riêng lẻ nhưng quyết định chào bán phải được thông qua bởi cơ quan quyền lực của tổ chức phát hành Điều này xuất phát từ việc dù là chào bán riêng lẻ nhưng vẫn ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ sở hữu vốn nên cần có sự thông qua của họ Hơn nữa do chỉ chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư nên Nghị định buộc phải xác định rõ đối tượng Đồng thời

để đảm bảo sự công bằng, minh bạch tổ chức phát hành phải xây dựng rõ tiêu chí

về nhà đầu tư chiến lược và hạn chế quyền tham gia biểu quyết của người có liên quan Một điểm quan trọng là Nghị định hạn chế chuyển nhượng cổ phần tối thiểu

trong vòng 1 năm

Điều kiện tiếp theo là doanh nghiệp phải nộp hồ sơ chậm nhất là 20 ngày trước ngày thực hiện việc chào bán Nếu là doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện còn phải thỏa điều kiện của ngành đó Các đợt chào bán riêng lẻ phải cách nhau 6 tháng Quy định này nhằm tránh tình trạng doanh nghiệp thực hiện nhiều đợt phát hành riêng lẻ liên tiếp tạo nên tổng số nhà đầu tư của tất cả các đợt hơn 100 Đây

là cách chia nhỏ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng thành nhiều đợt chào bán riêng lẻ để tránh các nghĩa vụ về cung cấp thông tin của doanh nghiệp

Ngày 24 tháng 11 năm 2010 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán 2006 sẽ có hiệu lực vào ngày 01/7/2011 Vậy là sau gần

4 năm áp dụng, Luật chứng khoán 2006 đã đem lại nhiều thay đổi cho thị trường chứng khoán Cùng với tốc độ tăng chưởng nhanh, số lượng hành hóa nhiều và ngày càng chất lượng thị trường chứng khoán Việt Nam đang trở thành một kênh huy động vốn quan trọng không thể thiếu cho nền kinh tế Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng với sự phát triển nhanh của thị trường nên Luật đã bộc lộ một số điểm không còn phù hợp với tình hình hiện tại làm giảm vai trò quản lý của nhà nước đồng thời hạn chế sự phát triển của thị trường Chính vì vậy, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật chứng khoán 2010 ra đời nhằm khắc phục những khuyết điểm trên góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Tuy chỉ sửa đổi,

bổ sung một số điều nhưng những sửa đổi nay là cần thiết trong thời điểm thị trường đang dần hồi phục sau khủng hoảng Một trong những sửa đổi, bổ sung của Luật trong lần này là sửa đổi, bổ sung về phát hành chứng khoán nói chung và phát hành cổ phiếu nói riêng

Cụ thể, Luật chứng khoán bổ sung thêm hình thức chào bán cổ phần riêng lẻ

Về định nghĩa chào bán cổ phần riêng lẻ trong Luật chứng khoán không có gì mới

Trang 38

so với quy định về hoạt động này trong Nghị định 01/2010 Tuy nhiên, khi quy

định cụ thể về hoạt động này Luật chỉ điều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ của công ty đại chúng Còn chào bán chứng khoán riêng lẻ của tổ chức phát hành không phải là công ty đại chúng được thực hiện theo quy định Nghị định 01/2010 Như vậy, phạm vi điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ trong Luật hạn chế hơn so với quy định trong Nghị định 01/2010 Đồng thời với quy định này, Luật đã gạt bỏ ảnh hưởng của Nghị định 01/2010 đối với hành vi chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty đại chúng

Về điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ, Luật quy định khá giống Nghị định 01/2010 như phải có quyết định của đại hội cổ đông hoặc hội đồng quản trị, phương án thu và sử dung tiền thu được, xác đinh đối tương, số lượng nhà đầu tư,

về thời hạn hạn chế chuyển nhượng 1 năm và các đợt chào bán phải cách nhau 6 tháng Tuy nhiên, Luật có điểm khác so với Nghị định 01/2010 ở chỗ có loại trừ một số đối tương hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn một năm Các đối tượng này gồm đối tương chào bán riêng lẻ theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty, chuyển nhượng chứng khoán đã chào bán của cá nhân cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, chuyển nhượng chứng khoán giữa các nhà đầu

tư chứng khoán chuyên nghiệp, theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật Sở dĩ có quy định này là vì theo như báo cáo giải trình của Bộ tài chính đối với ý kiến của bộ tư pháp là do:

“Việc chào bán riêng lẻ là chào bán cho một số lượng cổ đông hạn chế, chủ yếu là các nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư chuyên nghiệp có năng lực tài chính và mua với số lượng lớn với giá ưu đãi hơn Các nhà đầu tư này phải gắn bó tương đối lâu dài với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển

Các nhà đầu tư này được hưởng ưu đãi về giá, nếu không hạn chế chuyển nhượng, họ sẽ không đầu tư lâu dài mà chỉ hướng đến việc mua và bán ngay để hưởng chênh lệch giá, làm mất đi mục đích cơ bản của việc phát hành, vừa gây pha loãng cổ phiếu, vừa ảnh hưởng đến lợi ích cổ đông thiểu số

Việc chào bán riêng lẻ không phải đăng ký với Ủy ban chứng khoán nhà nước, các công ty bị lỗ cũng có thể chào bán và các cổ đông chiến lược, chuyên nghiệp chấp nhận điều này và gắn bó với doanh nghiệp cùng khắc phục tình trạng thua lỗ của doanh nghiệp Ngoài ra, do không phải đăng ký với Ủy ban chứng khoán nhà nước nên nếu không hạn chế chuyển nhượng, nhiều doanh nghiệp thua

lỗ, có vấn đề, có thể lách Luật chào bán cho một số đối tác Sau đó các đối tác này lại bán lại cho nhiều nhà đầu tư, dẫn đến trở thành chào bán ra công chúng khi không đủ điều kiện, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường

Trang 39

Việc hạn chế chuyển nhượng này cũng được miễn trừ với trường hợp giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp và chào bán cho cán bộ công nhân viên”.9

Như vậy, từ các văn bản đầu tiên quy định về công ty cổ phần và hoạt động phát hành cổ phiếu đến khi thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời thì điều kiện phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi Những thay đổi này thể hiện sự thích ứng của pháp luật đối với sự phát triển của thị trường, của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập

Bảng so sánh điều kiện phát hành cổ phiếu của các văn bản

Phát hành cổ phiếu ra công chúng

Vốn điều lệ tối thiểu: 10 tỷ

Hoạt động kinh doanh có lãi

trong 2 năm liên tục gần

được bán cho trên 100

người đầu tư ngoài tổ chức

có lãi

Có phương án khả thi

về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành

cổ phiếu

Chào bán cho ít nhất 50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành

Vốn điều lệ tối thiểu: 10

tỷ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng

ký chào bán

Có phương án phát hành

và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng

cổ đông thông qua Chào bán cho ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là nhà đầu tư chuyên nghiệp hoặc một số lượng nhà đầu tư không xác định

Trang 40

thì tỷ lệ tối thiểu này là 15%

có tổ chức trong thời hạn một năm, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua

Phát hành cổ phiếu riêng lẻ

2010 Đối tượng: công ty cổ phần, doanh nghiệp

chuyển đổi thành công ty cổ phần

Chào bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư chứng

khoán chuyên nghiệp hoặc dưới 100 nhà đầu

tư không phải là nhà đầu tư chứng khoán

chuyên nghiệp

Có quyết định thông qua phương án chào

bán cổ phần riêng lẻ và phương án sử dụng

số tiền thu được từ đợt chào bán của cơ quan

quản trị doanh nghiệp

Đối tượng: công ty đại chúng

Chào bán cổ phiếu cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet

Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị thông qua phương án chào bán và sử dụng

số tiền thu được từ đợt chào bán; xác

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:34

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm