1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại HOẠT ĐỘNG KINH DOANH của DOANH NGHIỆP bảo HIỂM NHÂN THỌ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

77 193 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 746,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm nhân thọ, cùng với việc tăng cường hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư vốn mà các doanh nghiệp đa

Trang 1

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Mssv: 5075036 Lớp: LK0764A1

Cần Thơ, Tháng 5/2011

Trang 2

Trang 3

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THO ̣ 4

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ 4

1.1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.1.2 Ở Việt Nam 5

1.1.2 Khái niệm bảo hiểm nhân thọ 8

1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ 9

1.1.4 Vai tro ̀ và sự cần thiết của bảo hiểm nhân tho ̣ 12

1.1.5 Các loại hình bảo hiểm nhân tho ̣ 14

1.1.5.1 Bảo hiểm tử kỳ 14

1.1.5.2 Bảo hiểm trọn đời 14

1.1.5.3 Bảo hiểm sinh kỳ 15

1.1.5.4 Bảo hiểm hỗn hợp 15

1.1.5.5 Bảo hiểm trả tiền định kỳ 15

1.2 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 15

1.2.1 Khái niệm về doanh nghiê ̣p kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 15

1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 16

1.2.2.1 Doanh nghiệp hoạt động theo quy định của pháp luật 16

1.2.2.2 Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là pháp nhân 18

1.2.2.3 Doanh nghiệp không được phép kinh doanh đồng thời bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ 18

1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 19

1.2.4 Nội dung hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 20

1.2.5 Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 21

CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOA ̣T ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 25

2.1 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 25

2.1.1 Kinh doanh bảo hiểm 25

2.1.1.1 Khái niệm kinh doanh bảo hiểm 25

2.1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm 25

2.1.1.3 Các sản phẩm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 26

2.1.2 Kinh doanh tái bảo hiểm 32

2.1.2.1 Khái niệm về tái bảo hiểm 32

2.1.2.2 Các hình thức tái bảo hiểm 35

2.1.2.3 Phương thức tái bảo hiểm 37

2.2 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VỐN 39

2.2.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động đầu tư vốn 39

2.2.2 Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 40

2.2.3 Các hình thức đầu tư 43

Trang 5

2.2.3.3 Đầu tư bất động sản 48

2.2.3.4 Đầu tư khác 50

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 52

3.1 THỰC TRẠNG VỀ KẾT QUẢ HOA ̣T ĐỘNG CỦA CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 52

3.2 NHỮNG TỒN TẠI PHÁP LUẬT VỀ HOA ̣T ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM 58

3.3 HƯỚNG HOÀN THIÊ ̣N VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOA ̣T ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐỂ ĐÁP ỨNG NHU CẦU HỘI NHẬP 60

3.3.1 Hươ ́ ng hoàn thiê ̣n 60

3.3.2 Các giải pháp tăng khả năng cạnh tra nh cu ̉ a doanh nghiê ̣p 62

KẾT LUẬN CHUNG 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU



1 Sƣ ̣ cần thiết nghiên cƣ́u đề tài

Xã hội càng phát triển, đời sống con người càng được cải thiện, nhu cầu của người dân ngày càng đa dạng và phức tạp Trong đó, nhu cầu đảm bảo cuộc sống

ổn định và việc đầu tư cho tương lai ngày càng được mọi người quan tâm Mặt khác, trong cuộc sống hằng ngày dù đã luôn chú ý ngăn ngừa nhưng con người vẫn luôn đối mặt những nguy cơ rủi ro xảy ra không thể lường trước được ảnh hưởng đến khả năng tài chính của họ Bảo hiểm nhân thọ ra đời phần nào đáp ứng những nhu cầu đó Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nó không chỉ thực hiện việc huy động vốn cho nền kinh tế mà còn góp phần ổn định tài chính cho các cá nhân, gia đình, giải quyết việc làm cho người lao động Đó là những bằng chứng không thể phủ nhận về vai trò to lớn cũng như một tương lai phát triển của bảo hiểm nhân thọ trong thực tế

Trong hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm nhân thọ, cùng với việc tăng cường hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư vốn mà các doanh nghiệp đang sở hữu là một trong những vấn đề quan trọng đặc biệt trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhất là trong điều kiện thị trường hiện nay ngày càng cạnh tranh gay gắt do có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, dưới tác động của chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Trải qua hơn 10 năm hoạt động, bảo hiểm nhân thọ đã mang lại những lợi ích to lớn cho sự phát triển nền kinh tế xã hội và lợi ích của người tham gia bảo hiểm, là công cụ thu hút vốn đầu tư hiệu quả

Hiện nay, theo đánh giá của một số chuyên môn trong ngành, thị trường bảo hiểm nhân thọ còn nhiều tiềm năng chưa khai thác Với sự góp mặt của các công

ty bảo hiểm nhân thọ trên thị trường ngày càng nhiều và đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh

tế đất nước, bảo hiểm nhân thọ còn một số vấn đề đáng quan tâm Hoạt động bảo hiểm nhân thọ là hoạt động mang tính nghiệp vụ cao, kiến thức trong lĩnh vực này mới mẻ, lạ lẫm ngay cả với những người trong nghề Trong khi đó, sự hiểu biết của người dân về bảo hiểm nhân thọ còn hạn chế Thêm vào đó, môi trường pháp lý điều chỉnh riêng lĩnh vực này vẫn chưa hoàn thiện Đó là lý do người viết

chọn đề tài “Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ theo pháp luật Việt Nam” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

Trang 7

Mục đích của đề tài nhằm làm rõ thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, từ đó đánh giá những ưu điểm cũng như hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động này và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ góp phần phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ hiện nay

2 Phạm vi nghiên cứu

Quy định pháp luật về kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm rất rộng do

đó người viết chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Mà phạm vi nghiên cứu chính là hoạt động kinh doanh bảo hiểm và đầu tư vốn của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

3 Mục đích nghiên cứu

Trên thế giới hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ đã có từ rất lâu và trở nên quen thuộc với đông đảo người dân Trong khi đó, ở Việt Nam hoạt động này còn rất mới mẻ Đề tài giới thiệu và phân tích các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ theo quy định của pháp luật Việt Nam và thực trạng thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ hiện nay nhằm chỉ ra những bất cập của pháp luật kinh doanh bảo hiểm cùng với những khó khăn trong quá trình thực hiện các quy định đó Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giúp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thể hiện tốt hơn vai trò của mình là một tổ chức trung gian tài chính

4 Phương pha ́ p nghiên cứu đề tài

Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp thu thập tổng hợp và xử lý thông tin, phương pháp

nghiên cứu tài liệu để thực hiện việc nghiên cứu đề tài

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đóng góp của luận văn

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ còn rất mới mẻ, vì vậy kết quả nghiên cứu luận văn góp phần vào việc nghiên cứu các hoạt động của doanh nghiệp và hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, đồng thời chỉ ra những điểm chưa phù hợp với thực tiễn kinh doanh cần bổ sung, góp phần tạo môi trường pháp lý chuẩn mực hơn cho các doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển phục vụ đời sống kinh tế, xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay

Trang 8

6 Kết cấu cu ̉ a luâ ̣n văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp

kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Chương 2: Quy chế pháp lý về hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo

hiểm nhân thọ

Chương 3: Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hiện nay

Qua quá trình làm luận văn em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thầy

cô Và đặc biệt là cô Đoàn Nguyễn Minh Thuận đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ

em rất nhiều trong quá trình hoàn thành bài luận Đây là bài viết đầu tiên, nên không thể tránh khỏi những sai sót, mong sự đóng góp ý kiến của các quý thầy cô

để bài viết em được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, em cũng xin cảm ơn các bạn của em đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình làm luận văn để em hoàn thành được bài viết này

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ

DOANH NGHIÊ ̣P KINH DOANH BẢO HIỂM 1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của bảo hiểm nhân thọ

1.1.1.1 Trên thế giới

Khoảng 4500 năm trước công nguyên những người thợ đẽo đá ở Ai Cập đã lập ra các quỹ giúp đỡ tương hỗ, chia sẽ rủi ro cho những người gặp hoạn nạn Còn những người Trung Hoa cổ đại, thời nhà Chu vào khoảng 500 năm trước công nguyên cũng đã sử dụng kỹ thuật phân chia rủi ro đơn giản bằng cách tổ chức các đoàn thuyền vận chuyển hàng hóa và súc vật trên dòng sông Hương Tử Trong đó hàng hóa của các chủ hàng được chia nhỏ cho mỗi thuyền viên chở, nếu thuyền viên nào bị chìm thì các thương gia cùng nhau gánh chịu

Ở Babylone, vào khoảng 1700 năm trước công nguyên và ở Athens (HyLap) khoảng 500 năm trước công nguyên đã xuất hiện quan hệ tín dụng với lãi suất cao trong lĩnh vực buôn bán, vận chuyển hàng hóa trên biển và qua sa mạc Tại Rome, hệ thống cho vay với lãi suất có thể trên 50% Đó là một sự kết hợp giữa hoạt động tín dụng với ý đồ bảo hiểm và do bằng cơ chế chấp nhận rủi ro nên được mệnh danh là “cho vay mạo hiểm lớn” Sau này chế độ cho vay mạo hiểm lớn dần dần trở thành bảo hiểm hàng hải

Sau bảo hiểm hàng hải là bảo hiểm khác ra đời Ngày 2 tháng 9 năm 1666, tại London hỏa hạn đã xảy ra và kéo dài trong nhiều ngày, thêu cháy khoảng 13.200 nóc nhà, trong đó có 87 nhà thờ Mức độ nghiêm trọng của thảm họa đã khiến các nhà chức trách thành phố London mở văn phòng cháy đầu tiên vào năm 1667 Năm 1684 công ty bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời, lấy tên là Friendly Society Fire Office Công ty hoạt động trên nguyên tắc tương hổ với hệ thống phí bảo hiểm cố định, người được bảo hiểm phải chịu một phần thiệt hại xảy ra Sau

đó nhiều công ty bảo hiểm tiếp tục ra đời như ở Anh như: Amicable (1696), Sun (1710), Union (1714), London (1714), Westminister (1717) Tại Pháp, Văn phòng bảo hiểm hỏa hoạn mang tên “La Royal incendie” do Claver thành lập năm 1786 tại Paris.1

Ở nước Anh, năm 1583, một thuyền trưởng nảy ra ý kiến yêu cầu công ty bảo hiểm phi nhân thọ đang bảo hiểm cho con tàu và hàng hoá của ông hãy bán thêm hợp đồng bảo hiểm cho sinh mạng của mình Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ

1

Võ Thị Pha:Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, nhà xuất bản tài chính năm 2005, trang 37,38,39

Trang 10

đầu tiên trên thế giới do công dân London là ông William Gybbon tham gia Phí bảo hiểm ông đóng lúc đó là 32 bảng Anh, khi ông chết năm đó người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh Sự kiện này khiến các công ty bảo hiểm phi nhân thọ thấy rằng: “Con người cũng có thể được bảo hiểm như tàu bè và hàng hoá” Các văn phòng bán bảo hiểm lần lượt ra đời

Năm 1639, có người Anh tên là E.Halley đã lập ra bản thống kê kê tử vong đầu tiên, lý thuyết xác suất của B.Pascal năm 1659 và luật về số đông của J.Bernoulli thế kỷ 18 đã đặt nền móng lý thuyết tính toán khoa học cho bảo hiểm nhân thọ

Trong những năm 50 của thế kỷ 18 T.Simpon đã dựa vào bảng thống kê tử vong của E.Halley để lập thành bảng tỷ lệ phí của bảo hiểm nhân thọ Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ở nước Anh áp dụng phương pháp tính phí bảo hiểm dựa trên yếu tố tỷ lệ tử vong

Năm 1759 công ty bảo hiểm ra đời đầu tiên ở Philadenphia (Mỹ) Công ty này cho đến nay vẫn còn hoạt động

Ở Châu Á, các công ty bảo hiểm nhân thọ ra đời đầu tiên ở Nhật Bản Năm

1868 công ty bảo hiểm Meiji của Nhật ra đời Và đến năm 1888, 1889 hai công

ty khác là Kyoei và Nippon ra đời và phát triển cho đến ngày nay Các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây đã triển khai bảo hiểm nhân thọ Công ty bảo hiển nhân thọ ở Liên Xô cũ ra đời vào năm 1929 Capitar

Ngày nay bảo hiểm nhân thọ càng ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế giới do nền sản xuất công nghiệp phát triển Bảo hiểm nhân thọ đã phát triển rất tinh vi, sản sinh ra nhiều loại mạng lưới phục vụ và đa dạng hóa dịch vụ để phát triển hài hòa phù hợp với một quốc gia của mình Hiện nay có 5 thị trường bảo hiểm nhân thọ lớn đó là: Mỹ, Nhật, Đức, Anh và Pháp

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Bảo hiểm là một nhu cầu tất yếu khách quan của con người và ra đời từ rất lâu trên thế giới Tuy nhiên ở Việt Nam, bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng ra đời tương đối muộn Sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm gắn liền với những sự kiện lịch sử của đất nước

Ở miền Bắc, vào năm 1964 chính phủ đã ký Quyết định 179/CP ngày 17/12/1964 cho phép thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch là Bảo

2

Gs.ts.Trương Mộc Lâm,Lưu Nguyên Khánh: Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm nhà xuất bản thống kê Hà Nội-2000

Trang 11

Việt), được thành lập và chính thức khai trương hoạt động ngày 15/01/1965 với

số Vốn điều lệ là 10 triệu đồng Việt Nam (tương đương 2 triệu USD vào thời điểm đó), dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính Bảo Việt thực hiện hai chức năng là quản lý nhà nước và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm Mặc dù, có vị trí nhỏ bé với một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất nhưng ngành bảo hiểm Việt Nam đã góp phần chia sẻ rủi ro cho những ngành kinh tế quan trọng như ngoại thương, vận tải đường biển, hàng không thông qua hoạt động bảo hiểm hàng hải, tái bảo hiểm và hoạt động đại lý giám định cho các công ty bảo hiểm của các

Trong thời gian này, Bảo Việt mới chỉ triển khai mảng bảo hiểm phi nhân thọ, mà chưa triển khai bảo hiểm nhân thọ Tuy nhiên, BảoViệt cũng đã chú trọng đến việc mở rộng và đa dạng hoá các nghiệp vụ bảo hiểm, đặc biệt là nghiệp vụ bảo hiểm con người, làm tiền đề cho việc triển khai bảo hiểm nhân thọ về sau

Ở miền Nam, vào những năm 1970, đã có một công ty bảo hiểm nhân thọ ra đời có tên là công ty bảo hiểm nhân thọ Hưng Việt Công ty bảo hiểm này triển khai được một số sản phẩm bảo hiểm như: bảo hiểm nhân thọ trọn đời, bảo hiểm

tử kỳ thời hạn 5 năm, 10 năm, 20 năm Nhưng công ty mới ở giai đoạn đầu triển khai nên chưa có kết quả rõ nét

Sau khi đất nước thống nhất, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra tuyên bố đình chỉ các hoạt động của các công ty bảo hiểm miền Nam Việt Nam, trong đó có công ty bảo hiểm nhân thọ Hưng Việt và tuyên bố thanh lý, giải thể các tổ chức bảo hiểm tư nhân

Năm 1976, Bộ trưởng Bộ Kinh tế tài chính Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam ra quyết định số 21/QĐ-BKT thành lập công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm Việt Nam (viết tắt là BAVINA), thuộc Tổng nha tài chính Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam Năm 1977, Bộ trưởng Bộ tài chính ra quyết định số 61/TCQĐ/TCCB về việc sát nhập BAVINA thành chi nhánh của Bảo Việt tại thành phố Hồ Chí Minh Như vậy, kể từ đây Bảo Việt chính thức có mạng lưới hoạt động tại các tỉnh miền Nam

Chính sách mở cửa vào năm 1987 đã tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm Việt Nam được học hỏi và tiếp cận với những kỹ thuật bảo hiểm mới trên thế giới Từ kinh nghiệm các nước, Bảo Việt lúc đó vẫn là công ty bảo hiểm duy nhất ở Việt Nam, đã thấy được tiềm năng to lớn của bảo hiểm nhân thọ ở nước ta Vì vậy, Bảo Việt bắt đầu nghiên cứu triển khai bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam với đề án

3

Võ Thị Pha:Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, nhà xuất bản tài chính năm 2005,trang 41

Trang 12

“Bảo hiểm nhân thọ và điều kiện triển khai ở Việt Nam”, nhưng lúc đó chưa có

đủ điều kiện vì: Thu nhập dân cư còn thấp, kinh tế còn kém phát triển, tỷ lệ lạm phát còn cao, thị trường tài chính chưa phát triển, chưa có môi trường đầu tư và các công ty bảo hiểm chưa được phép hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, chưa có văn bản pháp Luật điều chỉnh mối quan hệ giữa công ty bảo hiểm và khách hàng, đội ngũ cán bộ bảo hiểm lúc đó chưa được trang bị những kiến thức về nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ Do đó, Bảo Việt chỉ triển khai bảo hiểm sinh mạng có thời hạn 1 năm (bảo hiểm nhân thọ tử kỳ thời hạn 1 năm) Đây là loại hình bảo hiểm nhân thọ đơn giản nhất và có nhiều đặc điểm tương đồng với bảo hiểm con người phi nhân thọ

Sau thời kỳ đổi mới kinh tế được 10 năm, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lạm phát đã được đẩy lùi, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt mức cao từ 6 - 9 % năm, môi trường kinh tế- xã hội và môi trường pháp

lý có nhiều thuận lợi hơn Đời sống người dân ngày càng được nâng cao và ở một

bộ phận quần chúng dân cư đã bắt đầu có tích luỹ Đây là những nhân tố rất thuận lợi cho bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển ở Việt Nam

Năm 1996, thực hiện chủ trương mở rộng, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tới các tầng lớp dân cư, Bảo Việt đã nghiên cứu và đưa ra thị trường dịch vụ bảo hiểm nhân thọ lần đầu tiên ở Việt Nam, thể hiện vai trò tiên phong của Bảo Việt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Ngày 20/3/1996, Bộ Tài Chính đã chính thức quyết định cho phép Bảo Việt triển khai 2 sản phẩm: Bảo hiểm hỗn hợp nhân thọ

và Bảo hiểm an sinh giáo dục Tháng 8/1996, Bảo Việt đã bán những sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra thị trường, đánh dấu sự khởi đầu cho chặng đường phát triển đầy hứa hẹn của bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

Vào thế kỷ 20 của những năm 90, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến lớn theo cơ chế thị trường, hoạt động bảo hiểm đã có những chuyển biến tích cực Và Nghị định 100 /CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ ra đời về kinh doanh bảo hiểm, từ năm 1994 đến nay, nhiều công ty bảo hiểm mới được cấp phép hoạt động Có thể nói, Nghị định 100 /CP ra đời là một bước ngoặc có tính cách mạng đối với thị trường bảo hiểm Việt Nam Nghị định này đã thể hiện chủ trương phát triển một ngành đa thành phần của nhà nước ta

Tuy nhiên, xét về thực chất kể từ khi có sự ra đời của các công ty bảo hiểm 100% Vốn nước ngoài như Công ty bảo hiểm nhân thọ Chinfon Manulife (nay là Manulife), Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential, Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh-CMG (nay là Dai-ichi Life), Công ty bảo hiểm nhân thọ quốc tế Mỹ AIA, thị trường bảo hiểm Việt Nam trong đó có bảo hiểm nhân thọ mới chấm dứt

Trang 13

giai đoạn độc quyền nhà nước về bảo hiểm và bắt đầu đi vào phát triển và có sự cạnh tranh

Ngày 09 tháng 12 năm 2000 Quốc Hội đã thông qua Luật kinh doanh bảo hiểm, tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho thị trường bảo hiểm Việt Nam Nhờ

có Luật kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm cạnh tranh bình đẳng hơn và đang thực sự là động lực thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt

là thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển.4

Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ra đời và phát triển đến nay đã được hơn 10 năm, từ chỗ chỉ có Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, cho đến nay thị trường bảo hiểm nhân thọ đã phát triển sôi động

và hấp dẫn rất nhiều các công ty bảo hiểm nước ngoài vào đầu tư và kinh doanh Tính đến nay thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đã có 12 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ hoạt động (có thể tham khảo các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam tại phần phụ lục)

Với sự tham gia của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài vào thị trường Việt Nam đã đáp ứng đa dạng, đầy đủ nhu cầu của người dân Đồng thời cũng làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nâng cao năng lực của thị trường bảo hiểm Việt Nam so với thế giới, đây cũng là kênh thu hút vốn của người dân Mặt khác, cũng thể hiện sự cam kết mở cửa thị trường tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư tin tưởng tiếp tục đầu tư vào Việt Nam và cũng để chứng minh cho sự gia nhập của Việt Nam vào thị trường thế giới Có thể nói thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam đang từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm nhân thọ khu vực và trên thế giới

1.1.2 Khái niệm bảo hiểm nhân thọ

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ 01/04/2001 thì “Bảo hiểm nhân thọ

là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”

Có thể hiểu Bảo hiểm nhân thọ là một quỹ dự trữ tài chính dài hạn được đóng góp bởi số đông người nhằm chia sẻ rủi ro cho một số ít người Quỹ dự trữ tài chính do công ty bảo hiểm nhân thọ quản lý với mục đích đầu tư sinh lợi và chi trả cho khách hàng khi hết hạn hợp đồng hay khi có những rủi ro thuộc phạm

vi bảo hiểm xảy ra Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Trong đó, người tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ nộp

4

www.webbaohiem.net/camnangbaohiemnhantho/html Câu hỏi 213 Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam hình thành và phát triển như thế nào?

Trang 14

phí bảo hiểm theo quy định của luật Công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm khi có sự kiện định trước trong tương lai liên quan đến cuộc sống của họ xảy ra như: người được bảo hiểm chết, bị thương tật, người được bảo hiểm sống đến một thời điểm xác định trước

Bảo hiểm nhân thọ nói chung có nhiều loại: Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, bảo hiểm suốt cuộc đời, bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có thời hạn, bảo hiểm hiểm trợ cấp hưu trí… Ngoài ra còn có các điều khoản bổ sung cho các hợp đồng chính: bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm chi phí nằm viện, bảo hiểm các bệnh hiểm nghèo

1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ là hoạt động vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro

Đây là đặc điểm cơ bản nhất của bảo hiểm nhân thọ Khi tham gia bảo hiểm nhân thọ người mua sẽ đóng một số tiền (phí bảo hiểm) cho người bảo hiểm, ngược lại thì người bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền (tiền bảo hiểm) cho người nhận bảo hiểm như đã thỏa thuận trước trong hợp đồng khi có sự kiện xảy

ra Số tiền bảo hiểm sẽ được trả khi người được bảo hiểm sống đến một độ tuổi nhất định ghi trong hợp đồng, hoặc cho người thân, người thừa hưởng khi người thừa hưởng chết hay có rủi ro xảy ra Số tiền bảo hiểm tuy không bù đắp được những tổn thất về tinh thần, tình cảm nhưng nó cũng có tác dụng bù đắp một phần tổn thất về mặt tài chính giúp cho những người còn sống, người thụ hưởng trang trải cuộc sống cho những chi phí cần thiết như: thuốc men, viện phí, mai táng, chi phí nuôi dạy con cái, phát triển kinh doanh…

Cá nhân khi tham gia bảo hiểm nhân thọ đã thể hiện được tính tiết kiệm một cách có kế hoạch, hợp lý và hiệu quả Nội dung tham gia bảo hiểm nhân thọ khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ người tham gia bảo hiểm sẽ tích lũy được một số tiền tài chính mà còn bảo vệ cho bản thân và người thân họ khi có rủi ro xảy ra Khi có rủi ro xảy ra người được thụ hưởng sẽ nhận được số tiền bảo hiểm rất lớn từ doanh nghệp bảo hiểm khi họ chỉ mới tiết kiệm một khoản tiền rất nhỏ Điều này đã thể hiện được tính rủi ro và tiết kiệm của bảo hiểm nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng nhiều nhu cầu mục đích của người tham gia bảo hiểm

Đây cũng là điểm khác nhau cơ bản của bảo hiểm nhân thọ so với bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm khác Đối với bảo hiểm phi nhân thọ thì mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia Bảo hiểm gặp rủi ro, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia Còn Bảo hiểm nhân thọ vừa

Trang 15

mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro nên đáp ứng được nhiều nhu cầu, mục đích, mỗi mục đích của bảo hiểm nhân thọ được thể hiện trong từng loại sản phẩm bảo hiểm Chẳng hạn hợp đồng bảo hiểm hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu cho người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống khi họ già, làm giảm bớt gánh nặng cho người thân và xã hội Hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền bảo hiểm khi họ bị tử vong Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích, nhu cầu của người quá cố như: trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng

bố mẹ già Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn hoặc Bảo hiểm nhân thọ tín dụng thường bán cho các đối tượng

đi vay để mua xe hơi, đồ dùng gia đình, hoặc khi gặp khó khăn về tài chính Bên cạnh đó, thì bảo hiểm nhân thọ cũng cho phép người tham gia bảo hiểm được phép tham gia hợp đồng bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngược nhau trong cùng một hợp đồng Đó là sự kiện trong trường hợp sống và trường hợp chết (bảo hiểm hỗn hợp) Trong trường hợp này bảo hiểm nhân thọ cho phép người được bảo hiểm nhận khoản tiền trợ cấp nếu họ còn sống đến hết hạn hợp đồng và cho phép họ để lại cho gia đình khoản tiền đó nếu họ không may xảy ra rủi ro hoặc chết

Chính vì những đặc điểm này đã làm cho bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu của người dân và số lượng tham gia vào bảo hiểm nhân thọ ngày càng tăng, tạo cho thị trường bảo hiểm nhân thọ ngày càng có nhiều sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường

Mặt khác, bảo hiểm nhân thọ có đối tượng kinh doanh rất đặc biệt, đó là rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống sức khoẻ con người ( có thể nói, bảo hiểm nhân thọ gắn liền với chu kì “sinh, lão, bệnh, tử” của con người), do vậy bảo hiểm nhân thọ không thể bù đắp lại được những tổn thất về sinh mạng, sức khỏe khả năng lao động và tinh thần cho người được bảo hiểm và người thân của

họ mà chỉ bù đắp lại một phần nào những thiệt hại về mặt tài chính mà những tổn thất này gây ra

Bảo hiểm nhân thọ có tính hợp đồng rất phức tạp và đa dạng

Ngoài những đặc điểm trên thì tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ cũng được thể hiện và thể hiện ở ngay trong các sản phẩm của nó Mỗi sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn có loại Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp thời hạn là 5 năm, 10 năm,

20 năm Mỗi hợp đồng khác nhau lại có sự khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia Ngay cả trong một bản hợp

Trang 16

đồng mối quan hệ giữa các bên cũng đa dạng và phức tạp Khác với các hàng hoá thông thường, người mua bảo hiểm nhân thọ không thể dùng thử để biết chất lượng sản phẩm mà chỉ có thể dùng thật, đã dùng thật là dùng trong thời hạn dài Hơn thế nữa, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ còn là một sản phẩm khá phức tạp và có tính trừu tượng cao, nên nhiều khi người mua bảo hiểm không thể hình dung hết được về sản phẩm bảo hiểm Mặt khác, khác với các loại hợp đồng khác hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có bốn bên tham gia là người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người được thụ hưởng bảo hiểm Vì vậy mối quan hệ trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ rất phức tạp

Bảo hiểm nhân thọ phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định

Ở các nước phát triển, bảo hiểm nhân thọ đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay Ngược lại, một số quốc gia cho đến nay chưa triển khai được Bảo hiểm nhân thọ mặc dù người ta hiểu rõ vai trò và lợi ích của nó Để lý giải vấn đề này hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng cơ sở chủ yếu để bảo hiểm nhân thọ ra đời

và phát triển là nhờ điều kiện kinh tế phát triển Những điều kiện đó bao gồm kinh tế như tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội, mức thu nhập của dân cư, tỷ lệ lạm phát của đồng tiền, tỷ lệ hối đối, kết hợp với những điều kiện xã hội như điều kiện về dân số, trình độ học vấn trên đầu người, tuổi thọ bình quân trên đầu người

Đất nước phát triển thì thu nhập người dân cao dẫn đến trình độ học vấn được tăng lên và nhu cầu bảo vệ cuộc sống nâng lên, đòi hỏi nhiều hơn nên nhu cầu được bảo hiểm cũng tăng lên để đáp ứng nhu cầu của họ Ngược lại, đất nước kém phát triển thì họ không có nhu cầu cao, không có điều kiện để được chăm lo tốt hơn cho bản thân mình nên thị trường bảo hiểm nhân thọ cũng không phát triển

Ngoài điều kiện kinh tế xã hội thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của Bảo hiểm nhân thọ Môi trường pháp lý ổn định, phù hợp chặt chẽ sẽ giúp cho bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển Như

ở một số nước châu Á như Ấn Độ, Hồng Kông thì họ không đánh thuế vào các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Điều đó giúp cho môi trường bảo hiển nhân thọ của

họ ngày một phát triển

Ở Việt Nam khi tình hình đất nước thay đổi, một số chính sách pháp lý cũng thay đổi như sửa đổi bổ sung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm 2000, ban hành một số thông tư để thúc đẩy tạo đòn bẩy cho bảo hiểm nhân thọ phát triển

Trang 17

1.1.4 Vai tro ̀ và sƣ̣ cần thiết của bảo hiểm nhân tho ̣

Đất nước ta đang trên đà phát triển thì nhu cầu đời sống của người dân ngày càng tăng và theo đó dịch vụ Bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng đối với mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp, cá nhân và gia đình

Thứ nhất: Bảo hiểm nhân thọ góp phần ổn định chế độ tài chính cho người tham gia bảo hiểm

Đất nước chúng ta đang phát triển, con người sử dụng nhiều khoa học kỹ thuật phát triển cao nhưng rủi ro bất ngờ là điều không thể lường trước được Xã hội phát triển thì đời sống của người dân tăng lên nhưng cũng đồng nghĩa với rủi

ro, đe dọa cuộc sống con người dẫn đến những bất ổn về tài chính, tinh thần và sức khỏe cho cá nhân, gia đình

Bảo hiểm nhân thọ góp phần ổn định đời sống của mỗi cá nhân và gia đình thông qua việc tham gia bảo hiểm xã hội Họ sẽ được hỗ trợ về mặt tài chính khi không may họ gặp phải rủi ro trong đời sống (ví dụ tai nạn giao thông, mất tích…) Mặt khác, trong trường hợp rủi ro không xảy ra, thông qua bảo hiểm nhân thọ các sản phẩm được ra đời như bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm hỗn hợp… người tham gia vẫn được hưởng một số tiền bảo hiểm để sử dụng nhu cầu hằng ngày cho cuộc sống của họ Bảo hiểm nhân thọ giúp mỗi cá nhân và gia đình thực hiện những chương trình tiết kiệm dài hạn thuận tiện và có kỷ luật Chỉ cần

để dành những khoản tiền nhỏ đều đặn, bạn có thể thực hiện những kế hoạch cho tương lai như: lập gia đình, chăm sóc con cái, mua nhà, mua xe, hay những mong muốn khác

Thứ hai: Bảo hiểm nhân thọ góp phần ổn định cho cuộc sống và chỗ dựa tinh thần cho gia đình

Việc tham gia bảo hiểm nhân thọ cũng thể hiện sự quan tâm, lo lắng của những người thân trong gia đình, của cha mẹ đối với con cái, đối với những người phụ thuộc, thông qua đó làm cho tình cảm gia đình thêm thắm thiết và hạnh phúc.Từ đó giúp cho họ có thể yên tâm học tập, làm việc và lao động sản xuất

Chăm lo cho tương lai học vấn của con trẻ là mối quan tâm hàng đầu của các bậc cha mẹ Để thực hiện được mục tiêu đó, các bậc cha mẹ phải chuẩn bị trước một khoản tài chính nhất định Tham gia bảo hiểm nhân thọ các bậc cha mẹ sẽ được tham gia vào một chương trình tài chính theo đó: Tích lũy kỷ luật, dần dần

để có một khoản tiền lớn chăm lo cho tương lai học vấn con cái, tạo môi trường giáo dục tốt nhất cho con cái họ và thể hiện tình thương của họ đối với con cái

Trang 18

Việc tham gia bảo hiểm nhân thọ mang lại sự an tâm cho mỗi người, đảm bảo rằng khi đã có tuổi, khách hàng sẽ luôn có một khoản tiền để trang trải những chi phí thuốc men, lo hậu sự, hay để lại một di sản thừa kế cho con cháu thông qua bảo hiểm hưu trí góp phần làm giảm gánh nặng cho gia đình Họ có thể tự mình bảo vệ, chủ động đối phó với rủi ro có thể xảy ra trong tương lai đồng thời tạo ra một khoản tiết kiệm cho mình Bảo hiểm nhân thọ cũng góp phần chăm sóc sức khỏe cho người tham gia bảo hiểm thông qua các dịch vụ và sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ

Thứ ba: Bảo hiểm nhân thọ là công cụ thu hút vốn đầu tư hiệu quả góp phần phát triển đất nước

Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và để phục

vụ cho sự phát triển cần có một số lượng vốn đầu tư rất lớn Bảo hiểm nhân thọ

là công cụ hữu hiệu để huy động vốn nhàn rỗi, để thực hành tiết kiệm, góp phần chống lại hiện tượng lạm phát

Khi nền kinh tế phát triển, đời sống người dân tăng lên thì sẽ xuất hiện nhu cầu tiết kiệm hoặc đầu tư tiền tạm thời nhàn rỗi Ở các nước đang phát triển thì thiếu các công cụ, sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đó Vì vậy bảo hiểm nhân thọ giúp các tổ chức, cá nhân thực hiện nhu cầu đó hiệu quả Mặt khác, phí trong bảo hiểm nhân thọ khá lớn và có những đặc trưng cũng như quyền lợi to lớn khi tham gia bảo hiểm nhân thọ Ngày nay càng có nhiều người tham gia bảo hiểm nhân thọ từ đó nguồn vốn nhàn rỗi được huy động từ người dân tăng lên, điều đó góp phần phát triển đất nước Đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì quỹ bảo hiểm sẽ đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế góp phần phát triển đất nước như tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng như xây dựng sân bay, đường xá, cảng biển

Chính vì những tầm quan trọng của bảo hiểm nhân thọ nên Nhà nước đã liên tục có những chính sách để tạo điều kiện cho bảo hiểm nhân thọ phát triển bền vững và một trong những chính sách đó là cho phép công ty bảo hiểm nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Ngoài ra, bảo hiểm nhân thọ cũng góp phần tạo sự ổn định

và phát triển bền vững cho xã hội với vai trò là một hình thức an sinh xã hội bổ sung Bên cạnh những sản phẩm bảo hiểm truyền thống, bảo hiểm nhân thọ còn

có loại hình bảo hiểm liên kết đầu tư

Loại hình bảo hiểm này cho phép người tham gia bảo hiểm đáp ứng nhu cầu đầu tư thu lợi nhuận cao, có thể tiếp cận với các danh mục đầu tư được đa dạng hóa, tiếp cận với các dịch vụ quản lý đầu tư chuyên nghiệp, đồng thời giúp họ chủ động trong quyết định loại hình đầu tư để tăng thu nhập

Trang 19

Thứ tư: Bảo hiểm nhân thọ tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần phát triển doanh nghiệp

Với dân số hơn 80 triệu người, hằng năm số lượng người lao động không có việc làm là không nhỏ, trong số đó thì số lượng sinh viên ra trường không có việc làm ngày càng cao là một thách thức cho xã hội Hoạt động bảo hiểm nhân thọ cần một mạng lưới rất lớn về đại lý, đội ngũ nhân viên, tài chính, trung tâm kỹ thuật Vì vậy phát triển bảo hiểm nhân thọ góp phần tạo ra công ăn việc làm, giảm bớt thất nghiệp, và làm giảm gánh nặng cho Nhà nước Mặt khác, bảo hiểm nhân thọ còn đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, bảo hiểm cho những người chủ chốt của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục nếu không may họ qua đời Bên cạnh đó, bảo hiểm nhân thọ còn có lợi ích đối với các doanh nghiệp là ở chỗ nó làm ổn định tình hình sản xuất kinh doanh và vấn đề tài chính Khi người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm cho người lao động thì quyền lợi của người lao động được tăng lên và thể hiện được sự quan tâm, lo lắng của người sử dụng lao động đối với nhân viên của

họ Thông qua đó, làm giảm khoảng cách, áp lực mâu thuẫn giữa chủ và thợ, đồng thời kích thích người lao động làm việc hiệu quả gắn bó với công việc để mang về hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp

Chính vì những tầm quan trọng trên mà Bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển và không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, tổ chức và mỗi nền kinh tế và ngày càng có vị trí quan trọng không thể thiếu ở mỗi đất nước

1.1.5 Các loại hình bảo hiểm nhân thọ

1.1.5.1 Bảo hiểm tử kỳ

Bảo hiểm tử kỳ là loại hình bảo hiểm nhân thọ chỉ bảo hiểm cho khả năng chết xảy ra trong thời gian đã được quy định cụ thể trong hợp đồng Khi người được bảo hiểm chết trong thời gian đó, công ty bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm

đó Đây là quyền lợi cơ bản cho người tham gia bảo hiểm tử kỳ Trong thực tế, công ty bảo hiểm có thể tăng thêm quyền lợi cho khách hàng bằng cách bổ sung thêm một số quyền lợi khác trong hợp đồng

1.1.5.2 Bảo hiểm trọn đời

Bảo hiểm trọn đời là loại hình bảo hiểm theo đó công ty bảo hiểm cam kết chi trả một khoản tiền đã được xác định trước trong trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời người đó

Trang 20

1.1.5.3 Bảo hiểm sinh ky ̀

Bảo hiểm sinh kỳ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp sống của người được bảo hiểm Khi người được bảo hiểm sống đến một thời điểm đã được quy định

trong hợp đồng, công ty bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm cho khách hàng

1.1.5.4 Bảo hiểm hỗn hợp

Bảo hiểm hỗn hợp là loại hình bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết Theo đó, công ty bảo hiểm cam kết chi trả một khoản tiền đã được ấn định trong trường hợp người được bảo hiểm còn sống đến khi hết hạn hợp đồng hoặc khi người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn hợp đồng

1.1.5.5 Bảo hiểm trả tiền định kỳ

Loại hình này công ty bảo hiểm cam kết chi trả những khoản tiền cố định cho

người được bảo hiểm, bắt đầu từ một độ tuổi nhất định Những khoản tiền này được mô tả là khoảng tiền hàng năm mặc dù trong thực tế có thể được trả nửa năm, hằng tháng, hoặc hàng tháng Niên kim có thể được trả ngay vào thời điểm

ký kết hợp đồng hoặc trả sau khi hợp đồng đã có hiệu lực trong một khoản thời gian nhất định.5

1.2 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ

Trong thời kỳ tập trung kinh tế, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động độc quyền của nhà nước nên loại hình bảo hiểm này được gọi là bảo hiểm nhà nước Chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước thừa nhận và bảo đảm sự tồn tại, phát triển của các thành phần kinh tế theo nguyên tắc bình đẳng cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, nhà nước cho phép các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thực hiện hoạt động kinh doanh

Do đó, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này không còn mang tính chất thuần túy nhà nước như trước

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm do các doanh nghiệp thực hiện với tư cách

là người bảo hiểm Các doanh nghiệp bảo hiểm lập quỹ bảo hiểm trên cơ sở đóng góp phí bảo hiểm của những người tham gia bảo hiểm Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là một hoạt động mang tính dịch vụ Doanh nghiệp bảo hiểm

sẽ trả cho người được hưởng quyền lợi bảo hiểm lấy từ nguồn thu phí bảo hiểm

và phần lợi nhuận thu được từ việc sử dụng phí bảo hiểm để đầu tư thông qua

5

Cẩm nang bảo hiểm nhân thọ, nhà xuất bản tài chính Hà Nội năm 2007

Trang 21

hợp đồng bảo hiểm thỏa thuận trước đó Vì vậy, tại điều 3 khoản 1 theo luật kinh

doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 quy định: Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động

của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Và tại khoản 5 điều 3 luật kinh doanh bảo hiểm thì: Doanh nghiệp bảo hiểm là

doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này

và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm được pháp luật kinh doanh bảo hiểm quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thành lập và giải thể Các hoạt động của doanh nghiệp phải tuân thủ quy định của pháp luật và phải thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tái bảo hiểm Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cũng quy định cụ thể về điều kiện thành lập như vốn điều lệ, trình tự thủ tục cấp giấy phép… Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm Doanh nghiệp phải duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động của mình, khi có muốn thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh phải tuân thủ các quy định của luật Bên cạnh việc tuân thủ các quy định của luật kinh doanh bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng phải tuân thủ các quy định pháp luật khác có liên quan đến hoạt động của mình

Như vậy ta có thể hiểu doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và quy định khác của luật có liên quan để kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm, bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết Trong đó, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra

sự kiện bảo hiểm

1.2.2 Đặc điểm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Theo luật kinh doanh bảo hiểm 2000 thì doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ có một số đặc điểm cơ bản sau:

1.2.2.1 Doanh nghiệp hoạt động theo quy định của pháp luật

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là một tổ chức kinh doanh ngành nghề đặc biệt, giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và phải được thành lập theo đúng pháp luật và được thành lập theo những điều kiện và trình tự do luật định Xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo

Trang 22

hiểm nhân thọ đó cho nên pháp luật có những quy định cụ thể riêng áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm riêng và Luật kinh doanh bảo hiểm đã ra đời Và trong việc thành lập và hoạt động của mình doanh nghiệp phải tuân thủ theo những quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm Tuy nhiên, bên cạnh việc áp dụng những quy định của luật kinh doanh bảo hiểm thì doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm còn phải tuân thủ các quy định khác của pháp luật Việt Nam, nếu như vấn đề nào

đó luật kinh doanh bảo hiểm không quy định Ví dụ điển hình là điều kiện được cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm thì: Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau: Không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh nghiệp và Các điều kiện theo quy định tại Điều 63 của Luật Kinh doanh bảo hiểm

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là hoạt động nhằm mục đích kinh doanh có lãi Việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ nhằm thu được lợi ích kinh tế Mục đích của người bỏ tiền vốn ra hoặc những người góp vốn cổ phần thành lập doanh nghiệp bảo hiểm nhằm thông qua hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để thu lợi nhuận Doanh nghiệp thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của tổ chức cá nhân để hoạt động và đầu tư sinh lời.6

Bên cạnh đó, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ có điểm đặc thù

để phân biệt với các doanh nghiệp khác ở chỗ doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là một loại dịch vụ tài chính đặc biệt, hoạt động mang yếu tố rủi ro Sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm vô hình, nó là sự đảm bảo về mặt tài chính trước những rủi ro cho người được bảo hiểm là các dịch vụ liên quan Rủi

ro ở đây chính là nguồn gốc phát sinh hoạt động bảo hiểm

Chu trình bảo hiểm là một chu trình ngược ở chỗ sản phẩm của bảo hiểm bán ra trước doanh thu được thực hiện sau đó mới phát sinh chi phí Các doanh nghiệp bảo hiểm nhận phí của người tham gia bảo hiểm trước và thực hiện nghĩa

vụ sau đối với người tham gia bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra theo hợp đồng đã dịnh trước đó Điều này tạo ra nguồn vốn nhàn rỗi tạo cho doanh nghiệp

có thể đầu tư kinh doanh tạo ra nguồn vốn tài chính lớn để bù đắp thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm và tăng thu nhập cho doanh nghiệp Việc này tạo ra tính

6

Gs.ts.Trương Mộc Lâm,Lưu Nguyên Khánh: Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm nhà xuất bản thống kê Hà Nội-2000, trang 57

Trang 23

thương mại cho doanh nghiệp Đây cũng là một đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam chịu sự quản lý của Bộ tài chính còn ở một số ở châu Á như Singapore, Philippin thì Ủy ban giám sát bảo hiểm là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, còn ở một số nước châu Âu như Anh thì cơ quan quản lý bảo hiểm là một phòng trực thuộc quản lý các ngân hàng

1.2.2.2 Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là pháp nhân

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là tổ chức kinh tế có tài sản, bộ máy quản lý riêng và tự chịu trách nhiệm về tài sản của mình, có tư cách pháp nhân được hưởng những quyền và có những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật

Hình thức tổ chức của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ quyết định điều kiện

và trình tự thành lập, phương thức tập trung vốn và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp mình Như Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phải có tư cách pháp nhân, và có vốn pháp định là 600.000.000.000 đồng Việt Nam và có vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định mà Chính phủ quy định

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tiếp nhận rủi ro, trách nhiệm với khách hàng rất lớn, vì vậy trên thế giới không có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tư nhân, cá nhân nào cả Bởi vì nếu cá nhân gặp rủi ro, thì không có người giải quyết tiếp các trách nhiệm đã nhận trước đó, vì vậy ít nhất doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phải là một pháp nhân để luôn có người gánh vác trách nhiệm của doanh nghiệp và hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với khách hàng.7

1.2.2.3 Doanh nghiệp không được phép kinh doanh đồng thời bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ

Để bảo vệ một cách tốt nhất cho người tham gia bảo hiểm nhân thọ cũng như tạo ra sự cạnh tranh về chuyên môn một cách công bằng cho doanh nghiệp

thì luật kinh doanh bảo hiểm quy định: “Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm

không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ” Được quy định tại khoản 2 điều 60 luật kinh doanh bảo hiểm 2000

7

Gs.ts.Trương Mộc Lâm,Lưu Nguyên Khánh: Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm nhà xuất bản thống kê Hà Nội-2000, trang 58,59

Trang 24

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là hai loại hình bảo hiểm khác nhau có những nghiệp vụ bảo hiểm khác nhau như bảo hiểm nhân thọ thì có bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm hỗn hợp… còn bảo hiểm phi nhân thọ thì có bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính

Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Mà bảo hiểm nhân thọ là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ con người Đối tượng bảo hiểm là con người nhưng bên cạnh đó còn có một số dấu hiệu đặc trưng so với các loại hình bảo hiểm con người khác ở chỗ bảo hiểm nhân thọ có thời hạn hợp đồng dài và có tính đền bù Bảo hiểm nhân thọ là sự kết hợp giữa hình thức bảo hiểm, hình thức tiết kiệm và hình thức đầu tư Còn doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự, và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ

Do sự khác nhau về tính chất, đặc điểm của mỗi loại nghiệp vụ trên nên trong thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay có hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Chúng không chỉ khác nhau về tên gọi, nghiệp vụ kinh doanh mà trong những chế độ cụ thể pháp luật cũng quy định chúng khác nhau mà điển hình là quy định về chế độ tài chính giữa chúng

Mặt khác, hai loại bảo hiểm này có mục đích và kinh nghiệm chuyên môn khác nhau, nên nếu kinh doanh hai loại bảo hiểm này cùng một doanh nghiệp thì không bảo vệ tốt nhất những điều kiện có thể cho người tham gia bảo hiểm Bên cạnh đó nếu kinh doanh hai loại bảo hiểm này cùng một doanh nghiệp thì đòi hỏi phải có một số vốn pháp định tương đối lớn và sẽ gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh cho các doanh nghiệp khác Thậm chí doanh nghiệp đó có thể thống lĩnh thị trường trong một đất nước tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh và không phù hợp với quy định của luật Vì thế, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ

1.2.3 Vai trò của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập, kinh doanh bảo hiểm đang là một ngành thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân Minh chứng cho sự kiện này là hiện nay chúng ta đã có trên 10 doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ hoạt động trên cả nước Hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển và được nhân rộng là vì chúng có nhiều tác dụng, ý nghĩa quan trọng chẳng những về mặt kinh tế mà còn cả về mặt xã

Trang 25

hội Chúng được thể hiện qua một số vai trò sau: hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ góp phần chia sẻ rủi ro cho mọi người, bù đắp thiệt hại, giúp đỡ cho các tổ chức, cá nhân không may có rủi ro xảy ra, doanh nghiệp hoạt động theo phương thức lấy số đông bù số ít Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ góp phần ngăn ngừa rủi ro, hạn chế phát sinh rủi ro đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Thông qua đó, doanh nghiệp cũng giúp đáng

kể cho sự phát triển đất nước làm giảm gánh nặng cho Nhà nước

Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế thông qua việc tham gia bảo hiểm Khi huy động được vốn thì doanh nghiệp sẽ thực hiện các hoạt động của mình như thực hiện các hoạt động đầu tư góp phần phát triển doanh nghiệp của mình, tăng thu nhập cho doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc tăng thu nhập cho người dân và góp phần không nhỏ vào việc tăng trưởng của đất nước Vì khi thực hiện việc đầu tư doanh nghiệp sẽ có khoản tài chính lớn để tăng cạnh tranh và chi trả cho khách hàng, giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững Doanh nghiệp càng phát triển thì làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước Đồng thời, chúng

ta có thêm cơ hội giao lưu hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp thế giới để học hỏi kinh nghiệm, tạo ra lợi nhuận cao, tăng thu nhập cho đất nước Đất nước phát triển thì sẽ làm hạn chế đi sự mất giá của đồng tiền, hạn chế tình trạng lạm phát Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ngày càng phát triển tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân làm giảm bớt gánh nặng cho gia đình nói riêng

và xã hội nói chung như hạn chế tệ nạn xã hội xảy ra Thông qua hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ thì người dân họ có thể tự bảo vệ, chăm sóc một cách tốt nhất, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Chính vì những vai trò trên nên doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm ngày càng phát triển trên thị trường đáp ứng nhu cầu của xã hội Nhà nước luôn quan tâm tìm hiểu và thay đổi cũng cố các quy định của pháp luật để phù hợp với thị trường tình hình hội nhập của đất nước

1.2.4 Nội dung hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Nội dung hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là những nghiệp vụ bảo hiểm Đây là sự khác nhau giữa doanh nghiệp bảo hiểm với

những doanh nghiệp thuộc các loại hình và ngành nghề khác Nghiệp vụ bảo

hiểm là một hoạt động kinh doanh có tính chất giúp đỡ lẫn nhau dưới hình thức công ty sử dụng quỹ bảo hiểm được tạo ra bằng cách thu phí bảo hiểm, để bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng khi xảy ra rủi ro hoặc đến hạn hợp đồng

Trang 26

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm tại điều 60 quy định nội dung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm: Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm Bên cạnh đó thì doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm còn phải thực hiện các hoạt động như: Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất, giám định tổn thất, đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, quản lý quỹ và đầu tư vốn và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật Việc thực hiện các hoạt động này nhằm mục đích để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp được tốt hơn, hoàn thiện hơn, giải quyết bồi thường kịp thời, đầy đủ và chính xác cho người tham gia bảo hiểm Các biện pháp đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất bao gồm hỗ trợ xây dựng các công trình nhằm mục đích

đề phòng giảm mức độ rủi ro cho các đối tượng bảo hiểm Doanh nghiệp có thể trích một phần tỷ lệ thu phí bảo hiểm để thực hiện các hoạt động đó nhưng phải theo quy định của Bộ tài chính Mặt khác, việc đầu tư vốn nhàn rỗi từ quỹ bảo hiểm cũng góp phần sinh lời cho doanh nghiệp đồng thời trả thêm cho khách hàng, đảm bảo hiệu quả và đáp ứng yêu cầu chi trả thường xuyên cho các hợp đồng bảo hiểm đã ký Việc quy định những nội dung trên góp phần không nhỏ cho doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện kinh doanh và cũng giúp cho người tham gia bảo hiểm được đảm bảo an toàn và hiệu quả khi tham gia bảo hiểm

Những nội dung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên cũng là nội dung hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ thực hiện hoạt động chính là kinh doanh bảo hiểm theo đúng nội dung đã đăng ký khi thành lập doanh nghiệp Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp thực hiện các hoạt động khác để góp phần cũng cố, phát triển công

ty như kinh doanh tái bảo hiểm, đầu tu vốn và thực hiện các hoạt động đề phòng giám định tổn thất

1.2.5 Pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Pháp luật là công cụ đắc lực cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước Trong nền kinh tế thị trường thì chức năng quản lý của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật Mà kinh doanh bảo hiểm là một dạng kinh doanh dịch vụ của nền kinh tế thị trường nên cũng chịu sự quản lý của Nhà nước

Ở Việt Nam trong một thời gian dài từ 1965-1993, hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về hoạt động kinh doanh bảo hiểm chủ yếu là các nghị định, quyết định, thông tư của Hội đồng bộ trưởng, Bộ tài chính và các cấp có thẩm quyền Điển hình là quyết định 179/HĐBT về việc thành lập công ty bảo hiểm Việt Nam với nhiệm vụ triển khai một số nghiệp vụ bảo hiểm Từ năm 1965-

Trang 27

1992 thì công ty bảo hiểm Việt Nam thực hiện đồng thời hai chức năng là quản

Với sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam và vào ngày 18/12/1993 Chính phủ đã ban hành nghị định số 100/NĐ-CP về kinh doanh bảo hiểm Đây là văn bản pháp lý chuyên ngành đầu tiên cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong thị trường Sau đó 7 năm, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoa X ngày 9 tháng 12 năm 2000 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật kinh doanh bảo hiểm và luật này có hiệu lực vào ngày 1/4/2001 Tiếp theo đó, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 08 năm 2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2000 và cùng ngày Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 08 của Chính phủ qui định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Nhằm cụ thể hóa hai Nghị định này ngày 20 tháng 08 năm 2001 Bộ Tài Chính đã ban hành Thông tư số 72 - Hướng dẫn thi hành Nghị định số 43 và Thông tư này được thay thế bằng Thông tư số 99/2004/TT – BTC - Hướng dẫn thi hành Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày 01tháng 08 của Chính phủ qui định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm Tiếp đó, ngày 28 tháng 08 năm 2001 Bộ Tài chính cũng ban hành Thông tư số 71 – Hướng dẫn thi hành Nghị định số 42 và Thông tư số 98/2004/TT – BTC - hướng dẫn thi hành Nghị định 42, Thông tư này thay thế thông tư 71/2001/TT – BTC Và hiện nay Luật kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội thông qua và sửa đổi bổ sung một số điều trong Luật kinh doanh bảo hiểm để phù hợp với quá trình hội nhập và Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm

2010 thông qua và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2011

Bên cạnh Luật kinh doanh bảo hiểm khung pháp lý của hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn có một số văn bản để điều chỉnh những trường hợp cụ thể như Bộ luật dân sự 1995 nay thay thế bằng bộ luật dân sự 2005, Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005

Cùng với việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 175/QĐ – TTg ngày tháng 8 năm 2003 - Về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2010 Thực hiện Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã ban hành: Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng

8

Võ Thị Pha:Giáo trình lý thuyết bảo hiểm, nhà xuất bản tài chính năm 2005, trang197

Trang 28

03 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm Nghị định này thay thế cho nghị định 42/2001/NĐ-CP ngày 1/8/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh Bảo hiểm

và kèm theo đó là Thông tư 155/2007/TT-BTC ngày 20/7/2007 về hướng dẫn thi hành nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 03 năm 2007 quy định chi tiết thi hành mô ̣t số điều của luâ ̣t kinh doanh bảo hiểm Tiếp theo đó Nghị định số

bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, Nghị định này thay thế Nghị định

số 43/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 08 của Chính phủ quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới hảo hiểm và Thông tư số 156/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 hướng dẫn thực hiê ̣n Nghi ̣ đi ̣nh số

bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và Thông tư số 156/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 hướng dẫn thực hiê ̣n Nghi ̣ đi ̣nh số 46/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được ban hành Bên cạnh đó thì , Thông tư số 86/2009/TT-BTC ngày 28/4/2009 về sửa đổ i bổ sung mô ̣t số điểm của Thông tư số 155/2007/TT-BTC về hướng dẫn thi hành nghi ̣ đi ̣nh số 45/2007/NĐ-CP ngày

27 tháng 03 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều củ a luâ ̣t kinh doanh bảo hiểm và Thông tư số 156/2007/TT-BTC ngày 20/12/2007 hướng dẫn thực hiê ̣n

Cùng với những quy định đó thì Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm

2010 cũng quy định liên quan đến doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm

Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập vào nền kinh tế thế giới, thì hoạt động bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng cũng góp phần không nhỏ vào nền kinh tế quốc gia Bảo hiểm nhân thọ không chỉ có mục đích thiết yếu đối với các cá nhân mà còn là công cụ quan trọng để bảo vệ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam là thị trường đầy tiềm năng và hiện nay ngày càng có nhiều người nhận thức hơn về tầm quan trọng của bảo hiểm nhân thọ

Bảo vệ gia đình, người thân không bao giờ là một việc cần phải cân nhắc kỹ lưỡng hay trì hoãn Rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong cuộc sống chúng ta

và có thể cho bất cứ ai Ở các nước phát triển việc tham gia bảo hiểm nhân thọ ăn sâu vào ý thức của người dân Cho nên việc tham gia bảo hiểm nhân thọ ngoài

Trang 29

việc có giá trị thiết thực về tài chính còn có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng về mặt tinh thần

Trong một thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, các doanh nghiệp bảo hiểm muốn đi trước, dẫn đầu phải nắm bắt nhanh nhu cầu của công chúng và có phản ứng kịp thời Tức là không chỉ đơn thuần đưa ra sản phẩm, dịch vụ mà còn lưu tâm đến mức độ thỏa mãn của khách hàng, thông điệp phản hồi đối với nhà cung cấp Và việc tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh của mình là điều cần thiết để phát triển doanh nghiệp tạo lòng tin cho khách hàng Hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là một hoạt động được pháp luật quy định cụ thể để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, tạo dựng lòng tin cho khách hàng góp phần phát triển đất nước Các quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, cũng như các vướng mắc trong các quy định đó sẽ được người viết nêu ở chương tiếp theo

Trang 30

CHƯƠNG 2 QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ

2.1 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ

2.1.1 Kinh doanh bảo hiểm

2.1.1.1 Khái niệm kinh doanh bảo hiểm

Bảo hiểm có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế xã hội ở Việt Nam Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế Như đã nói ở phần trên thì một trong số những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là hoạt động kinh doanh bảo hiểm Thực tế, hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai Doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động kinh doanh theo đúng nghiệp vụ như đã cam kết khi thành lập doanh

nghiệp Trong đó thì theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm thì “Kinh

doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Theo quy định này thì doanh nghiệp kinh doanh

bảo hiểm nhân thọ phải thực hiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở chấp nhận rủi

ro của người được bảo hiểm và đồng thời cũng phải thực hiện mục đích là sinh lời và việc thực hiện mục đích này tùy thuộc vào khả năng của doanh nghiệp mình Cũng như bao hoạt động khác thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm cần phải hoạt động nghiêm túc đúng quy định của pháp luật và coi trọng hiệu quả kinh doanh, tránh gây ra ảnh hưởng tới quyền lợi của người tham gia bảo hiểm

2.1.1.2 Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động chủ yếu của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng Từ những định nghĩa nêu trên thì kinh doanh bảo hiểm có các đặc điểm như sau:

Thứ nhất, là hoạt động kinh doanh bảo hiểm Các doanh nghiệp phải thực

hiện các hoạt động từ khâu mua bán, phân phối sản phẩm Mà trong trường hợp này là các sản phẩm bảo hiểm được phép kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật

Thứ hai, là hoạt động kinh doanh phải có lời đây là đặc điểm cơ bản của hầu

hết các hoạt động kinh doanh Vì mục tiêu duy nhất là để tìm kiếm lợi nhuận phục vụ yêu cầu cuộc sống của xã hội Nếu doanh nghiệp trong quá trình kinh

Trang 31

doanh mà thu được lợi nhuận cao thì doanh nghiệp đó ngày càng phát triển và khách hàng sẽ có được nhiều sự lựa chọn tốt hơn có nhiều ưu đãi cũng như được chăm sóc một cách toàn diện hơn góp phần phát triển xã hội Để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu và cạnh tranh trên thị trường để thu lợi nhuận và phát triển công ty mình

Thứ ba, đây là hoạt động kinh doanh giữa các doanh nghiệp kinh doanh bảo

hiểm nhân thọ với người tham gia bảo hiểm thông qua hợp đồng bảo hiểm Việc thực hiện hợp đồng này trên cơ sở doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thu phí bảo hiểm từ người tham gia bảo hiểm để chi trả cho họ khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra hoặc theo thời hạn hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận trước đó

Thứ tư, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động mang yếu tố rủi ro

Doanh nghiệp có thể trả phí hay không trả phí bảo hiểm khi rủi ro xảy ra hay không đối với người tham gia bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm không thể biết trước được rủi ro có xảy ra hay không cho khách hàng mình để tính toán thực hiện hợp đồng bảo hiểm

Các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật kinh doanh bảo hiểm và các luật khác có liên quan Để doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng phát triển và chiếm được lòng tin của khách hàng thì doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cần tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân Và các sản phẩm được tạo ra đó cũng chính là hoạt động chính trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ nói riêng

2.1.1.3 Các sản phẩm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Sản phẩm bảo hiểm là sự cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm đối với bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường hoặc trả tiền cho người tham gia bảo hiểm khi xảy ra các sự kiện như đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Khác với những sản phẩm vật chất hữu hình khác thì sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là một sản phẩm vô hình mà người mua không thể cảm nhận được và doanh nghiệp dựa vào lòng tin và chất lượng dịch vụ cho khách hàng là chìa khóa để bán bảo hiểm, xây dựng uy tín công ty

Sản phẩm bảo hiểm không ổn định về chất lượng, không đồng nhất giữa các đại lý Đồng thời, sản phẩm bảo hiểm là một chu trình sản xuất ngược, do vậy doanh nghiệp bảo hiểm không thể tính được tính chính xác của sản phẩm bảo hiểm Bảo hiểm nhân thọ có rất nhiều loại sản phẩm khác nhau được chia thành 5 nhóm nghiệp vụ chính tại điều 7 luật kinh doanh bảo hiểm 2000, bao gồm: bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm trả tiền định kỳ, và các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do chính phủ quy định

Trang 32

 Bảo hiểm tử kỳ:

Theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm tại khoản 14 điều 3 quy định:

Bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

Như vậy có thể hiểu Bảo hiểm tử kỳ là loại hình bảo hiểm nhân thọ được ký kết chỉ để bảo hiểm cho khả năng chết xảy ra trong thời gian quy định cụ thể trong hợp đồng Khi người được bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, công ty bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm Đây là sản phẩm bảo hiểm được ký kết cho cái chết xảy ra trong thời gian quy định của hợp đồng Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì người được bảo hiểm không nhận được bất kỳ một khoản phí nào từ số phí bảo hiểm đã đóng Ngược lại, nếu cái chết xảy ra trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng, thì người bảo hiểm phải có trách nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm được chỉ định Bảo hiểm tử kỳ là loại bảo hiểm có xác định thời hạn, trách nhiệm và quyền lợi mang tính tạm thời, bên cạnh đó thì mức phí bảo hiểm thấp vì không cần phải lập nên quỹ tiết kiệm cho người được bảo hiểm Mặt khác, loại hình bảo hiểm này đáp ứng nhiều mục đích như: bảo đảm cho các chi phí mai táng, chôn cất; bảo trợ cho gia đình và người thân trong mốc thời gian ngắn; thanh toán các khoản nợ nần về những khoản vay hoặc thế chấp của người được bảo hiểm Bảo hiểm tử kỳ có rất nhiều dạng khác nhau, trên thực tế tồn tại những dạng sau đây:

 Bảo hiểm tử kỳ cố định

 Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục

 Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi

 Bảo hiểm tử kỳ giảm dần

 Bảo hiểm tử kỳ tăng dần

 Bảo hiểm thu nhập gia đình

 Bảo hiểm thu nhập gia đình gia tăng

 Bảo hiểm tử vong có điều kiện

Hiện nay trên thị trường bảo hiểm có rất nhiều trong đó có sản phẩm “Bình An

Trọn Vẹn” của công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Prevoir Việt

Nam Là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tử kỳ có hoàn phí, thời hạn thu phí ít hơn thời hạn bảo hiểm Sản phẩm ra đời nhằm hỗ trợ tài chính vững chắc và kịp thời cho khách hàng khi rủi ro ngoài ý muốn không may xảy ra Với nhiều ưu điểm

Trang 33

vượt trội về mức phí, về quyền lợi bảo hiểm hay độ tuổi tham gia, Bình An Trọn Vẹn có thể được coi là sản phẩm bảo hiểm linh hoạt, trọn vẹn cho cuộc sống dài

lâu Hay “Bảo hiểm bảo đảm tín dụng Cathay” của công ty trách nhiệm hữu hạn

Cathay Việt Nam

 Bảo hiểm trọn đời

Bảo hiểm trọn đời là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó Quy định tại

điều 3 khoản 16 luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Như đã trình bày tại chương 1, bảo hiểm trọn đời là loại hình bảo hiểm nhân thọ theo đó công ty bảo hiểm cam kết chi trả một khoản tiền đã đăng ký trong trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó

Việc tham gia bảo hiểm trọn đời thì người được bảo hiểm có thể được đảm bảo chi phí mai táng, chôn cất, đồng thời còn bảo đảm thu nhập để ổn định cuộc sống cho gia đình, họ có thể giữ gìn tài sản, tạo dựng và khởi nghiệp kinh doanh cho thế hệ sau Bên cạnh đó, bảo hiểm nhân thọ trọn đời cũng có một số đặc điểm tiêu biểu như: số tiền bảo hiểm trả một lần khi người được bảo hiểm bị chết, và thời hạn bảo hiểm không xác định, phí bảo hiểm có thể đóng định kỳ hay đóng một lần và phí bảo hiểm cao hơn so với bảo hiểm sinh mạng có thời hạn vì rủi ro chết chắc chắn sẽ xảy ra, nên số tiền bảo hiểm chắc chắn sẽ phải trả Bảo hiểm nhân thọ trọn đời là loại hình bảo hiểm dài hạn, phí đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt quá trình bảo hiểm Do đó tạo nên một khoản tiết kiệm cho người thụ hưởng bảo hiểm vì chắc chắn người bảo hiểm sẽ chi trả số tiền bảo hiểm Trên thị trường bảo hiểm nhân thọ hiện nay, hầu hết các công ty bảo hiểm nhân thọ đều kinh doanh loại hình bảo hiểm này như công ty trách nhiệm hữu hạn Cathay có kinh doanh loại hình bảo hiểm trọn đời mang tên “Thịnh vượng

Bảo gia toàn diện”, sản phẩm “Phú Trường An” của Prudential

 Bảo hiểm sinh kỳ

Bảo hiểm sinh kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Được quy định tại khoản 13 điều 3

của luật kinh doanh bảo hiểm 2000

Như vậy, bảo hiểm sinh kỳ là loại hình bảo hiểm nhân thọ được ký kết chỉ

để bảo hiểm cho khả năng sống xảy ra khi hết một khoảng thời gian đã quy định

cụ thể trong hợp đồng Khi người được bảo hiểm sống hết khoảng thời gian đó,

Trang 34

công ty bảo hiểm sẻ trả số tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm không may bị chết trước khi đến ngày hết hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả khoản tiền nào Từ cách hiểu trên thì ta có thể rút ra một số đặc điểm của loại hình bảo hiểm này là: đây là loại bảo hiểm trợ cấp định kỳ cho người được bảo hiểm trong thời gian xác định hoặc đến khi chết và phí bảo hiểm

sẽ đóng một lần Loại hình bảo hiểm sinh kỳ có tác dụng đảm bảo thu nhập khi

về hưu cho người tham gia bảo hiểm, đồng thời làm giảm bớt gánh nặng cho gia đình, giảm đi sự phụ thuộc của họ vào phúc lợi xã hội khi về già Bên cạnh đó, loại hình này còn đảm bảo mức sống trong những ngày còn lại của họ Loại hình bảo hiểm này phù hợp với những người già khi về hưu hoặc những người không được hưởng trợ cấp hưu trí khi về già Trên thực tế thì loại hình này rất ít được các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai kinh doanh, vì hầu hết các loại hình bảo hiểm khác, công ty bảo hiểm nhân thọ đều có bổ sung các quyền lợi khác cho khách hàng như sản phẩm Phú Trường An của Prudential có bổ sung quyền lợi trong trường hợp không có rủi ro xảy ra, quyền lợi này nhận được khi người được bảo hiểm sống đến 99 tuổi, hay sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp bao hàm cả loại hình sản phẩm sinh kỳ và tử kỳ

 Bảo hiểm hỗn hợp

Bảo hiểm hỗn hợp là loại hình bảo hiểm kết hợp giữa tử kỳ và sinh kỳ, theo

đó Công ty bảo hiểm cam kết chi trả một khoản tiền đã đăng ký trong trường hợp người được bảo hiểm còn sống đến khi hết hạn hợp đồng hoặc khi người được bảo hiểm tử vong trong một khoảng thời gian hợp đồng còn hiệu lực

Đây là dạng hợp đồng bảo hiểm cùng một lúc bảo hiểm cho hai dạng bảo hiểm trái ngược nhau, đó là sự kiện tử vong và sự kiện còn sống của người được bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm còn sống thì đến một thời điểm nhất định người đó sẽ được nhận tiền bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm hoặc các khoản trợ cấp định kỳ Ngược lại, nếu người được bảo hiểm chết trước thời điểm đó thì người thụ hưởng bảo hiểm sẽ nhận được quyền lợi được bảo hiểm

Dạng bảo hiểm này vừa mang yếu tố tiết kiệm vừa mang yếu tố rủi ro đan xen nhau, vì thế nó được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới và nó cũng có một số đặc điểm cơ bản giúp nó phân biệt với các loại hình khác như: Số tiền bảo hiểm được trả khi hết hạn hợp đồng hoặc người được bảo hiểm bị tử vong trong thời hạn hợp đồng còn hiệu lực,và thời hạn bảo hiểm xác định thường là: 5 năm, 10 năm, 20 năm…Mặt khác, phí bảo hiểm thường đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời gian bảo hiểm, bảo hiểm này có thể được chia lãi thông qua đầu tư phí bảo hiểm và cũng có thể được hoàn phí khi không có điều

Trang 35

kiện tiếp tục tham gia Với những đặc điểm trên thì bảo hiểm này đã đáp ứng nhiều nhu cầu cho người tham gia bảo hiểm như đảm bảo cuộc sống cho gia đình

và người thân, giúp họ tạo lập quỹ giáo dục, hưu trí, trả nợ, nó còn dùng làm vật thế chấp để khởi nghiệp kinh doanh Thực tế trên thị trường bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm hỗn hợp chiếm tỷ trọng cao nhất, đạt doanh thu cao nhất trong các loại hình khác như 3.248.026 hợp đồng trên tổng số 4.143.063 hợp

 Bảo hiểm trả tiền định kỳ

Bảo hiểm trả tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho người thụ hưởng theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

Loại hình này thì công ty bảo hiểm cam kết chi trả những khoản tiền cố định cho người được bảo hiểm, bắt đầu từ một độ tuổi nhất định Những khoản tiền này được mô tả là khoảng tiền hàng năm mặc dù trong thực tế có thể được trả nửa năm, hàng tháng, hoặc hàng tháng Niên kim có thể được trả ngay vào thời điểm ký kết hợp đồng hoặc trả sau khi hợp đồng đã có hiệu lực trong một khoản thời gian nhất định.10

Khi tham gia bảo hiểm này họ sẽ có thể yên tâm về cuộc sống của mình khi

về hưu và có thể tận hưởng cuộc sống hạnh phúc bên gia đình và con cháu Bạn

sẽ có thể tự đảm bảo cuộc sống của mình, có thêm thu nhập để trang trải chi phí thuốc men, sinh hoạt gia đình, phụ giúp gia đình Ví dụ Bảo Việt có sản phẩm

“An hưởng hưu trí” và “An bình hưu trí”, hay Prudential có “Phú An Khang hưu trí toàn diện” và “Phú An Khang trọn đời” Tham gia bảo hiểm trả tiền định kỳ

họ có thể đóng phí một lần hoặc định kỳ Quy định về loại hình trả tiền định kỳ được luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 mới được bổ sung vào các loại hình bảo hiểm nhân thọ

Tuy nhiên, để phù hợp với xu hướng của thị trường bảo hiểm hiện nay thì luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm 2000 đã quy định

bổ sung thêm hai nghiệp vụ của bảo hiểm nhân thọ là bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí Điều này đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đến thị trường

Trang 36

bảo hiểm Tuy mới được bổ sung thêm vào quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm chưa có hiệu lực nhưng trên thực tế thì sản phẩm liên kết đầu tư đã được các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thực hiện hiệu quả và doanh thu đạt được

Bộ tài chính quy định cụ thể danh mục chi tiết các sản phẩm bảo hiểm thuộc các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ nêu trên và các doanh nghiệp chỉ kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm thuộc các nghiệp vụ bảo hiểm quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động, phải đáp ứng đủ các điều kiện về năng lực tài chính, trình

độ chuyên môn của đội ngũ các bộ nghiệp vụ theo hướng dẫn của bộ tài chính tại Nghị định 45 điều 4 khoản 2, 3 Pháp luật kinh doanh bảo hiểm quy định như vậy

vì sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là một đặc thù, là lời cam kết của doanh nghiệp đưa ra để khách hàng chấp thuận nên cần có sự kiểm soát của Bộ tài chính để việc thực hiện có hiệu quả và đảm bảo quyền lợi của khách hàng

Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ mới trước khi được đưa ra thị trường thì phải được Bộ tài chính phê chuẩn (doanh nghiệp phải gửi báo cáo các sản phẩm

Việc bán và phân phối sản phẩm cũng được quy định chặt chẽ tại điều 17, 18, 19, 20 của Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 Các doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được bán các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc khi được phép của Bộ Tài chính, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm tính mạng sức khỏe con người đã được Bộ Tài chính phê duyệt cho sản phẩm đó Theo Điều

17 Nghị định 45/2007/NĐ-CP quy định chi tiết: “Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được mời chào khách hàng tham gia bảo hiểm theo nội dung, phạm vi hoạt động quy định trong Giấy phép thành lập và hoạt động của mình; Doanh nghiệp bảo hiểm không được ép buộc các tổ chức, cá nhân mua bảo hiểm dưới mọi hình thức.”

Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm còn được phép sử dụng kênh trung gian phân phối sản phẩm bảo hiểm là môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm để bán sản

dẫn và tư vấn cho khách hàng để lựa chọn sản phẩm bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có lợi nhất Đồng thời, khách hàng có nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thiết trung thực cho doanh nghiệp bảo hiểm để tính giả rủi ro xem xét có chấp nhận bảo hiểm hay không và đánh giá mức phí bảo hiểm tương xứng

Trang 37

Đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, người có công trong khâu phân phối sản phẩm bảo hiểm đến tận tay người tham gia bảo hiểm sẽ được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả hoa hồng bảo hiểm Hoa hồng được trả để đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm bù đắp cho các chi phí đã bỏ ra trong khâu khai thác, bán sản phẩm bảo hiểm và trả công cho chính họ Được quy định tại điều 22 Nghị định 45/2007/NĐ-CP

Bên cạnh đó, việc thực hiện quy định tại điểm e khoản 1 điều 7 của luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm Chính phủ quy định nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư là một nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ Tuy nhiên, quy định tại khoản 1 điều 4 Nghị định 45/2007/NĐ-CP cũng chỉ dừng lại

ở việc nêu tên mà không quy định giải thích gì thêm Mặt khác, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm dịch vụ không được bảo hộ bản quyền cho nên dễ cho doanh nghiệp khác bắt chước, tìm kiếm sao chụp từ đối thủ cạnh tranh Đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng pháp luật lại không quy định về vấn đề này Các hình thức bán sản phẩm tuy đã được pháp luật quy định cụ thể nhưng vẫn còn thiếu, chưa phù hợp với tập quán bảo hiểm nhân thọ và xu hướng của thị trường trong tiến trình hội nhập Cho nên đây cũng là vấn đề cần được xem xét

để phù hợp với thị trường, tạo tiền đề cho doanh nghiệp bảo hiểm phát triển

2.1.2 Kinh doanh tái bảo hiểm

2.1.2.1 Khái niệm về tái bảo hiểm

Trong những hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nói riêng cũng như hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung thì hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Điều đó được minh chứng bằng việc sau quy định về kinh doanh bảo hiểm là tái bảo hiểm Theo khoản 2 điều 3 của luật

kinh doanh bảo hiểm 2000 về giải thích từ ngữ thì Kinh doanh tái bảo hiểm là

hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm Tại điều 9 Luật Kinh

doanh Bảo hiểm Việt Nam quy định nội dung của tái bảo hiểm: “Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác, kể cả doanh nghiệp bảo hiểm ở nước ngoài”

Trong trường hợp tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm ở nước ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm phải tái bảo hiểm một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm trong nước theo quy định của Chính phủ” Theo đó để đảm bảo an toàn, các doanh nghiệp bảo hiểm cần

Trang 38

tính toán khả năng tài chính của mình để quyết định chia sẻ rủi ro đã nhận bảo hiểm của mình cho doanh nghiệp bảo hiểm khác hoặc doanh nghiệp chuyên nhận nhượng tái bảo hiểm Ngược lại, các doanh nghiệp bảo hiểm củng cố quyền nhận tái bảo hiểm do các doanh nghiệp bảo hiểm chuyển nhượng rủi ro họ đã nhận bảo

hiểm Điều 23 Nghị định 45 quy định: “Doanh nghiệp bảo hiểm có thể chuyển

một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhưng không được nhượng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác để hưởng hoa hồng tái bảo hiểm theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.” Và tại điều 24 Nghị định

45 quy định cụ thể hơn về quyền nhận tái bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo

hiểm như sau: “Doanh nghiệp bảo hiểm có thể nhận tái bảo hiểm trách nhiệm

mà doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm Khi nhận tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đánh giá rủi ro để bảo đảm phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp.”

Tái bảo hiểm cho phép doanh nghiệp bảo hiểm có thể chấp nhận bảo hiểm tài sản hoặc bảo hiểm trách nhiệm với số tiền bảo hiểm lớn hơn khả năng tài chính của mình bằng cách chia sẻ rủi ro doanh nghiệp bảo hiểm Theo quy định này thì tái bảo hiểm chỉ là sự chia sẻ rủi ro và trách nhiệm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm với nhau và khách hàng không có liên quan gì đến doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm Điều kiện và cách thức bồi thường được cam kết trong hợp đồng bảo hiểm là trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận bảo hiểm Việc tái bảo hiểm như thế nào, có đòi được công ty nhận tái bảo hiểm bồi thường hay không là việc riêng của doanh nghiệp bảo hiểm Dù thế nào đi nữa, doanh nghiệp bảo hiểm là người chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất thuộc rủi ro được bảo hiểm gây ra cho người tham gia bảo hiểm Điều 27 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định rõ:

“Doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm; Doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm; Bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.” Tuy nhiên, nếu tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm có khả năng tài chính yếu khi tổn thất lớn xảy

ra, doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm có thể phá sản sẽ làm ảnh hưởng tới doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm này vẫn phải có nghĩa vụ bồi thường

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w