Các công ty con này có thể được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần, công ty Mẹ cung cấp vốn, quy trình công nghệ, gây ảnh hưởng đến các hoạt động quyết định trong quá trình kinh doanh của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHOÁ 2008 - 2012
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TS Lê Thị Nguyệt Châu Họ và tên: Dương Võ Nhật Minh MSSV: 5085974
Lớp: Luật Thương mại 1-K34
CẦN THƠ THÁNG 5/2012
Trang 2- -
Kính gửi đến cha mẹ,
Lòng biết ơn vô hạn vì đã thương yêu, chăm sóc, tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của
con
Tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất,
Cô Lê Thị Nguyệt Châu đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, chỉnh sửa, truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý báu giúp người viết hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Xin cám ơn toàn thể các bạn lớp các luật Thương mại, Tư pháp, Hành chính K34 đã giúp đỡ và động viên người viết trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp
Thân gởi về tất cả các bạn sinh viên khoa Luật những lời chúc tốt đẹp nhất!
Người viết
Dương Võ Nhật Minh
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
- -
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4- -
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU -1
CHƯƠNG 1: DOANH NGHIỆP FDI VÀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ 4
1.1 Khái niệm, hình thức và tác động các doanh nghiệp FDI đối với nền kinh tế 12 1.1.1 Khái niệm 12
1.1.2 Các hình thức FDI phổ biến 13
1.1.3 Tác động của các doanh nghiệp FDI đối với nền kinh tế 15
1.2 Khái niệm chuyển giá, dấu hiệu chuyển giá, phạm vi chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI 9
1.2.1 Khái niệm chuyển giá 9
1.2.2 Phạm vi chuyển giá 15
1.2.3 Nguyên tắc giá thị trường (Arm’s Length Principle) và phương pháp xác định giá thị trường 24
1.2.4 Dấu hiệu chuyển giá 19
1.3 Các động cơ thúc đẩy doanh nghiệp FDI chuyển giá: 21
1.3.1 Các động cơ thúc đẩy bên ngoài 21
1.3.2 Các động cơ thúc đẩy bên trong 23
1.4 Các tác động của chuyển giá 24
1.4.1 Tác động đến nền kinh tế của quốc gia 24
1.4.2 Tác động đến các chủ thể kinh tế khác 25
1.5 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại một số quốc gia trên thế giới 27
1.5.1 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Mỹ 27
1.5.2 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Trung Quốc 30
1.5.3 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Nhật Bản 33
1.5.4 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Singapore 34
Trang 61.5.5 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Australia 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ CỦA DOANH NGIỆP FDI VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CHUYỂN GIÁ TẠI VIỆT NAM……….37
2.1 Môi trường pháp lý và tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) tại Việt Nam 457
2.2 Phân tích hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI trong thời gian qua tại Việt Nam 49
2.2.1 Khái quát chung về thực trạng chuyển giá tại Việt Nam 49
2.2.2 Các khó khăn mà Cơ quan thuế gặp phải trong quá trình chống chuyển giá 57
2.2.3 Tìm hiểu một số thủ thuật chuyển giá tiêu biểu tại Việt Nam 59
2.2.3.1 Nâng giá trị tài sản góp vốn 59
2.2.3.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ 61
2.2.3.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường 63
2.2.3.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất 67
2.2.3.5 Một số hình thức chuyển giá khác 69
2.2.4 Đánh giá tác động của chuyển giá đối với nền kinh tế Việt Nam 70
2.3 Các quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề chuyển giá tại Việt Nam 73
2.3.1 Lược sử ra đời các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề chuyển giá 73
2.3.2 Đối tượng và phạm vi áp dụng các quy định của pháp luật kiểm soát hoạt động chuyển giá 75
2.3.3 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về kiểm soát chuyển giá 75
2.3.3.1 Quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế 75
2.3.3.2 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp 76
2.3.4 Phân tích so sánh giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết 78
2.3.4.1 Nguyên tắc so sánh 79
Trang 72.3.4.2 Các tiêu thức ảnh hưởng đến phân tích so sánh giữa giao dịch độc lập và
giao dịch liên kết 80
2.3.4.3 Điều chỉnh các khác biệt trọng yếu 81
2.3.5 Các phương pháp xác định giá thị trường 81
2.3.5.1 Khái niệm 82
2.3.5.2 Công thức tính và ví dụ các phương pháp xác định giá thị trường 84
2.3.6 Xử lý vi phạm 84
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM……… 79
3.1 Cơ sở hoàn thiện pháp luật về kiểm soát chuyển giá 87
3.1.1 Hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát chuyển giá 87
3.1.2 Các lợi ích cần đảm bảo khi hoàn thiện pháp luật về kiểm soát chuyển giá… 88
3.1.3 Mối quan hệ giữa pháp luật về kiểm soát chuyển giá và các quy phạm pháp luật khác 89
3.1.4 Những nội dung quan trọng cần làm khi hoàn thiện pháp luật kiểm soát chuyển giá……….90
3.1.4.1 Định danh cơ sở pháp lý về chuyển giá -82
3.1.4.2 Xây dựng bộ thuật ngữ phục vụ cho việc hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm soát chuyển giá: 83
3.1.4.3 Xác định đối tượng, phạm vi điều chỉnh và các chủ thể tham gia pháp luật kiểm soát chuyển giá 91
3.1.3.4 Xây dựng cơ sở khái niệm Liên kết và Doanh nghiệp Liên kết 93
3.1.4.5 Xây dựng quy trình kiểm soát chuyển giá 94
3.1.4.6 Hình thành bộ phận chuyên quản lý về chuyển giá 95
3.1.4.7 Xây dựng cơ chế cho việc hình thành thoả thuận trước giá giao dịch (Advance pricing Arrangement/Agreement - APA) 96
3.1.4.8 Xây dựng Cơ sở dữ liệu so sánh giá thị trường 97
3.1.4.9 Xây dựng cơ chế bảo vệ quyền lợi của các chủ thể bị ảnh hưởng bởi hoạt động chuyển giá 99
Trang 83.1.4.10 Xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện khi xử lý hành vi
chuyển giá 99
3.1.4.11 Các biện pháp xử lý vi phạm 99
3.2 Các giải pháp kiểm soát chuyển giá ở tầm vĩ mô 100
3.2.1 Ổn định nền kinh tế vĩ mô và ổn định đồng tiền Việt Nam 100
3.2.3 Cải cách hệ thống chính sách thuế 101
3.2.3.1 Mục tiêu cải cách hệ thống chính sách thuế 101
3.2.3.2 Cải cách chính sách Thuế theo hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế 102
3.2.3.3 Đàm phán, ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần 104
3.2.3.4 Đẩy mạnh công tác tin học hóa trong quản lý thuế 104
3.2.4 Tăng cường thực thi pháp luật về xác định giá thị trường 106
3.3 Một số giải pháp kiến nghị bổ sung 108
3.3.1 Xây dựng bảng tổng hợp tỷ suất lợi nhuận bình quân các ngành 108
3.3.2 Xác định các loại giao dịch cần xem xét đối với hoạt động chuyển giá 109
3.3.3 Giám sát tình trạng doanh nghiệp lỗ nhiều năm 111
3.3.4 Nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của cán bộ quản lý khu vực đầu tư nước ngoài 112
3.3.5 Công tác thanh tra, kiểm tra Thuế 113
PHẦN KẾT LUẬN………109
- -
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU - - 1/ Lý do chọn đề tài
Sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới, tổ chức thành công hội nghị APEC và trở thành ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã đánh dấu một bước ngoặc lớn cho sự phát triển kinh tế và xã hội của nước ta Hàng loạt các quốc gia trên thế giới tăng cường mối quan hệ kinh tế làm ăn với nước ta Với những thay đổi đáng kể về chính sách kinh doanh, đầu tư, thuế, nguồn vốn FDI đầu tư vào nước ta ngày một nhiều và chất lượng vốn ngày càng cao Thông qua kênh FDI, Việt Nam đã đón nhận được các công nghệ mới, học hỏi được trình độ quản lý kinh tế tiên tiến và xã hội được sử dụng hàng hóa ngày càng chất lượng hơn Không ai có thể phủ nhận được vai trò của nguồn vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam
Tuy nhiên, xét trên phương diện quản lý thuế, cơ quan thuế đang phải đối mặt với tình hình kê khai thua lỗ ngày càng gia tăng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm khoảng trên 50% tổng số doanh nghiêp FDI đang hoạt động trên cả nước, trong đó nhiều doanh nghiệp kê khai lỗ nhiều năm liên tục, thậm chí báo cáo lỗ suốt từ khi hoạt động đến nay, nhưng vẫn tiếp tục duy trì sản xuất và mở rộng đầu tư tại Việt Nam Tình trạng các doanh nghiệp FDI khai lỗ diễn ra tại nhiều tỉnh thành đã làm cho Chính phủ, cơ quan thuế, các cơ quan quản lý khu vực vốn đầu tư nước ngoài cần phải nhìn nhận và xem xét vấn đề một cách đúng mức Nhiều chuyên gia về kinh tế, tài chính đặt vấn đề về khả năng các doanh nghiệp FDI đang sử dụng thủ thuật chuyển giá
Thời gian gần đây, chuyển giá trở thành đề tài sôi nổi, được các đại biểu quốc hội, các nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu khoa học tài chính ở Việt Nam quan tâm và đặt câu hỏi xem có hay không kẽ hở của chính sách quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam, nhất là các công ty đa quốc gia, tập đoàn kinh tế có các công ty con trên khắp thế giới Các chuyên gia lo ngại rằng nếu có tình trạng đó xảy ra và không quản lý chặt thì sẽ tạo ra sự thiếu công bằng trong nộp thuế giữa các doanh nghiệp, tạo
ra một môi trường kinh doanh bất bình đẳng và nhất là làm thất thu một nguồn lớn ngân sách nhà nước
Trang 10Chuyển giá không phải là một khái niệm quá mới mẻ ở Việt Nam Pháp luật điều chỉnh về các giao dịch có dấu hiệu chuyển giá ở Việt Nam được thai nghén và ra đời vào năm 1997 Qua nhiều lần sửa đổi, pháp luật kiểm soát chuyển giá ở Việt Nam chỉ mới dừng lại ở chỗ đưa ra những quy định mang tính định hình Các cơ quan quản lý chuyên ngành vẫn chưa được trang bị các nhóm giải pháp cần thiết để thực hiện kiểm soát chuyển giá Bên cạnh đó thuật ngữ chuyển giá vẫn còn là một vấn đề khá mơ hồ với phần lớn mọi người, nhiều người chưa hiểu bản chất của chuyển giá là gì, tại sao lại xuất hiện chuyển giá và nó tồn tại trong đời sống kinh tế xã hội như thế nào Chính
vì vậy, trong luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình, người viết xin gửi đến quý thầy cô, cùng các bạn sinh viên cái nhìn tổng quát về chuyển giá diễn ra ở nước ta hiện
nay, thông qua đề tài được mang tên “ Hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp
FDI – Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam”
2/ Mục đich, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vấn đề cơ bản mà người viết mong muốn giải quyết trong đề tài này là tìm hiểu và phân tích hiện tượng chuyển giá diễn ra ngày càng phổ biến trong các doanh nghiệp FDI trong khoản thời gian gần đây Thông qua việc nghiên cứu, người viết cũng đề ra một số biện pháp kiểm soát chuyển giá phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam và phù hợp với thông lệ các nước trên thế giới
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và hiện tượng chuyển giá diễn ra tại các doanh nghiệp FDI Tuy nhiên, các số liệu về hoạt động chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI là vấn đề khá tế nhị và nhạy cảm, khó có thể tiếp cận được các nguồn thông tin, số liệu thực tế Vì vậy trong đề tài người viết sẽ tập trung vào các sự kiện đã được công bố trên phương tiện truyền thông đại chúng, trong giới hạn các ví dụ thực tế tìm thấy và nguồn tài liệu kham thảo trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành
3/ Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở áp dụng nghiên cứu các phương pháp tổng hợp, thống kê, quy nạp, diễn dịch, kết hợp với phương pháp phân tích các nguồn dữ liệu thu thập được trong và ngoài nước, kham thảo ý kiến của các chuyên gia luật học, tài chính Các nghiên cứu về chuyển giá trong luận văn này sẽ được xem xét trước hết trên cơ sở lý thuyết về kiểm soát chuyển giá phổ biến hiện nay, sau đó sẽ được đối
Trang 11chiếu, kiểm nghiệm qua các ví dụ thực tế trước khi khái quát thành các nhận định làm
cơ sở cho việc đưa ra các kết luận và các giải pháp xử lý cụ thể
4/ Nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1: Doanh nghiệp FDI và hoạt động chuyển giá
Chương 2: Thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI và pháp luật về kiểm soát chuyển giá tại Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1: DOANH NGHIỆP FDI VÀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ
Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu là một xu thế tất yếu hiện nay mà mỗi quốc gia trên thế giới đều mong muốn, tuy nhiên mức độ hội nhập như thế nào còn tùy thuộc vào mỗi quốc gia có biết cách tận dụng các nguồn lực của mình hay không, một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển nền kinh tế của quốc gia đó chính là các nguồn vốn FDI Để gia tăng thêm các nguồn vốn này, mỗi nước đều có riêng cho mình chính sách khác nhau trong hoạt động thu hút các nguồn đầu tư, các chính sách cụ thể như là ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước sở tại dành cho các nhà đầu tư, đặc biệt là những
ưu đãi về thuế Sự lớn mạnh của các Tập đoàn kinh tế, Công ty đa quốc gia về quy mô
và cơ cấu tổ chức kéo theo sự gia tăng khối lượng các giao dịch thương mại ngày một lớn kết hợp các chủ thể từ nhiều quốc gia Và một khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa các chủ thể kinh doanh, thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của một chủ thể riêng lẻ, mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết Với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, câu hỏi làm sao để lợi ích tổng thể đạt tối ưu luôn được đặt ra với các chủ thể kinh doanh Vì vậy chuyển giá (transfer pricing) như là một lời giải cho bài toán lợi ích đó và đang ngày càng được sử dụng phổ biến trong nhiều giao dịch giữa các chủ thể liên kết, các chủ thể kinh doanh sử dụng thủ thuật chuyển giá nhằm thay đổi những nghĩa vụ thuế phải thực hiện với nhà nước tiếp nhận đầu tư Sự mới mẻ và chứa đựng những hấp dẫn về lợi ích kinh tế của chuyển giá là điều được các nhà quản lý lưu tâm, được các chủ thể kinh doanh, người hoạch định chiến lược tài chính của doanh nghiệp lên chương trình hành động cho mình Vậy chuyển giá là gì? Có những điểm gì đặc biệt? Để làm rõ những vấn đề này, trong chương 1 luận văn người viết xin giới thiệu
cơ bản về hoạt động chuyển giá, các tác động của chuyển giá, cũng như kinh nghiệm chống chuyển giá của một quốc gia trên thế giới
1.1 Khái niệm, hình thức và tác động các doanh nghiệp FDI đối với nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm
Theo cách hiểu của các nhà kinh tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là việc nhà đầu tư
ở một quốc gia đưa vốn bằng tiền hoặc các tài sản hợp pháp vào một thực thể kinh tế tại một quốc gia khác để có được quyền quản lý, quyền sở hữu hoặc tăng thêm quyền kiểm soát đối với thực thể kinh tế tại quốc gia đó nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, tạo ra sự ảnh hưởng đến nền kinh tế của cả hai quốc gia
Trang 13Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư được cung cấp bởi các nhà đầu tư nước ngoài dành cho các doanh nghiệp FDI hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI FDI gồm có 3 bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay nội bộ giữa các công ty
Theo Luật đầu tư nước ngoài 1987: Đầu tư ngước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
Theo quy định của Luật đầu tư 2005: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư Tài sản ở đây là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và các loại giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền
sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh, kinh nghiệm quản lý…) Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài (FDI) bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước
có trụ sở chính (Công ty Mẹ) ở một quốc gia và một số chi nhánh (Công ty con) ở các quốc gia khác nhau Các công ty con này có thể được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần, công ty Mẹ cung cấp vốn, quy trình công nghệ, gây ảnh hưởng đến các hoạt động quyết định trong quá trình kinh doanh của công ty conb MMC xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài qua các hình thức tự đầu tư bằng việc trực tiếp chọn
Nguyễn Trí Thành, Các giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập,
Luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Kinh tế TPHCM, 2004, tr 3
Trang 14địa điểm đầu tư, xây dựng nhà máy, điều hành sản xuất, hoặc liên doanh với doanh nghiệp của nước sở tại bằng việc góp vốn, công nghệ, nhân lực hay đơn giản nhất là chuyển giao công nghệ Việc lựa chọn các hình thức đầu tư và kinh doanh của nhà đầu
tư phụ thuộc vào thị trường và pháp luật nước sở tại MMC thường sở hữu các tài sản
vô hình rất lớn, trong đó công nghệ sản xuất, nhãn hiệu, sáng chế là một phần không thể mất đi của công ty
Thành lập doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài: Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức 100% vốn có thể được thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân ,có tư cách pháp nhân, hoạt động theo quy định của pháp luật của nước sở tại Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đặt dưới
sự điều hành và quản lý của chủ đầu tư nước ngoài và chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật, mức độ cạnh tranh từ phía các doanh nghiệp khác của nước sở tại
Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài: Nhà đầu tư nước ngoài có thể liên doanh với nhà đầu tư trong nước để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên có tư cách pháp nhân, hoạt động theo quy định của nước sở tại Đây một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc tế và phổ biến nhất trên thế giới hiện nay, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên liên doanh về quốc tịch, về cách thức quản lý và điều hành, hệ thống tài chính, luật pháp, bản sắc văn hoá, hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên về vốn, quản lý lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra
Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là hình thức hợp tác giữa một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước, nội dung hợp đồng sẽ quy định về quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên Trong quá trình hợp tác kinh doanh, các bên có quyền thoả thuận thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối có thể do các bên thoả thuận Hình thức hợp doanh không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết quả kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thoả thuận giữa các bên mà không cần phải thành lập một pháp nhân mới Các bên tiến hành các hoạt động kinh doanh phù hợp với các quy định của nước sở tại
Trang 15 Đầu tư theo hình thức Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao, Hợp đồng xây dựng-chuyển giao-kinh doanh, Hợp đồng xây dựng-chuyển giao
- Hợp đồng xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (hợp đồng BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước sở tại và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn,
- Hợp đồng xây dựng-chuyển giao-kinh doanh (hợp đồng BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước sở tại và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho nhà nước, nhà nước ưu tiên dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình
- Hợp đồng xây dựng-chuyển giao (hợp đồng BT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước sở tại và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nhà nước, nhà nước tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu
Tóm lại, các hình thức hợp đồng này áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng kết cấu
hạ tầng, được hưởng ưu đãi cao hơn so với các hình thức đầu tư khác, và điều đặc biệt khi hết thời hạn hợp đồng phải chuyển giao công trình kết cấu hạ tầng cho nước sở tại sau khi đã xây dựng hoặc khai thác xong
sự phát triển kinh tế của quốc gia tiếp nhận đầu tư Các dự án đầu tư từ phía các doanh nghiệp FDI tác động đáng kể đến sự tăng trưởng kinh tế, tác dụng kích thích sản xuất của các thành phần kinh tế khác Doanh nghiệp FDI sử dụng nguồn vốn của mình đầu
Trang 16tư vào các ngành kinh tế khác nhau, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Mặc khác các dự án này tác động mạnh mẽ đến thị trường lao động trong nước, gia tăng số lượng việc làm cho người lao động, một lượng đáng kể người lao động trong nước có cơ hội tiếp thu các tiến bộ khoa học, công nghệ, được đào tạo nâng cao trình
độ, rèn luyện tác phong công nghiệp hiện đại, đủ sức thay thế các chuyên gia nước ngoài Tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho người lao động, kích cầu mua sắm thị trường trong nước
Hoạt động của các doanh nghiệp FDI tạo ra nguồn thu ngân sách, nhà nước sử dụng nguồn thu này để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ phát triển các nguồn lực khác trong nước, tạo phúc lợi xã hội cho người dân, các hoạt động này cũng tạo nên những mô hình quản lý và các phương thức kinh doanh hiện đại từ các nước phát triển, thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phải đổi mới phương thức quản lý, nâng cao trình độ công nghệ, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng thu hút người tiêu dùng, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp này; góp phần mở rộng thị trường trong nước, thúc đẩy sự phát triển các ngành dịch vụ như là du lịch, kinh doanh bất động sản, các dịch vụ khác thu ngoại tệ Mở rộng quan hệ đối ngoại, tạo ra sự hội nhập giữa các quốc gia với nhau vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Tác động tiêu cực:
Các quốc gia đang phát triển không ngừng đưa ra các chính sách khuyến khích và ưu đãi để thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước Bên cạnh những mặt tích cực, các doanh nghiệp FDI cũng có những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế của nước sở tại Các doanh nghiệp này khi tiến hành hoạt động tại quốc gia tiếp nhận đầu tư, sẽ là đối tượng thuộc phạm vi quản lý của cơ quan Thuế Các doanh nghiệp này thường được tổ chức thông qua mô hình công ty Mẹ và công ty con, thách thức đặt ra đối với cơ quan thuế là có đủ khả năng để giám sát và kiểm tra giá của các giao dịch thực hiện nội bộ hay giá trong các giao dịch liên kết giữa các thành viên trong tập đoàn đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ nước sở tại và lãnh thổ của quốc gia khác Điều này vô cùng quan trọng nếu không số thu thuế của nước sở tại
sẽ bị ảnh hưởng bởi sự các hành vi gian lận thuế, về lâu dài toàn bộ lợi nhuận từ hoạt động đầu tư điều bị chuyển ra nước ngoài, dòng tiền thu được chảy sang một quốc gia khác Mặt khác, doanh nghiệp FDI còn gây ra vấn đề như chuyển giao không ít công nghệ và thiết bị lạc hậu gây ra ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của
Trang 17người lao động Ngoài ra, thực tế đã xuất hiện tình trạng một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vay vốn của các tổ chức tín dụng nhưng hoạt động không hiệu quả, phải ngừng hoạt động, có trường hợp, nhà đầu tư nước ngoài đã bỏ trốn đã gây ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, cũng như môi trường đầu tư tại quốc gia sở tại
1.2 Khái niệm chuyển giá, dấu hiệu chuyển giá, phạm vi chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI
1.2.1 Khái niệm chuyển giá
Chuyển giá là gì?
Theo định nghĩa của OECD, chuyển giá (transfer pricing) là hình thức mà các công ty
áp dụng trong các giao dịch mua bán tài sản hữu hình, vô hình hoặc trong việc cung cấp dịch vụ Việc lựa chọn mức giá nào sẽ quyết định mức lợi tức và các khoản thuế
Ta cũng có thể hiểu chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hoá, dịch
vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu tổng số thuế phải nộp của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu Chuyển giá thường được các MNC tận dụng từ những ưu đãi khác nhau của các quốc gia trên thế giới về các chính sách thuế, lãi suất để xác định giá của chi phí đầu vào và giá bán sao cho có lợi nhất Mục tiêu của chuyển giá là nhằm tối đa hoá lợi nhuận của cả tập đoàn, một công ty đa quốc gia hay nhóm công ty có quan hệ liên kết Các MNC thường tận dụng thủ thuật chuyển giá nhằm tối thiểu số thuế phải nộp ở quốc gia nơi các MNC hoạt động
Ví dụ: Công ty A đăng ký hoạt động tại quốc gia áp dụng thuế suất thu nhập doanh
nghiệp 35% chắc chắn sẽ thu được lợi ích khi nó bán hàng thấp hơn giá thị trường cho công ty B (thành viên trong cùng một tập đoàn) đang hoạt động tại một quốc gia có mức thuế 25% Lợi ích của A còn được nhiều hơn khi B đang trong thời kỳ được hưởng các ưu đãi về thuế và đầu tư
Sau đây là ví dụ các trường hợp mà MNC tối thiểu hóa số thuế phải nộp cho các Chính phủ thông qua việc áp đặt các mức giá khác nhau (các trường hợp diễn ra trong điều kiện lý tưởng, không có sự can thiệp của Chính phủ):
Trang 18
Giả sử chúng ta có hai công ty:
- Công ty mẹ - parent company , đặt tại chính quốc - home country, thuế suất thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là 40%
- Công ty con - subsidiary company , đóng tại nước chủ nhà - host country, thuế suất thuế TNDN là 20%
Theo nguyên tắc quản lý thì các ông chủ của công ty mẹ sẽ quyết định về giá cả, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty con và do đó ta sẽ có các tình huống giả định:
- Trường hợp 1: Trả một phần thuế thu nhập doanh nghiệp
Công ty con mua tại nước chủ nhà loại hàng hóa A với giá 100 USD/sản phẩm (sp) Công ty con sau đó không tốn thêm bất kì chi phí nào khác đã bán lại sản phẩm A này cho công ty mẹ tại chính quốc với giá 200 USD /sản phẩm Như vậy, công ty con đã thực hiện “giá chuyển giao” là 200 USD /sản phẩm cho công ty mẹ Công ty con thu được lợi nhuận là 100 USD
Công ty mẹ mua hàng hoá A với giá 200 USD và bán ra thị trường với giá 300 USD ,
có lợi nhuận 100 USD
Mức thuế thu nhập doanh nghiệp công ty con phải đóng tại nước chủ nhà là 100x 20%= 20, công ty mẹ phải đóng tại chính quốc là 100 x 40% = 40, do đó lợi nhuận của từng công ty sau thuế tương ứng là 80 và 60, tạo nên lợi tức toàn bộ MNC là 140 Thuế suất và lợi nhuận tại mỗi quốc gia được thể hiện theo bảng như sau (đơn vị tính
là USD)
Trường hợp 1
Giá hàng hóa
Giá mua từ công ty con
Giá bán ra bên ngoài
- Trường hợp 2: Trả thuế thu nhập doanh nghiệp ít hơn trường hợp trên
Do công ty mẹ có thể chi phối giá bán ra của công ty con nên công ty mẹ sẽ yêu cầu công ty con nâng giá bán lên thành 250 USD /sp
Trong trường hợp 2 ta thấy có sự chuyển dịch lợi nhuận từ công ty mẹ (nơi có thuế suất cao - 40% sang công ty con nơi có thuế suất thấp - 20%) Thuế TNDN mà MNC
Trang 19phải nộp cũng giảm từ 60 xuống 50 và do đó mà lợi nhuận sau thuế của MNC tăng từ
140 lên 150 Như vậy rõ ràng xuất hiện xu hướng càng tăng giá chuyển giao từ công ty con sang công ty mẹ thì lợi nhuận sau thuế của toàn bộ MNC càng trở nên lớn hơn
Trường hợp 2
Giá hàng hóa
Giá mua từ công ty con
Giá bán ra bên ngoài
mẹ không phải đóng bất kỳ khoản thuế TNDN nào Kết quả là thuế TNDN mà MNC phải đóng tiếp tục giảm từ 50 USD xuống còn 40 USD và theo chiều ngược lại, lợi nhuận sau thuế của MNC tăng từ 150 USD lên 160 USD
Ta theo dõi bảng số liệu sau (đơn vị tính là USD)
Trường hợp 3
Giá hàng hóa
Giá mua từ công ty con
Giá bán ra bên ngoài
Trang 20- Trường hợp 4: MNC không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp
Nhưng liệu công ty mẹ sau khi đã chuyển giao toàn bộ lợi nhuận sang công ty con có muốn dừng lại ở đó không ? Câu trả lời là không và công ty mẹ vẫn còn muốn chuyển thêm lợi nhuận sang công ty con bằng cách yêu cầu công ty con nâng giá bán hàng hoá
A lên 500 USD/sp
Với giá chuyển giao 500 USD/sp A thì công ty mẹ có khoản lỗ sau thuế là -120 USD , toàn bộ MNC không phải đóng thuế TNDN do phần thuế mà công ty con đóng cho nước chủ nhà là 80 USD đã được cấn trừ bởi khoản giảm thuế - 80 USD của công ty
mẹ ở chính quốc Vì không phải đóng thuế TNDN nên lợi nhuận sau thuế của MNC đã tăng từ 160 USD lên 200 USD
Theo dõi bảng số liệu sau: (đơn vị tính USD)
Trường hợp 4
Giá hàng hóa
Giá mua từ công ty con
Giá bán ra bên ngoài
- Trường hợp 5: MNC được hoàn trả một phần thuế TNDN
Lợi nhuận đã làm cho các ông chủ của MNC tiếp tục yêu cầu công ty con tăng giá bán chuyển giao lên đến 600 USD/sp A Giờ đây lợi nhuận của toàn bộ MNC lại còn kinh khủng hơn khi nó tăng lên rất cao so với trường hợp đầu tiên MNC giờ đây chẳng những không phải trả đồng thuế nào mà còn được nhận thêm từ các Chính phủ khoản thặng dư về thuế là 20 USD Lợi nhuận tăng vượt mức này liệu có làm cho các ông chủ chủ MNC tiếp tục tăng giá chuyển giao hàng hoá A lên nữa hay không? Câu trả lời là chắc chắn nếu các Chính phủ không đặt ra các rào cản luật pháp để khống chế tham vọng của các MNC
Như vậy là với việc áp đặt một cách có chủ ý nhưng thiếu cơ sở thực tế lên giá chuyển giao của hàng hoá A, chuyển giá giúp cho MNC không những tránh được thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp mà còn thâm lạm vào phần thuế thu nhập doanh nghiệp
mà các Chính phủ thu được từ các doanh nghiệp khác Chúng ta đã làm sáng tỏ trong
ví dụ trên khi chứng minh được rằng lợi nhuận của MNC đã tăng lên xấp xỉ 57% (từ
140 lên 220) đúng bằng phần thuế thất thoát do MNC này gây ra 60-(-20)=80
Trang 21Theo dõi bảng số liệu sau: (đơn vị tính USD)
Trường hợp 5
Giá hàng hóa
Giá mua từ công ty con
Giá bán ra bên ngoài
Đối tượng tác động chính lên chuyển giá là giá cả của hàng hoá và dịch vụ, sở dĩ giá
cả có thể xác định lại trong những giao dịch như thế bởi vì:
- Xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn có quyền quyết định giá cả của một giao dịch Do đó họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hàng hóa, dịch vụ với giá họ mong muốn
- Xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giữa nhóm liên kết nên sự khác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi ích không làm thay đổi lợi ích toàn cục
- Việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liên kết
không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của
họ.
Khi một công ty con của một tập đoàn kinh tế đa quốc gia cung cấp sản phẩm và các dịch vụ của mình cho một công ty khác trong cùng một tập đoàn thì yếu tố chuyển giá thường được đưa vào Giá cả khi thực hiện chuyển giá là một con số được tính toán trên các chứng từ, hoá đơn, hợp đồng mua bán và chúng hoàn toàn không hề dựa trên các chi phí để tạo ra sản phẩm, dịch vụ đó hoặc thậm chí không có liên quan hay dính dáng gì đến các hoạt động cần thiết để tạo ra sản phẩm, dịch vụ đó Trong chuyển giá, các MNC thường không dành thời gian để cải tiến chất lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí sản xuất, giảm giá thành, tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm trong sự cạnh
Trang 22tranh công bằng mà chỉ phù phép trên sổ sách kế toán để thu được những khoản lợi nhuận kếch xù
Chuyển giá thường xuất hiện khi có: Sự chênh lệch về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các quốc gia khác nhau; quy định nhiều mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp với những đối tượng khác nhau trong một quốc gia, chẳng hạn như quy định các mức thuế suất ưu đãi thấp hơn thuế suất phổ thông; các quy định về miễn,
Ví dụ: Công ty B và C đều là công ty con của tập đoàn A Công ty B áp dụng mức
thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 35% Công ty C kinh doanh ở quốc gia đang ưu đãi đầu tư, nên được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20% Khi B cung cấp vật tư cho C với giá thấp hơn giá thị trường giao dịch sòng phẳng lúc này làm cho lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp của B giảm đi, còn lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp của C tăng lên tương ứng Phần lợi nhuận tăng lên ở công ty C chỉ phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 20% Nếu bán đúng giá thị trường thì phần lợi nhuận này nằm ở công ty B và phải chịu thuế suất 35% Như vậy, nếu xét riêng biệt thì công ty B thiệt, còn công ty C được lợi Nhưng xét tổng thể thì tổng thuế phải nộp của cả hai công ty đã giảm đi
Hoạt động chuyển giá không chỉ diễn ra ở các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà chuyển giá còn được thực hiện bởi các công ty
có nhiều công ty con hoạt động trong nước hoặc thậm chí được thực hiện bởi các công
ty là các đơn vị kinh doanh độc lập song chủ sở hữu của chúng lạị có mối quan hệ nhân thân với nhau Vì thế ta cần theo hiểu hoạt động chuyển giá theo nghĩa rộng hơn
Theo đó, hoạt động chuyển giá là một hoạt động do các chủ thể kinh doanh thực hiện
nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hoá, dịch vụ trong các bên có quan hệ liên kết Nếu không phải do quan hệ liên kết thì các bên tham gia giao dịch khó có thể chấp nhận giao dịch diễn ra trong tương quan không bình đẳng Hoạt động chuyển giá không làm cho tổng giá trị hình thành trong xã hội thay đổi mà chỉ là sự chuyển dịch giá trị từ chủ thể này sang chủ thể khác trong phạm vi nội bộ Do không tập trung đồng đều về mặt không gian, hoạt động chuyển giá làm cho lợi ích được gia tăng hay giảm đi tại những
8
Lê Xuân Trường, Học viện Tài chính, tạp chí tài chính online, Chống chuyển giá ở Việt Nam: Tiếp tục hoàn
thiện khung pháp lý và các điều kiện thựchiện,
http://www.tapchitaichinh.vn/Qu%E1%BA%A3ntr%E1%BB%8Bn%E1%BB%99idung/ViewArticleDetail/tabid /56/Key/ViewArticleContent/ArticleId/4114/Default.aspx , [truy cập ngày 12-11-2011]
Trang 23nơi khác nhau tùy vào khả năng mang lại sự tích tụ lớn hơn cho nhóm đơn vị liên kết;
do không phản ánh giá trị thực của giao dịch, vì thế để nhận diện được các bên liên kết
có chuyển giá hay không phải thông qua hệ thống sổ sách, chứng từ phản ánh trong
1.2.2 Phạm vi chuyển giá
Chuyển giá với ý nghĩa chuyển giao giá trị trong quan hệ nội bộ nên hành vi phải được xem xét trong phạm vi giao dịch của các chủ thể liên kết Theo điều 9 Công ước mẫu của OECD về định giá chuyển giao ghi nhận hai doanh nghiệp được xem là liên kết (associated enterprises) khi:
- Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian;
- Hai doanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hay những thực thể (entities) khác tham gia quản lý, điều hành hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc thông qua trung gian Các doanh nghiệp liên kết có thể được hình thành trong cùng một quốc
Vì vậy, chuyển giá không chỉ diễn ra trong các giao dịch quốc tế mà có thể cả trong những giao dịch quốc nội Trên thực tế, chuyển giá thường được quan tâm đánh giá đối với các giao dịch quốc tế hơn do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia được thể hiện rõ hơn Trong khi đó, do phải tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia nên
giá thông qua các giao dịch hàng hoá, dịch vụ, vốn đầu tư qua biên giới sẽ khó bị phát hiện hơn so với các gian lận khác và kể cả trong trường hợp bị phát hiện thì việc xử lý cũng không hề đơn giản bởi chính phủ của mỗi nước thường có thiên hướng bảo vệ doanh nghiệp của mình vì lợi ích quốc gia
Phần lớn các quốc gia hiện nay thường chỉ quy định về chuyển giá đối với giao dịch kinh doanh quốc tế Theo đó, giao dịch kinh doanh quốc tế được xác định là giao dịch giữa hai hay nhiều doanh nghiệp liên kết mà trong số đó có đối tượng tham gia là các
9
Phan Thị Thành Dương, trang tin Đại học Luật TPHCM:Tóm tắt và những điểm mới của Luận án Tiến sĩ Luật
học của NCS Phan Thị Thành Dương , www.hcmulaw.edu.vn/ /tomtatvanhungdiemmoicualuanantspttd.doc
Trang 24doanh nghiệp FDI Sự khác biệt chính yếu nằm ở sự cách biệt về mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp của các quốc gia Một giá trị lợi nhuận chuyển qua giá từ doanh nghiệp liên kết cư trú tại quốc gia có thuế suất cao sang doanh nghiệp liên kết ở quốc gia có thuế suất thấp Ngược lại một lượng chi phí tăng lên qua giá mua sẽ làm giảm thu nhập cục bộ ở quốc gia có thuế suất thuế thu nhập cao Trong hai trường hợp đều cho ra những kết quả tương tự là làm tổng thu nhập sau thuế của toàn bộ nhóm liên kết tăng lên Ở khía cạnh khác, các giao dịch trong nước có thể hưởng lợi từ chế
độ ưu đãi, miễn giảm thuế Thu nhập sẽ lại dịch chuyển từ doanh nghiệp liên kết không được hưởng ưu đãi hoặc ưu đãi với tỉ lệ thấp hơn sang doanh nghiệp liên kết có lợi thế hơn về điều này.12
Ví dụ: Enron là một công ty đa quốc gia hùng mạnh trong lĩnh vực năng lượng Công
ty có hoạt động hơn 40 quốc gia trên thế giới Enron có 7.500 nhân viên làm việc tại tòa nhà 50 tầng ở trung tâm Houston Enron đã phát triển những chiến lược chuyển giá rất đa dạng để chuyển thu nhập tới những nơi có thuế thấp hoặc không có thuế thông qua các công ty con và chi nhánh Với những lời khuyên từ Arthur Andersen, Deloitte
& Touche, Chase Manhattan, Deutsche Bank, Bankers Trust và một số công ty luật, tập đoàn năng lượng khổng lồ của Mỹ Enron đã tạo ra 3.500 chi nhánh và công ty con trong và ngoài nước tại những nơi như Turks & Caicos, Bermuda và Mauritius (những nơi có thuế suất thu nhập doanh nghiệp cực kỳ thấp) Trong đó có 441 công ty và chi nhánh được thành lập ở Cayman Islands, nơi mà lợi nhuận doanh nghiệp không bị đánh bất kỳ loại thuế nào Cụ thể như: Lợi nhuận 1,785 tỷ USD của Enron từ năm
1996 đến năm 2000 thì không nộp thuế Vì khoản lợi nhuận này phần lớn là nằm ở các quốc gia có thuế suất thấp kể trên
1.2.3 Nguyên tắc giá thị trường (Arm’s Length Principle) và phương pháp xác định giá thị trường
Nguyên tắc giá thị trường (APL) là một chuẩn mực quốc tế do OECD đưa ra nhằm
đề cập tới giá cả của hàng hoá và dịch vụ trong một hoạt động thương mại giữa các bên kinh doanh hoàn toàn độc lập, không có sự liên kết Khi các bên kinh doanh này
có trao đổi, mua bán với nhau, thì các điều kiện thương mại và tài chính trong hợp
12
Phan Thị Thành Dương, trang tin Trường Đại học Luật TPHCM: Chống chuyển giá ở Việt Nam,
http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&catid=104:ctc20062&id= 361:ccgovn&Itemid=109 , [truy cập ngày 11-11-2011]
Trang 25đồng kinh tế (giá cả hàng hoá, dịch vụ, các điều khoản về mua bán, xuất khẩu, tín dụng…) chịu sự ảnh hưởng và chi phối bởi các tác động của thị trường Ngược lại, khi các công ty liên kết thực hiện hoạt động chuyển giá, các tác động thị trường không hề ảnh hưởng đến các giao dịch của họ, giá cả trong hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ được định đoạt hoàn toàn dựa vào ý muốn, ý chí của các bên liên kết, sau cho đảm bảo toàn bộ lợi ích lớn nhất cho các bên
Vì vậy để hạn chế sự sai lệch, thiếu khách quan, thiếu công bằng trong các quan hệ của các bên liên kết, theo nguyên tắc giá thị trường, các bên có quan hệ liên kết phải xác định giá cả trong các giao dịch nội bộ phù hợp với giá cả của các bên kinh doanh độc lập có cùng hoặc tương tự các điều kiện kinh doanh, mua bán hàng hoá, dịch vụ Nếu các bên có quan hệ liên kết không áp dụng nguyên tắc xác định giá thị trường khi giao dịch thì cơ quan thuế có quyền ấn định giá cho các giao dịch liên kết, truy thu phần thuế do hành vi gian lận, đưa ra các mức phạt vi phạm cho hành vi trốn tránh nghĩa vụ của các bên liên kết này
Phương pháp xác định giá thị trường:
Các doanh nghiệp liên kết khi thực hiện các giao dịch kinh doanh với nhau, và một khi
có hoạt động chuyển giá xảy ra, giá cả của hàng hoá, dịch vụ thường bị các doanh nghiệp tuỳ nghi định đoạt, nếu đem chúng so sánh với giá của các sản phẩm cùng loại trên thị trường thì có sự cách biệt rõ rệt (quá cao hoặc quá thấp so với sản phẩm cùng loại) nguyên tắc giá thị trường không còn được chú trọng, làm xáo trộn thị trường mua bán của một quốc gia
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định là các doanh nghiệp khi thực hiện các giao dịch kinh doanh với bên liên kết đều phải lựa chọn môt phương pháp xác định giá phù hợp với mình, giá trong các giao dịch này được so sánh với giá của các doanh nghiệp thực hiện các giao dịch độc lập Theo đó, dù là sử dụng phương pháp nào thì việc so sánh cũng phải đưa giao dịch độc lập làm cơ sở quy chiếu về điều kiện tương đương với giao dịch liên kết Việc so sánh này được thực hiện trên cơ sở lựa chọn và phân tích dữ liệu, chứng từ, tài liệu có liên quan đến các giao dịch độc lập, giao dịch liên kết diễn ra trong cùng một khoản thời gian để đảm bảo độ tin cậy, sử dụng cho mục đích kê khai, tính thuế phù hợp với các quy định của pháp luật về kế toán, thuế, thống kê Các giao dịch tương đối dùng để so sánh có thể không hoàn toàn giống giao dịch liên kết nhưng phải đảm bảo là không có các khác biệt trọng yếu Trường hợp có
Trang 26khác biệt trọng yếu, việc so sánh phải dùng biện pháp phân tích và đánh giá các tiêu thức ảnh hưởng dẫn đến khác biệt nhằm loại trừ sự khác biệt mang lại sự tương đồng
Các tiêu thức thường được xem là những yếu tố có thể gây ra sự khác biệt, đó là đặc tính của sản phẩm, chức năng hoạt động của cơ sở kinh doanh, điều kiện của hợp đồng giao dịch và điều kiện kinh tế khi diễn ra giao dịch
Các doanh nghiệp cần phải lập và lưu trữ các thông tin có liên quan đến phương pháp xác định giá thị trường như sau: Chính sách xây dựng giá mua, bán hoặc trao đổi sản phẩm của doanh nghiệp, quy trình kiểm soát, xét duyệt giá, biểu giá bán sản phẩm trên các thị trường tiêu thụ; Các thông tin, tài liệu và chứng từ làm căn cứ chứng minh cho việc lựa chọn và áp dụng phương pháp xác định giá phù hợp nhất trong giao dịch liên kết của doanh nghiệp bao gồm các thông tin, dữ liệu và chứng từ được sử dụng để phân tích so sánh, điều chỉnh khác biệt trọng yếu, bảng tính giá giao dịch theo phương pháp xác định giá mà doanh nghiệp áp dụng và giải thích lý do lựa chọn phương pháp đó; Các thông tin, tài liệu và chứng từ khác mang tính chất tham khảo có liên quan đến việc lựa chọn và áp dụng phương pháp xác định giá trong giao dịch liên kết Các thông tin, tài liệu và chứng từ có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và phương pháp xác định giá thị trường đối với giao dịch liên kết phải được lập tại thời điểm diễn
ra các giao dịch liên kết, được cập nhật, bổ sung trong suốt quá trình thực hiện giao dịch
Các phương pháp xác định giá thị trường phổ biến trên thế giới như là: phương pháp giá tự do có thể so sánh được (Comparable Uncontrolled Price); phương pháp so sánh lợi nhuận (Comparable profit method); phương pháp giá bán lại (Resale Price Method); phương pháp cộng thêm chi phí (Cost Plus Method); phương pháp chiết tách lợi nhuận (Profit Split Method); phương pháp lợi nhuận ròng của nghiệp vụ chuyển
cứ vào các tiêu chí riêng biệt của riêng mình Việc lựa chọn và sử dụng phương pháp nào phụ thuộc vào điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp, các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ của các bên, cũng như kỹ năng nghề nghiệp, khả năng suy luận và phán đoán của các chủ thể kinh doanh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 27
1.2.4 Dấu hiệu chuyển giá
Thật không đơn giản để xác định các chủ thể trong nhóm liên kết có thực hiện việc chuyển giá hay không! Trong quá trình nghiên cứu của mình, người viết đã tìm hiểu được một số dấu hiệu cơ bản về chuyển giá như sau:
Doanh nghiệp FDI nhận “đẩy giá” thông qua các yếu tố đầu vào qua giao dịch với công ty mẹ ở nước ngoài hoặc các công ty liên kết của công ty mẹ để đẩy giá thiết bị, máy móc, vật tư đặc chủng; các tài sản sở hữu trí tuệ dưới dạng tiền phí bản quyền, giấy phép sản xuất nhượng quyền, phí quản lý, phần mềm quản lý, nhãn hiệu thương mại Hoặc các doanh nghiệp này hạ thấp mức giá đầu ra thông qua các hợp đồng xuất khẩu (hàng hoá, dịch vụ) cho công ty mẹ hoặc các đối tác liên kết của công ty mẹ ở nước ngoài thấp hơn giá thị trường Các cơ quan quản lý tại quốc gia sở tại rất khó có được các thông tin về đối tác ký hợp đồng với doanh nghiệp FDI có quan hệ liên kết
để có thể đặt kế hoạch hoặc đề xuất áp dụng các chế tài xác định giá thị trường theo quy định của pháp luật
Các doanh nghiệp này thường kê khai và hạch toán chi phí không chính xác; giá bán hàng hóa, dịch vụ của công ty mẹ ở nước ngoài cho công ty con cao hơn so với việc mua của các đơn vị độc lập khác hoặc ở thị trường khác, dẫn đến chi phí tăng cao; giá hàng hóa dịch vụ xuất khẩu cho nước ngoài, chủ yếu cho công ty mẹ thấp hơn giá vốn… dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh liên tục lỗ, mất vốn nhiều năm, số lỗ lũy
kế quá vốn chủ sở hữu nhưng vẫn tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và để duy trì hoạt động, công ty mẹ phải hỗ trợ vốn hoặc cho dù các doanh nghiệp có đủ vốn
để sản xuất đi chăng nữa, họ vẫn thích vay vốn từ công ty mẹ với lãi suất rất cao để có thể đưa lãi suất vào chi phí, làm tăng giá trị đầu vào
Các doanh nghiệp FDI đã dùng những phương thức khác nhau để trốn tránh các khoản thuế, phí thông qua việc báo lỗ trong hoạt động kinh doanh, sau đó chuyển lợi nhuận
về công ty mẹ ở nước ngoài Phổ biến hơn cả là việc kê giá nguyên liệu đầu vào rất cao hoặc đẩy chi phí quản lý lên cao, đồng thời tìm mọi cách khai tăng chi phí quảng cáo, khuyến mãi nhằm triệt tiêu lợi nhuận Ngoài ra, để có thể “phù phép” lãi thành lỗ thông qua hình thức chuyển giá, doanh nghiệp FDI không thể làm riêng lẻ mà hoạt động trong cùng tập đoàn hoặc liên kết thành từng nhóm Từ đó các đơn vị này tự dàn xếp giá với nhau thông qua các giao dịch liên kết nhằm tìm kiếm thêm lợi nhuận mà không phải bỏ thêm vốn hay mở rộng sản xuất Việc chuyển giá sẽ được thực hiện thông qua hệ thống xây dựng giá, có thể giá bán thấp hơn hoặc cao hơn để thông qua
Trang 28đó tránh thuế, chuyển thuế đến nơi có chính sách thuế thấp hơn Khi giá bán ra nước ngoài thấp hơn, đồng nghĩa với giá đầu vào tại nước ngoài sẽ thấp hơn, lãi ở nước ngoài sẽ có nhưng lỗ tại nước tiếp nhận doanh nghiệp FDI đầu tư sẽ diễn ra Và lẽ ra thuế thu nhập của doanh nghiệp sẽ được nộp tại nước đó nhưng trong trường hợp nói
Ví dụ: Trong năm 2008, doanh thu từ quảng cáo tại Anh của Google đạt 1,6 tỷ bảng,
tương đương với 2,57 tỷ USD và bằng 14% doanh thu toàn cầu của hãng Đáng lẽ ra Google phải đóng khoản thuế TNDN 450 triệu bảng Anh, tương đương với 724 triệu USD Tuy nhiên, trên thực tế công ty này không phải đóng một xu Theo hồ sơ tại cơ quan hải quan Hoàng gia Anh, Google chỉ đóng một khoản khiêm tốn 141.519 bảng một số loại thuế má khác Sở dĩ Google lách luật thành công vì họ chọn đặt trụ sở chính văn phòng châu Âu ở Dublin, Ireland Tất cả doanh thu thu được từ hoạt động quảng cáo tại Anh được rót về Ireland Nhờ đó, Google né được sự kiểm soát của Anh, nơi đánh thuế doanh nghiệp khá cao từ 28 đến 30% Tại Ireland, hóa đơn thuế gửi đến cho Google nhẹ nhàng hơn nhiều, do mức thuế TNDN tại đây chỉ là 12,8 đến 15% Tuy nhiên, ngay cả khi chuyển sang Ireland để chịu thuế, Google vẫn tiếp tục tìm cách tối giản số tiền phải đóng Công ty này sử dụng một thủ thuật vốn được các tập đoàn dược, quảng cáo đa quốc gia vẫn hay dùng là “chuyển giá quốc tế” Theo đó, họ kê khai chi phí lên thật cao tại những nơi đánh thuế cao, và hưởng lợi tại những nơi đánh thuế thấp Những thủ thuật lách thuế này không trái luật Nhờ đó, tại Dublin, trong năm 2008, Google chỉ phải đóng 6,7 triệu bảng Anh tiền thuế, tương đương với
Theo quan sát chung, những dấu hiệu của hành vi chuyển giá có thể nhận biết thông qua kết quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp trong các tập đoàn, công ty đa quốc gia thường xuyên bị thua lỗ, lúc đó có thể xảy ra trường hợp chuyển giá nhằm tính đội chi phí lên để không phát sinh thu nhập chịu thuế; hoặc ngược lại, doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng có giá bán thấp hơn rất nhiều so với mặt hàng có cùng chức năng trên thị trường Mặc dù doanh nghiệp có thể có lãi nhưng đây cũng là dấu hiệu của phương pháp chuyển giá hạ thấp đầu vào để giảm giá thành, giảm giá bán, nhằm tăng lợi nhuận ở các quốc gia có thuế suất thấp
15
Báo công thương, Báo động việc doanh nghiệp FDI chuyển giá, trốn thuế, luat/20101214081256680/bao-dong-viec-doanh-nghiep-fdi-chuyen-gia-tron-thue.htm , [truy cập ngày 12-11- 2011]
http://www.vcci.com.vn/phap-16
Huỳnh Thiên Phú, Chuyển giá của các công ty đa quốc gia trong giai đoạn hội nhập quốc tế, mục Các trường
Trang 291.3 Các động cơ thúc đẩy doanh nghiệp FDI chuyển giá
1.3.1 Các động cơ thúc đẩy bên ngoài
Khi thực hiện các giao dịch kinh doanh xuyên quốc gia, sự khác biệt về môi trường đầu tư, chính sách thuế, pháp luật…sẽ trở thành động cơ để các doanh nghiệp FDI tối thiểu hóa chi phí bằng thủ thuật chuyển giá dưới sự chỉ định của công ty mẹ
Sự khác biệt về chính sách thuế, pháp luật, môi trường đầu tư của các nước: các
công ty mẹ ở nước ngoài thường chỉ đạo công ty con ở những quốc gia có mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao bán hàng với mức giá thấp cho những công ty con thành viên khác ở những quốc gia có mức thuế thấp Họ sẽ định chi phí đầu vào thấp ở những nước có thuế suất thấp để tăng lợi nhuận, những công ty ở nơi có mức thuế suất cao, do bán hàng với giá rẻ, tăng thêm các khoản chi phí, phát sinh lỗ, thu nhập chịu thuế rất ít hoặc hầu như không có Tương tự đối với hàng hoá xuất khẩu, giá xuất khẩu được định quá thấp, làm giảm doanh thu và kết quả số thuế phải nộp của môt bên cũng giảm theo, nhưng nghĩa vụ thuế của phía bên nhập khẩu có khả năng đã được tăng lên
do giá mua đầu được xác định thấp, số thuế nhập khẩu không nhiều, hình thành chi phí thấp, hệ quả là thu nhập trước thuế tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng sẽ tăng Các thành viên trong các tập đoàn thường chuyển các nghĩa vụ về thuế nhau thông qua giá
cả mua bán của hai bên Việc xác định giá giao dịch giữa các thành viên trong MNC không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của
họ Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết cao sang
nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại
Ví dụ: Các thiên đường thuế trên thế giới như Belize - không có thuế TNDN,
Bermuda - không đánh thuế trên thu nhập của nước ngoài chuyển về, Hongkong - áp dụng mức thuế TNDN là 16.5% (2009), Quần đảo Virgin thuộc Hoa Kỳ miễn 90% thuế thu nhập từ Mỹ, Liechtenstein - mức thuế tối đa là 18%, ngoài ra còn có công quốc Luxembourg, Singapore, Thụy sỹ, Quần đảo Cayman, Bang Delaware - Mỹ… Chính việc mở chi nhánh hay thậm chí là đặt trụ sở chính tại các “thiên đường thuế” này đã tạo một bức bình phong hợp pháp cho các MNC tiến hành chuyển lợi nhuận của các hoạt động đầu tư tại các quốc gia có mức thuế doanh nghiệp cao về đây để tiết kiệm được một khoản thuế lớn phải nộp
Trang 30 Tỷ giá của đồng tiền: Một khi các nhà đầu tư dự đoán có sự biến đổi tỷ giá trong
tương lai của một quốc gia Để bảo đảm vốn đầu tư theo nguyên tệ, các MNC chắc chắn sẽ đầu tư vào một quốc gia nếu họ dự đoán được rằng trong tương lai đồng tiền của quốc gia đó sẽ mạnh hơn và họ sẽ rút vốn đầu tư ngay lập tức khi dự đoán đồng tiền của quốc gia đó sẽ yếu đi Một phương pháp được thực hiện để di chuyển nguồn tiền ra khỏi một quốc gia là việc định giá cao hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho môt bên trong cùng một tập đoàn, bên có quan hệ liên kết đang hoạt động ở một quốc gia
do sự biến động có lợi về tỷ giá
Ví dụ: Giả sử một MNC đầu tư vào Việt Nam vào tháng 12, năm 2011 với số tiền là
100 triệu USD Tỷ giá VND/USD là 21000 VND được 1USD, số tiền mà MNC bỏ ra
là 2100 tỷ VND Giả sử sau 5 năm hoạt động, MNC rút vốn khỏi Việt Nam Có 3 khả năng sẽ xảy ra đối với lợi nhuận do việc chênh lệch về tỷ giá Thứ 1, tỷ giá nếu vẫn giữ nguyên như lúc ban đầu, MNC sẽ bảo toàn số vốn đầu tư ban đầu là 100 triệu USD Thứ 2, nếu VND tăng giá lên 10%, số tiền mà MNC thu được là 110 triệu USD Thứ
3, nếu VND xuống giá 10%, số tiền MNC mà MNC thu về được là 90 triệu USD, bị lỗ
10 triệu USD
Mặc khác, với mục tiêu giảm rủi ro về tỷ giá, các MNC sẽ thanh toán những khoản nợ sớm nếu họ dự báo rằng đồng tiền mà quốc gia họ đầu tư sẽ mất giá trong tương lai Ta còn thấy rằng, các MNC sẽ tiến hành chuyển giá ở các quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao
để bảo toàn số vốn đầu tư và lợi nhuận trong điều kiện đồng tiền quốc gia đang đầu tư
bị mất giá Ngoài ra, nếu quốc gia tiếp nhận đầu tư, đang có sự bất ổn về chính trị và
xã hội, để hạn chế các rủi ro trong kinh doanh, cũng như đảm bảo nguồn vốn của mình, các MNC sẽ sử dụng thủ thuật chuyển giá như một chiêu bài để thu được lợi nhuận càng sớm càng tốt
Trang 311.3.2 Các động cơ thúc đẩy bên trong
Bên cạnh các động cơ bên ngoài thúc đẩy MNC chuyển giá mà người viết vừa đề cập, còn có các động cơ thúc đẩy bên trong nội bộ các MNC làm cho hành vi chuyển giá trở nên tinh vi và phức tạp hơn Các động cơ đó là:
Đảm bảo yếu tố tối đa hoá lợi nhuận trong quá trình kinh doanh: Trong một số
trường hợp khi MNC phạm phải các sai lầm trong kế hoạch kinh doanh, sai lầm trong việc nghiên cứu và đưa sản phẩm mới ra thị trường, các chi phí quảng cáo, quảng bá sản phẩm quá cao và hậu quả là tình trạng thua lỗ của MNC tại chính quốc hay của các công ty thành viên ở các quốc gia khác Vì thế, để có một hình ảnh đẹp về tình hình tài chính trước các cổ đông và các bên hữu quan khác, thì chuyển giá là một giải pháp để
có thể thực hiện được ý đồ trên Chuyển giá giúp các MNC chia sẽ việc thua lỗ với các thành viên, nhờ vậy các khoản thuế phải nộp giảm xuống và tình hình kinh doanh trở
Nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần ở nước tiếp nhận đầu tư, các
doanh nghiệp FDI thực hiện chiến lược bán phá giá, sử dụng các hình thức quảng cáo, khuyến mãi rầm rộ để giành thị phần với các doanh nghiệp nội địa, đánh bật được các đối thủ của mình Nhưng việc quảng cáo và khuyến mại trong thời gian dài sẽ dẫn đến tình trạng thua lỗ Để tránh tình trạng này, với tiềm lực tài chính hùng hậu từ công ty
mẹ, các doanh nghiệp thực hiện hành vi chuyển giá để kéo dài tình trạng thua lỗ Tồi tệ hơn là đẩy các đối tác còn lại trong liên doanh của nước sở tại ra khỏi các hoạt động kinh doanh và chiếm toàn bộ quyền kiểm soát cũng như sở hữu công ty.19 Sau khi chiếm lĩnh được thị trường, các doanh nghiệp FDI thực hiện nâng giá sản phẩm để bù đắp cho phần lỗ lúc trước Tình trạng này thường thấy ở các nước đang phát triển, khi
mà trình độ quản lý của các cơ quan quản lý còn nhiều yếu kém Lợi dụng các đặc quyền, ưu đãi mà các quốc gia đưa ra trong chính sách kêu gọi đầu tư, MNC xem công
ty con đặt tại các quốc gia này như là nơi tập trung toàn bộ lợi nhuận của MNC Ngoài
ra, các MNC còn thực hiện việc chuyển giá nhằm giảm thiểu rủi ro khi giao dịch các sản phẩm và dịch vụ có tính đặc thù cao, độc quyền và tính bảo mật cao như trong các ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, y dược…
18
Huỳnh Thiên Phú, Chuyển giá của các công ty đa quốc gia trong giai đoạn hội nhập quốc tế, mục Các động
cơ thúc đẩy MNC chuyển giá, Luận văn Thạc sỹ, Học viện tài chính ngân hàng, 2009, tr 14
Trang 321.4 Các tác động của chuyển giá
1.4.1 Tác động đến nền kinh tế của quốc gia
Cả quốc gia tiếp nhận nguồn vốn đầu tư và quốc gia xuất khẩu nguồn vốn đầu tư là những chủ thể đầu tiên bị hành vi chuyển giá tác động Nhằm mục đích đánh giá toàn diện vấn đề, khi xem xét tác động của chuyển giá đến nền kinh tế của quốc gia, ta nên xem xét cả mặt tích cực và tiêu cực
Đối với nước tiếp nhận vốn đầu tư:
- Mặt tích cực: Các quốc gia tiếp nhận nguồn vốn đầu tư với mức thuế suất thấp sẽ thu
được nhiều lợi ích hơn, do lợi nhuận phần lớn đã chuyển về các quốc gia này
- Mặt tiêu cực: Cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận vốn sẽ bị đột ngột
thay đổi do việc thực hiện hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI, ban đầu các nguồn vốn này chảy vào nhanh mạnh, nhưng sau đó lại có xu hướng chảy ra trong thời gian ngắn Hậu quả là tạo ra một bức tranh kinh tế bị sai lệch ở các quốc gia này trong các thời kì khác nhau Đối với các quốc gia được coi là thiên đường về thuế, nhũng quốc gia sẽ được hưởng lợi từ hoạt động chuyển giá trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, các nước này phải đương đầu với các khó khăn tài chính khi các doanh nghiệp FDI thoái vốn do các thu nhập không bền vững trước đây trong ngắn hạn không phản ánh chính xác sức mạnh của nền kinh tế.20 Với việc thực hiện hành vi chuyển giá và thao túng thị trường, Chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư sẽ khó khăn hơn trong việc hoạch định chính sách điều tiết nền kinh tế vĩ mô và khó khăn trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước phát triển, hàng năm nhà nước còn phải cân đối một lượng ngoại tệ không nhỏ cho việc nhập về những nguyên liệu, máy móc cao hơn giá trị thực của nó Hoạt động chuyển giá sẽ phá vỡ cán cân thanh toán quốc
tế và các kế hoạch kinh tế của các quốc gia tiếp nhận đầu tư, chính vì thế nếu không kiểm soát tốt sẽ dễ dẫn tới lệ thuộc vào nền kinh tế của chính quốc, về lâu dài có thể dẫn tới lệ thuộc về chính trị
Đối với quốc gia xuất khẩu vốn đầu tư:
- Mặt tiêu cực: Chính phủ của những nước xuất khẩu vốn có thể gặp khó khăn về vốn
đầu tư trong nước do nguồn vốn của khu vực tư nhân có thiên hướng chảy đến những nước tiếp nhận đầu tư có mức thuế thấp hơn Nếu thuế suất ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư thấp hơn thuế suất ở chính quốc, sẽ làm cho các nước xuất khẩu đầu tư bị mất
20
Huỳnh Thiên Phú, Chuyển giá của các công ty đa quốc gia trong giai đoạn hội nhập quốc tế, mục Các tác
Trang 33cân đối trong kế hoạch thu thuế của nước này do việc thất thu một khoản thu nhập từ thuế Mục tiêu quản lý nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này sẽ gặp một số khó khăn nhất định do việc các dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của chính phủ
- Mặt tích cực: Nước xuất khẩu vốn sẽ thu được nhiều ngoại tệ hơn do lợi nhuận từ các
công ty con chuyển về công ty mẹ tại chính quốc, sự hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn về hình thức thì cũng tác động tốt hơn đến hiệu quả kinh tế xã hội: đóng góp nhiều thuế hơn cho nhà nước, tác động tốt tới tăng trưởng GNP của nước xuất khẩu vốn đầu
tư, chính phủ ở những nơi này không phải lo lắng môi trường trong nước bị ô nhiễm
do các hoạt động đầu tư gây ra Đặc biệt là ở các quốc gia có mức thuế suất cao, cơ bản còn được hưởng những lợi nhuận do chênh lệch về thuế suất và những ưu đãi về thuế mà chính phủ ở nước ngoài dành cho các nhà đầu tư của quốc gia mình
1.4.2 Tác động đến các chủ thể kinh tế khác
Mục tiêu của chuyển giá là nhằm tối đa hoá lợi nhuận của cả một tập đoàn, công ty đa quốc gia hay nhóm công ty có mối quan hệ liên kết trên cơ sở giảm thiểu nghĩa vụ về thuế, do đó tác động của chuyển giá được xem xét trên giác độ của từng bên trong chuỗi doanh nghiệp liên kết và các doanh nghiệp không nằm trong chuỗi liên kết
Đối với bản thân công ty đa quốc gia, tập đoàn kinh tế:
- Mặt tích cực: Chuyển giá đảm bảo cho các MNC thu được các lợi ích như giảm thiểu
nghĩa vụ thuế, tối đa hoá lợi nhuận do sử dụng các công ty con, các bên liên kết tại những nơi có thuế thấp hoặc đang được ưu đãi thuế Chuyển giá cũng cho phép họ dễ dàng chuyển vốn đầu tư hoặc lợi nhuận về nước hoặc chuyển ra nước ngoài, ngay cả trường hợp bên liên kết do họ nắm giữ vốn đầu tư hoạt động kinh doanh lỗ liên tục Thực hiện chuyển giá, các MNC sẽ bảo toàn được nguồn vốn đầu tư, nhanh chóng có được dòng ngân lưu vốn cho các cơ hội đầu tư khác Chuyển giá giúp các MNC nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ở các nước đang đầu tư, nhất là trong những trường hợp các MNC kết hợp việc chuyển giá và các chính sách tài trợ quảng bá cho công ty con Thêm vào đó, những trường hợp góp vốn đầu tư bằng thiết bị máy móc, các công ty đầu não cũng dễ dàng thay đổi, hiện đại hoá công nghệ thông qua việc bán thanh lý các thiết bị lạc hậu, công nghệ lỗi thời với giá cao cho doanh nghiệp trong cùng tập
Trang 34đoàn hoặc doanh nghiệp là cơ sở đầu tư của mình tại nước khác21 Chuyển giá được tiến hành và thông qua bên doanh nghiệp liên kết ở nước ngoài, do đó nó cũng cho phép công ty đầu não giảm thiểu được các rủi ro về thị trường tiêu thụ sản phẩm, các rủi ro trong nghiên cứu sản phẩm, cũng như rủi ro về tỷ giá…
- Mặt tiêu cực: Nếu bị các quốc gia tiếp nhận đầu tư phát hiện và thực hiện các biện
pháp chế tài thì các công ty con của MNC phải chịu một khoản phạt rất lớn, có thể bị rút giấy phép kinh doanh tại các quốc gia đó, đặc biệt hành vi này ảnh hưởng nghiêm trọng trên thương hiệu quốc tế của các MNC dẫn tới sự chú ý nhiều và chặt chẽ hơn của các cơ quan thuế ở những nước MNC đang đầu tư và sẽ đầu tư sau đó
Đối với doanh nghiêp là công ty con của các công ty đa quốc gia tại nước tiếp nhận đầu tư:
Thực hiện hoạt động chuyển giá Lợi nhuận phần lớn đã chuyển ra nước ngoài tập trung về công ty mẹ Các công ty con trong tình trạng lỗ liên tục trong nhiều năm, nhưng vẫn mở rộng việc sản xuất kinh doanh, tất yếu sẽ thu hút sự chú ý từ phía các cơ quan quản lý tại quốc gia sở tại, các cơ quan này thường xuyên kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh của các công ty này, nếu bị phát hiện các công ty này phải chịu các biện pháp xử lý, hoạt động kinh doanh vì thế có thể bị ảnh hưởng, đặc biệt là đối với người lao động trong công ty
Ta thấy rằng, các công ty này dù có lâm vào tình trạng lỗ nhiều như thế nào, thì qua việc chuyển giá, công ty mẹ vẫn được hưởng lợi lớn, thu hồi vốn nhanh chóng, thậm chí thu hồi vốn trong giai đoạn các công ty con báo cáo lỗ.22 Mặt khác, các bên liên doanh với các doanh nghiệp FDI này có nguy cơ phải chuyển giao toàn bộ hoạt động kinh doanh cho nhà đầu tư nước ngoài, vì không đủ sức để chia sẻ cùng đối tác các khoản lỗ, công ty mẹ ở nước ngoài đã thành công trong việc thôn tính đối tác của mình
21
Tạp chí tài chính online, Một số điểm cần bàn về chống chuyển giá,
http://www.tapchitaichinh.vn/Qu%E1%BA%A3ntr%E1%BB%8Bn%E1%BB%99idung/ViewArticleDetail/tabid /56/Key/ViewArticleContent/ArticleId/6748/Default.aspx [truy cập ngày 15-11-2011]
22
Tạp chí tài chính online, Một số điểm cần bàn về chống chuyển giá,
http://www.tapchitaichinh.vn/Qu%E1%BA%A3ntr%E1%BB%8Bn%E1%BB%99idung/ViewArticleDetail/tabid /56/Key/ViewArticleContent/ArticleId/6748/Default.aspx [truy cập ngày 15-11-2011]
Trang 35 Đối với các doanh nghiệp kinh doanh khác (không thực hiện hoạt động chuyển giá):
Với các doanh nghiệp làm ăn chân chính, vô hình chung họ bị đặt vào một môi trường kinh doanh không lành mạnh với các chủ thể kinh tế thực hiện hoạt động chuyển giá Các doanh nghiệp chuyển giá bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ với giá rẻ ra bên ngoài, đặt các doanh nghiêp khác khó lòng mà cạnh tranh nổi, nếu bán giá rẻ hơn các doanh nghiệp chuyển giá, họ sẽ rơi vào tình trạng lỗ thật sự Với việc thu lợi từ hoạt động chuyển giá, các doanh nghiệp FDI với chính sách chiếm lĩnh thị trường, thu mua nguyên liệu đầu vào với giá cao, các doanh nghiệp còn lại không thể thu mua nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh doanh gặp nhiều bất lợi
1.5 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại một số quốc gia trên thế giới
Chuyển giá thực sự trở thành một vấn đề toàn cầu, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, xã hội nhiều quốc gia trên thế giới, các quốc gia đã làm gì để khắc phục và hạn chế tối đa tình trạng này, trong phần cuối cùng của chương, người viết xin giới
thiệu những kinh nghiệm chống chuyển giá của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới
1.5.1 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Mỹ
Hoạt động chuyển giá ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp hơn, ngay cả các quốc gia
có nền kinh tế mạnh và bề dày lịch sử kinh nghiệm quản lý thì cũng phải đương đầu với hoạt động chuyển giá diễn ra từng ngày trong nền kinh tế Nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, có kinh nghiệm quản lý kinh tế cũng như pháp luật về kinh tế tiến bộ so với các quốc gia phát triển khác nhưng Mỹ cũng không là quốc gia ngoại lệ trong trường hợp này Theo báo cáo của Cơ quan thuế nội địa Mỹ (IRS), từ năm 1998 tới 2005, khoảng 2/3 các công ty Mỹ và khoảng 68% các công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Mỹ trốn thuế TNDN thông qua việc chuyển một lượng lớn thu nhập ra nước ngoài để tránh một khoản tiền thuế lên đến 8 tỷ USD mỗi năm Pháp luật của Mỹ quy định là phần thu nhập được tạo ra trên lãnh thổ của Mỹ thì phải nộp thuế thu nhập cho dù là công ty đa quốc gia này có thuộc quyền sở hữu của Mỹ hay không Các công ty này không được né tránh nộp thuế thu nhập cho phần thu nhập phát sinh trên đất Mỹ bằng cách chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thông qua hành vi chuyển giá hay chuyển dịch hoạt động đầu tư vào các quốc gia có thuế suất thấp
Cơ quan thuế của Mỹ IRS (Internal Revennue Service) đã khảo sát và đưa ra được bằng chứng là các công ty đa quốc gia đang hoạt động trên đất Mỹ mà không thuộc
Trang 36quyền sở hữu của Mỹ thì hầu hết nộp thuế ít hơn so với các công ty nội địa Các kẽ hở
về luật pháp cũng được các công ty đa quốc gia thuộc sở hữu của Mỹ lợi dụng để giảm khoản thuế phải nộp và dần tạo nên xu hướng chuyển dịch đầu tư của các công ty Mỹ
ra ngoài nước Mỹ Trong thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của các MNC rất rộng lớn và phức tạp, các nghiệp vụ mua bán diễn ra với khối lượng lớn và độ phức tạp cao,
vì vậy mà tiếp cận các nghiệp vụ nào có chứa đựng hành vi chuyển giá là rất khó Tương tự rất khó xác định lợi nhuận nào là tạo ra trên đất Mỹ và lợi nhuận nào là tạo
ra ngoài đất Mỹ một cách chính xác Do đặc điểm là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của Mỹ (CIT) so với các quốc gia khác là rất cao (40%) nên các MNC có xu hướng là chuyển lợi nhuận ra nước ngoài vì họ cho rằng thuế suất tại Mỹ cao và chính phủ không xem xét hết các chi phí của họ
Một số ví dụ dẫn chứng các MNC đã tối thiểu hóa số thuế phải nộp ở Mỹ như sau: Vào năm 1987, Công ty IBM trình báo cáo tài chính hàng năm trước đại hội cổ đông thì hãng này cho rằng 1/3 lợi nhuận kiếm được trong năm là từ hoạt động kinh doanh trên đất Mỹ Tuy nhiên khi kê khai với cơ quan thuế thì IBM đã kê khai rất nhiều chi phí R&D liên quan đến thị trường Mỹ vì vậy mà phần lợi nhuận kiếm được trên thị trường
Mỹ gần như bằng không và kết quả là IBM tránh được nghĩa vụ nộp thuế cho chính phủ Mỹ mặt dù doanh thu thuần của IBM vào năm 1987 là 25 tỷ USD Một ví dụ khác
là Tập đoàn Intel đã thắng một vụ kiện liên quan đến thuế khi bị cáo buộc là đã che giấu hàng triệu USD lợi nhuận lợi nhuận từ nguồn doanh thu bán các vi mạch sản xuất tại Mỹ nhưng được khai báo với cơ quan thuế là sản xuất tại Nhật Bản Do bất cập trong hiệp ước thuế quan giữa Mỹ và Nhật Bản mà cả hai quốc gia này bị thất thu thuế
và tập đoàn Intel đã tránh được khoảng thuế phải nộp Một cách tránh thuế đánh vào lợi nhuận phổ biến là các công ty sẽ đầu tư mở chi nhánh tại Puerto Rico Sau đó các công ty này sẽ chuyển các tài sản có giá trị như: bí quyết thương mại, bằng sáng chế và các hoạt động R&D đến Puerto Rico Các MNC sẽ khai báo phần lớn lợi nhuận kiếm được là tại Puerto Rico và với thuế suất thấp tại đây thì các MNC sẽ tối thiểu được thuế phải nộp
Nhằm chống lại hiện tượng trên, Mỹ đã có một số biện pháp chống chuyển giá tương đối nghiêm ngặt Đạo luật cơ bản và đầy đủ nhất về việc chống chuyển giá Mỹ ban hành đạo luật IRC Section 482 Đạo luật này quy định nguyên tắc căn bản giá thị trường là cơ sở cho thực hiện việc xác định giá mua bán hàng hoá dịch vụ giữa các MNC với nhau nhưng đồng thời khuyến khích cho việc vận dụng phương pháp định giá chuyển giao trên cơ sở chiết tách lợi nhuận Ở Mỹ, việc lưu trữ và nộp trình các tài
Trang 37liệu hồ sơ liên quan đến giá bán, các giấy tờ, hợp đồng mua, bán, chuyển nhượng và các chứng từ khác không được quy định bởi luật Nhưng trên thực tế, các công ty cần lưu giữ các tài liệu đó liên tục trong nhiều năm liền để phục vụ cho việc điều tra, xem xét khi có yêu cầu Kể từ khi có yêu cầu, công ty phải gửi đầy đủ tài liệu đến IRS trong
số liệu cụ thể, một bản mô tả các giao dịch có kiểm soát và tất cả các số liệu nội bộ được dùng để phân tích các giao dịch đó, một bản mô tả phương pháp định giá và lí do tại sao phương pháp đó lại được sử dụng, một bản mô tả phương pháp thay thế và giải thích tại sao nó lại được sử dụng, một bản giải thích tất cả các phân tích, một bản mô
tả về hệ thống lưu giữ các số liệu Một bản mô tả những thực tế ảnh hưởng đến việc định giá so sánh, cơ sỡ để hình thành phương pháp tính giá…Ở Mỹ, các thỏa thuận đơn phương, song phương hoặc đa phương APA (thoả thuận xác định giá trước) được thực hiện dưới sự điều chỉnh của Revenue Procedure 2006-9 (Pev.Proc.2006-9) được sửa đổi 12/2005
Việc xuất trình đầy đủ các chứng từ có ý nghĩa lớn trong việc xác định đâu là phương pháp tốt nhất sẽ được sử dụng để xem xét hành vi chuyển giá Mỹ không có một chương trình chính thức trong việc ưu tiên xem xét người nộp thuế ở góc độ một ngành công nghiệp cụ thể mà tổ chức dưới góc độ 5 nhóm ngành chính Gần đây, hầu hết việc kiểm toán chuyển giá xuất hiện ở 2 trong 5 nhóm ngành này: thông tin liên lạc, công nghệ và truyền thông, và nhóm ngành bán lẻ, thực phẩm, dược và nhóm ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe Mỹ liên tục nâng cao số lượng và trình độ của đội ngũ nhân viên thuế vụ nhằm phục vụ cho việc điều tra chống chuyển giá được thực hiện chính xác và chặt chẽ hơn Năm 2009, cơ quan thuế tuyển chọn thêm 1.200 nhân viên và dự định thêm 800 nhân viên trong năm 2010 để thực hiện rà soát, giám sát giá chuyển nhượng
Ví dụ: Cục thuế Mỹ đã xem xét chính sách giá chuyển nhượng của công ty dược phẩm
toàn cầu, GlaxoSmithKline, trong báo cáo của cục thuế Mỹ cho thấy rằng tỷ lệ công
ty chi trả cho dịch vụ marketing mà chi nhánh của nó tại Mỹ đã cung cấp từ năm 1989 đến 1996 thì quá thấp, và vì vậy đã làm giảm bớt thu nhập của Glaxo và tránh được một khoản thuế khoảng 5,2 tỷ USD Sau 17 năm kiện tụng và đàm phán, Glaxo giải quyết tranh chấp bằng cách chi trả 3,4 tỷ USD Cơ quan thuế Hoa Kỳ đề nghị xem xét
23
Huỳnh Thiên Phú, Chuyển giá của các công ty đa quốc gia trong giai đoạn hội nhập quốc tế, mục Kinh
nghiệm chống chuyển giá của Mỹ, Luận văn Thạc sỹ, Học viện tài chính ngân hàng, 2009, tr 23
Trang 38hành vi chuyển giá của một số tập đoàn lớn như Home Depot, Limited Brands Inc., Kmart Corp., Gap Inc., Sherwin-Williams Inc., Tyson Foods Inc., Circuit City Stores Inc., Stanley Works, Staples Inc., and Burger King Corp (Wall Street Journal, 9/8/2002) Họ cũng kiện những công ty như Shell, Mobil Oil, Oxy USA, Chevron, Conoco, BP Amoco, Texaco, Pennzoil, UPRC, Sun Oil, Kerr-McGee, và Exxon vì được cho là giá bán năng lượng dưới mức giá cơ bản của thị trường và phải hoàn trả số tiền thuế là 400 triệu USD.24
1.5.2 Kinh nghiệm chống chuyển giá tại Trung Quốc
Trước năm 2007, Trung Quốc duy trì song song hai hệ thống thuế, một cho doanh nghiệp trong nước và một cho các doanh nghiệp nước ngoài Một cuộc khảo sát năm
2005 cho thấy hai hệ thống thuế tạo ra một sự chênh lệch về thuế suất có hiệu lực gần 10% giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước, điều này được các doanh nghiệp nước ngoài ưa chuộng Tuy nhiên, ngày 16 tháng 3 năm 2007, Quốc hội đã ban hành Luật TNDN mới đã thống nhất một mức thế suất chung cho hai hệ thống này Thuế TNDN
có hiệu lực từ ngày 01/01/2008, áp đặt một mức thuế suất thống nhất 25% cho tất cả các doanh nghiệp, trong nước và nước ngoài, nó cũng chú trọng đáng kể về định giá chuyển giao, khuyến khích các giám sát chặt chẽ hơn các giao dịch của các bên liên kết Trung Quốc cũng gia tăng củng cố hệ thống thuế Pháp luật điều chỉnh chuyển giá hiện nay Trung Quốc đang áp dụng các quy định chủ yếu theo các luật sau: Luật Thuế TNDN (2007); Thực hiện Quy phạm pháp luật thuế TNDN (2007); Thông tư Guoshuifa số 2 (2009) Mục đích của thuế TNDN là để mang lại nhiều quy định về giá chuyển giao cho Trung Quốc phù hợp với các quy tắc áp dụng trong các nền kinh tế phát triển khác trên thế giới Nó cung cấp cho cơ quan thuế cơ sở để điều chỉnh thu nhập chịu thuế của người nộp thuế khi họ thực hiện các giao dịch với các bên liên kết chưa đúng theo hướng dẫn của “nguyên tắc ALP” Luật thuế này cũng yêu cầu những người nộp thuế có liên quan đến giao dịch với các bên liên kết phải gửi tài liệu trình bày rõ về giao dịch với bên liên kết đó cùng với tờ khai thuế hàng năm của họ Người nộp thuế cũng được yêu cầu nộp các tài liệu liên quan về giao dịch với các bên liên kết như giá cả, tiêu chuẩn xác định chi phí, phương pháp tính toán và giải thích khi được kiểm toán Cụ thể Luật thuế TNDN qui định như sau: Các doanh nghiệp có các giao dịch tài sản hữu hình liên quan đến các bên liên kết có giá trị hằng năm trên 200 triệu NDT hoặc có các giao dịch giữa các bên liên kết trên 40 triệu NDT phải chuẩn bị tài
24
Huỳnh Thiên Phú, Chuyển giá của các công ty đa quốc gia trong giai đoạn hội nhập quốc tế, mục Các trường
hợp chuyển giá tiêu biểu trên thế giới, Luận văn Thạc sỹ, Học viện tài chính ngân hàng, 2009, tr 29-30
Trang 39liệu đương thời giải trình rõ Các qui định chống chuyển giá của Trung Quốc cũng xây dựng dựa trên cở sở hướng dẫn của OECD
Để xác định mục tiêu cho việc kiểm toán, điều tra giá chuyển nhượng dễ dàng hơn, điều 29 của Guoshuifa số 2 (2009) vạch ra 7 tiêu chuẩn được sử dụng 3 tiêu chuẩn chính trong 7 tiêu chuẩn đó là : Người đóng thuế có lợi nhuận thấp hoặc bị lỗ liên tiếp trong 1 thời kì dài hoặc có các khoản thu nhập không phù hợp; người nộp thuế có một khối lượng lớn các giao dịch với các công ty đặt tại thiên đường thuế; doanh nghiệp không tuân thủ báo cáo các giao dịch với bên liên hết với các cơ quan Thuế Đặc biệt ngoài việc có lợi nhuận thấp hoặc lỗ, SAT còn tập trung vào các công ty chi trả số lượng lớn tiền bản quyền cho các bên liên quan ở nước ngoài hoặc một tỷ lệ lớn các hoạt động kinh doanh chính của họ là giao dịch với các bên liên quan Trung Quốc đồng thời cũng đưa ra các biện pháp xử phạt cụ thể đối với hành vi chuyển giá Điều 60-73 của Luật quản lý thuế quy định rằng hành vi vi phạm luật có thể bị phạt tiền, và những vi phạm nghiêm trọng như trốn thuế, gian lận thuế có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Luật thuế TNDN Trung Quốc cũng nêu rõ, từ sau ngày 01 tháng 1 năm
2008 các khoản thuế bị trả thiếu liên quan đến giao dịch giữa các bên liên kết sẽ phải chịu một khoản lãi phí Khoản lãi suất này được tính bằng lãi suất cho vay cơ bản NDT của Ngân hàng Nhân Dân Trung Hoa cùng kì cộng 5% phí Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp cung cấp được các tài liệu và thông tin liên quan khác theo quy định này thì 5% phí tăng thêm này có thể được giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn toàn
Trung Quốc cũng khuyến cáo những hậu quả bất lợi mà những người không tuân thủ quy định giá chuyển nhượng có thể gặp Đó là người nộp thuế có thể sẽ bị đưa vào một trong những mục tiêu đầu tiên cho một cuộc thanh tra về vấn đề định giá chuyển giao Thông thường, người nộp thuế không được chấp nhận tham gia vào các thỏa thuận giá trước Trung Quốc cũng đã nới lỏng các quy định để tham gia vào các thỏa thuận giá trước Do đó các doanh nghiệp sẽ được tham gia nhiều hơn Để hội đủ điều kiện để trở thành ứng viên cho APA các công ty phải có tổng giá trị các giao dịch hằng năm với các bên liên quan lớn hơn 40 triệu Nhân Dân Tệ, đã chuẩn bị hoặc đã nộp hồ sơ hàng năm và nộp hồ sơ tài liệu đương thời theo quy định của pháp luật Đồng thời công ty
sẽ không tốn lệ phí khi nộp đơn cho APA Trong năm 2009, cơ quan Thuế Trung Quốc
đã đặc biệt tập trung vào các chủ thể, công ty có giao dịch với các khu vực có luật thuế thấp hoặc có giao dịch với các thiên đường thuế Ngoài ra, các phòng thuế tại các thành phố thuộc Bắc Kinh và Thượng Hải và tại các tỉnh ven biển cũng đã rất tích cực trong việc thực hiện hoạt động kiểm toán giá chuyển nhượng, các giao dịch liên quan đến tiền bản quyền và phí dịch vụ lao động cũng được kiếm soát chặt chẽ (kết quả
Trang 40khảo sát chuyển giá toàn cầu, Ernst & Young, 2009) Cũng theo nguồn này công bố, trong những năm qua, cơ quan thuế đã tập trung vào các ngành may mặc, điện tử và viễn thông, thực phẩm và nước giải khát, bán lẻ, công nghiệp, ô tô, dược phẩm, và các ngành công nghiệp dịch vụ, cũng như về các vấn đề tài chính liên quan đến xây dựng
cơ sở hạ tầng và các công ty có vốn đầu tư ra bên ngoài Hiện nay, các phòng thuế cũng tăng cường các công cụ như công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu để hỗ trợ cho công tác chống tránh thuế Phòng thuế cũng đang gia tăng huấn luyện cho các chuyên gia chống trốn thuế bao gồm cả đào tạo ngắn hạn và dài hạn, cả đào tạo trong nước và đào tạo nước ngoài Ngoài ra, các sở thuế cũng đã tuyển dụng thêm sinh viên tốt
Khi nghiên cứu Luật chống chuyển giá của Trung Quốc có một số điểm khác cơ bản
so với luật chống chuyển giá của Mỹ như sau: Nghĩa vụ nộp thuế ở Trung Quốc không
được hợp nhất, nếu một tập đoàn kinh tế có các chi nhánh tại các tỉnh thành khác nhau của Trung Quốc sẽ chịu thanh tra về thuế chống chuyển giá nhiều lần Một điểm khác nữa là, khi cơ quan thuế của tỉnh này chấp nhận một vấn đề nào đó về thuế thì chưa chắc cơ quan thuế ở địa phương khác chấp nhận Điều này khác hoàn toàn nếu các tập đoàn kinh tế có nhiều chi nhánh tại Mỹ, các vấn đề về thuế được cơ quan thuế tiểu bang chấp nhận thì xem như là được chấp nhận tại các tiểu bang khác Nếu bị xác định
là có hành vi chuyển giá tại công ty, thì các điều chỉnh về định giá chuyển giao do cơ quan thuế Trung Quốc đưa ra sẽ được áp đặt cho tất cả các loại thuế có liên quan như: thuế TNDN, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu…Trong khi tại Mỹ chỉ áp đặt tính lại thuế TNDN mà thôi Tại Mỹ, các chỉ số về mức nâng giá hợp lý do cơ quan thuế lập nên dựa trên các nguồn thông tin đại chúng và mọi người đều biết Nhưng tại Trung Quốc thì cơ quan thuế Trung Quốc xây dựng các nguồn dữ liệu từ việc so sánh bí mật Nội dung của luật mới về quy định giá chuyển nhượng có hiệu lực từ 1/1/2008, Trung Quốc sẽ thực hiện áp dụng các quy định về giá chuyển giao khi các bên có quan hệ như sau: một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ 25% trở lên cổ phần của doanh nghiệp khác; một bên thứ ba trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ 25% trở lên số cổ phần trong cả hai doanh nghiệp; một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn với khoản vốn vay vượt quá 50% vốn của doanh nghiệp, hoặc 10% trở lên tổng số các khoản nợ của doanh nghiệp; một doanh nghiệp chỉ định hơn một nửa số quản lý cấp cao của một doanh nghiệp khác (bao gồm Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc), hoặc hơn một nửa của cấp quản lý doanh nghiệp (bao gồm Hội đồng
25
Huỳnh Thiên Phú, Chuyển giá của các công ty đa quốc gia trong giai đoạn hội nhập quốc tế, mục Kinh
nghiệm chống chuyển giá ở Trung quốc, Luận văn Thạc sỹ, Học viện tài chính ngân hàng, 2009, tr 25-26