1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại HOẠT ĐỘNG của NGÂN HÀNG NHÀ nước VIỆT NAM

57 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, ngành ngân hàng Việt Nam đã có sự chuyển đổi sâu sắc, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, từ việc đổi mới hệ thống ngân hàng nói c

Trang 1

HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG

NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

MSSV: 5055016 Lớp: Luật Thương mại 2-K31

Cần Thơ, 4/2009

Trang 2

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 4

1.1 Khái niệm, chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 4

1.2 Cơ cấu tổ chức, lãnh đạo và điều hành của Ngân hàng nhà nước Việt Nam 15

CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 2.1 Hoạt động đảm bảo chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ 19

2.2 Hoạt động đảm bảo chức năng của Ngân hàng Trung ương 35

CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 38

3.1 Hoạt động điều hành chính sách tiền tệ 39

3.2 Hạn chế trong thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia của Ngân hàng Nhà nước 45

3.3 Một số giải pháp 45

3.4 Hoạt động thanh tra ngân hàng 46

KẾT LUẬN 49

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế

giới (WTO) năm 2007 là kết quả minh chứng cho những nổ lực cải cách không ngừng

trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam trong nhiều năm qua theo hướng thị trường mở,

trong đó có những cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân hàng Thực hiện đường lối

đúng đắn của Đảng và Nhà nước, ngành ngân hàng Việt Nam đã có sự chuyển đổi sâu

sắc, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, từ việc đổi mới hệ thống ngân hàng

nói chung như việc thay đổi cơ cấu tổ chức, bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ và

quyền hạn cho Ngân hàng Nhà nước đến việc hoàn thiện môi trường pháp lý về ngân

hàng nói riêng như việc ban hành Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ

chức tín dụng vào 1997 để thay thế cho Pháp lệnh 37-LCT/HĐNN8 ngày 23/5/1990

Về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh số 38-LCT/HĐNN8 ngày 23/5/1990

Về Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính, sau đó lại tiến hành sửa, đổi

bổ sung lần lượt vào 2003, 2004 đã cho thấy được tầm quan trọng của hoạt động ngân

hàng đối với việc phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước

Với vai trò là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, là cơ quan thực hiện nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương bao gồm hoạt

động phát hành tiền, quản lí và giám sát các chính sách tiền tệ như tỷ giá hối đoái hay

tỷ lệ lãi suất, dự trữ ngoại hối, nghiệp vụ thị trường mở, và các giao dịch khác nhằm

mục đích làm thuận lợi hoá các quá trình kinh doanh hướng đến một nền kinh tế phát

triển lành mạnh Tuy nhiên, để Ngân hàng Nhà nước phát huy được hết vai trò và

nhiệm vụ của mình, ngoài yếu tố chủ quan là Ngân hàng Nhà nước phải tự hoàn thiện

để thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các chính sách vĩ mô trong lĩnh

vực ngân hàng thì yếu tố quan trọng là phải xây dựng một khung pháp lý đồng bộ,

thống nhất, ổn định và hiệu quả điều chỉnh hoạt động Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Điều này cần sự phối hợp của nhiều cơ quan tổ chức, trong đó nhiệm vụ quan trọng

nhất thuộc về Ngân hàng Nhà nước

Nghiên cứu về hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không phải là

một đề tài mới Tuy nhiên, để thấy được vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

trong hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng; thấy

được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là Ngân hàng Trung ương của một quốc gia,

người viết đã chọn đề tài “Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” làm luận

văn tốt nghiệp với hy vọng đề tài góp phần vào việc giúp chúng ta thấy được tầm quan

Trang 5

trọng và vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc quản lý và thực hiện

các chức năng, hoạt động của mình trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

2 Ý nghĩa và mục đích nghiên cứu đề tài

Luận văn nghiên cứu cơ bản về hoạt động đảm bảo chức năng quản lý trong

lĩnh vực tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông qua các hoạt động chính

như: thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, hoạt động tín dụng, quản lý ngoại hối và

hoạt động ngoại hối, thanh tra ngân hàng và hoạt động đảm bảo chức năng của Ngân

hàng Trung ương thông qua hoạt động phát hành tiền, hoạt động thanh toán và ngân

quỹ… nhằm thấy được mục đích và tầm quan trọng của từng hoạt động cụ thể Đồng

thời luận văn cũng đưa ra một số nhận xét thành tựu cũng như hạn chế về hoạt động

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong những năm qua, từ đó đưa ra những giải

pháp để mọi hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đều được thực hiện ngày

càng hoàn thiện

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp:

 Phương pháp liệt kê

Với kiến thức và khả năng cập nhật thông tin còn hạn chế của một sinh viên,

luận văn chỉ đi sâu vào nghiên cứu và phân tích hai hoạt động chính của Ngân hàng

Nhà nước đó là Hoạt động đảm bảo chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ

và Hoạt động đảm bảo chức năng của ngân hàng Trung ương dưới góc độ pháp lý và

những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trong điều kiện

hội nhập quốc tế

5 Cơ cấu luận văn

 Lời mở đầu

 Phần nội dung: gồm 3 chương

Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chương 2: Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chương 3: Nhận xét hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong

năm 2008 và các giải pháp hoàn thiện

 Kết luận

Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do thời gian có hạn, kiến thức và trình độ lý

luận cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế của một sinh viên, luận văn chắc chắn

Trang 6

sẽ bộc lộ nhiều thiếu sót và hạn chế Người viết rất mong nhận được sự đóng góp, phê

bình của quý Thầy, Cô và các bạn để bài luận văn được hoàn thiện hơn

Để hoàn thành bài luận văn này, người viết xin chân thành cảm ơn quý Thầy,

Cô khoa Luật trường Đại học Cần thơ đã giảng dạy truyền đạt kiến thức trong suốt quá

trình học tập và đặc biệt cảm ơn cô Lê Huỳnh Phương Chinh đã tận tình hướng dẫn

người viết trong suốt quá trình làm luận văn, giúp người viết có những hiểu biết nhất

định để hoàn thiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

1.1.1 Lịch sử ra đời Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong

kiến dưới sự thống trị của thực dân Pháp Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng được

thiết lập và bảo hộ bởi thực dân Pháp thông qua Ngân hàng Đông Dương Ngân hàng

Đông Dương vừa đóng vai trò là Ngân hàng Trung ương trên toàn cõi Đông Dương

(Việt Nam, Lào, Campuchia) vừa là ngân hàng thương mại Ngân hàng này là công cụ

phục vụ đắc lực cho chính sách thuộc địa của Chính phủ Pháp và làm giàu cho tư bản

Pháp Vì thế, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cuộc Cách mạng Tháng 8 lúc

bấy giờ là phải từng bước xây dựng nền tiền tệ và hệ thống ngân hàng độc lập tự chủ

Nhiệm vụ đó đã trở thành hiện thực khi bước sang năm 1950, công cuộc kháng chiến

chống Pháp chuyển sang giai đoạn phát triển mới Sự chuyển biến của cục diện cách

mạng cũng đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố và phát triển theo yêu

cầu mới Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính - kinh tế mà Đại hội Đảng

lần thứ II (tháng 2/1951) đã đề ra, ngày 06/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc

lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam - Ngân hàng của Nhà nước

dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á để thực hiện 5 nhiệm vụ cấp bách: Phát

hành giấy bạc, quản lý Kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng để phát triển sản xuất,

phối hợp với mậu dịch để quản lý tiền tệ và đấu tranh tiền tệ với địch

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ra đời là kết quả nối tiếp của quá trình đấu tranh

xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu bước phát triển mới, thay

đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta Tại Thông tư số 20/VP-TH ngày

21/1/1960 của Tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia ký thừa ủy quyền Thủ Tướng

Chính phủ, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam để phù hợp với Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Sau

khi miền Nam giải phóng 1975, việc tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Cộng

hoà và các ngân hàng tư bản tư nhân dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã mở đầu cho

quá trình nhất thể hóa hoạt động ngân hàng toàn quốc theo cơ chế hoạt động ngân

hàng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Tháng 7 năm 1976, đất nước được thống

nhất về phương diện nhà nước, nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra đời

Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở miền Nam được hợp nhất vào Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam, tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nước duy nhất của cả nước

Trang 8

Hiện nay hệ thống tổ chức thống nhất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bao

gồm: Ngân hàng Trung ương đặt trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội, các Chi nhánh ngân

hàng tại các tỉnh, thành phố và các điểm ngân hàng cơ sở tại các quận, huyện trên

phạm vi cả nước

1.1.2 Khái niệm

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ

quan của Chính phủ và là Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam.1

Theo đó, Ngân hàng Trung ương được hiểu là một định chế tài chính công

quyền, thực hiện các hoạt động ngân hàng nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia

Ở Việt Nam, Ngân hàng Trung ương được thành lập thuộc sở hữu của Nhà nước, gọi

là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nằm trong cơ cấu bộ máy của Chính phủ, chịu sự

lãnh đạo, điều hành của Chính phủ và chịu sự chi phối trực tiếp của Chính phủ về

nhân sự, về tài chính và đặc biệt về các quyết định liên quan đến việc xây dựng và

thực hiện chính sách tiền tệ Các nước áp dụng mô hình này phần lớn là các nước

Đông Nam Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Indonesia, Việt Nam )

Do là cơ quan của Chính phủ nên Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp chính

sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương đồng bộ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác

nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả của tổng thể các chính sách

đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ, sự lớn mạnh nhanh chóng của các nước

như Singapore, Hàn quốc, Đài Loan nơi mà Ngân hàng Trung ương là một bộ phận

trong bộ máy Chính phủ là một bằng chứng có sức thuyết phục về sự phù hợp của mô

hình tổ chức này đối với Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt

động ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và

ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ

Chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ là chức năng cơ bản của Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng này thông qua các hoạt

động thông qua việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, thanh tra giám

sát hoạt động của hệ thống ngân hàng Đây là chức năng quyết định bản chất Ngân

hàng Trung ương của một Ngân hàng

Bên cạnh đó Ngân hàng Nhà nước còn là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng

của các ngân hàng thông qua hoạt động mở tài khoản và nhận tiền gửi, cấp tín dụng

cho các ngân hàng…; ngân hàng của Chính phủ thông qua hoạt động làm thủ quỹ cho

Kho bạc nhà nước, quản lý dữ trữ quốc gia, cấp tín dụng cho Chính phủ

1

Điều 1 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997, đã được sửa đổi, bổ sung 2003 (sau đây gọi là Luật Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam)

Trang 9

Như vậy, mọi hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng

tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng,

thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu Nhà

nước; có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội

Sở dĩ nói Ngân hàng Nhà nước là một pháp nhân vì nó có đầy đủ các điều kiện

để được công nhận là một pháp nhân: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt

chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản

đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.2 Điều đó có

nghĩa là nó có quyền tham gia ký kết các giao dịch với các tổ chức tín dụng và các tổ

chức khác có hoạt động ngân hàng, thông qua đó nhằm mục đích thực hiện chính sách

tiền tệ quốc gia, đảm bảo sự an toàn, hiệu quả của hoạt động hệ thống ngân hàng Hay

nói cách khác, tư cách pháp nhân của Ngân hàng Nhà nước cho phép nó có các quyền

và nghĩa vụ của một chủ thể pháp luật, có thể kiện và bị kiện trước tòa Trụ sở chính

của Ngân hàng Nhà nước là tại Thủ đô Hà Nội, đây là trung tâm lãnh đạo, điều hành

mọi hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Tóm lại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ,

thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng

Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý nhà

nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước.3 Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí của mình, tiếp tục đổi mới và hoàn

thiện để đáp ứng yêu cầu của một Ngân hàng Trung ương trong cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước thông qua các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình

1.1.3 Chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong mỗi giai đoạn phát triển, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được trao

những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định phù hợp với chức năng và mục tiêu hoạt động

của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trước đây, chức năng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được quy định tại

một số văn bản pháp luật như: Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002, Nghị

định số 52/NĐ-CP ngày 19/5/2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ,… Hiện nay, chức năng của

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thể hiện tại Luật Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam; Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007 của Chính phủ quy định chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ (sau đây gọi

Điều 1 Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 10

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam (sau đây gọi tắt là Nghị định 96) Theo đó Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

thực hiện hai chức năng chính đó là chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động

ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương Thông qua hai chức năng này, hoạt

động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng đến mục tiêu ổn định giá trị đồng

tiền, góp phần bảo đảm cho hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả Để thực

hiện các chức năng và mục tiêu này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có các nhiệm vụ

và quyền hạn được pháp luật quy định là cơ sở pháp lý để Ngân hàng Nhà nước thực

hiện các chức năng và vai trò của mình trong quản lý nhà nước cũng như trong các

hoạt động ngân hàng

Theo quy định của pháp luật về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam có các nhiệm vụ và quyền hạn sau 4:

1.1.3.1 Trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội của Nhà nước

Các chiến lược mang tính định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,

các kế hoạch dài hạn cũng như ngắn hạn đều có sự tham gia soạn thảo, hoạch định của

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là phần các chính sách tiền tệ

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn phối hợp với Bộ Tài chính trong

việc xây dựng chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, dự kiến tổng mức tạm ứng cho

ngân sách nhà nước trong năm tiếp theo; xây dựng chiến lược, kế hoạch vạy nợ, trả nợ

trong nước và ngoài nước, xây dựng và triển khai thực hiện phương án vay để bù đắp

bội chi ngân sách nhà nước.5

Xuất phát từ chức năng và mục tiêu hoạt động của mình, Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam có tác động mạnh mẽ đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế và đời

sống xã hội Do đó, sự tham gia của Ngân hàng Nhà nước vào việc xây dựng chiến

lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước là rất cần thiết

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để

Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này; xây

dựng chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng Việt Nam

Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quyết định chính sách tài chính, tiền tệ

quốc gia 6; hơn nữa, Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan ngang Bộ, Thống đốc

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là thành viên của Chính phủ nên Ngân hàng Nhà nước

không thể trực tiếp trình dự án chính sách tiền tệ quốc gia trước Quốc hội mà phải

Khoản 2 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Khoản 1 Điều 23 Luật Ngân sách Nhà nước 2002

6 Khoản 4 Điều 84 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992

Trang 11

Có thể nói, chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận quan trọng trong hệ

thống các chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền,

kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng,

an ninh và nâng cao đời sống nhân dân 7; chính sách tiền tệ ngày càng trở nên quan

trọng đối với các hoạt động của Ngân hàng Trung ương Không ít quốc gia đã xác định

mục tiêu hoạt động của Ngân hàng Trung ương cũng là mục tiêu hoạt động của chính

sách tiền tệ như Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Trung Hoa…

Xây dựng hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia là nhiệm vụ trọng

tâm của Ngân hàng Trung ương với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và

hoạt động ngân hàng Đây là hai khâu không thể tách rời bởi vì hoạch định chính sách

tiền tệ quốc gia là việc xây dựng mục tiêu định hướng cho hoạt động tiền tệ, tín dụng,

ngân hàng trong từng thời kỳ Song song đó, thực thi chính sách tiền tệ quốc gia là

việc đưa ra các chính sách tiền tệ đã được xác định Hiệu quả của chính sách tiền tệ

phụ thuộc rất lớn vào tính đúng đắn, chính sách của khâu hoạch định và sự điều hành

phù hợp, kịp thời cũng như hiệu lực các biện pháp của khâu thực thi chính sách tiền tệ

Vấn đề xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia chủ yếu mang tính điều

chỉnh vĩ mô, hướng các tổ chức tín dụng vào thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ,

nhưng đồng thời vẫn phải đảm bảo tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các tổ

chức này nên người ta thường dùng khái niệm “điều tiết” của Ngân hàng Trung ương

đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng Điều này có nghĩa là Ngân hàng Trung

ương không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của các tổ chức tín dụng, mà chủ yếu

sử dụng biện pháp, nghiệp vụ tác động gián tiếp để điều chỉnh môi trường và các điều

kiện kinh doanh của các tổ chức tín dụng như vấn đề lãi suất, khối lượng tiền cung

ứng…

Ở mỗi quốc gia, chính sách tiền tệ là do Ngân hàng Trung ương đề ra Đồng

thời, chính Ngân hàng Trung ương sẽ đưa nó vào vận hành trong thực tế nhằm thực

hiện các mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô Chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu

thành trong hệ thống các chính sách kinh tế - tài chính của quốc gia và trong hệ thống

đó, các bộ phận cấu thành có mối quan hệ tác động hữu cơ với nhau Do vậy, một

chính sách tiền tệ hữu hiệu đòi hỏi phải được thiết lập và vận hành trong mối quan hệ

hữu cơ với các chính sách khác mà không tồn tại độc lập với các chính sách, định

hương kinh tế - xã hội của quốc gia

Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án

khác về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về

tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền

7 Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 12

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật

về tiền tệ và hoạt động ngân hàng dưới các hình thức Thông tư, Quyết định, Chỉ thị

thuộc lĩnh vực quản lý của Ngân hàng Nhà nước Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước

còn tham gia xây dựng các dự án luật, pháp lệnh trong lĩnh vực ngân hàng để trình

Chính phủ xem xét, Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua.8

Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không chỉ tham gia

hoặc chủ trì trong việc xây dựng, soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh mà còn phải có

trách nhiệm trong việc rà soát hiệu lực thực tế của các văn bản pháp luật và có thể trực

tiếp hoặc gián tiếp đề xuất việc tiến hành hoàn thiện, hệ thống hóa các quy định pháp

luật về tiền tệ, hoạt động ngân hàng Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng trong hoạt

động quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Việc rà soát và đề xuất

sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng

(đặc biệt là cơ chế điều hành các công cụ chính sách tiền tệ như dự trữ bắt buộc, tái

cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở…) nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,

góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã

hội và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng

Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép thành lập và

hoạt động của các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết

định; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giải

thể, chấp thuận chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng theo quy định của

pháp luật

Dưới góc độ pháp luật, giấy phép là hình thức pháp lý thể hiện việc Nhà nước

cho phép tổ chức hoặc cá nhân hoạt động trong một số lĩnh vực khi thỏa mãn những

điều kiện nhất định Giấy phép là mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và tổ chức hoặc

cá nhân xin phép kinh doanh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý nhà

nước chuyên ngành về ngân hàng, do vậy nó là cơ quan duy nhất có toàn quyền quyết

định đối với việc “khai sinh” của tổ chức tín dụng Ngoài ra, các tổ chức khác muốn có

hoạt động ngân hàng cũng phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động

ngân hàng khi thỏa mãn những điều kiện nhất định: Hoạt động ngân hàng là cần thiết

và có liên quan chặt chẽ với hoạt động chính có đủ vốn, điều kiện vật chất phù hợp

với yêu cầu của hoạt động ngân hàng có đội ngũ cán bộ am hiểu hoạt động ngân hàng;

có phương án kinh doanh khả thi về hoạt động ngân hàng.9

Các nhiệm vụ, quyền hạn trên là cơ sở rất quan trọng để Ngân hàng Nhà nước

thực hiện nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý mọi hoạt động ngân hàng khi thực

hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Trang 13

Thứ năm, Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra hoạt động

ngân hàng; kiểm soát tín dụng; xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và

hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền

Theo quy định tại Nghị định số 202/2004/NĐ-CP ngày 10/12/2004 của Chính

phủ quy định Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân

hàng (sau đây gọi tắt là Nghị định 202) thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quyền

kiểm tra tính phù hợp với quy định pháp luật của việc thành lập, hoạt động của tổ chức

tín dụng, hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; có quyền xử lý các hành vi vi

phạm pháp luật ngân hàng như áp dụng biện pháp thu hồi giấy phép hoạt động ngân

hàng, xử phạt vi phạm hành chính

Tuy nhiên không phải bất kỳ hành vi vi phạm nào trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt

động ngân hàng cũng bị xử phạt Vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt

động ngân hàng được hiểu là những hành vi của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong nước

và nước ngoài cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước

trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng mà không phải là tội phạm.10 Vậy các

hành vi vi phạm hành chính ở đây được xác định bởi hai yếu tố đặc trưng đó là: vi

phạm quy định pháp luật về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân

hàng và hành vi đó chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (không phải là tội

phạm) Việc xử phạt hành chính chỉ được áp dụng đối với những hành vi vi phạm

được quy định trong Nghị định 202 như là: Hành vi tiếp tục hoạt động ngân hàng khi

không có giấy phép; bị tước giấy phép hoặc giấy phép đã hết thời hạn; hành vi chuyển

ngoại hối hoặc vàng ra nước ngoài hoặc vào Việt Nam trái quy định pháp luật; hành vi

che giấu hoặc đồng lõa với hành vi vi phạm pháp luật về hoạt động ngoại hối…

Ngoài ra, thanh tra hoạt động ngân hàng cũng là một trong các nhiệm vụ, quyền

hạn quan trọng của Ngân hàng Trung ương nói chung trong nền kinh tế thị trường Vì

vậy, ở hầu hết các nước, tổ chức thanh tra ngân hàng được nằm trong bộ máy của

Ngân hàng Trung ương, trừ một số nước có tổ chức thanh tra ngân hàng trực thuộc

Quốc hội hoặc Bộ Tài chính (như Thái Lan), hoặc vừa trực thuộc Ngân hàng Trung

ương vừa trực thuộc Quốc hội (như Cộng hòa Liên bang Đức) Trong hoạt động thanh

tra, thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền thanh tra về việc chấp

hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại và các

tổ chức tín dụng

Bên cạnh đó, kiểm soát tín dụng là biện pháp quản lý nhà nước do Ngân hàng

Nhà nước áp dụng đối với các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân

hàng nhằm ngăn ngừa rủi ro, tiêu cực trong hoạt động tiền tệ và duy trì sự ổn định của

hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế

10 Khoản 1 Điều 2 Nghị định 202

Trang 14

Ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn trên, Ngân hàng Nhà nước còn có các nhiệm

vụ và quyền hạn khác cũng không kém phần quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy

phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đó là:

Đại diện cho Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức tiền tệ và

ngân hàng quốc tế trong những trường hợp được Chủ tịch nước, Chính phủ ủy quyền

Ký kết, tham gia điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của

pháp luật Quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của

Chính phủ

Chính phủ ủy quyền cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam làm đại diện cho nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức như Qũy tiền tệ quốc tế (IMF),

ngân hàng thế giới (WB), ngân hàng phát triển châu Á (ADB) bởi vì các khoản vốn

được cung ứng từ các tổ chức này là giành cho các chương trình của Chính phủ, nó có

liên quan chặt chẽ đến các chính sách tài chính như thuế, trợ giá và là nguồn thu của

ngân sách Do vậy, Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc theo dõi,

tổng hợp và thống nhất quản lý các khoản vay và trả nợ của Chính phủ

1.1.3.2 Trong việc thực hiện chức năng Ngân hàng Trung ương

Ngoài chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam còn thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương, có

nghĩa là chức năng phát hành tiền, tổ chức và điều hành thị trường tiền tệ, kiểm soát và

bảo vệ sự hoạt động bình thường của các tổ chức tín dụng, cũng như sự an toàn của

toàn bộ hệ thống ngân hàng

Khác với việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam thực hiện chức năng Ngân hàng Trung ương chủ yếu bằng các nghiệp vụ

ngân hàng Do vậy, tính độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được

thể hiện rõ nét khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng Ngân hàng

Trung ương Những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

với vai trò là Ngân hàng Trung ương bao gồm:

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền; thực

hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu huỷ tiền

Thẩm quyền phát hành tiền là thẩm quyền đặc trưng của Ngân hàng Trung

ương ở mỗi quốc gia Ví dụ, việc phát hành tiền được quy định rất rõ trong Điều 14

Luật về Ngân hàng Liên bang Đức năm 1957: “Ngân hàng Liên bang Đức độc quyền

phát hành giấy bạc ngân hàng trong phạm vi của luật này” hay theo Luật của Liên

bang Nga về “Hệ thống tiền tệ” ngày 25/9/1992, việc điều tiết lượng tiền lưu thông

được Ngân hàng Trung ương Nga thực hiện và được thể hiện qua việc phát hành tiền,

Trang 15

tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật

về vấn đề in, đúc, vận chuyển, thay thế, tiêu hủy tiền và tổ chức lưu thông tiền tệ.11

Có thể nói, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay thì toàn

bộ việc phát hành tiền được tập trung vào Ngân hàng Nhà nước theo chế độ Nhà nước

độc quyền phát hành tiền và số lượng tiền được phát hành dựa trên nhu cầu của nền

kinh tế

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng

ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của Ngân hàng Nhà nước

nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các ngân hàng 12 Đây

thực chất là một công cụ của Ngân hàng Nhà nước để điều tiết khối lượng tiền trong

lưu thông và nhằm giúp các tổ chức tín dụng là ngân hàng giải quyết khó khăn về nhu

cầu vốn ngắn hạn

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét và quyết định tái cấp vốn cho các ngân

hàng khi có đủ các điều kiện nhất định sau:

+ Các ngân hàng được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng

Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính

sách, Ngân hàng hợp tác, Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài,

Các loại hình ngân hàng khác được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín

dụng

+ Ngân hàng không bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt

+ Có đơn xin vay

+ Không có dư nợ quá hạn tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

+ Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật.13

Các loại giấy tờ có giá - tài sản cầm cố trong hoạt động tái cấp vốn có thể là:

+ Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước

+ Trái phiếu Chính phủ, gồm: Tín phiếu Kho bạc, Trái phiếu Kho bạc, Trái

phiếu công trình Trung ương, Trái phiếu ngoại tệ, Công trái xây dựng Tổ quốc

+ Các giấy tờ có giá khác được sử dụng làm tài sản cầm cố do Thống đốc

Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.14

Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước hiện điều hành thị trường tiền tệ; thực hiện

Điều 2 Quy chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với

các ngân hàng ban hành kém theo Quyết định số 1452/2003/QĐ-NHNN ngày 03/11/2003 của Thống đốc

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Quyết định 1452)

14

Điểm 1 Điều 1 Quyết định số 94/2004/QĐ-NHNN ngày 20/01/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam về việc sửa đổi một số điều của Quy chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định 1452

Trang 16

Có thể nói, sự phát triển của hệ thống tài chính phản ánh mức độ phát triển nền

kinh tế thị trường ở mỗi quốc gia Thông thường, thị trường tài chính bao gồm hai bộ

phận là thị trường tiền tệ và thị trường vốn

Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi mua, bán các giấy tờ có giá

ngắn hạn 15, bao gồm: tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, chứng chỉ

tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác 16 Ở thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam kiểm soát thị trường này; xây dựng quy chế, điều hành hoạt động của

thị trường nhằm đảm bảo hoạt động của thị trường diễn ra đúng luật định và đạt hiệu

quả cao Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn can thiệp vào hoạt động của

thị trường tiền tệ bằng cách tác động vào quá trình tạo tiền của các tổ chức tín dụng và

làm thay đổi lãi suất thị trường tiền tệ qua việc tác động đến cung cầu tiền tệ dưới hình

thức tái cấp vốn, tái chiết khấu hoặc tài trợ vốn

Cần nhấn mạnh rằng, mức độ tham gia của Ngân hàng Trung ương trên thị

trường tiền tệ ở mỗi nước có khác nhau Nhìn chung, các Ngân hàng Trung ương vừa

là thành viên của thị trường này, vừa là người tham gia tổ chức, giám sát, điều hành thị

trường này và thông qua đó nhằm mục tiêu thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Việc mua, bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá do Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia được

gọi là nghiệp vụ thị trường mở vì theo Khoản 4 Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam thì nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán ngắn hạn các giấy tờ có giá do

Ngân hàng Nhà nước thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thực hiện chính sách tiền

tệ quốc gia

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước còn thực hiện kiểm soát Dự trữ quốc tế;

quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước Chức năng này được thể hiện cụ thể trong hoạt

động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý ngoại hối và hoạt

động ngoại hối

Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng, làm

dịch vụ thanh toán, quản lý việc cung ứng các phương tiện thanh toán

Về tổ chức và hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam có thể tham gia vào hoạt động thanh toán với hai tư cách: cơ

quan quản lý tài khoản và chủ tài khoản.17

Với tư cách là cơ quan quản lý tài khoản, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được

mở tài khoản thanh toán, được thực hiện toàn bộ các dịch vụ thanh toán cho các tổ

chức tín dụng trong và ngoài nước, các tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán và

15

Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm

Mua, bán ngắn hạn là việc mua, bán với kỳ hạn dưới một năm các giấy tờ có giá

16

Khoản 2 Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

17

Điều 5 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 29/01/2001 của Chính phủ quy định Về tổ chức và hoạt động của

các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (sau đay gọi tắt là Nghị định 64)

Trang 17

các ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ, ngân hàng quốc tế Các dịch vụ thanh toán

đó là: cung ứng các phương tiện thanh toán, dịch vụ thanh toán trong nước; dịch vụ

thanh toán quốc tế; dịch vụ thu hộ và các dịch vụ thanh toán khác do Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam quy định trong những thời kỳ nhất định.18

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý việc cung ứng các phương

tiện thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán như:

+ Tiền mặt

+ Séc

+ Lênh chi hoặc ủy nhiệm chi

+ Ủy nhiệm thu

+ Thẻ ngân hàng.19

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước tổ chức hệ thống thanh toán liên ngân hàng

để thực hiện dịch vụ thanh toán giữa các thành viên là Ngân hàng Nhà nước, các tổ

chức tín dụng và các tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán.20

Với tư cách là chủ tài khoản, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được mở tài

khoản ở ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệ, ngân hàng quốc tế.21

Thứ năm, Ngân hàng Nhà nước làm đại lý và thực hiện các dịch vụ ngân hàng

cho Kho bạc Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước làm đại lý cho Kho bạc Nhà nước trong việc tổ chức đấu

thầu, phát hành và thanh toán tín phiếu, trái phiếu Kho bạc.22

Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản và thực hiện các giao dịch cho Kho bạc Nhà

nước Ở huyện, thị xã không phải là tỉnh lỵ, Kho bạc nhà nước mở tài khoản thanh

toán tại một ngân hàng thương mại nhà nước.23

Thứ sáu, Ngân hàng Nhà nước tổ chức hệ thống thông tin và làm các dịch vụ

thông tin ngân hàng; quản lý các tổ chức hoạt động thông tin tín dụng; phân tích xếp

hạn tín dụng doanh nghiệp Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện hoạt động thông tin tín dụng nhằm

mục đích hỗ trợ các tổ chức cấp tín dụng ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động

kinh doanh, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng

Ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn nêu trên, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Điều 36 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

23 Khoản 3 Điều 5 Nghị định 64 và Khoản 3 Điều 34 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 18

+ Quyết định phê duyệt và tổ chức thực hiện các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền;

thẩm định và kiểm tra việc thực hiện các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ngân hàng theo

quy định của pháp luật

+ Quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật; được sử dụng

các khoản trích từ nguồn thu hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về ngoại hối, tiền tệ và

hoạt động ngân hàng để phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của

pháp luật

+ Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo

quy định của pháp luật

+ Quyết định các chủ trương, biện pháp cụ thể và chỉ đạo thực hiện cơ chế hoạt

động của các tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng; quản

lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp thuộc thẩm quyền theo quy định

của pháp luật

+ Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn

nhà nước…

Tóm lại, thông qua việc thực hiện các chức năng nêu trên, Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, giữ vững

sự cân bằng giữa cung cầu tiền tệ, kiểm soát lạm phát ở mức thấp, là điều kiện bảo

đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định

1.2 Cơ cấu tổ chức, lãnh đạo và điều hành của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

1.2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Mỗi Ngân hàng Trung ương trên thế giới đều có một cách thức tổ chức nội bộ

khác nhau tùy vào đặc điểm lịch sử và chính trị của mỗi nước Cơ cấu tổ chức của

Ngân hàng Trung ương thường được xác định sau khi xác định mục tiêu hoạt động của

ngân hàng

Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Trung ương là hình thức tồn tại của nó, biểu thị

sự sắp xếp một trật tự nào đó các bộ phận cùng mối quan hệ giữa chúng Cơ cấu tổ

chức là tổng hợp các bộ phận khác nhau, có mối liên quan, phụ thuộc lẫn nhau, có

những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định, được bố trí theo các cấp (tuyến dọc), khâu

(tuyến ngang) khác nhau nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng và mục tiêu đã xác

định của Ngân hàng Trung ương

Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa

là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, vừa là tổ chức thực hiện các nghiệp vụ của

Ngân hàng Trung ương nên hệ thống tổ chức có những điểm khác biệt so với các cơ

quan quản lý nhà nước chuyên ngành ở các lĩnh vực khác Ngoài các bộ phận giúp

việc chuyên môn là các Vụ, Cục Trung ương thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn

có một mạng lưới chi nhánh rộng lớn, các văn phòng đại diện và đây chính là các đơn

Trang 19

vị thực hiện một cách cụ thể các kế hoạch và chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước được tổ chức thành hệ thống tập trung, thống nhất gồm bộ

máy điều hành và hoạt động nghiệp vụ tại trụ sở chính, các chi nhánh ở các tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương, các văn phòng đại diện ở trong nước, ở nước ngoài và các

đơn vị trực thuộc.24

Có thể nói, mỗi chi nhánh là một đơn vị thu nhỏ của Ngân hàng Trung ương, là

đại diện chính thức của Ngân hàng Trung ương tại địa phương Do vậy, chi nhánh có

đầy đủ các chức năng, trách nhiệm của Ngân hàng Trung ương, được thực hiện các

hoạt động nghiệp vụ ngân hàng Tuy nhiên, chi nhánh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

không có tư cách pháp nhân Nó chịu sự lãnh đạo, điều hành tập trung thống nhất của

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Dưới sự ủy quyền của Thống đốc, chi nhánh Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền thực hiện các hoạt động sau:

+ Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng trên địa bàn được phân công

+ Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

và giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giải thể, chấp

thuận chia, tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng trên địa bàn

+ Thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn và cho vay thanh toán

+ Cung ứng dịch vụ thanh toán, ngân quỹ và các dịch vụ ngân hàng khác cho tổ

chức tín dụng và Kho bạc Nhà nước

+ Thực hiện các ủy quyền khác theo quy định của pháp luật.25

Ngoài việc thành lập chi nhánh, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn được phép

thành lập văn phòng đại diện Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam Khác với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, do có nhiệm vụ đại

diện theo sự ủy quyền của Thống đốc nên văn phòng đại diện không được thực hiện

các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn có các đơn vị sự nghiệp là các cơ

sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, cung ứng dịch vụ tin học, thông tin và báo chí

chuyên ngành ngân hàng 26 và theo quy định tại Điều 3 Nghị định 96 thì cơ cấu tổ

chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam gồm 24 tổ chức (Xem phụ lục 1)

1.2.2 Lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Khi mới thành lập, chức danh của người đứng đầu Ngân hàng Quốc gia rồi

Ngân hàng Nhà nước là Tổng giám đốc Từ tháng 6 năm 1989 cho đến nay thì chức

danh này được gọi là Thống đốc.27

Trang 20

Ở Việt Nam, trước đây thì việc quản trị Ngân hàng Nhà nước do Hội đồng quản

trị đảm nhiệm và việc điều hành đặt dưới quyền của Thống đốc.28 Thống đốc Ngân

hàng Nhà nước (sau đây gọi là Thống đốc) là thành viên Chính phủ, chịu trách nhiệm

lãnh đạo và điều hành Ngân hàng Nhà nước.29

Thống đốc do Thủ tướng Chính phủ đề cử cho Quốc hội phê chuẩn 30, Thống

đốc có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

+ Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà

nước quy định tại Điều 5 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các quy định của

Luật Tổ chức Chính phủ

+ Chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực

mình phụ trách

+ Đại diện pháp nhân Ngân hàng Nhà nước

Như vậy, cơ chế điều hành, lãnh đạo của Ngân hàng Nhà nước ở nước ta hiện

nay theo phương thức Thủ trưởng (chế độ một lãnh đạo) Thống đốc Ngân hàng Nhà

nước là người duy nhất chịu trách nhiệm trước Nhà nước (Thủ tướng Chính phủ và

Quốc hội) về toàn bộ hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Ngoài Thống đốc thì các

Thống đốc,Vụ trưởng, Cục trưởng, Chánh văn phòng… cũng có trách nhiệm trong

việc điều hành và lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức thuộc Ngân

hàng Nhà nước

Ngoài cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước, để tư vấn cho Chính phủ trong

việc quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ về chính sách

tiền tệ thì Chính phủ thành lập Hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia.31 Đây là bộ

phận trực thuộc Chính phủ mà không phải là bộ phận trực thuộc Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam Căn cứ vào chương trình công tác hàng năm của Chính phủ, Hội đồng Tư

vấn tiền tệ quốc gia có nhiệm vụ:

+ Thảo luận, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ những chủ trương,

chính sách, đề án lớn và những vấn đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ

+ Tư vấn cho Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quyết định các chính sách, kế

hoạch tài chính, tiền tệ trong từng thời kỳ; các biện pháp chỉ đạo điều hành của Chính

phủ và của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện có hiệu quả các chính sách, kế hoạch đã

Khoản 2 Điều 20 Luật tổ chức Chính phủ 2002

31 Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 21

+ Tư vấn một số vấn đề khác liên quan đến việc thực hiện chính sách, kế hoạch

tài chính, tiền tệ khi được Thủ tướng Chính phủ giao.32

Tóm lại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với vị trí pháp lý là cơ quan trực thuộc

Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước là thành viên của Chính phủ; với cơ cấu

tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn chặt chẽ, là cơ quan ngang Bộ thực hiện

chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; thực hiện chức năng

Ngân hàng Trung ương thông qua các hoạt động như: là ngân hàng độc quyền phát

hành tiền, là ngân hàng của các tổ chức tín dụng, là ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho

Chính phủ… Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí của mình,

tiếp tục đổi mới và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của một Ngân hàng trung ương

trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

32

Điều 2 Quyết định số 175/2007/QĐ-TTg ngày 19/11/2007 của Thủ thướng Chính phủ quy định Về việc thành

lập Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia

Trang 22

CHƯƠNG 2

HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước thực hiện

chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; là ngân hàng phát hành

tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính

phủ Những chức năng này được cụ thể hóa thành những hoạt động của Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam

2.1 Hoạt động đảm bảo chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ

Chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ là một trong những nhiệm

vụ quan trọng của Ngân hàng Nhà nước nhằm đảm bảo sự ổn định tiền tệ và an toàn

cho cả hệ thống ngân hàng, qua đó thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh

tế Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng này thông qua các hoạt động

chủ yếu sau: thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; hoạt động tín dụng; quản lý ngoại

hối và hoạt động ngoại hối; thanh tra ngân hàng

2.1.1 Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài

chính của nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần

thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời

sống của nhân dân.33

Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia là nhiệm vụ mà ngày nay hầu hết ở các

quốc gia, nhà nước đều giao cho Ngân hàng Trung ương vì chính sách tiền tệ quốc gia

là một bộ phận cấu thành quan trọng trong tổng thể các chính sách kinh tế vĩ mô, có

tác động đối với toàn bộ nền kinh tế Thông qua việc định hướng và điều chỉnh kịp

thời mọi hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, chính sách tiền tệ luôn phải duy trì

sự ổn định của hệ thống tiền tệ, kiềm chế lạm phát và góp phần bảo đảm sự tăng

trưởng, bền vững của nền kinh tế

Việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia luôn được đặt trong mối quan hệ

chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác (chính sách tài chính, chính sách đầu

tư, chính sách xuất nhập khẩu…) ngay từ giai đoạn hoạch định đến quá trình thực thi

Hơn nữa, chính sách tiền tệ chỉ phát huy tốt hiệu lực của nó khi có các bộ phận cấu

thành như: chính sách cung ứng tiền, chính sách tín dụng, chính sách lãi suất, chính

sách tỷ giá hối đoái được xử lý một cách linh hoạt và đồng bộ, chỉ có sự phối hợp tốt

nhất, hợp lý nhất giữa chính sách tiền tệ với các chính sách kinh tế vĩ mô (đặc biệt là

chính sách tài chính) trong việc hướng về những mục tiêu chung, thì chính sách tiền tệ

33 Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

Trang 23

mới được thực thi một cách có hiệu quả, tránh được tình trạng không thống nhất trong

việc thực thi chính sách kinh tế - xã hội Ví dụ, khi Ngân hàng Trung ương thực hiện

chính sách tiền tệ “thắt chặt” để chống đỡ lạm phát, trong khi các bộ phận, cơ quan

khác thuộc Chính ohur không đảm bảo yêu cầu về cân đối ngân sách hoặc lạm dụng

chính sách vay nợ nước ngoài và sự bất cập này là một trong các nguyên nhân chính

gây bất ổn cho nền kinh tế, dẫn đến thâm hụt ngân sách, lạm phát tăng…

Đạo luật Ngân hàng Trung ương của các nước đều có các quy định về nhiệm vụ

của Ngân hàng Trung ương trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Chẳng

hạn, Luật Ngân hàng Cộng hòa Liên bang Đức năm 1957 quy định nhiệm vụ của Ngân

hàng Cộng hòa Liên bang Đức trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia tại Điều

3; Luật Ngân hàng Trung ương Pháp 1993 quy định nhiệm vụ này tại Điều 1; Luật

Ngân hàng Quốc gia Hunggari 1991 quy định tại Điều 3 và Điều 4 34

Theo Điều 15 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong việc thực hiện chính

sách tiền tệ quốc gia, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có các nhiệm vụ sau:

+ Chủ trì xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia, kế hoạch cung ứng lượng

tiền bổ sung cho lưu thông hàng năm trình Chính phủ

+ Điều hành các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia; thực hiện việc đưa

tiền ra lưu thông, rút tiền từ lưu thông về theo tín hiệu của thị trường trong phạm vi

lượng tiền cung ứng đã được Chính phủ phê duyệt

+ Báo cáo Chính phủ, Quốc hội kết quả thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, Ngân hàng Trung ương phải sử dụng các

công cụ đặc thù vì việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia ảnh hưởng đến mọi mặt của

đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Do đó, việc sử dụng các công cụ, mang tính chất

nghiệp vụ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia có vai trò rất quan trọng Các công cụ

này tạo cho Ngân hàng Trung ương khả năng tác động đến các yếu tố liên quan đến thông

tin tiền tệ và hoạt động ngân hàng Thông qua đó, các tổ chức tín dụng phải tự điều chỉnh

hoạt động của mình theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước Mặt khác, các công cụ

thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia vân phải đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh của

các tổ chức tín dụng, cũng như sự bình đẳng trong môi trường cạnh tranh giữa các ngân

hàng

Tùy theo trình độ phát triển của thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng ở từng

nước trong từng giai đoạn mà Ngân hàng Trung ương quyết định áp dụng các công cụ phù

hợp, các công cụ để Ngân hàng Nhà nước thực hiện các chính sách tiền tệ gồm:

Trang 24

 Tỷ giá hối đoái

 Dự trữ bắt buộc

 Nghiệp vụ thị trường mở

 Các công cụ khác do Thống đốc quy định.35

Các công cụ để Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia có thể

chia ra làm hai nhóm: nhóm các công cụ trực tiếp và nhóm các công cụ gián tiếp

+ Các công cụ trực tiếp là các công cụ mang tính mệnh lệnh hành chính cao như: dự

trữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái, lãi suất

+ Các công cụ gián tiếp là các công cụ mang tính can thiệp bằng biện pháp kinh tế

nhiều hơn và được thực hiện thông qua các trung gian là các tổ chức tín dụng để đạt được

các mục tiêu của Ngân hàng Trung ương như: thị trường mở, tái cấp vốn

Tuy nhiên, sự phân biệt trên chỉ mang tính chất tương đối vì những nước có nền

kinh tế thị trường phát triển thường ưu tiên sử dụng các công cụ gián tiếp và hạn chế sử

dụng các công cụ trực tiếp còn những nước đang phát triển thường phải kết hợp sử dụng

cả hai loại công cụ để có thể điều hành có hiệu lực chính sách tiền tệ tiền tệ khi thị trường

tài chính ở những nước này còn chưa phát triển, chưa được hoàn thiện và thiếu khả năng

tự điều tiết theo quan hệ cung cầu của thị trường

Đối với Việt Nam, định hướng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là tăng cường

sử dụng các công cụ gián tiếp để từng bước thay thế dần các công cụ điều hành trực tiếp,

nhằm tăng tính “thị trường” trong hoạt động ngân hàng Định hướng này đã được thể hiện

trong thực tiễn điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời

gian qua: tăng cường hoạt động nghiệp vụ thị trường mở, cho phép các tổ chức tín dụng

thực hiện cơ chế lãi suất tự do thỏa thuận trong quan hệ tín dụng với khách hàng…36

Công cụ tái cấp vốn

Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện tái cấp vốn cho các ngân hàng là

nhằm thể hiện vai trò “ngân hàng của các ngân hàng” của Ngân hàng Trung ương Trong

trường hợp các ngân hàng thương mại thiếu vốn để hoạt động và không huy động được

vốn từ các nguồn khác như: nhận tiền gửi, vay của các tổ chức tín dụng khác… thì Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam có thể cho các ngân hàng này vay một khoản tiền nhất định với

thời hạn ngắn hạn (đến một năm) và tài sản bảo đảm cho khoản vay đó có thể là giấy tờ có

giá như Tín phiếu Kho bạc, Trái phiếu Kho bạc…

Tái cấp vốn là hình thức cho vay vốn của Ngân hàng Trung ương đối với các

Ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu vay vốn để phục vụ

phát triển kinh doanh của các ngân hàng thương mại qua các hình thức chiết khấu, tái

35

Điều 16 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

36 Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự

Trang 25

chiết khấu các thương phiếu trái phiếu ngắn hạn cho vay có đảm bảo bằng giấy tờ có

giá ngắn hạn và các tài sản khác

Tái cấp vốn được Ngân hàng Nhà nước thực hiện dưới các hình thức sau 37:

Một là, cho vay lại theo hồ sơ tín dụng Đây là hình thức tái cấp vốn của Ngân

hàng Nhà nước cho các ngân hàng đã cho vay đối với khách hàng.38

Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn cho khi các ngân hàng có văn bản đề

nghị Ngân hàng Nhà nước cho vay tái cấp vốn trong trường hợp ngân hàng thực sự

khó khăn về vốn khả dụng 39 nhưng không có đủ giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn tham gia

nghiệp vụ thị trường mở hoặc tham gia nhưng không trúng thầu.40

Hai là, chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác

Đây là hình thức tái cấp vốn chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các

ngân hàng Đây là công cụ cổ điển của các Ngân hàng Trung ương trên thế giới và mỗi

Ngân hàng Trung ương đều có chính sách chiết khấu Chính sách chiết khấu là các

điều kiện mà theo đó Ngân hàng trung ương mua các giấy tờ có giá

Chiết khấu là việc Ngân hàng Nhà nước mua các giấy tờ có giá ngắn hạn, còn

thời hạn thanh toán và thuộc sở hữu của các ngân hàng Các giấy tờ có giá này được

các ngân hàng mua hoặc đấu thầu trên thị trường sơ cấp Tái chiết khấu là việc Ngân

hàng Nhà nước mua các giấy tờ có giá ngắn hạn, còn thời hạn thanh toán và thuộc sở

hữu của các ngân hàng Các giấy tờ có giá này đã được các ngân hàng mua hoặc chiết

khấu trên thị trường thứ cấp.41

Theo quy định trước đây, Ngân hàng Nhà nước thực hiện tái cấp vốn dưới hình

thức chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố các giấy tờ có giá

ngắn hạn khác.42 Hiện nay “chiết khấu, tái chiết khấu” không chỉ giới hạn đối với các

giấy tờ có giá ngắn hạn mà các giấy tờ có giá khác khi tham gia giao dịch trong hoạt

động tái cấp vốn đã không bị giới hạn về thời gian phát hành của mình Điều này cho

thấy Ngân hàng Nhà nước đã mở rộng phạm vi của hoạt động tái cấp vồn thông qua

hình thức chiết khấu, tái chiết khấu

Các giấy tờ có giá được Ngân hàng Nhà nước chiết khấu, tái chiết bao gồm:

Vốn khả dụng là số tiền dự trữ mà ngân hàng gửi vào cơ quản quản lý tiền tệ của quốc gia (Ngân hàng Nhà

nước, Cục quản lý tiền tệ) Nó bao gồm: tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi phục vụ thanh toán liên ngân hàng

Thanh toán liên ngân hàng là hoạt động thường xuyên giữa các ngân hàng thành viên trong nghiệp vụ chuyển

tiền giữa các ngân hàng tại các địa phương khác nhau

40

Văn bản số 1255/NHNN-TD của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại, chi

nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện một số nội dung liên quan tới vấn

đề đảm bảo khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại

41

Điều 2 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng Ban hành kèm theo

Quyết định số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12/8/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (sau đây gọi tắt là

Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu)

42 Khoản 2 Điều 17 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997

Trang 26

+ Tín phiếu Kho bạc: là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn dưới một năm do

Kho bạc Nhà nước phát hành nhằm phát triển thị trường tiền tệ và huy động vốn để bù

đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước trong năm tài chính.43

+ Trái phiếu Kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, do

Kho bạc Nhà nước phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt của ngân sách nhà

nước theo dự toán ngân sách nhà nước hàng năm đã được Quốc hội quyết định.44

+ Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước: là giấy nhận nợ ngắn hạn, có lãi suất do Ngân

hàng Nhà nước phát hành nhằm tạo ra công cụ để điều hành thị trường tiền tệ theo

mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

+ Thương phiếu

+ Các loại giấy tờ có giá khác được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định

trong từng thời kỳ.45

Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam

kết thanh toán không điều kiện một số tiền nhất định trong một thời gian nhất định.46

Nhưng, hiện nay “thương phiếu” không còn là giấy tờ mà Ngân hàng Nhà nước

thực hiện tái cấp vốn dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu nữa mà thay vào đó là

“các công cụ chuyển nhượng” (hay các công cụ tài chính), trong đó bao gồm nhiều

loại giấy tờ có giá khác nhau

Theo quy định tại Điều 1 Luật Các công cụ chuyển nhượng 2005 thì “Công cụ

chuyển nhượng là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán

không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định” và gồm các công

cụ sau:

+ Hối phiếu đòi nợ: là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký

phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời

điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng

+ Hối phiếu nhận nợ: là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán

không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định

trong tương lai cho người thụ hưởng

+ Séc: là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân

hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người

thụ hưởng.47

43

Điều 18 Nghị định 141/2003/NĐ-CP ngày 20/11/2003 của Chính phủ quy định Về việc phát hành trái phiếu

Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu Chính quyền địa phương (sau đây gọi tắt là Nghị

Điều 3 Pháp lệnh thương phiếu số 17/1999/PL-UBTHQH10 ngày 24/12/1999 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

(đã hết hiệu lực, được thay thế bằng Luật Các công cụ chuyển nhượng 2005)

47 Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 4 Luật Các công cụ chuyển nhượng 2005

Trang 27

Theo pháp luật hiện hành thì:

+ Chiết khấu công cụ chuyển nhượng là việc tổ chức tín dụng mua công cụ

chuyển nhượng từ người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán

+ Tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng là việc tổ chức tín dụng mua lại công cụ

chuyển nhượng đã được tổ chức tín dụng khác chiết khấu trước khi đến hạn thanh

toán.48

Có thể nói, chiết khấu, tái chiết khấu là công cụ của Ngân hàng Nhà nước để

thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Thông qua hoạt động này, Ngân hàng Nhà nước

có thể khuyến khích tăng hoặc giảm lãi mức cung ứng tín dụng của ngân hàng thương

mại đối với nền kinh tế, đồng thời tăng hoặc giảm mức cung ứng tiền trong lưu thông

Ba là, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá

khác Đây là hình thức tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, theo đó Ngân

hàng Nhà nước cho các ngân hàng thương mại vay vốn khi có các giấy tờ có giá làm

vật bảo đảm cho khoản vay

Điểm khác biệt cơ bản giữa cho vay có bảo đảm bằng cầm cố các giấy tờ có giá

với chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước là ở chỗ

trong trường hợp chiết khấu, tái chiết khấu thì quyền sở hữu các giấy tờ được chuyển

nhượng cho Ngân hàng Nhà nước (vì Ngân hàng Nhà nước mua lại các giấy tờ có giá

này) Trong trường hợp cho vay có bảo đảm bằng cầm cố các giấy tờ có giá thì các

giấy tờ có giá chỉ là tài sản bảo đảm cho khoản vay và vẫn thuộc quyền sở hữu của các

ngân hàng thương mại, khi hết thời hạn vay, khi ngân hàng thương mại đã trả đầy đủ

cả gốc và lãi cho Ngân hàng Nhà nước thì Ngân hàng Nhà nước phải trả lại các giấy tờ

có giá đó cho ngân hàng thương mại

Công cụ lãi suất

Công cụ lãi suất được Ngân hàng Nhà nước thực hiện dưới hình thức công bố

lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh hoặc

dưới hình thức áp dụng lãi suất đối với tái cấp vốn.49

Lãi suất cơ bản có 2 đặc trưng sau: Do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố

và làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định làm lãi suất kinh doanh

Lãi suất kinh doanh ở đây được hiểu là lãi suất huy động vốn và lãi suất cấp tín

dụng của các tổ chức tín dụng Hiện nay, với cơ chế lãi suất thỏa thuận, lãi suất cơ bản

không còn là công cụ kiểm soát trực tiếp lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng mà đóng

vai trò định hướng lãi suất thị trường, giúp cho các tổ chức tín dụng hạn chế rủi ro

trong việc ấn định lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay

48

Khoản 14 và Khoản 15 Điều 4 Luật Các công cụ chuyển nhượng 2005; Khoản 5 và Khoản 6 Quy chế chiết

khấu, tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo

Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN ngày 29/12/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

49 Điều 18; Khoản 12 và Khoản 13 Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 28

Khi nhu cầu xã hội đòi hỏi cần phải tăng khối cung tiền tệ trong lưu thông,

nghĩa là phải đưa thêm tiền vào lưu thông thì Ngân hàng Trung ương sẽ quyết định

giảm lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn để trên cơ sở đó hình thành hệ thống lãi

suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng trên thị trường Quyết định này không chỉ có

tác dụng làm giảm nhu cầu gửi tiền của khách hàng ở các tổ chức tín dụng mà còn có

tác dụng kích thích nhu cầu vay vốn của khách hàng tại các tổ chức tín dụng Nhờ thế

mà Ngân hàng trung ương có thể cung ứng thêm tiền vào lưu thông một cách dễ dàng

hơn thông qua việc cho vay tái cấp vốn đối với các tổ chức tín dụng

Trong trường hợp cần đẩy lùi lạm phát, nghĩa là phải giảm khối cung tiền tệ

trong lưu thông, Ngân hàng Trung ương sẽ quyết định tăng lãi suất cơ bản và lãi suất

tái cấp vốn đối với tổ chức tín dụng Quyết định này không những có tác dụng làm

giảm nhu cầu vay vốn của khách hàng ở các tổ chức tín dụng cũng như nhu cầu vay

vốn của các tổ chức tín dụng ở Ngân hàng trung ương mà còn có tác dụng kích thích

nhu cầu gửi tiền của khách hàng tại các tổ chức tín dụng để hưởng lãi Giải pháp này

sẽ góp phần làm giảm đáng kể khối cung tiền tệ trong lưu thông nhờ sự kết hợp với

việc bán ra các giấy tờ có giá hay ngoại hối của Ngân hàng trung ương trên thị trường

tiền tệ hay thị trường ngoại hối

Có thể nói, chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời

gian qua được điều hành theo hướng tích cực, nới lỏng từng bước theo hướng tự do

hóa, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nước, mức độ hội nhập quốc tế của

nền kinh tế nước ta, góp phần không nhỏ vào việc kiềm chế lạm phát Cơ chế điều

hành lãi suất càng trở nên linh hoạt hơn, bám sát cung cầu vốn thị trường, quyền chủ

động ấn định lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng được mở rộng, làm tăng khả

năng cạnh tranh của các tổ chức tín dụng này nhưng vẫn kiểm soát được lãi suất trên

thị trường tiền tệ

Công cụ tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa giá trị của đồng Việt Nam với giá trị của đồng tiền

nước ngoài.50 Tỷ giá hối đoái vừa là một phạm trù kinh tế, vừa là một công cụ hữu

hiệu để Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia với mục tiêu ổn

định giá trị đồng tiền Muốn kiềm chế lạm phát gia tăng (với các yếu tố khác không

thay đổi), Ngân hàng Trung ương có thể sử dụng chính sách nâng giá nội tệ (tức tác

động làm cho tỷ giá giảm); muốn hạn chế tình trạng giảm phát gia tăng, Ngân hàng

Trung ương có thể sử dụng chính sách phá giá nội tệ (tác động làm cho tỷ giá tăng);

muốn duy trì giá cả ổn định, Ngân hàng Trung ương phải sử dụng chính sách tỷ giá ổn

định và cân bằng

50 Khoản 8 Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w