1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT về bồi THƯỜNG THIỆT hại CHO NGƯỜI bị OAN DO NGƯỜI có THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG tố TỤNG HÌNH sự gây RA

82 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 848,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song song với việc ban hành những chế định về Luật hình sự và Tố tụng hình sự Nhà nước ta cũng từng bước xây dựng và hoàn thiện những chế định về bồi thường thiệt hại cho người bị oan tr

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.S Mạc Giáng Châu Nguyễn Minh Khang

Bộ môn Tư pháp MSSV: 5086041

Lớp: Thương mại 1- K34

Cần Thơ, 05/2012

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2.Phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 3

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI BỊ OAN DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ GÂY RA 1.1 Khái quát chung về oan trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền gây ra 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Đặc điểm của oan 8

1.1.3 Nguyên nhân và hậu quả của oan và bồi thường thiệt hại do oan 13

1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự 22

1.2.1 Tầm quan trọng của vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự 22

1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự 25

1.2.3 Một số nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan 27

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI BỊ OAN DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ GÂY RA 2.1 Quyền của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự 30

2.1.1 Quyền công dân 30

2.1.2 Quyền được bảo vệ danh dự, uy tín, nhân phẩm 31

Trang 4

2.1.3 Quyền được bồi thường 32

2.1.4 Quyền bình đẳng thương lượng trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại 33

2.1.5 Quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết bồi thường thiệt hại 34

2.2 Căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị oan 34

2.2.1 Có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định người bị oan thuộc trường hợp được bồi thường 35

2.2.2 Có thiệt hại do người tiến hành tố tụng gây ra 35

2.3 Trách nhiệm của Nhà nước trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan 35

2.3.1 Phạm vi trách nhiệm bồi thường 35

2.3.2 Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan 41

2.3.3 Trách nhiệm của người tiến hành tố tụng 46

2.4 Thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự 51

2.4.1 Thủ tục bồi tường thiệt hại thông qua hình thức thương lượng 52

2.4.2 Thủ tục bồi thường thiệt hại thông qua Tòa án 54

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI BỊ OAN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 3.1 Một số tồn tại về mặt pháp lý trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự và phương hướng hoàn thiện 57

3.1.1 Điều kiện để được bồi thường thiệt hại 57

3.1.2 Vướng mắc trong việc xác minh thiệt hại 57

3.1.3 Thành phần thương lượng giải quyết bồi thường thiệt hại 58

3.1.4 Khó xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường 59

3.1.5 Chưa quy định giải quyết quyền lợi của chủ doanh nghiệp bị oan trong TTHS 62 3.1.6 Thời hiệu khởi kiện 63

Trang 5

3.2 Thực tiễn vấn đề giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng

hình sự và phương hướng hoàn thiện 64

3.2.1 Thực trạng giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan 64

3.2.2 Đùn đẩy trách nhiệm của các Cơ quan tiến hành tố tụng 66

3.2.3 Yêu cầu bồi thường quá cao 68

3.2.4 Chậm giải quyết bồi thường 69

3.2.5 Thực tiễn của quá trình thương lượng bồi thường thiệt hại 69

3.2.6 Trách nhiệm hoàn trả 71

3.2.7 Nâng cao trình độ của cán bộ giải quyết bồi thường, tuyên truyền kiến thức 71 KẾT LUẬN 73

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Oan trong tố tụng hình sự là hiện tượng tiêu cực của quá trình giải quyết vụ án hình

sự, gây hậu quả nặng nề đối với trực tiếp cá nhân người bị oan, đối với cá nhân người tiến hành tố tụng, toàn xã hội và đặc biệt là giảm lòng tin của nhân dân vào Nhà nước Nhiệm vụ giải quyết vụ án hình sự là nhiệm vụ quan trọng của cơ quan tiến hành tố tụng (Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan điều tra) trong việc đấu tranh ngăn chặn và phòng chống tội phạm Nhà nước ta đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của từng cơ quan tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự để giúp quá trình này được hiện nhịp nhàng, và hiệu quả cao trong việc giải quyết vụ án hình sự Quyền năng này chiếm một vị trí khá quan trọng, nó đóng góp tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nhằm truy cứu đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Với mong muốn công tác giải quyết vụ án hình sự sẽ được thực hiện nhanh chóng, đúng người, đúng tội không làm oan cho người vô tội, từ năm 1945 đến nay Nhà nước ta đã bốn lần thay đổi Hiến Pháp (Hiến pháp 1946, 1958, 1980, 1992) để điều chỉnh các vấn đề khác nhau trong đó vấn đề hình sự và tố tụng hình sự rất được quan tâm Điều đó càng thể hiện rõ hơn qua việc những chế định pháp luật hình sự và tố tụng hình sự liên tục được hoàn thiện để kịp thời giúp cho công tác giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, chính xác, đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội Nhưng dù pháp luật liên tục được hoàn thiện nhưng vẫn không theo kịp sự phát triển của xã hội Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình tội phạm ngày càng phức tạp trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự bên cạnh việc xử lý đúng người, đúng tội luôn tìềm ẩn khả năng làm oan cho người vô tội Và với bản chất là một Nhà nước dân chủ, luôn vì dân, Nhà nước ta luôn có những chính sách đảm bảo công bằng cho người dân Song song với việc ban hành những chế định về Luật hình sự và Tố tụng hình sự Nhà nước ta cũng từng bước xây dựng và hoàn thiện những chế định về bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự như: Nghị định 47-CP năm 1997 về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức Nhà nước, người có thẩm quyền của

cơ quan tiến hành tố tụng gây ra; Nghị quyết 388/2003 của UBTVQH11 ngày 17-3-2003 về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình

sự gây ra; và Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010 Những chế định về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự

Trang 7

gây ra sẽ đảm bảo sự công bằng của pháp luật đối với mọi người dân, khắc phục những hậu quả, những thiệt hại mà người bị oan mắc phải Tuy nhiên khi đã xảy ra sự việc làm oan cho người vô tội thì việc áp dụng pháp luật để tiến hành giải quyết bồi thường cũng còn nhiều

khó khăn gây bức xúc cho người dân Với việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyên trong hoạt động tố tụng hình

sự gây ra” sẽ giúp hiểu rõ hơn các quy định pháp lý về bồi thường thiệt hại cho người bị

oan Góp phần cho công tác bồi thường thiệt hại cho người bị oan được tốt hơn

2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu xoay quanh vấn đề oan trong hoạt động tố tụng hình sự và bồi thường thiệt hại cho nguời bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự Làm rõ khái niệm oan trong hoạt động tố tụng hình sự, ai là người bị oan, những nguyên nhân dẫn đến làm oan cho người vô tội trong hoạt động tố tụng hình sự và hậu quả của nó đối với đời sống xã hội thông qua việc tìm hiểu những tình huống thực tế dẫn đến oan sẽ thấy được những vấn đề bất cập, những nguyên nhân dẫn đến oan, những chỗ chưa hoàn thiện của pháp luật từ đó nghiên cứu giải pháp giúp hoàn thiện hơn Thông qua việc xác định ai là người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự, từ đó đi sâu tìm hiểu những vấn đề lý luận của Nhà nước về việc quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đối với vấn đề oan và bồi thường thiệt hại cho người bị oan, trách nhiệm của những chủ thể có liên quan trong việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan Bên cạnh việc xác định các chủ thể có liên quan trong việc bồi thường cho người bị oan thì việc tìm hiểu và nghiên cứu những quy định của pháp luật về trình tự thủ tục giải quyết bồi thường cho người bị oan cũng rất quan trọng Từ những nội dung đã nghiên cứu người viết tổng kết những vấn đề thực trạng và bất cập trong công tác giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan, từ đó góp ý kiến giải pháp và hướng hoàn thiện đối với vấn đề oan và bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự

Trang 8

hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự hiện nay Bên cạnh nghiên cứu những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bị oan còn phải nghiên cứu những

vụ án, những tình huống thực tế về vần đề người bị oan và căn cứ vào những quy định của pháp luật về việc giải quyết bồi thường thiệt hại để thấy được những điểm hạn chế, những tồn tại chưa giải quyết được Để làm căn cứ định hướng đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại cho người bi oan Nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan, giúp họ ổn định xây dựng cuộc sống và lấy lại niềm tin về sự công bằng của Nhà nước và pháp luật

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài người viết sử dụng phương pháp nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu Tham khảo các nguồn tài liệu từ sách, báo, tạp chí Thống kê tổng hợp các

số liệu, và phân tích những quy định của pháp luật so sánh đối chiếu với những nguồn tài liệu khác như giáo trình, các bài viết trên các trang wed từ đó làm cơ sở cho việc tìm ra những ưu, khuyết điểm và các quy định, tạo điều kiện cho việc đóng góp những ý kiến của

cá nhân vào để hoàn thiện đề tài

Trang 9

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Mạc Giáng Châu! Cảm ơn hội đồng ! Và toàn thể các thầy cô trong khoa Luật trường Đại Học Cần Thơ Em đặc biệt cảm ơn Cô Mạc Giáng Châu người đã tận tình hướng dẫn, giúp đở em hoàn thành Luận văn này Mặc dù đã

có cố gắng để hoàn thành đề tài, nhưng bên cạnh những vấn đề tích cực đã đạt được thì vẫn còn những thiếu sót, hạn chế của người viết là không thể tránh khỏi nên đề tài còn nhiều hạn chế Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô!

Em xin chân thành cảm ơn!

SVTH: Nguyễn Minh Khang

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI

BỊ OAN DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

HÌNH SỰ GÂY RA

1.1 Khái quát chung về oan trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền gây ra

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm oan

“Oan” theo nghĩa thông thường được hiểu là “bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt không đúng, sai trái” 1 Theo Từ điển tiếng Việt thì “oan” được hiểu là “bị quy cho tội mà bản thân không gây nên, phải chịu sự trừng phạt mà bản thân không đáng phải chịu” 2 Còn “tội” được hiểu là hành vi có lỗi, hành vi vi phạm những quy định của pháp

luật và phải bị xử phạt Như vậy chúng ta có thể hiểu Oan là từ ngữ dùng để chỉ một người không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng họ bị đổ lỗi do thực hiện hành vi đó và phải chịu hình phạt mà họ không đáng phải chịu

Vấn đề một cá nhân bị người khác vu oan, quy cho một lỗi do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật (dân sự, hình sự) là chuyện vẫn xảy ra trong cuộc sống Tuy nhiên trong pháp luật dân sự và cả hình sự chưa đưa ra một khái niệm nào cụ thể về người bị oan Trong pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự chỉ đưa ra những chế định về bồi thường thiệt hại cho người không thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị khởi tố, truy tố, xét

xử và kết án trước pháp luật, những trường hợp như thế tạm gọi là người bị oan theo pháp luật hình sự3 Còn trong pháp luật dân sự hay xã hội thì người bị oan có thể được hiểu theo nghĩa chung (theo Từ điển tiếng Việt) là người bị quy cho một lỗi mà họ không thực hiện, chứ không thể gọi đó là tội Vì trong pháp luật dân sự không xác định vấn đề tội như trong hình sự

1 Nguyễn Như ý( chủ biên), Đại từ điển tiếng việt, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, năm 1998,tr 1269

2 Viện ngôn ngữ học, từ điển tiếng việt phổ thông, NXB TP HỒ CHÍ MINH năm 2005, tr 772

Trang 11

1.1.1.2 Khái niệm oan trong tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự là những qui định về trình tự, thủ tục, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng khi tham gia vào hoạt động giải quyết vụ án hình sự4

Hoạt động giải quyết các vụ án hình sự có thể được hiểu là tổng thể các hành vi pháp

lý do những chủ thể có trách nhiệm thực hiện quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Đó là quá trình các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành

tố tụng thực hiện nhiệm vụ của mình để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quá trình này gồm nhiều hoạt động phức tạp và nhiều nhóm hành vi khác nhau (khởi

tố, điều tra,truy tố, xét xử), với những công tác phức tạp từ xác minh sự hiện có của dấu hiệu phạm tội đến thu thập, kiểm tra, đánh giá, cũng cố chứng cứ chứng minh phạm tội và người phạm tội, áp dụng pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người đúng tội Nhưng trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự, thì bên cạnh việc chứng minh hành vi phạm tội còn có cả quá trình chứng minh hành vi không phạm tội (minh oan) 5 Nhằm đảm bảo sự công bằng cho người dân thì phải áp dụng pháp luật đúng người đúng tội, không làm oan cho người vô tội

Trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự có hai nhóm chủ thể chính: Nhóm thứ nhất,

những người tiến hành tố tụng, đây là nhóm chủ thể đại diện cho quyền lực Nhà nước thực thi quyền hạn và nhiệm vụ đã được Nhà nước giao cho, đó là: nhân danh Nhà nước tiến hành giải quyết vụ án hình sự, tìm ra người phạm tội và bắt họ phải chịu chế tài của pháp

luật về hành vi vi phạm pháp luật họ đã gây ra Nhóm chủ thể thứ hai, bao gồm người đó là

những người tham gia tố tụng: người bị bắt, người bị tạm giam, tạm giữ, bị can bị cáo, người làm chứng, người bào chữa, người phiên dịch, người giám định… Nhưng quan trọng nhất là những người bị bắt, người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo lại là những chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự với tư cách họ là người bị tình nghi Với tư cách là

người bị tình nghi này thì họ đứng trước hai trường hợp: một là, họ có thể bị xác định là có

tội và phải chịu chế tài của Nhà nước hoặc cũng có thể được xác định là không phạm tội Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của những người tiến hành tố tụng - Cơ quan tiến hành tố tụng Bởi vậy nếu như các công tác tiến hành hoạt động giải quyết vụ án không

4 Xem điều 1 bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

5 Vi phạm pháp luật trong thực tiển giải quyết vụ án hinh sự, ThS Lê Thị Kim Chung, tr.24, NXB tư pháp năm 2006

Trang 12

cẩn thận sẽ gây ra tình trạng làm oan cho người vô tội Tức là bắt người vô tội phải chịu

những chế tài của pháp luật mà họ không đáng phải chịu Bởi vậy, trong tố tụng hình sự, một người được coi là bị “oan” khi bản thân họ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng họ lại bị cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) thực hiên chức năng nhiệm vụ của mình, thông qua thủ tục tố tụng hình sự (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) bắt cá nhân đó phải chịu một chế tài, hình phạt của pháp luật đối với tội mà họ không hề thực hiện bằng một quyết định hoặc một bản án có hiệu lực pháp luật

Ví dụ: Công dân Phạm Vũ trú tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng bị khởi tố oan

gần 1.500 ngày, trong đó có 139 ngày bị bắt tạm giam, về tội “cố ý gây thường tích” Sau khi vụ án được sáng tỏ, ngày 17/8/2011, VKSND huyện Đức Trọng phải bồi thường cho công dân Phạm Vũ 101.487.225 đồng và xin lỗi công khai tại nơi cư trú của anh Vũ, đồng thời đăng xin lỗi và cải chính công khai6 Nhưng trong trường hợp của Vũ được minh oan

là do người phạm tội tự nguyện tự thú nên những nghi vấn về Vũ đã được sáng tỏ, chứ không phải do Cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra sự thật để minh oan cho anh Vũ, Vũ được xem là người bị oan vì Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng đã có quyết định khởi tố oan cho anh

Vũ nên đã thực hiên trách nhiệm bồi thường đối với anh Trường hơp của anh Vũ chỉ là một trong số rất nhiều những trường hợp người vô tội bi kết án oan đã hoặc vẫn đang chờ đươcc minh oan từng ngày

1.1.1.3 Khái niệm bồi thường thiệt hại do oan

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Và cũng được quy định trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho những người bị thiệt hại từ những hành vi vi phạm nghĩa

vụ của các chủ thể khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau dân sự, hình sự, tố tụng… Dù bồi thường thiệt hại được quy định dưới góc độ nào, phạm vi nào cũng có thể hiểu là một quan hệ pháp luật phát sinh khi có hành vi xâm phạm đến các lợi ích được pháp luật bảo vệ (tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản…) và gây thiệt hại Chủ thể gây thiệt hại phải bồi thường những tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị xâm phạm lợi ích được pháp luật bảo vệ

Trang 13

Trong hoạt động tố tụng hình sự thì Cơ quan tiến hành tố tụng, là cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ giải quyết các vụ án hình sự Trong hoạt động tố tụng hình sự có thể

có những người không thực hiện hành vi phạm tội nhưng Cơ quan tiến hành tố tụng lại đưa

ra những bằng chứng chứng minh người đó đã thực hiện hành vi phạm tội và bắt họ phải chịu những chế tài mà pháp luật đã qui định, với việc kết án oan người không thực hiện hành vi phạm tội thì người bị kết án oan là người đã bị xâm phạm đến các quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền lợi hợp pháp mà những quyền này

đã được pháp luật bảo vệ, nên việc Cơ quan tiến hành tố tụng kết án oan cho những người không thực hiên hành vi phạm tội thì Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan đã vi phạm các quyền về tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, những quyền này được pháp luật bảo vệ bằng việc những ai vi phạm những quyền này thì phải có trách nhiệm bồi thường7 Bởi vậy, bồi thường thiệt hại do oan (trong TTHS) là việc Cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành các công tác bồi thường, hỗ trợ và khắc phục một phần hậu quả đối với những cá nhân bị oan do quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng đã gây ra, và quyết định đó đã gây ra hậu quả nghiêm trọng về vật chất và về tinh thần cho bản thân cá nhân

bị oan cũng như cho gia đình người bị oan trong quá trình giải quyết vụ vu án hình sự

1.1.2 Đặc điểm của oan

1.1.2.1 Oan phải là sự thiệt hại tác động lên một chủ thể là cá nhân người bị tình nghi

Theo qui định về năng lực trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình sự thì chủ thể thực hiện hành vi phạm tội theo qui định của pháp luật hình sự chỉ là cá nhân8 Bản thân cá nhân đó có thể trở thành chủ thể phải chịu sự điều chỉnh của Bộ luật hình sự khi có những dấu hiệu chứng minh là cá nhân đó bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội được qui định trong bộ luật hình sự

Vấn đề quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự là xác định người bị tình nghi

trong vụ án hình sự “Người bị tình nghi trong vụ án là người bị buộc tội trong trường hợp

cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu, bao gồm người có hành động

7 Xem Điều 71, 72 Hiến pháp năm 1992

Xem Điêu 29, 30 Luật tố tụng hình sự năm 2003

8 Xem Điều 2, 8, 12 Bộ luật hình sự năm 1999

Trang 14

phạm pháp bị mời làm việc, người bị bắt, hoặc bị tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố bị can.”9

Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiến hành giải quyết vụ án hình sự thông qua việc tác động lên người bị tình nghi bằng các biện pháp như: áp dụng các biện pháp ngăn chặn (tạm giam, tạm giữ) đối với người bị tình nghi để phục vụ cho công tác điều tra, cũng như ngăn ngừa khả năng tiếp tục phạm tội hay trốn tránh pháp luật; Hoặc sau khi có đầy đủ chứng cứ chứng minh người bị tình nghi ban đầu là người thực hiện hành vi phạm tội thì họ sẽ phải chịu những chế tài của pháp luật hình sự theo đúng qui định pháp luật Điều đó là phù hợp nếu như người bị tình nghi là người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng nếu người bị tình nghi không thực hiện hành vi phạm tội thì việc họ bị tạm giam, tạm giữ hay bị kết án oan

và chấp hành hình phạt sẽ gây ra nhiều thiệt hại với họ

Cơ quan tiến hành tố tụng tác động lên người bị tình nghi sẽ gây ra những thiệt hại trong những trường hợp sau: Người bị tình nghi không thực hiện hành vi phạm tội nhưng

Cơ quan tiến hành tố tụng cho là họ phạm tội; Người bị tình nghi chỉ thực hiện một tội hoặc một số tội nhưng Cơ quan tiến hành tố tụng lại cho rằng họ phạm nhiều tội hơn; Người bị tinh nghi phạm tội nhẹ nhưng Cơ quan tiến hành tố tụng lại cho rằng người bị tình nghi phạm tội nặng hơn Với việc suy đoán và căn cứ vào những dấu hiệu ban đầu của

vụ án hình sự, nếu như không thực hiện tốt trong công tác giải quyết vụ án hình sự và áp dụng biện pháp cưỡng chế không đúng sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng đối với cá nhân người bị tình nghi Những thiệt hại đó có thể bao gồm những thiệt hại về vật chất và những thiệt hại về mặt tinh thần

1.1.2.2 Thiệt hại bao gồm thiệt hại vật chất và tinh thần

A Thiệt hại về vật chất

Những thiệt hại về vật chất của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự là những thiệt hại chủ yếu được xác định bằng tiền hay bằng những khối tài sản bị mất đi, hư hỏng, hay bị giảm sút trong thời gian họ bị oan Những thiệt hại về vật chất đối với người

bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự còn được xác định bao gồm những thiệt hại do việc cứu chữa, chăm sóc, người bị thiệt hại hay mai táng cho người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết mà nguyên nhân là do oan mà ra, hay những thiệt hại về vật chất

9

Hoàn thiện các quy định về người bị tình nghi trong Bộ luật tố tụng hình sư năm 2003, TS VõThị Kim Oanh –

Trưởng khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh; Nguyễn Ngọc Kiện – Học viên cao học Trường Đại

Trang 15

cho người bị oan do những tổn hại về mặt sức khỏe và cần những chi phí cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe, chi phí chăm sóc cho người bị thiệt hại và thiệt hại do người bị thiệt hại mất khả năng lao động.10

Những thiệt hại về mặt tinh thần có thể sẽ dẫn đến những thiệt hại về mặt vật chất, do tinh thần dẫn tới những ảnh hưởng về mặt sức khỏe và cần phải được khôi phục Chưa kể đến người bị oan còn có thể là trụ cột, là nguồn sống duy nhất của một gia đình, hay một nhóm người nào đó nên khi người này bị thiệt hại sẽ dẫn đến ảnh hưởng đối với những người còn lại

Đối với những người bị oan thì những thiệt hại về vật chất mà họ bị mất có thể rơi vào những trường hợp như sau:

Những thiệt hại bị mất trong quá trình họ bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù ( có thời hạn, chung thân, tử hình)

- Hầu hết những người “bị oan hay không bị oan” ngay khi có dấu hiệu tội phạm xảy

ra họ bị tình nghi là tội phạm thi họ sẽ bị áp dụng ngay một biện pháp ngăn chặn nào đó bởi cơ quan có thẩm quyền (bắt tạm giữ, tạm giam để điều tra ) để tìm ra những chứng cứ, động cơ và mục đích phạm tội của họ xem có đúng là họ thực hiện hành vi phạm tội hay không và kết luận họ có phạm tội hay không phạm tội bằng một bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật hay một cơ quan có thẩm quyền khác và bắt họ chấp hành hình phạt theo đúng quy định của pháp luật

- Ảnh hưởng đến uy tín: Đối với những người bị oan thì ngay khi họ bị bắt tạm giữ, tạm giam để điều tra xem họ có thực hiện hành vi phạm tội hay không thì họ đã bị cách ly đối với khối tài sản mà họ đang quản lý hay những công việc kinh doanh của họ bên ngoài hoặc cũng có thể chỉ là những công việc của những người làm công hay mua bán nhỏ Nhưng ngay khi thông tin về việc họ bị tạm giữ tạm giam về bất kỳ một nguyên nhân nào

đó thì đã trực tiếp ảnh đến uy tín trong công việc của họ

- Người bị tình nghi thực hiện hành vi phạm tội có thể là những người làm công ăn lương hay những người mua bán nhỏ thì những thiệt hại về mặt vật chất có thể sẽ là công việc của họ, phần thu nhập của họ mà họ đáng lẽ ra họ đã phải có được trong thời gian họ

bị oan

10 Xem Điều 46, 48,49 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2009

Trang 16

- Những người bị oan còn có thể là những người doanh nhân, kinh doanh, đứng đầu một tổ chức, hay một doanh nghiệp nào đó hoặc cũng có thể họ là người sở hữu một số tài sản nhất định nào đó nhưng do bị tình nghi phạm tội – chấp hành hình phạt tù oan mà họ đã

bị thiệt hại đối với những tài sản của mình Trong thực tế có những người là chủ của một doanh nghiệp lớn, nhưng sau khi bị kết tội và xét xử oan thì sau khi được minh oan họ bị thiệt hại nặng nề đối với tài sản của họ

Những thiệt hại sau khi người bị oan được minh oan

- Bị mất hết tài sản: có những người bị oan sau khi họ được minh oan và trở lại cuộc sống đời thường thì có nhiều người gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, do họ bị mất hết tài sản và mất hết người thân để nương tựa thậm chí có người do thời gian bị oan quá lâu

- Di chứng của bệnh tật: có người do thời gian bị oan quá lâu, tuổi tác cao và sự khắc nghiệt khi họ phải chấp hành hình phạt tù mà sau khi được minh oan trở lại cuộc sống, họ mang trong người những vấn đề sức khỏe cần phải có chi phí để điều trị bệnh, chi phí để đảm bảo cuộc sống của họ và người có nghĩa vụ chăm sóc họ trong trường hợp người bị oan không có người chăm sóc Ngoài ra còn chi phí cho người được cấp dưỡng mà người

bị oan có nghĩa vụ cấp dưỡng Đó là những thiệt hại về vật chất mà Cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xem xét cho người bị oan để đảm bảo sự công bằng và cuộc sống của họ sau khi họ được minh oan

B Thiệt hại do tổn thất về mặt tinh thần

Thiệt hại do tổn thất về mặt tinh thần là những thiệt hại do tổn thất về mặt tinh thần trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ, chấp hành hình phạt tù Những thiệt hại về mặt tinh thần của người bị oan là những thiệt hại rất khó xác định một cách cụ thể không giống như những thiệt hại về mặt vật chất chúng ta có thể thẩm định và xác định một cách cụ thể và trực tiếp Những thiệt hại về mặt tinh thần bao gồm: vấn đề danh dự, nhân phẩm và uy tín của bản thân người bị oan và danh dự, uy tín của gia đình họ đối với xã hội11

Khác với oan trong tố tụng hành chính hay tố tụng dân sự, chủ thể bị oan trong tố tụng hình sự phải chịu những thiệt hại gắn liền vời quyền tự do của họ nên mức độ nghiêm trọng hơn rất nhiều, bởi thế sự suy sụp về tinh thần của những người bị oan trong tố tụng

Trang 17

hình sự là không thể xác định cụ thể, bởi không có một cơ sở nào để làm công tác xác định thiệt hại như ở thiệt hại về mặt vật chất Chính vì vậy Nhà nước ta cần phải có những chính sách thích hợp để có thể bù đắp lại những thiệt hại tinh thần cho người bị oan

1.1.2.3 Phải do người tiến hành tố tụng gây ra

Người tiến hành tố tụng là những người được Nhà nước giao nhiệm vụ nhân danh Nhà nước giải quyết các vụ án hình sự Người tiến hành tố tụng bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án

(Theo khoản 2 điều 33 BLTTHS năm 2003)

Người tiến hành tố tụng là những người duy nhất được pháp luật quy định đại diện cho Nhà nước để giải quyết vụ án hình sự, gồm các thủ tục (khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử, thi hành án) Khi xuất hiện dấu hiệu của một vụ án hình sự thì người tiến hành tố tụng

sẽ thực hiện chức năng nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhà nước đã giao cho mình, để xác định người thực hiện hành vi phạm tội và áp dụng chế tài đối với người phạm tội, nhằm đảm bảo việc đấu tranh chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác nhanh chóng

và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội đảm bảo đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội góp phầm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân12

Nhưng việc người tiến hành tố tụng đại diện Nhà nước thực hiện việc ngăn ngừa, phòng chóng tội phạm không phải lúc nào cũng thuận lợi, tức là không phải mọi quyết định của những người tiến hành tố tụng không phải lúc nào cũng chính xác, áp dụng đúng người, đúng tội, mà đôi khi do những nguyên nhân khách quan mà vẫn có trường hợp làm oan cho người vô tội

Tại điều 1 của BLTTHS năm 2003 Nhà nước ta đã nêu rõ quan điểm Nhà nước giao cho Cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) quyền được phép thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình tiến hành các công việc như: khi phát hiện có hành vi phạm tội xảy ra thì được phép tiến hành biện pháp bắt giữ người đó, sau đó thực hiện các thủ tục điều tra, truy tố và xét xử người đó, để cuối cùng kết luận người đó là

có tội hay không có tội bằng một bản án của Tòa án hay quyết định của cơ quan có thẩm quyền Với bản án hay quyết định đó có thể sẽ tước đi quyền tự do của công dân đó trong một khoảng thời gian nhất định (nếu với án phạt tù có thời hạn hoặc chung thân), nhưng

12 Xem điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự

Trang 18

cũng có thể là tước đi cả sinh mạng của họ (đối với án tử hình) Điều đó là hoàn toàn xứng đáng nếu như bản án hay quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng

hình sự áp dụng đúng người, đúng tội vì nó thể hiện sự công bằng xã hội “mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”

(khoản 1 điều 3 BLHS năm 1999) Nhưng ngược lại nếu như bản án của Tòa án hay quyết định của cơ quan có thẩm quyền lại quyết định áp dụng cho một cá nhân không thực hiện hành vi phạm tội và bắt họ phải chịu những hình phạt cho nhưng tội mà họ không thực hiện, như thế thể hiện sự thiếu công bằng và hậu quả sẽ rất nghiêm trọng

1.1.3 Nguyên nhân và hậu quả của oan và bồi thường thiệt hại do oan

1.1.3.1 Nguyên nhân dẫn đến oan trong hoạt động tố tụng hình sự

Trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như giải quyết các vụ án hình sự, các Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nói chung và những người tiến hành tố tụng nói riêng khó tránh khỏi trường hợp gây nên oan sai cho người vô tội Việc dẫn đến những trường hợp làm oan cho người vô tội do rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nhìn chung có những nguyên nhân chủ yếu như sau:

Trước hết là do hệ thống pháp luật: đây là một nguyên nhân Cơ quan tiến hành tố tụng phải chấp nhận, hệ thống pháp luật của chúng ta còn nhiều kẽ hở, chưa đồng bộ, có nhiều quy định còn khái quát, dẫn đến áp dụng sai điều khoản của pháp luật Do hệ thống

cơ quan tư pháp, Cơ quan tiến hành tố tụng chưa được chặt chẽ, số lượng cán bộ thì quá ít

so với khối lượng công việc chưa có sự độc lập xét xử giữa các cơ quan (chẳng hạn như việc Cơ quan xét xử cấp dưới xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan xét xử cấp trên) và các Cơ quan tiến hành tố tụng khác cũng như các Cơ quan phụ trợ cho quá trình tố tụng đây là một nguyên nhân mà không bao giờ tránh khỏi trong hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta Quá trình điều tra thu thập chứng cứ không đầy đủ cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc làm oan cho người vô tội Nguyên nhân phổ biến dẫn đến việc gây oan là do quá trình điều tra thu thập chứng cứ không đầy đủ, không theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật Từ đó làm cơ sở pháp lý của chứng cứ yếu, dẫn đến tình trạng bắt người và truy tố người vô tội

Ví dụ: Vụ án xảy ra vào tháng 9/1993 tại Q.Gò Vấp, TP.HCM: nửa đêm 13/9/1993,

căn phòng thuê tại P.17, Q.Gò Vấp của vợ chồng ông Trương Ngọc Minh và bà Huỳnh Thị

Trang 19

Thiên Nga (nằm sát vách nhà bị cáo Phạm Thị Út và con gái Ngô Thị Mĩ Lệ) bỗng phát

hỏa Thoát ra khỏi ngọn lửa, ông Minh và bà Nga chỉ kịp lăn lộn kêu la rằng “bà Út đốt tôi” rồi sau đó qua đời tại bệnh Viện do bị bỏng quá nặng Và từ tiếng trên bà Út đã trở

thành nghi can số 1 của vụ án Cơ quan điều tra đã vào cuộc và xác định động cơ của bà Út

là do mâu thuẫn trong việc thuê nhà và bà Út muốn chiếm đoạt 2 chỉ vàng của ông Minh nên đã sát hại Bà Út được đưa ra xét xử sơ thẩm lần đầu vào ngày 28/9/1999, TAND TP.HCM đã tuyên phạt bà Út 20 năm tù vì hai tội giết người và hủy hoại tài sản Đến năm

2000, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM tiếp tục xử y án sơ thẩm Nhưng hai năm sau, vào tháng 9/2002, Ủy ban Thẩm phán của TAND tối cao đã lật lại hồ sơ và xác định

việc kết tội bà Út là “chưa có cơ sở vững chắc”, nên đã quyết định hủy 2 bản án nói trên

để trả hồ sơ về cho các Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm của TP.HCM tiến hành điều tra lại Và tháng 9/2004 vừa qua, sau quá trình điều tra và truy tố lại, TAND TP.HCM đã

mở phiên tòa sơ thẩm lần 2 để xét xử vụ án và vẫn tuyên phạt bà Út mức án 20 năm tù về hai tội như trước Bà Út kháng cáo kêu oan Ngày 10/6/2005, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM mở phiên tòa phúc thẩm lần 2 để xem xét đơn kêu oan của bà Út và đã dành rất nhiều thời gian để thẩm vấn các nhân chứng liên quan Cuối cùng, sau hai ngày làm việc căng thẳng sau ngày 13/6, Hội đồng xét xử đã tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, đình

chỉ vụ án và tuyên bố bị cáo Út không phạm tội “giết người” và “hủy hoại tài sản”, vì

HĐXX thấy những chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được chứa đựng quá nhiều mâu thuẫn và không có đủ chứng cứ để chứng minh bị cáo là người đốt nhà nên HĐXX đả trả tự

do cho bị cáo sau nhiều lần xét xử sơ thẩm và phúc thẩm13

Từ ví dụ trên ta thấy việc thu thập chứng cứ đối với trường hợp vụ án của bà Út đã không được thực hiện đầy đủ, Cơ quan tiến hành tố tụng chỉ căn cứ vào tiếng la của ông Minh và bà Nga và sau đó vội vàng kết tội cho bà Út khi chưa có đủ các chứng cứ thuyết phục và kết quả là đã kết án oan cho bà trong một thời gian dài

- Nguyên nhân tiếp theo do nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng và phức tạp liên quan đến nhiều người, hành vi, thủ đoạn phạm tội tinh vi nên làm cho việc điều tra khó khăn dẫn đến tình trạng truy tố sai đối tượng cũng như để lọt tội phạm

13 tu/45158351/218/

Trang 20

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Ky-an-dot-nha-giet-nguoi-tai-TP-HCM-Bi-cao-trang-an-sau-gan-10-nam-ngoi Do sự cố ý vi phạm pháp luật: pháp chế Xã Hội Chủ Nghĩa, vi phạm nguyên tắc công bằng của pháp luật của một số cá nhân Người tiến hành tố tụng Việc cố ý vi phạm để

bỏ lọt tội phạm hay làm oan người vô tội do những chủ thể này trên thực tiễn rất khó phát hiện và đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm cho tình hình tội phạm tăng lên đáng kể và người phạm tội lại thoát tội Chính như thế làm mất lòng tin của người dân trước sự công bằng nghiêm minh của pháp luật và Cơ quan tư pháp

Ví dụ: Vụ án xảy ra trên địa bàn tỉnh Bình Dương, anh Nhựt là công nhân của công

ty Kumho Công ty Kumho là công ty sản xuất vỏ xe, đêm 20 rạng sáng ngày 21-08-2010 công ty phát hiện bị mất 50 vỏ xe Qua quá trình điều tra trong nội bộ công ty thì công ty

đã phát hiện trong nhiều năm qua công ty đã bị mất cắp 371 vỏ ô tô và 14.470 kg mủ cao

su nguyên liệu (tương đương 1,5 tỉ đồng) Ngay sau khi vụ mất trộm bị phát hiện anh Nhựt

đã báo cáo lên cấp trên, sau đó cơ quan Công an đã đến công ty để điều tra Ngày

21-04-2011, anh Nhựt được đưa tới trụ sở công an huyện Bến Cát để diều tra về vụ mất cắp và anh Nhựt bị giữ lại đây để diều tra đến ngày 25-04-2011, Cơ quan công an thông báo anh Nhựt đã chết với tư thế treo cổ trong phòng giam và để lại thư tuyệt mệnh

Ngày 29-04-2011, chị Tuyền vợ anh Nhựt gửi đơn đến cơ quan chức năng vì nghi ngờ chồng mình bị chết oan Và hàng loạt những vấn đề đã phát sinh trong quá trình điều tra về sự thật cái chết của anh Nhựt như: khi khám nghiệm tử thi về nguyên nhân cái chết của anh Nhựt đã được xác định là do treo cổ tự tử nhưng trong biên bản khám nghiệm hiện trường có rất nhiều điểm khả nghi nếu chết treo cổ thì thân thể phải vượt quá mặt đất, còn hiện trường anh Nhựt chết thì hai chân đang đứng dưới đất, người tựa vào tường và cửa sổ, cổ bị dây buộc vào thành ngang của cửa sổ Phía bên chân trái của anh Nhựt có một bãi phân còn nguyên vẹn nhưng khám nghiệm tử thi thì trong hậu môn có một ít phân, quần và chân không hề bị dính phân mà bãi phân gần sát chân anh Nhựt Thông thường người chết dù tự tử thì giai đoạn chuẩn bị tắt thở bao giờ cũng có biểu hiện vũng vẫy Tại sao bãi phân vẫn còn nguyên? Bên tường cũng như cửa sổ không có một dấu vết nào biểu hiện có tác động của sự vùng vẫy Sao không giám định bãi phân kia có phải của anh Nhựt hay không Trên cửa sổ có chụp ảnh dấu vết vân tay của 1 bàn tay có phẩm màu đỏ Vậy vân tay này của ai cũng chưa được giám định Trên nền nhà, phía trước mặt anh Nhựt có nhiều vết chất nhầy màu vàng cũng chưa được giám định Có phải là chất nhầy từ cơ thể anh Nhựt ra không trong khi khám nghiệm tử thi thì cổ họng, thanh quản, miệng anh Nhựt

Trang 21

khô Việc trao trả các đồ cá nhân của anh Nhựt cho gia đình cũng có vấn đề Cụ thể chiếc điện thoại không phải là điện thoại của anh Nhựt như gia đình khiếu nại Đôi giày không phải của anh Nhựt chưa được giám định là của ai để lại hiện trường Nếu anh Nhựt tự sát, tại sao không cho gia đình nhìn, khâm niệm và cũng không cho gia đình tự quyết định việc thuê xe hay địa điểm chôn cất Thậm chí gia đình muốn mua quần áo, giầy mặc cho anh cũng không được14 Chính do những bất thường trong công tác điều tra vụ án như vậy là tiền đề dẫn đến việc truy tố sai và xét xử sai và đó là một trong những nguyên nhân làm oan cho người vô tội

hình sự cũng như tham giải quyết các vụ án còn yếu kém, nhiều thẩm phán chưa thực sự có trách nhiệm, không cập nhật kiến thức pháp luật để trao dồi kiến thức chuyên môn Theo

đó, nghiên cứu vụ án còn sơ sài, không chú ý các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, cho hưởng

án treo sai, thậm chí áp dụng không đúng điều luật, điều khoản,quyết định hình phạt tùy tiện, chứ chưa thống nhất, đôi khi còn theo cảm tính Có trường hợp xử quá nghiêm khắc lại có trường hợp lại xử quá nhẹ, không tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; phẩm chất đạo đức bị tha hóa, tham ô, tham nhũng làm cho vụ án không còn khách quan dẫn đế làm oan người vô tội, làm suy giảm uy tín của cơ quan pháp luật

Ví dụ: Vụ án xảy ra tại tỉnh Hà Tây cũ vào năm 2000, ba người trong vụ án này là anh Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Đình Lợi, Nguyễn Đình Tình Theo các tài liệu thì vào tối ngày 24-10-2000 có 1 đôi trai gái đang ngồi tâm sự gần trạm bơm xã Yên Nghĩa Sau đó Lợi, Kiên, Tình đã không chế người nam xuống mương và dung vũ khí khống chế cô gái, sau đó thay phiên nhau hãm hiếp cô gái Người bị hại, tài sản bị cướp đã được xác định; có nhân chứng biết về một số tình tiết liên quan đến vụ án; người bị hại xác định được đặc điểm đối tượng và hung khí mà đối tượng dùng để gây án, nhặt được vật chứng thủ phạm

bỏ lại hiện trường sau khi gây án và đã trình báo, nộp lại vật chứng cho cơ quan điều tra ngay sau khi vụ án xảy ra 15

14 bit.htm

http://dddn.com.vn/2011051710031566cat111/vu-anh-nhut-chet-tai-tru-so-cong-an-co-nhieu-nghi-van-bi-bung- dinh-chu-viet-phap-y.htm

http://phapluattp.vn/20110524051736265p1015c1074/vu-anh-nhut-chet-tai-tru-so-cong-an-thong-bao-ket-qua-giam-15 http://www.tin247.com/3_thanh_nien_duoc_minh_oan_sau_10_nam_tu_vi_toi_hiep_dam-6-21587795.html

http://laodong.com.vn/Home/3-thanh-nien-bi-ket-toi-oan-da-duoc-tra-tu-do/20102/173372.laodong

Trang 22

Cơ quan điều tra thiếu khách quan, đầy đủ, triệt để và nhiều chứng cứ gỡ tội chưa được xác minh làm rõ để kết luận, công tác điều tra có nhiều vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng hình sự Các bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã căn cứ vào các tài liệu điều tra thiếu khách quan để kết tội các bị cáo là không có căn cứ Từ vật chứng duy nhất là chiếc

áo thủ phạm bỏ lại hiện trường, nạn nhân nhặt được không thể hiện trong hồ sơ vụ án mà là một chiếc áo phông khác Từ đó, chỉ vì một lời khai cho rằng một trong các bị cáo đã từng mặc chiếc áo giống như vậy 2 năm trước, 3 thanh niên lĩnh tội oan Những bằng chứng ngoại phạm khác của Tình, Kiên, Lợi lại bị bỏ qua Việc điều tra thiếu khách quan, không đầy đủ và triệt để, nhiều chứng cứ gỡ tội chưa được xác minh làm rõ… Từ những sai sót trong công tác điều tra và truy tố đã dẫn đến việc xét xử oan cho 3 thanh niên trên suốt 10 năm

- Do xu hướng hình sự hóa trong phong cách của những Người tiến hành tố tụng mà nhiều vụ án oan đã cho thấy rằng sự sai lệch của vụ án đã được quyết định ngay từ đầu bởi trong công tác tiến hành tố tụng thì tất cả những người tiến hành tố tụng chỉ thiên về việc kết tội bị cáo do đó họ chỉ chú ý đến các chứng cứ buộc tội chứ không chú ý đến các chứng

cứ gỡ tội có lợi cho người bị truy tố chẳng hạn như những mâu thuẫn trong lời khai của bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại Thời gian địa điểm xảy ra vụ án các chứng cứ ngoại phạm Thậm chí có nhiều trường hợp tang vật, chứng cứ bị tiêu hủy, thất lạc, hư hỏng do không kịp thời thu giữ hoặc bảo quản dẫn đến việc điều tra xem xét lại làm sai

lệch Trong thực tế có hai cách chứng minh vụ án đó là: thứ nhất, đưa ra các luận điểm suy đoán và chứng minh rồi đi đến kết luận; thứ hai kết luận trước rồi đi tìm chứng cứ, chứng

minh Và hiện tai nhiều vụ án được áp dụng cách thứ hai quá nhiều, tức là ngay khi khởi tố

vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam, sau đó là cả một quy trình hoạt động chỉ chứng minh quyết định trên là đúng Tức chỉ muốn kết tội người bị tình nghi đầu tiên và chỉ chú trọng đến các chứng cứ nhằm buộc tội người đó, chứ không quan tâm đến các chứng cứ gỡ tội Chính điều này là nguyên nhân dẫn đến làm oan người vô tội Quá trình tố tụng là một quá trình chứng minh nhưng Cơ quan tiến hành tố tụng chưa chứng minh thì đã khẳng định Đây là nguyên nhân dẫn đến làm oan cho người vô tội và có thể bỏ lọt tội phạm

Ví dụ: Đầu năm 2001, bà Đào Thị Cúc, trú tại huyện Ô Môn (nay là quận Ô Môn, TP.Cần Thơ), phát hiện con gái 14 tuổi tên N của mình (bị câm bẩm sinh) có dấu hiệu bất thường nên chở con đến Trung tâm y tế Ô Môn khám thì phát hiện N có thai hơn 4 tháng

Trang 23

Gạn hỏi, N ra dấu cho biết đã bị người hàng xóm hiếp dâm Bà Cúc làm đơn tố giác gửi Công an huyện Ô Môn yêu cầu làm rõ hành vi của người hàng xóm Thế nhưng, không hiểu vì sao cơ quan điều tra lại khởi tố và bắt tạm giam ông Mai Than – anh rể của bà Cúc

về hành vi này Năm tháng sau, N sinh ra một bé gái Cơ quan điều tra tiến hành giám định ADN, kết quả giám định đi ngược lại những gì cơ quan điều tra đã làm, đứa trẻ sinh ra không có gì liên quan đến ông Mai Than Còn cơ quan điều tra vẫn một mực cho rằng, dù đứa trẻ không phải là con ông Mai Than nhưng vẫn có cơ sở để xác định ông có hành vi hiếp dâm N Sau đó, TAND tỉnh Cần Thơ (nay là TP Cần Thơ) đã tuyên phạt ông Mai

Than 20 năm tù tội “Hiếp dâm trẻ em”

Vụ án bị kháng cáo và sau đó Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM xử phúc thẩm

đã tuyên hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra lại do chứng cứ có nhiều mâu thuẫn, lời khai nhân không đáng tin cậy Sau khi thụ lý lại vụ án, qua 4 lần ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng VKS, CQĐT vẫn không đáp ứng, ngày 29/7/2005, TAND TP Cần

Thơ đã đưa vụ án ra xét xử và tuyên ông Mai Than không phạm tội “Hiếp dâm trẻ em” và

phiên phúc thẩm của Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM cũng tuyên y án sơ thẩm16 Ngay khi đã có kết quả giám định AND đứa bé không phải là con của Ông Mai Than, nhưng Cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tuyên ông tội hiếp dâm trẻ em mà không đưa ra bằng chứng xác thực cho việc kết tội trên đó là một phần của xu hướng hình sự hóa phong cách làm việc, mọi vụ án đều phải có người bị buộc tội chứ không phải chứng minh người vô tội

Trong thực tế khi đi đến quá trình xét xử chúng ta còn bắt gặp những nguyên nhân cũng dẫn đế khả năng làm oan người vô tội đáng quan tâm và cần phải được xử lý như tình trạng mớm cung, bức cung, nhục hình, khi lấy lời khai bị can, bị cáo của cán bộ điều tra Khi ra xét xử thi có khi Thẩm phán còn có tâm lý buộc tội cho bị can nhiều hơn là tìm ra chân tướng vụ án, Thẩm phán thường hỏi những câu buộc tội bị can, bị cáo khi xét hỏi và bắt họ phải trả lời Và rồi vì lý do nào đó người thì nói có, kẻ thì nói không và đôi khi Thẩm phán lại căn cứ vào câu trả lời đó mà làm chứng cứ để buộc tội bị cáo mà không xét đến nguyên nhân bị cáo trả lời như vậy là có đúng với sự thật hay không hay do họ bị ép

16 http://suckhoedinhduong.nld.com.vn/131097p0c1019/toa-phuc-tham-tuyen-ong-mai-than-vo-toi.htm

dam.htm

Trang 24

http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Phap-luat/63334/%C3%B4ng-gia-76-tu7893i-khong-ph7841m-t7897i-hi7871p-buộc hay một nguyên nhân nào khác Chính vì vậy mà sẽ dẫn đến trường hợp làm oan người vô tội

Ngoài ra việc hội đồng xét xử chỉ cơ bản đánh giá tính xác thực của tài liệu, chứng

cứ do cơ quan điều tra thu thập mà không chú trọng thu thập chứng cứ mới tại phiên tòa cũng như vai trò của luật sư trong quá trình tranh tụng là khá mờ nhạt Một phần là do luật

sư chưa nhận thức hết trách nhiệm của mình khi tham gia vụ án, một phần là do sức ép của Thẩm phán, Hội đồng xét xử thường có tâm lý xem nhẹ vai trò của luật sư như người chống đối vói họ Từ đó luật sư không được xem trọng để có thể tự do làm hết bổn phận trong vụ án, giai đoạn tranh tụng cũng là một vấn đề đáng nói Có vụ án, giai đoạn tranh tụng chỉ diễn ra một cách qua loa cho đủ trình tự, thủ tục chứ kết quả của vụ án đã được định đoạt từ các giai đoạn trước Chính việc xét xử qua loa, không xem trọng giai đoạn tranh tụng như vậy là một nguyên nhân đáng kể góp phần gia tăng trình trạng làm oan cho người vô tội trong hoạt động tố tụng hình sự

1.1.3.2 Hậu quả của oan trong hoạt động tố tụng hình sự và vấn đề bồi thường thiệt hại do oan

A Hậu quả đối với người bị oan

Oan để lại rất nhiều hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, các hậu quả do oan mà chúng

ta có thể dễ dàng nhận thấy là hậu quả cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Người phải chịu hậu quả lớn nhất đó không ai khác chính là bản thân người bị oan và những người thân trong gia đình người bị oan Người bị oan phải chịu rất nhiều mất mát từ vật chất đến tinh thần, từ bản thân đến gia đình Họ phải đối mặt rất lớn với dư luận xã hội, bạn bè, người thân, bởi họ khó có thể tìm thấy tiếng nói chung, sự cảm thông từ những đối tượng này Người bị oan nếu như ở mức độ ít nghiêm trọng chẳng hạn như bị bắt, bị tạm giữ thì thiệt hại có thể kiểm soát được như bị thiệt hại phần nào danh dự, thời gian,… Cũng có những trường hợp người bị oan sau một thời gian dài hàng chục năm hoặc nghiêm trọng hơn là bị tử hình thì sự thiệt hại quá lớn mà không thể nào bù đắp lại được Bên cạnh đó, ta

có thể thấy không chỉ bản thân người bị oan sai bị thiệt hại mà hầu như những trường hợp

đó đều kéo theo sự mất mát của người thân, gia đình những người này và những thiệt hại

đó cũng khó có thể đo lường và bù đắp được, nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai, danh dự và sự nghiệp cả đời của một người

Trang 25

B Hậu quả đối với cá nhân công chức gây ra oan sai

Ngoài người bị oan thì cá nhân gây ra oan cũng phải chịu nhiều thiệt hại về vật chất, tinh thần và có thể bị xử lý kĩ luật và cao hơn nữa là bị truy cứu trách nhiệm hình sự Cá nhân gây oan không ai khác chính là những người tiến hành tố tụng Khi cá nhân này gây

ra oan sai thì bản thân người này phải đối mặt với hàng loạt những hệ quả Chúng ta cũng biết, tố tụng hình sự là một lĩnh vực đặc biệt, những người tham gia vào lĩnh vực này không những cần trình độ chuyên môn mà đôi lúc phải giải quyết bằng kinh nghiệm và cảm tính Vì thế kết quả công việc sẽ phản ánh năng lực và tạo tâm lý tốt, cũng như tạo sự

tự tin cho những người này hoàn thành tốt công việc tiếp theo Cho nên một cá nhân khi gây ra oan sai sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý, có thể làm cho người này bị ức chế tinh thần, mất đi sự tự tin, nhạy bén khi tham gia vào những công việc sau này, làm chậm tiến

độ công việc và dẫn đến những quyết định không chính xác và sai lầm tiếp theo

Ngoài sự ảnh hưởng về mặt tinh thần, cá nhân gây ra oan sai còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm và cần phải được xem xét kĩ lưỡng để hoàn thiện quy trình này hơn, vì nó ảnh hưởng nhiều đến thái độ làm việc của những người tham gia tố tụng Do hiện tại, cá nhân gây ra oan sai không trực tiếp đứng ra bồi thường mà cơ quan Nhà nước trực tiếp đứng ra bồi thường Cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường là cơ quan quản lý cá nhân người gây ra oan sai và cá nhân gây oan phải hoàn trả chi phí lại, nhưng vấn đề ở đây là chi phí để bồi thường cho một trường hợp bị oan không nhỏ, có khi lên đến hàng tỉ đồng và cá nhân gây oan phải hoàn trả chi phí này Theo quy định này thì một số nhà làm luật cho rằng có nên chăng quy trách nhiệm bồi thường cho những cá nhân gây oan Vì nếu như thế sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, thái độ làm việc của những người này, quy định như thế sẽ làm cho những người tham gia

tố tụng e dè gây ra oan sẽ đưa ra những quyết định thiếu chính xác, xử lý nhẹ hoặc ngay cả

bỏ lọt tội phạm để tránh tình trạng gây ra oan sai Còn đối với một số nhà làm luật thì cần phải đặt ra vấn đề, người nào gây ra oan sai, người đó chịu trách nhiệm từ đó nâng cao cũng như đề cao trách nhiệm của người thực thi pháp luật, trách tình trạng quan liêu trong xét xử mà gây ra thiếu sót, oan sai Nhìn chung, với quan điểm nào thì cũng có những ưu điểm và khuyết điểm, vì thế vấn đề này cần đưa ra thảo luận để rút ra giải pháp có lợi nhất Bên cạnh việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan thì các nhân gây oan có thể bị xử

lý kỷ luật hoặc nghiêm trọng hơn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Quy định này rất

Trang 26

cần thiết nhưng sẽ có ảnh hưởng rất nhiều đến cá nhân gây oan Vì khi có trường hợp xảy

ra oan xác định cá nhân đã gây ra oan thì chắc chắn cá nhân này sẽ bị xử lý kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, cách thức, buộc thôi việc hoặc truy cứu trách nhiệm hình sư Điều này làm ảnh hưởng đến công việc của các nhân gây ra oan cho người vô tội từ đó làm ảnh hưởng đến thái độ không tốt khi các nhân này tham gia giải quyết vụ án sau này

C Hậu quả đối với Cơ quan tiến hành tố tụng – Nhà nước

Những thiệt hại đối với cá nhân bị oan người thân của những người này và các cá nhân gây ra oan chỉ là thiệt hại ở mức cá thể nhưng hệ quả từ những trường hợp đó chúng còn có thể gây ra những thiệt hại lớn hơn mà chúng ta không thể nào đo lường trước được

Đó là sự mất lòng tin của những người bị oan và những người thân của họ vào cơ quan Nhà nước thực thi pháp luật mà cụ thể là cơ qua tiến hành tố tụng, tính công bằng của pháp luật mất lòng tin vào tính dân chủ của Nhà nước nghiêm trọng hơn là những trường hợp này bị những đối tượng phản động lợi dụng xuyên tạc, chỉ trích đến quyền tự do, bình đẳng, công bằng, dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa, thiệt hại này khó có thể bù đắp và khôi phục lại được

Ngoài ra khi phát hiện có một trường hợp có dấu hiệu bị oan hoặc đã có oan xảy ra thì lúc nào cũng kéo theo hàng loạt hệ quả đó là những thủ tục pháp lý theo sau như thủ tục bồi thường thiệt hại cho người bị oan, xử lý trách nhiệm và các cá nhân gây ra oan… và trong mỗi thủ tục như thế thì Cơ quan tiến hành tố tụng phải tốn không ít thời gian, chi phí

để thực hiện những thủ tục này Trong đó thủ tục giải quyết và bồi thường thiệt hại cho người bị oan là quan trọng nhất và tốn nhiều thời gian nhất Đặc biệt là ở giai đoạn thương lượng Vì ở giai đoạn này Cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện trách nhiệm giải quyết bồi thường thiệt hại cho cá nhân bị oan mà chi phí bồi thường cho một trường hợp có khi lên đến hàng chục triệu đồng, hàng trăm tỷ hay hàng ngàn tỷ đồng Không chỉ bồi thường bằng tiền mà còn phải tiến hành xin lỗi công khai để khôi phục phần nào danh dự, uy tín của người bị oan Vì đây là một thủ tục pháp lý khẳng định người này đã không thực hiện hành vi phạm tội (bị oan) mà còn phần nào bù đắp, khôi phục lại danh dự cho người này cũng như người thân và gia đình họ Ngoài thủ tục bồi thường thiệt hại thì thủ tục xử lý trách nhiệm cá nhân gây ra oan cũng là một vấn đề quan trọng và ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống cán bộ của Cơ quan tiến hành tố tụng, việc này ít nhiều gây ra sự trì trệ trong

Trang 27

việc giải quyết công việc của cơ quan làm ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành công việc trong lĩnh vực tố tụng hình sự

- Nhìn chung thì hậu quả từ việc gây ra oan trong tố tụng hình sự là rất nặng nề và đáng tiếc để lại nhiều hậu quả mà chúng ta khó có thể khôi phục lại được cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng đến tính công chính liêm minh của cơ quan thực thi pháp luật và

uy tín của Nhà nước Nhưng người phải gánh chịu hậu quả nhiều nhất đó là những người dân vô tội và ảnh hưởng đến người thân của những người này không ai khác là con cái, cha

mẹ của họ và đó chỉ là những ảnh hưởng ở tầm vi mô Còn đối với cơ quan thực thi pháp luật ảnh hưởng đến uy tín, tính dân chủ và sự tiến bộ của một Nhà nước Từ đó sẽ tạo cơ hội cho các thế lực phản động lợi dụng kẽ hở của pháp luật để xuyên tạc chế đối của Nhà nước ta Vì thế Đảng và Nhà nước cần có những chính sách điều chỉnh pháp luật để hoàn thiện đảm bảo cho sự công bằng, phát triển của Nhà nước và người dân

1.2 Cơ sở lý luận của vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự

1.2.1 Tầm quan trọng của vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự

1.2.1.1 Đối với Nhà nước

Về mặt chính trị: Xét tâm lý chung của những người bị oan và gia đình của họ ta thấy rằng, khi một người không thực hiện hành vi phạm tội lại bị cơ quan Nhà nước buộc tội cho họ và bắt họ chịu những hình phạt nghiêm khắc nhất thì họ sẽ mất niềm tin vào hệ thống pháp luật, vào cơ quan quyền lực Nhà nước và vào chế độ của quốc gia ấy Và đôi khi họ lại chính là đối tượng bị các phần tử phản động chống phá cách mạng, chống phá Nhà nước ta lợi dụng kích động và gây ra nguy hiểm cho xã hội Việc Nhà nước và Cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra chân tướng sự thật của những vụ án oan và trả lại sự công bằng cho họ thông qua việc bồi thường thiệt hại mà họ đã mắt phải, khôi phục danh dự và nhân phẩm cho họ, lấy lại niềm tin vào Nhà nước vào pháp luật, tránh bị các phần tử phản động lợi dụng chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa

Về mặt xã hội: để đảm bảo trật tự kĩ cương xã hội bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình để chống lại mọi hành vi phạm tội trọng lĩnh vực hình sự ,cố gắng giải quyết một cách khách quan đúng pháp luật là sự thể hiện

Trang 28

Nhà nước bảo quyền của người dân đúng người, đúng tội, người có tội sẽ phải chịu chế tài

và hình phạt của pháp luật người vô tội sẽ được đền bù thỏa đáng

Nhà nước thông qua hoạt động tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích của người dân, thông qua việc áp dụng đúng pháp luật để ngăn chặn những người có hành vi phạm tội nguy hiểm tiếp tục làm hại những người khác Nhưng đôi khi lại chính Nhà nước là chủ thể

vi phạm quyền tự do của công dân khi áp dụng biện pháp ngăn chặn, áp dụng chế tài không đúng người Bản tuyên ngôn thế giới về nhân quyền là một văn kiện chính trị pháp lý cơ bản đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình đấu tranh của nhân loại, các quyền tự do dân chủ của mỗi con người và mỗi dân tộc, trong đó có nhiều quy định về quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền

dân sự và chính trị quy định: “mọi người đều có quyền được hưởng tự do và an ninh cá nhân, không ai bị bắt giam giữ vô cớ không một ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp có lý

do và phải theo đúng thủ tục mà pháp luật quy định… Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp điều được bồi thường” Nhà nước ta đã

nghi nhận quan điểm trên và luôn xây dựng các chế định về quyền tự do và bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự ngày một hoàn thiện hơn Chính điều đó đã thể hiện rõ quan điểm Nhà nước ta là một Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đảm bảo tính dân chủ và công bằng trong tố tụng hình sự

Chính sách của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tức là mọi hoạt động của Nhà nước đều vì dân mà thực hiện Mỗi người dân đều được đối xử công bằng trước pháp luật Điều đó tức là mọi người dân đều sống và làm việc theo quy định của pháp luật, không làm những gì pháp luật cấm, nếu không sẽ phải chịu chế tài của pháp luật Điều

đó là công bằng với tất cả mọi người Tuy nhiên cũng có những ngoại lệ là do những lý do khách quan mà Nhà nước đã buộc những công dân vô tội phải chịu những chế tài của pháp luật và những chính sách của Nhà nước về việc bồi thường cho những người này là những việc làm thiết thực và đúng đắn nhằm khắc phục những sai lầm trước đây

Việc thực hiện tốt chính sách bồi thường cho người bị oan cũng có tác dụng rất lớn đối với việc giáo dục ý thức pháp luật của người dân Thông qua đó người dân sẽ có thêm những kiến thức nhất định về pháp luật, góp phần giúp họ tránh được những điều đáng tiếc trong cuộc sống có thể dẫn đến vi phạm pháp luật

Trang 29

1.2.1.2 Đối với cá nhân người bị hại

- Trả lại sự tự do và danh dự cho người bị hại: theo Điều 72 của Hiến pháp năm 1992

thì “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án

đã có hiệu lực pháp luật

Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” Và khi trả lại

tự do cho họ, tức là đã có đủ lý do và chứng cứ chứng minh là họ vô tội Sau khi xác định

họ bị oan thì việc đầu tiên Nhà nước phải làm là trả lại sự tự do cho họ, điều đó có ý nghĩa rất lớn với người bị oan vì quyền tự do là quyền bất khả xâm phạm của mọi con người

- Giúp người bị oan trở lại cuộc sống bình thường, hòa nhập với cộng đồng trở thành công dân có ích cho xã hội Cùng với việc trả lại sự tự do cho họ thì Nhà nước tiến hành những công tác như tổ chức xin lỗi công khai, khôi phục danh dự nhân phẩm cho họ những biện pháp đó nhằm giúp chứng minh họ là người vô tội nó có tác dụng rất lớn giúp

họ trở lại cuộc sống bình thường hòa nhập với cộng động Sự tự do của một công dân tốt góp phần giúp cho họ có thêm điều kiện đóng góp những thành quả có ích cho xã hội, giúp cho đất nước ngày càng phồn vinh, giàu đẹp

- Bồi thường thiệt hại đúng đắn sẽ khắc phục những khó khăn khi họ trở lại cuộc sống với cộng đồng: bất cứ ai dù có tội hay không có tội khi bị áp dụng các biện pháp chế tài thì họ bị thiệt hại rất nhiều về vật chất và tinh thần Tuy nhiên đối với những người đã thực hiện hành vi phạm tội thì không gọi là thiệt hại mà đó là hoàn toàn thích đáng, ta tính đến những thiệt hại về vật chất và tinh thần làm căn cứ áp dụng để bồi thường thiệt hại cho người bị oan Việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc duy trì cuộc sống sau này của họ, vì những khoản bồi thường thích hợp sẽ giúp họ có điều kiện khôi phục lại những công việc trước đây, hay hỗ trợ một phần nào đó cuộc sống của bản thân và gia đình họ.Việc bồi thường cần phải được tính toán cân nhắc kĩ lưỡng sao cho có lợi nhất cho người bị oan Những khoản bù đắp đó chỉ có tác dụng hỗ trợ một phần thiệt hại nào đó, vì những thiệt hại đó đối với họ thực sự là những mất mát to lớn Thử hỏi trong điều kiện bình thường thì không ai muốn mình bị rơi vào hoàn cảnh như thế để được nhận bồi thường

Trang 30

1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự

1.2.2.1 Mục đích của chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng

hình sự

Trong hoạt động tố tụng hình sự và công tác bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền gây ra còn nhiều hạn chế và bất cập như: hình thức văn bản quy phạm pháp luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại có hiệu lực không cao; trong nhiều trường họp chưa xác định rõ cơ quan có trách nhiệm bồi thường; chưa quy định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nên việc giải quyết bồi thường không như mong muốn; chế định về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự trước đây chưa coi trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan là trách nhiệm của Nhà nước mà là trách nhiệm của từng cơ quan (cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã gây thiệt hại); trong hoạt động tố tụng hình sự luôn có sự phối hợp hoạt động giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng vì vậy trong trường hợp xảy ra oan rất khó xác định trách nhiệm bồi thường thuộc về cơ quan nào Vấn đề đặt ra là việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự nên tập trung vào một cơ quan thì chắc sẽ khách quan hơn Và sẽ không phải mất nhiều thời gian giải quyết bồi thường Bên cạnh đó vấn đề xác định loại thiệt hại, mức bồi thường và nhiều vấn đề khác được pháp luật quy định không thống nhất, chưa hợp lý, trách nhiệm hoàn trả chưa được quy định rõ ràng gây bất lợi cho Nhà nước lẫn người bị thiệt hại Và để giải quyết những vấn đề trên thì Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã ra đời số 35/2009/QH12 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2010 với những mục đích như sau:

- Nhất thể hóa việc bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền gây ra khắc phục tình trạng tồn tại hai mặt bằng pháp lý về bồi thường thiệt hại trong hoạt động hành chính

và tố tụng hình sự

- Tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ và hiệu quả hơn, để người bị thiệt hại có thể thực hiện tốt hơn quyền được bồi thường của mình đối với hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra Nhà nước thực hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trước công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa của dân, do dân, vì dân

Trang 31

- Xác định rõ trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường

1.2.2.2 Ý nghĩa của chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong tố tụng hình sự

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là sản phẩm tất yếu của xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Một trong những nguyên tắc quan trọng của Nhà nước pháp quyền là chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép Nhà nước cũng như một tổ chức hay một công dân, đều là chủ thể trong quan hệ pháp luật (Nhà nước là chủ thể pháp lý công) mọi hoạt động của Nhà nước đều phải tuân theo hiến pháp và pháp luật Quyền được bồi thường khi bị xâm phạm

là quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật Nhà nước pháp quyền quy định mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước cũng thực hiện các hành vi pháp lý có khả năng gây thiệt hại cho các chủ thể khác khi áp dụng pháp luật hoặc vượt quá thẩm quyền Và khi có hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác thì Nhà nước cũng phải có nghĩa vụ bồi thường

Chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là cơ sở để xác định ranh giới trách nhiệm bồi thường của Nhà nước Trong tương quan với cơ quan Nhà nước thì cá nhân và tổ chức thường yếu thế hơn khi tiến hành yêu cầu giải quyết bồi thường Chế định bồi thường thiệt hại của Nhà nước quy định phương thức và thủ tục tiến hành yêu cầu giải quyết bồi thường nhằm tránh cho sự lạm quyền không xảy ra và bảo đảm quyền lợi của công dân Chế định bồi thường thiệt hại của Nhà nước góp phần ngăn chặn tình trạng tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu người dân vẫn còn tồn tại ở một số cơ quan Nhà nước, trong một bộ phận cán bộ công chức; đồng thời khắc phục tình trạng yếu kém về trình độ và năng lực chuyên môn của một bộ phận cán bộ, công chức, nâng cao trách nhiệm đạo đức của một đội ngũ cán bộ, công chức từ đó hạn chế những rủi ro đem lại cho người dân từ hoạt động công vụ Ngoài ra, chế định bồi thường thiệt hại của Nhà nước còn nhằm khôi phục tình trạng ban đầu về tài sản, động viên về tinh thần đối với người bị thiệt hại, thể hiện sự tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp đối với công dân của Nhà nước ta

Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước ra đời đánh dấu một bước phát triển mới của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa công chức Nhà nước khi thực

Trang 32

hiện công vụ được luật hành chính giao cho uy thế của quyền lực Người dân có nghĩa vụ phải phục tùng, nhưng không có nghĩa là có quyền sử dụng quyền lực ấy một cách tùy tiện theo cảm tính cá nhân Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về mặt pháp lý chính là pháp điển hóa của chế tài dân sự đối với những cá nhân lạm dụng công quyền gây thiệt hại cho người dân Người dân có một công cụ pháp lý cơ bản để buộc người thi hành công vụ phải bồi thường thiệt hại do người đó gây ra Một trong những điểm quan trọng của luật này là: mặc dù, thiệt hại do cá nhân người thi hành công vụ gây ra, nhưng trách nhiệm bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước Những quy định trên thể hiện sự quan tâm xứng đáng của Nhà nước ta về quyền và nghĩa vụ của công dân trong quá trình tố tụng hình sự, góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng và đảm bảo chính xác mục đích của tố tụng hình

sự là xét xử đúng người đúng tội, không làm oan người vô tội

1.2.3 Một số nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan

Vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự bao gồm cả những thiệt hại vật chất và tinh thần Tuy nhiên, do nguyên tắc miễn trừ quốc gia

có nội dung xác định Nhà nước không phải là bị đơn trong vụ kiện bồi thường thiệt hại do hành vi của nhân viên gây ra khi thi hành công vụ Thay vào đó Thuyết trách nhiệm được quan tâm nhiều hơn Nhân viên Nhà nước khi thi hành công vụ gây ra tổn hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường Tuy nhiên Nhà nước được coi là chủ thể đại diện đứng ra chi trả bồi thường sau đó yêu cầu người trực tiếp gây ra tổn hại hoàn trả Mục đích của qui định này nhằm ngăn chặn tình trạng lạm quyền, nâng cao trách nhiệm, phát huy tính tích cực chủ động của cá nhân đồng thời đảm bảo cho việc giải quyết bồi thường kịp thời nhanh chóng17 Ở nước ta bồi thường thiệt hại cho người bị oan cũng xuất phát từ nguyên tắc đó Theo Điều 7 Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước thì bồi thường thiệt hại do hoạt động

tố tụng hình sự gây ra phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

“Điều 7 Nguyên tắc giải quyết bồi thường“Việc giải quyết bồi thường phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

1 Kịp thời, công khai, đúng pháp luật;

2 Được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ;

17 Tạp chí khoa học pháp lý, oan sai trong tô tụng - các nguyên tắc và thủ tục bồi thường Lê thị Mận

Trang 33

3 Được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác”

- Kịp thời, công khai, đúng pháp luật: xuất phát từ nguyên tắc bồi thường trong dân

sự Theo đó Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước qui định thiệt hại phải được bồi thường kịp thời công khai và đúng theo pháp luật Để thiệt hại được bồi thường công khai kịp thời, Tòa án phải giải quyết nhanh chóng yêu cầu bồi thường thiệt hại trong thời gian

do luật qui định Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo qui định của pháp luật về tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự Nguyên tắc công khai là một trong những nguyên tắc chủ đạo trong lĩnh vực tố tụng và nguyên tắc này cũng được áp dụng để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự Một khi vụ việc được giải quyết một cách công khai thì sẽ đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan Khi đó sẽ tránh được tình trạng công chức Nhà nước lạm dụng quyền lực của mình mà lấn áp người bị oan Sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật là một trong những phương châm mà Đảng ta đề ra thì hơn ai hết những công chức Nhà nước là cơ quan thực thi pháp luật thì khi vận dụng đúng pháp luật để giải quyết vụ việc vừa là làm tròn trách nhiệm đối với nhân dân vừa đảm bảo được thiệt hại được giải quyết một cách toàn diện và triệt để

- Được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ: Việc bồi thường thiệt hại theo luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đề cao nguyên tắc thương lượng giữa người bị oan

có yêu cầu bồi thường thiệt hại và Cơ quan tiến hành tố tụng trên cơ sở tôn trọng quyền tự quyết và quyền tự định đoạt giữa các chủ thể Sở dĩ Nhà nước quy định như vậy là thể hiện

sự công bằng dân chủ của Nhà nước ta với cá nhân người bị thiệt hại trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại thông qua hình thức thương lượng Thể hiện thiện chí khắc phục hậu quả mà Nhà nước đã gây ra thông qua hoạt động cơ quan tố tụng Chúng ta thấy rằng, từ trước tới giờ mối quan hệ của cơ quan Nhà nước với nhân dân thường là: mệnh lệnh, quyền

uy, bắt buộc chứ không phải là thỏa thuận và trên cơ sở là sự thỏa thuận để giải quyết nhanh chóng việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trên nguyên tắc thương lượng Nhà nước đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục để giải quyết vụ án được quy định tại điều 17,18,19,20 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010

- Việc thương lượng giải quyết bồi thường thiệt hại giữa cơ quan có trách nhiệm và người bị thiệt hại còn bao gồm cả việc: thỏa thuận mức bồi thường cao hơn hoặc thấp hơn

Trang 34

mức thiệt hại, bồi thường như thế nào, được trả tiền một lần, hoặc các bên có thỏa thuận khác tùy vào hoàn cảnh của người bị thiệt hại mà họ có thể lựa chọn Với những qui định này sẽ giúp quá trình thương lượng bồi thường thiệt hại giữa người bị oan và Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bồi thường được thuận lợi hơn Vì trong thực tế việc thương lượng bồi thường thiệt hại giữa người bị oan và cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại thường không được như mong muốn Việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan chủ yếu được tiến hành bằng con đường tư pháp

Trang 35

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NGƯỜI

BỊ OAN DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG

HÌNH SỰ GÂY RA

2.1 Quyền của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự

2.1.1 Quyền công dân

Dưới gốc độ pháp lý, quyền công dân là những quyền được qui định trong hiến pháp

và luật như: quyền bất khả xâm phạm tính mạng, thân thể; quyền được bảo vệ khỏi việc bắt

bớ, giam giữ vô cớ, quyền tự do đi lại, quyền có quốc tịch, quyền sở hữu tài sản và các quyền tự do về tín ngưỡng, tôn giáo Quyền tự do của công dân là những quyền đặc biệt nên được pháp luật đặc biệt bảo vệ bằng những qui định trong hiến pháp và pháp luật quốc gia Thông qua hiến pháp và pháp luật cơ quan lập pháp đã ghi nhận các quyền của công dân và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước phải tôn trọng các quyền đó, cũng như những hình thức bảo vệ và xử lý các hành vi xâm phạm các quyền đó Vì thế pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ người dân, đặc biệt là trong pháp luật tố tụng hình sự,

vì trong tố tụng hình sự liên quan trực tiếp đến quyền công dân

Tố tụng hình sự là hoạt động của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự theo qui định của BLTTHS Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện chính xác, nhanh chóng, kịp thời, mọi hành vi vi phạm, không để lọt tội phạm và cũng không làm oan người vô tội18 Nhà nước thông qua hoạt động tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nhưng thông qua đó quyền của công dân cũng rất dễ bị vi phạm, mà nguyên nhân chính là do hoạt động tố tụng hình sự của Nhà nước đã tác động đến những người vô tội, nên đã vi phạm quyền công dân với họ

Chính vì vậy điều 71 Hiến pháp năm 1992 đã có qui định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.”

18 xem điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Trang 36

Điều 72 Hiến pháp năm 1992 đã có qui định “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh” Và điều 74 cũng có qui định “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự” Đây là những qui định nền tảng của chế định

pháp luật về bảo vệ quyền công dân, là tiền đề của việc xây dựng những qui định về việc bảo vệ quyền công dân cũng như việc bồi thường thiệt hại khi công dân bị vi phạm quyền lợi của mình

2.1.2 Quyền được bảo vệ danh dự, uy tín, nhân phẩm

Danh dự, uy tín, nhân phẩm, được xem là nội dung quan trọng trong quyền công dân

Ở nước ta quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm là quyền được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ Đối với trường hợp cá nhân bị cán bộ công chức khi thi hành công vụ trong hoạt động tố tụng hình sự xâm phạm đến quyền công dân (danh dự, uy tín, nhân phẩm) thì luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước qui định chi tiết thủ tục khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự như sau: Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; Người bị tạm giam, người

đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã

bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội.19

Người bị vi phạm thuộc các trường hợp trên có quyền yêu cầu khôi phục danh dự trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản về việc khôi phục danh dự của người bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ Cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã thụ lý vụ việc phải thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai Việc xin lỗi, cải chính công khai được thực hiện bằng các hình thức sau đây Trực tiếp xin lỗi,

Trang 37

cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại có sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú, đại diện của cơ quan nơi người bị thiệt hại làm việc, đại diện của một tổ chức chính trị - xã hội mà người bị thiệt hại

là thành viên Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên tiếp theo yêu cầu của người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ Trường hợp người

bị thiệt hại chết, thân nhân của họ có quyền yêu cầu khôi phục danh dự.20

2.1.3 Quyền được bồi thường

Bên cạnh quyền được khôi phục danh dự, nhân phẩm và uy tín thì người bị thiệt hại còn được quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại về vật chất do hành vi của người tiến hành tố tụng gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự bao gồm:

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: Tài sản bị mất, bị phát mại, thì thiệt hại được tính căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại, cùng tính năng tại thời điểm giải quyết bồi thường thiệt hại Nếu tài sản bị hư hỏng thi thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường bao gồm cả chi phí sửa chữa, khôi phục, nếu như tài sản không thể sửa chữa thì được tính như tài sản bị mất Các thiệt hại phát sinh do không sử dụng, khai thác tài sản được coi là thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê tài sản có cùng loại hoặc cùng tính năng sử dụng tại thời điểm bồi thường Nếu tài sản thiệt hại trên thị trường không có cho thuê thì thiệt hại thu nhập thực tế bị mất sẽ được tính do tài sản bị thiệt hại mang lại Nếu tài sản bị kê biên được giao cho người bị thiệt hại hoặc người khác thì chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục cũng được tính để bồi thường Các khoản tiền nộp vào ngân sách Nhà nước theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bị tịch thu nhằm thi hành án được hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc người thân của họ

Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút: là những thu nhập thường xuyên

có thể xác định được cụ thể của người bị thiệt hại, nếu có thu nhập thường xuyên không nhưng không ổn định thì bồi thường theo thu nhập trung của lao động cùng loại tại địa phương Nếu vẫn không xác định được thì căn cứ vào mức lương tối thiểu của Nhà nước Thiệt hại do tổn thất tinh thần: Một ngày bị tạm giữ hành chính, đưa vào cơ sở chữa bệnh bằng hai ngày lương tối thiểu Một ngày chấp hành án phạt tù bằng 03 ngày lương tối

20 Xem điều 51 luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Trang 38

thiểu Nếu người bị thiệt hại chết thì thiệt hại về tinh thần được tính là 360 tháng lương tối thiểu Nếu sức khỏe bị xâm phạm thì bồi thường tổn hại theo sức khỏe nhưng không quá 36 tháng lương Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp khởi tố, truy tố, xét xử nhưng không

bị giam, hưởng án treo thì một ngày bị oan được tình bằng một ngày lương tối thiểu

Thiệt hại về vật chất trong trường hợp người bị thiệt hại chết: Nếu người bị thiệt hại chết thì sẽ được bồi thường các chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết, chi phí mai táng theo qui định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, tiền cấp dưỡng cho người mà người bị thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

Thiệt hại vật chất do tổn hại sức khỏe: Khi bị tổn hại sức khỏe do hành vi của người tiến hành tố tụng gây ra thì người bị oan có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, phục hồi sức khỏe Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động, cần có người chăm sóc thì phải tính luôn chi phí chăm sóc người bị thiệt hại và các khoản cấp dưỡng người bị thiệt hại phải thực hiện

Phải trả lại các tài sản của người bị thiệt hại bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, phải được trả lại sau khi có quyết định hủy quyết định tạm giữ, tịch thu, kê biên tài sản đó

2.1.4 Quyền bình đẳng thương lượng trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại

Thông thường quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước thường là quan hệ dựa trên nguyên tắc mệnh lệnh hành chính bắt buộc, chứ không phải là ngang quyền cùng nhau thỏa thuận Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan thì pháp luật đã ghi nhận hình thức thương lượng giữa người bị oan và cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, qui định như vậy tạo ra sự bình đẳng trong quá trình giải quyết bồi thường thiệt hại

Sự bình đẳng trong quá trình thương lượng bồi thường cụ thể như sau: đối với cơ quan Nhà nước có trách nhiệm giải quyết bồi thường thiệt hại thì vệc thương lượng được coi là nghĩa vụ bắt buộc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tự xác minh thiệt hại để làm cơ sở cho việc thương lượng bồi thường Có nghĩa là các bên phải có đầy đủ chứng cứ đưa ra để tiến hành thương lượng giải quyết bồi thường một cách bình đẳng, Nhà nước sẽ chịu chi phí cho việc định giá tài sản khi thường lượng giải quyết bồi thường Các bên có thể thỏa thuận địa điểm giải quyết bồi thường thiệt hại Cơ quan có trách nhiệm bồi thường

Trang 39

phải tiến hành xác minh thiệt hại và tiến hành thương lượng giải quyết bồi thường theo đúng thời gian quy định.21

2.1.5 Quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết bồi thường thiệt hại

Khi quá trình thường lượng giải quyết bồi thường thiệt hại của người bị oan và cơ quan giải quyết bồi thường không có kết quả hoặc cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định giải quyết bồi thường khi hết hạn luật qui định, thì người bị thiệt hại

có quyền khởi kiện ra Tòa án cấp huyện nơi xảy ra thiệt hại hoặc nơi họ đang cư trú, làm việc tại thời điểm khởi kiện Lúc này thì người bị thiệt hại và cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường sẽ là nguyên đơn và bị đơn trước Tòa án Pháp luật không áp dụng bất kỳ một ưu ái gì cho nguyên đơn và bị đơn mà tất cả sẽ công bằng trước pháp luật Tuy nhiên thời hạn khởi kiện ra Tòa giải quyết bồi thường thiệt hại là quá ngắn, 15 ngày kể từ ngày hết hạn ra quyết định giải quyết bồi thường mà cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi thường không ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định nhưng không đồng ý.22

2.2 Căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị oan

Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước qui định người bị oan (bị thiệt hại do hành vi của người tiến hành tố tụng hình sự) được quyền làm đơn yêu cầu bồi

thường thiệt hại khi “Có bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường, Có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra đối với người bị thiệt hại” Vậy quyền yêu cầu chỉ phát sinh khi có bản án quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường

Việc qui định như vậy thể hiện rõ một trong những nguyên tắc xuyên suốt của luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu bảo vệ lợi ích

cá nhân và bảo vệ lợi ích Nhà nước Điều đó có nghĩa là Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước được ban hành nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân khi bị người thi hành công vụ gây ra thiệt hại, nhưng đồng thời cũng bảo đảm sự hoạt động ổn định của các cơ quan Nhà nước.23

21 Điều 18, 19 luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

22 Điều 22, 23 luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

23 Điều 6 luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước

Trang 40

2.2.1 Có văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định người bị oan thuộc trường hợp được bồi thường

Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước qui định tại khoản 3 điều 3 Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Như vậy người bị oan trong hoạt động

tố tụng hình sự để có đủ điều kiện yêu cầu cơ quan Nhà nước bồi thường thì phải có văn bản xác định bản thân bị thiệt hại là do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng

Vì đó là điều kiện bắt buộc, làm cơ sở chứng minh người bị oan thuộc trường hợp được bồi thường thiệt hại Nhưng để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng đã gây thiệt hại cho công dân cũng là vấn đề khó khăn Vì nếu như vậy thì Cơ quan tiến hành tố tụng vừa là cơ quan gây thiệt hại, vừa là cơ quan xác định có thiệt hại hay không Như thế thì đôi khi lại không thực sự khách quan, không công bằng đối với người

bị thiệt hại

2.2.2 Có thiệt hại do người tiến hành tố tụng gây ra

Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước qui đình cụ thể từng loại thiệt hại được bồi thường: thiệt hai do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút, thiệt hại do tổn thất tinh thần, thiệt hại do vật chất do người bị thiệt hại chết, thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khỏe, trả lại tài sản, khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự24 Tuy nhiên việc xác minh thiệt hại của người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự để làm cơ sở cho việc bồi thường cũng rất phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau: do giấy tờ tài liệu bị mất do cơ quan tịch thu, tiêu hủy, làm thất lạc, do sự phức tạp của vụ án, do sự đùn đẩy trách nhiệm

2.3 Trách nhiệm của Nhà nước trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại cho người

bị oan

2.3.1 Phạm vi trách nhiệm bồi thường

Nhà nước ta thông qua hoạt động của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng giao cho họ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể để thực hiện tốt những công việc trong công tác hoạt động tố tụng hình sự Bên cạnh đó, những quy định cụ

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w