1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại HIỆP ĐỊNH CHỐNG bán PHÁ GIÁ của WTO – THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP đối với VIỆT NAM TRONG GIAI đoạn HIỆN NAY

88 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm này, kết luận về hành vi bán phá giá không phải là kết quả của sự so sánh giữa giá xuất khẩu với giá trên thị trường nước nhập khẩu hoặc với chi phí sản xuất của hàng hóa,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA 2009 – 2013

Tên đề tài:

HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Lớp: Luật Thương Mại 2 – K35

Cần Thơ, tháng 11/2012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Lời nói đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Phạm vi nghiên cứu 1

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO 4

1.1 Khái niệm bán phá giá và thuế chống bán phá giá 4

1.1.1 Khái niệm bán phá giá 4

1.1.2 Khái niệm chống bán phá giá 6

1.2 Đặc điểm và tác động của bán phá giá 6

1.2.1 Đặc điểm của bán phá giá 6

1.2.2 Tác động của bán phá giá 9

1.3 Phân loại bán phá giá 11

1.3.1 Phân loại theo Hiến chương Havana 12

1.3.2 Phân loại căn cứ vào động cơ và mục đích của chủ thể thực hiện bán phá giá 13

1.3.2.1 Phá giá độc quyền 14

1.3.2.2 Phá giá không độc quyền 14

1.3.3 Phân loại căn cứ vào biểu hiện của phá giá 15

1.4 Giới thiệu về Hiệp định chống bán phá giá của WTO 16

1.4.1 Lịch sử phát triển của pháp luật chống bán phá giá 16

1.4.2 Mục tiêu và bản chất của chống bán phá giá 18

1.4.3 Các nguyên nhân làm nảy sinh vụ kiện chống bán phá giá 20

1.4.3.1 Tự do hóa mậu dịch dẫn đến tình trạng lạm dụng biện pháp chống bán phá giá 20

1.4.3.2 Các quy định của pháp luật chống bán phá giá 21

1.4.3.3 Vấn đề chính trị trong các vụ kiện chống bán phá giá 22

1.4.3.4 Sự phức tạp của pháp luật chống bán phá giá 24

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO 25

2.1 Xác định việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả 25

2.1.1 Xác định việc bán phá giá 25

2.1.1.1 Nguyên tắc xác định việc bán phá giá 25

2.1.1.2 Tính biên độ phá giá 26

2.1.2 Xác định thiệt hại và mối quan hệ nhân quả 30

2.1.2.1 Xác định thiệt hại 30

2.1.2.2 Mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại 32

2.2 Trình tự và thủ tục điều tra chống bán phá giá 33

2.2.1 Giai đoạn bắt đầu điều tra 33

2.2.1.1 Chủ thể yêu cầu tiến hành điều tra 33

2.2.1.2 Căn cứ để bắt đầu điều tra 34

Trang 3

2.2.1.3 Việc kiểm tra đơn khiếu nại của cơ quan điều tra 36

2.2.1.4 Quyết định bắt đầu tiến hành điều tra 36

2.2.1.5 Thông báo công khai 37

2.2.2 Giai đoạn tiến hành điều tra 37

2.2.2.1 Thời hạn điều tra 37

2.2.2.2 Thu thập thông tin 37

2.2.2.3 Tính bảo mật 39

2.2.2.4 Dựa vào những thông tin đã có 40

2.2.2.5 Quyền tự bảo vệ 41

2.2.2.6 Xác minh thông tin 41

2.2.3 Giai đoạn kết thúc điều tra 44

2.2.3.1 Áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá 44

2.2.3.2 Truy thu thuế và hoàn thuế 45

2.2.4 Rà soát 46

2.2.4.1 Rà soát lại trong thời gian 5 năm 47

2.2.4.2 Rà soát lại ngay trước khi hết thời hạn 5 năm 47

2.3 Các biện pháp chống bán phá giá 48

2.3.1 Các biện pháp tạm thời 48

2.3.2 Cam kết về giá 49

2.3.3 Thuế chống bán phá giá 50

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 52

3.1 Thực trạng những vụ kiện chống bán phá giá của các nước đối với hàng hóa xuất khẩu của việt nam 52

3.1.1 Tình hình hàng hóa của Việt Nam bị kiện bán phá giá trên thị trường quốc tế 52

3.1.2 Những vụ kiện điển hình về bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam 57

3.1.2.1 Vụ kiện bán phá giá nhằm vào cá tra, cá basa của Việt Nam 58

3.1.2.2 Vụ kiện bán phá giá tôm sú của Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ 61

3.1.2.3 Vụ kiện bán phá giá giày mũ da của Việt Nam ở thị trường EU 64

3.1.3 Nguyên nhân hàng hóa của Việt Nam bị kiện bán phá giá 68

3.1.4 Thiệt hại do các biện pháp chống bán phá giá gây ra 71

3.2 Những khó khăn trong xử lý vụ kiện chống bán phá giá 73

3.2.1 Nhận thức chưa tốt về vấn đề chống bán phá giá 73

3.2.2 Hệ thống kế toán của doanh nghiệp còn yếu kém 74

3.2.3 Việt Nam chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường 74

3.2.4 Khung thời gian hạn chế 75

3.2.5 Khả năng trả lời bảng câu hỏi 76

3.3 Những giải pháp để chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá 77

3.3.1 Chủ động kháng kiện 77

3.3.2 Hoàn thiện hệ thống sổ sách, chứng từ kế toán 77

3.3.3 Nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, các cơ quan hữu quan 78

3.3.4 Chiến lược tăng trưởng xuất khẩu 78

3.3.5 Cần khẩn trương xây dựng cơ chế dự phòng và cảnh báo sớm 79

Trang 4

3.3.6 Đẩy mạnh công tác vận động hành lang và quan hệ công chúng 80 3.3.7 Có những chuẩn bị cần thiết để đáp ứng yêu cầu về nền kinh tế thị trường của nước ngoài 80

Kết luận 82

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra những triển vọng to lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu Đánh giá tác động của việc Việt Nam gia nhập WTO bao giờ cũng đi kèm với những con số hoành tráng Xuất khẩu tăng trưởng mạnh với tốc độ trung bình 20%/năm, liên tục vượt mức kế hoạch đề ra Năm

2006, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ ở mức xấp xỉ 40 tỉ USD, đến năm 2010 đã tăng lên 72 tỉ USD Đặc biệt năm 2011, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam lần đầu tiên cán mốc 100 tỉ USD Đến cuối năm 2011, kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của Việt Nam đã vượt qua ngưỡng 1000 USD Những mặt hàng xuất khẩu cao nhất cũng vượt qua ngưỡng 10 tỉ USD/năm1 Tuy nhiên, khi hàng hóa xuất khẩu Việt Nam ngày càng gia tăng và chiếm thị phần lớn cũng là nguyên nhân khiến các nước nhập khẩu đẩy mạnh hành vi bảo vệ lợi ích của họ bằng các biện pháp chống bán phá giá và tự vệ Nếu như ở thời điểm Việt Nam làm đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế Giới WTO –

1995, nền xuất khẩu Việt Nam chỉ gặp 1 vài vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào một vài mặt hàng xuất khẩu không trọng yếu như: tỏi, căm xe đạp, xe đạp, hộp quẹt ga,…; thì sau năm 2000, một loạt những mặt hàng xuất khẩu chủ lực ( hàng dệt may, giầy mũ da, tôm

sú, cá basa…) trên những thị trường chủ yếu như Hoa Kì, EU, Canada… cùng hàng chục, hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam bị khởi kiện chống bán phá giá Cho đến tháng 10 năm 2012, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đã đối đầu 47 vụ kiện chống bán phá giá Các vụ kiện càng ngày càng gây thêm nhiều khó khăn cho việc thâm nhập thị trường quốc tế của các mặt hàng vốn là thế mạnh của nước ta

Chống bán phá giá là một trong những quy định quan trọng của WTO và đã có lịch

sử tồn tại và phát triển hơn 100 năm qua Tuy nhiên, ở Việt Nam lĩnh vực này còn khá mới mẻ và đối với nhiều ngành công nghiệp thì nó còn khá mơ hồ dễ gây nhầm lẫn Chính vì vậy, nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội và các cơ quan hữu quan về những quy định, nguyên tắc, yêu cầu, các quy trình xử lý một vụ việc chống bán phá giá theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO là một vấn đề quan trọng và cần thiết Đó là lý do người viết chọn đề tài “Hiệp định chống bán phá giá của WTO – thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Phạm vi nghiên cứu

1 Tổng cục thống kê, Trị giá xuất khẩu hàng hoá phân theo khối nước, phân theo nước và vùng lãnh thổ,

http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=393&idmid=3&ItemID=13172, ngày truy cập 27/10/2012

Trang 6

Vốn là một đề tài nghiên cứu rộng lớn, nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu cơ

sở lý luận chung về bán phá giá và chống bán phá giá của WTO, từ đó người viết đặc biệt

đi sâu vào tìm hiểu một số quy định về chống bán phá giá của WTO Qua đó, người viết trình bày thực trạng hàng hóa Việt Nam bị kiện bán phá giá trên thị trường quốc tế trong thời gian qua, đồng thời rút ra một số khó khăn trong xử lý vụ kiện chống bán phá giá, từ

đó người viết đưa ra một số giải pháp để chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá đang xảy ra và có thể xảy ra trong tương lai

3 Mục đích nghiên cứu

Cùng với tiến trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày càng ngày càng phát triển và củng cố vị thế của mình trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, cùng với việc tăng trưởng xuất khẩu và mở rộng thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam đã gặp phải không ít các rào cản thuế quan và phi thuế quan Biểu hiện của một trong số các rào cản này là việc ngày càng xuất hiện nhiều vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Trong khi

đó các quy định của Hiệp định chống bán phá giá của WTO như trình tự thủ tục của một cuộc điều tra chống bán phá giá vẫn còn khá mới mẻ đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam

Trước tình hình đó, việc tìm hiểu các quy định của Hiệp định chống bán phá giá của WTO là một vấn đề cần thiết Chính vì thế, người viết nghiên cứu đề tài này nhằm hiểu

rõ hơn về điều kiện để áp đặt thuế chống bán phá giá, trình tự và thủ tục điều tra chống bán phá giá của WTO, đồng thời phân tích một số vụ kiện chống bán phá điển hình mà

Mỹ và EU kiện hàng hóa Việt Nam từ đó đưa ra những đề xuất nhằm góp phần giúp cộng đồng doanh nghiệp tích cực chủ động phòng chống các vụ kiện nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mình

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa vào tài liệu người viết thu thập được, người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp nghiên cứu lí luận trên tài liệu, phương pháp phân tích luật viết, phương pháp sưu tầm số liệu thực tế, phương pháp phân tích, đánh giá số liệu thực tế đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể để phân tích nhằm làm sáng tỏ các vấn đề được đặt ra luận văn

Trang 7

Ở chương 1, người viết chỉ khái quát về bán phá giá và thuế chống bán phá giá, đặc điểm và tác động của bán phá giá, phân loại bán phá giá và giới thiệu về Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Chương 2: Một số quy định về chống bán phá giá của WTO

Tiếp theo, người viết tìm hiểu lần lượt về Ủy ban chống bán phá giá của WTO, xác định việc bán phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả, trình tự và thủ tục chống bán phá giá, thực tiển giải quyết tranh chấp và một số bài học kinh nghiệm về chống bán phá giá của một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Canada, các nước ASEAN

Chương 3: Thực trạng và giải pháp đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Ở chương này, người viết nêu lên thực trạng những vụ kiện chống bán phá giá của các nước đối với hàng hóa xuất khẩu của việt nam, những khó khăn trong xử lý vụ kiện chống bán phá giá, những giải pháp để chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá

Trang 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

CỦA WTO

1.1 Khái niệm bán phá giá và thuế chống bán phá giá

1.1.1 Khái niệm về bán phá giá

Có nhiều cách hiểu khác nhau về bán phá giá, ban đầu bán phá giá được hiểu đơn giản là bán hàng ra nước ngoài với giá thấp hơn giá tại thị trường nội địa Ví dụ: Từ điển kinh tế học hiện đại cho rằng bán phá giá (dumping) được hiểu là việc bán một hàng hóa

ở nước ngoài với mức giá thấp hơn so với mức giá ở thị trường trong nước2 Theo Từ điển chính sách thương mại phá giá được hiểu là thực tiễn bán hàng của một công ty với giá bán ra nước ngoài thấp hơn giá bán tại thị trường trong nước (giá nội địa của nước xuất khẩu)3; cuốn Black’s Law dictionary định nghĩa phá giá là hành vi bán hàng hóa ra nước ngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa4 Theo cách hiểu này, muốn xác định được hành vi bán phá giá trước hết phải xác định được giá nội địa hay còn gọi là giá bán hàng hóa tương tự tại nước xuất khẩu Tuy nhiên thực tế cho thấy, việc xác định giá hàng hóa nội địa không phải đơn giản và đôi khi không thể thực hiện Mặt khác, có những trường hợp việc so sánh giá xuất khẩu và giá bán tại thị trường nội địa đưa đến những kết luận không chính xác do bản thân giá nội địa cũng đã thấp hơn chi phí sản xuất (mặc dù cao hơn giá xuất khẩu)

Quan điểm thứ hai coi phá giá là bán hàng ra nước ngoài thấp hơn chi phí sản xuất Hiện nay, quan niệm này ngày càng được nhiều người ủng hộ nhưng cũng gây không ít tranh cãi Những ý kiến ủng hộ cho rằng, định nghĩa như trên phản ánh rõ nét bản chất không lành mạnh của hành vi phá giá, là những toan tính phi kinh tế nhằm mục đích gây cho đối thủ cạnh tranh những khó khăn hoặc trở ngại trong kinh doanh để chiếm đoạt thị trường của họ Các cuộc tranh cãi xuất phát từ nhận thức truyền thống về phá giá là sự so sánh (phân biệt) giá quốc tế, chi phí sản xuất chỉ là yếu tố cấu thành chủ yếu của giá chứ chưa phải là giá bán hàng Mặt khác, với những truyền thống kinh doanh khác nhau thì quan niệm về các yếu tố cấu thành chi phí cố định hay biến phí của sản phẩm ở các quốc gia khác nhau cũng không giống nhau Cho nên, nếu xác định phá giá theo quan điểm này

sẽ rất khó khăn cho quá trình áp dụng và thực sự không công bằng khi lấy quan niệm về

cơ cấu chi phí trong tập quán kinh doanh của quốc gia này để kết luận về hành vi bán hàng của các doanh nghiệp ở quốc gia khác có cơ cấu chi phí khác nhau

2

David W.Pearce, Từ điển kinh tế học hiện đại (tái bản lần thứ 4), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, trang

282

3 Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, 1997, trang 82

4 Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 10

Trang 9

Quan điểm thứ ba kết hợp cả hai quan niệm đầu tiên bằng cách đưa ra cơ sở để xác định hành vi bán phá giá là giá xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng hóa, sản phẩm

bị nghi là phá giá Với cách hiểu đó, quan niệm này đã phản ánh hình thức phân biệt về giá và bản chất phi kinh tế của phá giá trong thương mại quốc tế Trên tinh thần đó, Hiệp định của WTO định nghĩa một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nêú như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường5 Theo quan điểm này, kết luận về hành vi bán phá giá không phải là kết quả của sự so sánh giữa giá xuất khẩu với giá trên thị trường nước nhập khẩu hoặc với chi phí sản xuất của hàng hóa, mà được xác định dựa trên mối quan hệ giữa giá của sản phẩm xuất khẩu với giá trị thông thường của

nó Giá trị thông thường là giá phải trả hay có thể trả trong quá trình kinh doanh thông thường bởi những khách hàng độc lập ở nước xuất khẩu Ưu điểm của quan điểm thứ ba

là có sự uyển chuyển trong việc xác định giá trị thông thường với tư cách là mức giá chuẩn để so sánh giá Cơ quan có trách nhiệm điều tra có thể chủ động xác định giá trị thông thường theo thứ tự ưu tiên là: Giá bán tại thị trường xuất khẩu, giá lựa chọn từ nước thứ ba hoặc giá cấu thành Từ đó, những khó khăn từ thực tiễn của quá trình kinh doanh trong việc xác định cơ cấu giá đã được tháo gỡ thông qua cơ chế định giá Đồng thời, những khó khăn từ sự khập khễnh trong quan điểm và tập quán về cơ cấu chi phí của sản phẩm cũng sẽ được giải quyết khi xác định giá trị thông thường là giá bán hàng hóa tại thị trường xuất khẩu

Trong khoa học pháp lý có thể phân biệt được hành vi bán phá giá với việc hạ giá hoặc bán hàng hóa với giá rẻ là kết quả của việc giảm chi phí hay tăng năng suất Hành vi bán hàng hóa rẻ hơn giá hàng hóa, sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu là kết quả của quá trình giảm chi phí sản xuất đã đem lại lợi ích cho sự phát triển kinh tế và thặng dư xã hội, thúc đẩy quá trình cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tự do Vì vậy, pháp luật coi

là hành vi cạnh tranh lành mạnh, cần khuyến khích Phá giá là hành vi đi ngược lại các nguyên lý lành mạnh của thị trường tự do vì đã xâm hại nguyên tắc công bằng trong đối

xử về giá hoặc giành giật thị trường một cách bất chính

Nghiên cứu về hành vi bán phá giá trong quan hệ thương mại quốc tế, nếu nhìn nhận dưới góc độ quyền lợi của người tiêu dùng trong ngắn hạn thì hành vi bán phá giá đem lại lợi ích cho người tiêu dùng do giá bán rẻ Sự chênh lệch giữa giá bán của những nhà sản xuất nội địa và giá bán của hàng nhập khẩu là thặng dư của người tiêu dùng Đồng thời,

nó phản ánh mức độ đe dọa đối với thu nhập và quyền lợi của các nhà sản xuất nội địa

Sự xuất hiện của nhà nước trong việc ngăn chặn và loại bỏ những tác hại của hành vi bán

5 Xem Điều 2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Trang 10

phá giá dường như đụng chạm đến một sự xung đột giữa quyền lợi của người tiêu dùng

và quyền lợi của người sản xuất Chính vì thế, để nhìn rõ bản chất của phá giá, đôi khi khoa học pháp lý cần phải nghiên cứu từ góc độ ý nghĩa kinh tế của bán phá giá đối với

sự phát triển của thị trường của nước nhập khẩu, từ đó xác định nhu cầu và mục đích của việc điều chỉnh pháp luật6

1.1.2 Khái niệm thuế chống bán phá giá

Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thông thường, do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành, đánh vào sản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước nhập khẩu Đây là loại thuế nhằm chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng nhập khẩu bán phá giá gây ra7

Trên thực tế, thuế chống bán phá giá được nhiều nước sử dụng như một hình thức

"bảo hộ hợp pháp" đối với sản xuất nội địa của mình Để ngăn chặn hiện tượng lạm dụng biện pháp này, các nước thành viên WTO đã cùng thoả thuận về các quy định bắt buộc phải tuân thủ liên quan đến việc điều tra và áp đặt thuế chống bán phá giá, tập trung trong một Hiệp định về chống bán phá giá của WTO

1.2 Đặc điểm và tác động của bán phá giá

1.2.1 Đặc điểm của bán phá giá

Trong thực tiễn pháp lý đang tồn tại hai khái niệm phá giá cùng để diễn tả hành vi bán hàng với giá thấp hơn giá trị bình thường của hàng hóa nhưng bản chất của hai hành

vi này là khác nhau, mức độ nguy hại cũng như biện pháp xử lý chúng có những điểm khác nhau Đó là phá giá hàng nhập khẩu và phá giá hàng hóa trong thị trường nội địa Vì vậy, khi tiếp cận khái niệm bán phá giá cần nhận dạng chúng một cách rõ nét thông qua các dấu hiệu biểu hiện của từng hành vi trong môi trường tồn tại của chúng Có như vậy việc nghiên cứu mới thật sự có ý nghĩa cho quá trình thiết lập một quy chế pháp lý hiệu quả về bán phá giá Từ những khái niệm và ý nghĩa kinh tế đã trình bày có thể thấy một

số những dấu hiệu của phá giá như sau:

Thứ nhất, bán phá giá hàng nhập khẩu xảy ra trong quan hệ thương mại quốc tế Nói cách khác, hiện tượng phá giá hàng nhập khẩu diễn ra trong quan hệ mua bán hàng hóa giữa hai thị trường của hai nước khác nhau, là sản phẩm không mong muốn của quá trình hợp tác kinh tế quốc tế và là mặt trái của tự do hóa thương mại8

6 Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 13 – trang 14

7

http://chongbanphagia.vn/faq/46

8 Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 20 – 21

Trang 11

Quá trình toàn cầu hóa kinh tế với sự ra đời của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế mà hệ quả tất yếu của nó là hình thành nên nhiều vùng thị trường khu vực và quốc tế rộng lớn thông qua việc xóa bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan Quan hệ thương mại quốc

tế được biểu hiện thông qua sự dịch chuyển các giá trị thương mại dưới hình thức hàng hóa hoặc dịch vụ giữa thị trường của các nước với nhau dựa trên quy chế tối huệ quốc (MFN) và quy chế đãi ngộ quốc gia (NT) Hai quy chế này đảm bảo cho nguyên tắc tự do

và bình đẳng thực sự phát huy được hiệu quả trong thương mại quốc tế cũng như bảo đảm cho hàng hóa được lưu thông một cách tự do trên tinh thần không phân biệt đối xử Một khi sự tự do được đề cao và coi như nguyên lý bất khả xâm phạm thì cũng từ đó với

sự giục giã của quy luật giá trị và bản tính của con người xuất hiện những hành vi cạnh tranh tự phát có thiên hướng thái quá, cực đoan trong cạnh tranh quốc tế - đây chính là mặt trái của sự tự do trong thương mại quốc tế mà phá giá là minh chứng9

Một điều cần thiết phải xác định là nguyên tắc cạnh tranh lúc này không chỉ đơn giản thể hiện thông qua sự ganh đua giữa các nhà sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch

vụ mà còn thể hiện thông qua sự đối đầu giữa hai thị trường, hai khu vực kinh tế Trên tinh thần ấy, nhận dạng hành vi phá giá hàng nhập khẩu thông qua dấu hiệu có sự chuyển dịch hàng hóa từ thị trường của nước này sang thị trường của nước khác hay khu vực khác mà giá bán của nó thấp hơn giá bán theo các điều kiện bình thường tại nơi sản xuất

ra nó Một lẽ đương nhiên là, khi hàng hóa đưa qua biên giới của một nước để tiêu thụ ở nước khác, nếu như chúng còn nguyên giá trị thì giá bán tại thị trường nhập khẩu phải cao hơn giá ở nước xuất khẩu vì phải tốn thêm hàng loạt các chi phí cần thiết như vận chuyển, các loại thuế quan trong việc nhập khẩu… Với bản chất phi kinh tế và không bình thường ấy, hành vi bán phá giá đã bóp méo các nguyên lý của thị trường tự do mà các nỗ lực hợp tác kinh tế quốc tế đã tạo lập Do đó, bán phá giá bị tập quán thương mại quốc tế cũng như pháp luật quốc tế coi là hành vi bất chính Kết quả tất yếu là xảy ra những xung đột trong việc đấu tranh loại bỏ và trừng phạt hành vi này Xung đột xảy ra liên quan đến bán phá giá không còn là câu chuyện đối đầu giữa các nhà sản xuất nữa mà thực tế nó là sự xung đột về lợi ích giữa hai thị trường khác nhau có cùng sản phẩm cạnh tranh nhau Việc xác định chính xác thị trường mà ở đó hàng hóa bán phá giá được sản xuất và xác định thị trường nhập khẩu hàng hóa phá giá có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các yếu tố cấu thành hành vi phá giá cũng như việc áp dụng các biện pháp đấu tranh chống bán phá giá Trong khi đó, phá giá trong nước hay còn gọi là phá giá nội địa

là khái niệm diễn tả một hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trên cùng một thị trường giữa các chủ thể kinh doanh với nhau Phá giá nội địa không kéo theo những xung đột trong thương mại giữa các thị trường Vì vậy, chỉ cần pháp luật cạnh tranh của nhà nước can thiệp nhằm bảo đảm cho sự lành mạnh của thị trường

9 Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong

điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, NXB công an nhân dân, Hà Nội, 2001, trang 38

Trang 12

Thứ hai, phá giá là hiện tượng phân biệt giá quốc tế Nói cách khác, trung tâm của khái niệm bán phá giá là có sự chênh lệch (so sánh) về giá một cách không bình thường, khi giá xuất khẩu của một loại hàng hóa thấp hơn giá trị thông thường của nó tại nước xuất khẩu Vì thế hai yếu tố cơ bản được sử dụng để xác định phá giá là giá xuất khẩu vào thị trường nước nhập khẩu và giá trị thông thường của hàng hóa bị nghi ngờ tại thị trường nước xuất khẩu, phương pháp sử dụng là so sánh hai yếu tố đó với nhau để tìm sự chênh lệch Mọi sự chênh lệch mà ở đó cho thấy giá xuất khẩu của sản phẩm thấp hơn giá trị thông thường của nó đều phản ánh dấu hiệu của việc phá giá hàng hóa10

Bản chất của hành vi bán phá giá trong quan hệ thương mại quốc tế được biểu hiện thông qua việc hạ giá bán hàng hóa Tuy nhiên, như đã phân tích việc hạ giá bán trong phá giá khác cơ bản so với hạ giá là kết quả của quá trình giảm chi phí ở chỗ chủ thể thực hiện việc bán phá giá chấp nhận hy sinh lợi nhuận hoặc chấp nhận lỗ khi bán hàng hóa trên thị trường nước khác Sự hy sinh ấy quyết định bản chất không lành mạnh của hành

vi bán phá giá mà pháp luật của nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ gọi là hành vi bán hàng hóa dưới giá trị công bằng

Về phạm vi, phá giá trong nước được xác định là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh qua giá của các nhà sản xuất hàng hóa trên cùng thị trường của một quốc gia Vì thế, khi xác định hành vi phá giá nội địa, nhà chức trách chỉ cần truy tìm những dấu hiệu của việc bán hàng với giá dưới chi phí sản xuất hoặc dưới mức giá thông thường trên thị trường của quốc gia đó nhằm chiếm đoạt thị phần hoặc hạn chế cạnh tranh Phá giá trong thương mại quốc tế là kết quả của quá trình phân biệt giá giữa hai thị trường và mức độ phá giá biểu hiện thông qua sự chênh lệch giá bán giữa hai thị trường So sánh giá là công việc bắt buộc phải thực hiện trong việc xác định phá giá, kết quả của nó sẽ xác định có hay không có cũng như xác định sự nguy hại của hành vi bán phá giá quốc tế Do sự không đồng nhất về điều kiện cũng như yếu tố cấu thành của thị trường giữa các quốc gia

mà việc so sánh giá luôn đặt ra rất nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết

Thứ ba, đối tượng của hành vi bán phá giá là hàng hóa tham gia vào lưu thông trong quan hệ thương mại quốc tế Khi thiết lập thị trường thương mại chung, đối tượng được hầu hết các diễn đàn thương mại quốc tế quan tâm là dịch vụ và hàng hóa Mọi thiết chế pháp lý trong quan hệ thương mại quốc tế đều nhằm mục đích tạo lập những khuôn khổ cho quá trình dịch chuyển một cách tự do và lành mạnh trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với các đối tượng là hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, trong các hiệp định liên quan đến phá giá của các tổ chức kinh tế quốc tế như WTO, EU… và pháp luật về phá giá của

10 Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 23

Trang 13

các nước đều không đề cập đến phá giá dich vụ Hay nói cách khác, các luật lệ về phá giá hiện nay chỉ đề cập đến phá giá hàng hóa trong thương mại quốc tế11

Pháp luật phá giá hàng hóa được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc đối vật Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất vật chất hiện hữu của hàng hóa và nhấn mạnh đến đối tượng

xử lý của các biện pháp chống bán phá giá là hàng hóa12

Theo đó, khi có hiện tượng phá giá và xác định được hàng hóa bán phá giá, pháp luật xuất hiện để xử lý hàng hóa phá giá mà không phân biệt người thực hiện hành vi đó

có phải là người sản xuất hay không, và cũng không quan tâm đến yếu tố quốc tịch của người đã thực hiện hành vi bán phá giá hàng hóa Nói cách khác, biện pháp chống bán phá giá dựa trên nguyên tắc đối vật được áp dụng đối với sản phẩm chứ không phải chống lại nguồn của sản phẩm Xuất phát từ quan niệm tranh chấp về phá giá trong thương mại quốc tế biểu hiện sự xung đột về lợi ích giữa hai thị trường khác nhau, vì thế một khi sự xâm nhập hàng hóa từ thị trường nước này bằng một phương cách có thể đe dọa đến sự phát triển của hàng hóa trong thị trường nước nhập khẩu, cũng là lúc phát sinh quyền tự vệ bằng cách tác động ngược trở lại bằng các biện pháp tương ứng đối với hàng hóa đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại Tác động trở lại của nhà nước nhập khẩu đối với hiện tượng bán phá giá không nhằm mục đích loại bỏ sản phẩm bị bán phá giá ra khỏi thị trường, cũng không phải để ngăn cấm những chủ thể thực hiện hành vi phá giá tham gia thị trường, mà mục đích chủ yếu là loại bỏ và ngăn chặn thiệt hại do hành vi phá giá gây ra cho ngành sản xuất trong nước Như vậy, đối tượng được xác định trong phá giá hàng hóa chính là hàng hóa nhập khẩu và các biện pháp trừng phạt cũng nhằm đến hàng hóa chứ không phải nhằm đến chủ thể thực hiện hành vi Nguyên tắc đối vật thực sự có ý nghĩa đối với việc xác định cũng như hiệu quả áp dụng biện pháp chống bán phá giá

1.2.2 Tác động của bán phá giá

Tác động của hiện tượng bán phá giá được nhìn nhận cả góc độ tích cực và tiêu cực bằng việc phân tích ảnh hưởng của nó đối với lợi ích của người tiêu dùng, nhà sản xuất

có liên quan và các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm cạnh tranh nội địa

Việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá có những ảnh hưởng đáng kể đến người tiêu dùng của nước nhập khẩu cả trong ngắn hạn và dài hạn Trong ngắn hạn, việc bán phá giá

đã tối đa hóa lợi ích cho người tiêu dùng vì họ có cơ hội mua được hàng hóa nhập khẩu giá rẻ Với tâm lý vị lợi, người tiêu dùng luôn có xu hướng lựa chọn hàng hóa phù hợp với nhu cầu sử dụng ở mức giá thấp nhất có thể Sự xuất hiện của hàng hóa nhập khẩu phá giá trên thị trường đã làm tăng khả năng thỏa mãn nhu cầu của họ Trong kinh tế thị trường, lượng hàng hóa người ta mua phụ thuộc vào giá cả của nó, hiện tượng bán phá

11 Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 24 – 25

12 John H.Jackson, Hệ thống thương mại thế giới, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2001, trang 37

Trang 14

giá của hàng hóa nhập khẩu có thể là động lực kích thích tiêu dùng Một khi giá của hàng hóa có xu hướng giảm, sẽ làm tăng hiệu ứng thu nhập của người tiêu dùng, từ đó tăng lượng tiêu thụ hàng hóa Ngoài ra, việc bán phá giá hàng hóa nhập khẩu còn làm tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường Việc hàng hóa nhập khẩu phá giá với giá bán rẻ hơn

so với hàng hóa nội địa đã tạo ra sức ép cho ngành sản xuất nội địa trong việc tìm phương cách nâng cao khả năng cạnh tranh theo nguyên tắc giá cả là tín hiệu đối với người sản xuất và tiêu dùng Khi hàng hóa nhập khẩu có giá rẻ hơn, hàng hóa nội địa trở thành mặt hàng có giá cao tương đối Với sự tác động của hiệu ứng thay thế, người tiêu dùng có xu hướng dùng hàng hóa nhập khẩu với giá rẻ hơn để thỏa mãn nhu cầu của mình và đẩy các doanh nghiệp nội địa vào tình trạng cạnh tranh không lối thoát, hoặc tìm cách giảm chi phí để tăng khả năng cạnh tranh về giá, hoặc mất khách hàng13 Mức cạnh tranh tăng sẽ

có tác dụng làm giảm sức ỳ của các doanh nghiệp nội địa, làm giảm khả năng bóc lột khách hàng của các doanh nghiệp nội địa với giả thuyết rằng trước khi có hiện tượng bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu, các doanh nghiệp này đang có vị trí độc quyền

Trong dài hạn, quyền lợi của người tiêu dùng có thể bị xâm hại nếu doanh nghiệp nước ngoài bán phá giá hàng hóa để thực hiện chiến lược chiếm đoạt thị trường bằng cách định giá hủy diệt ngành sản xuất trong nước Mặc dù bán phá giá đem lại lợi ích cho người tiêu dùng ở hiện tại, song khi đã chiếm đoạt được thị trường nhập khẩu, giá của hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng vọt trong tương lai để các doanh nghiệp lấy lại những gì đã mất từ việc phá Người tiêu dùng lại trở thành nạn nhân của mức giá độc quyền do các doanh nghiệp nước ngoài ấn định Sự suy đoán về khả năng giá tăng trong tương lai hoặc sản lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ giảm để chi phối cung cầu là một trong những căn cứ

để kết luận về bản chất hạn chế cạnh tranh của hành vi bán phá giá có mục đích cướp đoạt thị trường14

Tác động của bán phá giá đối với các doanh nghiệp có liên quan tại nước nhập khẩu Các doanh nghiệp có liên quan được xác định là những doanh nghiệp của nước nhập khẩu hoạt động ở ngành sản xuất khác có sử dụng hàng hóa nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất Khi hàng hóa nhập khẩu bán phá giá, các doanh nghiệp nói trên có được nguồn nguyên liệu rẻ để sản xuất, kinh doanh, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng cho ngành sản xuất mà họ hoạt động

Tác động của bán phá giá đến ngành sản xuất nội địa kinh doanh sản phẩm cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu (gọi tắt là ngành sản xuất nội địa hoặc doanh nghiệp sản xuất nội địa) Tác động tiêu cực của bán phá giá hàng hóa nhập khẩu chủ yếu được chứng minh bằng những thiệt hại mà ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu Các doanh nghiệp

Trang 15

sản xuất nội địa và người lao động trong các doanh nghiệp này là nạn nhân thực tế và trực tiếp của việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá Nếu mức phá giá làm giá cạnh tranh của sản phẩm nhập khẩu thấp hơn chi phí sản xuất của hàng hóa nội địa, doanh nghiệp nội địa sẽ bị đẩy vào tình trạng cạnh tranh không lối thoát, hoặc chịu lỗ để chạy đua theo mức giá phá giá, hoặc mất khách hàng Trong trường hợp mức phá giá làm giá cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu thấp hơn giá bán hiện tại nhưng không thấp hơn chi phí sản xuất của hàng hóa nội địa thì thiệt hại mà ngành sản xuất nội địa phải chịu là sự suy giảm lợi nhuận, sự giảm lợi tức đầu tư….Tuy nhiên, trong trường hợp này có hai khả năng trái ngược nhau xảy ra:

Thứ nhất, việc suy giảm lợi nhuận của ngành sản xuất nội địa là cần thiết cho lợi ích chung của thị trường nước nhập khẩu do các doanh nghiệp nội địa đang chi phối thị trường Hàng hóa nội địa đang được bán với mức giá độc quyền nên việc bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu có thể giải phóng khách hàng khỏi tình trạng bị bóc lột cho dù gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa

Thứ hai, sự suy giảm lợi nhuận làm giảm tính hấp dẫn về đầu tư của thị trường nội địa Khi mức phá giá đẩy mặt bằng giá hàng hóa cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nhập khẩu xuống gần bằng chi phí bình quân (giá thành của hàng hóa) sẽ làm giảm khả năng có lợi nhuận xuống mức tối thiểu Đương nhiên, sức hấp dẫn các nguồn vốn đầu tư vào ngành sản xuất nội địa sẽ giảm cho dù việc bán phá giá không đủ để loại

bỏ các doanh nghiệp đang hoạt động15

Như vậy, việc bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu vừa có những tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực cho thị trường của nước nhập khẩu Vì thế, khi tiến hành xử lý hành vi phá giá, Nhà nước bị đặt vào tình trạng phải giải quyết xung đột giữa quyền lợi người tiêu dùng đang được thụ hưởng (hiện tại đang mua được hàng hóa giá rẻ) và lợi ích của nhà sản xuất trong nước (phải hạ giá thành để có thể cạnh tranh với hàng hóa đang phá giá, và việc mất dần thị phần của họ) Vấn đề là Nhà nước phải lựa chọn lợi ích cơ bản cần được bảo vệ Đôi khi, trong các vụ việc chống bán phá giá, các lực lượng thị trường với lợi ích đối lập luôn đấu tranh với nhau và tạo ra những áp lực không nhỏ để buộc cơ quan có thẩm quyền đưa ra các quyết sách phù hợp với lợi ích của họ16

1.3 Phân loại bán phá giá

Trong tiến trình xây dựng cơ chế tự do của thị trường hàng hóa, bên cạnh việc nghiên cứu để tạo lập những thiết chế thuận lợi cho sự tự do hóa thương mại, các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia tham gia hội nhập đều có những tiếp cận đến mặt trái của

Trang 16

tự do để loại trừ những hành vi lạm dụng xâm hại đến trật tự chung Việc loại trừ chỉ thật

sự có hiệu quả khi từng hiện tượng không lành mạnh được nghiên cứu một cách triệt để, sâu sắc từ bản chất đến các hình thức biểu hiện của nó Với tư cách là một hiện tượng kinh tế xã hội đặc biệt phức tạp, phá giá được tiếp cận nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau trên các lý thuyết kinh tế, hòng tìm kiếm những dấu hiệu mang tính bản chất và phổ biến của nó để công quyền xuất hiện và can thiệp đúng lúc với những biện pháp phù hợp Mặc dù, trong pháp luật thương mại quốc tế cũng đã có những nhận thức chung về phá giá, tuy nhiên, khi phân tích biểu hiện của nó trên thực tế để tìm kiếm cách ứng xử thích đáng thì lại có nhều cách tiếp cận với những lý thuyết khác nhau Mỗi cách tiếp cận và phân loại hình thức bán phá giá đều có những ý nghĩa nhất định về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng17

1.3.1 Phân loại theo Hiến chương Havana

Nhằm xây dựng một thị trường chung với nguyên tắc nền tảng là sự tự do trong thương mại hàng hóa quốc tế, Hiến chương Havana đã khái quát 4 loại phá giá là: phá giá

về giá, phá giá dịch vụ, phá giá hối đoái và phá giá xã hội18 Cụ thể:

- Phá giá về giá: là hiện tượng các nhà sản xuất bán hàng hóa ra nước ngoài với giá thấp hơn giá tại thị trường trong nước, điều này có thể gây ảnh hưởng xấu đến ngành công nghiệp ở nước nhập khẩu sản xuất sản phẩm tương tự Với cách hiểu này, phá giá

về giá đồng nghĩa với phá giá theo Điều VI của Hiệp đinh GATT19

- Phá giá dịch vụ: phá giá dịch vụ được nhận dạng là những hành vi sử dụng các thỏa thuận về giá cả phân biệt hoặc trợ giá dịch vụ vận tải biển Thực chất khi đề cập đến phá giá trong lĩnh vực dịch vụ, Hiến chương lên án hành vi này do nó tạo cho sản phẩm những lợi thế bất chính từ việc phá giá chi phí vận chuyển tàu biển Như vậy, cách hiểu

về phá giá dịch vụ theo Hiến chương Havana được giới hạn rất hẹp chỉ trong lĩnh vực vận chuyển tàu biển mà không bao gồm hết các ngành dịch vụ trong thương mại quốc tế; đồng thời, bản chất nguy hại cho trật tự kinh tế chung không thể hiện bằng sự trực tiếp đe dọa cho bất cứ ngành công nghiệp nào của nước nhập khẩu Sự nguy hại được đề cập gắn liền với những lợi thế không lành mạnh mà bản thân hành vi phá giá tạo nên cho hàng hóa nhập khẩu20

17 Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 55 – 56

18

Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong

điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, NXB công an nhân dân, Hà Nội, 2001, trang 133

19 Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, 1997, trang 200

20 Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 57

Trang 17

- Phá giá hối đoái: được nhận dạng thông qua các thủ đoạn tác động đến tỷ giá hối đoái nhằm mang lại cho hàng hóa xuất khẩu từ một nước nào đó một lợi thế trên thị trường nước nhập khẩu21

Giống như phá giá dịch vụ, bản thân phá giá hối đoái tạo cho hàng hóa lợi thế bất chính bằng sự tác động vào tỷ giá hối đoái về giá trị của hai loại tiền tệ khác nhau giữa hai quốc gia Sự khác nhau giữa phá giá dịch vụ và phá giá hối đoái là phá giá dịch vụ ảnh hưởng trực tiếp đến một phần của kết cấu giá thông qua hành vi bóp méo tính trung thực trong chi phí vận tải Trong khi đó, phá giá hối đoái không bóp méo cơ cấu hình thành giá nhưng lại không lành mạnh trong việc quy chuẩn giá trị đồng tiền giữa hai thị trường, từ đó làm thay đổi đến giá cả của hàng hóa Tính nguy hiểm thể hiện ở sự ẩn giấu những biểu hiện không lành mạnh của loại phá giá này Pháp luật thương mại quốc tế hiện hành không đề cập đến phá giá hối đoái

- Phá giá xã hội: Hiến chương Havana không đưa ra thuật ngữ phá giá xã hội mà chỉ

mô tả hành vi xuất khẩu hàng hóa với giá thấp đươc sản xuất bởi các tù nhân hoặc lao động khổ sai22

Thuật ngữ phá giá xã hội được sử dụng để phản ánh hiện tượng xuất khẩu hàng hóa

đó được sản xuất không theo những tiêu chuẩn công bằng về lao động, về kỹ thuật mà các nước phát triển sử dụng Phá giá xã hội được nhìn nhận từ lý thuyết về thương mại và lao động cũng như những điều khoản về xã hội trong chính sách thương mại của kinh tế quốc tế Dựa trên quan điểm về tiêu chuẩn lao động công bằng, lý thuyết về thương mại

và lao động cho rằng sự công bằng trong thương mại sẽ bị bóp méo nếu như có sự phân biệt đối xử trong lao động giữa các quốc gia Vì thế những điều kiện lao động không công bằng (trong thù lao và những điều kiện bảo hộ lao động) đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu tạo ra những khó khăn trong thương mại quốc tế Việc sử dụng lao động là tù nhân và lao động khổ sai sẽ tạo ra cho sản phẩm hoặc hàng hóa xuất khẩu những loại thuế từ việc không trả lương và giảm chi phí do điều kiện lao động tù ngục không phải đầu tư nhiều Có nhiều ý kiến yêu cầu phải áp dụng biện pháp trừng phạt thương mại khi phát hiện các quốc gia vi phạm các tiêu chuẩn lao động công bằng đã được thống nhất trên toàn cầu, tiêu biểu là hành vi phá giá xã hội Hiện nay, vấn đề phá giá xã hội và các biện pháp trừng phạt cần áp dụng với nó chưa được chính thức đưa ra trong bất kì văn kiện pháp lý nào của thương mại quốc tế Vì thế, nhiều nước phát triển như Hoa kỳ, Anh, Pháp… đang sử dụng các chính sách nhân quyền để đối phó với những sản phẩm làm ra từ lao động trẻ em hoặc từ tù nhân

Trên tinh thần tạo lập và duy trì sự tự do, công bằng trong thương mại, Hiến chương Havana cùng với việc nhận dạng các biểu hiện cụ thể bốn loại hành vi phá giá đã có những ý nghĩa nhất định về lý luận liên quan đến xây dựng chính sách chung về phá giá

21 Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, 1997, trang 98

22 Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, 1997, trang 233

Trang 18

quốc tế cũng như trong việc xây dựng pháp luật về chống phá giá của Tổ chức thương mại thế giới sau này23

Phá giá độc quyền là hành vi vi phạm thô bạo nguyên tắc cạnh tranh vì bản chất của

nó là hành vi nhằm độc quyền hóa Phá giá độc quyền tạm thời đem lại một số lợi ích cho người tiêu dùng, nhưng khi các doanh nghiệp đạt được vị trí độc quyền sẽ đặt giá độc quyền để bóc lột người tiêu dùng Nguy hiểm hơn, nó hủy hoại cạnh tranh và có thể là nguyên nhân trực tiếp gây ra những bất ổn về kinh tế Bởi vậy, pháp luật của các nước không chỉ cấm và trừng phạt nghiêm khắc mà còn khá thống nhất với nhau trong việc đưa

ra những tiêu chuẩn đánh giá hành vi phá giá độc quyền, đó là: (1) hành vi này phải do các doanh nghiệp có quyền lực thị trường thực hiện; (2) tính chất cạnh tranh của thị trường bị phá giá; (3) tỉ lệ chênh lệch giữa giá bán và mức giá trong điều kiện cạnh tranh

so với chi phí sản xuất hay chi phí để doanh nghiệp có được hàng hóa đó Tỷ lệ chênh lệch cho phép là khác nhau ở mỗi quốc gia25

Phá giá độc quyền được chia làm hai loại là: phá giá chiến lược và phá giá cướp đoạt

- Phá giá chiến lược là hành vi bán phá giá nằm trong một chiến lược cạnh tranh tổng thể của nước xuất khẩu

- Phá giá cướp đoạt là hành vi định giá thấp nhằm mục đích đẩy đối thủ cạnh tranh vào tình trạng phá sản để giành vị trí độc quyền tại nước nhập khẩu Nhìn dưới góc độ kinh tế thì phá giá cướp đoạt là hành vi liều lĩnh và rất tốn kém Nó chỉ thật sự đáng giá khi tất cả các khoản lỗ và chi phí bị mất có thể thu hồi được Trong quan hệ thương mại quốc tế, việc phá giá độc quyền khó có thể thực hiện được một cách tuyệt đối, bởi lẽ bên cạnh việc loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường, doanh nghiệp thực hiện hành vi phá giá độc quyền cũng luôn phải lưu ý đến việc ngăn cản sự gia nhập của các doanh nghiệp tiềm năng Vì vậy, việc thực hiện chiến lược độc quyền thị trường bằng phá giá cũng chưa thực sự hiệu quả cho bản thân doanh nghiệp

1.3.2.2 Phá giá không độc quyền

23

Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 60 – 61

24 Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội, 1997, trang 83

25 Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong

điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, NXB công an nhân dân, Hà Nội, 2001, trang 133

Trang 19

Phá giá không độc quyền được thể hiện qua ba dạng là:

- Phá giá mở rộng thị trường là việc nhà sản xuất bán hàng hóa với giá cao ở trong nước nhằm hỗ trợ cho giá thấp ở thị trường xuất khẩu Khác với phá giá cướp đoạt, phá giá nhằm mở rộng thị trường luôn gắn liền với sự đắp đổi lợi nhuận thu được ở thị trường nội địa cho các khoản lỗ do phá giá gây ra Còn phá giá cướp đoạt gắn liền với việc định giá thật thấp đủ để loại đối thủ ra khỏi thị trường Nhà sản xuất chỉ có thể bán giá cao ở trong nước để hỗ trợ bán giá thấp đối với sản phẩm xuất khẩu khi nhà sản xuất có vị trí độc quyền trong thị trường nội địa hoặc thực hiện hành vi thỏa thuận với các nhà sản xuất khác hạn chế số lượng để nâng giá bán trong nước Mục đích mở rộng thị trường nhìn dưới góc độ kinh tế học là hành vi tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường Thị phần có vai trò quan trọng trong việc xác định vị trí cũng như khả năng tồn tại của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có thị phần lớn sẽ dễ dàng lấn át những công ty có thị phần nhỏ hơn Do đó, một trong những mục tiêu mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng mong muốn đạt được là giành thị phần lớn nhất có thể Vì thế, việc bán hàng với giá thấp ngắn hạn để gia nhập thị trường của các nhà sản xuất nước ngoài là hoàn toàn phù hợp với quy luật chung của thị trường hàng hóa tự do cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng

- Phá giá chu kỳ là hình thức phá giá mà nhiều doanh nghiệp sử dụng để giải quyết hậu quả của việc sản xuất quá dư thừa loại hàng hóa đó Sự bất công mà hành vi bán phá giá này gây ra là việc sản xuất quá mức dẫn đến dư thừa là vấn đề của nhà sản xuất, nhưng khi tiến hành phá giá để giải quyết tình trạng do chính họ gây ra có thể sẽ gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu

- Phá giá thương mại của nhà nước là hình thức bán phá giá được thực hiện chủ yếu trong các nền kinh tế mà tỷ giá hối đoái có ý nghĩa nhỏ bé hoặc các tín hiệu về giá cả là không quan trọng26

Cách phân loại phá giá theo động cơ có ý nghĩa rất lớn cho việc xác định và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá phù hợp với từng biểu hiện của loại hành vi này Mặt khác, với cách thức nhận dạng hành vi từ động cơ của chủ thể thực hiện, việc phát hiện sẽ

dễ dàng và thuận lợi hơn rất nhiều

1.3.3 Phân loại căn cứ vào biểu hiện của phá giá

Dựa vào các biểu hiện của phá giá có thể phân thành các loại phá giá ẩn, phá giá gián tiếp và phá giá thứ cấp27

- Phá giá ẩn là hành vi theo đó người nhập khẩu bán hàng nhập khẩu trên thị trường của nước mình với giá thấp hơn giá ghi trên hóa đơn của người xuất khẩu đối với hành

26

Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 63

27 Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong

điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, NXB công an nhân dân, Hà Nội - 2001, trang 83

Trang 20

hóa đó và bằng nhiều cách khác nhau, người xuất khẩu sẽ hoàn lại một cách không minh bạch cho nhà nhập khẩu Một trong những yêu cầu để nhận dạng phá giá ẩn là có sự liên kết giữa nhà xuất khẩu với nhà nhập khẩu và đã có sự chuyển dịch giá ngầm giữa họ với nhau để nhìn về hình thức thì hàng hóa khi vào thị trường nước nhập khẩu không có biểu hiện của phá giá, nhưng khi lưu thông thương mại thì xuất hiện hiện tượng bán giá thấp

- Phá giá gián tiếp: Phá giá thông thường được hiểu là việc bán hàng hóa dưới mức giá trị chuẩn tại nước xuất khẩu Với cách hiểu này, phá giá chỉ liên quan đến thị trường của hai nước có liên quan Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nếu xem xét giá bán hàng hóa ở thị trường nước nhập khẩu trực tiếp thì không có biểu hiện của bán phá giá, nhưng khi hàng hóa được lưu thông thương mại từ nước thứ hai sang nước thứ ba và tại nước thứ ba giá bán hàng hóa so với giá của nước xuất xứ lại có biểu hiện của phá giá Vấn đề khó khăn để xác định phá giá cũng như biện pháp chống bán phá giá là người xuất khẩu hàng hóa vào thị trường mà hàng hóa bị nghi ngờ là phá giá không phải là người sản xuất

ra hàng hóa; thị trường xuất khẩu và thị trường xuất xứ của hàng hóa là khác nhau

- Phá giá thứ cấp được hiểu là việc xuất khẩu loại hàng hóa có các bộ phận được phá giá (ví dụ như sản xuất xe máy mà khung được nhà sản xuất nhập với giá thấp hơn giá thị trường) Trong thực tế, dấu hiệu và thiệt hại do phá giá thứ cấp gây ra rất khó xác định28

1.4 Giới thiệu về Hiệp định chống bán phá giá của WTO

1.4.1 Lịch sử phát triển của pháp luật chống bán phá giá

Ngày 10/8/1904, các quy định đầu tiên về chống bán phá giá đã được Canada thông qua Những quy định chống bán phá giá được hình thành từ việc sửa đổi Đạo luật thuế hải quan năm 1897 của nước này Tiếp theo đó, vào năm 1905 và năm 1906, các quy định chống bán phá giá đã lần lượt được New Zealand và Úc áp dụng

Vấn đề chống bán phá giá (AD) đã được Hiệp hội các quốc gia (League of Nations) nghiên cứu ngay từ năm 1922, nhưng chỉ đến năm 1947, với sự ra đời của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT (General Agreement of Tariffs and Trade), vấn

đề này mới được đặt dưới sự chi phối của luật quốc tế, thông qua Điều VI của Hiệp định này Lúc ấy chủ đề này chưa được tranh cãi nhiều và chỉ về sau, khi các dòng thương mại phát triển ngày càng nhanh, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn và khốc liệt hơn, và các nước thành viên của GATT cũng đông hơn, mới thành một mối quan tâm chính, ngày càng lớn qua các vòng thương thảo tiếp nối nhau29

Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) được ký kết từ năm 1947 và ngay sau đó, năm 1948 hệ thống thương mại đa biên được thiết lập Điều VI GATT 1947

28

Th.S Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và

thực tiển, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005, trang 65 – 66

29 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 17

Trang 21

đã có quy định liên quan đến trường hợp một ngành công nhiệp nội địa cho rằng việc bán phá giá đã gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất của họ Điều khoản này cho phép nước bị bán phá giá được áp đặt “thuế chống bán phá giá” đối với hàng hóa nhập khẩu nhằm loại

bỏ tác động của việc bán phá giá Mức thuế có thể bằng nhưng không lớn hơn biên độ bán phá giá Cùng với xu hướng giảm dần tỷ lệ thuế quan kể từ khi có Hiệp định GATT

1947 thì việc sử dụng thuế chống bán phá giá cũng tăng lên và Điều VI không còn tương thích để quy định đầy đủ các vấn đề liên quan đến việc áp đặt thuế chống bán phá giá Ví

dụ như, Điều VI yêu cầu việc xác định thiệt hại đáng kể nhưng đã không đưa ra bất kì hướng dẫn cụ thể nào như là tiêu chí cho việc xác định liệu có tồn tại thiệt hại hay không Ngoài ra khi đưa ra phương pháp xác định sự tồn tại bán phá giá, Điều VI cũng chỉ đưa ra một cách thức chung chung nhất, rất khó vận dụng cho từng trường hợp cụ thể Hiệp định GATT 1947 không có các quy định về thủ tục áp dụng biện pháp chống bán phá giá Hiệp định mặc nhiên thừa nhận quyền tự do của các quốc gia trong việc xây dựng các thủ tục để xác định hiện tượng bán phá giá và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào nước mình Đây là nguyên nhân chủ yếu để nhiều nước lợi dụng

áp dụng pháp luật chống bán phá giá như là công cụ thực hiện chính sách bảo hộ thái quá thị trường nội địa

Do vậy, sau vòng đàm phán Kennedy, các bên trong Hiệp định GATT đã ký kết một bản Thỏa thuận chi tiết hơn liên quan đến chống bán phá giá Thỏa thuận này có tên là Hiệp định thực thi chống bán phá giá (Agreement on Anti-Dumping Practices), có hiệu lực năm 1967 Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã không ký vào Hiệp định này, và do vậy Hiệp định

đã ít có giá trị thực tiễn Kết thúc vòng đàm phán Tokyo các bên cũng đã cho ra đời Hiệp định Tokyo (có hiệu lực từ năm 1980) Hiệp định này đã cho thấy một sự tiến bộ, thể hiện

ở việc cung cấp khá nhiều hướng dẫn cho việc xác định bán phá giá và thiệt hại so với Điều VI GATT 1947 Hiệp định đã đưa ra quy trình, thủ tục tiến hành và các vấn đề cần được hoàn thiện trong giai đoạn điều tra Tuy nhiên, Hiệp định cũng vẫn chỉ là một khuôn khổ chung cho các nước tuân theo khi tiến hành điều tra và áp đặt thuế chống bán phá giá Nó còn nhiều điểm mơ hồ, gây tranh cãi và do đó, khá hạn chế trong việc thực thi Sau vòng đàm phán Uruguay, cùng với sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) các bên đã ký kết Hiệp định về thực thi Điều VI GATT 1994 (The Agreement on Implementation of Article VI of GATT 1994), thường được gọi với tên “Hiệp định về chống bán phá giá của WTO” (Anti-dumping Agreement-ADA)

Trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của WTO, luật quốc gia một nước thành viên phải phù hợp với các Hiệp định và quy định của WTO, những văn kiện này được coi như một bộ phận của hệ thống pháp lý quốc gia Do đó, các đạo luật khung về chống bán phá giá của các nước thường lặp lại tất cả các nguyên tắc của Hiệp định chống bán phá giá, thậm chí lấy lại nguyên văn Hiệp định trong trường hợp nhiều nước chỉ mới ban hành luật này sau khi gia nhập WTO Để áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tế, mỗi

Trang 22

nước có thể có thêm một số điều khoản chi tiết để thi hành, dựa theo thể chế pháp luật riêng của mình Như vậy, về các nguyên tắc chung thì luật các quốc gia phải đồng nhất nhưng về mặt áp dụng thực tiễn thì có thể có những điểm khác nhau30

Một điều đáng lưu ý là tuy các nước công nghiệp phát triển tiếp tục sử dụng nhiều biện pháp chống bán phá giá nhưng đến nay các nước đang phát triển cũng nhanh chóng

áp dụng các biện pháp này, đứng đầu danh sách là Ấn Độ với 316 biện pháp (nhiều hơn

cả Hoa Kỳ (234), Liên minh Châu Âu (219), Achentina (147), Nam Phi (113) hay Brazil (66) và Mexico (76)…)31

Từ đó có thể rút ra hai nhận xét: một là, song song với sự hội nhập vào nền thương mại quốc tế, các nước đang phát triển cũng áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhiều hơn để bảo vệ nền sản xuất còn yếu ớt của chính mình và các biện pháp chống bán phá giá vừa là hữu hiệu nhất vừa phù hợp với luật lệ của WTO Hai là đối với các nước này, các biện pháp chống bán phá giá vừa là công cụ của các cường quốc không cho họ thâm nhập thị trường và mở mang buôn bán, vừa là cái van an toàn cần thiết cho chính họ Do

đó, trong sự tranh cãi giữa các nước nghèo và giàu về đề tài chống bán phá giá, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Seattle năm

1999 và còn dai dẳng cho đến nay, các nước nghèo không đặt lại vấn đề chống bán phá giá về nguyên tắc mà chỉ đòi sửa đổi, củng cố các điều khoản để tránh lạm dụng và yêu cầu xác lập một chế độ đặc biệt để giúp đỡ họ Nói cách khác, các nước nghèo và các nước đang phát triển không phủ nhận sự cần thiết của khung pháp lý về chống bán phá giá mà chỉ phê phán cách áp dụng thực tiễn trong các đạo luật và chính sách của từng quốc gia, đặc biệt là chỉ trích nặng nề Hoa Kỳ32

Trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị bộ trưởng WTO tại Doha, chống bán phá giá

bị nhìn nhận như một vấn đề gây chia rẽ giữa một bên là các nước đang phát triển với một bên là các nước công nghiệp phát triển khác Một số nước đang phát triển lại cho rằng họ không được hưởng những ưu đãi mà Hiệp định đã dành cho họ Họ cáo buộc rằng việc các nước công nghiệp phát triển lạm dụng biện pháp chống bán phá giá đã hạn chế những lợi ích to lớn của tự do hóa thương mại Như vậy, các quy định chống bán phá giá của WTO cần phải được hoàn thiện hơn nữa cũng như vấn đề chống lạm dụng biện pháp chống bán phá giá còn là cuộc đấu tranh lâu dài và phức tạp33

1.4.2 Mục tiêu và bản chất của chống bán phá giá

30 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 17 – 19

31

Theo số liệu của Ban Thư ký WTO giai đoạn 1995-2005

32

TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 20

33 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 21-22

Trang 23

Bán phá giá thường bị coi là hành vi thương mại quốc tế không công bằng Do đó, Chính phủ nhiều nước cho rằng họ cần phải có hành động chống lại hành vi đó nhằm bảo

vệ ngành công nghiệp trong nước mà thông thường là thông qua việc đánh thuế chống bán phá giá để bù đắp lại những thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu do hành vi bán phá giá gây ra

Ngay từ năm 1947, Hiệp định GATT đã quy định thuế chống bán phá giá chỉ được

áp dụng trong những trường hợp chứng minh được rõ ràng có hành vi bán phá giá và hành vi đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại vật chất tới một ngành sản xuất trong nước34

Mặc dù, mục tiêu của các biện pháp chống bán phá giá (cũng như các biện pháp chống trợ cấp và tự vệ) được cho là để đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế nhưng trên thực tế không đơn giản như vậy

Theo đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực này thì chống bán phá giá không phải là chính sách công mà là chính sách tư Đó là một phương tiện mà đối thủ cạnh tranh

có thể sử dụng quyền lực của nhà nước để giành lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ khác Xét từ góc độ bảo hộ sản xuất trong nước, bên hưởng lợi là ngành công nghiệp nội địa và nạn nhân của biện pháp này là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài Chúng ta có thể nhận thấy rõ hơn bản chất và mục đích này thông qua một bản báo cáo của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) “…mục đích của pháp luật chống bán phá giá và chống trợ cấp không phải là bảo vệ người tiêu dùng mà là bảo vệ các nhà sản xuất… Thực chất, chức năng của pháp luật chống bán phá giá là để bảo vệ cho các công ty và

Xem Điều 2.1 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

36 Xem Điều 2.2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Trang 24

những người lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất ở Hoa Kỳ Vì vậy, chẳng có

gì đáng ngạc nhiên khi người hưởng lợi từ các lợi ích kinh tế này là các nhà sản xuất, ngược lại các chi phí kinh tế sẽ do người tiêu dùng gánh chịu Chính phủ Hoa kỳ, thông qua luật pháp, đã đưa ra một sự lựa chọn chính trị tỉnh táo, khôn ngoan để đưa những biện pháp bảo đảm công bằng này được công nhận trên thực tế…”37

Hơn nữa, các quy định chống bán phá giá là một biện pháp khắc phục thương mại

mà các thành viên của WTO đã đồng ý rằng là cần thiết để duy trì hệ thống thương mại

đa phương Động cơ kinh tế để sử dụng biện pháp chống bán phá giá là nhằm để duy trì thương mại công bằng Tuy nhiên, theo một nghiên cứu gần đây cho thấy, có tới 90% các biện pháp này không nhằm bảo vệ cạnh tranh lành mạnh hoặc thương mại công bằng38 Ngày nay, chống bán phá giá vẫn là một vũ khí bảo hộ cho các ngành công nghiệp truyền thống như thép, hóa chất, dệt may và các lĩnh vực khác là những ngành có sức cạnh tranh yếu do nền tảng công nghệ của chính họ

Như vậy, biện pháp này được sử dụng để làm phương tiện bảo hộ, và sẽ có những tác động tiêu cực đến hoạt động thương mại của các nước xuất khẩu, nhưng ngược lại, việc bảo hộ này làm tổn hại đến nền kinh tế của chính nước sử dụng biện pháp chống bán phá giá, đặc biệt trong trường hợp nguồn cung cấp không lớn hoặc sản phẩm bị áp thuế phá giá lại có vai trò của nguyên liệu đầu vào quan trọng của ngành công nghiệp khác như thép, điện tử, hóa chất, v.v… cũng như ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng39

1.4.3 Các nguyên nhân làm nảy sinh vụ kiện chống bán phá giá

1.4.3.1 Tự do hóa mậu dịch dẫn đến tình trạng lạm dụng biện pháp chống bán phá giá

Trong xu thế tự do hóa mậu dịch ngày càng trở nên phổ biến, việc từng bước dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan buộc nhiều nước phải áp dụng các biện pháp chế tài đơn phương để bảo hộ sản xuất trong nước Một kết quả của việc mở cửa thị trường chính là sự cạnh tranh lành mạnh và nền kinh tế nhờ quy mô đem lại hiệu quả Nhưng cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu có thể làm thiệt hại đến ngành sản xuất trong nước Chính vì vậy, biện pháp chống bán phá giá được coi là “biện pháp bảo hộ có chỉ đạo”, sử dụng các thủ tục pháp lý và các lập luận kinh tế không rõ ràng nhằm gây nhầm lẫn và thanh minh cho việc bảo hộ cho các ngành công nghiệp

37 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 28-29

38

Ủy Ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Tác động của các Hiệp định WTO đối với các nước đang phát triển,

Hà Nội, 2005, trang 152

39 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006,trang 29 – 30

Trang 25

Nói cách khác, chống bán phá giá là một rào cản phi thuế quan cho phép một nhóm các nhà sản xuất giành được sự bảo hộ, thậm chí trong khi các chính sách thương mại quốc gia tổng thể đang hướng về thương mại tự do40

Bản thân các ngành công nghiệp nội địa đã ngày càng nhận thức được vai trò và hiệu quả của các biện pháp chế tài này, nhất là biện pháp kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp… trong thương mại quốc tế trong việc giúp đỡ họ bảo hộ sản xuất trong nước Ngoài ra, các vụ kiện chống bán phá giá đem lại thuế suất cao hơn so với các vụ kiện chống trợ cấp

Bên cạnh đó, việc tăng thâm hụt thương mại đã dấy lên khuynh hướng gây sức ép bảo hộ trong các nước nhập khẩu Tờ Dân tộc (Thái Lan) ngày 20-5-2002 dẫn lời ông Supachai Panitchpakdi, Tổng giám đốc WTO nói với BBC rằng: “các nước phát triển đang đi ngược lại điều mà họ vẫn thuyết giáo, đặc biệt là chính sách bảo hộ ngày càng tăng của Hoa Kỳ Điều này làm xói mòn lòng tin của các nước đang phát triển trong hợp tác tự do hóa thương mại”41

1.4.3.2 Các quy định của pháp luật chống bán phá giá

Theo Luật Chống bán phá giá của WTO và một số nước như Hoa Kỳ, EU, Canada… trong trường hợp số lượng sản phẩm nhập khẩu từ một nước thấp hơn 3% tổng

số lượng sản phẩm nhập khẩu từ các nước khác trên thế giới thì đơn khởi kiện sẽ bị bác

bỏ và vụ kiện được chấm dứt Vì số lượng “không đáng kể” này không thể là nguyên nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành công nghiệp nội địa nước nhập khẩu

Chính vì vậy, khi số lượng sản phẩm nào đó của một nước xuất khẩu cao hơn 3% thì

đó sẽ là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để ngành công nghiệp nội địa khởi kiện

Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật chống bán phá giá nêu trên còn cho phép cộng gộp thị phần xuất khẩu của các nước cùng xuất khẩu sản phẩm bị kiện vào nước nhập khẩu Điều đó đã giúp cho ngành công nghiệp nội địa có thêm cơ hội cho việc chứng minh hàng nhập khẩu là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại ngành công nghiệp nội địa của họ Bằng phương pháp này các cơ quan điều tra sẽ cộng tất cả những hàng hóa nhập khẩu tương tự từ tất cả các nước bị điều tra để đánh giá tác động gộp đối với ngành sản xuất nội địa Mặc dù quy định này đã được hợp pháp hóa trong WTO42, đây vẫn là một vấn đề lớn trong các vụ kiện chống bán phá giá Các nghiên cứu

40 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006,trang 41 – 42

41

TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006,trang 42 – 43

42 Theo Điều 5.8 Hiệp định chống bán phá giá của WTO: Khối lượng nhập khẩu thông thường sẽ được coi là không đáng kể nếu như khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá từ một nước cụ thể nào đó chiếm ít hơn 3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự vào nước nhập khẩu, ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các sản phẩm

Trang 26

đã cho thấy rằng phương pháp cộng dồn đã đem đến lợi thế đáng kể cho các quyết định khẳng định có thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa Theo các nghiên cứu của cơ sở dữ liệu chống bán phá giá WTO về việc điều tra của Hoa Kỳ, cộng dồn đã làm thay đổi kết quả từ phủ định sang khẳng định trong phần lớn các vụ kiện Phương pháp cộng dồn đã làm tăng lợi ích cho việc bảo vệ ngành sản xuất nội địa lên khoảng 30% Một phân tích

về các vụ kiện chống bán phá giá của EU cũng đã cho thấy rằng có một sự thay đổi mạnh

mẽ trong các kết luận của vụ điều tra về thiệt hại và các quyết định kết luận là có thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa EU đã tăng lên 42%43

Ngoài ra, một số nghiên cứu đã cho thấy các vụ kiện chống bán phá giá thường đem lại nhiều lợi thế so sánh hơn so với vụ kiện chống trợ cấp như thuế suất thường cao hơn; thời hạn áp dụng dài hơn Theo đánh giá của các chuyên gia thì thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá thường kéo đài từ 10 đến 20 năm hoặc là vô thời hạn; có nhiều khả năng điều chỉnh luật lệ hơn; sự phản hồi mang tính ngoại giao yếu hơn và có thể đạt được kết quả khả quan khi vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào các nền kinh tế phi thị trường Một điều đáng quan tâm hơn nữa là trên thực tiễn, việc sử dụng biện pháp chống bán phá giá là một phần quan trọng luôn có trong chiến lược kinh doanh của nhiều ngành công nghiệp nội địa nhằm bảo vệ lợi ích của ngành mình trước sự cạnh tranh mạnh mẽ và gay gắt từ hàng hóa nhập khẩu

Trên thực tế, biện pháp chống bán phá giá đã bị lạm dụng và nhiều nước, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển đã biến nó thành một hàng rào thương mại, duy trì chủ nghĩa bảo hộ thương mại Nói cách khác, biệp pháp được coi là hợp pháp của WTO, đến lượt nó, quay lại bóp méo dòng chảy thương mại quốc tế và hạn chế sự phát triển nội tại khách quan của hoạt động này, đi ngược lại mục đích của WTO là giảm đáng kể thuế và các rào cản thương mại khác và theo hướng loại bỏ sự phân biệt đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc tế44

1.4.3.3 Vấn đề chính trị trong các vụ kiện chống bán phá giá

Nếu nhìn vào sự linh hoạt, biến đổi liên tục của hệ thống pháp luật chống bán phá giá của EU45, Hoa Kỳ46, Canada thông qua việc cải cách, sửa đổi, bổ sung của các văn

tương tự từ mỗi nước có khối lượng nhập dưới 3%, nhưng tổng số các sản phẩm tương tự của những nước này được nhập vào nước nhập khẩu chiếm trên 7% nhập khẩu sản phẩm tương tự vào Thành viên nhập khẩu

43 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 43-44

44 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 44-45

45

Luật Chống bán phá giá của EU được sửa 5 lần từ năm 1995-2003

46 Xem www.ia.ita.doc/: chỉ trong vòng 1 năm (2004-2005) DOC đã 7 lần cho đăng Công báo Liên bang để yêu cầu bình luận về các dự kiến thay đổi chính sách, thông lệ của mình về việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá liên quan đến tỷ lệ thuế suất riêng rẽ; giá lao động; cách tính chi phí đầu vào, chọn mẫu ngẫu nhiên ký quỹ liên tục…

Trang 27

bản pháp luật, chúng ta sẽ thấy yếu tố chính trị có vai trò không nhỏ trong các vụ kiện chống bán phá giá

Sau đây là một ví dụ điển hình:

Dưới sức ép mạnh mẽ từ ngành công nghiệp nội địa và với động cơ chính trị nhằm giành được sự ủng hộ của cử tri trong ngành công nghiệp nội địa như thép, nông nghiệp, điện tử bán dẫn…, ngày 28/10/2000 Tổng thống Bill Clinton ký sắc lệnh ban hành Tu chính án Byrd (Thượng nghị sỹ Robert Byrd soạn thảo) bất chấp sự phản đối mạnh mẽ và

đe dọa trả đũa từ các đối tác thương mại lớn như EU, Nhật Bản, Canada, Australia… Theo quy định của văn bản pháp luật này thì hàng năm ngành công nghiệp nội địa của Hoa Kỳ có thể thu về một khoản tiền khổng lồ từ thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu.47 Theo ước tính của hãng luật – Willikie Farr & Gallager (WFG), thì trong vụ kiện chống bán phá giá tôm đến khoảng tháng 1/2006 – ngành công nghiệp tôm Hoa Kỳ có thể nhận được một khoản tiền từ 100-120 triệu USD theo quy định này

Điều đáng chú ý hơn nữa là Chính phủ Hoa Kỳ vẫn thường áp dụng chính sách kép trong thương mại quốc tế, đặc biệt trong ngành công nghiệp nội địa thép và nông nghiệp, Chính phủ Hoa Kỳ một mặt vẫn trợ giá, đồng thời sử dụng vũ khí chống bán phá giá chống lại các nhà xuất khẩu nước ngoài Chính vì vậy, một khi các nhà sản xuất Hoa Kỳ cảm thấy không thể cạnh tranh được, họ chỉ cần kiện các nhà xuất khẩu nước ngoài bán phá giá48

Ngày 16/01/2003, Cơ quan Phúc thẩm WTO đã quyết định Tu chính án Byrd vi phạm các quy định của WTO và yêu cầu Hoa Kỳ phải hủy bỏ quy định này Ngay sau đó, Thượng nghị sỹ Byrd cùng với một số thượng nghị sỹ của cả Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ và quyết liệt phán quyết của WTO và gây sức

ép chính trị lên chính quyền Bush và chính quyền Bush vẫn kiên quyết duy trì Tu chính

án Byrd, chấp nhận sự trả đũa từ các đối tác thương mại lớn của mình49 Ngày 21/12/2005 Thượng viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu thông qua việc bãi bỏ Tu chính án Byrd Trước đó, vào ngày 18/11/2005 Hạ viện Hoa Kỳ cũng đã bỏ phiếu tán thành việc hủy bỏ đạo luật này Tuy nhiên, theo thỏa thuận giữa Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ, Tu chính

47

Theo quy định của Tu chính án Byrd Amendment thì lợi ích thu được qua áp đặt thuế chống bán phá giá sẽ được chia sẻ cho các công ty Hoa Kỳ vì mức thuế này có thể lên tới 400% Trong năm 2002, Hải quan Hoa Kỳ đã chia lại cho khoảng 1200 công ty mức tiền tổng cộng lên tới 329 triệu USD Năm 2003 là 240 triệu USD Đây cũng là nguyên nhân và điều kiện khuyến khích các công ty Hoa Kỳ khởi kiện chống bán phá giá

48 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 46 – 47

49

Chính vì vậy, vừa qua Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã quyết định cho phép Liên minh Châu Âu và các đối tác thương mại hàng đầu của Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp trừng phạt Hoa Kỳ về các quy định bất hợp pháp trong luật pháp chống bán phá giá Theo quyết định này, EU và các nguyên đơn sẽ được phép trừng phạt Hoa Kỳ tới mức 72% giá trị tiền thu được theo đạo luật Byrd của Hoa Kỳ

Trang 28

án Byrd vẫn tiếp tục được áp dụng cho các lô hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ trước ngày 1/10/200750

Với lập luận về “đóng kín các kẽ hở” của hệ thống pháp luật đã rất hấp dẫn và đem lại lợi ích to lớn cho các ngành công nghiệp nội địa, Hoa Kỳ đã đưa ra thêm nhiều quy định và các tiêu chuẩn liên quan đến các nghĩa vụ của các nhà sản xuất và xuất khẩu hàng hóa là đối tượng bị điều tra hoặc bị áp thuế chống bán phá giá Tại Hoa Kỳ, các quy định chống bán phá giá hiện nay nhận được sự ủng hộ về mặt chính trị rất mạnh mẽ và các ngành công nghiệp nội địa cho rằng cần sử dụng tự do pháp luật chống bán phá giá để hỗ trợ các ngành công nghiệp của Hoa Kỳ đối mặt với sự cạnh tranh không lành mạnh thông qua bán phá giá

Trên thực tế, các thay đổi, bổ sung và cải cách này đã làm cho các quy định, quy chế

về pháp luật chống bán phá giá đều trở nên phức tạp hơn và có quá ít người hiểu những thay đổi này thật sự có ý nghĩa gì Mặc dù mang hình thức của thương mại “công bằng”, chống bán phá giá luôn luôn và ngày càng trở thành một công cụ bảo hộ51

1.4.3.4 Sự phức tạp của pháp luật chống bán phá giá

Theo đánh giá của các chuyên gia pháp lý, luật pháp về chống bán phá giá là một trong những phần phức tạp nhất trong hệ thống pháp luật thương mại quốc tế Một số vấn

đề như trả lời các câu hỏi, điều tra, thẩm tra tại chỗ, phương pháp tính giá, sử dụng thông tin có sẵn, xem xét lại theo thủ tục hành chính, quy định về nền kinh tế phi thị trường, gánh nặng của nghĩa vụ chứng minh của bên bị khởi kiện…đã làm cho tính chất của một

vụ kiện rất phức tạp, thời gian giải quyết vụ kiện thường kéo dài và thời gian áp dụng biện pháp thuế chống bán phá giá cho sản phẩm bị kiện thường là vô hạn52

Cùng với việc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật chống bán phá giá của các nước như Hoa Kỳ, EU, Canada và một số thành viên khác của WTO thì bản câu hỏi điều tra dành cho các nhà xuất khẩu nước ngoài theo thời gian dường như càng ngày càng dài hơn và phức tạp hơn Vào năm 1987, bản câu hỏi dài 52 trang, thì năm 1988 đã tăng lên

73 trang, năm 1989 là 128 trang và đến năm 1990 thì số trang đã tăng lên 158, dài gấp 3 lần số trang của 3 năm trước đó Những lời chỉ trích đưa ra không chỉ về tính phức tạp của bản câu hỏi mà còn về số lượng quá nhiều thông tin cần cung cấp về việc bán hàng tại thị trường nội địa, việc bán hàng sang nước thứ ba…53

50 http://www.mot.gov.vn/mot

51 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 47-48

52

TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 48-49

53 TS Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với các vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, NXB lao

động – xã hội, Hà Nội, 2006, trang 48-49

Trang 29

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO

“Hiệp định chống bán phá giá của WTO” đã được các quốc gia thành viên của GATT cùng nhau đặt bút ký vào trong vòng đàm phán Uruguay (1986-1994) Trong đó

có nhiều quy định chi tiết và chặt chẽ từ việc xác định vấn đề phá giá, trình tự một cuộc điều tra về bán phá giá đến các biện pháp tạm thời và các biện pháp cuối cùng trong trường hợp xác định có bán phá giá Những quy định này được rút ra từ thực tiễn thương mại quốc tế giữa các thành viên trong những năm qua Trên cơ sở Hiệp định này, nhiều nước đã ban hành luật chống bán phá giá của riêng mình, trong đó chủ yếu là các nước đang phát triển để bảo vệ nền sản xuất trong nước khỏi hàng hóa nhập khẩu từ các nước phát triển Và trong thực tiễn thương mại hiện nay, các biện pháp chống bán phá giá không chỉ được các nước đang phát triển áp dụng mà nó đã trở thành một công cụ phổ biến của các nước phát triển, được các nước này triệt để khai thác Đơn cử như Hoa Kỳ, hàng năm các doanh nghiệp nước này đã phát hàng nghìn đơn kiện bán phá giá đối với hàng nhập khẩu của hàng chục nước trên thế giới Các biện pháp chống bán phá giá giờ đây đã trở thành quen thuộc trong thương mại quốc tế Do đó, đối với bất kỳ một doanh nghiệp xuất khẩu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, khi muốn xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài thì một vấn đề không thể bỏ qua là phải nghiên cứu về luật chống bán phá giá của các quốc gia, các thị trường mà mình muốn thâm nhập để tránh nguy cơ bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá Trong các luật chống bán phá giá thì không thể không nhắc đến Hiệp định chống bán phá giá của WTO – Hiệp định làm cơ sở cho luật chống bán phá giá của các quốc gia

2.1.1.1 Nguyên tắc xác định việc bán phá giá

Như vậy theo Hiệp định, việc bán phá giá được xác định thông qua việc so sánh về giá giữa giá thông thường với giá xuất khẩu theo công thức:

54 Xem Điều 2.1 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Trang 30

Biên độ phá giá = Giá thông thường – Giá xuất khẩu

Biên độ phá giá có thể tính bằng trị giá tuyệt đối hoặc theo phần trăm theo công thức:

Nếu biên độ phá giá > 0 thì có hiện tượng bán phá giá

Như vậy, việc xác định có bán phá giá hay không sẽ phụ thuộc chủ yếu vào các yếu

tố sau:

- Thứ nhất, cách tính giá xuất khẩu của sản phẩm;

- Thứ hai, cách tính giá thông thường của sản phẩm;

- Thứ ba, cách tính hiệu số giữa hai loại giá trên

Theo điều 2.6 của Hiệp định chống bán phá giá của WTO: “Sản phẩm tương tự sẽ được hiểu là sản phẩm giống hệt, tức là sản phẩm có tất cả các đặc tính giống với sản phẩm đang được xem xét, hoặc trong trường hợp không có sản phẩm nào như vậy thì là sản phẩm khác mặc dù không giống ở mọi đặc tính nhưng có nhiều đặc điểm gần giống với sản phẩm được xem xét”

Việc quyết định một sản phẩm là “sản phẩm tương tự” là một yếu tố rất quan trọng trong bất kỳ vụ việc điều tra nào, vì nó không chỉ xác định sản phẩm nào sẽ thuộc phạm

vi để phân tích cho thiệt hại, do đó sẽ xác định ngành công nghiệp nội địa nào để điều tra xác định thiệt hại, mà nó còn liên quan đến xác định sản phẩm nào của thị trường nội địa nước xuất khẩu sẽ được sử dụng để xác định giá trị thông thường Việc quyết định một sản phẩm là “sản phẩm tương tự” sẽ liên quan đến việc quyết định biên độ phá giá, cũng như quyết định về tình trạng thiệt hại

Hiệp định WTO không bao gồm thêm bất kỳ một sự hướng dẫn ngoài định nghĩa tại Điều 2.6, trong việc xác định sản phẩm tương tự Trong thông lệ điều tra của các cơ quan điều tra đã phát triển thêm một số tiêu chí mà họ áp dụng theo từng trường hợp cụ thể “Sản phẩm tương tự” nên được xác định càng sớm càng tốt trong vụ việc chống bán phá giá, vì nó sẽ hình thành và tác động đến toàn bộ quá trình điều tra Tuy nhiên, nó sẽ

là cần thiết, trong một vài trường hợp, để xem xét lại vấn đề này sau đó trong quá trình điều tra

2.1.1.2 Tính biên độ phá giá

Cách tính Giá thông thường

Biên độ phá giá = Giá thông thường – Giá xuất khẩu

Giá xuất khẩu

Trang 31

Giá thông thường là giá bán sản phẩm tương tự với sản phẩm bị điều tra tại thị trường nước xuất khẩu Theo Điều 2.2 của Hiệp định chống bán phá giá của WTO 55

, có ba cách xác định giá thông thường:

Cách 1: Giá thông thường được xác định theo giá bán của sản phẩm bị điều tra tại thị trường nước xuất khẩu (tại thị trường nội địa của nước nơi sản phẩm đó được sản xuất ra)

Cách 2: Giá thông thường được xác định theo giá bán của sản phẩm bị điều tra từ nước xuất khẩu liên quan sang thị trường một nước thứ ba

Cách 3: Giá thông thường được xác định theo trị giá tính toán

Cách tính 1 chỉ được áp dụng khi các điều kiện sau đây được đáp ứng:

o Sản phẩm bị điều tra được bán tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại bình thường; và

o Sản phẩm bị điều tra phải được bán tại nước xuất khẩu với số lượng đáng kể (không thấp hơn 5% số lượng sản phẩm bị điều tra xuất sang nước nhập khẩu)56

Cách 1 không được áp dụng trong các trường hợp:

o Sản phẩm bị điều tra không được bán trên thị trường nội địa nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại bình thường; hoặc

o Tình trạng thị trường đặc biệt57; hoặc

o Sản phẩm bị điều tra được bán tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu với khối lượng không đáng kể (dưới 5% số lượng sản phẩm bán sang thị trường nước nhập khẩu liên quan)

Trong những trường hợp như thế này, giá thông thường có thể được tính theo cách 2 hay cách 3

Trong các cách thức nêu trên, cách 1 là cách thức tính giá thông thường tiêu chuẩn, được ưu tiên xem xét áp dụng trước trong tất cả các trường hợp Chỉ khi không đáp ứng

55

Điều 2.2 của Hiệp định chống bán phá giá của WTO: “Trong trường hợp không có các sản phẩm tương tự được

bán trong nước theo các điều kiện thương mại thông thường tại nước xuất khẩu hoặc trong trường hợp việc bán trong nước đó không cho phép có được sự so sánh hợp lý do điều kiện đặc biệt của thị trường đó hoặc do số lượng hàng bán tại thị trường trong nước của nước xuất khẩu hàng hóa quá nhỏ, biên độ bán phá giá sẽ được xác định thông qua so sánh với mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp, với điều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện, hoặc được xác định thông qua so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hóa cộng thêm một khoản hợp lý chi phí quản trị, bán hàng, các chi phí chung và một khoản lợi nhuận”

Trang 32

được các điều kiện để sử dụng cách 1 thì giá thông thường mới được tính theo cách 2 hoặc cách 358

Ba cách tính giá thông thường nêu trên có thể không được áp dụng nếu nước xuất khẩu có nền kinh tế phi thị trường

Cách tính giá xuất khẩu

Giá xuất khẩu là giá bán sản phẩm từ nước sản xuất (nước xuất khẩu) sang nước

Để áp dụng cách tính giá xuất khẩu này cần đáp ứng cùng lúc hai điều kiện sau:

o Có giá xuất khẩu (sản phẩm được xuất khẩu theo hợp đồng mua bán giữa nhà sản xuất, xuất khẩu với nhà nhập khẩu); và

o Giá xuất khẩu là giá có thể tin cậy được (giá trong hợp đồng mua bán thông thường)60

Thực tế không phải lúc nào việc xuất khẩu hàng hóa từ một nước này sang một nước khác cũng được thực hiện trên cơ sở một hợp đồng mua bán ngoại thương (ví dụ: việc xuất khẩu chỉ là việc chuyển hàng từ nước này sang nước khác trong nội bộ một công ty; sản phẩm được xuất khẩu theo hình thức trao đổi theo hợp đồng hàng đổi hàng,…) Do đó, trong những trường hợp như thế này, không có giá giao dịch để xác định giá xuất khẩu theo cách thông thường

Ngoài ra, trong một số trường hợp khác, mặc dù trên thực tế có hợp đồng mua bán ngoại thương nhưng giá nêu trong giao dịch không đáng tin cậy (ví dụ, giá giao dịch này

là kết quả của các dàn xếp, bù trừ giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu hoặc củ một bên thứ ba; khi đó giá giao dịch có thể đã sai lệch)

Đối với những trường hợp này, thay vì xác định theo giá giao dịch, giá nhập khẩu có thể xác định theo:

Cách 2: Giá xuất khẩu là giá trị tính toán trên cơ sở giá ở đó sản phẩm nhập khẩu được bán lại lần đầu tiên cho bên mua độc lập; hoặc một trị giá tính toán trên những cơ

sở hợp lý để cơ quan điều tra có thể quyết định61

Cách tính giá xuất khẩu thứ nhất là cách tính giá xuất khẩu chuẩn và được áp dụng trước tiên (ưu tiên áp dụng) khi tính giá xuất khẩu Chỉ khi hoàn cảnh cụ thể không đáp

58

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Pháp luật về chống bán phá giá – những điều cần biết, Hà Nội,

2004, trang 36

59 Xem khoản 1, Điều 9 Luật mẫu về chống bán phá giá của Tổ chức thương mại thế giới

60 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Pháp luật về chống bán phá giá, Hà Nội, 2004, trang 35

61 Xem khoản 2, Điều 9 Luật mẫu về chống bán phá giá của Tổ chức thương mại thế giới

Trang 33

ứng các điều kiện để áp dụng cách một thì giá xuất khẩu mới được tính theo cách thứ hai62

So sánh giá thông thường và giá xuất khẩu

Để so sánh một cách công bằng giá thông thường và giá xuất khẩu, Điều 2.4 Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 quy định nguyên tắc so sánh như sau:

- Hai giá này phải được so sánh trong cùng một cấp độ thương mại (ví dụ: cùng là giá xuất xưởng hoặc bán buôn, bán lẻ);

Thông thường giá xuất xưởng (giá của sản phẩm tại thời điểm sản phẩm dời nhà máy sản xuất) được lựa chọn để tiến hành so sánh giá xuất khẩu và giá thông thường Nếu chọn loại giá này thì toàn bộ các chi phí phát sinh sau thời điểm sản phẩm xuất xưởng sẽ phải khấu trừ đi trước khi tiến hành so sánh Ví dụ: nếu sản phẩm được bán theo giá CIF (tức là giá ghi trong hợp đồng đã bao gồm cả phí vận chuyển và phí bảo hiểm) thì giá xuất khẩu đem so sánh với giá thông thường sẽ là giá ghi trong hợp đồng sau khi đã trừ đi các chi phí bảo hiểm và vận chuyển

- Hai loại giá này phải được xác định tại cùng một thời điểm (hoặc tại các thời điểm gần nhau nhất);

- Khi tiến hành so sánh cần phải tính đến những khác biệt (ví dụ khác biệt về điều kiện bán hàng, thuế, dung lượng thương mại, khối lượng sản phẩm, đặc tính vật lý…) có thể ảnh hưởng đến việc so sánh về giá để có sự điều chỉnh phù hợp;

- Nếu giá thông thường và giá xuất khẩu được xác định theo hai loại đơn vị tiền tệ khác nhau dẫn đến việc phải chuyển đổi để phục vụ cho việc so sánh giá thì tỷ giá chuyển đổi là tỷ giá có hiệu lực tại thời điểm bán hàng (ngày bán, ngày ghi trên hóa đơn thương mại, lệnh mua…)63

Việc so sánh giá thông thường và giá xuất khẩu là cả một quá trình tính toán rất phức tạp, vì không phải bao giờ cũng có sẵn mức giá xuất xưởng của giá thông thường và giá xuất khẩu mà chỉ có mức giá bán buôn hoặc bán lẻ của sản phẩm thông thường ở thị trường nước xuất khẩu (tạm gọi là GTT+) và giá tính thuế hải quan, giá hợp đồng hoặc giá bán buôn, bán lẻ sản phẩm thông thường của nhà nhập khẩu (tạm gọi là GXK+) nên thường phải có một số điều chỉnh để có thể so sánh giá thông thường và giá xuất khẩu một cách công bằng

Điều chỉnh các chênh lệch trong: Điều kiện bán hàng; các loại thuế; số lượng sản phẩm; đặc tính vật lý của sản phẩm; và những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc so sánh hai giá

62

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Pháp luật về chống bán phá giá, Hà Nội, 2004, trang 34

63 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Pháp luật về chống bán phá giá – những điều cần biết, Hà Nội,

2004, trang 44

Trang 34

Ví dụ: Khi lấy giá bán sản phẩm thông thường cho một người mua độc lập ở nước nhập khẩu làm GXK+ thì giá xuất khẩu sẽ được xác định bằng cách điều chỉnh như sau: GXK = (GXK+) – (lợi nhuận) – (các loại thuế + chi phí phát sinh từ khâu nhập khẩu đến khâu bán hàng)

Theo Điều 2.4.2 Hiệp định chống bán phá giá có ba cách so sánh giá thông thường với giá xuất khẩu:

- Cách 1: So sánh giữa giá trị bình quân gia quyền thông thường với giá bình quân gia quyền của tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được;

- Cách 2: Thông qua so sánh giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu trên cơ sở từng giao dịch (hoặc của các giao dịch thực hiện trong cùng một ngày hoặc gần như trong cùng một ngày);

- Cách 3: So sánh giá thông thường bình quân gia quyền với giá xuất khẩu của từng giao dịch nếu cơ quan có thẩm quyền xác định rằng cơ cấu giá xuất khẩu đối với những người mua khác nhau, khu vực khác nhau, thời điểm khác nhau có sự chênh lệch đáng kể

và khi có thể đưa ra giải thích về việc tại sao sự khác biệt này không thể được tính toán một cách đầy đủ khi so sánh bằng phương pháp sử dụng bình quân gia quyền so với bình quân gia quyền hoặc giao dịch so với giao dịch

Trường hợp sản phẩm thông thường được xuất khẩu sang nước nhập khẩu qua một nước trung gian (nước xuất khẩu) thì: giá sản phẩm thông thường ở nước xuất khẩu (nước trung gian) so với giá bán sản phẩm thông thường từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu Tuy nhiên, nếu sản phẩm thông thường chỉ đơn thuần được chở từ nước sản xuất qua nước xuất khẩu thì: Giá ở nước xuất xứ so với giá bán sản phẩm thông thường

từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu64

Biên độ phá giá phải được tính cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu liên quan Trên cơ

sở biên độ phá giá, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu sẽ tính toán mức thuế chống phá giá (trong mọi trường hợp không được cao hơn biên độ phá giá) cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu Tuy nhiên, nếu số lượng nhà sản xuất, xuất khẩu liên quan quá lớn khiến cho việc tính toán biên độ phá giá đơn lẻ không thể thực hiện được thì cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu có thể chỉ lựa chọn một số lượng thích hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu để điều tra (sẽ có biên độ đơn lẻ cho các nhà sản xuất, xuất khẩu này) và tính một biên độ bán phá giá chung cho nhóm các nhà sản xuất, xuất khẩu (biên độ cho nhóm) không tham gia điều tra theo nguyên tắc lấy bình quân các biên độ đơn lẻ65

2.1.2 Xác định thiệt hại và mối quan hệ nhân quả

2.1.2.1 Xác định thiệt hại

64 Xem Điều 2.5 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

65 Theo http://chongbanphagia.vn/faq/46

Trang 35

Thiệt hại được xem xét trong quá trình xác định thiệt hại do việc bán phá giá hàng nhập khẩu liên quan gây ra bao gồm ba loại:

Thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu (thiệt hại thực tế); hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại đáng kể đối với một ngành sản xuất nội địa (thiệt hại trong tương lai/ nguy cơ thiệt hại); hoặc ngăn cản việc hình thành một ngành sản xuất trong nước

Việc xác định thiệt hại phải được tiến hành dựa trên bằng chứng xác thực và thông qua điều tra khách quan cả về hai khía cạnh:

Thứ nhất, khối lượng sản phẩm nhập khẩu được bán phá giá và ảnh hưởng của hàng

hóa được bán phá giá đến giá trên thị trường nội địa của các sản phẩm tương tự66 Cụ thể,

về khối lượng hàng nhập khẩu được bán phá giá, cơ quan điều tra phải xem xét trên thực

tế có sự tăng đáng kể (có thể tăng tuyệt đối hoặc tương đối) của hàng nhập khẩu bán phá giá so với mức sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng tại nước nhập khẩu hay không

Về tác động của hàng nhập khẩu được bán phá giá đối với giá của sản phẩm thông thường tại thị trường nước nhập khẩu, cơ quan điều tra phải xem xét có phải là hàng được bán phá giá đã được giảm giá đáng kể so với giá của sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu hay không, hoặc xem xét có đúng là hàng nhập khẩu đó làm giảm giá ở mức đáng

kể hoặc ngăn không cho giá tăng đáng kể, điều lẽ ra đã xảy ra nếu không bán phá giá hàng nhập khẩu đó67

Thứ hai, hậu quả của hàng nhập khẩu này đến các nhà sản xuất các sản phẩm trên ở

trong nước68 Hậu quả của việc bán phá giá đối với ngành sản xuất nội địa nước xuất khẩu được xem xét trên một loạt các nhân tố khác nhau của ngành sản xuất đó và những thiệt hại của ngành sản xuất cũng có thể được xem xét ở nhiều dạng khác nhau

Khi sản phẩm nhập khẩu đang bị điều tra chống bán phá giá được nhập khẩu từ nhiều nguồn khác nhau, cơ quan điều tra có thể đánh giá ảnh hưởng một cách tổng hợp của hàng nhập khẩu này chỉ trong trường hợp cơ quan này xác định được rằng: biên độ bán phá giá được xác định đối với hàng nhập khẩu từ mỗi nước lớn hơn hoặc bằng 2% của giá xuất khẩu và số lượng hàng nhập khẩu từ mỗi nước phải lớn hơn hoặc bằng 3% tổng nhập khẩu các sản phẩm tương tự; việc đánh giá gộp các ảnh hưởng của hàng nhập khẩu là hợp lý nếu xét đến điều kiện cạnh tranh giữa các sản phẩm nhập khẩu với nhau và điều kiện cạnh tranh giữa các sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm tương tự trong nước Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá đối với một ngành sản xuất trong nước phải được xem xét trên tất cả các yếu tố và chỉ số kinh tế có thể có tác động đến thực trạng của ngành sản xuất Hiệp định không đưa ra một danh mục đầy đủ

66 Xem Điều 3.1 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

67 Xem Điều 3.2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

68 Xem Điều 3.1 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Trang 36

các yếu tố này nhưng có nêu một số yếu tố, chỉ số cơ bản bắt buộc phải xem xét như mức suy giảm thực tế và tiểm ẩn của doanh số, lợi nhuận, sản lượng, thị phần, năng suất, tỉ lệ lãi đối với đầu tư, tỉ lệ năng lực được sử dụng; các nhân tố ảnh hưởng đến giá trong nước,

độ lớn của biên độ bán phá giá; ảnh hưởng xấu thực tế hoặc tiềm ẩn đối với chu chuyển tiền mặt, lượng lưu kho, công ăn việc làm, tiền lương, tăng trưởng, khả năng huy động vốn hoặc nguồn đầu tư69

Cần lưu ý là theo quy định tại Hiệp định nếu chỉ có một hoặc một số yếu tố trên thì không nhất thiết dẫn tới kết luận cuối cùng về việc có thiệt hại hay không Vấn đề quan trọng là cách thức đánh giá, mức độ được xem là thỏa mãn của từng yếu tố lại không được Hiệp định đề cập đến Vì vậy, mỗi quốc gia được quyền tùy ý ấn định các quy tắc đánh giá mỗi yếu tố nói trên trong tổng thể các yếu tố để đi đến kết luận có hay không có thiệt hại đáng kể

Việc xác định sự đe dọa gây ra thiệt hại về vật chất hay không phải được tiến hành dựa trên các chứng cứ thực tế và không được phép chỉ căn cứ vào phỏng đoán, suy diển hoặc một khả năng mơ hồ Hiệp định không quy định đầy đủ các yếu tố mà cơ quan có thẩm quyền cần xem xét khi quyết định xem có tồn tại nguy cơ gây thiệt hại đáng kể hay không, nhưng có nêu một số yếu tố điển hình sau đây:

Thứ nhất, tỉ lệ gia tăng đáng kể hàng nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường trong nước và đó là dấu hiệu cho thấy rất có khả năng nhập khẩu sẽ gia tăng ở mức lớn; Thứ hai, các nhà xuất khẩu có năng lực sản xuất đủ lớn có thể dùng ngay được hoặc

có sự gia tăng đáng kể trong tương lai gần về năng lực sản xuất của nhà xuất khẩu và đây

là dấu hiệu cho thấy có nhiều khả năng sẽ có sự gia tăng đáng kể của hàng xuất khẩu được bán phá giá sang thị trường của Thành viên nhập khẩu sau khi đã tính đến khả năng các thị trường xuất khẩu khác có thể tiêu thụ thêm một lượng xuất khẩu nhất định;

Thứ ba, liệu hàng nhập khẩu được nhập với mức giá có thể tác động làm giảm hoặc kìm hãm đáng kể giá trong nước và có thể làm tăng nhu cầu đối với hàng nhập khẩu thêm nữa hay không;

Thứ tư, số thực tồn kho của sản phẩm được điều tra70

Theo quy định, để đánh giá nguy cơ thiệt hại, cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu phải xem xét ít nhất là 4 yếu tố nói trên Tuy nhiên, không một nhân tố nào trong số các nhân tố nêu trên bản thân nó có đủ tính quyết định để dẫn đến kết luận nhưng tổng hợp các nhân tố trên sẽ dẫn đến kết luận là việc tiếp tục xuất khẩu phá giá là tiềm tàng và nếu như không áp dụng hành động bảo hộ thì thiệt hại vật chất sẽ xảy ra

2.1.2.2 Mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại

69 Xem Điều 3.4 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

70 Xem Điều 3.7 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Trang 37

Hiệp định chống bán phá giá của WTO chỉ nêu quy định chung, theo đó cơ quan điều tra phải xác định rằng hàng hóa bán phá giá nhập khẩu, thông qua các tác động của

nó đến các yếu tố, chỉ số kinh tế, gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước trên cơ sở kiểm tra tất cả các bằng chứng liên quan Do đó, các quốc gia có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để xác định mối quan hệ này (ví dụ: sự trùng hợp về thời gian giữa việc bán phá giá và thiệt hại xảy ra, các phân tích kinh tế để xác định mức tăng trưởng của ngành sản xuất nội địa nếu như không có việc bán phá giá của hàng nhập khẩu…)71

Theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật mẫu về chống bán phá giá của Tổ chức thương mại thế giới, bất cứ nhân tố nào ngoài hàng nhập khẩu bị bán bán phá giá mà cùng lúc gây thiệt hại cho ngành công nghiệp quốc gia sẽ không được tính đến khi xác định thiệt hại trong điều tra chống bán phá giá Các nhân tố đó có thể là: số lượng và giá bán của sản phẩm nhập khẩu liên quan nhưng không bị bán phá giá; sự giảm sút nhu cầu hoặc thay đổi về hình thức tiêu dùng; các hành động hạn chế thương mại hoặc cạnh tranh giữa nhà sản xuất trong nước và nước ngoài; sự phát triển của công nghệ, khả năng xuất khẩu và năng suất của ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu;…

Tuy nhiên, theo một án lệ của WTO (vụ Thailand H-beam), cơ quan có thẩm quyền trong điều tra thiệt hại một vụ việc chống bán phá giá không có nghĩa vụ tự tìm hiểu các nguyên nhân khác cũng gây ra thiệt hại nói trên Vì vậy, để cơ quan có thẩm quyền tính đến các nguyên nhân này và loại trừ những thiệt hại mà chúng gây ra khỏi những thiệt hại được xem xét trong vụ điều tra chống bán phá giá, tự các bên liên quan (đặc biệt là bị đơn) phải nêu ra các nguyên nhân này (trong các lập luận của mình) trước cơ quan điều tra có thẩm quyền72

Bên cạnh những quy định về cách xác định biên độ phá giá, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả, Hiệp định còn quy định chi tiết trình tự và thủ tục chống bán phá giá

2.2 Trình tự và thủ tục chống bán phá giá

2.2.1 Giai đoạn bắt đầu điều tra

2.2.1.1 Chủ thể yêu cầu tiến hành điều tra

Hiệp định quy định hai loại chủ thể có thể đưa ra yêu cầu điều tra chống bán phá giá

là ngành sản xuất trong nước hoặc người nhân danh cho ngành sản xuất trong nước; hoặc

cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu

Trang 38

Hiệp định Chống bán phá giá định nghĩa “ngành sản xuất trong nước” là dùng để chỉ tập hợp chung các nhà sản xuất trong nước của nước nhập khẩu sản xuất sản phẩm tương

tự (với sản phẩm bị điều tra) hoặc những nhà sản xuất có tổng sản phẩm chiếm phần đáng

kể trong tổng sản lượng sản xuất trong nước những sản phẩm đó73

Tuy nhiên, Hiệp định có dự liệu một số ngoại lệ:

Ngoại lệ 1: Trường hợp bị loại trừ khỏi khái niệm “ngành sản xuất sản phẩm tương

tự nội địa” Thực tế có những nhà sản xuất nội địa có thể được lợi từ việc bán phá giá của sản phẩm nhập khẩu hoặc bản thân họ có liên quan đến việc này, bao gồm các trường hợp sau:

- Nhà sản xuất nội địa đồng thời là nhà nhập khẩu những sản phẩm đang bị điều tra chống bán phá giá;

- Nhà sản xuất có quan hệ với nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu sản phẩm đang bị điều tra chống bán phá giá Hiệp định qui định những trường hợp như thế này bị loại trừ khỏi danh sách các nhà sản xuất nội địa được xem xét trong vụ việc có liên quan74

Ngoại lệ 2: Trường hợp thu hẹp khái niệm “ngành sản xuất trong nước”

Trong một số trường hợp, lãnh thổ nước nhập khẩu có thể được chia thành hai hoặc nhiều thị trường cạnh tranh riêng biệt và tập hợp các nhà sản xuất tại một trong những thị trường đó có thể được coi là ngành sản xuất nội địa độc lập (hoặc ngành sản xuất nội địa vùng - regional industry) nếu:

- Các nhà sản xuất tại thị trường đó bán toàn bộ hoặc gần như toàn bộ sản phẩm của

họ tại thị trường đó; và

- Nhu cầu của thị trường này đối với sản phẩm liên quan không được cung ứng ở mức

độ đáng kể bởi các nhà sản xuất sản phẩm thông thường ngoài vùng lãnh thổ đó

Khi xảy ra trường hợp như thế này, có thể coi là có thiệt hại ngay cả khi phần lớn ngành sản xuất trong lãnh thổ nước nhập khẩu không bị tổn hại gì (do nằm ở các vùng khác) nếu:

- Có sự tập trung lượng hàng nhập khẩu bán phá giá vào thị trường (vùng) đó; và

- Hàng nhập khẩu được bán phá giá gây tổn hại (thiệt hại) đối với các nhà sản xuất sản xuất ra toàn bộ hoặc gần như toàn bộ lượng sản phẩm tại thị trường đó75

Ngoại lệ 3: Trường hợp mở rộng khái niệm “ngành sản xuất nội địa” Các trường

hợp này xảy ra khi thị trường hai hoặc nhiều quốc gia đã đạt đến một mức độ hội nhập cao, có những đặc tính của một thị trường thống nhất (ví dụ: trường hợp của Liên minh châu Âu) Khi đó, ngành sản xuất trong toàn bộ khu vực kinh tế đã hội nhập được hiểu chung là “ngành sản xuất nội địa”: điều này có nghĩa là thiệt hại được xem xét là thiệt hại

73

Xem Điều 4.1 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

74 Xem điểm i Điều 4.1 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

75 Xem điểm ii Điều 4.1 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Trang 39

đối các ngành sản xuất của tất cả các quốc gia trong khu vực kinh tế hội nhập đó chứ không riêng ngành sản xuất của quốc gia nào76

2.2.1.2 Căn cứ để bắt đầu điều tra

Các cơ quan điều tra có thể bắt đầu một cuộc điều tra dựa vào các căn cứ sau:

- Dựa trên đơn khiếu nại

Điều 5.1, Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 quy định, “một cuộc điều tra để quyết định xem thực sự có tồn tại việc bán phá giá không cũng như quyết định mức độ và ảnh hưởng của trường hợp đang bị nghi ngờ là bán phá giá sẽ được bắt đầu khi có đơn yêu cầu bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc của người nhân danh cho ngành sản xuất trong nước” Đơn yêu cầu sẽ được coi là được yêu cầu bởi ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước nếu như đơn này được ủng hộ bởi các nhà sản xuất chiếm tối thiểu 50% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được làm bởi các nhà sản xuất đã bày tỏ ý kiến tán thành hoặc phản đối đơn yeu cầu đó, và các nhà sản xuất bày tỏ ý tán thành điều tra chiếm ít hơn 25% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được ngành sản xuất trong nước làm ra77 Đơn yêu cầu phải đáp ứng những điều kiện liên quan đến các thông tin trong đơn và các bằng chứng kèm theo78 Về yêu cầu thông tin: Hiệp định quy định chủ thể có yêu cầu, trong phạm vi có thể, phải cung cấp trong đơn yêu cầu các thông tin dưới đây:

o Thông tin xác định danh tính của chủ thể nộp đơn (đặc điểm của người nộp đơn),

mô tả về số lượng và giá trị của sản phẩm tương tự do người nộp đơn sản xuất trong nước;

o Nếu đơn yêu cầu được làm nhân danh ngành sản xuất trong nước, đơn yêu cầu đó phải nêu rõ tên của tất cả các nhà sản xuất nội địa sản xuất ra sản phẩm tương tự được biết đến (hoặc các hiệp hội của các nhà sản xuất sản phẩm tương tự ở trong nước) và ở chừng mực nhất định các nhà sản xuất này tính toán để đưa ra mô tả về

số lượng và giá trị của sản phẩm tương tự đó do các nhà sản xuất này làm ra;

o Thông tin mô tả đầy đủ về sản phẩm bị nghi là bán phá giá, tên của nước hoặc các nước xuất khẩu hoặc xuất xứ của những sản phẩm đó; danh tính của mỗi nhà xuất khẩu hoặc sản xuất hàng hóa đó ở nước ngoài và danh sách các chủ thể nhập khẩu sản phẩm đó;

o Thông tin về giá thông thường (thông tin về giá bán sản phẩm tượng tự tại thị trường nước xuất khẩu hoặc nước xuất xứ, hoặc thông tin về giá bán của sản phẩm tương tự từ nước xuất khẩu hoặc xuất xứ sang nước thứ ba, hoặc thông tin về cấu thành giá trị của sản phẩm đó);

76 Xem Điều 4.3 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

77 Xem Điều 5.4 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

78 Xem Điều 5.2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Trang 40

o Thông tin về giá xuất khẩu (hoặc thông tin về giá bán của sản phẩm liên quan cho người mua độc lập đầu tiên trên lãnh thổ nước nhập khẩu);

o Thông tin về sự gia tăng số lượng sản phẩm nhập khẩu bị nghi là bán phá giá; ảnh hưởng của việc này đến giá của sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa nước nhập khẩu; ảnh hưởng của việc này đối với ngành sản xuất nội địa (thể hiện qua các yếu tố thể hiện tình trạng của ngành sản xuất nội địa)

Các yêu cầu về bằng chứng: Đơn yêu cầu phải bao gồm các bằng chứng xác thực về:

o Việc bán phá giá; và

o Thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước; và

o Mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại nói trên79

- Dựa vào quyết định tự mình bắt đầu cuộc điều tra của cơ quan điều tra

Cơ quan điều tra có thể tự mình tiến hành điều tra trên cơ sở nắm được các căn cứ đúng đắn Các căn cứ đó là: Có các bằng chứng rõ ràng chứng minh việc bán phá giá đã xảy ra Có bằng chứng về việc gây tổn thương cho ngành công nghiệp nội địa, và mối quan hệ nhân quả giữa hành động bán phá giá và sự tổn thương Cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu nếu quyết định khởi xướng vụ điều tra mặc dù không có đơn yêu cầu cũng phải đáp ứng được diều kiện về bằng chứng như đối với đơn yêu cầu80

2.2.1.3 Việc kiểm tra đơn khiếu nại của cơ quan điều tra

Thủ tục điều tra chống bán phá giá không được tiến hành một cách tự động ngay khi

có đơn yêu cầu của ngành sản xuất nội địa mà phải căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền Theo quy định của Hiệp định, trước khi ra quyết định bắt đầu điều tra, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành các thủ tục: Kiểm tra xem chủ thể nộp đơn yêu cầu có đáp ứng các điều kiện về tính đại diện cho ngành sản xuất nội địa không Cơ quan có thẩm quyền sẽ không chấp nhận đơn kiện nếu điều kiện về tính đại diện không được đảm bảo Kiểm tra mức độ xác thực và đầy đủ của các bằng chứng để xem xét xem các bằng chứng đó có đủ để bắt đầu việc điều tra hay không81

Trong trường hợp cơ quan điều tra thấy không phù hợp để tiến hành điều tra, cơ quan này sẽ thông báo cho người nộp đơn lý do không tiến hành điều tra

Việc kiểm tra cẩn thận nội dung của đơn khiếu nại là hết sức quan trọng Các cơ quan điều tra có thể tiến hành các tìm kiếm của mình dựa trên các thông tin có khả năng

sử dụng tốt nhất, bao gồm nội dung trong đơn khiếu nại trong trường hợp thiếu vắng hoặc không có sự hợp tác đầy đủ từ phía bị cáo

79 Xem Điều 5.2 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

80

Xem Điều 5.6 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

81 Xem Điều 5.3 Hiệp định chống bán phá giá của WTO

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Luật mẫu về chống bán phá giá của Tổ chức thương mại thế giới.  Sách, giáo trình, tạp chí1. Walter Goode, Từ điển chính sách thương mại quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chính sách thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB Thống kê
2. David W.Pearce, Từ điển kinh tế học hiện đại (tái bản lần thứ 4), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế học hiện đại
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
3. John H.Jackson, Hệ thống thương mại thế giới, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thương mại thế giới
Nhà XB: NXB Thanh niên
4. Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh, Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, NXB công an nhân dân, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường
Nhà XB: NXB công an nhân dân
5. Đào Ngọc Chương, Tình hình các nước kiện chống bán phá giá của Trung Quốc và sự đối phó của Trung Quốc, Vụ Châu Á- TBD- Bộ Thương mại, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình các nước kiện chống bán phá giá của Trung Quốc và sự đối phó của Trung Quốc
6. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Pháp luật về chống bán phá giá – những điều cần biết, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về chống bán phá giá – những điều cần biết
7. Cục quản lý cạnh tranh, Báo cáo kết quả khảo sát kinh nghiệm của Trung Quốc trong lĩnh vực chống bán phá giá, Bộ Thương mại, tháng 10/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả khảo sát kinh nghiệm của Trung Quốc trong lĩnh vực chống bán phá giá
8. Ủy Ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, Tác động của các Hiệp định WTO đối với các nước đang phát triển, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của các Hiệp định WTO đối với các nước đang phát triển
9. Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật chống bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Tư pháp

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w